
3
TÓM LƯỢC
Bùn đáy trong các hệ thống canh tác thủy sản được xem là nguồn gây ô
nhiễm khi xả thải ra môi trường, tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây cho thấy
trong bùn đáy có chứa lượng chất dinh dưỡng có thể tái sử dụng cho cây trồng.
Các nghiên cứu này chỉ tập trung cho bùn đáy ao nuôi cá da trơn và cá nước
ngọt do đó cần phải có những nghiên cứu thực tế về bùn đáy trong điều kiện
nước ngọt-mặn luân phiên điển hình ở Đồng bằng sông Cửu Long để phục vụ
một số hệ thống canh tác đặc trưng của vùng, trong đó hệ thống lúa-tôm được
xem là hệ thống sản xuất nông nghiệp phù hợp vì có thể trồng lúa vào mùa mưa
khi độ mặn xuống thấp nhưng vẫn có thể nuôi tôm vào mùa khô khi độ mặn
tăng cao. Vì vậy đề tài thực hiện nhằm nghiên cứu đánh giá đặc tính bùn đáy
trong hệ thống canh tác đặc thù này về khối lượng và hàm lượng các dưỡng chất
thiết yếu, đồng thời nghiên cứu ứng dụng bùn để cung cấp dinh dưỡng cho canh
tác vụ lúa trong hệ thống canh tác lúa-tôm.
Trong nội dung nghiên cứu thứ nhất, đề tài tiến hành khảo sát phỏng vấn,
điều tra kỹ thuật canh tác và xử lý bùn đáy của người dân khi thực hiện hệ thống
lúa-tôm; Khảo sát, phân tích đặc tính hóa học ba nhóm mẫu đất: (1) mẫu bùn
đáy; (2) mẫu đất tầng canh tác (từ 0 đến 3 cm); (3) mẫu đất tầng canh tác (từ 3
đến 10 cm). Kết quả nghiên cứu cho thấy bùn đáy tích lũy trong hệ thống lúa-
tôm có thể được xử lý rửa mặn và tận dụng hàm lượng dinh dưỡng trong bùn để
thay thế một phần phân hóa học cung cấp dưỡng chất cho vụ lúa trong hệ thống
canh tác lúa-tôm.
Để thực hiện nội dung nghiên cứu thứ hai, đề tài xác định khối lượng bùn
đáy tích lũy sau vụ tôm và hàm lượng dưỡng chất, khả năng khoáng hóa N của
bùn đáy nhằm đánh giá tổng lượng bùn đáy và khả năng cung cấp N khoáng của
bùn đáy trong hệ thống canh tác lúa-tôm. Đánh giá tổng lượng bùn được thực
hiện bằng cách đặt những bẫy bùn dưới đáy mương chính trong hệ thống lúa-
tôm. Sau vụ nuôi tôm, lượng bùn lắng trên bẫy bùn được ghi nhận khối lượng
khô để tính tổng lượng bùn. Khả năng cung cấp N khoáng của bùn đáy được
đánh giá dựa vào phân tích N khoáng tích lũy và tốc độ khoáng hóa N theo thời
gian của ba nhóm mẫu thu ở ba vị trí khác nhau trong hệ thống lúa-tôm: (1) mẫu
bùn mương chính, (2) mẫu bùn mương xả phèn, (3) mẫu đất tầng canh tác (0-3
cm). Kết quả cho thấy tổng lượng bùn tích lũy ở mương chính đạt từ 377,3 đến
430,6 (m3/ha/vụ) tương ứng từ 83 đến 94,7 (tấn/ha/vụ) bùn khô. Kết quả phân
tích khả năng cung cấp N khoáng cho thấy bùn đáy của hệ thống lúa-tôm sau