
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------------
ĐỖ THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU CÁC TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN
ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN THƯỢNG TIẾN – HUYỆN KIM BÔI -TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội 2010

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
“Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong
sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Đa dạng sinh học
ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của
con người. Các khu bảo tồn thiên nhiên( KBTTN) đóng vai trò chủ chốt trong bảo
tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng” [24].
Trong vài thập kỷ qua, để đối phó với các nguy cơ suy giảm đa dạng sinh
học ngày càng tăng, hệ thống các vườn quốc gia( VQG) và khu bảo tồn( KBT) đã
dần được hình thành. Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 KBTTN chiếm 11,7%
diện tích đất liền toàn thế giới. VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến
là các KBT loài và sinh cảnh [24]. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống
quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBTTN
có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có
Việt Nam. Những mối đe dọa chính tới KBTTN thường xuất phát từ mâu thuẫn
giữa mục tiêu bảo tồn và sinh kế của người dân sống trong và bên ngoài ranh giới
KBTTN. Khi những mâu thuẫn này chưa được xác định và giải quyết, thì những
vấn đề cơ bản của bảo tồn khó có thể giải quyết được.
Thực tế cho thấy, việc thành lập các KBTTN đã làm mất đi nguồn sống của
phần lớn các cộng đồng dân cư sống trong và gần các KBT và hậu quả là lâu nay
vẫn tồn tại tình trạng người dân khai thác trái phép các tài nguyên thiên nhiên [59].
Đa số người dân sống trong và gần các VQG, KBT là người nghèo, dân trí thấp, họ
cho rằng việc thành lập các KBT, VQG không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị
thiệt thòi vì không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước
nữa [37]. Thêm vào đó, các nguồn thu nhập của người dân ngày càng bị hạn chế do
diện tích canh tác bị thu hẹp, giảm các nguồn thu từ rừng… mà họ chưa có bất cứ
nguồn sinh kế nào thay thế. Điều đó dẫn đến tác động của người dân tới các tài
nguyên rừng ở các VQG, KBT là điều không thể tránh khỏi.
KBTTN Thượng Tiến được thành lập theo quyết định số 1242/QĐ-UB ngày
09 tháng 10 năm 2000 của UBND Tỉnh Hoà Bình. Đây là một trong những KBTTN

2
đa lợi ích lớn nhất của tỉnh Hoà Bình tính đến thời điểm hiện nay. KBTTN Thượng
Tiến nằm trong khu vực có địa hình gồm nhiều dãy núi lớn, nhỏ, hình vòng cung
tạo nên một lưu vực tương đối khép kín; đây là vùng thượng nguồn cung cấp nước
cho vùng hạ lưu thuộc hai huyện Kim Bôi và huyện Lạc Thuỷ tỉnh Hoà Bình. Giá
trị sinh thái và kinh tế của KBTTN Thượng Tiến đã được khẳng định. Tuy nhiên,
hiện nay người dân sinh sống ở vùng đệm KBT thậm chí ngay trong vùng lõi đã và
đang từng ngày, từng giờ tác động tới tài nguyên rừng của khu bảo tồn dưới các
hình thức và mức độ tác động khác nhau. Một câu hỏi lớn đặt ra cho các KBT nói
chung và KBTTN Thượng Tiến nói riêng là: Làm thế nào để hài hòa được mục tiêu
bảo tồn với nhu cầu cuộc sống của người dân sống trong và cạnh các KBT? Để góp
phần giải đáp cho câu hỏi trên luận văn tiến hành:
“Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình”.

3
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ở nước ngoài
1.1.1. Hiện trạng quản lý các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên và những mẫu
thuẫn phát sinh
Theo định nghĩa của IUCN đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục
tiêu cơ bản của KBTTN:
“Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh
vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm,
được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả
khác” (IUCN 1994 )[24].
Công ước ĐDSH (1992) xác định các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai
trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”. Tại điều 8 “Bảo tồn tại
chỗ” của Công ước có các mục qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có
trách nhiệm thành lập hệ thống KBTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành
lập và quản lý các KBTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các K
BTTN để bảo tồn và sử dụng bền vững [16].
Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19. VQG Yellowstone là
VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm trên
vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực
ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBT TN
và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng
phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương
thâm nhập vào KBTTN và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến
những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa CĐĐP và KBT và
mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [24].
Phần lớn các KBT đều được thiết lập vì mục đích Quốc gia, mà ít nghĩ đến
các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Dựa trên mô hình của Hoa
Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm
người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR. Phương thức này gọi
là biện pháp "Rào và phạt". Tại các nước Đông Nam Châu Á phương thức này tỏ ra

4
không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất
quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
[46].
Các mô hình ở Đông Nam Châu Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan
Chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như
mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội (KT-XH). Việc đưa
người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào "bắt
cá khỏi nước" và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không
có người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong
việc quản lý các nguồn tài nguyên này[46].
Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBT trên thế giới,
từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự
đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay
đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và
khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động
sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng
đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các
KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý
gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương. Ở
VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với
VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và
được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại
VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ
truyền [40].
1.1.2. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng người dân vào tài
nguyên rừng trong các VQG, KBTTN.
Bink Man W. (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong,
tỉnh S. Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để

