
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
BĐKH đang là một thách thức hiện hữu đối với tất cả các quốc gia trên toàn
cầu. Theo các báo cáo của IPCC (2018), BĐKH đã tác động đến nhiều lĩnh vực
của quá trình phát triển kinh tế xã hội và các khía cạnh về sức khỏe cũng như điều
kiện sống của con người ở các khu vực trên thế giới. Những quốc gia nghèo và
đang phát triển thường chịu nhiều tổn thương hơn trước tác động của BĐKH do
những hạn chế về trình độ phát triển kinh tế - xã hội và năng lực thích ứng biến
đổi khí hậu (IPCC, 2014). Và nông nghiệp là ngành dễ bị ảnh hưởng nhất bởi
BĐKH bởi vì khí hậu là yếu tố chủ yếu quyết định đến kết quả sản xuất nông
nghiệp (Adams và cộng sự, 1998). Mặc dù BĐKH có thể mang tới cả những tác
động tích cực và tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp nhưng nhìn chung tác động
tiêu cực là đáng kể hơn (IPCC, 2014).
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á – ADB (2009), Việt Nam là một trong
các quốc gia Đông Nam Á, nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi BĐKH và nước biển dâng. Theo dự báo đến cuối thế kỷ 21
nhiệt độ trung bình của Việt Nam sẽ tăng khoảng 3
0
C và lượng mưa sẽ tăng lên
5% vào mùa mưa nhưng giảm khoảng 5% vào mùa khô (MONRE, 2016). Trong
số các ngành kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp là ngành đang chịu những tác
động mạnh mẽ nhất từ BĐKH do tính chất nhạy cảm của nó với thời tiết, khí hậu.
Với nền nông nghiệp nhìn chung còn lạc hậu, BĐKH được cho là một thách thức
lớn đối với ngành nông nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là các hoạt động trồng trọt.
Cho tới nay, lúa gạo vẫn là mặt hàng lương thực quan trọng nhất (chiếm
khoảng 30% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp) của Việt Nam (FAO, 2018a,b).
Đây là ngành sản xuất truyền thống, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh
lượng thực quốc gia và cũng là nông sản xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam trong
nhiều thập kỷ qua. Với đặc thù về điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng phù hợp với sản
xuất lúa gạo, sinh kế của phần lớn nông dân khu vực nông thôn vẫn phụ thuộc chủ
yếu vào sản xuất lúa gạo. Diện tích canh tác lúa vẫn chiếm một tỷ trọng cao trong
tổng diện tích đất cây trồng hàng năm của các địa phương, từ 60 – 80% (theo
GSO, 2018). Tuy nhiên năng suất lúa những năm gần đây tăng chậm lại, một số
vùng không tăng, thậm chí đã có xu hướng giảm đi trong khoảng 10 năm trở lại
đây. Thực trạng này đã đặt ra mối quan tâm lớn về tác động của BĐKH đối với
sản xuất lúa ở nước ta trong thời gian tới.
Miền Bắc nước ta có hơn 70% diện tích đất trồng cây hàng năm được sử
dụng vào trồng lúa 2 vụ chính; hơn 50% dân số ở nông thôn có hoạt động sản xuất
lúa gạo (GSO, 2018). Trước áp lực ngày càng gia tăng của phát triển kinh tế và
cơ sở hạ tầng, diện tích đất nông nghiệp trong đó có lúa có xu hướng thu hẹp, do
đó để đảm bảo an toàn lương thực và phát triển bền vững hoạt động sản xuất lúa
cũng như sinh kế của nông dân trồng lúa trong bối cảnh BĐKH thì các giải pháp
tăng năng suất lúa và thích ứng sản xuất lúa với BĐKH đang là vấn đề được đặc
biệt quan tâm ở các địa phương.
Mặc dù những xu hướng về BĐKH và tác động được dự báo của nó đến sản
xuất lúa gạo ở Miền Bắc nước ta là rất đáng quan tâm, nhưng những bằng chứng
thực nghiệm về tác động của BĐKH đến sản xuất lúa ở miền Bắc còn khá hạn
chế; các phương pháp nghiên cứu định lượng về mối quan hệ này còn khá đơn
giản và cơ bản. Hầu hết các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sản xuất lúa
chủ yếu được thực hiện ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt khu vực ven biển Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với những đặc thù về khí hậu, địa hình và thổ
nhưỡng khác biệt so với miền Bắc (Yu và cộng sự 2010; Nguyen, 2011; The và
cộng sự 2013; Đặng Thị Thanh Hoa, 2013; Balica và cộng sự, 2014; Lê Anh Tuấn
và cộng sự, 2014; Nguyen và Hoang, 2015; Le, 2016; UNDP, 2016; CGIAR,
2016; Adelaide và Roberto, 2018; Trinh, 2018; Adelaide và Roberto 2018). Bên
cạnh đó, các nghiên cứu này chủ yếu mới xem xét tác động của BĐKH ở một số
khía cạnh đơn lẻ về nhiệt độ trung bình, tổng lượng mưa hoặc thiên tai, hạn hán,
xâm nhập mặn do nước biển dâng để lại một khoảng trống về tác động của sự biến
đổi các yếu tố cực trị của thời tiết (như mức nhiệt độ tối đa và mức nhiệt độ tối
thiểu) và các hiện tượng thời tiết cực đoan đến năng suất lúa.
Từ những lý do được phân tích ở trên, đề tài luận án: Nghiên cứu thống kê
ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến năng suất lúa ở miền Bắc Việt Nam sẽ góp
phần bổ sung các bằng chứng và cơ sở thực nghiệm cụ thể, phong phú hơn về tác
động của BĐKH đến sản xuất lúa; giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước trong
lĩnh vực nông nghiệp, chính quyền địa phương xây dựng các chiến lược, giải pháp
thích ứng sản xuất lúa gạo trong điều kiện BĐKH ở miền Bắc nước ta.