
1
Kinh nghiệm ương nuôi cá sặc rằn giống
Cá sặc rằn, tên khoa học Trichgaster pectorakilis, thuộc họ Cá rô
(Anabantidae). Cá sặc rằn thích hợp ở những vùng có khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm, lượng mưa hằng năm nhiều. ở nước ta cá sống thích hợp nhất ở vùng
ĐBSCL như Cần Thơ, An Giang, Cà Mau... Cá sặc rằn có thể sống được ở
những nơi nước lợ, có hàm lượng chất hữu cơ cao, lượng oxy hòa tan thấp,
pH thấp, chúng có thể sống bình thường ở nhiệt độ thấp 10-12oC. Cá sặc rằn
sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 25-30oC và pH nước trung tính. Trong điều kiện
tự nhiên, mùa hè cá đẻ là tháng 5-9, trong điều kiện nhân tạo, cá mẹ được
chăm sóc tốt, có thể kích thích đẻ từ cuối tháng 2. Thông thường khoảng 1
năm, cá thành thục sinh sản lần đầu. Trung bình mỗi cá mẹ đẻ khoảng
25.000 trứng/đợt.
Để phân biệt cá đực, cá cái, người nuôi cần nhận thấy những đặc điểm
như: cá đực tia vi chạm dài tới đuôi, trong khi cá cái ngắn hơn. Đường sắc tố
chạy dài từ sống lưng xuống bụng của cá đực rõ ràng, trong khi của cá cái
không có màu sắc trên thân và vi của con đực có màu sắc sặc sỡ, vi cá cái
nhợt nhạt. Sau một năm nuôi, mỗi con có thể đạt trọng lượng 60-80g. Sau
hai năm có thể đạt 150g/con. Khi sinh sản, con đực và con cái ghép tình với
nhau nơi yên tĩnh gần bờ có cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng. Khi cá cái đẻ
xong, cá đực thường gom trứng vào miệng và nhả trở lại mặt nước dưới
dạng tổ bọt. Trong giai đoạn phôi thai và giai đoạn cá mới nở, cá đực và cá
cái thay nhau canh gác để bảo vệ tổ đàn con của chúng. Trong điều kiện 28-
30o, trứng thụ tinh và nở sau 24 giờ. Cá con sau khi nở được nuôi bằng noãn
hoàng 2-3 ngày. Sau khi tiêu thụ hết noãn hoàng, cá con di chuyển xuống
lớp dưới để kiếm mồi. Thông thường cá ương trong ao sau 30 ngày sẽ đạt
chiều dài 2-3cm.
Cá bố mẹ được nuôi trong ao (mặt ao nên thả rau muống). Mật độ thả
cá khoảng 25-30 con/m2, thức ăn cho cá là cám mịn (85%), bột cá (5-8%).
Lượng thức ăn bằng 2% trọng lượng cá mỗi ngày. Khi thấy mực nước ao
cạn, phải thêm nước sao cho nước luôn ở mức 1,5m để giữ môi trường nuôi
được trong sạch tạo điều kiện kích thích phát dục để tháng 4-5 cá bắt đầu đẻ
ngay trong ao nuôi. Có thể để nuôi ngay cá con trong ao hay vớt đi nơi khác
nuôi cũng được. Vào đầu mùa mưa, khi cá thành thục bắt đầu sinh sản, có
thể cho đẻ trong điều kiện nhân tạo bằng cách chuẩn bị bể xi măng có kích
thước 1 x 2 m; không có bể thì dùng lu hay chậu cũng được. Lấy nước sạch,
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

2
giữ độ sâu khoảng 40cm. Lấy lá môn úp lêm mặt nước làm tổ cho cá, chọn
con cá bụng to mềm, lỗ hậu môn lòi ra (màu hồng). Còn cá đực thì vuốt nhẹ
thấy tinh màu sữa chảy ra. Chích thuốc cho cá đẻ HCG (Human Chrionic
Gonadotropinhormon). Liều dùng cho cá đực bằng 1/3 cá cái. Cá sẽ đẻ
trứng, chờ cá đẻ xong thì vớt đi nơi khác ấp. Trong thời gian này thay nước
mỗi ngày một lần, vớt bỏ những trứng ung. Sau khi cá nở, chuyển chúng
xuống ao để ương thành cá giống.
Trước khi thả xuống ao, cần chuẩn bị ao để ương cá bột: vét cạn bùn,
chỉ để lại một lớp mỏng 0,2-0,3m; lấp hết các hang cua, lỗ mọi. Bón vôi bột
với lượng 10kg/100m2 ao. Nếu trong ao có nhiều mầm bệnh hay pH thấp thì
bón tăng lượng vôi và phơi đáy ao 2-3 ngày rồi cho nước sông vào ao sâu tới
1,5m. Khi thức ăn tự nhiên phát triển và nước chuyển sang màu xanh nõn
chuối thì bắt đầu thả cá. Trong 10 ngày đầu, tùy theo màu nước của ao mà
bón phân thích hợp để tạo quần thể thực vật thủy sinh trong ao. Nên thả cá
vào lúc trời mát. Trước khi thả, nên ngâm bao chứa cá khoảng 30 phút cho
nhiệt độ nước trong bao bằng nhiệt độ nước ao. Khi thả cá nên mở miệng
bao cho nước vào từ từ. Mật độ thả trung bình 500-600 con/m2, sau khi thả
cá 2/4 giờ, dùng lòng đỏ trứng gà vịt đã luộc chín hòa với sữa đậu nành rắc
đều trong ao 3-4 lần/ngày (mỗi ngày 2-3 trứng + 6 kg đậu nành xay nấu chín
cho 1000m2 ao nuôi). Sau khi thả được 1 tuần, cho ăn bột bắp, cám (2
lần/ngày), rải đều khắp ao, tuần đầu cho ăn 0,5kg/100 m2 ao, sau đó tăng
dần.
TT (Theo Khoa học và Đời sống, 2003, No. 214)
VIETLINH PTE. Official Homepage
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

3
KỸ THUẬT NUÔI CÁ SẶC RẰN
I/ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI SINH HỌC CÁ SẶC RẰN:
1/ Phân bố:
Cá sặc rằn phân bố tại Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và được di giống
sang các nước Mã Lai, Indonesia, Bangladesh. Cá sặc rằn phân bố rộng rãi
trong nhiều thủy vực như kênh rạch, ruộng lúa, ao hồ.
Tại Việt Nam, trong vùng châu thổ sông Mêkông, cá phân bố tập trung trong
các vùng trũng ngập nước quanh năm, sinh sản tự nhiên trong ruộng, kinh
mương nơi chúng cư trú, đặc biệt là có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất
hữu cơ. Hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang là vùng phân bố tập trung và có sản
lượng cao hiện nay ở vùng ĐBSCL.
2/ Sinh trưởng:
Trong điều kiện ở ĐBSCL nhiệt độ thích hợp 250C - 300C cá đạt trọng
lượng khoảng 140g/con sau 2 năm, quan sát cá đực & cá cái cùng tuổi
thường cá đực có trọng lượng nhỏ hơn.
3/ Dinh dưỡng:
Thức ăn ở thời kỳ đầu gồm nhiều loại như phiêu sinh động vật, phiêu sinh
thực vật & thủy thực vật phân hủy.
Ở thời kỳ trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá phù hợp với loài ăn
tạp. Những loại thức ăn thường xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn trong
ruột cá gồm: mùn bã hữu cơ, thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, mầm
non thực vật cũng như các loại thực vật thủy sinh mềm trong nước.
Cá cũng sử dụng tốt những loại thức ăn do người cung cấp như: bột ngũ cốc
các loại, cám tấm, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của
chúng.
II. KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ SẶC RẰN:
1/Điều kiện ao đìa:
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

4
- Nguồn nước: Phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao khi cần
thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có chất lượng tốt
không bị phèn (pH = 7 là tốt nhất, không nên sử dụng ao có pH < 6). Nước
không bị nhiễm bẩn, không bị nhiễm độc (chủ yếu độc do thuốc trừ sâu).
- Diện tích: Tùy thuộc qui mô sản xuất, điều kiện sẵn có và khả năng của
từng gia đình. Có thể tận dụng các kênh mương sẵn có để ương cá. Tuy
nhiên không nên sử dụng những kênh mương quá dài để tiện cho việc chăm
sóc quản lý. Nếu kênh quá dài thì có thể chặn ngăn thành từng đoạn ngắn.
- Với phạm vi gia đình và tùy tình hình hiện nay ở khu vực, ao ương cá sặc
rằn nếu có diện tích vài trăm m2 là thích hợp. Tùy theo yêu cầu lượng cá
giống thả mà có thể có ít hay nhiều ao.
- Độ sâu ao: Độ sâu dùng ương nuôi cá sặc rằn có thể biến động, nhưng để
tiện cho chăm sóc quản lý và hoạt động của cá con, ao có độ sâu 0,8 - 1m là
hợp lý nhất.
- Chất đáy: Không sử dụng ao đất phèn để ương cá. Đáy ao là bùn hoặc bùn
pha cát là tốt nhất. Độ dày bùn đáy ao thích hợp cho ương cá sặc rằn là 20 -
25 cm, không nên dùng ao có đáy quá trơ ít bùn (thường là ao mới đào) hoặc
ao có đáy bùn quá dày (thường là ao lâu ngày không sên vét).
- Trường hợp dùng ao có đáy bùn dày thì trước khi thả cá nuôi, ao cần được
tát cạn, sên vét bớt bùn đáy, chỉ để lại 20 -25 cm.
- Điều kiện chiếu sáng: Ao ương cá con cần đủ ánh sáng mặt trời. Đây là yếu
tố đặc biệt quan trọng. Nếu sử dụng những ao thiếu ánh sáng thì kết quả
ương nuôi sẽ thấp, ít khi thành công. Vì vậy không nên để bóng cây che trên
mặt ao.
- Mặt nước ao cần thoáng, cần loại bỏ hết rong, cỏ nước, bèo ở trên mặt ao.
2/ Chuẩn bị ao trước khi thả cá nuôi:
- Tát cạn ao:
- Bón vôi: Thường dùng là vôi bột, bón 10kg/100m2
- Tu sửa bờ: chống ngập úng, chống rò rỉ, chống mất nước, chống cá khác
(đặc biệt là cá lóc) vào ao.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

5
- Phơi đáy ao: Nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất.
Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.
- Bón phân: Có thể dùng phân gà, phân heo hoặc phân xanh (các loại lá
xanh, tốt nhất là lá điên điển) để bón lót cho ao từ 15 -20kg/ 100m2 ao.
- Lấy nước cho ao: Nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để
tránh cá khác, tép vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết từ 0,8 - 1m.
- Diệt trừ dịch hại trước khi thả cá: Có nhiều loại dịch hại đối với cá. Nhưng
thường quan tâm để diệt nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch
nhái cần rào lưới xung quanh bờ ao. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa
1lít/1.000m2ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn
khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống một ngày thì có thể thả cá bột.
3/ Thả cá bột xuống ao:
- Tuổi cá thả nuôi: Sau khi cá nở được 2 - 3 ngày (tức là khi thấy cá bơi lội
nhanh nhẹn) thì đem thả xuống ao. Tính từ lúc chích cho cá đẻ thì khoảng 4
ngày sau khi chích. Vấn đề liên quan chặt chẽ đến thời gian chuẩn bị ao.
- Thời gian thả cá: Thích hợp nhất là từ 8 - 9 giờ sáng và những lúc trời
không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá cao.
- Mật độ thả: 400- 500 con/m2 là thích hợp.
4/ Cho ăn chăm sóc:
- Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau một
tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ 2 này chỉ bón
10kg/100m2 tức là chỉ 1/2 lần đầu.
- Cho ăn: Sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay.
* Trong tuần lễ đầu tiên: Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 2 lòng đỏ trứng gà
(vịt) luộc + 1 kg bột đậu nành/1.000m2 (pha nước vào thức ăn cho loãng, tạt
đều khắp ao).
* Tuần lễ thứ 2: Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 1 kg cám mịn + 0,5 kg bột
cá/1.000m2 ao (cũng pha nước như tuần đầu).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

