intTypePromotion=1
ADSENSE

Kinh tế môi trường (Field & Olewiler) - Chương 3: Lợi ích và chi phí, cung và cầu

Chia sẻ: Money Money | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

84
lượt xem
9
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương này giới thiệu sơ lược một số công cụ kinh tế vi mô cơ bản. Các chương sau sẽ dựa vào các ý tưởng này, đặc biệt là nguyên tắc cân bằng biên và trên các đồ thị khi chúng ta nhắc đi nhắc lại các số đo tổng và số đo biên. Khi bắt đầu xem xét các vấn đề thực tế về phân tích môi trường và thiết lập chính sách, chúng ta sẽ dễ dàng chuyển sang vô số các chi tiết mà bỏ quên các khái niệm kinh tế học cơ bản. Những khái niệm kinh tế cơ bản, như trình bày trong chương này, giúp chúng ta nhận định các đặc điểm kinh tế học cơ bản của các vấn đề và giúp triển khai giải pháp cho các vấn đề ấy.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế môi trường (Field & Olewiler) - Chương 3: Lợi ích và chi phí, cung và cầu

CHƯƠNG 3<br /> <br /> LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ, CUNG VÀ CẦU<br /> Trong chương này và chương kế tiếp chúng ta xem xét những công cụ kinh tế vi mô cơ bản<br /> sử dụng để phân tích các chính sách và các tác động môi trường. Điểm chính của phương<br /> pháp kinh tế đối với việc ra quyết định là đánh giá lợi ích và chi phí của các hoạt động. Các<br /> hoạt động kinh tế, bao gồm hoạt động môi trường, bao giờ cũng có hai mặt hay có sự đánh<br /> đổi: một mặt chúng tạo ra giá trị, còn mặt khác là tốn kém chi phí. Chúng ta phải đo lường<br /> các lợi ích và chi phí, sau đó đánh giá sự đánh đổi này cho mỗi hoạt động. Đầu tiên chúng<br /> ta xem xét vấn đề giá trị, sau đó là các khoản chi phí.<br /> <br /> GIÁ SẴN LÒNG TRẢ (WTP)<br /> Khái niệm cơ bản trong kinh tế học là các cá nhân có sự ưa thích về hàng hóa và dịch vụ;<br /> khi phải lựa chọn, họ có thể nói được là họ thích hàng hóa này hơn hàng hóa khác, hoặc<br /> thích một nhóm hàng hóa này hơn nhóm hàng hóa khác. Trong nền kinh tế hiện đại, có<br /> hàng nghìn dịch vụ và hàng hóa khác nhau, vì vậy trong các ví dụ ở chương này, chúng ta<br /> chỉ xem xét vào một hàng hóa duy nhất, đó là trái táo. Giá trị của hàng hóa này đối với một<br /> người là cái mà họ sẵn lòng trả và có thể từ bỏ để có nó. Từ bỏ cái gì? Nó có thể là bất cứ<br /> cái gì mà họ phải từ bỏ đi để lấy hàng hóa, nhưng chúng ta sẽ nói về sức mua là để dễ phân<br /> tích. Vì vậy, giá trị của một món hàng đối với một người nào đó chính là giá họ sẵn lòng<br /> trả cho món hàng ấy.<br /> Cái gì quyết định cho giá sẵn lòng trả của một người để giành lấy được một loại hàng hóa<br /> hay dịch vụ, hoặc một tài sản môi trường? Đó là một phần câu hỏi về vấn đề giá trị của cá<br /> nhân. Có người sẵn sàng từ bỏ nhiều thứ để viếng thăm Canadian Rockies còn những<br /> người khác thì không. Có người sẵn sàng chi trả một số tiền lớn để có môi trường sống yên<br /> tĩnh, còn người khác thì không. Có người đánh giá cao việc cố gắng bảo tồn môi trường<br /> sống của các loại cây và động vật hiếm, còn người khác thì không. Cũng rõ ràng là tài sản<br /> có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả; một người càng giàu thì họ càng có khả năng chi trả cho<br /> các loại hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn. Giá sẵn lòng trả (WTP), nói cách khác, cũng<br /> phản ánh khả năng chi trả.<br /> Ví dụ: Giá sẵn lòng trả cho táo sạch – một thực nghiệm<br /> Các nhà kinh tế có thể suy ra WTP từ hành động của con người khi họ mua hàng hóa và<br /> dịch vụ. Giả sử bạn ngồi ở một tiệm tạp hóa và phỏng vấn người ở khu vực hàng trái cây<br /> và rau quả. Bạn chọn một khách hàng mà họ sẽ mua táo sạch và hỏi người những câu hỏi<br /> như sau:<br /> 1. Nhà bạn có táo sạch không? (giả sử câu trả lời là không)<br /> 2. Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu cho một kg táo sạch hơn là không có nó? (giả sử người<br /> khách hàng trả lời là 4,50 đôla1)<br /> 1<br /> <br /> Mỗi món hàng tất nhiên được ấn định giá trên mỗi đơn vị. Người mua hàng biết được giá này. Điều mà<br /> người phỏng vấn đang hỏi là sự suy nghĩ của người được hỏi về việc họ chịu trả những mức giá khác nhau<br /> trên mỗi đơn vị được mua. Loại trao đổi này thường diễn ra ở chợ nơi mà người mua và người bán thương<br /> lượng về số lượng và giá.<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 1<br /> <br /> 3. Bây giờ bạn đã mua kilogram táo sạch đầu tiên rồi; vậy bạn sẽ sẵn lòng trả cho trái<br /> táo thứ hai là bao nhiêu?<br /> 4. Bạn sẽ sẵn lòng trả cho những kilogram táo thêm vào là bao nhiêu? (Tiếp tục hỏi<br /> cho đến khi câu trả lời là 0)<br /> Hình 3-1 trình bày dữ liệu dưới dạng đồ thị và bảng<br /> Hình 3-1: Bảng dữ liệu giá sẵn lòng trả cho táo sạch<br /> Giá sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với táo<br /> Số<br /> kg/tuần<br /> 0<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> <br /> $<br /> <br /> 5<br /> 4<br /> 3<br /> 2<br /> <br /> WTP<br /> $5,00<br /> 4,50<br /> 4,00<br /> 3,50<br /> 3,00<br /> 2,50<br /> 2,00<br /> 1,50<br /> 1,00<br /> 0,50<br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> Số kg táo<br /> <br /> Dữ liệu WTP từ 0 đến 5 đôla được biểu diễn bên trái của hình. Dữ liệu<br /> WTP được minh họa thành các hình chữ nhật đại diện cho mỗi kg được<br /> mua thêm vào. WTP giảm khi số đơn vị tiêu thụ gia tăng.<br /> <br /> Những ví dụ sau mô tả mối quan hệ cơ bản của kinh tế học: Khái niệm về giá sẵn lòng trả<br /> giảm dần.<br /> Khi số đơn vị mua tăng, giá sẵn lòng trả cho từng đơn vị hàng hóa tăng thêm<br /> thường giảm xuống.<br /> Sẽ bất tiện khi làm việc với các đồ thị có dạng bậc như hình 3-1. Nếu chúng ta giả định<br /> rằng con người có thể tiêu thụ từng phần nhỏ của hàng hóa và các giá trị là số nguyên, thì<br /> chúng ta sẽ có được đường giá sẵn lòng trả là một đường liên tục, giống như ở hình 3-2.<br /> Trong đồ thị này chúng ta có thể chọn ra từng điểm để minh họa. Nó cho thấy rằng ở mức<br /> số lượng là 4 đơn vị, giá sẵn lòng trả cho một đơn vị thêm nữa (cái thứ tư) là 3 đôla/kg. Giá<br /> sẵn lòng trả của một người cho 8 đơn vị là bao nhiêu? Câu trả lời là: 1 đôla/kg.<br /> Có sự khác biệt rất quan trọng giữa tổng giá sẵn lòng trả (Total WTP) và giá sẵn lòng trả<br /> biên (Marginal WTP), bởi đó là vấn đề mà chúng ta sẽ tiếp tục đề cập đến ở các chương<br /> sau. Giả định một người mua 2 kg táo; dọc theo đường WTP, anh ta có thể sẽ sẵn lòng trả<br /> 3,50 đôla cho kg thứ ba. Đó là giá sẵn lòng trả biên, trường hợp này là đối với kilogram<br /> thứ ba.<br /> Giá sẵn lòng trả biên diễn tả giá sẵn lòng trả của một người cho một đơn vị<br /> dịch vụ hay hàng hóa tăng thêm.<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 2<br /> <br /> Hình 3-2: Giá sẵn lòng trả trong trường hợp hàm số liên tục<br /> <br /> $<br /> <br /> 5<br /> 4<br /> <br /> b<br /> <br /> 3<br /> 2<br /> <br /> a<br /> <br /> 1<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> Soá kg<br /> taùo<br /> Dữ liệu từ hình 3-1 đựơc biến đổi thành đường thẳng do người tiêu dùng được<br /> phép mua từng phần nhỏ của các đơn vị. Tổng giá sẵn lòng trả (WTP) cũng<br /> được biểu diễn cho 4 kg táo. Nó là tổng diện tích a cộng b<br /> <br /> Tổng giá sẵn lòng trả được đo là phần diện tích nằm dưới đường WTP từ 0 đến số lượng<br /> được tiêu dùng. Ví dụ dưới đây cho thấy cách tính tổng WTP.<br /> Ví dụ: Ước tính tổng giá sẵn lòng trả (WTP) cho táo sạch<br /> Giả sử một người tiêu thụ 4 kg táo/tuần<br /> Tính tổng giá sẵn lòng trả (WTP) từ biểu đồ thanh ở hình 3-1. Tổng giá sẵn lòng trả là tổng<br /> chiều cao của các hình chữ nhật nằm giữa trục gốc và số lượng 4 kg.<br /> Tổng là 4,50 + 4,00 + 3,50 + 3,00 = 15,00 đôla<br /> Tính tổng giá sẵn lòng trả trong phiên bản của đường sẵn lòng chi trả ở hình 3-2. Tổng giá<br /> sẵn lòng trả là toàn bộ phần diện tích nằm dưới đường giá sẵn lòng trả từ điểm gốc đến<br /> điểm 4 kg.<br /> Sử dụng phương pháp hình học đơn giản để tính. Tổng giá sẵn lòng trả cho 4 kg là diện<br /> tích a cộng diện tích b.<br /> Diện tích a là hình chữ nhật có chiều cao là 3$ và rộng là 4: ta có 3$<br /> <br /> 4 = 12$<br /> <br /> Diện tích b là hình tam giác có chiều cao là 2$ = (5$ - 3$) và cạnh đáy bằng 4 = (4 – 0).<br /> 1<br /> Giá trị của diện tích b là [ (2$ 4$)] = 4$.<br /> 2<br /> Diện tích a + b = 16$ = tổng giá sẵn lòng trả.<br /> Vấn đề: Tại sao diện tích a cộng diện tích b trong hình 3-2 lớn hơn một ít so với tổng giá<br /> sẵn lòng trả được tính theo biểu đồ hình thanh ở hình 3-1? Câu trả lời là biểu đồ hình thanh<br /> là ước lượng xấp xỉ của đường liên tục. Sử dụng số nguyên và không sử dụng đường liên<br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 3<br /> <br /> tục sẽ cho giá trị thấp của tổng giá sẵn lòng trả. Vì thế chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng đường<br /> liên tục.<br /> <br /> Cầu<br /> Có cách khác để biểu diễn mối quan hệ giá sẵn lòng trả biên. Đây chính là đường cầu.<br /> Đường cầu cá nhân cho thấy số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà cá nhân này có nhu cầu<br /> (nghĩa là: mua và tiêu thụ) ở một mức giá cho sẵn. Thông tin từ hình có thể giúp cung cấp<br /> cho ta mối quan hệ đại số của đường cầu. Số lượng cầu giảm xuống khi giá táo tăng lên.<br /> Với QD là lượng cầu, là hệ số cắt và là độ dốc của phương trình. Khi đó hàm số đường<br /> cầu có dạng chung là:<br /> QD =<br /> <br /> - P<br /> <br /> Hệ số cắt có thể tìm thấy ở hình 3-1 hoặc hình 3-2 tại mức giá mà lượng cầu là 0. Đó là tại<br /> mức giá bằng 5$. Độ dốc của phương trình là sự thay đổi lượng cầu chia cho sự thay đổi<br /> mức giá .<br /> Nhìn vào số liệu trong hình 3-1, chúng ta thấy rằng cứ mỗi đơn vị sản phẩm tăng lên thì giá<br /> giảm đi 50 cent. Vì vậy độ dốc của chúng là -2. Hàm số cầu của táo lúc này sẽ là QD = 10 –<br /> 2P. Tuy nhiên, đường cầu của táo, theo qui định trong kinh tế học (đường thẳng trong hình<br /> 3-2) có giá nằm ở trục tung và lượng cầu nằm ở trục hoành. Điều này có nghĩa là chúng ta<br /> tìm ra lời giải cho phương trình QD = - P dưới dạng P hơn là QD. Nó được gọi là<br /> đường cầu nghịch đảo và mối quan hệ hàm số nói chung là<br /> P = / - (1/ ) QD<br /> Thay thế các giá trị và vào phương trình ta có P = 5 – 0,5QD. Đây là phương trình<br /> được minh họa ở hình 3-2.<br /> Đường cầu của táo là đường thẳng, nhưng trong thực tế có thể là đường cong. Mối quan hệ<br /> tuyến tính của đường cầu hàm ý là số lượng cầu thay đổi đồng nhất với giá hàng hóa.<br /> Tuy nhiên đối với nhiều hàng hóa thì điều này có thể không đúng. Ví dụ xem xét trường<br /> hợp hàng hóa là nước. Ở các mức giá thấp và tỷ lệ tiêu thụ cao, nghiên cứu cho thấy rằng<br /> với việc tăng giá ở một lượng tương đối nhỏ sẽ dẫn đến việc giảm đáng kể lượng cầu. Ở<br /> những mức giá cao và lượng cầu thấp, việc tăng giá sẽ có ảnh hưởng nhỏ hơn nhiều; nó sẽ<br /> tạo ra lượng cầu giảm ở mức ít hơn. Đây là đường cầu nó lõm về phía gốc; tương đối<br /> phẳng ở mức giá thấp và dốc lên ở mức giá cao. Hình 3-3 minh họa đường cầu đối với<br /> nước.<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 4<br /> <br /> Hình 3-3: Đường cầu đối với nước<br /> $<br /> Giá/<br /> 3<br /> m)<br /> <br /> 30<br /> 20<br /> 10<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 200<br /> <br /> 300<br /> <br /> 400<br /> <br /> 500<br /> <br /> 3<br /> <br /> Nước sử dụng (m )<br /> <br /> Đường cầu phi tuyến cho thấy một mức tăng nhỏ trong giá có thể dẫn đến lượng nước sử<br /> 3<br /> dụng giảm mạnh khi giá ở mức thấp. Việc tăng giá từ 10$ lên 20$/m sẽ giảm việc sử dụng<br /> 3<br /> nước từ 400 xuống 200 m . Nhưng việc tăng thêm 10$ nữa, từ 20$ đến 30$, sẽ làm giảm<br /> 3<br /> lượng tiêu thụ chỉ 50 m , từ 200 đến 150.<br /> <br /> Tổng cầu/Giá sẵn lòng trả<br /> Đường cầu cá nhân/đường giá sẵn lòng trả biên đối với hàng hóa hay dịch vụ là một cách<br /> để khái quát hóa khả năng và thái độ tiêu dùng cá nhân của một người đối với hàng hóa đó.<br /> Những mối quan hệ sẽ khác nhau giữa các cá nhân, bởi vì thị hiếu và sở thích của họ<br /> không giống nhau. Người với thu nhập cao thì tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn. Khi<br /> nghiên cứu các vấn đề thực về chính sách kiểm soát ô nhiễm và chất lượng môi trường, các<br /> nhà kinh tế học thường tập trung mối quan tâm của họ vào cách cư xử của các nhóm người<br /> hơn là các cá nhân đơn lẻ. Mối quan tâm chính là tổng cầu hay giá sẵn lòng trả của một<br /> nhóm người đã được xác định rõ.<br /> Đường tổng cầu đối với một hàng hóa thị trường là tổng theo trục hoành các<br /> đường cầu cá nhân thường được nhóm theo khu vực địa lý (ví dụ như thành<br /> phố, tỉnh hoặc một quốc gia).<br /> Hình 3-4 minh họa cách xây dựng đường tổng cầu của táo sạch. Giả sử chỉ có 2 khách<br /> hàng là Alice và Bruce. Hai người này đại diện cho những loại người tiêu dùng khác nhau<br /> ở vùng Vancouver. Alice thật sự thích táo sạch, trong khi Bruce thì chẳng quan tâm lắm<br /> đến chúng; anh ta chỉ thích nó như với táo thường khác. Alice có đường cầu được biểu thị<br /> như là Hình 3-2. Đường cầu của Bruce thì dốc đứng hơn so với đường cầu của Alice,<br /> chứng tỏ anh ta có sở thích khác.<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 5<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2