61
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(13)- Tháng 12. 2025- Số 285
Liên kết giữa nông dân- doanh nghiệp nông nghiệp
và các nhân tố ảnh hưởng: Kết quả khảo sát trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Ngày nhận: 20/10/2025 Ngày nhận bản sửa: 12/12/2025 Ngày duyệt đăng: 16/12/2025
Tóm tắt: Tăng cường liên kết giữa nông dân doanh nghiệp đóng vai trò
then chốt trong việc nâng cao hiệu quả, tính bền vững và năng lực cạnh tranh
của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Nghiên
cứu này thực hiện tổng quan và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên
kết giữa nông dân doanh nghiệp trong nông nghiệp. Trên sở đó, nhóm
nghiên cứu phát triển bảng hỏi, khảo sát 384 hộ nông dân 20 doanh nghiệp
Farmers- Agricultural Enterprises linkage and its affecting factors: A survey in Thai Nguyen
Province
Abstract: Strengthening the linkage between farmers and enterprises plays a crucial role in enhancing the
efficiency, sustainability, and competitiveness of agricultural production, especially in developing countries.
This study reviews previous research and identifies the factors affecting the relationship between farmers
and enterprises in agriculture. Thereon, the authors developed a questionnaire to survey 384 farming
households and 20 agricultural enterprises in Thai Nguyen province from January to March 2025, aiming
to clarify the perspectives of both groups on this linkage and the affecting factors in the context of a
midland, mountainous province where agriculture account for a significant part of the local economy. The
survey results provide preliminary evidence regarding the impact of factors such as natural conditions,
local market development, the legal and policy framework, enterprise development, the skills and capacity
of agricultural labor, the application of science and technology, and the awareness and linking capacity
of stakeholders. Among these, the most important factor is the awareness and linking capacity of the
stakeholders, while the impact of the other groups of factors is generally equivalent. The study offers
empirical evidence to support policymakers and business managers in designing strategies to strengthen
sustainable linkages between farmers and enterprises.
Keywords: Farmer-enterprise linkage, Legal and policy framework, Awareness and linking capacity, Natural
conditions, Thai Nguyen, Viet Nam
Link Doi: http://doi.org/10.59276/JELB.2025.12.3094
Ma Thi Huyen Nga1, Le Quoc Hoi2
Email: huyenngadhkt@tueba.edu.vn1, hoilq@neu.edu.vn2
Organizations: Thai Nguyen University of Economics and Business Administration, Viet Nam1, National
Economics University, Viet Nam2
Ma Thị Huyền Nga1, Lê Quốc Hội2
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh- Đại học Thái Nguyên, Việt Nam1,
Đại học Kinh tế Quốc dân, Việt Nam2
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Liên kết giữa nông dân- doanh nghiệp nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng:
Kết quả khảo sát trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
62
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn tháng 01 đến tháng 03
năm 2025, để làm rõ nhận định về mối liên kết này và các nhân tố ảnh hưởng
trong bối cảnh thực tiễn một tỉnh trung du miền núi nông nghiệp đóng vai
trò quan trọng trong kinh tế địa phương. Kết quả khảo sát đưa ra bằng chứng
ban đầu về tác động của điều kiện tự nhiên; mức độ phát triển thị trường của
địa phương; khung chính sách pháp lý; mức độ phát triển của doanh nghiệp;
năng lực, trình độ của lao động nông nghiệp; nhận thức năng lực liên kết
của các chủ thể; mức độ ứng dụng khoa học công nghệ. Trong đó nhân tố
quan trọng nhất là nhận thức và năng lực liên kết của các chủ thể, mức độ tác
động của các nhân tố khác cơ bản là tương đương. Nghiên cứu cung cấp bằng
chứng thực nghiệm nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách quản trị
doanh nghiệp thiết kế các chiến lược tăng cường mối liên kết bền vững giữa
nông dân và doanh nghiệp.
Từ khóa: Liên kết nông dân- doanh nghiệp, Hệ thống chính sách pháp luật, Nhận
thức và năng lực liên kết, Điều kiện tự nhiên, Thái Nguyên, Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Liên kết giữa nông dân doanh nghiệp
đã trở thành một chế quan trọng để
nâng cao chuỗi giá trị nông sản, đảm bảo
thị trường ổn định thúc đẩy phát triển
nông thôn bền vững. Tại nhiều quốc gia
đang phát triển, tình trạng sản xuất manh
mún năng lực thương mại hạn chế đã
cản trở nông hộ nhỏ trong việc tiếp cận thị
trường công nghệ hiện đại (Barrett
cộng sự, 2012). Tăng cường liên kết nông
dân- doanh nghiệp thể giúp khắc phục
hạn chế này thông qua hợp đồng liên kết,
chuyển giao tri thức và chia sẻ nguồn lực.
Ngành nông nghiệp Việt Nam, mặc
lợi thế so sánh về các sản phẩm nhiệt đới,
vẫn đang đối mặt với nhiều trở ngại như
tiếp cận thị trường không ổn định, mức độ
áp dụng công nghệ thấp sự hỗ trợ thể chế
còn hạn chế. Tỉnh Thái Nguyên- một tỉnh
trung du miền núi và nông nghiệp đóng vai
trò quan trọng trong kinh tế địa phương, là
dụ điển hình cho những thách thức này.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nhiều
yếu tố tác động đến liên kết, bao gồm: điều
kiện tự nhiên, sự phát triển của thị trường
(Barrett cộng sự, 2012), chính sách nhà
nước (Swinnen & Maertens, 2007), năng
lực doanh nghiệp, chất lượng lao động
(World Bank, 2020), áp dụng khoa học
công nghệ. Bên cạnh đó, nhận thức năng
lực của các chủ thể cũng được coi là yếu tố
quan trọng để đảm bảo tuân thủ hợp đồng
và xây dựng lòng tin.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về liên
kết giữa nông dân doanh nghiệp trong
sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện,
điển hình như liên kết trong sản xuất
tiêu thụ lúa gạo Đồng bằng sông Cửu
Long (Tran & Nguyen, 2024), liên kết kinh
doanh xoài chuối tại Đồng Tháp (Truong
cộng sự, 2021), liên kết trong sản xuất
tiêu thụ phê Tây Nguyên (Đỗ Thị
Nga & Lê Đức Niêm, 2016), liên kết trong
sản xuất tiêu thụ rau Hải Dương (Vũ
Thị Hằng Nga, 2023), liên kết trong phát
triển cây trồng tại Thái Bình (Nguyen
cộng sự, 2020), liên kết trong sản xuất
tiêu thụ khoai tây tại Quảng Ninh (Doan
cộng sự, 2024). Tuy nhiên, bằng chứng thực
nghiệm về vấn đề trên tại khu vực trung du
MA THỊ HUYỀN NGA - QUỐC HỘI
63
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
miền núi phía Bắc, đặc biệt Thái Nguyên
vẫn còn hạn chế.
Thực trạng này đặt ra nhu cầu hệ thống hóa
các nhân tố ảnh hưởng mối liên kết nông
dân- doanh nghiệp, đồng thời khảo sát để
đưa ra bằng chứng về thực trạng mối liên
kết giữa nông dân doanh nghiệp tại địa
phương nhân tố ảnh hưởng đến mối
liên kết này. Nghiên cứu được thực hiện
bằng phương pháp khảo sát qua bảng hỏi
với thang đo likert 5 bậc và phân tích bằng
thống tả. Việc khảo sát được thực
hiện trong giai đoạn tháng 01 đến tháng 03
năm 2025 và thu được câu trả lời từ 384 hộ
nông dân và 20 doanh nghiệp nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nghiên
cứu đã làm rõ được thực trạng mối liên kết
giữa nông dân và doanh nghiệp trong nông
nghiệp của Tỉnh, đánh giá của các bên liên
quan (nông dân doanh nghiệp) về các
nhân tố tác động, vai trò của các nhân tố.
Phần tiếp theo của bài viết bao gồm:
sở lý thuyết, Phương pháp nghiên cứu, Kết
quả nghiên cứu, Kết luận và kiến nghị.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Khái niệm liên kết nông dân doanh
nghiệp
Theo Hồ Quế Hậu (2012), liên kết giữa
doanh nghiệp với nông dân là một bộ phận
của liên kết kinh tế, trong đó các bên tham
gia vào quá trình liên kết này doanh
nghiệp nông dân thực hiện các ràng
buộc nhất định nhằm ổn định nâng cao
hiệu quả kinh tế. Như vậy, liên kết nông
dân doanh nghiệp hình thức tổ chức
tự nguyện phối hợp các hoạt động sản xuất,
kinh doanh của nông dân doanh nghiệp
theo thỏa thuận từ trước, hình thành chuỗi
cung ứng sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng
nhu cầu của thị trường.
Liên kết giữa doanh nghiệp hộ nông
dân trải dài trên toàn bộ quá trình sản xuất-
kinh doanh. khâu đầu vào, hộ nông dân
thường hợp tác với doanh nghiệp thông
qua các hoạt động như cung ứng vật
nông nghiệp, thuê hoặc mua máy móc thiết
bị, sử dụng dịch vụ tài chính- bảo hiểm,
vấn, môi giới hay thuê lao động kỹ thuật.
Trong quá trình sản xuất, liên kết chủ yếu
tập trung vào việc hỗ trợ chuyển giao kỹ
thuật, ứng dụng công nghệ cao, làm đất, áp
dụng công nghệ sau thu hoạch, quản chất
lượng- thương hiệu, cũng như xử môi
trường phế phụ phẩm. Đến khâu tiêu
thụ sản phẩm, các hình thức liên kết phổ
biến bao gồm mua bán chế biến nông
sản, ủy thác hoặc môi giới tiêu thụ, cung
cấp thông tin thị trường đại diện xử
các vấn đề phát sinh. Trong đó, hoạt động
mua bán chế biến giữ vai trò then chốt
nên doanh nghiệp thường đảm nhiệm vai
trò chính (Đàm Quang Thắng & Phạm Thị
Mỹ Dung, 2024).
2.2. Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng
đến liên kết nông dân- doanh nghiệp
Nghiên cứu tiền nhiệm xác định các nhân tố
tác động đến mối liên kết nông dân- doanh
nghiệp bao gồm: điều kiện tự nhiên, mức
độ phát triển của thị trường, khung chính
sách pháp luật, quy trình độ của
doanh nghiệp, trình độ lao động trong nông
nghiệp, nhận thức của các chủ thể liên kết,
mức độ ứng dụng khoa học công nghệ tới
mối liên kết này.
Điều kiện tự nhiên:
Các nghiên cứu về hợp đồng nông nghiệp
chỉ ra rằng doanh nghiệp xu hướng chọn
vùng điều kiện sinh thái thuận lợi hơn,
trong khi các vùng rủi ro cao đòi hỏi mức
hỗ trợ kỹ thuật, quản rủi ro lớn hơn nếu
muốn duy trì liên kết (Barrett cộng sự,
2012). Khoảng cách tới chợ, chi phí
Liên kết giữa nông dân- doanh nghiệp nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng:
Kết quả khảo sát trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
64
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
chất lượng hạ tầng giao thông một phần
của chi phí giao dịch. Fafchamps (2004)
cho thấy ở châu Phi hạ Sahara, chi phí vận
chuyển cao, thời gian di chuyển thiếu
hạ tầng làm tăng đáng kể chi phí giao dịch,
hạn chế khả năng tham gia thị trường của
nông hộ.
Mức độ phát triển của thị trường:
Meemken Bellemare (2020) chứng
minh doanh nghiệp chỉ hợp đồng khi
thị trường ổn định, chi phí giao dịch thấp.
Hoang (2021) khẳng định thị trường tiêu
thụ bền vững điều kiện tiên quyết cho
liên kết hiệu quả Việt Nam. Thị trường
tiêu thụ thúc đẩy liên kết khi nhu cầu thay
đổi nhanh, yêu cầu chất lượng cao. Đa dạng
kênh tiêu thụ, mức độ tiếp cận thị trường,
thông tin giá cả tăng khả năng hợp đồng
giữa nông dân doanh nghiệp (Barrett
cộng sự, 2012). Ma cộng sự (2024)
tổng hợp bằng chứng đa quốc gia kết
luận rằng các rào cản thị trường như chi phí
giao dịch cao, thiếu thông tin, thiếu kênh
thu mua ổn định vẫn trở ngại chính đối
với nông hộ nhỏ; đồng thời, phát triển các
kênh marketing mới (thương mại điện tử,
hợp đồng với chuỗi bán lẻ) có thể mở rộng
cơ hội kết nối nông dân- doanh nghiệp.
Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước:
Phân tích so sánh từ nhiều nước cho thấy
các điều kiện thị trường ổn định tích hợp
với chính sách hỗ trợ làm tăng mức độ tham
gia của nông dân vào các hợp đồng với
doanh nghiệp (Barrett cộng sự, 2012).
Bellemare và Bloem (2018) cho thấy phần
lớn nghiên cứu thực nghiệm đều xem hợp
đồng nông nghiệp như một chế chia sẻ
rủi ro cải thiện phúc lợi nông hộ, thông
qua các kênh như cam kết giá, cung cấp
dịch vụ đầu vào. Các chế này, khi
được thiết kế phù hợp, thể giảm bớt biến
động thu nhập rủi ro thị trường đối với
nông dân, qua đó hỗ trợ mối quan hệ hợp
đồng ổn định hơn.
Sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp:
Gereffi cộng sự (2005) chỉ ra rằng các
doanh nghiệp lớn với năng lực chế biến,
phân phối, kiểm soát chất lượng thường giữ
vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị, quyết
định chuẩn chất lượng hình liên kết
với nhà cung cấp đầu vào. Reardon cộng
sự (2003) cho thấy sự phát triển nhanh của
các hệ thống siêu thị, doanh nghiệp chế
biến và logistics các nước đang phát triển
đã kéo theo các hình thức liên kết chặt hơn
với nông dân để đảm bảo chất lượng và ổn
định nguồn cung. Meemken Bellemare
(2020) cho thấy các doanh nghiệp năng
lực tài chính, quản trị công nghệ cao hơn
thường khả năng cung cấp gói hỗ trợ
toàn diện cho nông dân (đầu vào, khuyến
nông, tín dụng), qua đó tạo liên kết bền
vững hơn.
Năng lực, trình độ của lao động nông nghiệp:
Trình độ, kỹ năng nhận thức của nông
dân được xem một trong những yếu tố
cốt lõi quyết định khả năng tham gia
duy trì liên kết. Fischer Qaim (2012)
cho thấy Kenya, trình độ học vấn, tiếp
cận thông tin và tham gia tổ chức nông dân
làm tăng xác suất hộ tham gia các liên kết
thị trường giá trị cao. Li và cộng sự (2023)
khi nghiên cứu sự hợp tác theo chiều dọc
trong chuỗi nho Trung Quốc cũng cho
thấy kinh nghiệm sản xuất, năng lực quản
và hiểu biết thị trường các yếu tố quan
trọng giải thích xác suất hộ tham gia hợp
tác dọc với doanh nghiệp. Reardon và cộng
sự (2003) lưu ý rằng thiếu lao động kỹ
năng và kỷ luật sản xuất có thể làm tăng rủi
ro không tuân thủ tiêu chuẩn, ảnh hưởng
đến uy tín của cả chuỗi.
Nhận thức năng lực liên kết của chủ thể:
MA THỊ HUYỀN NGA - QUỐC HỘI
65
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
Các nghiên cứu về hợp đồng nông nghiệp
cho thấy nông dân thường gắn hơn với
các mô hình liên kết khi họ nhìn thấy rõ lợi
ích về thu nhập, đầu ra chia sẻ rủi ro so
với bán hàng trên thị trường spot (Little &
Watts, 1994). Trong bối cảnh toàn cầu hóa
và phát triển các chuỗi giá trị hiện đại, khả
năng tổ chức sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn
chất lượng hiểu biết về thị trường trở
thành điều kiện then chốt để nông dân tham
gia trụ vững trong các kênh liên kết giá
trị cao (Pingali, 2007). Trên chiều ngược lại,
các nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu nhấn
mạnh rằng việc các tác nhân trong chuỗi- từ
nông dân đến doanh nghiệp thu mua, chế
biến- duy trì quan hệ ổn định tuân thủ
các chuẩn mực về chất lượng, thời gian giao
hàng nền tảng để giảm chi phí giao dịch,
xây dựng niềm tin và duy trì hợp tác dài hạn
(Gereffi & Korzeniewicz, 1994).
Mức độ ứng dụng khoa học- công nghệ:
Khoa học- công nghệ, đặc biệt công nghệ
số, đang làm thay đổi cách doanh nghiệp
nông dân tổ chức, giám sát điều phối
liên kết. Các tổng quan về chuyển đổi số
trong nông nghiệp cho thấy các nền tảng
hỗ trợ quyết định tiềm năng giúp nông
dân sử dụng đầu vào hiệu quả hơn, đáp
ứng yêu cầu chất lượng chặt chẽ hơn, qua
đó tạo nền tảng kỹ thuật cho các dạng hợp
đồng chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, song
cũng đặt ra yêu cầu mới về năng lực số
sở hạ tầng (Klerkx cộng sự, 2019).
Bên cạnh đó, các báo cáo của FAO nhấn
mạnh rằng những đổi mới như truy xuất
nguồn gốc điện tử, quản chia sẻ dữ
liệu nếu được triển khai trong một khung
chính sách phù hợp thể góp phần giảm
chi phí giao dịch, nâng hiệu quả chuỗi giá
trị nông sản hỗ trợ phát triển các liên
kết nông dân- doanh nghiệp bền vững hơn
(FAO, 2022).
Tóm lại, các nghiên cứu trước khẳng định
liên kết nông dân- doanh nghiệp nhìn
chung tiềm năng cải thiện hiệu quả
phúc lợi của nông hộ; đồng thời chỉ ra một
nhóm những nhân tố ảnh hưởng tiềm năng.
Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm về
mức độ liên kết thực tế và vai trò tương đối
của từng nhóm nhân tố trong các bối cảnh
cụ thể, đặc biệt các tỉnh miền núi trung
du- nơi nông nghiệp vẫn đóng vai trò sinh
kế cốt lõi, vẫn còn hạn chế.
Việc định lượng được sự tác động của từng
nhóm nhân tố tới khả năng hình thành
duy trì liên kết trong một địa bàn cụ thể
như tỉnh Thái Nguyên sẽ góp phần lấp đầy
khoảng trống này, đồng thời cung cấp căn
cứ thực chứng cho thiết kế chính sách
giải pháp quản trị phù hợp từ cả phía doanh
nghiệp và nông dân.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp
khảo sát và phân tích kết quả bằng phương
pháp tổng hợp so sánh trên sở sử dụng
các số liệu thống tả. Cụ thể, bảng
hỏi được thiết kế gồm 36 câu hỏi khảo sát
(chi tiết tại Bảng 1, 2, 3, 4) đánh giá
nhận thức của nông dân doanh nghiệp
nông nghiệp về mức độ liên kết giữa nông
dân doanh nghiệp nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên, và mức độ tác động
đến mối liên kết này của 7 nhân tố đã được
xác định từ tổng quan nghiên cứu Điều
kiện tự nhiên (TN); Mức độ phát triển của
thị trường (TT); Hệ thống chính sách, pháp
luật của Nhà nước (NN); Sự phát triển của
hệ thống doanh nghiệp (PT); Năng lực,
trình độ của lao động nông nghiệp (LD);
Nhận thức và năng lực liên kết của chủ thể
(NT) Mức độ ứng dụng khoa học công
nghệ (KH). Trong đó, mức độ liên kết tổng
thể giữa nông dân doanh nghiệp trong
sản xuất và tiêu thụ nông sản, thể hiện qua
phối hợp sản xuất, hỗ trợ đầu vào- đầu ra,