
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
HỒ HUY THÀNH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ KINH TẾ HỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 9 85 01 03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội, 2018

Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Đào Châu Thu
2. TS. Mai Văn Phấn
Phản biện 1: PGS.TS. Vũ Thị Bình
Hội Khoa học đất Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Văn Thơ
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
Phản biện 3: TS. Nguyễn Thị Ngọc Lanh
Tổng cục Quản lý đất đai
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp
Học viện, họp tại: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi ..... ngày ..... tháng ..... năm 2018
Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đô thị hóa là một quy luật tất yếu, tỷ lệ đô thị hóa được xem là một chỉ
báo về sự phát triển của một quốc gia, vùng miền, địa phương. Quá trình đô thị hoá
(ĐTH) ở các nước cũng như ở Việt Nam đã là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế,
văn hoá xã hội, kinh tế đô thị chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng GDP, góp phần
tăng giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi tiếp
cận tiến bộ khoa học công nghệ, đã góp phần nâng cao chất lượng sống cho người
dân… Song bên cạnh tác động tích cực cũng nảy sinh nhiều vấn đề nan giải như: áp
lực dân số, giao thông, môi trường, bất cập giữa khu vực đô thị với khu vực nông
thôn… Bên cạnh đó, việc tăng dân số đô thị đều đi đôi với tăng diện tích đất đô thị,
tức là nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sẽ được chuyển đổi thành
đất đô thị. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016a), trong giai đoạn 2000 - 2015,
đất phi nông nghiệp cả nước ta tăng 1.199 ngàn ha, đất trồng lúa giảm 437,43 ngàn
ha (bình quân giảm khoảng 29 ngàn ha/năm).
Tại thành phố Hà Tĩnh, quá trình ĐTH đã làm cho tổng diện tích đất nông
nghiệp thời kỳ 2000 - 2015 giảm sang đất phi nông nghiệp 646,55 ha, chiếm 18,73%
so với diện tích đầu kỳ.Vấn đề đặt ra là phần diện tích đất nông nghiệp còn lại sau
quá trình ĐTH (sau khi thực hiện QHSD đất theo mỗi kỳ quy hoạch) phải được tổ
chức quản lý, sử dụng làm sao cho hợp lý, hiệu quả nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu
về các sản phẩm nông nghiệp cho xã hội và cải thiện tình hình kinh tế nông hộ khu
vực đô thị và ven đô, đó là lý do cần phải tiến hành nghiên cứu đề tài.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả, tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ dưới tác
động của ĐTH.
- Đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và các giải pháp để nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, kinh tế nông hộ cho khu vực nội đô, ven đô thành
phố Hà Tĩnh.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng thuỷ sản của thành phố Hà Tĩnhgiai
đoạn 2000 - 2015; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng hai loại đất trên.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Trong ranh giới hành chính thành phố Hà Tĩnh; có nghiên
cứu đại diện tại địa bàn 02 xã khu vực nông thôn (ven đô) và 01 phường thuộc khu
vực nội đô thị của thành phố Hà Tĩnh.
Giới hạn nội dung: Đánh giá hiệu quả, tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp và
kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa thành phố Hà Tĩnh.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định hiệu quả, tiềm năng các loại sử dụng đất nông nghiệpdưới tác động
của đô thị hóa thành phố Hà Tĩnh.

2
- Đề xuất các mô hình sử dụng đất nông nghiệp thích hợp, hiệu quả và bền vững
cho khu vực nội đô, ven đô thành phố Hà Tĩnh gồm Chuyên hoa (Hoa đào); Chuyên
màu (bao gồm các kiểu sử dụng đất:
Lạc - Dưa hấu - Súp lơ; Dưa hấu – Dưa hấu -
Rau cải; Lạc - Dưa hấu - Su hào, Lạc - Dưa hấu - Bắp cải) và nuôi trồng thủy sản
(cá Chẽm, cá Chim nuôi ao)
để nâng cao thu nhập cho nông hộ thành phố Hà Tĩnh.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần bổ sung co sơ
khoa hoc cho viẹ
c sư
dung đâ t nông nghiẹ
p hơp
lý, hiẹ
u qua góp phần phát triên kinh tê nông họ
cho các khu vực đô thị và ven đô.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận án đã đề xuất các kiểu sử dụng đất thích hợp, hiệu quả và bền vững
trong sử dụng đất nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn nhằm
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao ở thành phố Hà Tĩnh; nâng cao hiệu quả
sử dụng đất cho nông hộ khu vực đô thị và ven đô thành phố Hà Tĩnh.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đất nông nghiệp và tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm, nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Khái niệm đất nông nghiệp: Theo Từ điển Luật học: “Đất nông nghiệp là gồm
các loại đất được xác định là TLSX chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn
nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái,
cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ” (Bộ Tư pháp, 2006).
- Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp: Theo Phạm Vân Đình và Đỗ Kim
Chung (1997), sử dụng đất nông nghiệp bao gồm 3 nguyên tắc sau: Đất nông nghiệp
cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý; Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả
kinh tế cao; Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững.
2.1.1.2. Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp theo chỉ dẫn của FAO
a. Một số khái niệm sử dụng trong đánh giá đất của FAO
- Đánh giá tiềm năng đất đai là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất liên
quan đến mục đích của đất được sử dụng. Đó là việc phân chia hay phân hạng đất
đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như
độ dốc, độ dày tầng đất, tình trạng xói mòn, khô hạn,… để có thể lựa chọn những
loại hình sử dụng đất phù hợp (Đô Đinh Sâm và cs., 2005).
- Loại sử dụng đất (Land Utilization Type - LUT) là một phương thức sử dụng
đất trồng một loại cây hay một tổ hợp cây trồng với những hình thức quản lý chăm
sóc nhất định trong những điều kiện kinh tế, xã hội và kỹ thuật nhất định (Đao Châu
Thu va Nguyên Khang, 1998).
- Kiểu sử dụng đất (Kind of Land Use): là phần chia nhỏ chủ yếu của sử dụng
đất nông nghiệp như đất SXNN, đất lâm nghiệp, đất NTTS, đất làm muối,…
- Bản đồ đơn vị đất đai: là một khoanh/vạt đất được xác định cụ thể trên bản đồ
đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt, thích hợp cho từng loại sử
dụng đất, có cùng điều kiện quản lý và cùng khả năng sản xuất và cải tạo đất.

3
b. Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp theo chỉ dẫn của FAO
Theo FAO (1976), “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính
chất vốn có của vạt đất, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại
yêu cầu sử dụng đất cần phải có”. Phương pháp đánh giá đất theo FAO được thực
hiện trên các nguyên tắc: (1) Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân
hạng cho các LUT cụ thể. (2) Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá
đất, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm
nghiệp, kinh tế và xã hội học. (3) Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng
phải dựa trên cơ sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân
nhắc để quyết định.
2.1.2.Đô thị hóa và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị và ven đô
2.1.2.1. Đô thị, đô thị hóa, vùng ven đô
- Đô thị: là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp (hay chuyên ngành), có vai
trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển KT - XH của cả nước, của một miền lãnh thổ, của
một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện.
- Đô thị hóa: được thể hiện trong rất nhiều khái niệm khác nhau. Tuy nhiên dù
ở góc độ nghiên cứu nào, các khái niệm này đều đề cập đến quá trình thay đổi hình
thức cư trú của con người, từ hình thức sống ở nông thôn tiến lên hình thức sống ở
thành thị cũng như thể hiện vai trò của ĐTH đối với sự phát triển KT - XH.
- Vùng ven đô được sử dụng để mô tả các khu vực mới được đô thị hoá ở rìa
các thành phố, đặc biệt là tại các nước đang phát triển (Adell, 1999; McGregor et
al., 2006). Vùng ven đô là một vành đai chuyển tiếp giữa thành phố và nông thôn,
chứa đựng sự giao thoa và tương tác giữa nông thôn và đô thị. Nó là nơi tồn tại xen
kẽ, đan xen các đặc tính đô thị và đặc tính nông thôn (Joe et al., 2013). Theo quan
điểm của châu Âu, vùng ven đô thường được hiểu là các khu vực hỗn hợp dưới ảnh
của hưởng đô thị nhưng có hình thái vùng nông thôn (Caruso, 2001).
2.1.2.2. Sử dụng đất nông nghiệp vùng đô thị và ven đô
Theo Võ Hữu Hòa (2011): “Nông nghiệp đô thị là quá trình sản xuất sản phẩm
nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều
kiện đất đai, khí hậu, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả
kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Quá trình đó được diễn
ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, ven đô và ngoại ô”.
Nông nghiệp ven đô thị dùng để chỉ các đơn vị nông nghiệp ở gần thành phố
sản xuất theo hình thức thâm canh và thương mại hóa toàn bộ hay một phần sản
phẩm nông nghiệp như rau, hoa quả, thịt, trứng và sữa (Nguyễn Văn Bắc, 2011).
Nông nghiệp đô thị và ven đô thị đều có mặt trên các đô thị thế giới, cung cấp
sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp cho vùng đô thị và ven đô thị.
Sự phân biệt giữa tính chất “đô thị” và “ven đô thị” thay đổi tùy theo hoàn cảnh về
mật độ dân số và kiểu mẫu sử dụng đất (Nguyễn Văn Bắc, 2011).
2.1.2.3. Tác động của đô thị hoá đối với phát triển nông nghiệp khu vực đô thị và
ven đô
Đối với khu vực đô thị và ven đô, đô thị hoá đã khiến diện tích đất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp và manh mún, sự thay đổi phương thức sản xuất…, cụ thể như

