BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Nhung
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Nhung
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH VĂN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là truing thực và chưa từng được công bố trong các công
trình khác.
Học viên
Nguyễn Thị Nhung
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Quý thầy cô Khoa Tâm lý Giáo dục, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và quản lý hoạt
động học tập của lớp Cao học K21, đã cung cấp tri thức và lòng nhiệt huyết với
nghề cho tôi.
-TS. Huỳnh Văn Sơn - Người thầy giàu tri thức và tâm huyết đã động viên,
chia sẻ, tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
- Ban giám đốc, các tình nguyện viên, giáo dục viên và các trẻ lao động sớm
tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Thảo Đàn, lớp học tình thương chùa Liên Hoa đã tạo
điều kiện, hỗ trợ cho tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát và thu thập thông tin
phục vụ cho việc hoàn thành luận văn này.
- Quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã có những góp ý khoa học và
khách quan để tôi hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình.
- Các anh chị, các bạn cùng khóa K21 đã hợp tác, đoàn kết giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này.
Học viên
Nguyễn Thị Nhung
MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU Chương 1. LÝ LUẬN VỀ ÁP LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI ÁP LỰC TÂM LÝ CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM .............................................................. 6 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý .. 6 1.1.1. Một số nghiên cứu về áp lực tâm lý và ứng phó tâm lý trên thế giới ........ 6 1.1.2. Một số nghiên cứu về áp lực tâm lý và ứng phó tâm lý tại Việt Nam ..... 10 1.2. Một số vấn đề lý luận về áp lực tâm lý .......................................................... 15 1.2.1. Khái niệm áp lực tâm lý ........................................................................... 15 1.2.2. Biểu hiện của áp lực tâm lý ..................................................................... 16 1.2.3. Ảnh hưởng của áp lực tâm lý đối với sự phát triển của trẻ em ................ 17 1.3. Một số lý luận về trẻ lao động sớm ................................................................ 20 1.3.1. Khái niệm trẻ lao động sớm .................................................................... 20 1.4. Cách ứng phó với áp lực tâm lý ..................................................................... 43 Chương 2. THỰC TRẠNG ÁP LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG PHÓ CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM ............................................................................................................ 52 2.1. Mô tả về khách thể nghiên cứu thực trạng ..................................................... 52 2.2. Mô tả cách thức nghiên cứu đề tài .................................................................. 53 2.2.1. Công cụ nghiên cứu ................................................................................. 53 2.2.2. Cách tính điểm ......................................................................................... 54 2.2.3. Xử lý số liệu ............................................................................................. 55 2.3. Mức độ hài lòng về cuộc sống hiện tại của trẻ lao động sớm ........................ 55 2.3.1. Thực trạng mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ lao động sớm ........... 55 2.3.2. So sánh tự đánh giá về cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một số phương diện ....................................................................................................... 56 2.3.3. So sánh mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một số phương diện ....................................................................................................... 59 2.4. Thực trạng áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm .............................................. 60 2.4.1. Mức độ áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm ............................................ 60 2.4.3. Những áp lực tâm lý cụ thể của trẻ lao động sớm ................................... 64 2.4.4. So sánh thực trạng áp lực tâm lý trong cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một số phương diện .................................................................................... 69
2.4.5. Những áp lực cụ thể biểu hiện qua mức độ đồng tình với các ý kiến về người lao động sớm. .......................................................................................... 73 2.5. Ảnh hưởng của áp lực tâm lý đến trẻ lao động sớm ....................................... 79 2.5.1. Ảnh hưởng của áp lực tâm lý đến trẻ lao động sớm ................................ 79 2.5.2. So sánh ảnh hưởng của áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm trên một số phương diện ....................................................................................................... 84 2.6. Ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm ........................................... 86 2.6.1. Các kiểu ứng phó cơ bản của trẻ lao động sớm với áp lực tâm lý ........... 86 2.6.2. Các cách ứng phó cụ thể với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm ........... 91 2.6.3. Cách ứng phó cụ thể của trẻ lao động sớm qua một số tình huống ....... 102 2.6.4. So sánh các kiểu ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm trên một số phương diện ......................................................................................... 105 Chương 3. THỰC NGHIỆM NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ ÁP LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI ÁP LỰC TÂM LÝ CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM 110 3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp thực nghiệm .................................................... 110 3.2. Đề xuất một số biện pháp thực nghiệm ........................................................ 114 3.2.1. Nhóm biện pháp thay đổi nhận thức của trẻ và những người xung quanh ......................................................................................................................... 114 3.2.2. Nhóm biện pháp tăng cường kỹ năng sống cho trẻ lao động sớm......... 114 3.2.3. Nhóm các biện pháp khác ...................................................................... 114
3.3. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của trẻ lao động sớm về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý ........................... 115 3.3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................... 115 3.3.2. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 115 3.3.3. Khách thể thực nghiệm .......................................................................... 116 3.3.4. Điều kiện thực nghiệm ........................................................................... 117 3.3.5. Mô hình thực nghiệm ............................................................................. 117 3.3.6. Quy trình thực nghiệm ........................................................................... 118 3.3.7. Công cụ đánh giá sau thực nghiệm ........................................................ 118 3.4. Phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm .................................................. 119 3.4.1. Kết quả nghiên cứu trước thực nghiệm ................................................. 119 3.4.2. Kết quả nghiên cứu sau khi thực nghiệm ............................................. 125 3.5. Minh chứng trên một số trường hợp cụ thể .................................................. 133 3.5.1. Kết quả thực nghiệm đối với em V.B.Đ ................................................ 133 3.5.2. Kết quả thực nghiệm đối với H.N .......................................................... 137
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTB : Điểm trung bình
QH : Quan hệ
VĐ : Vấn đề
Quận TB : Quận Tân Bình
Sig. : Mức ý nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : Mô tả cơ chế tự vệ theo quan điểm của Sigmund Freud .................. 49
Bảng 2.1 : Mô tả về khách thể nghiên cứu thực trạng ........................................ 52
Bảng 2.2 : Cách tính điểm cho mỗi câu 5, 6, 7, 9, 10, 11, 13, 14 ....................... 54
Bảng 2.3 : Mức độ hài lòng về cuộc sống hiện tại ............................................. 56
Bảng 2.4 : So sánh tự đánh giá về cuộc sống trên một số phương diện ............. 56
Bảng 2.5 : So sánh tự đánh giá về cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một số
phương diện ....................................................................................... 59
Bảng 2.6 : Mức độ áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm ...................................... 60
Bảng 2.7 : Các dạng áp lực tâm lý ở trẻ lao động sớm ....................................... 61
Bảng 2.8 : Thứ hạng các khía cạnh gây áp lực tâm lý ........................................ 62
Bảng 2.9 : Những áp lực cụ thể trong từng dạng áp lực của trẻ lao động sớm .. 65
Bảng 2.10 : Kết quả so sánh điểm trung bình về mức độ gặp áp lực trong cuộc
sống theo các nhóm trẻ ...................................................................... 69
Bảng 2.11 : Kết quả so sánh điểm trung bình những áp lực cụ thể trong cuộc
sống theo nhóm trẻ lao động sớm. .................................................... 71
Bảng 2.12 : Mức độ đồng tình của khách thể với các ý kiến liên quan tới trẻ lao
động sớm ........................................................................................... 74
Bảng 2.13 : So sánh mức độ đồng tình với ý kiến về người lao động sớm của
khách thể nghiên cứu trên một số phương diện ................................ 77
Bảng 2.14 : Kết quả điểm trung bình ảnh hưởng của áp lực tâm lý tới trẻ lao động
sớm .................................................................................................... 79
Bảng 2.15 : Kết quả xếp hạng điểm trung bình và tần số chọn mức “thường
xuyên” ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ lao động sớm ................... 81
Bảng 2.16 : Kết quả kiểm nghiệm Chi bình phương so sánh ảnh hưởng của áp lực
tâm lý theo nhóm các trẻ lao động sớm ............................................ 85
Bảng 2.17 : Các kiểu ứng phó cơ bản với áp lực tâm lý ...................................... 86
Bảng 2.18 : Mức độ lựa chọn từng biểu hiện cụ thể trong các nhóm ứng phó .... 89
Bảng 2.19 : Cách ứng phó cụ thể trong nhóm thay đổi cảm xúc của trẻ lao động
sớm đối với áp lực tâm lý .................................................................. 92
Bảng 2.20 : Cách ứng phó cụ thể trong nhóm thay đổi suy nghĩ của trẻ lao động
sớm đối với áp lực tâm lý .................................................................. 97
Bảng 2.21 : Cách ứng phó cụ thể trong nhóm thay đổi suy nghĩ ....................... 100
Bảng 2.22 : Cách ứng phó của trẻ lao động sớm qua một số tình huống ........... 104
Bảng 2.23 : Điểm trung bình các kiểu ứng phó mang tính tích cực và tiêu cực của
trẻ lao động sớm đối với những áp lực trong cuộc sống ................. 105
Bảng 2.24 : So sánh các kiểu ứng phó theo các nhóm trẻ lao động sớm ........... 105
Bảng 3.1 : Cách tính điểm bảng hỏi thực nghiệm ............................................ 119
Bảng 3.2 : So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp
lực tâm lý của trẻ lao động sớm giữa nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm trước thực nghiệm .............................................................. 120
Bảng 3.3 : So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm ở
nhóm đối chứng giữa trước và sau thực nghiệm ............................. 125
Bảng 3.4 : So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp
lực tâm lý của trẻ lao động sớm ở nhóm thực nghiệm giữa trước và
sau thực nghiệm .............................................................................. 127
Bảng 3.5 : So sánh mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm giữa nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm .............................. 130
Bảng 3.6 : Điểm trung bình mức độ nhận thức của V.B.Đ trước và sau thực
nghiệm ............................................................................................. 134
Bảng 3.7 : ĐTB mức độ nhận thức của H.N trước và sau thực nghiệm ........... 138
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Mức độ áp lực ở biểu hiện ở “thời gian làm việc” ............................ 66
Biểu đồ 2.2 : Mức độ áp lực ở biểu hiện ở “tiền nhà trọ”....................................... 68
Biểu đồ 2.3 : Mức độ đồng tình với ý kiến cho rằng tiền nhà trọ là quá nhiều
so với thu nhập của trẻ lao động sớm................................................ 75
Biểu đồ 2.4 : Mức độ ảnh hưởng đến hành vi qua biểu hiện “ngủ quá nhiều
hoặc mất ngủ, ngủ không ngon giấc” ................................................ 83
Biểu đồ 2.5 : Tỷ lệ trẻ chọn cách ứng phó nói với bố mẹ những điều mình lo
lắng .................................................................................................... 94
Sơ đồ 3.1 : Quá trình ứng phó với áp lực tâm lý (phỏng theo Frydenberg,
2002) ............................................................................................... 112
Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức về biểu hiện của áp lực tâm lý
giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm .... 121
Biều đồ 3.2 : Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức về cách ứng phó với áp lực
tâm lý giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực
nghiệm ............................................................................................. 124
Biểu đồ 3.3 : Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức về ảnh hưởng của áp lực tâm
lý giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm. ............ 132
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, câu nói đó đã khẳng định vai trò quan
trọng của trẻ em và đó cũng là khẩu hiệu mà các quốc gia và cộng đồng quốc tế
nhằm hướng tới mục đích chăm sóc, bảo vệ tương lai của mỗi quốc gia và toàn thể
nhân loại. Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em chính là nuôi dưỡng cho tương lai tươi đẹp
của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Chính vì thế, dù ở bất cứ đâu, bất cứ dân tộc nào, đất
nước nào, tất cả trẻ em đều được và cần phải được hưởng một tương lai tốt đẹp hơn.
Điều này chỉ được thực hiện khi tất cả trẻ em đều có điều kiện đi học đầy đủ, được
giáo dục và được hưởng các dịch vụ xã hội thiết yếu. Tuy nhiên, theo báo cáo của
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trên thế giới hiện có 215 triệu trẻ em lao động
sớm, trong đó có 115 triệu em đang làm việc trực tiếp trong điều kiện nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn và đạo đức, thậm chí đe
dọa tính mạng của trẻ em. Hàng năm, ngày thế giới phòng chống lao động trẻ em
đều kêu gọi cộng đồng sớm chấm dứt tình trạng trẻ em phải lao động trong điều
kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm này.
Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều cố gắng trong việc giải quyết tình trạng lao
động trẻ em, pháp luật Việt Nam đã cấm sử dụng lao động dưới 15 tuổi nhưng ở cả
nông thôn lẫn thành thị, trẻ em vẫn phải làm những công việc vất vả thậm chí còn
vất vả hơn người lớn. Kết quả nghiên cứu về tình hình lao động trẻ em theo một
nghiên cứu gần đây nhất của Bộ LĐTB&XH ở 8 tỉnh trọng điểm gồm Quảng Nam,
Lào Cai, Hà Nội, An Giang, Gia Lai, Hà Tĩnh, Quảng Bình và TP Hồ Chí Minh thì
có tới 50% trẻ em đang phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, có ảnh hưởng
tồi tệ đến sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần của các em. Báo cáo cũng cho
biết, trung bình trẻ phải làm việc từ 4-5 giờ/ngày đôi khi là 6 giờ một ngày thậm chí
còn kéo dài hơn nữa. Đây thực sự trở thành nỗi đau của người lớn và niềm trăn trở
của toàn xã hội [58].
2
Hiện nay, quá trình đô thị hoá ngày càng phát triển, kéo theo nhiều hệ lụy mà
một trong số đó là tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em lao động sớm ngày càng tăng
nhanh, tập trung đông ở các khu công nghiệp, các khu đô thị lớn. Trẻ tham gia lao
động sớm đồng nghĩa với việc các em không được đi học, không được vui chơi giải
trí, không được tham gia các dịch vụ xã hội mà đáng lẽ các em phải được thụ
hưởng. Khi tham gia lao động, trẻ em chưa nhận biết được giá trị sức lao động mà
mình bỏ ra, vì thế các em thường bị bóc lột, bị lợi dụng sức lao động, bị bắt buộc
làm việc nhiều hơn trong khi tiền công lại được trả ít hơn. Bên cạnh đó, các em
chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng như chưa được đào tạo đầy đủ về những
kỹ năng để tham gia lao động, chính vì thế ở các em thường xuất hiện những trạng
thái tâm lý lo lắng, hoảng sợ, tự ti… tạo ra những áp lực đè nặng cuộc sống của các
em. Trước những áp lực tâm lý đó, mỗi em lại chọn cho mình một cách ứng phó
khác nhau, và trong thực tế, có rất nhiều trẻ lao động sớm chưa tìm ra được những
cách ứng phó phù hợp. Điều này đã làm ảnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát
triển nhân cách và tương lai của các em đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển của
xã hội. Vì thế, việc tìm hiểu những áp lực tâm lý cũng như cách ứng phó của các em
trước những áp lực này để từ đó đề xuất những biện pháp giúp các em giảm bớt
những áp lực trong cuộc sống là một điều hết sức cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài tìm hiểu “ÁP
LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG PHÓ CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM TẠI
MỘT SỐ QUẬN NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm tại một số quận nội
thành thành phố Hồ Chí Minh, cách ứng phó của các em trước những áp lực tâm lý;
trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp để làm giảm bớt các áp lực tâm lý.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Trẻ lao động sớm tại một số quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Một số áp lực tâm lý và cách ứng phó trước những áp lực đó của trẻ lao động sớm.
4. Giả thuyết khoa học
Đa số trẻ lao động sớm tại một số quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh đều
gặp phải một số áp lực tâm lý. Những áp lực tâm lý này ảnh hưởng khá lớn tới cuộc
sống của các em nhưng một bộ phận trẻ lao động sớm chưa biết cách ứng phó hiệu
quả với các áp lực tâm lý. Nếu có những biện pháp hợp lý sẽ góp phần làm giảm bớt
những áp lực này đồng thời nâng cao nhận thức về cách ứng phó với áp lực tâm lý
của trẻ lao động sớm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến đề tài như: áp
lực, áp lực tâm lý, trẻ lao động sớm, cách ứng phó trước những áp lực tâm lý, . . .
5.2. Khảo sát thực trạng những áp lực tâm lý mà trẻ lao động sớm ở thành phố
Hồ Chí Minh đang gặp phải. Tìm hiểu những cách ứng phó thường được trẻ lao
động sớm ở một số quận nội thành áp dụng trước những áp lực tâm lý.
5.3. Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức của trẻ lao
động sớm về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Về đối tượng nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu một số áp lực tâm lý và cách ứng phó mà trẻ lao động
sớm thường áp dụng.
6.2. Về khách thể nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu trẻ lao động sớm buôn bán tự do tại một số quận nội
thành thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tham khảo các công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí chuyên ngành về các
vấn đề liên quan, từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở
lý luận cho đề tài.
4
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Dùng bảng câu hỏi mở để thu thập dữ liệu:
+ Những khía cạnh trong cuộc sống thể hiện áp lực tâm lý của trẻ lao động
sớm.
+ Những áp lực tâm lý mà trẻ lao động sớm thường gặp phải.
+ Ảnh hưởng của những áp lực tâm lý đến sự phát triển của trẻ lao động sớm.
+ Cách ứng phó của trẻ lao động sớm trước những áp lực tâm lý.
- Dựa trên những cơ sở lý luận, các tài liệu sách báo và những dữ liệu thu thập
được từ bảng câu hỏi mở, người nghiên cứu xây dựng bảng câu hỏi đóng để khảo
sát thực trạng một số áp lực tâm lý vá cách ứng phó trước những áp lực đó của trẻ
lao động sớm.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn một số trẻ lao động sớm và cha mẹ các em (nếu được) để tìm hiểu
một số biểu hiện của những áp lực tâm lý và cách ứng phó của các em trước những
áp lực đó.
Phỏng vấn một số chuyên gia để tìm hiểu ảnh hưởng của việc lao động sớm
đến sự phát triển của trẻ em.
7.2.3. Phương pháp thực nghiệm
Các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao nhận thức của trẻ lao động sớm sẽ được
tổ chức triển khai thực nghiệm trong thực tế trên khách thể là trẻ có biểu hiện áp lực
tâm lý từ 12 đến 15 tuổi. Thông qua đó đánh giá mức độ hiệu quả và khả thi của các
biện pháp nâng cao nhận thức về tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý thông
qua so sánh trước và sau thực nghiệm, so sánh nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng.
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng dữ liệu mô tả sâu một số trường hợp cụ thể
trong chương trình thực nghiệm.
5
7.3. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm SPSS for Windows 13.0 để xử lý các số liệu điều tra
khảo sát.
8. Đóng góp mới của đề tài
8.1. Về lý luận
- Hệ thống hóa những nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về áp lực tâm lý, áp lực tâm lý của trẻ lao động
sớm nói chung và trẻ lao động sớm tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cách ứng
phó của trẻ lao động sớm trước những áp lực tâm lý đó.
8.2. Về thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng áp lực tâm lý thường gặp của trẻ lao động sớm tại
thành phố Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu những cách ứng phó thường được trẻ lao động sớm tại thành phố
Hồ Chí Minh áp dụng trước những áp lực tâm lý mà các em gặp phải.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giảm bớt các áp lực tâm lý mà trẻ lao động
sớm thường gặp phải, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các em.
6
Chương 1. LÝ LUẬN VỀ ÁP LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG
PHÓ VỚI ÁP LỰC TÂM LÝ CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực
tâm lý
Nghiên cứu về áp lực tâm lý, về các cách thức ứng phó với khó khăn tâm lý đã
được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Dưới đây là các công
trình nghiên cứu tiêu biểu cho vấn đề này:
1.1.1. Một số nghiên cứu về áp lực tâm lý và ứng phó tâm lý trên thế giới
Áp lực tâm lý là một vấn đề từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới
quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các công trình này tập trung chủ yếu tìm hiểu áp
lực trong học tập của học sinh các lứa tuổi và tìm ra hướng giải quyết các vấn đề
này. Ở Liên Xô cũ, các nhà nghiên cứu đã tìm cách phát hiện và đánh giá hiện
tượng quá tải trong học tập dẫn đến căng thẳng ở học sinh, từ đó chuẩn hóa khối
lượng và cách tổ chức hoạt động học tập phù hợp với sự biến đổi chức năng tâm-
sinh lý của học sinh, ngăn ngừa sự tiêu hao năng lượng quá mức cho phép. Trong
vòng hơn 40 năm trở lại đây, cùng với việc cải cách giáo dục trong nước, vấn đề
nghiên cứu tải học của học sinh đã được các nhà giáo dục như V.I. Kozlova, M.V.
Antropova và các nhà nghiên cứu của viện hàn lâm Liên Xô cũ rất quan tâm [27].
Các nhà giáo dục học, y tế học đường các nhà nước Liên Xô cũ, CHDC Đức
cũ, Tiệp Khắc cũ, và Hungary như X.M. Grombakh, B. Rona, P. Sabo quan tâm đến
các biểu hiện về sợ hãi, mệt mỏi, căng thẳng, lo âu do tình trạng học tập quá mức ở
học sinh [27].
Theo điều tra của trung tâm sức khỏe tâm lý VIMHANS với 150 cơ sở giáo
dục ở New Dehli cho thấy có 40% học sinh luôn cảm thấy căng thẳng trong thi cử.
Cũng theo một nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ SAHYOY năm 2005 có
57% trong số 850 trẻ mới lớn cho biết họ bị trầm cảm, 9% có ý định tự tử [56].
Ở Trung Quốc theo trung tâm nghiên cứu và ngăn ngừa tự tử ở Bắc Kinh đã
tiến hành điều tra trên 15.431 nạn nhân của chứng trầm cảm trong vòng hai năm,
7
kết quả cho thấy những người từ độ tuổi 18-25 chiếm 37.6%. Theo HiuLong, nhà
tâm lý ở trung tâm nghiên cứu và ngăn ngừa tự tử Bắc Kinh nhận định: “Xã hội đầy
rẫy áp lực và cạnh tranh, vì vậy những người trẻ tuổi vốn thiếu kinh nghiệm giải
quyết khó khăn thường có xu hướng chán nản, thất vọng” [57].
Khái niệm “ứng phó tâm lý” đến năm 1967 mới được thừa nhận. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về cơ chế tự vệ của S. Freud vào năm 1933 được xem là những
nghiên cứu đầu tiên về sự đáp ứng và những cách thức cá nhân sử dụng để vượt qua
những khó khăn tâm lý. Theo Freud, trong cấu trúc ba thành phần của nhân cách,
cái Tôi giữ vai trò trung gian, vừa đáp ứng những đòi hỏi của cái ấy, vừa thỏa mãn
những yêu cầu khắt khe của cái Siêu Tôi. Nếu cái Tôi không thể dung hòa giữa cái
Tôi và cái Siêu Tôi, trong con người sẽ xuất hiện cơ chế tự vệ bao gồm: phủ nhận,
thay thế, huyễn tưởng, đồng nhất hóa, phóng chiếu, hợp lý hóa, di chuyển, thoái lui,
dồn nén và thăng hoa [26, 254].
Vào đầu thập niên 1970, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một cách tiếp cận mới
hơn để đo lường và đánh giá sự ứng phó. Điều này được tóm tắt trong công trình
của Folkman và Lazarus. Họ đã xác định tám cách ứng phó gồm: đối diện với vấn
đề, cố thoát khỏi tình huống khó khăn, tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội, gánh vác trách
nhiệm, né tránh thực tại, lập kế hoạch giải quyết vấn đề và nhìn thấy điều thuận lơi.
Họ tin rằng những cách này phản ánh hai kiểu cơ bản của sự ứng phó: đó là tập
trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc. Lazarus và Folkman nhấn mạnh rằng
những khía cạnh trong hành vi ứng phó của cá nhân thay đổi phụ thuộc vào tình
huống hay mức độ hỗ trợ mà cá nhân nhận được. Một trong những công cụ đo
lường được phát triển bởi quan điểm mới là CISS (Coping with stressful situations).
Công cụ này cố gắng đưa ra những dấu hiệu của các chiến lược ứng phó mà con
người có thể sử dụng trong tình huống khó khăn. Những chiến lược ứng phó mà
công cụ này đưa ra bao gồm chiến lược định hướng vào nhiệm vụ, trong đó con
người hướng đến việc đương đầu với những vấn đề kế tiếp sẽ diễn ra; chiến lược
định hướng vào cảm xúc, chiến lược né tránh thực tại (chiến lược này được chia làm
hai loại: tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt xã hội và tìm kiếm sự giải tỏa tâm trí [10, 7].
8
Bolognini Monique, Plancherel Bernard; Halfon Olivier với nghiên cứu “Đánh
giá các chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có sự khác nhau theo tuổi và theo
giới tính hay không?”, đã tìm hiểu các chiến lược ứng phó đặc trưng theo giới, mối
tương quan giữa việc chọn lựa cách ứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và
độ tuổi. Các tác giả đã đưa ra những chiến lược ứng phó như sử dụng quan hệ xã
hội, gia đình, tình cảm âm tính, sự giải trí, hài hước, cam kết, tiêu xài, gia đình, nhà
trường. Các kết quả khẳng định, nữ thanh thiếu niên tự điều chỉnh tùy theo khó
khăn bằng cách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố
mẹ và các người lớn khác). Ở đây, nữ giới đầu tư nhiều hơn vào thế giới tương tác
nhằm thể hiện tình cảm một cách cởi mở và nhằm nhận được sự nâng đỡ, các lời
khuyên và những điều an ủi từ một người tâm tình (bạn bè, gia đình). Trong khi đó,
các nam thanh thiếu niên cố gắng nhiều hơn trong việc giữ ý nghĩa của sự hài hước
và tiến hành một hoạt động thể lực mãnh liệt. Nam giới ít cởi mở và ít phụ thuộc
vào người khác hơn so với nữ giới, nhưng lại có xu hướng làm cho tình huống bớt
khủng hoảng và tỏ ra lạc quan, tìm kiếm sự giải tỏa trong các trò chơi và hoạt động
thể lực. Về mối quan hệ giữa sức khỏe tâm trí và chiến lược ứng phó, ta thấy các kết
quả tỏ ra khác biệt giữa nam giới và nữ giới. Ở nữ giới, trong số các chiến lược có
tương quan cao nhất, đó là sự thể hiện các tình cảm âm tính phối hợp với một xác
suất cao nhất bị rối nhiễu tâm trí như khí sắc trầm nhược, lo âu và rối nhiễu giấc
ngủ. Ở nam giới, chỉ có tương quan về mặt lo âu [32].
Một số nghiên cứu về thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ trong các vấn đề tâm lý cho
các kết quả như sau: Thanh niên có xu hướng không tìm kiếm sự giúp đỡ từ các
nguồn chính thức, trong cuộc khảo sát của Western Australian Child Health, chỉ có
2% từ độ tuổi 4 đến 16 tuổi có vấn đề về sức khỏe tâm thần có liên hệ với trung tâm
dịch vụ sức khỏe tâm thần trong khoảng 6 tháng (Zubrick, Silburn, Garton, et al.,
1995). Tương tự, thành phần trẻ em và tuổi vị thành niên của National Survey of
Mental Health and Wellbeing cho kết quả rằng chỉ có 29% trẻ em và vị thành niên
có vấn đề về sức khỏe tâm thần có liên hệ dịch vụ chuyên nghiệp hoặc những dịch
vụ tương tự trong 12 tháng, những vấn đề đó bao gồm cả vấn đề sức khỏe, sức khỏe
9
tâm thần và vấn đề về học hành (Sawyer, Arney, Baghurst et al., 2000). Một vài
thanh niên tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên nghiệp cho các vấn đề sức khỏe tâm thần, và
thanh niên có xu hướng tìm kiếm sự giúp đỡ từ nguồn không chính thức trước khi
quay lại với nguồn giúp đỡ chính thức (Benson, 1990; Boldero & Fallon, 1995;
Rickwood, 1995). Thanh niên thích tìm kiếm sự giúp đỡ từ nguồn không chính thức
hơn là từ nguồn chính thức, như là bạn bè và gia đình. Bạn bè được tìm đến trong
các vấn đề về cảm xúc cá nhân nhiều hơn, trong khi đó, gia đình được xếp thứ hai
sau bạn bè (Boldero & Fallon, 1995; Schonert-Reichl & Muller, 1996) [1].
Nữ giới thì thích tìm kiếm sự giúp đỡ hơn ở nam giới. Điều đó phụ thuộc
nhiều vào những người giúp đỡ và vấn đề cần được giúp đỡ, nhưng nhìn chung là
phái nữ thích tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác và cho lời khuyên về các vấn đề
sức khỏe tâm thần (Boldero & Fallon, 1995; Rickwood & Braithwaite, 1994).
Ngược lại, phái nam thì tin tưởng vào bản thân mình hơn là tìm kiếm sự giúp đỡ từ
người khác, và họ cũng hay tránh thừa nhận hoặc từ chối sự hiện diện của vấn đề
đang gặp phải (Offer, Howard, Schonert & Ostrov, 1991). Một vài vấn đề thường
thúc đẩy hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ hơn một số vấn đề khác và các nguồn giúp đỡ
khác nhau thì được cho rằng sẽ thích hợp với từng loại vấn đề khác nhau. Ví dụ, vấn
đề về mối quan hệ thường được đem ra thảo luận với bạn bè, vấn đề về cá nhân thì
với gia đình, và vấn đề về học hành thì thường được tìm đến thầy cô giáo (Bolder &
Fallon, 1995; Offer et al., 1991) [1].
Nhà nghiên cứu Camus Jean trong bài viết “Sự bố trí thời gian và các khó
khăn học đường. Phản ứng tức thời và trì hoãn” đã đối chiếu và cách thức ứng phó
tâm lý của trẻ thuộc nhóm SES (những học sinh lớp đặc biệt, các em này được gọi
là những “học sinh không thích nghi”, “khó khăn” trong học tập) và trẻ thuộc nhóm
CES (nhóm học sinh cấp 2 bình thường). Kết quả cho thấy, trẻ nam thuộc nhóm
SES khi gặp khó khăn sẽ hành động chớp nhoáng, không cần đánh giá, chúng xem
những hành động bộc phát như một “tấm áo giáp” chống lại sự sợ hãi về thất bại
liên tiếp tấn công. Trẻ nữ trong nhóm này có xu hướng trì hoãn thời gian thực hiện
công việc, các em loay hoay tìm kiếm giải pháp phù hợp, cảm thấy thất vọng, luôn
10
phàn nàn và yêu cầu được giúp đỡ hơn nhóm trẻ nữ CES [15].
Nhìn chung, nghiên cứu về áp lực tâm lý, cách thức ứng phó tâm lý đã được
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
1.1.2. Một số nghiên cứu về áp lực tâm lý và ứng phó tâm lý tại Việt Nam
Ở nước ta hiện nay, tình trạng quá tải học tập đang xảy ra rất phổ biến, gây
nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Chính vì vậy vấn đề áp lực tâm lý trong học tập được
các tác giả rất quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các công trình này mới nghiên cứu
áp lực tâm lý ở góc độ đây là một nguyên nhân gây ra những rối loạn tâm lý khác ở
học sinh mà chưa thực sự đi sâu vào tìm hiểu áp lực tâm lý như một đối tượng
nghiên cứu độc lập. Điều này có thể nhận thấy qua một số công trình nghiên cứu
sau đây:
Năm 2000, tác giả Nguyễn Công Khanh cùng nhóm sinh viên khoa Tâm lý
Đại học KHXH&NV Hà Nội đã công bố kết quả trong một công trình nghiên cứu
cho thấy có ít nhất 17.4- 18.81% học sinh có biểu hiện rối nhiễu lo âu [25].
Đến năm 2002, với đề tài “Rối nhiễu trầm cảm ở học sinh THPT hiện nay” tác
giả Lê Bá Đạt đã đưa ra kết luận 8.8% học sinh THPT Hà Nội trong năm học 2001-
2002 bị trầm cảm. Nguyên nhân do kết quả học tập không như mong muốn, sức ép
từ phía gia đình, cha mẹ lên các em rất lớn, sự kì vọng của cha mẹ vào con đã hình
thành nên tinh thần trách nhiệm trong học tập. Khi kết quả học tập không vừa ý trẻ
sẽ thất vọng, buồn chán, không tự tin vào bản thân, từ đó cảm thấy việc học nặng nề
và mệt mỏi. Ngoài sức ép từ phía gia đình, trẻ phải chịu sức ép từ phía nhà trường,
bạn học cùng trang lứa [13].
Năm 2005, tác giả Hoàng Gia Trang (Viện Chiến lược và chương trình giáo
dục) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Áp lực tâm lý trong hoạt động học tập của học
sinh THCS”. Tác giả nghiên cứu trên 598 học sinh tại 4 trường THCS tại Hà Nội
cho thấy: Học sinh chịu áp lực học tập lớn từ phía gia đình và nhà trường, tác giả
nêu lên tình trạng quá tải về nội dung chương trình, thời gian học tập, căn bệnh
thành tích ở trường học cùng với sự mong muốn, kỳ vọng của cha mẹ khiến tình
trạng học tập của các em trở nên căng thẳng [42].
11
Nghiên cứu về thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ và các cách ứng phó tâm lý là một
vấn đề còn ít được quan tâm tại Việt Nam. Trong một số nghiên cứu gần đây, có
công trình nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mai Hương tiến hành năm 2005. Trong
nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số cách thức ứng phó như: lý giải hoàn cảnh
một cách tích cực, tìm kiếm chỗ dựa tình cảm, kiềm chế bản thân, lên kế hoạch, ứng
phó chủ động thay thế bằng những hành vi tiêu cực. Trong nghiên cứu này, tác giả
đã tìm hiểu về “Mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị thành niên trong hoàn
cảnh khó khăn với các nhân tố xã hội” và “mối tương quan giữa cách ứng phó của
trẻ vị thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tố nhân cách”. Kết quả
nghiên cứu khẳng định một số nhân tố xã hội như mức độ trải nghiệm các sự kiện
của cuộc đời, chỗ dựa xã hội từ các mối quan hệ với cha mẹ, thầy cô và bạn bè,
thành tích học tập đạt được qua các năm học, những thành tích nổi bật trong hoạt
động ở nhà trường và vị thế kinh tế - xã hội của gia đình có ảnh hưởng lớn đến khả
năng đáp ứng trước khó khăn của học sinh. Nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên
có chỗ dựa xã hội vững chắc về tinh thần: có nơi để chia sẻ, nhận được sự thông
cảm, an ủi cũng như giúp đỡ, có sự quan tâm và hiểu biết lẫn nhau… và có định
hướng tốt đẹp, ít trải qua những sự kiện âm tính trong cuộc sống thì thường có
những cách ứng phó tích cực trước hoàn cảnh khó khăn và ngược lại [22], [23].
Trong luận văn tốt nghiệp đại học năm 2006 với đề tài “Tìm hiểu thực trạng áp
lực tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay” tác giả Nguyễn Thị Sông Lam đã nghiên cứu và đưa ra kết luận hiện nay
học sinh THPT đang chịu một áp lực tâm lý khá lớn trong học tập thể hiện qua
nhiều khía cạnh: thời gian học, khối lượng bài vở, nội dung chương trình và biện
pháp mà giáo viên sử dụng, áp lực về mặt cảm xúc... Nguyên nhân chính của tình
trạng này là do nội dung, lượng kiến thức quá tải và mong muốn, kỳ vọng của cha
mẹ vào kết quả học tập của con, đặc biệt là quan niệm về con đường tiến thân bằng
cách đậu đại học. Những áp lực này đã để lại những hậu quả: học sinh bước đầu có
biểu hiện không tốt về mặt sức khỏe thể chất và tinh thần: thiếu ngủ, nhức đầu,
chóng mặt, bi quan, buồn rầu, lo lắng, không tự tin vào bản thân… [27].
12
Đề tài “Khảo sát tình trạng lo âu trầm cảm về một số yếu tố liên quan đến trẻ
vị thành niên lang thang kiếm sống trên đường phố” do tác giả Phan Tiến Sĩ và
Nguyễn Thành Công của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 thực hiện, sử dụng
thang đánh giá lo âu Zung (SAS) đã sàng lọc và đánh giá tỷ lệ rối loạn lo âu ở trẻ
em lang thang kiếm sống trên đường phố cùng với bảng hỏi được thiết kế riêng để
tìm hiểu các yếu tố tâm lý- xã hội có liên quan đến tình trạng lo âu- trầm cảm của
trẻ, từ đó nhận xét thấy có một số yếu tố tâm lý xã hội như khó khăn về kinh tế, gia
đình không hạnh phúc… làm cho các em rơi vào tình trạng rối loạn lo âu [33].
Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương thực hiện đề tài “Thực trạng và
nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trường THPT chuyên Quảng Bình” đã
sử dụng công cụ nghiên cứu chính là hai công cụ đánh giá rối loạn lo âu là thang
đánh giá lo âu- trầm cảm- stress DASS và thang đánh giá lo âu Zung cho thấy tỷ lệ
học sinh mắc rối loạn lo âu cao 130/600 chiếm tỷ lệ 21.6% và nguyên nhân chính
dẫn đến tình trạng này chủ yếu liên quan đến học tập và do bản thân các em [33].
Tác giả Nguyễn Hữu Thụ với nghiên cứu “Các kiểu ứng phó với stress trong
học tập của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội” tiến hành năm 2009 đã chỉ ra rằng
chiến lược ứng phó của sinh viên trước các tình huống gây stress trong học tập chủ
yếu bằng phương thức thay đổi nhận thức và hành vi bằng cách giải tỏa cảm xúc,
đánh giá sự kiện xem nó có gây stress không và thay đổi hoạt động của cá nhân. Từ
đó, sinh viên chủ động trong học tập, giảm bớt sự lo lắng và cảm xúc tiêu cực nảy
sinh từ các sự kiện gây stress cao trong học tập [39].
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về khó khăn tâm lý đã được thực hiện ở
Việt Nam gần đây. Khó khăn tâm lý cũng là một trong những yếu tố gây ra áp lực
tâm lý cho con người. Chính vì vậy, việc tìm hiểu những công trình nghiên cứu về
khó khăn tâm lý giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về áp lực tâm lý.
Nghiên cứu “Một số khó khăn trong học tập của trẻ vị thành niên và cách ứng
phó của các em” của tác giả Lưu Song Hà thực hiện năm 2005 đã tập trung tìm hiểu
những biến đổi về tâm sinh lý, môi trường học tập từ tiểu học lên trung học cơ sở đã
tạo ra những khó khăn tâm lý đặc trưng nào và liệt kê những kiểu ứng phó của trẻ vị
13
thành niên khi gặp khó khăn trong học tập. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi gặp
khó khăn, trẻ vị thành niên thường sử dụng trước hết là những cách thức ứng phó
bằng hành động, tiếp đến là ứng phó về tình cảm và cuối cùng là suy nghĩ [17].
Trong những đề tài này phải kể đến nghiên cứu “Khó khăn tâm lý và nhu cầu
tham vấn của học sinh trung học phổ thông” của nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa
được thực hiện năm 2006. Nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên 615 em học
sinh THPT thuộc địa bàn Hà Nội, Nam Định, Vĩnh Phúc và đưa ra kết luận rằng hầu
hết học sinh được khảo sát đều có trạng thái tâm lý lo lắng với các mức độ khác
nhau về các lĩnh vực có liên quan tới học tập, quan hệ và sự phát triển của bản thân;
nhận thức của học sinh phổ thông cho rằng hoạt động tham vấn đối với các em là
cần thiết [19].
Năm 2007, nghiên cứu “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên năm nhất đại học sư phạm Hà Nội” của tác giả Nguyễn Xuân Thức đã tìm hiểu
các biểu hiện của khó khăn tâm lý, nguyên nhân và những ảnh hưởng của chúng đến
nhân cách của sinh viên [40].
Cũng trong năm 2007, tác giả Đặng Thị Lan trong nghiên cứu “Một số khó
khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên những năm đầu ở trường
Đại học ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội” đã đi sâu tìm hiểu những khó khãn tâm lý
trong hoạt động học tập của sinh viên và mức độ khó khăn giữa sinh viên nam và
nữ, ảnh hưởng của khó khăn tâm lý tới sự phát triển tâm lý, nhân cách của sinh viên
năm nhất và những nhân tố khách quan và chủ quan gây ra những khó khăn tâm lý
đó [29].
Trẻ lao động sớm là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan
tâm từ rất sớm. Đã có rất nhiều các nghiên cứu về trẻ lao động sớm tại Việt Nam,
tuy nhiên các tác giả chủ yếu sử dụng thuật ngữ lao động trẻ em và tập trung tìm
hiểu về thực trạng, nguyên nhân và đưa ra những giải pháp làm giảm tình trạng lao
động trẻ em mà chưa có một nghiên cứu thực sự nào đề cập đến áp lực tâm lý và
cách ứng phó với áp lực tâm lý của đối tượng rất đặc biệt này.
14
Đầu tiên phải kể đến cuốn sách “Vấn đề lao động trẻ em” của tác giả Vũ Ngọc
Bình xuất bản năm 1995 với sự hỗ trợ của Tổ chức Tầm nhìn thế giới quốc tế
(World Vision International), một tổ chức phi chính phủ hoạt động vì quyền trẻ em
ở Việt Nam. Đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về vấn đề rộng lớn và phức
tạp là lao động trẻ em. Tác giả đã khái quát tình hình lao động trẻ em trên thế giới
và ở Việt Nam, lý giải nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình lao động trẻ
em và đưa ra những giải pháp tiến tới giải quyết vấn đề lao động trẻ em [7].
Năm 2000, chương trình nghiên cứu Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình đã
được tổ chức Cứu trợ trẻ em của Thụy Điển (Save the Children Sweden) cộng tác
với Khoa Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội) thực hiện. Nghiên cứu tập trung vào nhóm trẻ em giúp việc gia
đình tại Hà Nội, nhằm tìm hiểu nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của lao động
tới sự phát triển cá nhân của trẻ cũng như mô tả mối quan hệ xã hội của trẻ tại nơi
làm việc. Nghiên cứu này được tiến hành bằng sự kết hợp sử dụng các phương pháp
định lượng (dùng bảng hỏi), định tính (phỏng vấn sâu 20 trường hợp trong đó có 5
trường hợp phỏng vấn gia chủ và 15 trường hợp trẻ em) và phân tích tư liệu [60].
Năm 2010, Cục Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Tình
hình lao động trẻ em - thực trạng và giải pháp”. Đề tài đã cung cấp cơ sở lý luận và
thực tiễn nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề lao động trẻ em, ngăn ngừa và khắc
phục tình trạng lao động trẻ em. Các tác giả cũng đã kiến nghị một số giải pháp
nhằm hạn chế lao động trẻ em, để các em có thể phát triển, vui chơi theo đúng lứa
tuổi của mình như: nâng cao nhận thức, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách,
củng cố nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và
tổ chức thực thi luật pháp; tăng cường công tác thanh, kiểm tra và xử lý các trường
hợp lạm dụng lao động trẻ em [59].
Như vậy, các nghiên cứu này xác nhận, thanh thiếu niên Việt Nam gặp những
khó khăn tâm lý trong lĩnh vực học tập và trong hoạt động hàng ngày. Tùy vào đặc
điểm nhân cách và môi trường xã hội (đặc biệt là có hay không sự hỗ trợ từ gia
đình, nhà trường…) mà các em sẽ chọn lựa các cách đáp ứng trước những khó khăn
15
khác nhau. Việc phân tích lịch sử nghiên cứu về áp lực tâm lý và cách ứng phó tâm
lý với những khó khăn của thanh thiếu niên nói chung và trẻ lao động sớm nói riêng
cho thấy, chưa cho nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về áp lực tâm lý và các
cách ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm. Đây là cơ sở để người nghiên
cứu xác lập đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. Một số vấn đề lý luận về áp lực tâm lý
1.2.1. Khái niệm áp lực tâm lý
Áp lực là thuật ngữ được sử dụng trong Vật lý học để chỉ lực ép trên bề mặt
của một vật và vuông góc với bề mặt đó. Sau được sử dụng rộng ra với nghĩa áp lực
là sự bắt ép bằng sức mạnh, sức ép.
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1998), Nguyễn Như Ý chủ biên, Bộ GD và ĐT,
Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (NXB Văn hóa thông tin) thì áp là ép, đè
nén, ép buộc, như vậy áp lực là bị ép, bị đè nén bởi một lực nhất định [46].
Theo Từ điển Tâm lý học (2008), Viện KHXH Việt Nam, Viện Tâm lý học,
do GS.TS. Vũ Dũng chủ biên, NXB Từ điển Bách Khoa, áp lực là lực khác với nhu
cầu về hướng tác động. Nếu nhu cầu là lực xuất phát từ bên trong cơ thể thì áp lực
là lực tác động từ phía môi trường lên cơ thể [11].
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu khái quát về áp lực tâm lý như là những
nhân tố gây sức ép cho cá nhân, tạo ra những căng thẳng về mặt tâm lý.
Áp lực tâm lý theo loại này sẽ có áp lực về thông tin và áp lực về cảm xúc. Áp
lực thông tin xuất hiện trong những tình huống thông tin quá tải, khi con người
không thể thực hiện nổi nhiệm vụ, không kịp đề ra các biện pháp để giải quyết tốt
yêu cầu của trách nhiệm và nhiệm vụ. Áp lực về mặt cảm xúc xảy ra trong những
tình huống bị đe dọa, quan tâm quá mức, bị nguy hiểm, bị lăng nhục”.
Tiếp thu những khái niệm và những quan niệm khác nhau về áp lực tâm lý,
theo chúng tôi áp lực tâm lý là những nhân tố tạo sức ép cho con người trong quá
trình sống, làm cho con người có những căng thẳng về mặt tâm lý, gây cản trở
hoạt động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người.
16
Ở đây, cần phân biệt “áp lực tâm lý” với “tâm trạng căng thẳng”. Nếu “áp lực
tâm lý” được xem là những nhân tố tạo sức ép cho con người trong quá trình sống
thì “tâm trạng căng thẳng” được coi là phản ứng của cơ thể trước những thay đổi
của môi trường sống. Khi môi trường sống thay đổi, vượt quá khả năng thích nghi
thì chủ thể sẽ nảy sinh tâm trạng căng thẳng. Như vậy, khi có áp lực tâm lý thì sẽ
dẫn đến nảy sinh tâm trạng căng thẳng.
1.2.2. Biểu hiện của áp lực tâm lý
Áp lực tâm lý diễn ra ở bên trong cơ thể, nhưng nó cũng có những biểu hiện
khá rõ về mặt cơ thể, tinh thần, qua hành vi từ đó giúp con người hiểu và nhận diện
được những dấu hiệu của sự căng thẳng của bản thân mình. Dưới đây là một số
biểu hiện chứng tỏ con người đang chịu gánh nặng từ áp lực tâm lý [51].
1.2.2.1. Biểu hiện về mặt cơ thể
Yếu tố đầu tiên, rất dễ nhận thấy ở người đang căng thẳng do áp lực tâm lý đó
là về mặt cơ thể. Đang gánh trên vai một áp lực quá lớn, vượt quá sức chịu đựng
thì cơ thể sẽ có những phản ứng lại. Cụ thể như sau:
- Mệt mỏi
- Đổ mồ hôi
- Chóng mặt
- Đau cơ bắp
- Muốn ngất đi
- Tim đập nhanh
- Mệt lả người
- Đau đầu
- Trí nhớ giảm
- Bị lẫn lộn
- Khó tập trung.
1.2.2.2. Biểu hiện về mặt tình cảm
- Có nhiều cảm xúc lẫn lộn, thay đổi nhanh
- Cảm thấy bồi hồi, lo lắng, sợ hãi
17
- Có mặc cảm tội lỗi
- Nổi giận
- Buồn
- Cảm thấy vô vọng
- Cảm thấy bị dồn nén
- Cảm thấy xa lạ
- Mất phương hướng
- Tự đổ lỗi cho bản thân
- Cảm thấy dễ bị tổn thương.
1.2.2.3. Biểu hiện về mặt hành vi
- Khó ngủ, ăn không ngon
- Không bình tĩnh, dễ cáu giận.
- Không muốn tiếp xúc với người khác
- Uống rượu, bia, hoặc hút thuốc không điều độ.
Như vậy, người có biểu hiện bị áp lực tâm lý thường có cảm xúc buồn bã, thất
vọng, lo lắng, sợ hãi, trong tư duy thì mất tập trung, giảm trí nhớ, bị lẫn lộn dẫn tới
những hành vi chủ yếu như: dễ cáu giận, khó ngủ, ăn không ngon, có thể sử dụng
những chất kích thích như: uống rượu, bia, hút thuốc lá để giải tỏa áp lực bất chấp
những ảnh hưởng về mặt sức khỏe
1.2.3. Ảnh hưởng của áp lực tâm lý đối với sự phát triển của trẻ em
1.2.3.1. Ảnh hưởng về mặt sức khỏe
Áp lực tâm lý trong cuộc sống được hiểu là những nhân tố tạo sức ép cho con
người trong quá trình sống và lao động làm cho con người căng thẳng về mặt tâm
lý, gây cản trở hoạt động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con
người. Trạng thái căng thẳng này xảy ra khi cơ thể phản ứng lại những ảnh hưởng
trái ngược bên ngoài, gây ra tình trạng khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc,
tinh thần và có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý. Có thể dễ dàng nhận thấy
người bị áp lực tâm lý thường xuất hiện các dấu hiệu: mất ngủ hoặc ngủ không
ngon giấc, chán ăn hoặc ăn không ngon miệng; không muốn học tập, làm việc, giao
18
tiếp một cách bình thường, tim đập nhanh, huyết áp cao, căng cơ, cảm giác khó chịu
và ưu phiền. Lâu dần, sẽ dẫn tới tình trạng rối loạn các chức năng của hệ tuần hoàn,
hệ tiêu hóa, hệ hô hấp… gây ra một số căn bệnh nguy hiểm như bệnh cao huyết áp,
bệnh tim, đồng thời làm tăng nguy cơ các bệnh tâm thần, tâm lý. Bên cạnh đó,
những người chịu áp lực tâm lý nặng nề thường có tâm lý sử dụng bia rượu, thuốc
lá các chất kích thích để giải tỏa căng thẳng, điều này càng làm ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.
Áp lực tâm lý cũng làm thay đổi hoạt động nhận thức bởi vì khi chịu tác động
bởi những tác nhân kích thích, cơ thể hưng phấn liên tục kéo dài làm cho chủ thể
cảm thấy căng thẳng đầu óc, cảm thấy quá tải hoặc quá sức chịu đựng, luôn bị thời
gian thúc ép, các giác quan mất độ nhạy cảm, tư duy giảm sút, trí nhớ kém, thậm chí
quên cả những điều đã nhớ. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập, làm
việc dẫn đến hiệu quả lao động thấp, không như ý muốn lại tác động ngược lại làm
tăng thêm áp lực cho chủ thể.
1.2.3.2. Ảnh hưởng về mặt cảm xúc
Khi xuất hiện căng thẳng, con người thường có những cảm xúc và tâm trạng
khác nhau, có những cảm xúc tiêu cực như: buồn, tức giận nhưng cũng có cảm xúc
tích cực như: mong muốn cố gắng hơn, hy vọng thành công... Nếu áp lực gây ra
những cảm xúc tích cực thì đây sẽ là những động lực cho chủ thể, quyết tâm hơn,
kiên trì hơn, trên con đường chinh phục mục tiêu. Chính vì điều này mà nhiều bậc
cha mẹ đôi khi cố tình gây áp lực cho con để mong con cố gắng hơn, thành công
hơn. Tuy nhiên, không phải bao giờ áp lực tâm lý cũng là động lực cho người khác
vươn lên, nhất là khi áp lực tâm lý đó quá nặng nề và người chịu áp lực tâm lý
không có cách ứng phó thích hợp. Trong trường hợp này, áp lực tâm lý giống như
những gánh nặng mà người khác đặt lên vai cho những người được kỳ vọng. Họ
sẽ/ phải mang theo gánh nặng đó trong khi vẫn phải gồng mình lên để chống chọi
với những khó khăn thử thách mà họ gặp phải. Khi gánh nặng đó vượt quá sức chịu
đựng của chủ thể, sẽ làm nảy sinh sự căng thẳng tâm lý, mệt mỏi về tinh thần. Khi
bị áp lực tâm lý, con người sẽ dễ cảm thấy mất niềm tin vào cuộc sống, mất phương
19
hướng, mất hết nghị lực, ý chí vươn lên. Cái nhìn của bản thân về môi trường sống
trở nên u ám, có những suy nghĩ tiêu cực, bi quan, có những ý nghĩ quanh quẩn, vẩn
vơ trong đầu, trở nên nghi ngờ quá mức và không còn lòng tin, thậm chí có ý nghĩ
muốn thoát khỏi cuộc sống hiện tại bằng cái chết. Lâu dần, nếu những căng thẳng
tâm lý này không được giải tỏa, nó sẽ dẫn tới nguy cơ rất lớn việc các em mắc phải
các rối loạn lo âu, trầm cảm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống và sự hoàn thiện
nhân cách của chính mình.
Bên cạnh đó, những cảm xúc tâm lý âm tính này sẽ làm nảy sinh ở những
người gặp áp lực tâm lý những hành vi tiêu cực nhằm ứng phó với những áp lực mà
họ đang phải chịu đựng. Họ gần như luôn đắm chìm trong các hành vi tiêu cực như
tinh thần dao động, hành vi thất thường, cáu gắt vô cớ, tự cô lập bản thân, uống bia
rượu, sử dụng các chất kích thích, hút thuốc lá… Những hành vi này không những
không làm giải tỏa được những căng thẳng tâm lý mà ngược lại làm cho những căng
thẳng đó trở nên nghiêm trọng hơn. Họ lại tiếp tục chìm đắm trong những cảm xúc
và hành vi tiêu cực đó mong vượt qua được những áp lực. Cứ như vậy, vòng tròn
giữa áp lực tâm lý - cảm xúc và hành vi tiêu cực - gia tăng áp lực tâm lý cứ thế diễn
ra theo chiều hướng ngày càng khó xử lý hơn, dẫn đến thay đổi nhân cách, ảnh
hưởng tai hại đến các mối quan hệ xã hội.
Như vậy, khi gặp áp lực tâm lý trong cuộc sống, con người đứng trước nhiều
nguy cơ tổn hại về mặt thể chất, tinh thần, từ đó gây ra rất nhiều khó khăn trong tiến
trình phát triển. Đặc biệt, khi những áp lực tâm lý này xảy ra với trẻ em thì lại càng
trở nên nghiêm trọng. Khi thể chất và tinh thần của các em chưa được phát triển
toàn diện, khả năng ứng phó với những căng thẳng của các em cũng chưa được
nâng cao, vì thế những tác động của áp lực và căng thẳng tâm lý lại trở nên nặng nề
hơn. Nó làm cản trở quá trình hoàn thiện nhân cách và quan trọng hơn, các hiệu ứng
tâm lý căng thẳng thời thơ ấu sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi khi đến tuổi
trưởng thành. Chính vì vậy, khi con người không thể thay đổi được những tác nhân
gây ra áp lực tâm lý thì việc trang bị cho người chưa trưởng thành những kỹ năng
để ứng phó với áp lực tâm lý là điều vô cùng quan trọng và cần thiết.
20
1.3. Một số lý luận về trẻ lao động sớm
1.3.1. Khái niệm trẻ lao động sớm
1.3.1.1. Khái niệm trẻ em
Theo công ước về quyền trẻ em: “trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi,
trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”
[52].
Theo pháp luật liên bang của Hoa kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi” [60].
Pháp luật Việt Nam chưa có các quy định thống nhất về khái niệm trẻ em
trong từng ngành luật cụ thể. Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005
của Việt Nam: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16
tuổi”. Theo Bộ luật Dân sự 2005 thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi [34].
Nhìn chung mỗi nước có quy định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ
em. Việc quy định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất,
tâm sinh lý của trẻ em ở quốc gia đó. Do đó có những quốc gia quy định độ tuổi
thành niên sớm hơn hoặc trễ hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về
quyền trẻ em.
Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ
em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành.
- Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt
pháp lý.
Ngoài khái niệm trẻ em, trong các quy phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện
các khái niệm “người thành niên”, “người chưa thành niên”. Như vậy vấn đề đặt ra
là cần xác định ranh giới giữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em”.
Theo pháp luật Việt Nam:
- Người thành niên: là người trên 18 tuổi
- Người chưa thành niên: là người dưới 18 tuổi [45].
Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm trẻ em, người
chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi.
21
1.3.1.2. Một số thuật ngữ có liên quan đến trẻ lao động sớm
a. Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế
Đây là một khái niệm mang ý nghĩa thống kê hơn là pháp lý chỉ những trẻ em
có tham gia lao động. Những công việc các em làm có thể là hợp pháp hay bất hợp
pháp, được trả thù lao hay không... Tuy nhiên, nếu trẻ em làm các công việc không
sinh lợi trong gia đình của mình thì không được coi đó là tham gia hoạt động kinh tế
mặc dù các em có thể dành khá nhiều thời gian vào những công việc này và trên
thực tế trong nhiều trường hợp rất ảnh hưởng và cản trở việc học hành của các em.
Nói chung, trẻ tham gia hoạt động kinh tế là những trẻ làm các công việc có sinh lợi
trong gia đình [61].
b. Lao động trẻ em và trẻ em làm việc
Lao động trẻ em đã trở thành chủ đề được quan tâm trong nhiều năm qua. Tuy
nhiên hiểu đúng và tiếp cận có hiệu quả khái niệm này trên cơ sở quyền trẻ em thì
còn là vấn đề mới mẻ.
Trẻ em lao động và trẻ em làm việc hiện đã trở thành chủ đề thảo luận của các
cuộc tranh luận về quyền trẻ em cũng như trong phạm vi lợi ích truyền thống của
trẻ. Song mỗi tổ chức lại đưa ra sự phân biệt khác nhau giữa làm việc và lao động
và cộng thêm một số thuật ngữ mơ hồ như “độc hại”, “tồi tệ nhất” và “không thể tha
thứ”. Những mô tả về trẻ em làm việc được dùng trong công tác hoạch định chính
sách và phát động các chiến dịch cho dù những thông tin này được thu thập bằng
những phương pháp rất khó phân biệt giữa các thời điểm và các địa điểm khác
nhau.
Nhóm công tác khu vực về lao động trẻ em đã thống nhất và định nghĩa về lao
động trẻ em, qua đó phân biệt giữa trẻ em làm việc và lao động trẻ em như sau:
- Trẻ em làm việc bao gồm các hoạt động không làm nguy hại, và có thể góp
phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ.
- Lao động trẻ em bao gồm tất cả các loại công việc do trẻ em đến 18 tuổi thực
hiện mà có hại cho sức khỏe hoặc cơ thể, tinh thần hay trí tuệ, hoặc sự phát triển về
mặt xã hội và ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ em.
22
Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất bao gồm các hình thức nô lệ hay
tương tự nô lệ, như buôn bán trẻ em, lao động cưỡng bức và lao động gán nợ hay
phục dịch. Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất còn bao gồm việc sử dụng trẻ
em vào mại dâm, sản phẩm khiêu dâm, các hoạt động bất hợp pháp như sản xuất và
buôn bán ma túy, và bất kỳ công việc được nhận diện ở cấp độ quốc gia dựa trên
tiêu chí trong khuyến nghị ILO 190 [7].
Định nghĩa lao động trẻ em là vấn đề không hề đơn giản và dễ dàng, vì các
khái niệm “trẻ em” và “lao động” được hiểu khác nhau giữa các nước với các hệ
thống chính trị, kinh tế, văn hóa và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trong các thời kỳ
khác nhau.
Trước hết, cần phải thống nhất một số thuật ngữ xoay quanh vấn đề lao động
trẻ em. Trên thực tế, trẻ em làm nhiều loại công việc khác nhau trong những điều
kiện rất khác nhau. Công việc của trẻ em thể hiện trên hai phương diện. Một mặt,
công việc của các em mang lại lợi ích, nó thúc đẩy hay tăng cường sự phát triển của
trẻ về thể chất, tinh thần, tâm hồn, đạo đức, xã hội mà không ảnh hưởng đến việc
học tập, giải trí và nghỉ ngơi của chúng. Ở mặt này, từ xưa đến nay, phần lớn trẻ em
lao động như giúp gia đình ở nhà hay ngoài cánh đồng, trông em, lấy nước, kiếm
củi, làm nghề thủ công. Đây là quá trình xã hội hóa đóng góp một cách lành mạnh
và hữu ích cho sự phát triển các mặt của các em vì lao động giúp các em có những
kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm cuộc sống, giúp các em trưởng
thành vào đời sau này.
Mặt khác, nếu công việc của trẻ em không được kiểm soát một cách chặt chẽ,
nó sẽ trở thành một tác động tàn phá hay bóc lột, làm phương hại đến quá trình phát
triển của các em. Thông thường, trong trường hợp này, trẻ em phải làm việc quá
sớm và làm trong nhiều giờ, phải làm công việc nặng nhọc trong những điều kiện
độc hại và không được trả thù lao xứng đáng với công sức mà các em bỏ ra hoặc
làm những công việc của người lớn mà lẽ ra không phải làm. Làm việc trong nhiều
giờ với công việc nặng nhọc đã lấy đi của các em cơ hội được học tập, vui chơi, giải
trí, lấy đi sức khỏe và cơ hội được phát triển bình thường như bao trẻ em khác. Vừa
23
đi học vừa đi làm, không có thời gian nghỉ ngơi, thời gian học ở nhà, vì vậy các em
thường mệt mỏi, học kém, chán học, tự ti, mặc cảm, rất ngại học dần dần dẫn tới bỏ
học. Thực tế đã chứng minh, lao động trẻ em thường nhỏ bé, ốm yếu và có nguy cơ
bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, mại dâm, phạm pháp nhiều hơn trẻ bình thường.
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã xác định được rằng lao động trẻ
em mang tính bóc lột là:
+ Công việc trọn thời gian, làm ở độ tuổi quá sớm
+ Phải làm việc quá nhiều giờ
+ Công việc gây ra những căng thẳng thái quá về mặt thể chất, xã hội hay tâm lý
+ Lao động và sống ngoài đường trong điều kiện xấu
+ Không được trả công đầy đủ
+ Phải chịu trách nhiệm quá nhiều
+ Công việc gây cản trở việc học hành
+ Công việc làm hạ thấp nhân phẩm và lòng tự trọng của trẻ em, như làm nô lệ
hay lao động cầm cố và bóc lột tình dục
+ Công việc có hại đến sự phát triển toàn diện về mặt xã hội và tâm lý [7].
1.3.1.3. Khái niệm trẻ lao động sớm
a. Trẻ em lao động sớm
Vấn đề đặt ra là, trẻ bao nhiêu tuổi thì được làm việc, và thế nào gọi là trẻ lao
động sớm. Mọi nền văn hóa đều thống nhất quan điểm rằng trẻ càng nhỏ càng ít có
khả năng tự chăm sóc, càng dễ bị tổn thương về thể chất và tâm lý. Việc quy định
giới hạn tuổi để trẻ em làm việc phản ánh sự xét đoán của xã hội về sự tiến triển của
khả năng và trách nhiệm của trẻ em. Hầu như ở khắp mọi nơi, khắp các quốc gia
trên thế giới đều xây dựng giới hạn tuổi nhằm điều khiển một cách “hình thức” hoạt
động của trẻ em: khi nào trẻ đi học, khi nào có thể lập gia đình, khi nào được tham
gia bầu cử, khi nào tham gia lực lượng vũ trang và khi nào có thể làm việc. Nhưng
giới hạn tuổi thay đổi từ hoạt động này sang hoạt động khác và từ nước này sang
nước khác. Ví dụ, tuổi tối thiểu hợp pháp cho tất cả mọi công việc ở Ai Cập là 12, ở
Philippin là 14, ở Hồng Kông là 15. Pêru chấp nhận nhiều tiêu chuẩn: tuổi tối thiểu
24
là 14 cho nông nghiệp, 15 cho công nghiệp, 16 cho ngành đánh cá biển sâu, 18 cho
công việc ở cảng và tàu biển.
Nhiều nước phân biệt giữa công việc nặng và công việc nhẹ, với tuổi tối thiểu
cho công việc nhẹ là 12 và cho công việc nặng là từ 16 đến 18 tuổi. Công ước về
tuổi tối thiểu làm công của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng chấp nhận định
hướng này một cách rộng rãi, cho phép tuổi tối thiểu cho công việc nhẹ là 12 hay
13, nhưng trẻ em không được làm việc nặng trước 18 tuổi. Tuy nhiên, ILO cũng
đưa ra tuổi tối thiểu làm công chung của trẻ em là 15, với điều kiện 15 không thấp
hơn tuổi hoàn tất công việc học tập bắt buộc. Đây là tiêu chuẩn được sử dụng rộng
rãi nhất khi tính số trẻ hiện đang làm việc ở khắp nơi trên toàn thế giới.
Như vậy, dựa vào một số khái niệm liên quan và theo tiêu chuẩn xác định trẻ
em của pháp luật Việt Nam và Tổ chức Lao động quốc tế, trong đề tài này, chúng
tôi mạnh dạn xác định giới hạn thuật ngữ trẻ lao động sớm như sau: “Trẻ lao động
sớm là những trẻ dưới 15 tuổi, đang trực tiếp tham gia lao động để nuôi sống bản
thân và đóng góp vào việc nuôi sống gia đình”.
Khái niệm này tương đối gần với khái niệm lao động trẻ em, tuy nhiên chúng
tôi không sử dụng khái niệm lao động trẻ em, vì thiết nghĩ khi sử dụng khái niệm
lao động trẻ em là mặc nhiên công nhận trẻ em là một lực lượng lao động, điều này
không phù hợp với nỗ lực ngăn chặn lao động trẻ em của Việt Nam và thế giới.
b. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trẻ lao động sớm
Một thực tế không thể phủ nhận hiện nay là đa số trẻ lao động sớm đều không
có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, công việc cụ thể với các điều kiện lao động,
tiền công phù hợp với khả năng và nguyện vọng. Một thiểu số may mắn, hoặc có sự
hỗ trợ nào đó được bố trí vào những công việc thú vị mang lại cho trẻ nhiều lợi ích
kinh tế hơn. Nhưng đại đa số bị đẩy đến những công việc thường có hại cho sự phát
triển của trẻ mà nguyên nhân là do nghèo đói, không được học tập, giáo dục thích
[7].
hợp và đôi khi là do một số quan niệm sai lầm khi cho trẻ tham gia lao động sớm
25
* Nguyên nhân từ sự nghèo đói
Theo báo cáo của Văn phòng chính phủ, tăng trưởng Tổng sản phẩm trong
nước (GDP) của Việt Nam năm 2010 tăng 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái, năm
2011 ước tính tăng 6,3% so với năm 2010. Cơ cấu nền kinh tế đang chuyển dịch
theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụm giảm dần tỷ trọng
nông, lâm nghiệp, thủy sản. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã và đang làm
thay đổi căn bản bộ mặt đời sống kinh tế xã hội, trong đó ảnh hưởng không nhỏ tới
sự phát triển của trẻ em. Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho trẻ em có cơ hội
học tập vui chơi, giải trí và tiếp cận với những kiến thức mới, nền văn minh mới của
nhân loại. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nước nghèo. Tính theo quyết định của
Thủ tướng chính phủ ký ngày 8 tháng 7 năm 2005 về Chuẩn nghèo Việt Nam cho
giai đoạn 2006-2010 thì đến năm 2009, cả nước có khoảng 2 triệu hộ nghèo, chiếm
tỷ lệ 11% dân số. Tình trạng thiếu đói tập trung nhiều ở các tỉnh vùng Trung du và
miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên.
Đó là sự thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Sự phát triển này tạo
điều kiện cho trẻ em phát triển về mọi mặt, hạn chế trẻ em tham gia lao động sớm.
Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì việc giãn cách giàu
nghèo khá rõ cũng khiến một bộ phận trẻ em buộc phải đi tìm kiếm việc làm xa nhà
và lâm vào tình cảnh bị bóc lột sức lao động. Thêm vào đó, thiên tai liên miên,
nghèo đói, sự cách biệt về thu nhập và mức sống ngày càng gia tăng giữa nông thôn
và thành thị, tình trạng thiếu việc làm đã và đang là những nguyên nhân dẫn tới việc
di cư từ nông thôn ra thành phố ngày càng tăng, kéo theo đó là sự gia tăng tỉ lệ trẻ
em lao động sớm ở các đô thị. Ngày càng có nhiều trẻ em ở nông thôn ra các vùng
đô thị kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau mà chủ yếu là ở Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh và xu hướng này đang gia tăng trong mỗi năm làm con số trẻ em lang
thang đường phố đã lên tới hàng vạn. Phần lớn các em đến từ những gia đình khó
khăn đông anh em hay trong những hoàn cảnh éo le, túng kế sinh nhai, cha mẹ
không đủ sức nuôi dưỡng con cái.
26
Chính vì vậy, trẻ lao động sớm có thể được coi là một hiện tượng do nghèo đói
và kém phát triển gây ra. Chúng tạo thành cái vòng luẩn quẩn gồm những yếu tố tạo
thành liên quan với nhau và tác động qua lại với nhau. Trong điều kiện nghèo nàn,
lạc hậu, số lượng trẻ phải tham gia lao động sớm sẽ tăng lên và nguy cơ chúng bị
bóc lột cũng tăng lên. Đối với những gia đình nghèo, sự đóng góp dù là nhỏ bé của
thu nhập mà trẻ em mang lại hay sự giúp việc ở nhà của trẻ em để cha mẹ đi làm có
thể có ý nghĩa nhất định trong cuộc sống gia đình. Với trẻ em đi làm thuê, qua các
cuộc điều tra cho thấy một tỉ lệ cao trẻ đi làm thuê trao toàn bộ số tiền kiếm được
cho cha mẹ. Như vậy công việc của trẻ em được xem là đóng góp quan trọng trong
việc duy trì đời sống kinh tế gia đình.
* Nguyên nhân từ giáo dục và các yếu tố khác
Nghèo đói và bần cùng không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tình trạng
trẻ lao động sớm. Còn có những yếu tố, nguyên nhân khác như giáo dục (chất lượng
giảm sút, học hành tốn kém, tạo thành gánh nặng về kinh tế cho gia đình và bản
thân các em, chương trình và nội dung học không hấp dẫn và thiết thực cũng như
không phù hợp, địa điểm học không thuận tiện...) cũng như các giá trị, thái độ đối
với trẻ lao động sớm ở nhiều cộng đồng.
Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), những năm gần
đây, số lượng trẻ em đến tuổi đi học đến trường tăng mạnh ở các nước đang phát
triển, đặc biệt là các nước Đông Nam Á. Bởi hiện nay, giáo dục được đánh giá là
nhân tố thúc đẩy sự bùng nổ kinh tế [6].
Ở nước ta, giáo dục luôn là vấn đề được Nhà nước và xã hội quan tâm. Rất
nhiều chương trình, chính sách đã được đưa ra để thúc đẩy tỷ lệ phổ cập giáo dục,
nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài. Tuy nhiên, hiện nay số lượng học sinh bỏ
học vẫn là vấn đề nan giải đối với mỗi địa phương. Theo số liệu thống kê của Bộ
Giáo dục - Đào tạo, chỉ trong năm học 2010-2011 đã có đến 212.800 học sinh bỏ
học. Trong khi đó, tổng số học sinh cả nước là 14.849.288 học sinh (chiếm 1,4%).
Trước đó năm học 2009-2010, số học sinh bỏ học còn cao hơn với 229.617 học
sinh. Đó là những con số thống kê trên chưa còn tính đến số người trong độ tuổi đi
27
học ở ngoài cộng đồng (bỏ học các năm trước). Phần lớn trẻ bỏ học là trẻ em những
địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên
và miền Tây Nam Bộ, đặc biệt là trẻ em gái (những trẻ em này phải tham gia lao
động sớm hơn các em khác cùng trang lứa). Điều này cũng đã giải thích lý do vì sao
ở nước ta tỷ lệ trẻ em tham gia lao động sớm vẫn còn ở mức cao.
Bên cạnh đó, về mặt xã hội, phần lớn mọi người chưa nhận thức hết được hậu
quả khi trẻ lao động sớm, đặc biệt là nhận thức của bản thân gia đình và của chính
trẻ em. Ngoài ra, do nhiều hoàn cảnh tác động như: mồ côi, cha mẹ bất hòa, ly hôn,
bỏ mặc con cái khiến các em phải tự lo cho cuộc sống của mình, phải lang thang đi
làm kiếm sống. Theo thông tin từ Bộ Lao động-Thương binh xã hội tại hội thảo
“Đánh giá mô hình bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng” ngày 13/2/2009, hiện cả nước
có khoảng 153.000 em mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi.
Ngoài kinh tế gia đình khó khăn là nguyên nhân cao nhất thì sự thiếu quan tâm
của gia đình đến trẻ là nguyên nhân có số tỷ lệ phần trăm chiếm 30,3% trong tổng
số các nguyên nhân đã đẩy trẻ đến với cuộc sống đường phố và lao động sớm. Như
vậy sự thiếu quan tâm trong gia đình lại là vấn đề đẩy trẻ đến tình trạng phải lao
động sớm? Trẻ em là lứa tuổi đang trong quá trình phát triển mạnh về mặt thể xác
cũng như tâm sinh lý, đây là lứa tuổi dễ bị tổn thương và cần được yêu thương
chăm sóc. Điều đó đồng nghĩa với việc khi không được bố mẹ hay các thành viên
trong gia đình dành sự quan tâm chăm sóc thì trẻ dễ bị chán nản và dẫn đến những
suy nghĩ tiêu cực. Gia đình đối với trẻ là rất quan trọng, thiếu hụt tình cảm yêu
thương, sự dạy dỗ của cha mẹ sẽ dẫn tới sự phát triển lệch lạc nhân cách. Điều đó
cho thấy rằng nếu không nhận được sự quan tâm đầy đủ từ gia đình thì trẻ rất dễ bị
hư hỏng và dẫn tới suy nghĩ là bỏ nhà đi kiếm sống. Khi bước vào xã hội với tâm
trạng chán nản như vậy trẻ rất dễ bị nhiễm các thói hư tật xấu, sẵn sàng làm mọi
việc để có tiền, kéo theo đó là hậu quả các tệ nạn xã hội nảy sinh: ma túy, mại dâm,
móc túi, đánh nhau. Một số trẻ em ra khỏi nhà đi kiếm sống do cảm thấy bị ngột
ngạt và chán nản về mặt tinh thần nghiêm trọng nên muốn ra ngoài để tìm cảm giác
thoải mái và tự do. Liệu khi ra ngoài xã hội các em có thể sống tốt trong khi không
28
có kiến thức và kỹ năng về xã hội. Các trường hợp này đang là đối tượng để các tệ
nạn xã hội tấn công.
Bên cạnh đó, còn nhiều nguyên nhân khác như do gia đình tan vỡ làm cho con
cái bị hoang mang và lo sợ, điều đó dẫn đến tình trạng muốn thoát ra khỏi gia đình
để tự do vì do bố mẹ không sống với nhau nữa. Trong giai đoạn này trẻ thường có
suy nghĩ là bố mẹ bỏ nhau thì mình đi “bụi” cho họ biết. Vậy là các em buộc phải
lao động sớm để có tiền sống qua ngày, để tự lập. Có nhiều trường hợp bố mẹ ly
hôn và trẻ không biết sống với ai, đành chấp nhận làm trẻ đường phố, lao động để
kiếm sống. Vậy nên gia đình tan vỡ đã tạo một sức ép hết sức nặng nề với trẻ và
việc bỏ gia đình đi kiếm sống là hệ quả tất yếu. Liệu trẻ có đủ khả năng để chống
chọi lại với những văn hóa phẩm độc hại, những tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu đang
rình rập xung quanh cuộc sống của trẻ.
Bên cạnh những nguyên nhân chính như vừa đề cập ở trên, còn có hàng loạt
các nguyên nhân khác tác động không nhỏ đến việc trẻ em phải lao động sớm. Do
cha mẹ mất sớm trẻ phải tự bươn chải kiếm sống để nuôi thân, do ý thích muốn tự
khẳng định mình, do bị đánh đập đối xử tàn tệ, bạn bè rủ rê lôi kéo… Khi bị vướng
vào một số những nguyên nhân này thì nguy cơ trẻ chọn việc ra đường kiếm sống là
rất cao.
Về mặt luật pháp, tuy đã tương đối đầy đủ và phù hợp với quy định của các
công ước quốc tế nhưng vẫn còn thiếu các văn bản hướng dẫn, các chế tài xử lý vi
phạm của pháp luật còn chưa tương xứng với hành vi vi phạm, điều này làm giảm
tính răn đe và giáo dục của pháp luật. Ngoài ra, nhiều văn bản pháp luật còn chưa
cụ thể nên gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật lao động. Vẫn có những vấn đề
khó giải quyết được về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của việc đi làm và đi học
của trẻ em. Những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ trẻ em khi
tham gia quan hệ lao động.
* Những quan niệm sai lầm của xã hội
Không ít bậc cha mẹ chưa nhận thức được tác hại của việc trẻ bỏ học kiếm
sống, cũng như lợi ích của giáo dục trong việc ngăn ngừa và hạn chế trẻ lao động
29
sớm. Những quan niệm như không có ăn thì chết, chứ không có chữ cũng chẳng sao
còn bám sâu trong tâm thức của một số ông bố bà mẹ. Tư tưởng trọng nam, khinh
nữ còn tồn tại. Có nhiều gia đình chỉ cho con trai đi học. Theo họ, con gái không
cần có nhiều chữ, mà chỉ cần ở nhà giúp việc, đến tuổi thì cho lấy chồng. Nhìn
chung, một số phụ huynh chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy tác hại của việc
con em mình bỏ học để lao động kiếm sống. Các em vừa đi học vừa đi làm, không
có thời gian nghỉ ngơi, thời gian học ở nhà, vì vậy các em thường mệt mỏi, học
kém, chán học, tự ti, mặc cảm, rất ngại học dần dần dẫn tới bỏ học và tham gia lao
động khi chưa trưởng thành về mặt thể lực cũng như trí lực.
Trong khi toàn xã hội lên án việc sử dụng lao động trẻ em, nhất là trong những
công việc nặng nhọc, độc hại hoặc có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tâm
lý của các em thì một số người sử dụng lao động lại rất thích tuyển dụng trẻ em vào
làm công việc cho họ. Có cung ắt có cầu, có người cần sử dụng lao động trẻ em thì
ắt sẽ có những em có hoàn cảnh khó khăn, cần công ăn việc làm. Lý do khiến các
công chủ, bà chủ rất thích sử dụng trẻ em lao động đó là vì tiền lương phải trả cho
các em rẻ hơn rất nhiều so với người lớn cùng làm một công việc trong cùng
khoảng thời gian. Đặc biệt là những công việc như giúp việc nhà, phụ quán ăn,
bưng bê ở quán bia, quán nhậu, quán cơm. Những công việc này tuy nhẹ nhàng,
nhưng lại chiếm rất nhiều thời gian và đặc biệt ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về
mặt xã hội của các em. Làm trong môi trường thường xuyên tiếp xúc với bia, rượu,
với người say rượu và những đối tượng là tệ nạn xã hội, các em cũng rất dễ vướng
vào các tệ nạn này. Trẻ nam có thể bị đánh, bị bóc lột sức lao động, những trẻ nữ có
thể bị sàm sỡ, lạm dụng tình dục mà ít có khả năng phản kháng, khả năng tự bảo vệ.
Ngoài vấn đề tiền lương rẻ mạt, các ông chủ, bà chủ rất thích trẻ lao động sớm bởi
vì đối tượng lao động này dễ sai bảo, không hiểu biết về luật lao động, ít phàn nàn
về điều kiện làm việc cũng như điều kiện sinh hoạt, ngoài công việc chính lại có thể
kiêm luôn một số công việc như giặt giũ, quét dọn nhà cửa. Chính vì những lối suy
nghĩ thực dụng này của nhiều nhà sử dụng lao động không có lương tâm mà hàng
ngày hàng ngàn trẻ em đang phải đối mặt với nguy cơ vướng vào các tệ nạn xã hội
30
khi tham gia lao động quá sớm.
c. Hậu quả của tình trạng trẻ lao động sớm
Ngoài giờ học tập và vui chơi, hầu hết trẻ em đều tham gia làm việc giúp đỡ
gia đình như: nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, trông em,... Những công việc đó phù hợp
với sức khỏe, không ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí tuệ và nhân cách,
đặc biệt không chiếm nhiều thời gian cản trở việc học tập, vui chơi, giải trí của trẻ.
Lao động hợp lý giúp trẻ có kỹ năng làm việc, giúp trẻ xác định được trách
nhiệm, tăng thêm tình cảm của bản thân đối với gia đình và xã hội. Quan trọng hơn,
làm quen với lao động giúp trẻ rèn luyện ý chí tự lực, tự tin hơn trong cuộc sống xã
hội. Trong những gia đình có nghề truyền thống, trẻ tham gia lao động còn có thể kế
thừa nghề nghiệp của gia đình.
Như đã phân tích khái niệm ở trên, trẻ lao động sớm là những trẻ chưa phát
triển toàn diện về mặt thể chất, trí tuệ và nhân cách, nhưng phải tham gia lao động
với những công việc như của người lớn, với thời gian và cường độ làm việc cao.
Những công việc mà trẻ em đang làm hiện nay nhìn chung đều rất độc hại, ảnh
hưởng đối với sự phát triển các mặt của các em, đến tương lai của các em. Ở nhiều
nơi, trẻ em phải làm cả những công việc dành cho người lớn hoặc cả những công
việc mà người lớn bất đắc dĩ phải làm vì tính độc hại và nguy hiểm. Các em phải
làm việc với thời gian kéo dài, trong những điều kiện vệ sinh tồi tàn, thiếu thốn
những trang bị an toàn lao động, không được nghỉ ngơi. Điều này đã gây hậu quả
tổn hại lâu dài cho các em về các mặt sức khỏe, tâm lý và xã hội.
* Hậu quả về mặt sức khỏe
Việc trẻ em sớm tham gia lao động dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe
và phát triển. Trẻ em làm việc bị chậm tăng trưởng đáng kể so với các em học sinh
bình thường khác. Về mặt hình thể, trẻ lao động sớm lớn lên thường thấp và nhẹ cân
hơn, và kích thước cơ thể vẫn tiếp tục nhỏ hơn ngay cả ở tuổi trưởng thành. Nhiều
em trong số đó làm việc dưới điều kiện nguy hiểm dễ bị tổn thương đến sức khỏe và
cơ thể. Trẻ lao động sớm có xu hướng phát triển cơ bắp, ngực, dễ bị đau bụng, nhức
đầu, chóng mặt, nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy và nhiễm trùng sâu. Điều kiện làm
31
việc nghèo nàn làm cho trẻ dễ bị nhiễm các bệnh truyền nhiễm hơn so với các đồng
nghiệp người lớn, bị chấn thương hoặc mắc các bệnh khác liên quan đến nơi làm
việc [59]. Nhiều trẻ thậm chí bị cắt cụt hoặc mất các bộ phận cơ thể. Hơn nữa, trẻ
em lao động sớm thường rơi vào tình trạng bị lạm dụng. Lao động trẻ em trong
nước thường được tìm thấy là nạn nhân của lạm dụng bằng lời nói và tình dục, đánh
đập hoặc bị trừng phạt bởi nạn đói. Trẻ em tham gia nhặt rác, đánh giày, bán vé số
hoặc các hoạt động kinh tế khác trên đường phố, được tiếp xúc với ma túy, bạo lực,
và các hoạt động tội phạm và lạm dụng tình dục ở nhiều nơi của đất nước.
Một nghiên cứu mới đây của Viện Y học lao động & vệ sinh môi trường tại
làng nghề dệt truyền thống Hòa Hậu (Hà Nam) cho thấy, có nhiều lao động trẻ em
tại đây tham gia phụ giúp công việc trong các xưởng dệt gia đình đang phải đối mặt
với nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao. Đáng lên tiếng là Hòa Hậu không phải làng
nghề duy nhất ở nước ta đang sử dụng lao động là trẻ em. Các chuyên gia đã nghiên
cứu môi trường lao động và thấy nổi lên các vấn đề như: nhiệt độ cao, cường độ
chiếu sáng thấp, tiếng ồn đều vượt quá giới hạn cho phép. Những lao động trẻ nơi
đây than phiền môi trường làm việc nhiều bụi, tiếng ồn và dễ bị thương tích cũng
như mắc một số bệnh nghề nghiệp do tư thế gò bó. Nhiều em cho biết các em bị đau
đầu, đau mỏi cơ xương, ho và đau họng [53]. Đây chính là một minh chứng khoa
học cho thấy rằng tham gia lao động sớm đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ
của trẻ em.
* Hậu quả về mặt tâm lý, xã hội
Điều kiện sống và các dạng lao động của trẻ em lang thang thường dẫn các em
vào con đường tội lỗi. Nhiều em đã phạm tội mắc các tệ nạn xã hội như: trộm cắp,
rượu chè, cờ bạc, nghiện ngập, hút chích, mại dâm… Trẻ em lang thang thậm chí
còn phải đối diện với nguy cơ cao bị thương tích hoặc tử vong do bạo lực. Trẻ em
có thể bị đánh đập, đe dọa, khống chế bởi các băng nhóm, băng đảng cung cấp ma
túy, những kẻ vận hành hoạt động kinh doanh tình dục, những trẻ lang thang hay
những gia đình lang thang khác do cạnh tranh kiếm sống. Bạo lực và tình dục là rất
phổ biến đối với trẻ lang thang do cả người lạ hoặc do cả người mà trẻ quen biết gây
32
ra. Phần lớn trẻ em lang thang chỉ tham gia lao động đơn giản làm thuê, làm mướn,
không được đi học, hoặc thường chán học tiếp thu bài học chậm, sức học giảm sút,
hay đi học muộn, nghỉ học, thậm chí có những em cuối cùng bỏ học. Làm việc nặng
nhọc quá sức, ăn uống kém, hay ngủ vạ vật trên hè phố, điều kiện sống và sinh hoạt
không điều độ khiến trẻ hay ốm đau. Ngoài ra, nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội ở
những trẻ này rất lớn, nhiều em đã nhiễm HIV/AIDS mệt mỏi ốm yếu, thể lực phát
triển không bình thường.
Đối với các công việc tự phát như bán hàng, đánh giày, bán báo... vì phải làm
việc xa nhà, các em dễ bị lôi kéo vào tệ nạn xã hội, dễ bị lợi dụng, lừa gạt vào hoạt
động mại dâm hoặc bị mua bán qua biên giới. Tất cả những công việc không phù
hợp với trẻ đang tuổi ăn, tuổi học, tuổi chơi đã khiến các em trở nên già trước tuổi
và chính người lớn đã tước đoạt nhiều quyền lợi mà các em đáng lẽ phải được
hưởng (một trong những quyền đó là quyền được đến trường).
Trẻ em lang thang, lao động sớm thường được nhìn nhận là những trẻ khó bảo,
là nguyên nhân gây ra nhiều rắc rối. Lối sống lang thang tạm bợ làm trẻ mất dần
niền tin vào cuộc sống, sẵn sàng buông thả mình nhất là khi không có người lớn
thường xuyên bảo ban. Các em bị xã hội định kiến, bị phân biệt đối xử chính điều
này làm tồn tại xu hướng cô độc dễ tổn thương và thiếu lòng tin vào con người.
d. Áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
Trẻ lao động sớm có thể đã trở thành lao động chính trong gia đình, nhưng các
em vẫn là những đứa trẻ, vẫn có những thay đổi tâm sinh lý như bao đứa trẻ thiếu
niên khác. Chính vì vậy, ngoài những áp lực trong cuộc sống mà những trẻ thiếu
niên khác gặp phải, thì trẻ lao động sớm có những áp lực rất lớn liên quan tới công
việc và hoàn cảnh của các em.
* Áp lực trong mối quan hệ với cha mẹ
Theo kết quả từ cuộc khảo sát tình trạng trẻ em lao động sớm, do Sở
LĐTBXH Hà Nội thực hiện tại một số quận, huyện giai đoạn 2009- 2010, nguyên
nhân khiến trẻ bỏ học để lao động sớm được lý giải một phần do cha mẹ khi phần
lớn các gia đình có con lao động sớm vì hoàn cảnh nghèo khó nên bắt các con phải
33
lao động để đóng góp vào chi tiêu cho gia đình. Bằng chứng là có tới 2/3 trẻ em
(62%) trong số được điều tra cho biết tiền kiếm được từ lao động được sử dụng góp
vào chi tiêu chung của gia đình, khoảng 19% sử dụng tiền vào chi tiêu riêng hoặc
tiết kiệm riêng và chỉ có 8% sử dụng tiền lương để mua sắm đồ dùng học tập. Đáng
lưu tâm là có khoảng 4% trẻ em không nhận trực tiếp lương từ chủ sử dụng lao
động vì “họ đưa thẳng cho bố mẹ chúng em” [54].
Những con số kể trên cho thấy, phần lớn trẻ em phải tham gia lao động sớm
chịu áp lực rất lớn từ phía cha mẹ và gia đình. Theo các nhân viên công tác xã hội,
những người từng làm việc trực tiếp với trẻ lao động sớm trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh thì áp lực lớn nhất mà các em gặp phải chính là áp lực từ phía gia đình.
Gia đình từ lâu đã là nơi nuôi dưỡng, bảo bọc, chia sẻ, động viên, khuyến khích các
em vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, trẻ lao động sớm thường
không có được may mắn đó. Phần lớn trẻ lao động sớm xuất thân từ gia đình có
hoàn cảnh khó khăn về kinh tế và trình độ dân trí thấp. Vì trình độ dân trí thấp và
hoàn cảnh quá khó khăn đã khiến cho các bậc cha mẹ không nhận thức được việc
cho con cái ra ngoài lao động quá sớm sẽ ảnh hưởng nặng nề tới nhân cách và
tương lai của các em. Thậm chí, có nhiều bậc cha mẹ bắt buộc, ép con mình ra
ngoài lao động để giảm đi áp lực về kinh tế đang đè nặng lên vai mình. Họ suy nghĩ
một cách đơn giản rằng cho con đi làm sẽ vừa bớt được gánh nặng nuôi bản thân
nó, lại có thể có thêm thu nhập nuôi những thành viên khác trong gia đình. Nếu xuất
thân từ những gia đình này, trẻ lao động sớm phải chịu áp lực rất lớn từ phía gia
đình khi phải thường xuyên tìm cách kiếm đủ tiền đem về cho cha mẹ, nếu không sẽ
bị la mắng, thậm chí là đánh đập. Bên cạnh đó, các bậc cha mẹ này cũng rất ít quan
tâm đến con cái. Tâm tư tình cảm của con, bạn bè, công việc của con thế nào họ rất
ít khi hỏi han. Nhiều trung tâm Bảo trợ xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh khi muốn
các em tham gia vào các buổi sinh hoạt mà mình tổ chức thì nhân viên công tác xã
hội của trung tâm đã phải hỗ trợ bằng cách đi bán thay để các em có thời gian tham
gia sinh hoạt. Đây là một thực tế rất đáng buồn, mà các nhà quản lý cần phải quan
tâm khi muốn làm giảm tình trạng trẻ lao động sớm. Tuy nhiên, không phải tất cả
34
các gia đình có trẻ lao động sớm đều có nhận thức như trên. Nhiều bậc cha mẹ nhận
thức rất rõ tác hại của việc cho con tham gia lao động, họ rất mong muốn có thể cho
con đi học, hưởng đầy đủ các phúc lợi xã hội như bao trẻ em khác, nhưng do hoàn
cảnh quá khó khăn, họ buộc phải để con đi làm thuê, đi bán hàng, hoặc phụ giúp các
công việc của gia đình. Với những đối tượng cha mẹ này, họ rất thương con, quan
tâm tới con và mong muốn con mình có được tương lai tốt đẹp. Tuy nhiên, điều này
lại vô hình gây nên áp lực cho các em. Vì cha mẹ yêu thương các em, nên các em
rất muốn được làm một điều gì đó để giúp đỡ cha mẹ trong hoàn cảnh khó khăn.
Thông thường trong các gia đình này, trẻ chủ động xin phép cha mẹ để được tham
gia lao động sớm. Các em tự đặt áp lực cho mình phải kiếm được càng nhiều tiền
càng tốt để có thể giúp đỡ được cha mẹ, trong khi tuổi còn nhỏ, sức lực và năng lực
có hạn. Chính mâu thuẫn giữa nhu cầu, mong muốn và khả năng đã tạo nên áp lực
tâm lý.
Bên cạnh đó, tồn tại một số lượng không nhỏ các trẻ lao động sớm xuất thân
từ các gia đình cha mẹ ly hôn, ly thân, cha mẹ ít quan tâm, thường xuyên chửi bới,
đánh đập con cái khiến các em chán chường bỏ nhà đi lang thang tự kiếm sống. Với
đối tượng này, tuy các em không chịu áp lực về mặt kinh tế nhưng lại chịu áp lực về
mặt tinh thần. Những trẻ này thường có mặc cảm về gia đình không hạnh phúc khi
tiếp xúc, đối diện với người khác.
* Áp lực liên quan tới việc làm
Khác với những trẻ em cùng lứa tuổi, và những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
khác, trẻ lao động sớm phải tự nuôi sống bản thân và góp phần nuôi sống gia đình,
chính vì vậy trẻ lao động sớm phải chịu áp lực rất lớn về công ăn việc làm. Đối với
những trẻ đi làm thuê, điều các em lo sợ nhất là không có việc làm. Không có sức
khỏe như người lớn, lại không có những kỹ năng làm việc cần thiết, việc tìm được
việc làm với các em tương đối khó khăn. Một số em chấp nhận làm nhiều loại công
việc khác nhau với mức thu nhập thấp hơn rất nhiều so với người lớn. Mức lương
thấp trong khi thời gian làm việc kéo dài, điều kiện ăn uống nghỉ ngơi, giải trí
không được đảm bảo, điều này cũng gây ra căng thẳng tâm lý rất lớn cho các em.
35
Thêm nữa, ở một số nơi các em phải chịu thêm áp lực từ phía chủ sử dụng lao động.
Bị la mắng, bị phạt, bị o ép làm thêm giờ, làm thêm các công việc phụ khác là điều
có thể xảy đến với những trẻ lao động sớm.
Đối với những trẻ làm những công việc tự do như: bán báo, đánh giày, bán vé
số, các em cũng gặp phải những áp lực tâm lý khác không kém phần khó khăn. Thời
gian làm việc tự do, không chịu áp lực từ phía chủ, không chịu áp lực về thời gian
hoàn thành công việc, nhưng các em lại phải chịu áp lực khi tự mình tổ chức và
thực hiện công việc của chính mình sao cho hiệu quả nhất. Ví dụ như các em phải
suy nghĩ, tính toán lấy bao nhiêu tờ vé số, bán ở con đường nào, mời chào khách ra
sao để có thể bán được hết hàng. Hơn thế nữa, với những trẻ làm việc tự do, các em
phải chịu sức ép lớn từ sự cạnh tranh “giành mối” bán hàng giữa các em với nhau.
Xung quanh vấn đề này đã làm nảy sinh nhiều xung đột khiến dẫn đến tranh cãi,
thậm chí là đánh nhau, gây nhiều hệ lụy.
* Áp lực từ phía bạn bè
Mặc dù đã trở thành những lao động chính, đóng góp một phần không nhỏ vào
thu nhập của cả gia đình, nhưng về bản chất thì lao động trẻ em vẫn là những thiếu
niên đang trong quá trình trưởng thành. Vì thế, các em có đầy đủ những đặc điểm
tâm lý của lứa tuổi thiếu niên, mà một trong số đó là mối quan tâm dành cho bạn bè.
Các nhà Tâm lý học phát triển đã chỉ rõ: bạn bè là mối quan tâm hàng đầu trong đời
sống tình cảm của thiếu niên. Các em có thể chia sẻ mọi thứ với bạn bè, từ những lo
lắng về sự thay đổi của cơ thể, những niềm vui trong cuộc sống đến những bí mật,
những nỗi niềm riêng, những biến cố xảy ra trong gia đình. Đối với thiếu niên, một
trong những điều đau khổ, bất hạnh nhất đó chính là không có bạn thân, không được
bạn bè tin tưởng, yêu mến [4], [20].
Đối với trẻ lao động sớm, thường gia đình không phải là nơi chốn bình yên để
các em chia sẻ, giãi bày mỗi khi gặp những khó khăn, lo lắng. Và một khi gia đình
đã không làm đúng bổn phận thì bạn bè trở thành nơi duy nhất để các em có thể dựa
dẫm, sẻ chia. Sống trong môi trường phải thường xuyên tranh giành, giành giật địa
phận làm ăn, buôn bán nên khi tiếp xúc với nhau, trẻ lao động sớm khá e dè, khoảng
36
cách, đề phòng lẫn nhau. Nhưng khi đã trở thành bạn bè thân, chúng có thể chia sẻ
từng miếng bánh, từng chỗ ngủ, cùng giúp đỡ nhau khi gặp hoạn nạn, khi phải chạy
trốn công an hay khi đối mặt với những kẻ bắt nạt. Tình bạn của trẻ lao động sớm
mang dáng dấp của tình cảm ruột thịt, để bù đắp lại những thiếu thốn tình thương
gia đình. Cũng chính vì có rất nhiều mong đợi ở bạn bè nên tình bạn cũng lại trở
thành một áp lực với trẻ trong cuộc sống. Trẻ lao động sớm có những nỗi lo lắng
“rất thiếu niên”: các em lo sợ không có bạn thân, lo sợ không được bạn bè tin
tưởng, yêu mến hay thậm chí là lo lắng bị bạn bè phản bội, không trung thành...
Những nỗi lo lắng này nếu không được giải tỏa sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến đời
sống của các em.
* Áp lực về chỗ ở
“An cư mới lạc nghiệp”, điều đó có nghĩa là phải có một chỗ ở tốt mới lo được
chuyện làm ăn. Chính vì điều này, chỗ ở trở thành một trong những áp lực đè nặng
lên vai trẻ lao động sớm, nhất là đối với trẻ nhập cư. Trẻ có gia đình ở thành phố thì
vấn đề chỗ ở không phải là vấn đề khó khăn, nhưng những trẻ nhập cư, việc tìm
được một chỗ ở vừa ý không phải dễ. Đa phần những trẻ này nếu làm thuê thì ở tại
chỗ làm, trong những điều kiện hết sức thiếu thốn, chật chội. Với trẻ em xa nhà,
việc một phòng trọ vài mét vuông ở từ năm đến bảy trẻ khiến không gian trở nên
ngột ngạt, nóng bức, các em lại không có không gian riêng để suy nghĩ, giải tỏa
những căng thẳng sau một ngày làm việc. Còn lại là những trẻ tự bươn chải mưu
sinh bằng việc đánh giày, bán vé số, chọn chỗ ở là chân cầu, bãi chợ, hay ngủ lang
thang ở nơi mà chúng buôn bán. Những chỗ này không những thiếu thốn mà còn
không an toàn, có thể bị đánh đuổi, bị trẻ lớn ức hiếp, chính vì thế điều này trở
thành một áp lực lớn đối với trẻ. Những trẻ này, ngoài là trẻ lao động sớm, chúng
còn mang những đặc điểm của trẻ lang thang (sống chủ yếu ở đường phố, nơi kiếm
sống và nơi cư trú không ổn định).
* Áp lực về sự an toàn
Theo Braham Maslow (1908-1970), một trong những nhu cầu mang tính sinh
tồn của con người, ngoài ăn uống, ngủ nghỉ thì đó là nhu cầu an toàn - nhu cầu cần
37
có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được
đảm bảo. An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi
cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người. An toàn sinh mạng là nhu
cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi
trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an
toàn nhân sự. Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người. Để sinh
tồn, con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn. Nhu cầu an
toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình
thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được. Nhu cầu an toàn này dễ
quan sát thấy ở trẻ em nhiều hơn vì đối với trẻ, những gì đột ngột và có tính cách đe
dọa đều khiến trẻ cảm thấy bất an. Nhu cầu an toàn thể hiện trong việc tìm kiếm sự
bảo vệ và ổn định từ tiền bạc, sức khỏe, công việc và thu nhập ổn định, sự tin tưởng
ở tương lai. Khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn đã được thỏa mãn tốt thì nhu
cầu xã hội hay hội nhập lại xuất hiện trội hơn.
Thực tế, bậc nhu cầu này ở đa số trẻ em lao động sớm đã không được đáp ứng
bởi những rủi ro mà các em đang phải đối diện trong môi trường nhiều nguy hiểm
và cám dỗ (cướp giật, lạm dụng,…). Khá nhiều trẻ lao động sớm mà đề tài chúng
tôi quan tâm ở đây cũng là những trẻ phải lang thang kiếm sống trên đường phố, và
vì thế trẻ luôn phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ. Các em luôn mang trong mình
nỗi bận tâm có bị trẻ khác giành mối làm ăn, có bị bắt nạt, có bị lừa gạt, có bị trấn
lột bởi các tay anh chị giang hồ hay không? Bên cạnh đó, các em cũng luôn lo lắng
mình có thể bị nhiễm các bệnh xã hội, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hộ. Bởi vì trẻ
phải luôn cảnh giác với các rủi ro này nên không thể tập trung vào việc thỏa mãn
các nhu cầu ở bậc cao hơn.
1.3.1.4. Một vài đặc điểm tâm lý của trẻ lao động sớm
a. Một vài đặc điểm về giao tiếp và đời sống tình cảm
Trẻ lao động sớm là một trong rất nhiều dạng của trẻ có hoàn cảnh khó khăn.
Chính vì vậy, thế giới tâm hồn và đặc điểm tâm lý của trẻ lao động sớm đều có
những đặc điểm chung của trẻ em, của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhưng
38
cũng có những sắc thái riêng do hoàn cảnh cụ thể và cuộc sống cụ thể của từng
người tạo nên. Trong báo cáo tham luận về mô hình dạy nghề cho trẻ em lang thang
hồi gia và trẻ em nguy cơ lang thang của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay có hơn 1.800.000 trẻ em chiếm tỷ lệ 27,3% dân số thành
phố. Trong đó gần 18.000 trẻ em là con gia đình nhập cư, chiếm tỷ lệ 10% số trẻ em
toàn thành phố và có 1.150 trẻ em phải lang thang kiếm sống. Hầu hết trẻ em lang
thang kiếm sống bằng nhiều công việc như: Bán báo, bán vé số, đánh giầy, bán mỳ
gõ, thuốc lá, tranh ảnh, bánh kẹo, lượm rác và ăn xin... Một báo cáo về “Trẻ bụi đời
tại thành phố Hồ Chí Minh” vào tháng 9/1992 do Timothy W. Bond nêu lên (trên cơ
sở kết quả khảo sát cho tổ chức Terre des homes) (Lausanne, Thụy Sỹ) đỡ đầu có
nêu: “Điều đáng chú ý ở đây là tất cả trẻ bụi đời trên khắp thế giới đều rất giống
nhau, cả trong hành vi lẫn vẻ bề ngoài của chúng. Người dân ở Bangladesh, ở Népal
và ở Việt Nam đều rất khác nhau. Họ có những tôn giáo, những phong tục và những
giá trị tinh thần khác biệt. Nhưng không hiểu tại sao trẻ bụi đời ở các quốc gia vừa
nêu trên, cũng như ở mọi quốc gia khác đều rất giống nhau, dù chúng không hề có
những “chương trình trao đổi văn hóa”, hay bất cứ một cơ hội nào để ảnh hưởng
đến nhau cả. Điều này do đâu? Điều ấy có thể có những điểm đúng với thực tế biểu
hiện nhu cầu tâm lý của trẻ lang thang” [55].
Từ thực tiễn, ta có thể thấy một số đặc điểm tâm lý cơ bản của trẻ em lao
động sớm cũng như trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là:
* Có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ những người yếu thế
Một số trẻ đi kiếm sống vì gia đình ruồng bỏ hoặc gia đình quá khó khăn
không đáp ứng được một số nhu cầu hết sức cơ bản như: ăn, mặc, học và nhất là
tình thương. Mặt khác bị xã hội bình thường ruồng bỏ về mặt tâm lý, các em tìm
thấy mối quan hệ thân tình ấm cúng của người đồng cảnh, tương thân, tương trợ lẫn
nhau. (Người ta vẫn gọi đây là một nền “tiểu văn hóa” trùng với giá trị, tín điều
ngôn ngữ riêng). Các em rất dễ thông cảm, đồng cảm với những người có cùng
hoàn cảnh khó khăn như người già yếu, người nghèo, người cô đơn không nơi
nương tựa, người bị bỏ rơi, người gặp hoạn nạn… thường được các em sẵn lòng
39
giúp đỡ, tương trợ. Một số em do hoàn cảnh gia đình khó khăn đã biết tiết kiệm tiền
để gửi giúp đỡ gia đình. Mặt khác, dù có lòng thương người nghèo khổ, có hoàn
cảnh khó khăn nhưng bản thân trẻ lao động sớm cũng rất cần tình thương và sự che
chở đùm bọc của người khác, ẩn trong vẻ bề ngoài bướng bỉnh, phong trần.
* Gắn kết với nhóm bạn bè mà các em là thành viên
Vì nhiều lý do, trong đó có lý do đảm bảo an toàn, trẻ lao động sớm thường
tham gia vào một nhóm bạn, thường là những người cùng công việc như các em:
nhóm trẻ đánh giày, nhóm trẻ móc túi, nhóm trẻ bán vé số, nhóm trẻ bán bánh kẹo
dạo… và theo khu vực mà các em làm việc. Khi đã trở thành một thành viên của
nhóm, các em xem đây như là một gia đình mà nhóm trưởng là người chịu trách
nhiệm quản lý (như cha mẹ) và các thành viên còn lại như các anh chị em, chính vì
vậy các em rất tôn trọng những nguyên tắc mà nhóm đặt ra. Các thành viên trong
nhóm có thể hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi cho nhau, đồng thời nhóm cũng là nơi mà các
em có thể chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn, những thuận lợi và khó khăn trong
cuộc sống, giúp các em cân bằng về mặt tinh thần hơn. Trong những nhóm bạn này,
sự phản bội là điều tối kị. Một thành viên nào đó bị phát hiện là phản bội sẽ phải
chịu hình phạt rất nặng, có thể sẽ bị “khai trừ” khỏi nhóm. Quan niệm về tình bạn
này rất gần với quan niệm về tình bạn của trẻ bình thường ở lứa tuổi thiếu niên. Đối
với trẻ ở độ tuổi này, điều quan trọng nhất trong kết bạn là “tình bạn” theo một
chuẩn mực riêng, các nhà tâm lý học thường gọi là “bộ luật tình bạn”. “Bộ luật tình
bạn” thực hiện theo những quy tắc nhất định. Thứ nhất là quy tắc bí mật: Đó là
những điều thầm kín nhất, các em sẽ hiếm khi thổ lộ với những người thân yêu của
mình mà chỉ thổ lộ với “thành viên” của nhóm. Các em tự đặt ra những yêu cầu rất
cao đối với bạn bè, thường cho rằng “bạn của tớ” phải hiểu, tế nhị, vị tha, đồng cảm
và giữ bí mật cho nhau. Khi quy tắc bí mật bị phá vỡ thì có thể dẫn đến hậu quả
kinh khủng. Thứ hai là quy tắc lý tưởng hóa: “Sống chết có nhau”, “chia ngọt sẻ
bùi”, đó là sự thâm nhập mọi mặt vào đời sống của bạn, hợp tác hành động, “tất cả
như một”.
40
* Mong muốn được an toàn, yên ổn
Khi lang thang trên đường phố để kiếm sống trẻ rất sợ những hành động của
mình bị người khác nhòm ngó, theo dõi, ngăn chặn bắt bớ, thu gom. Vì thế trẻ luôn
có một nhu cầu được an toàn trong hành động nhất là những trẻ ngủ trên đường phố
vì những trẻ này có nhiều nguy cơ gặp tai họa hơn so với các em ngủ với gia đình.
Các em này thường bị mất cắp, bị đánh đập hoặc bị “dân anh chị” trấn lột. Các em
thường nơm nớp lo âu về cuộc sống mất an toàn. Nỗi lo sợ bị bắt, nhất là khi có
chiến dịch thu gom, khiến cho các trẻ em có nhiều phản ứng và thái độ khác nhau.
Có những em trốn kỹ, có em có thái độ khiêu khích vì lo lắng, có một số em về nhà
tạm lánh một thời gian để lại xuất hiện khi không còn chịu nổi không khí gia đình
nữa, hay khi “chiến dịch” đã qua.
* Ngại tiếp xúc với những người không cùng cảnh ngộ
Cũng như mọi trẻ em khác, trẻ lao động sớm muốn bước vào một cuộc sống
“tự do”, các em muốn giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi, cùng cảnh ngộ, để tìm thấy
trong cuộc sống một tình thương, đùm bọc của những người cùng cảnh ngộ để chia
sẻ niềm tâm tư với bạn bè mà các em tìm thấy ở đó niềm tin yêu và đồng cảm. Mặt
khác, trẻ bị xô đẩy vào những hoàn cảnh éo le, nghiệt ngã, thiếu thốn, khó khăn đủ
điều, các em ngại tiếp xúc thân tình với người lớn, với các trẻ em bình thường khác.
Sự khép kín thế giới tâm hồn trong phạm vi nội tâm, hoặc chỉ bộc lộ nó trong mối
“quan hệ đồng bọn” làm cho các em dễ trở nên xa lánh mọi người. Trong mối quan
hệ giao lưu phức tạp trên đường phố, số trẻ dễ dàng bắt chước, a dua với những
hành vi trái quy tắc xã hội (như trộm cắp, trấn lột, đánh lộn lẫn nhau… ) hoặc dễ
dàng tiếp thu những mặt xấu, tiêu cực của đời sống xã hội, của những phim ảnh,
sách báo thiếu văn hóa, khiêu dâm, đồi trụy. Vì thế việc giao lưu của trẻ dễ dàng
đem lại những suy thoái, những biến chất trong tâm hồn trẻ thơ.
b. Một vài đặc điểm tự ý thức
* Thích sống tự do, không chịu sống trong khuôn khổ
Do tự mình kiếm sống, quản lý chi tiêu, các em được tự do đi lại, ăn uống,
sinh hoạt, có nhiều mối quan hệ, không bị ràng buộc bởi những quy định, không
41
chịu sự quản lý của người lớn. Vì thế một số em dần quen và thích ứng với cuộc
sống “độc lập” mặc dù có thể thiếu thốn và đầy bất trắc hơn. Thực tế, nhiều trẻ lao
động sớm vẫn sống cùng gia đình, có nhà ở nhưng các em rất ít về nhà (thời gian về
nhà chỉ là để ngủ), phần lớn thời gian và hoạt động đều diễn ra ở bên ngoài, cùng
với bạn bè của các em. Nhiều trẻ không muốn từ bỏ sự độc lập của mình để quay về
với cuộc sống bình thường của con trẻ. Quay trở về đối với trẻ đồng nghĩa với việc
phải chịu đựng đau khổ, chán chường hay đè nén, nhất là khi trẻ đã dám bước qua
bước ngoặt quan trọng và cần thiết là thoát ly khỏi cuộc sống đó rồi. Điều này cũng
gây khó khăn rất nhiều cho các nhân viên công tác xã hội, khi muốn đưa các em trở
về cuộc sống bình thường của một đứa trẻ, đi học và chịu sự quản lý của người lớn
thì các em không chịu đựng được, không tuân thủ các quy tắc, bất hợp tác…
Mặt khác, một số trẻ vì muốn được “độc lập” nên cố tình bỏ học đi lao động
kiếm sống, không muốn phụ thuộc vào người khác, vào gia đình chứ không phải do
hoàn cảnh bắt buộc như đa số các trẻ lao động sớm khác. Khi trẻ tụ tập lại với nhau
thành nhóm, một số trẻ thường tỏ thái độ khiêu khích một cách công khai, tỏ ra xem
thường các quy ước xã hội, muốn tách mình ra khỏi những ràng buộc của xã hội, trẻ
tự đặt ra những quy ước riêng với nhau với mong muốn được tự do cá nhân. Đối với
các em, kỷ luật và tình đoàn kết gắn bó với nhau theo quy ước riêng của nhóm là
nguyên tắc cần thiết để chúng tự bảo vệ quyền lợi của mình. Đây cũng là một biểu
hiện của “bộ luật tình bạn” mà trẻ ở lứa tuổi thiếu niên rất tôn trọng.
* Muốn được tự khẳng định
Nhu cầu này xuất hiện sớm, ngay từ lúc trẻ chập chững biết đi: Lên hai tuổi trẻ
đã tự làm lấy một số việc như tự cầm lấy thìa, lấy chén… đến 3 tuổi trẻ đã xuất hiện
xu thế “ngang bướng”, thích làm ngược lại để khẳng định sự độc lập của mình. Đối
với trẻ lao động sớm thì nhu cầu tự khẳng định thể hiện ở chỗ trẻ muốn tỏ ra mình
đã có đủ khả năng tự kiếm sống, muốn thoát khỏi sự ràng buộc, kiểm tra, giám sát
của gia đình, của người lớn, của xã hội, thậm chí là người đóng góp phần lớn vào
việc nuôi dưỡng gia đình. Trong quan hệ với bạn bè đồng cảnh ngộ, trẻ em thuộc
loại này cũng luôn tỏ ra mình độc lập với người khác, không phụ thuộc vào người
42
khác, hoặc muốn trẻ khác chịu “lép vế” hơn, phải phụ thuộc vào mình, tôn mình lên
là “dân anh chị”. Nhu cầu tự khẳng định ở trẻ lang thang còn thể hiện ở chỗ chúng
dám nhận mình là ai, tỏ phản ứng khó chịu, khi người khác tỏ ra thương hại hoặc
đánh giá thấp chúng.
* Có tính tự lập cao
Do sớm phải bươn chải với cuộc sống nên các em dần tự biết cách sắp xếp, tổ
chức cuộc sống. Mọi công việc đều được trẻ làm chủ và tự quyết định. Nếu như
những trẻ bình thường ở trong gia đình được cha mẹ chăm chút bảo bọc từ bữa ăn,
giấc ngủ đến những việc quan trọng hơn như học ở đâu, chơi với bạn nào thì đa số
trẻ lao động sớm tự quyết định tất cả công việc liên quan tới bản thân. Ngoài những
vấn đề liên quan tới cuộc sống cá nhân như ăn gì, ở đâu, chơi với ai, tham gia nhóm
bạn nào… trẻ lao động sớm cũng tự mình quyết định những công việc quan trọng
hơn như làm công việc gì, chi tiêu số tiền kiếm được như thế nào, cần chuẩn bị
những gì cho tương lai sau này… Đôi khi những quyết định của trẻ có thể không
đúng, nhưng chính những điều này đã rèn luyện tính tự lập rất cao ở trẻ, cho phép
trẻ có thể sống ở bất cứ môi trường nào cho dù không có cha mẹ bảo vệ.
* Có lòng tự trọng cao
Là những người sớm tự kiếm tiền, tự làm chủ cuộc sống, không phải phụ
thuộc nên một số em tự nhận thấy được giá trị của bản thân. Vì vậy, nếu bị tổn
thương lòng tự trọng, các em sẵn sàng có những hành động hung hăng để bảo vệ
lòng tự trọng của mình. Mặc dù cuộc sống có nhiều khó khăn, cạm bẫy nhưng
không phải lúc nào trẻ cũng mong muốn và sẵn sàng nhận sự giúp đỡ. Vì vậy, muốn
hỗ trợ cho các em, cần phải hiểu những đặc điểm tâm lý này để có cách tác động
hợp lý và hiệu quả.
* Luôn có cơ chế tự vệ, phòng ngự cao
Mặc dù tự nhận thức được sự hạn chế về khả năng của bản thân nhưng do phải
thường xuyên đối đầu với những nguy cơ đe dọa đến tính mạng, đến việc kiếm sống
nên các em luôn phải cảnh giác, trong trạng thái phòng ngự bất kể những gì có thể
làm tổn hại đến mình. Trẻ rất khó tin và thường hoài nghi khi nhận được sự giúp đỡ
43
miễn phí từ ai đó. Trước khi gắn bó với một ai, các em muốn được bảo đảm là các
em có thể tin nơi người đó được. Vì thế những người làm công tác tiếp xúc với trẻ
lao động sớm, đặc biệt với các em có tâm lý tuyệt vọng, chán chường phải biết hòa
nhập với các em, xác lập một tình cảm và sự tin cậy ở trẻ.
Trên đây là một vài đặc điểm tâm lý ở trẻ lao động sớm. Chính những đặc
điểm này cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó với áp lực
tâm lý của trẻ. Hiểu được những đặc điểm tâm lý này là một phần rất quan trọng để
giúp các em vượt qua những áp lực ở cuộc sống vốn đã rất khó khăn của các em.
1.4. Cách ứng phó với áp lực tâm lý
a. Khái niệm ứng phó
“Ứng phó” là một vấn đề xảy ra thường xuyên trong cuộc sống của con người,
nhất là trong thời đại nhiều sự biến động, nhiều sự thay đổi như hiện nay. Tuy
nhiên, vấn đề này lại chưa được nhiều các nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu một
cách đúng mức, vì vậy khái niệm về “ứng phó” cũng rất ít được đưa ra một cách
chính xác, chuẩn mực.
Trong tiếng Anh “cope” (ứng phó) có nghĩa là đương đầu đối mặt với những
tình huống bất thường [27].
Theo nghĩa rộng, ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủ thể với
những yêu cầu của thế giới bên ngoài và nội tâm - nắm bắt làm chủ hay làm suy
giảm, làm quen hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn đề. Những
điều kiện bên ngoài - yêu cầu của hoàn cảnh, hay bên trong - đặc điểm tâm lý của
chủ thể, tạo nên nội dung của cách ứng phó, làm chúng hoàn toàn khác biệt với với
sự thích ứng đơn giản [43].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “ứng phó là hành động đáp lại nhanh nhạy, kịp
thời, trước những tình huống mới, bất ngờ” [46]. Như vậy, theo Đại từ điển Tiếng
Việt thì thuật ngữ ứng phó ở đây được hiểu như là cách thức thích nghi với những
sự thay đổi bất ngờ của cuộc sống hàng ngày.
Theo Nhà Tâm lý học Lazarus, người khởi xướng trào lưu chính trong nghiên
cứu sự ứng phó, thì, “ứng phó là thường xuyên thay đổi các cố gắng nhận thức và
44
ứng xử nhằm xử lý các đòi hỏi đặc biệt bên ngoài hoặc bên trong được cho là đè
nặng lên và vượt quá tài xoay sở của con người” [46]. Với cách hiểu này, Lazarus
đã làm rõ hơn khái niệm ứng phó của con người. Nếu trong khái niệm của Đại từ
điển Tiếng Việt, “ứng phó” đơn thuần chỉ những hành động bên ngoài của chủ thể
khi phải đối diện với những vấn đề mới, những tình huống mới nảy sinh trong cuộc
sống, mà kinh nghiệm cũ không giải quyết được, thì trong khái niệm của Lazarus,
ông đã làm rõ hai yếu tố cần quan tâm khi xem xét khái niệm “ứng phó” như sau:
Thứ nhất, theo Lazarus, ứng phó không chỉ là thay đổi hành động, ứng xử mà
thay đổi cả nhận thức của bản thân để đáp ứng được sự thay đổi của các yếu tố bên
ngoài và bên trong. Cần lưu ý rằng, các yếu tố thay đổi này không chỉ là các yếu tố
bên ngoài, ngoại cảnh tác động vào con người, mà bao gồm cả các yếu tố bên trong,
tức là sự thay đổi của bản thân các yếu tố tâm lý của chủ thể.
Thứ hai, không phải sự thay đổi nào cũng tạo ra phản ứng “ứng phó” ở con
người. Theo Lazarus, sự thay đổi đó phải vượt quá tài xoay sở của con người và đè
nặng lên cuộc sống của chủ thể. Tức là sự thay đổi này gây ra những tác động
không tốt về phía chủ thể, gây ra những cảm xúc tiêu cực, khiến chủ thể cần phải
tìm mọi cách để hoặc là thay đổi nó, hoặc là thích nghi với nó, từ đó làm mất đi
những cảm xúc tiêu cực ở trên.
Ý nghĩa tâm lý của ứng phó là ở chỗ làm thế nào để con người thích ứng
nhanh chóng với những yêu cầu của hoàn cảnh, cho phép họ nắm bắt và làm chủ
chúng, làm những yêu cầu của hoàn cảnh trở nên suy yếu, làm cho con người cố
gắng thoát khỏi hoặc làm quen với chúng và bằng cách đó thay đổi được những tác
động gây stress của hoàn cảnh. Nhiệm vụ chủ yếu của ứng phó là cung cấp và ủng
hộ sự bền vững của con người, sức khoẻ thể chất cũng như tâm lý, làm thoả mãn
các quan hệ xã hội của cá nhân.
Cách ứng phó là những phương thức ứng phó cụ thể hơn trước một tình
huống, một hoàn cảnh nhất định. Chiến lược ứng phó có thể được chia thành hai
chiến lược: tập trung vào vấn đề (problem oriented), tập trung vào cảm xúc
(emotion oriented).
45
Như vậy, theo quan niệm của Lazarus, “ứng phó” được hiểu như là quá trình
xử lý các đòi hỏi bên trong hoặc bên ngoài được tri giác thấy là gây ra căng thẳng
hoặc vượt quá khả năng sẵn có của con người. Đây cũng là khái niệm mà chúng tôi
chấp nhận sử dụng trong đề tài nghiên cứu này.
b. Phân loại ứng phó với áp lực tâm lý
Tùy thuộc vào mỗi tiêu chí, góc độ khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra
những cách phân chia thành các cách ứng phó khác nhau.
Theo Lazarus, các chiến lược ứng phó được sắp xếp theo hai loại lớn: ứng phó
tập trung vào điều tiết cảm xúc (emotion-focused) với mục tiêu là làm giảm nhẹ sự
khó chịu do stress gây ra và ứng phó tập trung vào giải quyết các vấn đề (problem-
focused) với mục tiêu là đối mặt trực diện với vấn đề. Trong các chiến lược ứng phó
loại một, ta có các hành động như “đổ trách nhiệm cho người khác”, “cố gắng
không lo lắng”, “nhìn thấy điều thuận lợi”; còn trong chiến lược loại hai bao gồm
cách “tìm kiếm thông tin”, “tìm kiếm sự nâng đỡ xã hội”, “cố gắng làm khác đi”,
“chạy trốn khỏi tình huống gây stress” (Tolor& Fehon, 1987; Dlyshaw, Cohen&
Towbes, 1989) [32, 331].
Trong các lý thuyết nhận thức, khả năng đáp ứng của chủ thể phụ thuộc phần
lớn vào việc chủ thể đánh giá tình huống stress như thế nào. Sự đánh giá này hoàn
toàn có tính chủ quan, mang dấu ấn cá nhân một cách sâu sắc của chủ thể. Khi đánh
giá một tình huống, nếu chủ thể cảm thấy tình huống đó không có gì đe dọa và có
thể đối đầu được thì phản ứng stress lúc này trở nên thích hợp, bình thường. Trái lại,
khi cảm thấy tình huống đe dọa thì chủ thể hoặc cho mình không thể chống chọi lại
được, nhưng dù sao vẫn phải đương đầu với nó nên nảy sinh ra phản ứng stress
bệnh lý; hoặc là cho rằng mình có biện pháp để làm chủ tình hình, dàn xếp được với
tình huống stress nên đã sinh ra phản ứng stress thích nghi, mức độ sự đánh giá
tương ứng với khả năng thực tế [10, 24]. Với quan niệm trên, ta có thể thấy ứng phó
được sử dụng nhằm để giải quyết các vấn đề, cũng như ứng phó nhằm tìm kiếm
thông tin cũng như để xác định lại ý nghĩa của các sự kiện gây ra stress.
46
Xét dưới góc độ chủ thể có cố gắng xử lý stress trước khi nó diễn ra, theo
Materny, có hai loại ứng phó: ứng phó dự phòng (Preventive coping) và ứng phó
chống cự. Trong ứng phó dự phòng, cá nhân sẽ né tránh các tác nhân gây stress
thông qua việc thích nghi với cuộc sống, thích nghi với các mức đòi hỏi, có các kiểu
ứng xử làm giảm nguy cơ tạo ra stress, hay tạo ra các nguồn lực ứng phó. Trong
ứng phó chống cự, cá nhân sẽ giám sát các tác nhân gây ra stress và các triệu chứng,
sắp xếp các nguồn lực nhằm ứng phó hữu hiệu, tấn công các tác nhân gây stress,
đẩy lùi ý nghĩ tự “đầu hàng” và giữ được tinh thần cởi mở cho những lựa chọn thích
hợp, đồng thời dung nạp các tác nhân gây stress như “cấu tạo lại nhận thức nhằm
vứt bỏ một kế hoạch gây nhiễu tâm thông thường qua việc đánh giá lại tính nghiêm
trọng của các đòi hỏi về các hạn chế nguồn lực của bản thân”; hạ thấp mức kích
động. Như vậy, trong stress bình thường, sự đáp ứng là thích hợp và giúp cho cá thể
phản ứng đúng nhằm tạo ra một cân bằng mới sau khi chịu tác động của sự kiện.
Còn trong stress bệnh lý, khả năng đáp ứng của cá thể tỏ ra không đầy đủ, không
thích hợp và không thể đem lại sự cân bằng mới. Cho nên tiếp theo đó sẽ có những
rối loạn xuất hiện vì các mặt tâm thần, cư xử hay hành vi tạm thời hoặc kéo dài
[37].
Bằng phương pháp phân tích yếu tố, tác giả Lưu Song Hà đã phân chia các
kiểu ứng phó của trẻ vị thành niên thành ba nhóm: ứng phó mang sắc thái tình cảm;
ứng phó trong suy nghĩ và ứng phó bằng hành động. Mỗi nhóm ứng phó có cách
thức biểu hiện khác nhau. Cụ thể, nhóm ứng phó mang sắc thái tình cảm gồm: cảm
giác bên trong; tình cảm thể hiện ra bên ngoài và tìm kiếm chỗ dựa tình cảm. Nhóm
ứng phó trong suy nghĩ bao gồm: phủ nhận; chấp nhận; lý giải theo hướng tích cực;
lý giải theo hướng tiêu cực và lảng tránh. Nhóm ứng phó bằng hành động có kiềm
chế bản thân, thay thế bằng những hành vi tiêu cực, thay thế bằng những hành vi
tích cực, tìm kiếm lời khuyên, lên kế hoạch và ứng phó chủ động [15].
Trong khuôn khổ phạm vi đề tài này, đối tượng nghiên cứu mặc dù có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc điểm tâm lý của trẻ vị
thành niên, vì thế chúng tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Lưu Song Hà khi
47
phân chia các kiểu ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm và sử dụng như
những chỉ báo khi nghiên cứu về cách ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động
sớm.
c. Cơ chế tâm lý của sự ứng phó với áp lực
Theo Tâm lý học macxit, trong quá trình hoạt động, chủ thể thực hiện hai quá
trình là quá trình “xuất tâm”, chuyển năng lượng của mình thành sản phẩm hoạt
động về phía thế giới và quá trình “nhập tâm” để chuyển nội dung khách thể (những
quy luật, bản chất, đặc điểm… của khách thể) vào bản thân mình, tạo nên tâm lý, ý
thức, nhân cách của bản thân. Để thực hiện thành công quá trình “xuất tâm” và
“nhập tâm”, con người phải huy động những nguồn lực tâm lý phù hợp với các yêu
cầu của sản phẩm. Đó là hai cách thức ứng phó của con người trước những tình
huống trong cuộc sống.
Theo học thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud, cấu trúc nhân cách của con
người gồm ba bộ phận: cái Ấy (id), cái Tôi (ego), và Siêu tôi (superego). Cái Ấy là
bộ phận nguyên thủy, vô thức của nhân cách, là kho chứa các xung năng cơ bản.
Siêu tôi là kho chứa những chuẩn mực ứng xử của cá nhân, kể cả những hành vi đạo
đức nhiễm tập được của xã hội. Cái Siêu tôi thường mâu thuẫn với cái ấy. Cái Ấy
muốn ta phải làm điều ta thấy thoải mái, còn cái Siêu tôi nhấn mạnh vào việc làm
điều phải. Cái Tôi là bộ phận của nhân cách, có chức năng giải quyết mâu thuẫn
giữa cái Tôi và cái Siêu tôi. Con người không thể lúc nào cũng tuân thủ những
chuẩn mực xã hội và loại trừ sự thỏa mãn các xung năng của cái Ấy, và ngược lại,
những đòi hỏi quá mức từ bên trong hay bên ngoài đều mang lại sự căng thẳng, từ
đó dẫn đến sự khó chịu. Để tránh khỏi sự khó chịu, khi xuất hiện những yêu cầu từ
bên ngoài (từ xã hội), cái Tôi phải nhận biết các kích thích, tích lũy kinh nghiệm
(trong trí nhớ) từ những kích thích đó, chống lại những kích thích mạnh (bằng cách
chạy trốn), thích nghi với những kích thích phù hợp (bằng cách thích ứng). Cuối
cùng, cái Tôi tác động vào thế giới bên ngoài, làm thay đổi nó theo lợi ích của mình
[31, 251].
48
Đối với những đòi hỏi nhằm thỏa mãn xung lực bản năng, cái Tôi đóng vai trò
là người kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của cái ấy. Cái Tôi sẽ quyết định xem có
nên thỏa mãn ngay các nhu cầu đó hay phải trì hoãn đến thời điểm thuận lợi hoặc
cương quyết dập tắt chúng. Tuy nhiên, sự “đòi hỏi tức thì, mạnh mẽ của cái Ấy và
sự trấn áp không khoan nhượng của cái Siêu tôi đã tạo ra trạng thái căng thẳng dẫn
đến lo âu của cái Tôi. Để giải tỏa trạng thái này, trong cái Tôi xuất hiện cơ chế tự vệ
bao gồm: phủ nhận, thay thế, huyễn tưởng, đồng nhất hóa, phóng chiếu, hợp lý hóa,
di chuyển, thoái lui, dồn nén, thăng hoa” [31, 254].
Các cơ chế tự vệ là những chiến lược tâm trí giúp cái Tôi bảo vệ chính mình
trong xung đột thường ngày giữa các xung năng cái Ấy muốn tìm cách biểu lộ với
đòi hỏi của cái Siêu tôi muốn phủ nhận chúng. Bằng cách vận dụng cơ chế này, con
người có thể duy trì một hình ảnh thuận lợi cho bản thân và giữ được một gương
mặt được xã hội chấp nhận. Những cơ chế tự vệ này được đánh giá là hữu ích, tuy
nhiên nó không nhằm vào việc giải quyết vấn đề mà chủ thể đang đương đầu, nó chỉ
khiến họ tự lừa dối mình. Về lâu dài, việc sử dụng quá mức những cơ chế này sẽ tạo
ra các hình thái ốm yếu về tâm trí.
Năm 1967, Otto Kernberg đã xây dựng một lý thuyết về việc hình thành nhân
cách ranh giới - Borderline personality (ông cho rằng, việc sử dụng một số cơ chế
phòng vệ có thể dẫn đến rối loạn nhân cách ranh giới-Boderline Personality
Disoder). Lý thuyết của ông dựa trên lý thuyết mối tương quan với đối tượng trong
Tâm lý học cái Tôi. Otto Kernberg cho rằng, nhân cách ranh giới được hình thành
khi đứa trẻ không thể hoà nhập tốt và tiếp xúc với những đối tượng có sức khoẻ tinh
thần không tốt. Thân chủ sử dụng những cơ chế phòng vệ gốc là nguyên nhân chính
dẫn đến việc hình thành kiểu nhân cách này. Những cơ chế phòng vệ tâm lý gốc là:
phóng chiếu (projection), phủ nhận (denial), phân ly (dissociation) hay chia tách
(splitting) và chúng được gọi là những cơ chế phòng vệ ranh giới (boderline defense
mechanisms). Ngoài ra, cơ chế phòng vệ giảm giá trị (devaluation) và đồng nhất xạ
ảnh (projective identification ) cũng được xem là những cơ chế ranh giới [12].
49
Bảng 1.1. Mô tả cơ chế tự vệ theo quan điểm của Sigmund Freud [26,480]
Cơ chế Mô tả
Phủ nhận Bảo vệ mình thoát khỏi thực tại đau buồn bằng cách từ chối không
tri giác ý nghĩa của nó.
Chuyển di Giải tỏa những tình cảm bị dồn nén, thường là tình cảm thù địch, trút
lên các đối tượng ít nguy hiểm hơn so với các đối tượng lúc đầu làm
phát sinh cảm xúc.
Huyễn Thỏa mãn các ước muốn bị hẫng hụt trong những thành đạt tưởng
tưởng tượng ra (“mộng mị” là một hình thái thường gặp)
Đồng nhất Làm gia tăng những tình cảm tự trọng bằng cách đồng nhất hóa
hóa mình với một người khác hoặc một nhân vật quen biết khác, thường
có tiếng tăm lẫy lừng.
Tách biệt Cắt đứt gánh nặng cảm xúc, thoát khỏi các tình huống gây ra đau
đớn, còn gọi là cơ chế chia cắt.
Phóng Đem điều chê trách do những trở ngại của chính mình đổ lên đầu
chiếu người khác hoặc đổ lỗi những ham muốn bị “cấm đoán” của mình
cho người khác.
Hợp lý Cố gắng chứng minh rằng ứng xử của mình là “hợp lý” và có thể
hóa biện minh được và do đó đáng được mình và người khác tán thưởng.
Hình Ngăn chặn những ước muốn nguy hiểm khỏi bị bộc lộ bằng cách
thành phản chấp thuận các hành vi và những typ ứng xử chống đối và sử dụng
ứng chúng như những “hàng rào”.
Thoái lui Rút lui về mức phát triển trước đây liên quan đến những đáp ứng
“trẻ con” hơn và thường khát vọng ở mức thấp hơn.
Dồn nén Đẩy những ý nghĩ gây đau khổ và nguy hiểm ra khỏi ý thức, giữ
chúng ở trạng thái vô thức; điều này được xem là cơ chế tự vệ cơ
bản nhất
Thăng hoa Thỏa mãn hoặc loại bỏ những ước muốn tính dục bị hụt hẫng trong
các hoạt động thay thế không phải tính dục, được xã hội chấp nhận
phù hợp với nền văn hóa của ta.
50
Theo “Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần” (DSM-IV) do Hội
tâm thần học Hoa Kỳ xuất bản năm 1994 bao gồm chẩn đoán thăm dò theo trục về
những cơ chế phòng vệ. Cách phân loại này dựa trên phần lớn quan điểm về hệ
thống thứ bậc cơ chế phòng vệ của Vaillant nhưng có sửa đổi một vài chỗ. Các cấp
độ của cơ chế phòng vệ là:
- Những cơ chế phòng vệ mang tính điều chỉnh thái quá như: phóng chiếu ảo
giác (delusional projection), phủ nhận loạn thần (psychotic denial).
- Những cơ chế phòng vệ mang tính hành động như: gây hấn thụ động
(passive aggression), bốc đồng (acting out).
- Những cơ chế phòng vệ mang tính không thừa nhận hay tưởng tượng, bóp
méo như: phóng chiếu (projection), tưởng tượng (fantasy).
- Những cơ chế phòng vệ mang tính thoả hịêp như: phân ly (dissociation),
chuyển dịch (displacement).
- Những cơ chế phòng vệ mang tính thích nghi cao như: vị tha (altruism),
thăng hoa (sublimation)” [24].
Như vậy, cơ chế phòng vệ là một cách để con người ứng phó với lo âu, giảm
căng thẳng và phục hồi lại trạng thái thăng bằng cảm xúc. Cơ chế phòng vệ thường
xuất hiện ở cấp độ vô thức chủ thể, nói đúng hơn là cái Tôi vận dụng để gạt bỏ, che
dấu, làm dịu đi tình trạng căng thẳng, khó chịu do một ý nghĩ, một ham muốn khó
chấp nhận. Con người sử dụng cơ chế phòng vệ như một cách để làm dịu đi lo âu.
Cơ chế phòng vệ thường được sử dụng riêng lẽ hay kết hợp với một số cơ chế
phòng vệ khác. Cơ chế phòng vệ được sử dụng ở những mức độ khác nhau và tuỳ
thuộc vào việc chúng phù hợp như thế nào với những nhu cầu của con người.
51
TIỂU KẾT
Trẻ lao động sớm là những trẻ dưới 15 tuổi, đang trực tiếp tham gia lao động
để nuôi sống bản thân và đóng góp vào việc nuôi sống gia đình.
Áp lực tâm lý là những nhân tố tạo sức ép cho con người trong quá trình sống,
làm cho con người có những căng thẳng về mặt tâm lý, gây cản trở hoạt động, ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người. Áp lực tâm lý được
biểu hiện thông qua các mặt điển hình như có cảm xúc buồn bã, thất vọng, lo lắng,
sợ hãi, trong tư duy thì mất tập trung, giảm trí nhớ, bị lẫn lộn dẫn tới những hành vi
chủ yếu như: dễ cáu giận, khó ngủ, ăn không ngon, có thể sử dụng những chất kích
thích như: uống rượu, bia, hút thuốc lá để giải tỏa áp lực bất chấp những ảnh hưởng
về mặt sức khỏe.
Biểu hiện áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm cũng có những biểu hiện như
trên. Tuy nhiên do đặc điểm tâm lý lứa tuổi và đặc điểm đặc trưng của hoàn cảnh
sống nên những biểu hiện các của em được thể hiện đặc trưng hơn gắn với những
hoạt động như làm việc. Đặc biệt hơn khi xem xét biểu hiện áp lực tâm lý của trẻ
lao động sớm không thể bỏ qua sự tương tác và ảnh hưởng của mặt đời sống tình
cảm bạn bè, gia đình và mối quan hệ với những người xung quanh.
Ứng phó tâm lý là quá trình xử lý các đòi hỏi bên trong hoặc bên ngoài được
tri giác thấy là gây ra căng thẳng hoặc vượt quá khả năng sẵn có của con người. Trẻ
vị thành niên thường có ba kiểu ứng phó cơ bản: ứng phó mang sắc thái tình cảm;
ứng phó trong suy nghĩ và ứng phó bằng hành động. Mỗi nhóm ứng phó có cách
thức biểu hiện khác nhau.
52
Chương 2. THỰC TRẠNG ÁP LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG
PHÓ CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM
2.1. Mô tả về khách thể nghiên cứu thực trạng
Bảng 2.1: Mô tả về khách thể nghiên cứu thực trạng
Tỉ lệ Tổng
Đặc điểm Tần số % Tần số Tỉ lệ %
Nam 43.9 50
GIỚI 114 100 Nữ 56.1 64
6 đến 11 tuổi 36.0 41
ĐỘ TUỔI 114 100 12 đến 15 tuổi 64.0 73
Quận 1 30.7 35
NƠI Ở 114 100 Quận 8 36.0 41
Quận Tân Bình 33.3 38
Vì gia đình nghèo 76.3 87
LÝ DO ĐI 114 100 7.0 8 Buồn chuyện gia đình
LÀM Thích tự lập 16.7 19
Cùng cha mẹ 57.9 66
SỐNG CÙNG 10.5 12 Chỉ sống với mẹ
AI 114 100 16.7 19 Chỉ sống với cha
14.9 17 Không sống cùng cha mẹ
56.1 64 Thành phố
QUÊ QUÁN 114 100 43.9 50 Tỉnh khác
9.6 11 Chưa từng đi học
50.0 57 Chưa học xong Tiểu học
TRÌNH ĐỘ 114 100 9 Học xong Tiểu học 7.9
Chưa học xong Trung học cơ 25 21.9 sở
Học xong Trung học cơ sở 12 10.5
53
Có thể mô tả những đặc điểm của khách thể nghiên cứu như sau:
- Mẫu khách thể nghiên cứu gồm có 114 trẻ lao động sớm bao gồm: 35 trẻ lao
động ở khu vực quận 1 (30.7%), 41 trẻ ở khu vực quận 8 (36%) và 38 trẻ ở khu vực
quận Tân Bình (33.3%). Trong đó trẻ lao động nam là 50 (chiếm 43.9%) và 64 trẻ
lao động nữ (chiếm 56.1%), trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi là 41 em (chiếm
36%), còn lại là trẻ từ 12 đến 15 tuổi là 73 em (chiếm 64%).
- Về thông tin cá nhân như sau: số trẻ lao động sớm hiện đang sống với cha
mẹ là 66 em (chiếm 57.9%), chỉ sống với mẹ là 12 em (chiếm 10.5%), chỉ sống với
cha là 19 em (chiếm 16.7%) và số trẻ lao động sớm hiện không sống cùng cha mẹ là
17 em (chiếm 14.9%). Trong số những em này, có 64 em (56.1%) ở thành phố và
50 em (43.9%) đến từ các tỉnh thành khác trong cả nước.
- Về trình độ của trẻ: có 11 em (9.6%) chưa từng được đi học, 57 em (50%)
chưa học xong tiểu học, 9 em (7.9%) đã học xong tiểu học, 25 em (21.9%) chưa học
xong Trung học cơ sở và 12 em (10.5%) đã học xong Trung học cơ sở.
- Lý do các em đi lao động sớm như sau: số em đi làm vì hoàn cảnh gia đình
khó khăn là 87 em (76.3%), số em đi làm vì buồn chuyện gia đình là 8 em (chiếm
7%), còn lại là 19 em (chiếm 16.7%) đi lao động sớm là do các em thích độc lập, tự
do.
Nhìn chung, mẫu nghiên cứu được lựa chọn mang tính chất khách quan, ngẫu
nhiên và có thể tin tưởng trong đề tài nghiên cứu này.
2.2. Mô tả cách thức nghiên cứu đề tài
2.2.1. Công cụ nghiên cứu
Công cụ nghiên cứu là một phiếu thăm dò gồm ba phần: lời chào và giới thiệu
mục đích nghiên cứu; phần thông tin cá nhân và cuối cùng là nội dung câu hỏi.
Phần nội dung câu hỏi được cấu trúc ẩn gồm ba phần:
Phần thứ nhất: Khảo sát áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm. Phần này được
xây dựng nhằm đánh giá mức độ gặp áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm và các
dạng áp lực tâm lý mà trẻ đang gặp phải. Phần này gồm 6 câu hỏi (từ câu 5 đến câu
10), với nội dung nhằm tìm hiểu mức độ tự đánh giá, mức độ hài lòng với cuộc sống
hiện tại, mức độ xảy ra áp lực và các dạng áp lực mà trẻ lao động sớm đang gặp phải.
54
Các câu 5, 6, 7, 9, 10 , mỗi câu có 5 lựa chọn và trẻ chỉ chọn duy nhất một lựa
chọn. Riêng câu 8 trẻ sẽ xếp thứ hạng các dạng áp lực thường gặp theo thứ tự giảm
dần (1: gặp thường xuyên nhất 7: ít gặp nhất).
Phần thứ hai: Khảo sát ảnh hưởng của áp lực tâm lý đến sức khoẻ, cảm xúc
và hành vi của trẻ lao động sớm. Phần này gồm một câu hỏi số 11, trẻ trả lời sẽ
chọn 1 trong 5 mức độ: rất thường xuyên, thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi và
không bao giờ.
Phần thứ ba: Phần này gồm bốn câu hỏi (từ câu 12 đến câu 15) nhằm khảo
sát cách ứng phó với áp lực tâm lý mà trẻ lao động sớm thường sử dụng.
Câu 12, trẻ xếp thứ hạng các cách ứng phó thường sử dụng theo thứ tự giảm
dần (1: thường xuyên sử dụng nhất 3: ít sử dụng nhất). Các câu 13, 14 trẻ trả lời
sẽ chọn 1 trong 5 mức độ: rất thường xuyên, thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi
và không bao giờ. Câu 15 khảo sát cách ứng phó của trẻ lao động sớm qua sáu tình
huống, mỗi tình huống có bảy lựa chọn, trẻ chỉ được lựa chọn duy nhất một lựa
chọn.
2.2.2. Cách tính điểm
Người nghiên cứu triển khai tính điểm tręn phần thứ hai của bảng hỏi. Căn cứ
vào điểm trung bình các mức độ ở mỗi câu, các câu 5, 6, 7, 9, 10, 11, 13 và 14 được
Bảng 2.2. Cách tính điểm cho mỗi câu 5, 6, 7, 9, 10, 11, 13, 14
tính điểm như sau:
MỨC ĐỘ ĐTB Câu 6, 7, 9, 11, 13, 14 Câu 5 Câu 10
Rất nặng nề - Hoàn toàn Hoàn toàn sai 4.51 – 5 Không bao giờ không hài lòng
3.51 – 4.5 Hiếm khi Không tốt - Ít hài lòng Không đúng
Bình thường - Tương đối Lưỡng lự 2.51 – 3.5 Thỉnh thoảng hài lòng
1.5 – 2.5 Thường xuyên Tốt - Hài lòng Đúng
1 – 1.5 Rất thường xuyên Rất tốt - Rất hài lòng Hoàn toàn đúng
55
Câu 8, 12 và 15 lựa chọn thứ hạng nào sẽ được cho điểm theo đúng thứ hạng
đó (thứ hạng 1: 1 điểm thứ hạng 6: 6 điểm).
2.2.3. Xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để xử lý kết quả. Các câu đều được
thống kê tần số và tính tỉ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, sử dụng
kiểm nghiệm T, ANNOVA, Chi bình phương để so sánh sự khác biệt giữa mức độ
gặp áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý theo các phương diện: giới
tính, độ tuổi, quê quán, nơi ở, trình độ, lý do đi làm và hiện tại trẻ đang sống cùng
ai.
2.3. Mức độ hài lòng về cuộc sống hiện tại của trẻ lao động sớm
2.3.1. Thực trạng mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ lao động sớm
Trong cuộc sống khi giải quyết công việc nhất định hoặc khi giao tiếp với
người khác, có thể xuất hiện những khó khăn bên ngoài, từ phía đối tượng hoặc nảy
sinh từ các điều kiện khách quan. Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp xuất hiện
các khó khăn bên trong, được nảy sinh từ các trạng thái tâm lý cá nhân khi đối mặt
với đối tượng hoạt động hoặc giao tiếp. Nếu trạng thái tích cực sẽ tạo ra hưng phấn
tâm lý, nhờ đó cá nhân sẽ đạt được hiệu quả cao trong hoạt động. Ngược lại, nếu
trạng thái tiêu cực, sẽ tạo ra những áp lực, rào cản tâm lý làm ảnh hưởng đến hoạt
động và phát triển cá nhân. Vì vậy, sự xuất hiện những trạng thái tâm lý tiêu cực sẽ
là một chỉ báo sự tồn tại hay không của những áp lực tâm lý. Đó là lý do tại sao
chúng tôi quan tâm tới trạng thái tâm lý của trẻ lao động sớm thông qua việc tìm
hiểu mức độ hài lòng với cuộc sống hiện tại của trẻ. Kết quả được thể hiện ở bảng
2.3.
Nhìn vào bảng 2.3 có thể thấy, số trẻ lao động sớm được khảo sát có cuộc
sống tốt chiếm tỷ lệ rất nhỏ (8.8%), đặc biệt không có trẻ nào cho rằng mình cuộc
sống rất tốt. Số còn lại (91.2%) cuộc sống còn khó khăn, trong đó có tới 21.1% trẻ
có cuộc sống không tốt, nặng nề, đau khổ. Tương ứng với điều này, chỉ có 19.3%
trẻ hài lòng với cuộc sống hiện tại, còn lại hơn 80.7% trẻ không hài lòng với cuộc
sống ở các mức độ khác nhau. Trong đó có tới 17.5% trẻ “hoàn toàn không hài
56
lòng”. Những trẻ này có nguy cơ cao gặp nhiều áp lực tâm lý trong cuộc sống, cần
Bảng 2.3: Mức độ hài lòng về cuộc sống hiện tại
đến sự giúp đỡ kịp thời của những người xung quanh.
Tỷ lệ Tỷ lệ Tự đánh giá Mức độ hài lòng về cuộc
về cuộc sống Tần số % sống Tần số %
Rất tốt 0 0.0 Rất hài lòng 0.0 0
Tốt 10 8.8 Hài lòng 19.3 22
Bình thường 80 70.2 Tương đối hài lòng 49.1 56
Không tốt 15 13.2 Ít hài lòng 14.0 16
Rất nặng nề 9 7.9 Hoàn toàn không hài lòng 17.5 20
Tổng 114 100.0 Tổng 114 100.0
Phỏng vấn em V.B.Đ (quận Tân Bình) về cuộc sống hiện tại, em cho biết: “Em
cảm thấy cuộc sống của em hiện nay rất bình thường, đôi khi gặp nhiều khó khăn.
Em mong muốn sau này sẽ có được cuộc sống tốt hơn, đỡ vất vả hơn bây giờ”. Em
H.T (quận 1) cũng cho chúng tôi biết thêm: “Nhiều lúc em thấy cuộc sống của em
rất nặng nề. Em muốn được thay đổi cuộc sống hiện nay”.
Bảng 2.4: So sánh tự đánh giá về cuộc sống trên một số phương diện
2.3.2. So sánh tự đánh giá về cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một số phương diện
Kiểm nghiệm Phương diện so sánh
Giới tính Sig. 0.011
Độ tuổi 0.002
Nơi ở 0.002
Lý do đi làm 0.001
Nam Nữ 6 đến 11 tuổi 12 đến 15 tuổi Quận 1 Quận 8 Quận Tân Bình Vì gia đình nghèo Buồn chuyện gia đình Thích tự lập Tần số 50 64 41 73 35 41 38 87 8 19 ĐTB 3.24 3.17 3.24 3.18 3.51 2.90 3.24 3.09 4.00 3.37
57
* Xét theo giới tính
Kết quả từ bảng 2.4 và kết quả kiểm nghiệm T cho Sig = 0.011< 0.05, cho
phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ nam và trẻ nữ trong mức độ tự đánh
giá về cuộc sống hiện tại. Trong khi điểm trung bình của trẻ nam là 3.24 thì trẻ nữ
chỉ có 3.17, như vậy trẻ nữ cho rằng mình có cuộc sống hiện tại tốt hơn trẻ nam.
Tuy nhiên, cả hai mức điểm trung bình này đều nằm trong khoảng bình thường cho
thấy sự khác biệt giữa hai nhóm trẻ này trong tự đánh giá về cuộc sống hiện tại là
không cao.
* Xét theo độ tuổi
Số liệu ở bảng 2.4 cho thấy kết quả kiểm nghiệm T so sánh mức độ tự đánh
giá cuộc sống của trẻ lao động sớm ở hai nhóm tuổi cho ra Sig = 0.002 < 0.05. Như
vậy, có sự khác biệt đáng kể về tự đánh giá cuộc sống giữa hai độ tuổi mà chúng tôi
khảo sát và sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê
Mặt khác, nếu so sánh điểm trung bình thì trong khi điểm trung bình của nhóm
trẻ từ 12 đến 15 tuổi là 3.18 thì điểm trung bình của nhóm trẻ từ 6 đến 11 tuổi lên
tới 3.24 cho thấy sự chênh lệch ở đây lên tới 0.06. Điều này cũng nói lên rằng trẻ từ
12 đến 15 tuổi tự đánh giá cuộc sống tốt hơn so với trẻ trong độ tuổi 6 đến 11 tuổi.
* Xét theo nơi ở
Có sự khác biệt khá lớn trong tự đánh giá về cuộc sống hiện tại của trẻ lao
động sớm tại các quận. Khi tiến hành kiểm nghiệm từng đôi một giữa các quận,
chúng tôi nhận thấy rằng có sự khác biệt rõ nhất trong cuộc sống ở hai quận là quận
1 và quận 8 (Sig = 0.000). Trong đó, trẻ lao động sớm ở quận 8 nhận thấy mình có
cuộc sống tốt hơn (ĐTB = 2.90) so với trẻ ở quận 1 (ĐTB = 3.51). Điều này có thể
do một trong những nguyên nhân là tại quận 1 chi phí sinh hoạt cũng như sự cạnh
tranh gắt gao hơn rất nhiều so với quận 8 và quận Tân Bình. Trong quá trình làm
việc với nhóm trẻ ở quận 1, chúng tôi thấy buổi trưa các em thường xuyên ăn mì
gói, cơm chay ở chùa hoặc ăn cùng “cô Đào” (một phụ nữ bán nước trên vỉa hè,
thương các em nên hay nấu nhiều đồ ăn mang theo cho trẻ ăn cùng, ngược lại các
em cũng hay giúp đỡ cô những việc vặt), chứ không dám mua cơm ăn tại quận 1.
58
Cô Đào cũng chia sẻ thêm với chúng tôi: “chịu khó ăn đỡ bữa trưa như vậy, rồi
chiều về nấu ăn, chứ ở đây hơn 20 ngàn một hộp cơm, tiền đâu mà ăn con. Bình
thường cô rảnh, cô nấu thêm nhiều đồ ăn một chút, tụi nó (trẻ lao động sớm) chỉ
cần ra mua thêm năm ngàn cơm thêm về là ăn no rồi. Bữa nào cô bận thì cô cháu
cùng ăn mì gói”. Điều này cũng cho thấy chi phí đắt đỏ ở quận 1 đã làm cho cuộc
sống của các em khó khăn hơn rất nhiều.
* Xét theo lý do đi làm
Trong số sáu lý do mà chúng tôi đưa ra để tìm hiểu nguyên nhân vì sao các em
đi lao động sớm, thì trẻ được khảo sát chủ yếu tập trung vào ba vấn đề: Vì gia đình
nghèo, buồn chuyện gia đình và thích tự lập.
Dùng kiểm nghiệm Anova để so sánh giữa mức độ tự đánh giá về cuộc sống
hiện tại của trẻ lao động sớm trên phương diện lý do mà các em đi làm sớm, chúng
tôi nhận thấy rằng có sự khác biệt rất rõ giữa trẻ đi làm vì gia đình nghèo so với hai
lý do còn lại (Sig.= 0.001).
So sánh điểm trung bình ta thấy, trong ba nhóm trẻ đi làm vì ba lý do khác
nhau, thì nhóm trẻ đi làm vì gia đình khó khăn có điểm trung bình là 3.09, nhóm trẻ
đi làm vì thích tự lập là 3.37 và cao nhất là nhóm trẻ đi làm vì buồn chuyện gia đình
là 4.00. Điều này cho thấy trẻ đi làm vì buồn chuyện gia đình tự đánh giá về cuộc
sống khó khăn nhất, tiếp đến là vì trẻ thích tự lập và cuối cùng là trẻ đi làm vì gia
đình khó khăn. Điều này có thể giải thích, trẻ đi làm vì buồn chuyện gia đình ngoài
sống thiếu thốn về mặt vật chất còn chịu áp lực nặng nề về mặt tinh thần khiến các
em cảm thấy cuộc sống nặng nề hơn.
Mặt khác, ta thấy sự chênh lệch điểm trung bình giữa nhóm cao nhất và nhóm
thấp nhất lên tới 0.91 chứng tỏ rằng có sự khác biệt khá lớn về mức độ tự đánh giá
cuộc sống hiện tại của hai nhóm trẻ này.
Trong quá trình kiểm nghiệm, chúng tôi cũng nhận thấy không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tự đánh giá cuộc sống với quê quán, trình độ học
vấn và việc các em đang sống cùng ai.
59
2.3.3. So sánh mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một số
phương diện
* Xét theo nơi ở
Số liệu ở bảng trên cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa mức độ hài lòng
trong cuộc sống của trẻ lao động sớm ở ba quận (Sig.= 0.000). Tương ứng với cảm
nhận về cuộc sống, mức độ hài lòng của trẻ ở quận 8 là cao nhất (ĐTB = 2.78), thấp
Bảng 2.5: So sánh tự đánh giá về cuộc sống của trẻ lao động sớm
trên một số phương diện
nhất là mức độ hài lòng của trẻ lao động sớm ở quận 1 (ĐTB = 3.74).
Phương diện so sánh Tần số ĐTB Sig.
6 đến 11 tuổi 41 2.78
Độ tuổi 0.000 12 đến 15 tuổi 73 3.59
Quận 1 35 3.74
Nơi ở 0.000 Quận 8 41 2.78
Quận Tân Bình 38 3.45
* Xét theo độ tuổi
Số liệu ở bảng 2.5 cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa trẻ ở hai nhóm độ tuổi
khác nhau trong mức độ hài lòng với cuộc sống hiện tại (Sig.= 0.000< 0.05). So
sánh điểm trung bình ta thấy trẻ trong độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi ít hài lòng hơn
(ĐTB = 3.59) so với trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi (ĐTB= 2.78) và sự chênh lệc
này là khá lớn (0.81). Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này có thể giải thích là trẻ
từ 12 đến 15 tuổi là lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổi dậy thì, các em có sự ý thức về nhu
cầu và yêu cầu cao với cuộc sống, với bản thân hơn so với lứa tuổi nhi đồng trước
đó.
Số liệu kiểm nghiệm cũng cho phép chúng tôi đưa ra kết luận không có sự
tương quan có ý nghĩa giữa mức độ hài lòng với cuộc sống hiện tại với giới tính,
quê quán, trình độ học vấn và việc các em đang sống cùng ai.
60
2.4. Thực trạng áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
2.4.1. Mức độ áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ lao động sớm gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài
những thiếu thốn về vật chất, trẻ lao động sớm phải đối mặt với rất nhiều áp lực tâm
Bảng 2.6: Mức độ áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
lý. Điều đó được thể hiện rõ trong bảng dưới đây:
Mức độ ĐTB Tần số Tỉ lệ % Độ lệch chuẩn
2.40 0.828
17 42 47 8 114 14.9 36.8 41.2 7.0 100.0 Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Tổng
Bảng 2.6 cho thấy mức độ trẻ lao động sớm gặp phải các áp lực tâm lý trong
cuộc sống là khá lớn. Số liệu cho thấy điểm trung bình của trẻ lao động sớm ở nội
dung này là 2.40. Điểm trung bình này ứng với mức thường xuyên trong thang điểm
chuẩn cho phép chúng tôi kết luận rằng trẻ lao động sớm thường xuyên gặp phải áp
lực tâm lý trong cuộc sống. Xem xét tần số và tỷ lệ trẻ chọn các mức độ gặp áp lực
trong cuộc sống ta cũng có thể nhận thấy đại đa số trẻ lao động sớm cho rằng mình
rất thường xuyên và thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống (chiếm hơn 50% mẫu
nghiên cứu), chỉ có 7% trẻ cho rằng mình hiếm khi gặp áp lực tâm lý và không có
trẻ nào không bao giờ gặp áp lực. Đây là những con số phản ánh sự căng thẳng quá
mức của trẻ lao động sớm đối với các vấn đề trong cuộc sống. Với những trẻ “rất
thường xuyên” gặp áp lực tâm lý rất cần sự trợ giúp kịp thời và đúng đắn của bạn
bè, gia đình và xã hội, nếu không thì sự căng thẳng này có thể phát triển tới mức trở
thành bệnh lý, dẫn tới trầm cảm, khi đó hậu quả thật khó lường. Nhưng trách nhiệm
đặt ra là ai sẽ là người giúp đỡ các em trong trường hợp này, ai sẽ là người sẵn sàng
quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với các em những vấn đề này? Khi các em thực sự
cần sự nâng đỡ về mặt tinh thần các em phải tìm đến đâu? Đây thực sự là vấn đề
61
cần được quan tâm đúng mức.
Bảng 2.7: Các dạng áp lực tâm lý ở trẻ lao động sớm
2.4.2. Các dạng áp lực tâm lý ở trẻ lao động sớm
Các dạng áp lực Điểm trung bình Xếp hạng
Công ăn việc làm 1 2.45
Chỗ ở 2.71 2
Vấn đề an toàn 6 3.49
Quan hệ bạn bè 3 2.73
Quan hệ với cha mẹ 4 2.84
3.35 5 Quan hệ với mọi người xung quanh
Nhìn chung, trẻ lao động sớm gặp áp lực tâm lý ở rất nhiều các lĩnh vực với
các mức độ khác nhau. Kết quả điểm trung bình của các dạng áp lực xoay quanh
con số 3.0 ứng với mức thỉnh thoảng. Điểm trung bình thấp nhất là 2.45 và điểm
trung bình cao nhất là 3.49 đều ứng với mức trung bình cho thấy các dạng áp lực
đều xảy ra ở mức thỉnh thoảng. Cụ thể, ba dạng áp lực tâm lý mà trẻ lao động sớm
gặp nhiều nhất trong cuộc sống là áp lực liên quan tới công việc (ĐTB = 2.45, nằm
trong mức thường xuyên, tiệm cận với mức thỉnh thoảng), tiếp theo là dạng áp lực
liên quan đến chỗ ở (ĐTB= 2.71) và dạng áp lực xếp ở vị trí thứ ba là áp lực liên
quan đến quan hệ với bạn bè (ĐTB= 2.73). Dạng áp lực liên quan đến vấn đề quan
hệ với cha mẹ tuy chiếm thứ hạng không cao nhưng cũng là khía cạnh gây nhiều áp
lực tâm lý cho trẻ lao động sớm mà chúng tôi khảo sát. Hai dạng áp lực còn lại
tương ứng với vị trí thứ năm và vị trí thứ sáu là áp lực liên quan tới vấn đề quan hệ
với mọi người xung quanh (ĐTB= 3.35, nằm trong khoảng thỉnh thoảng) và dạng áp
lực liên quan tới vấn đề an toàn (ĐTB= 3.49, nằm trong khoảng hiếm khi) cho thấy
hai dạng áp lực này ít xảy ra trong đời sống của trẻ lao động sớm.
Điều này cũng tương đối phù hợp với kết quả mà chúng tôi thu được khi yêu
cầu các em sắp xếp thứ hạng các yếu tố gây áp lực cho các em trong cuộc sống, với
mức điểm 1: nhiều nhất, và 6: ít nhất. Kết quả cho thấy hai dạng áp lực được các em
62
xếp ở hai vị trí đầu tiên vẫn là áp lực liên quan đến công việc (ĐTB = 2.38) và áp
lực liên quan đến chỗ ở (ĐTB = 2.68). Hai áp lực liên quan đến quan hệ với cha mẹ
và quan hệ với bạn bè chiếm vị trí thứ ba và thứ tư. Hai dạng áp lực được xếp ở vị
trí cuối cùng vẫn là áp lực trong quan hệ với mọi người xung quanh và liên quan
Bảng 2.8: Thứ hạng các khía cạnh gây áp lực tâm lý
đến vấn đề an toàn. Các số liệu cụ thể được phản ánh trong bảng dưới đây:
VĐ an QH cha QH mọi Việc làm Chỗ ở Bạn bè toàn mẹ người XQ Thứ hạng Tần Tần Tần Tần Tần Tần % % % % % % số số số số số số
Thứ hạng 1 3.5 0 0 25 21.9 3 2.6 4 66 57.9 22 19.3
Thứ hạng 2 8 7.0 7.0 16 14.0 15 13.2 17 14.9 8 42 36.8
Thứ hạng 3 12 10.5 23 20.2 25 21.9 36 31.6 14 12.3 13 11.4
Thứ hạng 4 5 4.4 8 7.0 45 39.5 26 22.8 20 17.5 14 12.3
Thứ hạng 5 5 4.4 15 13.2 14 12.3 25 21.9 33 28.9 19 16.7
Thứ hạng 6 18 15.8 4 3.5 18 15.8 11 9.6 7 6.1 48 42.1
114 100 114 100 114 100 114 100 114 100 114 100 Tổng
Phân tích từng dạng áp lực cụ thể cho thấy có thể rút ra những nhận xét rất thú vị:
* Vấn đề công việc
Công việc là mối quan tâm hàng đầu đối của trẻ lao động sớm. Trở thành một
người lao động đóng góp một phần lớn thu nhập vào việc nuôi sống bản thân và gia
đình khi chưa thực sự trưởng thành, nhiệm vụ của các em càng nặng nề, vất vả hơn.
Trong khi các bạn cùng trang lứa đến trường học tập và thụ hưởng những điều tốt
đẹp mà xã hội dành cho các em thì trẻ lao động sớm thường xuyên phải đối mặt với
vấn đề công ăn việc làm. Với những đòi hỏi từ nhu cầu vật chất của bản thân và gia
đình buộc các em phải đưa công việc trở thành mối quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên,
chưa thực sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tâm lý cũng như những kỹ năng làm
việc khiến các em cảm thấy khó khăn khi đáp ứng các yêu cầu của công việc. Chính
63
vì vậy, công việc trở thành áp lực thường xuyên của các em. Có tới 66 em tương
đương với 57.9% (chiếm hơn ½ mẫu nghiên cứu) trẻ lao động sớm xếp việc làm ở
thứ hạng đầu tiên, 8 trẻ chiếm 7% xếp ở vị trí thứ hai và 12 trẻ chiếm 10.5% xếp ở
vị trí thứ ba trong số những áp lực mà các em gặp phải trong cuộc sống. Điều này
có thể cho phép chúng tôi kết luận công việc đã thực sự trở thành gánh nặng hàng
đầu gây ra những mệt mỏi, căng thẳng cho trẻ lao động sớm.
* Vấn đề chỗ ở
Có một chỗ ở tốt, một môi trường sống thoải mái là một trong những tiêu chí
đánh giá chất lượng cuộc sống. Đối với những trẻ em có hoàn cảnh bình thường thì
vấn đề này không phải là một vấn đề có thể gây áp lực tâm lý cho các em. Nhưng
đối với trẻ lao động sớm thì đây trở thành một trong những dạng áp lực mà các em
gặp rất nhiều trong cuộc sống. Điều này được thể hiện rõ qua bảng số liệu 2.7 ở
trên. Có tới 22 em chiếm 19.3% trẻ lao động sớm xếp dạng áp lực liên quan đến chỗ
ở ở vị trí đầu tiên, 42 em chiếm 36.8% trẻ xếp ở vị trí thứ hai, 23 em chiếm 20.2%
trẻ xếp ở vị trí thứ ba trong số sáu dạng áp lực mà các em từng gặp trong cuộc sống
hàng ngày. Đây là những con số đáng cảnh báo cho xã hội. Trò chuyện với các em
lao động sớm tại quận 1 chúng tôi đựợc biết, trừ những em sống tại thành phố với
cha mẹ (ngay cả những em này điều kiện có tốt hơn một chút nhưng vẫn phải ở
trong những ngôi nhà chật chội, thiếu thốn), còn lại đa số những em từ tỉnh khác
đến quận 1 kiếm sống đều phải ở trong những ngôi nhà rất xập xệ, thậm chí là nhà
hoang. Trước đây các em sống trong một ngôi nhà hoang trong diện giải tỏa tại
quận 1, mấy tháng trước ngôi nhà đó đã bị đập bỏ để xây dựng lại, các em dắt díu
nhau tìm được một ngôi nhà hoang trong diện giải tỏa khác dưới quận 2, hàng ngày
đi bộ hoặc đạp xe lên quận 1 buôn bán. Một ngày nào đó nếu ngôi nhà dưới quận 2
lại bị đập bỏ để xây dựng lại, các em sẽ về đâu? Khi nào mới có một ngôi nhà, một
mái ấm thực sự cho các em trở về?
* Vấn đề quan hệ bạn bè
Bảng số liệu 2.8 cho thấy, có 16 em chiếm 14% trẻ lao động sớm xếp áp lực
liên quan đến vấn đề quan hệ bạn bè ở vị trí thứ hai, 36 em chiếm 31.6% trẻ xếp áp
64
lực liên quan đến vấn đề quan hệ bạn bè ở vị trí thứ ba trong số các áp lực mà các
em gặp phải hàng ngày.
Trong lứa tuổi thiếu niên, vấn đề kết bạn là một trong những nhu cầu rất lớn.
Nếu trưởng thành trong môi trường học đường, cơ hội để các em kết bạn và tìm cho
mình được những người bạn thân là rất dễ dàng. Tuy nhiên, mất nhiều thời gian vào
việc làm cộng với những tự ti mặc cảm về hoàn cảnh, trẻ lao động sớm thường thu
mình, ít kết bạn và ít có những người bạn thân để chia sẻ, nhất là những trẻ không
có cùng hoàn cảnh với các em. Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy trẻ lao động sớm
rất ít có bạn thân. Đa số các trẻ lao động sớm khi chúng tôi hỏi “em có bạn thân
không cùng hoàn cảnh với mình không?” thì các em đều trả lời không hoặc rất ít.
Em H.N (15 tuổi, quận Tân Bình) cho chúng tôi biết: “Em có bạn thân, nhưng các
bạn ấy cũng nghỉ học đi làm sớm như em. Còn các bạn khác (không cùng hoàn
cảnh) thì không”. Chúng tôi hỏi thêm: “Thế em có thử tìm hiểu xem tại sao em lại
không có bạn thân khác hoàn cảnh không?”, em trầm tư một chút rồi trả lời: “Có lẽ
do em nghèo, các bạn không muốn chơi với em mà em cũng không muốn chơi với
các bạn ấy”. Đây là điều làm ta cảm thấy ray rứt nhất khi tiếp xúc với cô bé H.N
này. Cuộc sống thiếu thốn đã lấy đi của em một trong những nhu cầu, một trong
những niềm vui của tuổi niên thiếu là có được một tình bạn không phân biệt hoàn
cảnh, không phân biệt giàu nghèo để có thể chia sẻ mọi buồn, vui trong cuộc sống.
Ba dạng áp lực còn lại lần lượt được các em lựa chọn xếp hạng ở vị trí thứ tư,
thứ năm và thứ sáu là áp lực liên quan đến vấn đề an toàn (39.5%), áp lực liên quan
đến quan hệ với cha mẹ (28.9%) và áp lực liên quan đến mối quan hệ với những
người xung quanh (42.1%). Đây là những dạng áp lực có xảy ra trong cuộc sống
của trẻ lao động sớm nhưng không phải là những áp lực xảy ra ở mức độ thường
xuyên.
2.4.3. Những áp lực tâm lý cụ thể của trẻ lao động sớm
Sau khi khảo sát về các dạng áp lực tâm lý cơ bản mà trẻ lao động sớm đang
gặp phải, người nghiên cứu đi sâu vào khảo sát về mức độ của các áp lực cụ thể ở
từng lĩnh vực, từng yếu tố. Chúng tôi liệt kê ở mỗi lĩnh vực một số những áp lực cụ
65
thể và yêu cầu các em lựa chọn mức độ thường xuyên những áp lực mà các em gặp
phải. Kết quả tìm hiểu vấn đề này được trình bày tại bảng 2.9 dưới đây.
Mỗi áp lực cụ thể trong từng dạng áp lực rất phong phú. Quan sát điểm trung
bình từng biểu hiện cụ thể trong bảng kết quả 2.9 ta thấy: với 21 biểu hiện được đưa
ra thì có 5 biểu hiện được trẻ lao động sớm chọn ở mức thường xuyên, 14 biểu hiện
được chọn ở mức thỉnh thoảng và 2 biểu hiện còn lại được chọn ở mức hiếm khi.
Hai biểu hiện áp lực rất ít xảy ra với trẻ lao động sớm là: sợ mắc bệnh xã hội (ĐTB
= 4.29) và bị đánh đập (ĐTB = 4.07). Đây là điều rất đáng mừng, chứng tỏ trong số
những trẻ mà chúng tôi tiến hành khảo sát vấn đề trẻ bị ngược đãi và nguy cơ mắc
Bảng 2.9: Những áp lực cụ thể trong từng dạng áp lực của trẻ lao động sớm
bệnh xã hội không phải là quá trầm trọng.
Vấn đề Biểu hiện ĐTB Thứ hạng
Vấn đề việc làm
Vấn đề chỗ ở Vấn đề an toàn
Vấn đề bạn bè
Vấn đề quan hệ với cha mẹ
41 38 53 12 8 3 54 16 16 24 24 6 21 24 41 30 35 22 14
tin 3.48 29 Vấn đề quan hệ với mọi người 2.72 Không có việc làm 2.88 Tiền lương 2.68 Thời gian làm việc 3.70 Mối quan hệ với chủ 3.76 Mối quan hệ với khách hàng Mối quan hệ với các bạn làm cùng 3.51 2.72 Tiền nhà trọ 3.79 Chỗ ở không an toàn 3.90 Công an bắt trả về địa phương 3.19 Bị người khác bắt nạt 3.08 Đau ốm 4.29 Mắc bệnh xã hội 3.60 Không có bạn thân 3.50 Bạn bè chế giễu, coi thường 2.93 Cha mẹ lo lắng quá nhiều 3.33 Việc gửi tiền về cho cha mẹ 3.23 Nhớ gia đình 3.46 Cha mẹ không quan tâm Cha mẹ ghét bỏ 3.81 Không được yêu mến, tưởng Lựa chọn thường xuyên Tần số % 36 33.3 46.5 10.6 7.1 11.4 47.4 14 14 21 21 5.3 18.4 21.1 36 26.4 30.7 19.3 12.3 25.4 3 4 2 15 16 14 1 12 12 9 9 17 11 8 3 6 5 10 13 7
66
xung quanh Bị đánh đập 4.07 6 5.3 17
Trong 5 biểu hiện được lựa chọn ở mức thường xuyên được xếp thứ hạng cao
nhất, có ba biểu hiện trong vấn đề việc làm (ĐTB= 2.72, 2.88, 2.68), một biểu hiện
trong vấn đề chỗ ở (ĐTB= 2.72) và một biểu hiện trong vấn đề quan hệ với cha mẹ
(ĐTB= 2.93). Như vậy, áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm được thể hiện chủ yếu ở
ba lĩnh vực: việc làm, chỗ ở và quan hệ với cha mẹ. Kết quả này có phần tương
thích với kết quả đã được phân tích ở trên.
* Phân tích về các áp lực tâm lý được thể hiện trong vấn đề việc làm, các biểu
hiện cụ thể có các thứ hạng như sau: 3, 4, 2. Biểu hiện gây áp lực lớn nhất đến trẻ
lao động sớm là thời gian làm việc (ĐTB = 2.68, thứ hạng 2).
50
46.5
45
40
36
35
30
25
20
17.5
15
10
5 0
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Biểu đồ 2.1: Mức độ áp lực ở biểu hiện ở “thời gian làm việc”
Quan sát bảng số liệu 2.9 và biểu đồ 2.1, ta thấy lựa chọn của trẻ lao động sớm
chiếm tỷ lệ cao nhất rơi vào mức “thường xuyên”. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa
mức độ “thường xuyên” với so với mức độ “thỉnh thoảng” là không quá cách biệt.
67
Tỷ lệ trẻ hiếm khi và không bao giờ chịu áp lực từ việc “thời gian làm việc” là rất
thấp (chỉ chiếm 17.6%). Do không có trình độ chuyên môn và kỹ năng để làm
những công việc đòi hỏi kỹ thuật cao (tương ứng với mức lương cao và thời gian
làm việc ít), trẻ lao động sớm muốn đạt được mức lương đáp ứng được nhu cầu của
bản thân và gia đình buộc các em phải lựa chọn kéo dài thời gian và cường độ làm
việc. Chính vì thế, thời gian làm việc trở thành một áp lực rất lớn đối với trẻ lao
động sớm. Thời gian làm việc kéo dài đã lấy đi của các em cơ hội được nghỉ ngơi,
giải trí, giao lưu, tham gia các hoạt động xã hội khác, làm ảnh hưởng tới sự phát
triển tâm lý của các em. Em N.H.B.N (14 tuổi), phụ việc cho một quán nước sâm ở
quận Tân Bình chia sẻ với chúng tôi: “Hàng ngày, em làm việc từ 9 giờ sáng đến 10
giờ đêm, buổi trưa được nghỉ hai tiếng đồng hồ. Thời gian làm việc nhiều quá khiến
em không thể làm được bất cứ một công việc riêng nào”. Bạn “đồng nghiệp” của N
ở quán nước sâm là B.T.T.L (15 tuổi) cũng chia sẻ thêm với chúng tôi: “Có những
buổi làm việc xong, em cảm thấy mệt mỏi vô cùng”.
* Xét các biểu hiện trong yếu tố “chỗ ở”, ta thấy thứ hạng của chúng xếp ở các
vị trí: 1, 12. Đáng chú ý là biểu hiện “tiền nhà trọ” (có 54 em, chiếm 47.4%) đứng ở
vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng với điểm trung bình là 2.72.
Qua biểu đồ 2.2, ta thấy mức độ “thường xuyên” chiếm tỉ lệ rất cao (47.4%).
Mức độ “không bao giờ” chỉ chiếm khoảng 17%. Con số này rơi vào trường hợp
các em ở thành phố cùng với gia đình hoặc ở nhờ nhà người thân không mất tiền
nhà trọ. Với tình trạng “đất chật, người đông”, tỷ lệ người nhập cư cao như tại thành
phố Hồ Chí Minh, vấn đề chỗ ở trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Trong những
năm vừa qua, tiền thuê nhà trọ không ngừng tăng lên trong khi số tiền mà các em
kiếm được không quá nhiều, khiến việc chi trả tiền nhà trọ hàng tháng trở thành một
gánh nặng với trẻ lao động sớm. Em N.T.T (14 tuổi), bán thiệp tại quận 1, ngậm
ngùi nói với chúng tôi: “Buôn bán bây giờ chậm lắm cô ơi. Trong khi đó, hàng
tháng gia đình con phải trả gần 2 triệu tiền nhà cho 4 người ở, còn chưa tính điện,
nước nữa”.
68
50
47.4
45
40
35
30
27.2
25.4
25
20
15
10
5
0
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Biểu đồ 2.2: Mức độ áp lực ở biểu hiện ở “tiền nhà trọ”
* Ở các biểu hiện trong mối quan hệ với cha mẹ, các thứ hạng của chúng được
sắp xếp theo thứ hạng lần lượt là: 3, 6, 5, 10, 13. Điều đáng mừng là hai biểu hiện
tiêu cực trong mối quan hệ với cha mẹ là: “cha mẹ không quan tâm” và “cha mẹ
ghét bỏ” chiếm thứ hạng rất thấp (10 và 13), với điểm trung bình lần lượt là 3.46 và
3.81. Điều này chứng tỏ trẻ lao động sớm mà chúng tôi khảo sát vẫn nhận được sự
quan tâm, yêu thương của cha mẹ. Đây là một nguồn lực đáng ghi nhận để có thể
tác động làm giảm áp lực cho các em. Xếp thứ hạng cao nhất trong yếu tố quan hệ
với cha mẹ là biểu hiện “cha mẹ lo lắng quá nhiều” (thứ hạng 3). Hoàn cảnh khó
khăn không đủ khả năng nuôi dưỡng. phải để cho các con ra ngoài bươn chải kiếm
sống, nhất là những em từ vùng quê ra thành phố, lạ lẫm với mọi thứ xung quanh,
việc cha mẹ lo lắng quá nhiều cho các em cũng là điều dễ hiểu, thể hiện sự quan
tâm của cha mẹ đối với các em. Em V.B.Đ (12 tuổi), đánh giày tại quận Tân Bình
69
chia sẻ: “Mẹ em thường xuyên gọi điện cho em, lo lắng em ở trong này ăn uống
không đủ, bị ốm, rồi bị bắt nạt, sợ em bị bạn xấu rủ rê. Nhất là những lúc em bị
bệnh, mẹ em gọi điện rồi khóc suốt”. Một biểu hiện trong mối quan hệ với cha mẹ
xếp ở vị trí khá cao mà chúng tôi quan tâm đó là biểu hiện: “nhớ gia đình” ở thứ
hạng 5. Sớm rời khỏi sự bảo bọc của cha mẹ, việc các em thường xuyên xuất hiện
xúc cảm nhớ gia đình là điều bình thường trong sự phát triển tình cảm của các em.
Cậu bé đánh giày tại quận Tân Bình với biệt danh “Cu đen” quê ở Khánh Hòa nói
với chúng tôi: “Em nhớ nhà lắm. Nhất là những lúc bị bệnh, em thèm ăn cháo trắng
với đường do mẹ em nấu ở nhà”.
Như vậy, nếu xét trong từng nhóm yếu tố gây áp lực cho trẻ lao động sớm thì
nổi trội trong nhóm công ăn việc làm là biểu hiện về thời gian làm việc, có thứ hạng
cao nhất trong nhóm nơi ở là biểu hiện về tiền nhà trọ và cha mẹ quan tâm quá
nhiều, nhớ cha mẹ là những biểu hiện trong nhóm quan hệ với cha mẹ gây áp lực
nhiều nhất cho trẻ lao động sớm. Đây là những điểm nổi bật trong áp lực tâm lý của
trẻ lao động sớm.
2.4.4. So sánh thực trạng áp lực tâm lý trong cuộc sống của trẻ lao động sớm trên một
số phương diện
2.4.4.1. So sánh điểm trung bình về mức độ gặp áp lực trong cuộc sống theo các
Bảng 2.10: Kết quả so sánh điểm trung bình về mức độ gặp áp lực trong cuộc
sống theo các nhóm trẻ
nhóm trẻ lao động sớm
Nhóm trẻ ĐTB Kiểm nghiệm
Theo độ tuổi Theo nơi ở
Theo lý do đi làm T= 0.814 P= 0.000 F= 6.382 P= 0.002 F= 8.283 P= 0.000 6 đến 11 tuổi 12 đến 15 tuổi Quận 1 Quận 8 Quận Tân Bình Gia đình nghèo Buồn chuyện gia đình Thích tự lập 2.49 2.36 2.06 2.71 2.39 2.44 1.38 2.68
70
* Xét theo độ tuổi
Trị số T và P cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ lao động sớm trong độ
tuổi từ 6 đến 11 tuổi và trẻ trong nhóm từ 12 đến 15 tuổi. Điểm trung bình chứng tỏ
trẻ trong nhóm tuổi từ 12 đến 15 gặp áp lực nhiều hơn (ĐTB = 2.36) so với trẻ trong
nhóm tuổi 6 đến 11 (ĐTB = 2.49).
* Xét theo nơi ở:
Trị số P cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong mức độ gặp áp lực giữa trẻ lao
động sớm ở các quận. Dùng kiểm nghiệm Turkey để so sánh điểm trung bình từng
cặp, ta thấy sự khác biệt diễn ra ở quận 1 so với quận 8. Nhóm trẻ ở quận 1 gặp áp
lực thường xuyên hơn (ĐTB = 2.06) so với trẻ ở quận 8 (ĐTB = 2.71) và quận Tân
Bình (ĐTB = 2.39).
* Xét theo lý do đi làm
Trị số P nhỏ hơn 0.05 chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa giữa ba nhóm trẻ đi
làm theo các lý do khác nhau. So sánh điểm trung bình ta thấy khoảng cách giữa
điểm trung bình của nhóm trẻ đi làm vì lý do thích tự lập và gia đình nghèo cao hơn
rất nhiều so với nhóm trẻ đi làm vì buồn chuyện gia đình. Như vậy, nhóm trẻ đi làm
vì buồn chuyện gia đình chịu áp lực nhiều nhất trong ba nhóm trẻ trên.
Chúng tôi cũng tiến hành các kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác
biệt giữa các nhóm trẻ còn lại. Trị số P đều lớn hơn 0.05 chứng tỏ không có sự khác
biệt ý nghĩa về mức độ gặp áp lực ở các nhóm trẻ xét theo: quê quán, giới tính, trình
độ và việc các em đang sống cùng ai cũng không có sự khác biệt rõ rệt.
71
2.4.4.2. So sánh điểm trung bình về những áp lực cụ thể trong cuộc sống theo các
Bảng 2.11: Kết quả so sánh điểm trung bình những áp lực cụ thể trong cuộc
sống theo nhóm trẻ lao động sớm.
nhóm trẻ lao động sớm
Việc làm Chỗ ở
QH với bạn bè QH với cha mẹ
Phương diện so sánh ĐTB Sig. ĐTB Sig. ĐTB Sig. ĐTB Sig.
Độ tuổi 0.094 0.425 0.002
Quê quán 0.751 0.937 0.025 0.395 0.720
0.151 0.018 0.003 0.023
Nơi ở
đình 1.71 1.95 1.92 1.78 1.66 2.05 1.84 1.91 2.00 2.03 2.19 1.80 1.97 2.20 1.87 2.02 2.71 2.07 2.25 2.36 2.57 2.22 2.13 2.26 2.12 1.95 2.22 1.74 1.94 2.24 1.82 2.05
0.001
Lý do đi làm 0.481 0.617 0.853 gia 1.13 2.13 2.50 1.88
1.95 1.55 2.37 1.64 1.89 1.73
2.00
0.000 0.006 0.012
xong 1.44 2.18 1.44 2.39 2.56 2.19 2.11
Trình độ 0.16
2.04
6 đến 11 12 đến 15 Thành phố Tỉnh khác Quận 1 Quận 8 Quận TB Gia nghèo Buồn đình Thích tự lập 1.95 1.36 Chưa từng học Chưa học xong TH Học TH Chưa học xong THCS Học xong THCS 1.58 2.08 2.00 2.20 2.50 1.80 1.75
72
Quan sát bảng số liệu 2.11 , có thể nhận xét như sau:
* Xét theo độ tuổi
Trị số T và P cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa trẻ trong nhóm
tuổi 6 đến 11 tuổi và trẻ trong nhóm tuổi 12 đến 15 tuổi trong các áp lực liên quan
tới chỗ ở và trong quan hệ với cha mẹ. Tuy nhiên, ở yếu tố việc làm và bạn bè, với
trị số P lần lượt bằng 0.002 và 0.025 ta thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm
học sinh này ở hai vấn đề trên. Điểm trung bình cho thấy, ở cả hai vấn đề việc làm
và mối quan hệ bạn bè, trẻ trong nhóm tuổi từ 12 đến 15 tuổi chịu áp lực thường
xuyên hơn trẻ trong nhóm tuổi từ 6 đến 11 tuổi.
* Xét theo quê quán
Trị số T và P đều lớn hơn 0.05 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ
lao động nam và trẻ lao động nữ ở các áp lực liên quan tới các vấn đề: việc làm, chỗ
ở, bạn bè và trong quan hệ với cha mẹ.
* Xét theo nơi ở
Với P= 0.151>0.05 chứng tỏ không có sự khác biệt ý nghĩa giữa nhóm trẻ lao
động sớm ở các quận trong yếu tố chỗ ở. Tuy nhiên, các yếu tố còn lại như việc
làm, quan hệ bạn bè và quan hệ với cha mẹ, trị số P đều nhỏ hơn 0.05 chứng tỏ có
sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ này về các vấn đề trên. So sánh điểm trung
bình ta thấy, trong yếu tố việc làm, trẻ lao động sớm ở quận 1 có điểm trung bình
thấp nhất chứng tỏ trẻ ở quận 1 chịu áp lực về việc làm nhiều hơn các nhóm trẻ còn
lại. Trong hai yếu tố còn lại, quan hệ bạn bè và quan hệ với cha mẹ, nhóm trẻ ở
quận Tân Bình có điểm trung bình thấp nhất chứng tỏ các em chịu áp lực nhiều nhất
trong ba nhóm trẻ về hai vấn đề này.
* Xét theo lý do đi làm
Trong bốn yếu tố được đem ra so sánh trên đây, chỉ có yếu tố việc làm có trị
số P = 0.001<0.05 chứng tỏ có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm trẻ đi làm vì
các nguyên nhân khác nhau. Điểm trung bình chứng tỏ trẻ đi làm vì buồn chuyện
gia đình gặp áp lực nhiều hơn trong công việc so với nhóm trẻ đi làm vì gia đình
khó khăn và nhóm trẻ đi làm vì thích tự lập. Trong ba yếu tố còn lại, trị số P đều lớn
73
hơn 0.05 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ này về mức độ
áp lực liên quan đến chỗ ở, quan hệ bạn bè và quan hệ với cha mẹ.
* Xét theo trình độ
Quan sát trị số P ta thấy, trong bốn yếu tố gây áp lực nhiều nhất cho trẻ được
đem ra so sánh ở đây, chỉ có yếu tố chỗ ở là có trị số P lớn hơn 0.05 chứng tỏ không
có sự khác biệt ý nghĩa trong áp lực liên quan tới chỗ ở giữa các nhóm trẻ có trình
độ khác nhau. Ở ba yếu tố còn lại là: việc làm, quan hệ với bạn bè và quan hệ với
cha mẹ, trị số P đều nhỏ hơn 0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm
trẻ này. So sánh điểm trung bình ta thấy ở cả ba yếu tố, nhóm trẻ chưa từng đi học
đều có điểm trung bình thấp nhất so với các nhóm trẻ đã có đi học ở các trình độ
khác nhau. Điều này cho thấy, trẻ chưa từng đi học chịu áp lực từ các vấn đề trong
cuộc sống nhiều hơn so với các trẻ đã từng được đến trường.
2.4.5. Những áp lực cụ thể biểu hiện qua mức độ đồng tình với các ý kiến về người lao
động sớm.
2.4.5.1. Những áp lực cụ thể biểu hiện qua mức độ đồng tình với ý kiến về người lao
động sớm của trẻ
Sau khi tìm hiểu các yếu tố cụ thể trong cuộc sống ðã gây ra áp lực tâm lý cho
trẻ lao động sớm, chúng tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về những áp lực này thông qua
việc tìm hiểu mức độ đồng tình của khách thể với các ý kiến liên quan tới người lao
động sớm. Chúng tôi đã đưa ra 12 ý kiến liên quan tới trẻ lao động sớm ở các vấn
đề khác nhau và yêu cầu khách thể chọn lựa xem trẻ đồng ý với ý kiến nào. Kết quả
tìm hiểu vấn đề được thể hiện trong bảng số liệu 2.12.
Quan sát điểm trung bình trên các sáu nhóm các ý kiến về người lao động sớm
ở bảng 2.12, ta thấy nhóm các ý kiến được trẻ đồng tình nhiều nhất là các ý kiến về
nhà ở (ĐTB = 1.30), tiếp theo là việc làm (ĐTB = 1.55), đứng ở vị trí thứ ba là các
ý kiến về mối quan hệ với cha mẹ. Các nhóm ý kiến còn lại lần lượt đứng ở vị trí
thứ tư, thứ năm và thứ sáu là: quan hệ bạn bè, vấn đề an toàn và quan hệ với những
người xung quanh.
74
Bảng 2.12: Mức độ đồng tình của khách thể với các ý kiến liên quan
tới trẻ lao động sớm
Lựa chọn Thứ
Vấn đề Ý kiến ĐTB đúng hạng
Tần số %
59 51.7 Việc làm NLĐS thường khó tìm việc làm 2.67 5
(ĐTB = 1.55) 50 43.9 NLĐS được trả công ít hơn người 2.61
khác nếu cùng làm một công việc 4
Tiền nhà trọ hàng tháng là khoản 1.92 94 82.5
Nhà ở tiền quá nhiều đối với mức lương 1
(ĐTB = 1.30) của NLĐS
NLĐS thường phải ở những nhà 2.58 63 55.3
trọ tồi tàn, chật chội 3
Việc bị công an bắt là điều đáng 2.82 47 41.3
Vấn đề an toàn sợ với NLĐS 7
(ĐTB =1.93) Việc những NLĐS bị bắt nạt rất 3.31 37 32.5
thường xảy ra 9
Quan hệ bạn NLĐS thường bị bạn bè chế giễu 2.86 50 43.7 6
bè NLĐS ít có cơ hội tìm được bạn 2.92 44 38.6 8
(ĐTB =1.83) thân
NLĐS thường đối mặt với nỗi lo
Quan hệ với lắng tìm cách kiếm tiền gửi về cho 2.15 71 62.3 2
cha mẹ gia đình
(ĐTB =1.72) NLĐS thường không được cha mẹ 3.43 26 22.8 11
quan tâm
Quan hệ với NLĐS là những đứa trẻ dễ hư 3.46 30 26.3 10
những người hỏng.
xung quanh NLĐS là người dễ có nguy cơ 3.63 23 20.1 12
(ĐTB = 2.29) mắc các bệnh xã hội
75
Quan sát điểm trung bình từng ý kiến trong bảng kết quả ta thấy: với 12 ý kiến
được đưa ra thì có 8 ý kiến được trẻ lao động sớm chọn ở mức độ đúng, và 4 ý kiến
còn lại được lựa chọn ở mức lưỡng lự. Trong 5 ý kiến ở mức độ lựa chọn đúng xếp
thứ hạng cao nhất có hai ý kiến về vấn đề việc làm (ĐTB = 2.67, 2.61), hai ý kiến
về nhà ở (ĐTB = 1.92, 2.58) và một ý kiến về mối quan hệ với cha mẹ (ĐTB =
2.15). Việc đồng tình với ba nhóm ý kiến này đã khẳng định lại một lần nữa, các
yếu tố gây áp lực cho trẻ lao động sớm chủ yếu nằm ở các lĩnh vực: việc làm, nhà ở
và mối quan hệ với cha mẹ.
* Tìm hiểu mức độ đồng tình với các ý kiến về trẻ lao động sớm liên quan tới
vấn đề việc làm có các thứ hạng như sau: 4, 5. Ý kiến liên quan tới việc làm được
trẻ lao động sớm đồng tình nhiều nhất là “Người lao động sớm được trả công ít hơn
người khác nếu cùng làm một công việc” (ĐTB = 2.61, xếp hạng 4). Chưa đáp ứng
đủ yêu cầu về mặt sức khoẻ cũng như chuyên môn, trẻ lao động sớm thường được
trả công ít hơn so với những người khác nếu như làm cùng một công việc. Bên cạnh
đó, như đã phân tích ở trên, thời gian làm việc của trẻ lao động sớm cũng kéo dài
hơn rất nhiều, gây mệt mỏi cho các em.
45
42.1
40.4
40
35
30
25
20
15
8.8
10
6.1
5
2.6
0
Đúng
Lưỡng lự
Hoàn toàn đúng
Không đúng
Hoàn toàn sai
Biểu đồ 2.3: Mức độ đồng tình với ý kiến cho rằng tiền nhà trọ là quá nhiều so với thu nhập của trẻ lao động sớm
76
* Xét các ý kiến về trẻ lao động sớm liên quan đến vấn đề nhà ở, có thể thấy
thứ hạng của chúng xếp ở các vị trí: 1, 3. Cả hai ý kiến liên quan tới vấn đề nhà ở
đều được xếp ở vị trí khá cao, chứng tỏ vấn đề nhà ở gây áp lực khá nhiều cho trẻ
lao động sớm. Đáng chú ý là ý kiến “Tiền nhà trọ hàng tháng là khoản tiền quá
nhiều đối với mức lương của người lao động sớm” (có 94 em, chiếm 82.5% trẻ lựa
chọn mức độ “đúng”) đứng ở vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng với điểm trung
bình là 1.92.
Qua biểu đồ 2.3, ta thấy mức độ “đúng” chiếm tỷ lệ rất cao (42.1%), kế đến là
mức độ “hoàn toàn đúng” (40.4%). Ba mức độ “lưỡng lự”, “không đúng” và “hoàn
toàn sai” chỉ chiếm khoảng 17.5%. Điều này một lần nữa khẳng định tiền nhà trọ là
một trong những vấn đề gây áp lực rất lớn đối với trẻ lao động sớm, khi mà số tiền
các em kiếm được phải chi trả một phần rất lớn vào việc thuê nhà trọ. Cũng liên
quan tới vấn đề chỗ ở, cùng với ý kiến “tiền nhà trọ là khoản tiền quá nhiều với trẻ
lao động sớm”, ý kiến “người lao động sớm thường phải ở trong các nhà trọ chật
chội, nóng bức” cũng được các em đồng tình khá nhiều (ĐTB= 2.58, xếp ở thứ hạng
3). Đây là vấn đề mà thiết nghĩ chúng ta cần phải quan tâm nhiều hơn nữa để có thể
trợ giúp một cách hữu ích, kịp thời cho trẻ lao động sớm. Trong khi đó, trong thực
tế các tổ chức xã hội vẫn chưa thực sự quan tâm tới vấn đề này. Đã có nhiều dự án
hỗ trợ giáo dục, học nghề, đưa trẻ hồi gia cho trẻ lang thang, lao động sớm nhưng
chưa có một dự án nào hỗ trợ cho các em một chỗ ở thoải mái với giá cả hợp với túi
tiền để các em có thể yên tâm làm việc (nếu như chúng ta không thể thay đổi được
việc các em phải đi lao động sớm).
2.4.5.2. So sánh mức độ đồng tình với ý kiến về người lao động sớm của khách thể
nghiên cứu trên một số phương diện.
Trong số sáu nhóm ý kiến liên quan tới người lao động sớm, chúng tôi chọn ra
ba nhóm ý kiến mà các em đồng tình nhiều nhất để so sánh giữa mức độ đồng tình
của các em với các phương diện khác. Kết quả thu được như sau:
* Xét theo giới tính
Quan sát bảng số liệu, ta thấy trong ba nhóm ý kiến được đem ra so sánh, có
77
hai nhóm ý kiến có trị số P nhỏ hơn 0.05 là việc làm và chỗ ở, chứng tỏ có sự khác
biệt ý nghĩa giữa trẻ lao động nam và trẻ lao động nữ trong mức độ đồng tình với
các ý kiến liên quan tới hai nhóm trên. So sánh điểm trung bình, ta thấy ở cả hai
nhóm, trẻ lao động nam có mức độ đồng tình cao hơn (ĐTB = 2.000, 2.179) so với
trẻ lao động nữ (ĐTB = 2.772, 2.625). Ở nhóm các ý kiến liên quan tới quan hệ bạn
Bảng 2.13: So sánh mức độ đồng tình với ý kiến về người lao động sớm của
khách thể nghiên cứu trên một số phương diện
bè, trị số P cho ta thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa nhóm trẻ nam và trẻ nữ.
Việc làm Chỗ ở Bạn bè
ĐTB Sig. Sig. ĐTB Sig. ĐTB
0.823 0.000 0.000
Nam Nữ 6 đến 11 0.000 0.001 0.000 Giới tính Độ tuổi
0.000 0.000 0.002
Quê quán Nơi ở 0.612 0.000 0.007
2.000 2.772 2.800 2.449 2.657 2.379 3.000 2.826 2.133 2.179 2.625 2.767 2.245 2.588 2.194 2.576 2.645 2.066 1.180 1.172 1.317 1.096 1.125 1.240 1.228 1.146 1.157
đình 1.183 2.584 2.469
Lý do đi làm 0.123 0.066 gia 0.041 3.000 3.000 1.375
2.062 1.053
2.000 2.600 1.090
học 2.700 2.568 1.158
xong 0.184 0.141 2.667 1.857 1.111 0.002 Trình độ
2.364 2.316 1.080
2.556 2.143 1.583 12 đến 15 Thành phố Tỉnh khác Quận 1 Quận 8 Quận TB Gia nghèo Buồn đình Thích tự lập 2.000 từng Chưa đi học Chưa xong TH Học TH học Chưa xong THCS Học xong THCS
78
*Xét theo độ tuổi
Ba trị số P đều nhỏ hơn 0.05 chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa ở cả ba nhóm ý
kiến liên quan tới người lao động sớm. So sánh điểm trung bình ta thấy trẻ trong
nhóm tuổi 12 đến 15 tuổi luôn có điểm trung bình thấp hơn so với trẻ trong nhóm
tuổi 6 đến 11 tuổi, chứng tỏ trẻ trong nhóm 12 đến 15 tuổi có mức độ đồng tình với
các ý kiến cao hơn nhóm trẻ còn lại.
* Xét theo quê quán
Trị số P ở cả ba nhóm ý kiến đều nhỏ hơn 0.05 cho thấy giữa trẻ ở thành phố
và trẻ đến từ các tỉnh thành khác có sự khác biệt ý nghĩa trong mức độ đồng tình với
các ý kiến liên quan tới người lao động sớm. Trong hai nhóm ý kiến liên quan tới
việc làm và chỗ ở, điểm trung bình cho thấy trẻ đến từ các tỉnh thành khác có mức
độ đồng tình với các ý kiến nhiều hơn so với trẻ ở thành phố. Tuy nhiên, trong
nhóm ý kiến liên quan tới bạn bè, trẻ ở thành phố lại có mức đồng tình nhiều hơn so
với trẻ đến từ các tỉnh thành khác.
* Xét theo nơi ở
Kết quả thống kê đã chỉ ra rằng có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ lao
động sớm ở các quận trong mức độ đồng tình với các nhóm ý kiến liên quan tới vấn
đề việc làm và chỗ ở. So sánh điểm trung bình ta thấy nhóm trẻ ở quận Tân Bình có
mức độ đồng tình với các ý kiến hơn các nhóm trẻ ở quận 1 và quận 8. Tuy nhiên,
khoảng cách giữa các điểm trung bình không xa lắm. Như vậy, sự khác biệt giữa
các quận về mức độ đồng tình với các ý kiến là không nhiều. Ở nhóm ý kiến còn lại
liên quan tới vấn đề quan hệ bạn bè, trị số P cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa
giữa các nhóm trẻ trong các quận.
* Xét theo lý do đi làm
Trị số P ở nhóm ý kiến liên quan tới vấn đề chỗ ở cho thấy có sự khác biệt ý
nghĩa giữa các nhóm trẻ đi làm vì các lý do khác nhau. Điểm trung bình cho thấy,
nhóm trẻ đi làm vì lý do thích tự lập có mức độ đồng tình với các ý kiến cao hơn
(ĐTB = 2.062) so với hai nhóm trẻ đi làm vì gia đình khó khăn (ĐTB = 2.469) và
buồn chuyện gia đình (ĐTB = 3.000).
79
* Xét theo trình độ
Trị số P cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ có trình độ khác
nhau trong mức độ đồng tình với các ý kiến liên quan tới vấn đề quan hệ bạn bè.
Dùng kiểm nghiệm Turkey để so sánh điểm trung bình từng cặp, ta thấy sự khác
biệt diễn ra rõ rệt ở hai nhóm trẻ: trẻ chưa từng đi học và trẻ đã học xong trung học
cơ sở. Trẻ chưa từng đi học có mức độ đồng tình cao hơn nhóm trẻ còn lại.
Tóm lại, ở nhóm các ý kiến về người lao động sớm liên quan đến vấn đề công
việc, có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ xét trên các phương diện: giới tính,
độ tuổi, quê quán và nơi ở, nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa khi so sánh các
nhóm trẻ trên phương diện lý do đi lao động sớm. Ở nhóm ý kiến liên quan đến nhà
ở tất cả đều có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ khi so sánh trên các phương
diện trên. Ở nhóm các ý kiến liên quan đến quan hệ bạn bè, chỉ có sự khác biệt ý
nghĩa khi so sánh các nhóm trẻ trên các phương diện: độ tuổi và quê quán, các
nhóm còn lại không có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê.
2.5. Ảnh hưởng của áp lực tâm lý đến trẻ lao động sớm
Bảng 2.14: Kết quả điểm trung bình ảnh hưởng của áp lực tâm lý tới trẻ lao động sớm
2.5.1. Ảnh hưởng của áp lực tâm lý đến trẻ lao động sớm
Ảnh hưởng Độ lệch chuẩn ĐTB
3.31 0.566 Sức khoẻ
3.81 0.808 Cảm xúc
4.88 0.334 Hành vi
Kết quả từ bảng 2.14 cho thấy áp lực tâm lý ảnh hưởng tới cả ba mặt sinh lý,
cảm xúc và hành vi của trẻ lao động sớm. Trong đó, ảnh hưởng của áp lực tâm lý
nhiều nhất là đến mặt sức khoẻ (ĐTB = 3.31), sau đó là đến cảm xúc (ĐTB = 3.81)
và hành vi (ĐTB = 4.88). Tuy nhiên, các điểm số trung bình đều khá cao, rơi vào
mức thỉnh thoảng. Như vậy chúng ta có thể kết luận, áp lực tâm lý có ảnh hưởng tới
các mặt trong đời sống của trẻ lao động sớm nhưng chưa đến mức nghiêm trọng,
vẫn nằm trong khoảng trẻ có thể ứng phó được.
80
Đi sâu vào tìm hiểu biểu hiện cụ thể những ảnh hưởng của áp lực tâm lý lên
các mặt sức khoẻ, cảm xúc và hành vi của trẻ lao động sớm, chúng tôi đưa ra ra 21
biểu hiện và yêu cầu trẻ chọn lựa mức độ những biểu hiện mà trẻ thường gặp. Kết
quả được thể hiện cụ thể như sau:
Quan sát điểm trung bình từng biểu hiện trong bảng kết quả ta thấy trong số 21
biểu hiện được đưa ra, chỉ có một biểu hiện được trẻ lao động sớm lựa chọn ở mức
độ thường xuyên, mười sáu biểu hiện ở mức thỉnh thoảng và có bốn biểu hiện trẻ
lao động sớm cho rằng hiếm khi xảy ra với mình. Trong năm biểu hiện có mức lựa
chọn thường xuyên được xếp hạng cao nhất có một biểu hiện về sức khoẻ (25.4%),
hai biểu hiện về cảm xúc (36.8%, 35.1%) và hai biểu hiện về hành vi (57.9%,
32.5%).
* Tìm hiểu sự ảnh hưởng của áp lực tâm lý đến sức khoẻ, các biểu hiện liên
quan tới sức khoẻ có các thứ hạng như sau: 5, 7, 13, 16, 18. Biểu hiện về sức khoẻ
trẻ lao động sớm chịu ảnh hưởng nhiều nhất là “đau đầu thường xuyên” (chiếm
25.4%, xếp hạng 5). Đau đầu là một trong những triệu chứng rất thường gặp trong
cuộc sống hàng ngày và có thể xảy ra với bất cứ ai. Nhưng một tỷ lệ tương đối lớn,
hơn 25% trẻ lao động sớm mà chúng tôi khảo sát có triệu chứng đau đầu thường
xuyên thì đây không còn là vấn đề bình thường nữa. Y học đã chứng minh rất nhiều
trường hợp đau nửa đầu hoặc đau đầu nặng có liên quan mật thiết đến cảm xúc hoặc
áp lực trong cuộc sống. Nếu tình trạng này tồn tại lâu dài sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt
động sống, làm việc của trẻ và có thể dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng về sức
khoẻ của trẻ sau này. Bên cạnh đó, trẻ lao động sớm là một trong những đối tượng
rất ít được chăm sóc sức khỏe định kỳ, chính vì vậy những ảnh hưởng tới sức khỏe
này càng trở nên khó giải quyết hơn.
* Ở mặt cảm xúc, các thứ hạng của chúng được sắp xếp lần lượt là: 2, 3, 6, 9,
11, 12. Tỷ lệ chọn mức độ thường xuyên cao nhất ở mặt này là biểu hiện “thất vọng
về bản thân” (chiếm tỷ lệ 36.8%, xếp ở vị trí thứ 2). Thất vọng là một trạng thái
cảm xúc xuất hiện khi những mong đợi không được thực hiện. Trạng thái này biểu
hiện sự mâu thuẫn giữa mong muốn và hiện thực, giữa nhu cầu và khả năng. Đối
81
với trẻ lao động sớm, trong khi những nhu cầu, mong muốn của bản thân và gia
đình rất cao thì khả năng hiện thực mà các em có thể đáp ứng được nhu cầu đó lại
tương đối thấp. Dù cố gắng thế nào thì bản thân các em vẫn là những đứa trẻ, không
đủ sức khoẻ lại không được đào tạo bài bản về nghề nghiệp, không đáp ứng được
yêu cầu trong lao động, chính vì vậy ở các em thường xuyên xuất hiện những cảm
xúc thất vọng về bản thân. Em T.L (quận Tân Bình) chia sẻ với chúng tôi: “Nhiều
lúc em cảm thấy mình rất tệ. Nhất là những lúc cha mẹ bị bệnh mà em không có đủ
Bảng 2.15: Kết quả xếp hạng điểm trung bình và tần số chọn mức
“thường xuyên” ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ lao động sớm
tiền để gửi về, em thấy mình thật kém cỏi, không được như người ta”.
Vấn đề Biểu hiện ĐTB Thứ hạng
Sức khoẻ (ĐTB= 3.31)
Cảm xúc
3.93 3.10 3.19 3.86 3.75 3.71 3.57 3.03 3.10 3.42 3.68 3.59 3.54 3.80
(ĐTB= 3.81) 4.11
Hành vi (ĐTB= 4.88)
Nhịp tim tăng nhanh Đau đầu thường xuyên Mệt mỏi kéo dài Trí nhớ giảm sút Chán ăn hoặc ăn không ngon Luôn ám ảnh về tương lai Tự ti vì công việc thấp hèn Thất vọng về bản thân Buồn chán Mặc cảm Muốn buông xuôi mọi thứ Né tránh không muốn gặp ai Dễ nổi nóng, kích động Thờ ơ với tất cả mọi thứ Dễ gây gổ, phá phách hoặc đánh nhau với người khác vô cớ Cáu gắt, châm chọc người khác Muốn bỏ đi đâu đó thật xa Tự sát hoặc có ý muốn tự sát Khóc hoặc muốn khóc Mất tập trung vào công việc Ngủ quá nhiều hoặc mất ngủ 4.16 4.04 4.03 3.02 3.60 2.43 Lựa chọn thường xuyên Tần số % 4.4 25.4 21.9 0.9 11.4 14.9 13.1 36.8 35.1 24.6 12.3 10.6 19.3 13.1 10.5 10.6 3.5 13.2 32.5 14.9 57.9 5 29 25 1 13 17 15 42 40 28 14 12 22 15 12 12 4 15 37 17 66 16 5 7 18 13 9 11 2 3 6 12 14 8 11 15 14 17 10 4 9 1
82
Trong mặt cảm xúc, một biểu hiện cũng được các em lựa chọn khá nhiều
(chiếm 35.1%, xếp hạng 3) là “buồn chán vì số phận kém may mắn”. Trong sự phát
triển tâm lý của lứa tuổi thiếu niên, các em bắt đầu biết ý thức về bản thân mình.
Các em biết tự đánh giá mình, nhận thức rõ hơn về bản thân bằng cách so sánh mình
với những người xung quanh. Trong quá trình so sánh này, trẻ lao động sớm nhận
thức được hoàn cảnh của mình không được bằng các bạn cùng trang lứa, điều này
làm nảy sinh cảm xúc buồn chán, thất vọng, tủi thân. Trò chuyện với trẻ lao động
sớm, mỗi khi nhắc tới điều này, giọng các em đều chùn hẳn xuống. Em H.T (quận
1) nói: “Nhiều lúc em thấy tủi thân, sao em không được bằng các bạn. Các bạn
được đi học, còn em thì suốt ngày cắm cúi làm . . .” . Các em ít kết bạn với các bạn
không cùng hoàn cảnh với mình cũng xuất phát một phần từ lý do này: “Em không
có bạn thân (không cùng hoàn cảnh). Vì em nghèo, em không muốn kết bạn với các
bạn đó (các bạn không cùng hoàn cảnh) và các bạn đó cũng chẳng muốn làm bạn
với em” (B.T, quận 8).
* Xét các biểu hiện ở mặt hành vi, ta thấy thứ hạng của chúng được xếp ở các
vị trí: 1, 4, 8, 9, 10, 11, 14, 15, 17. Điều đáng mừng là các biểu hiện hành vi mang
tính tiêu cực, ảnh hưởng tới sức khoẻ và mối quan hệ của trẻ với những người xung
quanh như: muốn bỏ đi xa; gây gổ, phá phách hoặc đánh nhau với người khác vô
cớ; né tránh không muốn gặp ai; Cáu gắt, châm chọc người khác… đều có thứ hạng
khá cao, tức là tỷ lệ chọn ở mức thường xuyên của các em khá thấp, chứng tỏ dù có
buồn chán, có gặp áp lực các em vẫn biết kiềm chế bản thân không thực hiện các
hành động không được cho phép.
Đáng chú ý trong mặt hành vi là biểu hiện “Ngủ quá nhiều hoặc mất ngủ” (có
66 em, chiếm 57.9% trẻ lựa chọn ở mức “thường xuyên”) đứng ở vị trí đầu tiên
trong bản xếp hạng với điểm trung bình là 2.43.
83
45
42.1
40
35
30.7
30
25
20
15.8
15
10
6.1
5.3
5
0
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ
Biểu đồ 2.4: Mức độ ảnh hưởng đến hành vi qua biểu hiện “ngủ quá nhiều
hoặc mất ngủ, ngủ không ngon giấc”
Qua biểu đồ 2.4 ta thấy mức độ “thường xuyên” chiếm tỷ lệ khá cao (42.1%)
và có một khoảng cách khá xa so với các mức độ còn lại. Mức độ “rất thường
xuyên” tuy có tỷ lệ không cao (chỉ chiếm 15.8%) nhưng so với ba mức còn lại thì
hai mức độ này vẫn chiếm ưu thế trong sự lựa chọn của các em (57.9% so với
42.1%). Giấc ngủ ngon là một trong những biểu hiện của đời sống tâm lý an toàn,
cân bằng. Tinh thần thoải mái, nhẹ nhàng mới có thể có được giấc ngủ sâu, đảm bảo
hồi phục sức lực cho quá trình lao động sau. Đối với trẻ lao động sớm, thời gian làm
việc kéo dài gây mệt mỏi, căng thẳng nhưng điều kiện tiếp cận với các loại hình giải
trí là không có, chính vì vậy đã ảnh hưởng tới giấc ngủ của trẻ. Có hai trạng thái
giấc ngủ có thể xảy ra đối với trẻ: hoặc trẻ ngủ quá nhiều hoặc trẻ mất ngủ và ngủ
không ngon giấc, cả hai trạng thái này đều phản ánh sức khoẻ giấc ngủ của trẻ
không tốt. Đây là điều bất thường mà chúng tôi thực sự quan tâm, lo lắng.
Trong mặt hành vi, có một biểu hiện cũng được xếp ở vị trí khá cao (xếp hạng
4) trong bảng xếp hạng, đó chính là biểu hiện “Khóc hoặc muốn khóc mà không có
84
lý do”. Khóc chính là một hành vi nhằm giải tỏa những cảm xúc dồn nén trong lòng.
Đây là biểu hiện hành vi dễ nhận biết nhất khi người ta buồn chán, uất ức hay mệt
mỏi. Với câu hỏi phỏng vấn: “em có hay khóc không”, chúng tôi nhận được khá
nhiều câu trả lời “thường xuyên” hoặc “thỉnh thoảng”. Em H.B.N (quận Tân Bình):
“Em thường xuyên khóc. Mỗi lần có chuyện mệt mỏi em đều khóc. Khóc xong em
thấy đỡ hơn.” “Em rất hay khóc, nhất là mỗi lần nhớ cha mẹ mà em không biết làm
sao” (Em H.T, quận 8).
Điều chúng tôi quan tâm trong các biểu hiện về mặt hành vi, ngoài hai biểu
hiện có vị trí xếp hạng cao ở trên là một biểu hiện tuy không có tỷ lệ chọn cao,
nhưng lại vô cùng nghiêm trọng đó là hành vi “tự sát hoặc có ý muốn tự sát”. Có tới
15 em, chiếm tỷ lệ 13.2% trong tổng số mẫu nghiên cứu cho rằng mình đã từng tự
sát hoặc là có ý muốn tự sát. Đây là điều bất thường, một mặt phản ánh sự căng
thẳng quá mức của các em, mặt khác phản ánh mức độ áp lực mà các em phải chịu
từ các khía cạnh trong cuộc sống là rất lớn. Các em này cần phải được tìm hiểu và
trợ giúp tâm lý từ các nhà chuyên môn và sự hỗ trợ động viên của gia đình, bạn bè.
Như vậy, nếu xét chung các mặt của đời sống thì áp lực tâm lý ảnh hưởng
nhiều nhất tới mặt sức khoẻ của trẻ lao động sớm, tiếp đến là cảm xúc và cuối cùng
là hành vi. Nếu xét cụ thể trong từng mặt thì nổi trội trong mặt sức khoẻ là biểu hiện
đau đầu thường xuyên, có tỷ lệ chọn mức độ thường xuyên cao nhất trong mặt cảm
xúc là biểu hiện thất vọng với bản thân và buồn chán vì kém may mắn; và ngủ quá
nhiều hoặc mất ngủ, khóc hoặc muốn khóc không có lý do là biểu hiện ảnh hưởng
nhiều nhất của mặt hành vi.
2.5.2. So sánh ảnh hưởng của áp lực tâm lý đối với trẻ lao động sớm trên một số
phương diện
Sau khi tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của áp lực tâm lý lên các mặt sức khoẻ,
cảm xúc và hành vi trong đời sống của trẻ lao động sớm, chúng tôi sử dụng kiểm
nghiệm Chi bình phương để so sánh tỷ lệ chọn các mức trong các biểu hiện cụ thể
về ba mặt trên giữa các nhóm trẻ lao động sớm. Kết quả thu được như sau:
85
Bảng 2.16: Kết quả kiểm nghiệm Chi bình phương so sánh ảnh hưởng của áp
lực tâm lý theo nhóm các trẻ lao động sớm
Sức khoẻ Cảm xúc Hành vi
Tần Tần Tần % Sig. % Sig. % Sig. số số số
14 73.7 9 50 Nam 10 71.4 Giới 0.085 0.561 0.013 tính 5 26.3 4 9 50 Nữ 28.6
3 15.8 6 3 17.6 6 đến 11 42.8 Độ 0.001 0.011 0.008 tuổi 8 12 đến 15 57.2 16 84.2 14 82.4
1 5.3 2 0 0 Quận 1 14.3
5 7 8 47 Nơi ở Quận 8 50 0.111 26.3 0.000 0.006
5 9 53 Quận TB 35.7 13 68.4
* Xét theo giới tính
Kết quả kiểm nghiệm cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ lao động
nam và trẻ lao động nữ trong các mặt sức khỏe và hành vi. Tuy nhiên, ở mặt cảm
xúc với P= 0.013 ta thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm trẻ lao động sớm
này. Tần số và tỷ lệ chứng tỏ trẻ lao động nam (73.7%) chịu ảnh hưởng nhiều hơn
trẻ lao động nữ (26.3%).
* Xét theo độ tuổi:
Ba trị số P tính được đều nhỏ hơn 0.05 chứng tỏ có sự khác biệt ý nghĩa ở cả
ba mặt của đời sống. So sánh tần số và tỷ lệ chọn mức độ “rất thường xuyên” và
“thường xuyên”, ta thấy trẻ trong nhóm tuổi 12 đến 15 tuổi luôn cao hơn nhóm trẻ
còn lại, chứng tỏ ở cả ba mặt của đời sống, trẻ trong nhóm 12 đến 15 tuổi luôn chịu
nhiều ảnh hưởng từ các áp lực hơn nhóm 6 đến 11 tuổi.
* Xét theo nơi ở
Số liệu cho thấy, không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ ở các quận
khác nhau trong ảnh hưởng của áp lực tới mặt sức khỏe. Tuy nhiên, ở hai thuộc tính
cảm xúc và hành vi, ta thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ này. So sánh
tần số và tỷ lệ cho thấy, nhóm trẻ ở quận Tân Bình luôn có tỷ lệ chọn mức “rất
86
thường xuyên” và “thường xuyên” cao hơn hai nhóm còn lại. Điều này cho thấy
nhóm trẻ ở quận Tân Bình chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt cảm xúc và hành vi
trong các nhóm trẻ khi gặp áp lực tâm lý.
Chúng tôi cũng tiến hành các kiểm nghiệm Chi bình phương để so sánh sự
khác biệt giữa các nhóm trẻ còn lại. Trị số P đều lớn hơn 0.05 chứng tỏ không có sự
khác biệt ý nghĩa về ảnh hưởng của áp lực tâm lý tới các mặt sức khỏe, cảm xúc và
hành vi ở các nhóm trẻ xét theo: quê quán, trình độ, lý do đi làm và việc các em
đang sống cùng ai cũng không có sự khác biệt rõ rệt.
2.6. Ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
2.6.1. Các kiểu ứng phó cơ bản của trẻ lao động sớm với áp lực tâm lý
Các kết quả khảo sát ở trên đã chứng tỏ trẻ lao động sớm đang gặp phải những
áp lực tâm lý từ các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Tuy chưa vượt quá mức giới
hạn dẫn tới bệnh lý nhưng cũng đã ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe và đời sống của
các em. Vấn đề đặt ra trước những áp lực tâm lý đó, các em đã giải quyết như thế
Bảng 2.17: Các kiểu ứng phó cơ bản với áp lực tâm lý
nào? Kết quả tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi thu được như sau:
Thứ hạng 1 Thứ hạng 2 Thứ hạng 3
Cách ứng phó ĐTB Tần số % Tần số % Tần số %
Thay đổi, điều chỉnh 1.72 59 51.8 28 24.6 27 23.7 cảm xúc
Thay đổi, điều chỉnh 2.46 6 5.3 49 43.0 59 51.8 suy nghĩ
Thay đổi, điều chỉnh 1.85 45 39.5 41 36.0 28 24.6 hành vi
Bảng 2.17 cho thấy trong ba nhóm cách ứng phó với các áp lực trong cuộc
sống thay đổi, điều chỉnh cảm xúc; thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ và thay đổi, điều
chỉnh hành vi thì cách ứng phó mà các em lựa chọn nhiều nhất là thay đổi, điều
chỉnh cảm xúc (ĐTB= 1.72), tiếp đến là thay đổi, điều chỉnh hành vi (ĐTB= 1.85)
và cuối cùng mới đến thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ (ĐTB= 2.46).
87
Xem xét kết quả xếp hạng các nhóm cách ứng phó chúng ta cũng nhận thấy
thay đổi, điều chỉnh cảm xúc được đa số các em xếp ở thứ hạng 1 (51.8%) cho thấy
lựa chọn đầu tiên của các em khi gặp áp lực tâm lý chính là thay đổi, điều chỉnh
cảm xúc của bản thân.
Mỗi nhóm ứng phó với áp lực tâm lý lại có những biểu hiện khác nhau. Cụ
thể, nhóm ứng phó thay đổi, điều chỉnh cảm xúc bản thân bao gồm: thay đổi cảm
giác bên trong, thay đổi tình cảm thể hiện ra bên ngoài và tìm kiếm chỗ dựa tình
cảm. Nhóm ứng phó thay đổi suy nghĩ bao gồm: phủ nhận áp lực, chấp nhận áp lực,
lý giải theo hướng tiêu cực, lý giải theo hướng tích cực và lảng tránh. Nhóm ứng
phó thay đổi hành vi bao gồm: kiềm chế bản thân, thay thế bằng hành vi tiêu cực,
thay thế bằng hành vi tích cực, tìm kiếm lời khuyên và lên kế hoạch ứng phó chủ
động.
Dựa vào cách phân chia này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu trong từng nhóm
ứng phó trẻ đã có những biểu hiện cụ thể nào để giải quyết các áp lực. Kết quả thu
được như sau: Quan sát điểm trung bình từng biểu hiện trong bảng kết quả ta thấy:
với 12 biểu hiện được đưa ra thì có 5 biểu hiện được trẻ lao động sớm chọn ở mức
thường xuyên và 7 biểu hiện còn lại được chọn ở mức thỉnh thoảng. Trong 5 biểu
hiện ở mức độ thường xuyên xếp thứ hạng cao nhất có 2 biểu hiện của nhóm ứng
phó thay đổi cảm xúc (ĐTB= 2.80, 2.84), 1 biểu hiện của nhóm ứng phó thay đổi
suy nghĩ (ĐTB= 2.93) và 2 biểu hiện thuộc nhóm ứng phó thay đổi hành vi (ĐTB=
2.78, 2.80). Như vậy, các nhóm ứng phó đều được trẻ lựa chọn thực hiện ở các mức
độ khác nhau trong quá trình đối mặt với các áp lực tâm lý của bản thân.
+ Tìm hiểu nhóm cách ứng phó thay đổi cảm xúc, các biểu hiện có các thứ
hạng như sau: 2, 4. Cả hai biểu hiện của nhóm này đều được xếp ở thứ hạng khá cao
cho thấy trẻ lao động sớm thường xuyên sử dụng cách ứng phó này khi gặp áp lực
trong cuộc sống. Đặc biệt nhất là “biểu hiện thay đổi, điều chỉnh tình cảm, cảm xúc
bên trong” (ĐTB= 2.80) với tỷ lệ hơn 39.4% trẻ lựa chọn mức độ thường xuyên.
Cảm xúc là thái độ của con người đối với các sự vật hiện tượng xuất hiện trong
cuộc sống. Chính vì vậy, mỗi khi gặp áp lực tâm lý điều đầu tiên diễn ra chính là sự
88
thay đổi tình cảm, cảm xúc ở bên trong của trẻ. Từ đó mới dẫn đến việc trẻ cố gắng
suy nghĩ về sự thay đổi cảm xúc ấy của mình và nảy sinh các hành vi tương ứng.
Yếu tố thứ hai của nhóm ứng phó thay đổi cảm xúc cũng có thứ hạng khá cao
là “tìm kiếm người có thể chia sẻ những cảm xúc của mình” (ĐTB= 2.84), xếp hạng
thứ 4. Điều này cho thấy trẻ lao động sớm đã biết cách giải tỏa những áp lực tâm lý
tâm lý bằng cách chia sẻ những tâm tư, tình cảm, những lo lắng, căng thẳng của
mình với người khác. Đây là một trong những cách ứng phó tích cực và hiệu quả
khi đối đầu với những áp lực tâm lý. Thế nhưng trong thực tế việc tìm được người
để chia sẻ cũng phải là dễ với trẻ lao động sớm khi mà cha mẹ, gia đình không sống
cùng các em, bạn bè thân thiết không nhiều và đều có chung hoàn cảnh như các em.
+ Khi phân tích nhóm ứng phó thay đổi suy nghĩ, chúng tôi nhận thấy, biểu
hiện có thứ hạng cao nhất trong nhóm này chính là “Chấp nhận áp lực đó như một
phần của cuộc sống” (ĐTB= 2.93). Trong biểu hiện này có tới 48 em, chiếm
43.1%, gần ½ mẫu lựa chọn mức độ thường xuyên khi ứng phó với áp lực tâm lý.
Thoạt đầu, đây có thể là cách ứng phó tích cực, nhưng xét dưới góc độ Tâm lý học,
việc chấp nhận các áp lực như một phần của cuộc sống chính là một cách biện
minh, “hợp lý hóa” các áp lực khi bản thân con người không giải quyết được các áp
lực đó. Phải chăng do sớm đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống khiến trẻ
lao động sớm trở nên chín chắn, chững chạc hơn? Các em có suy nghĩ như người
lớn khi đồng ý rằng những áp lực đó chính là một phần của cuộc sống mà các em
phải trải qua để có thể trưởng thành hơn.
Trong nhóm ứng phó thay đổi suy nghĩ này, chúng tôi cũng chú ý tới một biểu
hiện tuy điểm trung bình chỉ rơi vào mức hiếm khi (ĐTB = 3.52), nhưng tỷ lệ chọn
mức độ thường xuyên cũng khá cao 18.8%, gần 1/5 mẫu đó là biểu hiện “lảng tránh
các áp lực”. Như vậy, trong khi rất nhiều trẻ sẵn sàng đối mặt, chấp nhận các áp lực
đó như một phần của cuộc sống thì cũng có không ít trẻ lao động sớm lảng tránh,
“bỏ chạy” khỏi các áp lực đó. Phải chăng các em chưa có được những nhận thức
đúng đắn về nó và chưa biết cách để giải tỏa những áp lực đó một cách hiệu quả nên
các em cảm thấy sợ hãi khi phải đối mặt với những khó khăn đang đè nặng?
89
+ Các biểu hiện trong nhóm ứng phó thay đổi hành vi đều được nhiều em sử
dụng khi ứng phó với các áp lực tâm lý. Điều này được thể hiện qua tỷ lệ lựa chọn
mức độ thường xuyên ở nhóm này đều lớn hơn 20%. Trong đó, tỷ lệ chọn khá cao
(36.8%) và cũng có điểm trung bình thấp nhất (ĐTB= 2.78), đứng ở vị trí đầu tiên
trong bảng xếp hạng là biểu hiện: “lên kế hoạch cụ thể để giải quyết các áp lực”.
Điều này cho thấy, trẻ lao động sớm đã biết cách chủ động ứng phó tìm ra cách để
giải quyết những áp lực của mình. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các em đã lên kế
họach như thế nào? Các em lựa chọn phương pháp đúng hay sai? Ai là người giúp
đỡ các em vượt qua áp lực? Những người ấy có thực sự hỗ trợ các em một cách kịp
thời và đúng đắn hay không? Thiết nghĩ đây cũng là một vấn đề cần phải được thực
Bảng 2.18: Mức độ lựa chọn từng biểu hiện cụ thể trong các nhóm ứng phó
sự quan tâm và tìm ra các giải pháp hữu hiệu.
Vấn đề Biểu hiện ĐTB Thứ hạng Lựa chọn “thường xuyên” Tần số %
2.80 45 39.4 2
Thay đổi cảm xúc 2.84 37 32.4 4
3.84 15 13.2 11
2.93 48 43.1 5
Thay đổi suy nghĩ 3.92 4 3.6 12
3.69 11 9.6 10
3.52 3.35 21 23 18.8 20.1 8 7
3.55 25 21.9 9
3.25 24 21 6 Thay đổi hành vi
2.80 43 37.8 3
2.78 42 36.8 1 Thay đổi, điều chỉnh tình cảm, cảm xúc ở bên trong Tìm kiếm người có thể chia sẻ những cảm xúc của mình Phủ nhận các áp lực đang tồn tại Chấp nhận áp lực đó như một phần của cuộc sống Lý giải áp lực theo hướng tiêu cực Lý giải áp lực theo hướng tích cực Lảng tránh các áp lực Cố gắng kiềm chế bản thân Thực hiện các hành vi tiêu cực để giải quyết các áp lực Thực hiện các hành vi tích cực để giải quyết các áp lực Tìm kiếm lời khuyên từ những người có uy tín Lên kế hoạch cụ thể để giải quyết các áp lực.
90
Cũng có vị trí khá cao trong bảng xếp hạng trong nhóm ứng phó thay đổi hành
vi này chính là biểu hiện “Tìm kiếm lời khuyên từ những người có uy tín với mình”.
Tuy điểm trung bình của biểu hiện này chỉ rơi vào mức trung bình (ĐTB= 2.80),
nhưng tỷ lệ chọn mức độ thường xuyên lại khá cao (37.8%) cho thấy trẻ lao động
sớm cũng thường sử dụng biện pháp này để ứng phó với những áp lực tâm lý.
Tuổi đời còn nhỏ lại không được giáo dục đầy đủ nhưng sớm phải tiếp xúc với
những vấn đề bất thường trong cuộc sống, phần nào vượt quá khả năng tự giải quyết
của các em, chính vì vậy việc chọn một người uy tín để có thể cho mình những lời
khuyên đúng đắn là một cách mà trẻ lao động sớm thường làm để giải quyết vấn đề.
Những người uy tín đó có thể là cha mẹ, anh chị, các giáo dục viên hay các tình
nguyện viên ở các lớp học tình thương mà em đang theo học. Đối với những trẻ lao
động sớm đồng thời là trẻ lang thang thì người uy tín đó có thể là trưởng nhóm
trong nhóm đường phố mà các em đang sinh hoạt. Muốn là trưởng nhóm thì buộc
trẻ đó phải là trẻ được các em tin tưởng, và khi đã tin tưởng cho người đó lên làm
trưởng nhóm thì các em gần như tuyệt đối nghe lời trưởng nhóm. V.B.Đ (15 tuổi),
trưởng nhóm các trẻ đánh giày, bán vé số trong khu vực phường 9, quận Tân Bình
kể cho chúng tôi nghe các em có một địa điểm sinh hoạt riêng (em không cho chúng
tôi biết nơi đó là nơi nào vì sợ công an biết sẽ đến bắt!), mỗi ngày đi bán về, vào
một giờ cố định các em đều tụ tập về đó, ai có khó khăn gì thì đưa ra bàn bạc cả
nhóm cùng giải quyết. Đây cũng là thời điểm các em nghỉ ngơi sau một ngày làm
việc cực nhọc. Có thể trong những cuộc họp này, nhiều vấn đề khó khăn đã được
tháo gỡ một cách hợp lý và đúng đắn, nhưng cũng có nhiều vấn đề các em đã giải
quyết bằng những cuộc ẩu đả, đánh nhau. Đây là vấn đề mà chúng tôi thực sự quan
tâm. Làm sao để có một nơi, có những người khiến các em thực sự tin tưởng, thực
sự uy tín để các em tìm đến xin lời khuyên mỗi khi các em gặp khó khăn, áp lực
trong cuộc sống?
Trong nhóm ứng phó thay đổi hành vi, chúng tôi có đưa ra một biểu hiện ứng
phó tiêu cực “thực hiện các hành vi tiêu cực để giải quyết đi các áp lực” trong nhóm
ứng phó thay đổi hành vi. Điều đáng quan tâm là ở cách ứng phó này, tuy điểm
91
trung bình chỉ rơi vào mức hiếm khi (ĐTB= 3.55) nhưng tỷ lệ chọn thường xuyên
áp dụng cách ứng phó này lại tương đối cao (21.9%) cho thấy vẫn còn tồn tại tình
trạng trẻ giải quyết các áp lực bằng cách thực hiện các hành vi tiêu cực. Những
hành vi tiêu cực này ban đầu thì tưởng như có thể giúp các em vượt qua được những
cảm giác buồn chán, lo lắng do áp lực đem lại chính vì vậy một số em có xu hướng
lựa chọn các này nhằm vượt qua áp lực. Tuy nhiên, những cách này không những
không làm cho các em ứng phó được với áp lực, trái lại còn làm gia tăng áp lực
hoặc ảnh hưởng tới sức khỏe và mối quan hệ của trẻ với những người xung quanh.
Như vậy, qua các số liệu và phân tích ở trên có thể thấy khi đối mặt với áp lực
tâm lý, trẻ lao động sớm có xu hướng lựa chọn cả ba kiểu ứng phó: thay đổi cảm
xúc, thay đổi suy nghĩ và thay đổi hành vi nhằm vượt qua những áp lực tâm lý đó.
Tuy nhiên, trong ba nhóm ứng phó này trẻ thường xuyên sử dụng các kiểu ứng phó
thay đổi cảm xúc và thay đổi hành vi nhiều hơn là kiểu ứng phó thay đổi suy nghĩ.
Trong đó, các biểu hiện được các em lựa chọn nhiều nhất là: Thay đổi, điều chỉnh
tình cảm, cảm xúc ở bên trong; Tìm kiếm người có thể chia sẻ những cảm xúc của
mình; Chấp nhận áp lực đó như một phần của cuộc sống; Tìm kiếm lời khuyên từ
những người có uy tín với mình; Lên kế hoạch cụ thể để giải quyết các áp lực.
2.6.2. Các cách ứng phó cụ thể với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
2.6.2.1. Nhóm ứng phó thay đổi, điều chỉnh cảm xúc
Phân tích bảng số liệu 2.19 cho thấy, điểm trung bình của các biểu hiện nằm
trong khoảng từ 3.06 đến 3.61, đây là mức điểm nằm ở mức trung bình (riêng biểu
hiện tìm kiếm chỗ dựa tình cảm ở mức hiếm khi), có nghĩa là về tổng quát, thỉnh
thoảng trẻ lao động sớm vẫn sử dụng các kiểu ứng phó này để đối mặt với những áp
lực trong cuộc sống. So sánh điểm trung bình trong các biểu hiện của nhóm ứng phó
này ta thấy trẻ sử dụng nhiều nhất là các cách ứng phó trong biểu hiện thay đổi tình
cảm thể hiện ra bên ngoài (với điểm trung bình thấp nhất là 3.06).
92
Bảng 2.19: Cách ứng phó cụ thể trong nhóm thay đổi cảm xúc của trẻ lao
động sớm đối với áp lực tâm lý
Mức độ
ĐTB ỨNG PHÓ THAY ĐỔI TÌNH CẢM Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
Cảm giác bên trong 3.20
1. Cảm thấy buồn chán 2.81
3.90
3.86
2.93 2. Thấy thế giới dường như vô nghĩa 3. Không còn tin vào cuộc sống 4. Có cảm giác lo lắng, bất an Rất thường xuyên 21 (18.4%) 4 (3.5%) 4 (3.5%) 11 (9.6%) 24 (21.1%) 6 (5.3%) 2 (1.8%) 32 (28.1%) 38 (33.3%) 18 (15.8%) 29 (25.4%) 33 (28.9%) 18 (15.8%) 55 (48.2%) 50 (43.9%) 30 (26.3%) 13 (11.4%) 31 (27.2%) 29 (25.4%) 8 (7.0%)
3.06
3.24 Tình cảm thể hiện ra bên ngoài 1. Ăn không thấy ngon miệng
2. Khóc 2.74
3. Bực bội, cáu gắt 3.50
3.25 4. Bồn chồn, bối rối không biết làm gì 2 (1.8%) 10 (8.8%) 13 (11.4%) 7 (6.1%) 29 (25.4%) 41 (36.0%) 0 (0%) 12 (10.5%) 38 (33.3%) 32 (28.1%) 34 (29.8%) 48 (42.1%) 30 (26.3%) 31 (27.2%) 51 (44.7%) 39 (34.2%) 15 (13.2%) 0 (0%) 16 (14.0%) 8 (7.0%)
3.61
2.85 13 (11.4%) 43 (37.7%) 20 (17.5%) 24 (21.1%) 14 (12.3%)
3.18 8 (7.0%) 21 (18.4%) 32 (28.1%) 49 (43.0%) 4 (3.5%)
4.08 Tìm kiếm chỗ dựa tình cảm 1. Kể với bạn bè suy nghĩ của mình 2. Nhận được sự thông cảm, an ủi từ những người khác 3. Nói với bố mẹ những điều mình lo lắng 2 (1.8%) 1 (0.9%) 17 (14.9%) 60 (52.6%) 34 (29.8%)
93
* Kiểu ứng phó thay đổi cảm giác bên trong
Số liệu nghiên cứu cho thấy, trong nhóm này có hai cách ứng phó biểu hiện
cao nhất với điểm trung bình dưới 3.5 điểm, xếp vào mức trung bình. Đó là cách
ứng phó “cảm thấy buồn chán” (ĐTB= 2.81). Đây là cảm xúc âm tính xuất hiện khi
có nảy sinh áp lực tâm lý, đây cũng vừa là cách ứng phó vừa là một trong những
biểu hiện dễ nhận thấy nhất của người bị áp lực tâm lý. Có đến 39.5% trẻ lao động
sớm thường xuyên rơi vào tình trạng này, trong đó tỷ lệ trẻ chọn mức rất thường
xuyên lên tới 18.4%, chỉ có 11.4% trẻ chưa bao giờ cảm thấy buồn chán. Em H.T.T
(quận 1) cho biết: “Mỗi lần có chuyện xảy ra, em lại cảm thấy vô cùng buồn chán,
cảm giác nôn nao rất khó chịu, em không biết diễn tả thế nào”.
Cách ứng phó thứ hai là có cảm giác lo lắng, bất an. Có tới 37.7% trẻ lao động
sớm thường xuyên có cảm giác này, trong đó có tới 9.6% trẻ lựa chọn mức độ rất
thường xuyên. Đây là hai cách ứng xử tiêu cực khi gặp áp lực tâm lý, bởi vì buồn
chán hay lo lắng bất an là những cảm xúc âm tính, không những chúng không giúp
con người giải phóng khỏi các áp lực tâm lý mà ngược lại làm ảnh hưởng tới chất
lượng cuộc sống của trẻ.
* Kiểu ứng phó thay đổi tình cảm thể hiện ra bên ngoài
Trong nhóm cách ứng phó thay đổi tình cảm thể hiện ra bên ngoài, chúng tôi
nhận thấy có hai cách ứng xử có điểm trung bình thấp hơn 3.5, nằm trong mức trung
bình là chán ăn và khóc. Cách ứng phó thứ nhất là chán ăn với điểm trung bình
ĐTB= 3.24. Đây là một trong những cách ứng phó làm ảnh hưởng tới sức khỏe của
con người và cũng là cách ứng phó mà con người thường hay sử dụng. Khi gặp
chuyện buồn bực, cảm giác ngon miệng hoặc thèm ăn trong con người giảm đi rõ
rệt. Vì vậy, có tới 27.2% trẻ thường xuyên sử dụng cách ứng phó này khi đối mặt
với các áp lực tâm lý. Bình thường, do điều kiện thiếu thốn, bữa ăn của trẻ lao động
sớm không được đầy đủ, đôi khi còn qua loa cho xong bữa nên mỗi khi buồn bực,
việc các em bỏ bữa là chuyện rất dễ xảy ra.
Hành vi thứ hai cũng được các em thực hiện khá nhiều khi gặp áp lực tâm lý là
khóc với điểm trung bình 2.74. Đây là điểm trung bình thuộc mức độ thỉnh thoảng
94
nhưng cũng rất gần với mức độ thường xuyên, cho thấy trẻ lao động sớm thường sử
dụng cách ứng phó này. Khóc là cách đơn giản nhất mà ai cũng có thể làm để giải
tỏa tâm lý. Chính vì vậy tỷ lệ trẻ thường xuyên sử dụng cách ứng phó này lên tới
44.8%, gần ½ mẫu. Khóc có thể làm cho các em vơi đi những nỗi buồn, những khó
khăn mà các em vốn đã gặp rất nhiều trong cuộc sống.
* Kiểu ứng phó tìm kiếm chỗ dựa tình cảm
Trong nhóm cách ứng phó tìm kiếm chỗ dựa tình cảm, người nghiên cứu đặc
biệt quan tâm tới cách ứng xử nói với bố mẹ những điều mình lo lắng, bởi điều này
thể hiện sự tin tưởng của trẻ đối với cha mẹ và sự quan tâm của cha mẹ tới trẻ.
Điểm trung bình của cách ứng phó này khá cao (ĐTB= 4.08), rơi vào mức hiếm khi.
Và có tới 82.4% trẻ hiếm khi nói với bố mẹ những điều mà trẻ lo lắng, trong đó tỷ
lệ trẻ không bao giờ làm điều này lên tới 29.8%. Chỉ có 1.8% trẻ rất thường xuyên
và 0.9% trẻ thường xuyên chia sẻ với cha mẹ tâm tư của mình.
60
52.6
50
40
29.8
30
20
14.9
10
1.8
0.9
0
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Không bao giờ
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ trẻ chọn cách ứng phó nói với bố mẹ
những điều mình lo lắng
95
Như vậy, có thể nói trẻ lao động sớm không có thói quen chia sẻ những khó
khăn của mình với bố mẹ. Trẻ lao động sớm đều xuất thân từ những gia đình có
hoàn cảnh khó khăn, chính vì vậy cha mẹ dành rất nhiều thời gian vào cuộc mưu
sinh, thời gian dành cho con cái bị rút ngắn tới mức tối thiểu. Họ không có thời gian
để nghĩ tới những tâm tư, tình cảm của con, những điều lo lắng mà con mình đang
gặp phải. Bên cạnh đó, cha mẹ chưa phải là đối tượng tin cậy để trẻ chia sẻ những
khó khăn của mình. Lý do thứ ba có thể dẫn tới thực trạng này là trẻ không muốn
cho cha mẹ biết những khó khăn của mình vì sợ cha mẹ lo lắng. Điều này diễn ra
nhiều nhất là ở những trẻ sống xa gia đình.
Cách ứng xử có điểm trung bình thấp nhất trong nhóm cách ứng phó tìm kiếm
chỗ dựa tình cảm là kể với bạn bè những suy nghĩ của mình (ĐTB= 2.85). Đây là
mức điểm nằm trong khoảng trung bình nhưng có tới 49.1% trẻ lao động sớm
thường xuyên chọn cách ứng phó này. Tình bạn là một trong những mối quan tâm
lớn nhất của lứa tuổi thiếu niên. Trong quan hệ bạn bè, các em đối với nhau rất chân
tình, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Trẻ có thể tin
tưởng và kể cho bạn nghe những điều thầm kín nhất của mình. Ở đây, trẻ lao động
sớm cũng không ngoại lệ trong dòng tâm lý ấy. Các em có thể dấu cha mẹ nhưng
sẵn sàng chia sẻ với bạn những cảm xúc, những khó khăn mà mình đang trải qua.
Các hành vi còn lại thì điểm trung bình đều rất cao trên 3 điểm và số thống kê
ở các mức độ rất thường xuyên và thường xuyên rất thấp, cho thấy trẻ lao động sớm
ít sử dụng các cách ứng phó này khi đối diện với những áp lực tâm lý.
Như vậy, dựa vào số liệu và các phân tích trên cho thấy, đại đa số trẻ lao động
sớm khi gặp áp lực trong cuộc sống đều có kiểu ứng phó thay đổi, điều chỉnh cảm
xúc ở mức độ nhất định. Các cách ứng phó được trẻ sử dụng nhiều nhất là: xuất
hiện cảm giác buồn chán, lo lắng, bất an, ăn không ngon miệng và khóc, sau đó là
chia sẻ với bạn bè những cảm nghĩ của mình. Những cách ứng xử như: bực bội, cáu
gắt, bồn chồn, bối rối, nói với cha mẹ những điều mình lo lắng… không được trẻ
lao động sớm sử dụng nhiều trong quá trình giải quyết các áp lực tâm lý.
96
2.6.2.2. Nhóm ứng phó thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ
Các nhóm biểu hiện trong kiểu ứng phó thay đổi suy nghĩ đều có điểm trung
bình trên 3.0 (trừ nhóm lảng tránh các áp lực) cho thấy trẻ lao động sớm thỉnh
thoảng có sử dụng các cách ứng phó này khi đối mặt với các áp lực tâm lý.
Nổi bật nhất trong kiểu ứng phó này là nhóm ứng phó “lảng tránh các áp lực”
với điểm trung bình ĐTB= 2.50. Đây là mức điểm nằm trong khoảng thường xuyên
cho thấy trẻ lao động sớm có xu hướng sử dụng nhiều các biện pháp này khi gặp áp
lực tâm lý. Xem xét từng biện pháp cụ thể trong nhóm ta thấy cả hai biện pháp này
đều hướng tới việc cầu mong, nhờ cậy sự giúp đỡ của các yếu tố siêu nhiên, thần
thánh giúp trẻ vượt qua những khó khăn hiện tại. Có tới 41.3% trẻ lựa chọn ở mức
độ thường xuyên “hi vọng có một phép màu để thay đổi điều này” (trong đó lựa
chọn “rất thường xuyên” chiếm tỷ lệ 24.6%) và 45.6% trẻ lựa chọn mức độ thường
xuyên “cầu mong sự giúp đỡ của Tiên Phật” (trong đó lựa chọn “rất thường xuyên”
chiếm tới 23.7%) đã chứng tỏ điều này. Con người thường cầu xin tới thần thánh
khi những khó khăn của cuộc sống thực tại đã thực sự vượt quá khả năng giải quyết
của họ. Khi họ không biết bám víu, nhờ cậy tin tưởng vào ai để giúp họ giải quyết
những vướng mắc, những bất thường trong cuộc sống thì Tiên, Phật giống như một
“phao cứu sinh” để họ hy vọng vào những điều tốt đẹp hơn.
Ở đây, trẻ lao động sớm thường phải đối mặt với rất nhiều bất trắc trong cuộc
sống mà bản thân các em không giải quyết được và việc vào chùa lễ Phật hay đi nhà
thờ cầu nguyện Đức Chúa là một việc làm giúp các em có thể giải tỏa những vướng
mắc trong lòng và cầu xin, mong muốn có thể thay đổi được thực tại. N.H.T (quận
1) và nhóm bạn cùng bán hàng với em ở khu vực đường Hàm Nghi cho biết hàng
tháng vào ngày rằm và ngày đầu tháng các em đều lên chùa xin cơm chay và vào
cúng Phật. Em V.B.Đ (quận Tân Bình) cũng nói với chúng tôi, một trong những
cách mà em làm khi gặp chuyện buồn đó là lên chùa: “Mỗi khi buồn em rủ bạn đi
chơi, đi uống nước hoặc là đi chùa”.
97
Bảng 2.20: Cách ứng phó cụ thể trong nhóm thay đổi suy nghĩ của trẻ lao
động sớm đối với áp lực tâm lý
Mức độ
ĐTB ỨNG PHÓ THAY ĐỔI SUY NGHĨ Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ Rất thường xuyên
Phủ nhận áp lực 4.07
3.83
3.71
3.74 9 (7.9%) 6 (5.3%) 10 (8.8%) 6 (5.3%) 5 (4.4%) 4 (3.5%) 18 (15.8%) 31 (27.2%) 23 (20.2%) 43 (37.7%) 46 (40.4%) 46 (40.4%) 38 (33.3%) 26 (22.8%) 31 (27.2%) 1. Tự nhủ những áp lực đó không phải là sự thật 2. Coi như chẳng có điều gì xảy ra 3. Giả vờ vấn đề đó không có gì quan trọng
Chấp nhận áp lực 3.89
3.51 8 (7.0%) 8 (7.0%) 37 (32.5%) 40 (35.1%) 21 (18.4%)
3.44 9 (7.9%) 16 (14.0%) 25 (21.9%) 44 (38.6%) 20 (17.5%)
3.89 11 (9.6%) 8 (7.0%) 15 (13.2%) 29 (25.4%) 51 (44.7%)
3.19
4.08 4 (3.5%) 9 (7.9%) 16 (14.0%) 30 (26.3%) 55 (48.2%)
2.82 20 (17.5%) 30 (26.3%) 15 (13.2%) 31 (27.2%) 18 (15.8%)
3.37
3.52
3.79 8 (7.0%) 7 (6.1%) 22 (19.3%) 6 (5.3%) 16 (14.0%) 31 (27.2%) 39 (34.2%) 30 (26.3%) 29 (25.4%) 40 (35.1%) 1. Nghĩ đằng nào thì mọi sự cũng đã xảy ra 2. Có muốn cũng không thay đổi được tình trạng này 3. Mặc kệ mọi việc xảy ra thế nào cũng được Lý giải theo hướng tích cực 1. Áp lực giúp mình làm việc hiệu quả hơn 2. Nhờ điều này, em hiểu ai là người tốt với mình Lý giải theo hướng tiêu cực 3. Chuyện xảy ra không phải do lỗi của mình 4. Mọi người đã quá tệ bạc với mình
2.50
2.63
2.76 28 (24.6%) 27 (23.7%) 19 (16.7%) 25 (21.9%) 43 (37.7%) 26 (22.8%) 15 (13.2%) 20 (17.5%) 9 (7.9%) 16 (14.0%) Lảng tránh các áp lực 1. Hi vọng có một phép màu để thay đổi điều này 2. Cầu mong sự giúp đỡ của Tiên, Phật
98
Hai nhóm ứng phó có điểm trung bình nằm trong khoảng thỉnh thoảng của
kiểu ứng phó thay đổi suy nghĩ là lý giải theo hướng tích cực (ĐTB= 3.19) và lý
giải theo hướng tiêu cực (ĐTB= 3.37). Đây là hai nhóm ứng phó trái ngược nhau,
tuy nhiên điểm trung bình của cả hai nhóm đều xấp xỉ nhau chứng tỏ trẻ lao động
sớm khi gặp áp lực tâm lý trẻ có thể ứng phó bằng những suy nghĩ tích cực, nhưng
đôi khi cũng có lúc lý giải theo hướng tiêu cực. Trong nhóm lý giải theo hướng tích
cực, chúng tôi chú ý đến cách ứng phó nhờ điều này em hiểu ai là người tốt với
mình (ĐTB= 2.82) với tỷ lệ trẻ chọn lựa mức độ thường xuyên lên tới 43%. Điều
này cho thấy trẻ lao động sớm đã biết nhìn ra những điểm tích cực khi gặp áp lực
tâm lý và lý giải nó theo cách này để có thể vượt qua được. Tuy nhiên, cũng trong
nhóm cách ứng phó lý giải theo hướng tích cực, ở biện pháp “áp lực giúp mình làm
việc hiệu quả hơn” lại có tới 74.5% trẻ lựa chọn mức độ hiếm khi lý giải sự việc
theo cách này (trong đó tỷ lệ không bao giờ lên tới 48.2%). Điều này có thể cho
thấy những áp lực mà trẻ lao động sớm gặp phải không thực sự có tác động thúc
đẩy tinh thần làm việc của trẻ.
Các cách ứng phó còn lại trong nhóm phủ nhận các áp lực và chấp nhận các áp
lực đều có điểm trung bình khá cao (trên 3.50) và tỷ lệ lựa chọn mức độ hiếm khi và
không bao giờ sử dụng cách này đều rất cao (hơn 60%) cho thấy trẻ lao động sớm
có xu hướng ít sử dụng các cách ứng phó này khi đối mặt với các áp lực tâm lý.
Như vậy, trong nhóm ứng phó thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ, trẻ lao động sớm
có xu hướng lảng tránh các áp lực tâm lý bằng cách cầu khấn Thần, Phật giúp mình
giải quyết, lý giải theo hướng tích cực nhờ điều này mà các em nhận biết được ai là
người tốt với mình. Các cách ứng phó còn lại như: Giả vờ vấn đề đó không có gì
quan trọng; tự nhủ những áp lực đó không phải là sự thật; mặc kệ mọi việc xảy ra
thế nào cũng được; tự nhủ những áp lực đó không phải là sự thật ít được trẻ lao
động sớm sử dụng.
2.6.2.3. Nhóm ứng phó thay đổi, điều chỉnh hành vi
Quan sát bảng số liệu trong kiểu ứng phó thay đổi, điều chỉnh hành vi, ta thấy
trừ cách ứng phó thay thế bằng hành vi tiêu cực, còn lại các nhóm đều có điểm
99
trung bình từ 2.5– 3.5, nằm trong mức thỉnh thoảng. Điều này cho thấy, khi gặp áp
lực tâm lý, trẻ lao động sớm có xu hướng ứng phó bằng hành động ở mức trung
bình. Điều đáng mừng là nhóm cách ứng phó thay thế bằng hành vi tiêu cực có
điểm trung bình rất cao (ĐTB= 3.94) nằm trong mức hiếm khi. Điều này cho thấy,
trẻ lao động sớm ít có xu hướng ứng phó với áp lực tâm lý bằng những hành vi tiêu
cực.
Nhóm có điểm trung bình thấp nhất trong kiểu ứng phó thay đổi hành vi là
thay thế bằng hành vi tích cực (ĐTB= 2.55). Đây là mức điểm nằm trong mức thỉnh
thoảng nhưng lại khá gần với mức thường xuyên, do đó có thể nói đây là cách ứng
phó được trẻ lao động sớm có xu hướng sử dụng nhiều khi đối mặt với áp lực tâm
lý. Điều này được thể hiện qua tỷ lệ mức độ thường xuyên mà trẻ lựa chọn. Trong
cách ứng phó làm mọi việc như chơi thể thao, đọc truyện để quên đi vấn đề này có
tới 52.7% trẻ lựa chọn mức độ thường xuyên, trong đó tỷ lệ trẻ chọn mức độ “rất
thường xuyên” là 13.2%.
Đọc truyện, chơi thể thao là một trong những biện pháp lành mạnh và hiệu quả
để giải tỏa những căng thẳng, mệt mỏi trong cuộc sống. Bên cạnh đó, đây cũng là
một cách thư giãn, giữ cho tinh thần thoải mái, phòng ngừa được những áp lực tâm
lý.
Cách ứng phó thứ hai trong nhóm thay thế bằng hành vi tích cực là nói ra mọi
chuyện để thấy dễ chịu hơn cũng là cách được trẻ lao động sớm lựa chọn khá nhiều.
Có tới 40.4% trẻ lựa chọn ở mức độ thường xuyên, (trong đó mức độ rất thường
xuyên lên tới 21.1%) sử dụng cách ứng xử này khi đối mặt với áp lực tâm lý. Điều
này cho thấy trẻ lao động sớm đã nhận thức được ý nghĩa của việc sẻ chia, tìm kiếm
sự giúp đỡ ở người khác.
Trái ngược với cách ứng phó thay thế bằng các hành vi tích cực là thay thế
bằng hành vi tiêu cực. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới cách ứng phó này bởi đây là
một trong những cách ứng phó là cho hậu quả của áp lực tâm lý trở nên nặng nề
hơn. Số liệu cho thấy có 7% trẻ thường xuyên sử dụng bia rượu, chất kích thích, 7%
trẻ gây gổ, đánh nhau với người khác, 5.4% trẻ bỏ đi lang thang và 7.9% trẻ giận
dữ, mỉa mai người khác để giải tỏa áp lực tâm lý.
100
Bảng 2.21: Cách ứng phó cụ thể trong nhóm thay đổi suy nghĩ
Mức độ
ĐTB
ỨNG PHÓ THAY ĐỔI HÀNH VI
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ
2.89
2.89
3.94
4.31
3.84
Kiềm chế bản thân Ngồi một mình để suy nghĩ về mọi việc Thay thế bằng hành vi tiêu cực Dùng các chất kích thích (bia, rượu, . . ) Gây gổ, đánh nhau với người khác Bỏ đi lang thang đâu đó
4.00
4.05
2.55
2.73
2.86
3.73
3.65
3.69
3.18
Rất thường xuyên 17 (14.9%) 8 (7.0%) 8 (7.0%) 4 (3.5%) 4 (3.5%) 15 (13.2%) 24 (21.1%) 6 (5.3%) 13 (11.4%) 14 (12.3%)
23 (20.2%) 5 (4.4%) 31 (27.2%) 25 (21.9%) 19 (16.7%) 24 (21.1%) 29 (25.4%) 28 (24.6%) 22 (19.3%) 27 (23.7%)
35 (30.7%) 0 (0%) 0 (0%) 2 (1.8%) 5 (4.4%) 45 (39.5%) 22 (19.3%) 9 (7.9%) 5 (4.4%) 20 (17.5%)
22 (19.3%) 37 (32.5%) 38 (33.3%) 42 (36.8%) 39 (34.2%) 16 (14.0%) 24 (21.1%) 47 (41.2%) 38 (33.3%) 38 (33.3%)
17 (14.9%) 64 (56.1%) 37 (32.5%) 41 (36.0%) 47 (41.2%) 14 (12.3%) 15 (13.2%) 24 (21.1%) 36 (31.6%) 15 (13.2%)
3.18
Nói những lời giận dữ, mỉa mai người khác Thay thế bằng hành vi tích cực Làm mọi việc như chơi thể thao, đọc truyện Nói ra mọi thứ để thấy dễ chịu hơn Tìm kiếm lời khuyên Trò chuyện với bố mẹ để tìm ra giải pháp Nói chuyện với người có thể giúp đỡ mình Hỏi bạn bè phải làm gì vào lúc này Lên kế hoạch ứng phó chủ động Cố gắng lên kế hoạch làm việc
3.28
2.91
Suy nghĩ nhiều về những việc tiếp theo Sắp xếp lại cuộc sống của mình
3.20
2.88
Quyết tâm vượt qua những áp lực này Tập trung toàn bộ vào công việc
3.30
3.32
3.15
16 (14.0%) 20 (17.5%) 9 (7.9%) 19 (16.7%) 8 (7.0%) 2 (1.8%) 8 (7.0%)
20 (17.5%) 26 (22.8%) 22 (19.3%) 31 (27.2%) 19 (16.7%) 26 (22.8%) 41 (36.0%)
21 (18.4%) 25 (21.9%) 34 (29.8%) 26 (22.8%) 34 (29.8%) 33 (28.9%) 22 (19.3%)
29 (25.4%) 31 (27.2%) 23 (20.2%) 26 (22.8%) 22 (19.3%) 33 (28.9%) 31 (27.2%)
28 (24.6%) 12 (10.5%) 26 (22.8%) 12 (10.5%) 31 (27.2%) 20 (17.5%) 12 (10.5%)
Cố gắng tìm hiểu điều gì gây ra áp lực Tập trung sự giúp đỡ của mọi người
101
Đây không phải là những con số lớn nhưng cũng đủ để chứng tỏ vẫn còn tồn
tại những trẻ lao động sớm chưa biết cách để ứng phó với những áp lực tâm lý của
mình. Nếu để tình trạng này kéo dài, những áp lực tâm lý sẽ dẫn tương lai của các
em về đâu khi việc uống bia rượu, chất kích thích, đánh nhau thường xuyên xảy ra?
Những trẻ này thực sự cần sự giúp đỡ đúng đắn và kịp thời của những người xung
quanh.
Một biểu hiện đáng chú ý trong kiểu ứng phó thay đổi hành vi là nhóm các
cách ứng phó lập kế hoạch ứng phó chủ động đều được trẻ lao động sớm lựa chọn
khá nhiều. Mặc dù điểm trung bình của các biện pháp này đều trên 2.5, nằm trong
khoảng trung bình, tuy nhiên tỷ lệ trẻ chọn ở mức độ thường xuyên đều vượt mức
30% cho thấy trẻ lao động sớm đã bước đầu có ý thức chủ động ứng phó với những
áp lực tâm lý mà các em gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Đây là một tín hiệu
đáng mừng. Việc tìm hiểu nguyên nhân gây ra áp lực, lên kế hoạch, sắp xếp lại cuộc
sống và nhờ cậy sự giúp đỡ của mọi người chính là một trong những cách giúp con
người chủ động đối diện với áp lực, tìm cách tháo gỡ nó từ căn nguyên của những
vấn đề gây ra áp lực. Điều này không những giúp trẻ vượt qua áp lực của hiện tại
mà còn giúp ngăn ngừa những áp lực có thể nảy sinh trong tương lai.
Một số cách ứng phó mang tính tích cực còn lại như: nói chuyện với người có
thể giúp đỡ mình, hỏi bạn bè xin lời khuyên là những cách cũng được trẻ lao động
sớm sử dụng trong quá trình giải quyết các áp lực của mình.
Như vậy, trong kiểu ứng phó thay đổi hành vi, trẻ lao động sớm có xu hướng
sử dụng các biện pháp mang tính tích cực như: xin lời khuyên, lên kế hoạch ứng
phó, sắp xếp lại cuộc sống, hoặc chơi thể thao, đọc truyện để quên đi áp lực. Những
hành vi mang tính tiêu cực như: uống rượu bia, chất kích thích, gây gổ, đánh nhau,
giận dữ với người khác hay bỏ đi lang thang tuy vẫn còn có tỷ lệ trẻ nhất định sử
dụng nhưng đa số các trẻ đều không chọn cách ứng phó này.
102
2.6.3. Cách ứng phó cụ thể của trẻ lao động sớm qua một số tình huống
Sau khi khảo sát những cách ứng phó mà trẻ lao động sớm thường thực hiện
để vượt qua những áp lực tâm lý, chúng tôi đã kiểm tra lại tính chân thực của các
kết quả trên bằng cách đưa ra sáu tình huống các em đã gặp trong cuộc sống hàng
ngày, mỗi tình huống có bảy cách xử lý và yêu cầu khách thể chọn lựa cách xử lý
cho những tình huống ấy phù hợp nhất với mình. Cách xử lý tình huống sẽ cho
chúng ta biết các em có xu hướng ứng phó với áp lực tâm lý như thế nào. Trong quá
trình phân tích số liệu, đề tài chỉ chọn ra ba trong bảy cách xứ lý được trẻ lao động
sớm lựa chọn nhiều nhất và so sánh. Kết quả được thể hiện trong bảng số liệu dưới
đây:
Trong số sáu tình huống chúng tôi đưa ra ở trên, có năm tình huống đòi hỏi trẻ
cách ứng phó khi gặp áp lực tâm lý (tình huống số 1, 2, 4, 5, 6) và một tình huống
cho trẻ xác định những áp lực tâm lý mà trẻ gặp phải (tình huống số 3).
Ở tình huống số 3, chúng tôi yêu cầu trẻ lựa chọn những áp lực mà bạn có thể
gặp phải khi đi lao động sớm, ba áp lực được trẻ lựa chọn nhiều nhất như sau:
không tìm được việc làm như ý (45.6%), chỗ ở không thoải mái (17.5%) và mọi
người không tôn trọng (13.2%). Như vậy, thông qua tình huống này chúng ta thấy
áp lực mà trẻ lao động sớm gặp phải nhiều nhất là những áp lực liên quan tới công
ăn việc làm, chỗ ở và quan hệ với những người xung quanh, đặc biệt là áp lực liên
quan tới công việc (tỷ lệ chọn lên tới 45.6%). Điều này tương đối phù hợp với
những kết quả đã được phân tích ở trên.
Ở năm tình huống còn lại, trong số 15 cách ứng phó có tỷ lệ trẻ lựa chọn nhiều
nhất, chúng tôi đã thống kê lại được có 3 cách ứng phó thuộc về kiểu thay đổi cảm
xúc: cảm thấy lo lắng, sợ hãi; cảm thấy buồn chán; kể với bạn bè; 4 cách ứng phó
thuộc về kiểu ứng phó thay đổi hành vi: xin lời khuyên từ người khác, lên kế hoạch
chủ động, nhờ mọi người giúp đỡ và đi chơi, đọc truyện để hết buồn; 1 cách ứng
phó thuộc về kiểu ứng phó thay đổi suy nghĩ: tự nhủ điều đó không quan trọng. Kết
quả thống kê cho thấy, trẻ có xu hướng lựa chọn các cách ứng phó thuộc về kiểu
thay đổi cảm xúc và thay đổi hành vi nhiều hơn là kiểu ứng phó thay đổi suy nghĩ.
103
Điều này một lần nữa khẳng định những kết quả mà chúng tôi thu được ở trên là
đáng tin cậy.
104
Bảng 2.22: Cách ứng phó của trẻ lao động sớm qua một số tình huống
Tình huống Cách giải quyết Tần số %
Cảm thấy buồn chán 34.2 39
Kể với bạn bè 22.8 26 Tình huống 1 Tự nhủ điều đó không quan trọng 21.1 24
Nói chuyện với chủ 43.0 49
Kể với bạn bè, cha mẹ 29.8 34 Tình huống 2 Đi chơi, đọc truyện 7.9 9
Không tìm được việc làm như ý 45.6 52
Không tìm được chỗ ở thoải mái 17.5 20 Tình huống 3 Mọi người xung quanh không tôn trọng 13.2 15
Nhờ mọi người giúp đỡ 40.4 46
Lo lắng, sợ hãi 34.2 39 Tình huống 4 Đi chơi, đọc truyện 8.8 10
Xin lời khuyên từ người khác 30.7 35
Lên kế hoạch lấy lại tiền 24.6 28 Tình huống 5 Khác 18.4 21
Thấy buồn chán 43.0 49
30.7 35 Tự nhủ điều đó không quan trọng Tình huống 6 10.5 12 Đi chơi, đọc truyện
Với tiêu chí giảm áp lực trên bình diện cá nhân, có thể chia thành cách ứng
phó tích cực (chủ động hành động, tình cảm và suy nghĩ theo hướng tích cực để
thoát khỏi vấn đề) và ứng phó tiêu cực (thể hiện tình cảm âm tính, có những suy
nghĩ và hành động âm tính). Xét theo khía cạnh này, ta thấy về mặt tình cảm, trẻ lao
động sớm có cách ứng phó mang tính tiêu cực nhiều hơn. Khi gặp áp lực tâm lý, trẻ
thường buồn chán, lo lắng, hoang mang, bối rối không biết phải làm gì. Tuy nhiên,
ở mặt suy nghĩ và hành động, các kiểu ứng phó của trẻ lao động sớm lại mang tính
tích cực nhiều hơn. Đặc biệt là trong hành động, khoảng cách giữa điểm trung bình
của các hành động mang tính tích cực và hành động mang tính tiêu cực là rất lớn
(3.11 so với 4.39) cho thấy trong hành động, trẻ lao động sớm chủ yếu sử dụng các
cách ứng phó mang tính tích cực.
105
Bảng 2.23: Điểm trung bình các kiểu ứng phó mang tính tích cực và tiêu cực
của trẻ lao động sớm đối với những áp lực trong cuộc sống
Các cách ứng phó ĐTB SD
Tích cực 3.3246 0.80370 Tình cảm Tiêu cực 3.1579 0.68587
Tích cực 3.1930 0.96741 Suy nghĩ Tiêu cực 3.3596 0.77719
Tích cực 3.1140 0.74973 Hành động Tiêu cực 4.3924 0.92567
2.6.4. So sánh các kiểu ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm trên một số
Bảng 2.24: So sánh các kiểu ứng phó theo các nhóm trẻ lao động sớm
phương diện
Phương diện so sánh UP suy nghĩ Sig.
ĐTB 3.10 UP hành động ĐTB Sig. 3.14 Nam ĐTB 3.280
0.038 0.040 Giới tính 3.25 Nữ 3.484 3.59 UP cảm xúc Sig. 0.020
0.071 0.553 0.800
0.331 0.209 0.004 Độ tuổi Quê quán
0.144 0.240 Nơi ở 0.000
0.011 0.000 0.000 Trình độ
3.15 3.21 3.22 3.14 3.34 3.17 3.05 2.55 3.25 3.33 3.24 3.683 3.233 3.469 3.300 3.429 3.512 3.237 2.273 3.649 3.333 3.280 3.41 3.38 3.59 3.14 3.11 3.88 3.13 2.45 3.72 3.56 3.20
6 đến 11 12 đến 15 Thành phố Tỉnh khác Quận 1 Quận 8 Quận TB Chưa từng đi học Chưa học xong TH Học xong TH Chưa học xong THCS Học xong THCS 3.25 3.500 3.00
106
107
* Xét theo giới tính
Cả ba trị số P đều nhỏ hơn 0.05 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ lao
động nam và trẻ lao động nữ trong các kiểu ứng phó với áp lực tâm lý. So sánh ta
thấy điểm trung bình ở cả ba kiểu ứng phó của nam đều nhỏ hơn nữ chứng tỏ trong
ba kiểu ứng phó này, trẻ lao động sớm nam sử dụng nhiều hơn trẻ nữ.
* Xét theo độ tuổi
So sánh điểm trung bình ta thấy trong ba nhóm cách ứng phó với áp lực tâm lý
có hai nhóm cách ứng phó là thay đổi suy nghĩ và thay đổi hành động, trẻ ở nhóm
tuổi 12 đến 15 tuổi có điểm trung bình nhỏ hơn nhóm trẻ 6 đến 11 tuổi, chứng tỏ trẻ
trong nhóm12 đến 15 tuổi sử dụng các cách ứng phó này thường xuyên hơn nhóm
trẻ còn lại. Ở kiểu ứng phó thay đổi cảm xúc thì ngược lại, nhóm trẻ 6 đến 11 tuổi
sử dụng kiểu ứng phó này nhiều hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy cả ba
trị số P đều lớn hơn 0.05 chứng tỏ sự chênh lệch này không quá lớn và không có ý
nghĩa về mặt thống kê.
* Xét theo quê quán
Với trị số P lớn hơn 0.05 cho thấy ở hai kiểu ứng phó cảm xúc và ứng phó suy
nghĩ không có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ quê ở thành phố và trẻ đến từ các tỉnh
khác. Tuy nhiên, ở mặt ứng phó hành động, Với P= 0.004<0.05 chứng tỏ có sự khác
biệt ý nghĩa giữa hai nhóm trẻ này. So sánh điểm trung bình ta thấy, trẻ lao động
sớm có quê quán tại thành phố có xu hướng ít sử dụng các kiểu ứng phó hành động
(ĐTB= 3.59) hơn trẻ đến từ các tỉnh khác (ĐTB= 3.14).
* Xét theo nơi ở
Kết quả từ bảng số liệu cho thấy, trong ba kiểu ứng phó, chỉ có kiểu ứng phó
hành động là có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ lao động sớm tại các quận
khác nhau. Dùng kiểm nghiệm Turkey so sánh từng đôi một ta thấy, sự khác biệt
diễn ra ở hai quận: quận 1 và quận 8, trong đó trẻ lao động sớm ở quận 1 có xu
hướng sử dụng kiểu ứng phó hành động nhiều hơn (ĐTB= 3.11) trẻ lao động sớm ở
quận 8 (ĐTB= 3.88).
108
* Xét theo trình độ:
Trị số P ở cả ba kiểu ứng phó đều nhỏ hơn 0.05 chứng tỏ có sự khác biệt ý
nghĩa giữa xu hướng lựa chọn cách ứng phó ở nhóm trẻ chưa từng đi học so với các
nhóm trẻ còn lại. Ở cả ba kiểu ứng phó, nhóm trẻ chưa từng đi học có điểm trung
bình đều cao hơn các nhóm còn lại cho thấy trẻ chưa từng đi học có xu hướng sử
dụng nhiều các kiểu ứng phó hơn các nhóm trẻ đã từng được đến trường. Đặc biệt,
khoảng cách điểm trung bình của trẻ chưa từng đi học so với các nhóm khác là khá
xa chứng tỏ sự khác biệt giữa các nhóm này là khá lớn.
Chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm Anova để so sánh sự khác biệt giữa các
nhóm trẻ còn lại. Trị số P đều lớn hơn 0.05 chứng tỏ không có sự khác biệt ý nghĩa
về việc lựa chọn các kiểu ứng phó ở các nhóm trẻ xét theo: lý do đi làm và việc các
em đang sống cùng ai.
109
TIỂU KẾT
Trong số 114 trẻ lao động sớm của ba quận trong thành phố Hồ Chí Minh
được nghiên cứu thì có tới 51.7% trẻ thường xuyên gặp áp lực tâm lý. Các yếu tố
gây áp lực cho trẻ lao động sớm chủ yếu thuộc về vấn đề việc làm (ĐTB = 2.45),
tiếp theo là vấn đề chỗ ở (ĐTB= 2.71) và vấn đề xếp ở vị trí thứ ba là trong quan hệ
với bạn bè (ĐTB= 2.73).
Mỗi áp lực cụ thể trong mỗi dạng áp lực đều rất phong phú, trong đó đáng chú
ý là: thời gian làm việc (ĐTB = 2.68), tiền nhà trọ (ĐTB= 2.72), không có việc làm
(ĐTB= 2.72), tiền lương (ĐTB= 2.88), Mức độ gặp áp lực ở các khía cạnh cụ thể
này có sự khác biệt ý nghĩa giữa độ tuổi, nơi ở, lý do đi làm và trình độ của trẻ lao
động sớm nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa giữa quê quán và việc các em đang
sống cùng ai.
Đa số trẻ lao động sớm đều đồng tình với các ý kiến liên quan tới vấn đề nhà ở
(ĐTB = 1.30) việc làm (ĐTB = 1.55) và các ý kiến về mối quan hệ của trẻ lao động
sớm với cha mẹ. Mức độ đồng tình này có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ
xét theo độ tuổi, giới tính, lý do đi làm, trình độ, quê quán.
Ảnh hưởng của áp lực tâm lý tới các mặt trong đời sống của trẻ lao động sớm
được thể hiện ở mức trung bình, nhiều nhất là đến mặt sức khoẻ (ĐTB= 3.31), sau
đó là đến cảm xúc (ĐTB= 3.81) và hành vi (ĐTB= 4.88).
Trong ba nhóm cách ứng phó với các áp lực trong cuộc sống thay đổi, điều
chỉnh cảm xúc; thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ và thay đổi, điều chỉnh hành vi thì
cách ứng phó mà các em lựa chọn nhiều nhất là thay đổi, điều chỉnh cảm xúc
(ĐTB= 1.72), tiếp đến là thay đổi, điều chỉnh hành vi (ĐTB= 1.85) và cuối cùng
mới đến thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ (ĐTB= 2.46). Một số cách ứng phó được các
em thường xuyên sử dụng: cảm thấy buồn chán (39.5%), lo lắng, bất an (37.7%), hi
vọng có một phép màu để thay đổi điều này (41.3%), chơi thể thao, đọc truyện để
quên đi vấn đề (52.7%).
110
Chương 3. THỰC NGHIỆM NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ ÁP
LỰC TÂM LÝ VÀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI ÁP LỰC TÂM LÝ
CỦA TRẺ LAO ĐỘNG SỚM
Dựa trên kết quả nghiên cứu và sự phân tích các yếu tố gây nên áp lực tâm lý
và cách ứng phó của trẻ lao động sớm với các áp lực tâm lý trong cuộc sống, chúng
tôi mạnh dạn đề nghị một số biện pháp tác động để nâng cao nhận thức của các em
về áp lực tâm lý và các cách ứng phó tích cực với áp lực tâm lý, từ đó thúc đẩy các
em trau dồi tìm hiểu và rèn luyện các kỹ năng ứng phó với áp lực tâm lý. Cụ thể
như sau:
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp thực nghiệm
a. Mô hình về quá trình ứng phó với áp lực tâm lý
Áp lực tâm lý là một trạng thái thường gặp ở con người. Nó tạo ra những sức
ép cho con người trong quá trình sống, làm cho con người có những căng thẳng về
mặt tâm lý, gây cản trở hoạt động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe
của con người.
Ứng phó tâm lý là quá trình xử lý các đòi hỏi bên trong hoặc bên ngoài được
tri giác thấy là gây ra căng thẳng hoặc vượt quá khả năng sẵn có của con người. Hay
nói một cách khác, “ứng phó là những nỗ lực không ngừng thay đổi về nhận thức và
hành vi của cá nhân để giải quyết các yêu cầu cụ thể, tồn tại bên trong cá nhân và
trong môi trường mà cá nhân nhận định chúng có tính đe dọa, thách thức hoặc vượt
quá nguồn lực của họ” (Lazarus và Folkman, 1984). Tiếp cận quan điểm của
Lazarus và Folkman (1984) về ứng phó, có thể nhận thấy cách ứng phó của con
người phụ thuộc rất lớn vào sự đánh giá của cá nhân về tình huống khó khăn cũng
như những nguồn lực ứng phó của cá nhân. Trước những tác nhân gây ra áp lực và
trước bản thân những áp lực, cá nhân sẽ tiến hành hai lần đánh giá. Trên cơ sở tri
giác tình huống và tính chất của áp lực, cá nhân sẽ tiến hành đánh giá xem tình
huống gây áp lực tâm lý đó là thách thức hay đe dọa, có hại. Sau đó, họ tiếp tục
đánh giá về khả năng và các nguồn lực ứng phó của bản thân. Sự đánh giá này phụ
111
thuộc rất lớn vào các đặc điểm tâm sinh lý, môi trường sống và các mối quan hệ xã
hội của cá nhân.
Nhận định lần thứ nhất: -Thách thức -Có hại -Đe dọa -Mất mát
Tri giác tình huống và tính chất của áp lực
Kết quả Áp lực Ý định ứng phó Hành vi ứng phó Tình huống
Đặc điểm tâm lý Đặc điểm sinh học Đặc điểm cá nhân
Không thỏa mãn nhu cầu
Các mối quan hệ xã hội Môi trường sống
Nhận định lần thứ hai: -Khả năng ứng phó -Nguồn lực ứng phó
112
Sơ đồ 3.1: Quá trình ứng phó với áp lực tâm lý (phỏng theo Frydenberg, 2002)
113
Như vậy, có thể thấy rằng, một trong những phương pháp để thay đổi cách
ứng phó của cá nhân theo xu hướng tích cực là làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức của
cá nhân về các tác nhân gây ra áp lực tâm lý, các áp lực tâm lý, đặc điểm tâm lý của
bản thân và các nguồn lực ứng phó của họ. Thông qua việc hình thành suy nghĩ tích
cực trước các tác nhân gây ra áp lực tâm lý và các áp lực tâm lý cũng như khả năng
ứng phó và nguồn lực ứng phó của bản thân, cá nhân có thể có những ứng phó tích
cực với tình huống.
b. Cơ sở thực tiễn
Ứng phó tâm lý là quá trình xảy ra thường xuyên trong cuộc sống của con
người. Tuy nhiên trong thực tế khi đối mặt với các cảm xúc âm tính do áp lực tâm
lý gây ra con người sử dụng khá nhiều cách ứng phó khác nhau, có cách hiệu quả có
cách không hiệu quả, có cách có lợi, ngược lại có những cách gây tác hại cho con
người. Từ thực tiễn nghiên cứu về những cách ứng phó với áp lực tâm lý mà trẻ lao
động sớm thường sử dụng, có thể nhận thấy vẫn còn khá nhiều trẻ sử dụng các cách
ứng phó kém thích nghi, mang tính chất tiêu cực, thụ động như cảm thấy buồn chán
(39.5%), chán ăn (27.2%), khóc (44.8%), đổ lỗi cho bản thân, bộc lộ và giải tỏa cảm
xúc một cách tiêu cực, mơ tưởng (41.3%), sử dụng các chất kích thích (7%)… Với
những cách ứng phó đó, các áp lực của trẻ sẽ không suy giảm mà có nguy cơ
chuyển sang những rối loạn cảm xúc và hành vi tương ứng như trầm cảm, lo lắng,
hành vi xâm kích, gây hấn… đặc biệt một số em đã tự làm hại bản thân hoặc có ý
muốn làm hại bản thân, tìm đến cái chết để giải quyết vấn đề của mình. Đa số các
em giải tỏa áp lực tâm lý bằng bản năng hoặc bằng những kinh nghiệm non nớt mà
mình có được chứ chưa hề có những hiểu biết, những kỹ năng để vượt qua các vấn
đề khó khăn trong cuộc sống.
Có thể nói, hình thành cách ứng phó tích cực trước các khó khăn nói chung
các áp lực tâm lư nói riêng nhằm hạn chế các rối loạn về sức khỏe tâm thần và giúp
trẻ tự tin, độc lập trong xã hội là những mục tiêu quan trọng của chương trình giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ lao động sớm.
114
3.2. Đề xuất một số biện pháp thực nghiệm
3.2.1. Nhóm biện pháp thay đổi nhận thức của trẻ và những người xung quanh
- Biện pháp 1: Tổ chức tập huấn cho trẻ các nội dung về các tác nhân gây áp
lực tâm lý, đặc điểm tâm lý của bản thân và các nguồn lực cũng như những phương
pháp cụ thể để hình thành cách ứng phó tích cực.
- Biện pháp 2: Phối hợp với các nhân viên công tác xã hội quán triệt tư tưởng
về phía cha mẹ các em (đặc biệt là những phụ huynh sống cùng trẻ lao động sớm)
về những đặc điểm tâm sinh lý, những tâm tư, tình cảm, những ảnh hưởng của áp
lực từ phía cha mẹ đối với sự phát triển của các em bằng phương pháp trò chuyện
trực tiếp và phát tài liệu.
- Biện pháp 3: Hỗ trợ các nhân viên công tác xã hội, các giáo dục viên, những
người tiếp xúc trực tiếp với trẻ lao động sớm những kiến thức tâm lý học về đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ và một số kỹ năng sống cần thiết để có thể kịp thời giúp đỡ
các em mỗi khi các em gặp các vấn đề tâm lý.
3.2.2. Nhóm biện pháp tăng cường kỹ năng sống cho trẻ lao động sớm
- Biện pháp 1: Kết hợp với các tình nguyện viên, nhân viên công tác xã hội
tăng cường công tác rèn luyện kỹ năng sống cho các em, trong đó có kỹ năng ứng
phó với áp lực tâm lý trong các buổi truyền thông.
- Biện pháp 2: Liên hệ với các tổ chức, hỗ trợ các em tham gia chương trình
“Hướng đạo sinh Việt Nam”, một chương trình miễn phí và bổ ích rèn luyện kỹ
năng sống cho trẻ vị thành niên thông qua các buổi sinh hoạt hội trại.
3.2.3. Nhóm các biện pháp khác
- Biện pháp 1: Phối hợp với các cơ sở bảo trợ xã hội và các nhân viên công
tác xã hội tăng cường tư vấn cá nhân cho trẻ gặp những vấn đề tâm lý.
- Biện pháp 2: Tìm kiếm các khu nhà ở giá rẻ, an toàn cho trẻ lao động sớm
để giảm gánh nặng cho trẻ về vấn đề nhà ở.
- Biện pháp 3: Dạy trẻ cách thư giãn, cách sắp xếp cuộc sống một cách khoa
học, kết hợp làm việc và nghỉ ngơi, sống thanh thản và hài lòng với cuộc sống.
- Biện pháp 4: Khuyến khích trẻ viết nhật ký, chơi thể thao và đọc thêm sách
vở những khi rảnh rỗi.
115
3.3. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức
của trẻ lao động sớm về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý
3.3.1. Mục đích thực nghiệm
Đây chỉ là thực nghiệm bước đầu được thực hiện trong điều kiện và khả năng
có hạn. Thực nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả thực tế của các biện
pháp giáo dục lồng ghép các chuyên đề, nội dung liên quan tới áp lực tâm lý vào
hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của trẻ lao động sớm về áp lực
tâm lý và cách ứng phó tích cực với áp lực tâm lý. Qua đó, đánh giá tính đúng đắn
của giả thuyết khoa học đã đề ra.
3.3.2. Nội dung thực nghiệm
Trên cơ sở tham khảo chương trình “Cách ứng phó tốt nhất-BOC (The Best Of
Coping) của tác giả Frydenberg và Brandon (2002, 2007) tiến hành trên 26 học sinh
từ 14 đến 16 tuổi của nước Úc nhằm giúp các em nhận thức được cách ứng phó tốt
nhất, và chương trình hình thành cách ứng phó tích cực với cảm xúc âm tính của tác
giả Đinh Thị Hồng Vân, Trường Đại học Sư phạm-Đại học Huế, chúng tôi đã xây
dựng và thử nghiệm chương trình hình thành cách ứng phó tích cực với áp lực tâm
lý dành cho trẻ lao động sớm. Chương trình gồm ba phần chính với những nội dung
cơ bản như sau:
+ Các dấu hiệu chứng tỏ đang gặp áp lực tâm lý, tác nhân gây ra áp lực và ảnh
hưởng của các áp lực
+ Các cách ứng phó trước các áp lực và ảnh hưởng của các cách ứng phó đó
nhận biết cách ứng phó tiêu cực, tích cực.
+ Nhận diện mối quan hệ tác động nhân quả giữa suy nghĩ và cách ứng phó,
biết suy nghĩ tích cực và có ý thức tăng cường suy nghĩ tích cực để có cách ứng phó
tích cực.
Cụ thể, chương trình được thực hiện như sau:
116
STT Nội dung Mục tiêu
lực
Áp tâm lý 1
Ứng phó với áp lực tâm lý 2
Suy nghĩ tích cực
3
Hoạt động - Hoạt động 1: Nhận diện các biểu hiện của áp lực tâm lý - Hoạt động 2: Các nguyên nhân gây ra áp lực tâm lý - Hoạt động 3: Ảnh hưởng của áp lực tâm lý - Hoạt động 4: Chia sẻ các áp lực tâm lý đã trải qua - Hoạt động 1: Khám phá các cách ứng phó với áp lực tâm lý - Hoạt động 2: Các cách ứng phó tiêu cực và ảnh hưởng - Hoạt động 3: Các cách ứng phó tích cực và tác dụng - Hoạt động 1: Mối quan hệ giữa suy nghĩ và cách ứng phó. - Hoạt động 2: Suy nghĩ tích cực. - Hoạt động 3: Thực hành suy nghĩ và ứng phó tích cực.
- Giúp trẻ nhận diện được: + Các biểu hiện của áp lực tâm lý. + Các nguyên nhân gây ra áp lực tâm lý + Ảnh hưởng của áp lực tâm lý - Trẻ có ý thức hơn trong việc giảm thiểu những hành vi và cảm xúc có hại khi gặp các áp lực tâm lý - Giúp trẻ: + Ý thức rõ hơn về các cách ứng phó của bản thân trước áp lực tâm lý và tác dụng/ ảnh hưởng của các cách ứng phó ấy. + Nhận diện các cách ứng Phó tiêu cực, tích cực - Giúp trẻ: + Nhận diện được mối quan hệ tác động nhân quả giữa suy nghĩ và cách ứng phó. + Biết cách suy nghĩ tích cực - Trẻ có ý thức thay đổi cách ứng phó của bản thân theo hướng tích cực hơn thông qua việc tăng cường suy nghĩ tích cực
3.3.3. Khách thể thực nghiệm
Khách thể thực nghiệm được chọn ngẫu nhiên ở nhóm trẻ lao động sớm trong
độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi của quận Tân Bình.
- Nhóm thực nghiệm: Gồm 12 trẻ lao động sớm ở độ tuổi 12 đến 15 tuổi
- Nhóm đối chứng: Gồm 12 trẻ lao động sớm ở độ tuổi 12 đến 15 tuổi.
117
3.3.4. Điều kiện thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành trong các buổi gặp gỡ truyền thông của nhân
viên công tác xã hội đối với trẻ lao động sớm.
Sự khác biệt giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
- Nhóm đối chứng: Hoạt động truyền thông vẫn tiến hành với những nội dung
bình thường mà các nhân viên công tác xã hội vẫn sinh hoạt với các em.
- Nhóm thực nghiệm: Trẻ lao động sớm được tham gia các buổi chuyên đề về
các nội dung thực nghiệm đã trình bày ở trên do đội ngũ chuyên viên tâm lý thực
hiện.
3.3.5. Mô hình thực nghiệm
Mô hình thực nghiệm được xác định dựa trên chuỗi nghiên cứu lựa chọn như sau:
NHÓM ĐỐI CHỨNG
NHÓM THỰC NGHIỆM
TÁC ĐỘNG
Test + phỏng vấn sau thực nghiệm
Test + phỏng vấn trẻ
Làm việc với trẻ và giáo dục viên
Xác định lại mức độ nhận thức
Xác định mức độ nhận thức
Xác định mức độ nhận thức
Tiến hành đồng bộ các biện pháp
Sơ đồ 1. Mô hình thực nghiệm nâng cao nhận thức về áp lực tâm lý và cách
ứng phó với áp lực tâm lý ở trẻ lao động sớm
118
3.3.6. Quy trình thực nghiệm
Thực nghiệm gồm 3 giai đoạn, thời gian thực hiện 3 tháng.
Giai đoạn 1: Khảo sát trước thực nghiệm và chuẩn bị tác động (20/5/2012-
27/5/2012)
- Dùng một bảng hỏi đo nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó tâm lý đối
với áp lực tâm lý ở nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
Giai đoạn 2: Tiến hành thực nghiệm (13/6/2012-10/8/2012)
- Chuyên viên tâm lý lần lượt triển khai những nội dung đã được chuẩn bị với
nhóm thực nghiệm.
Giai đoạn 3: Tiến hành khảo sát sau thực nghiệm (11/8/2012-20/8/2012)
- Dùng bảng hỏi đo nhận thức giữa hai nhóm đối chứng và thực nghiệm lần
nữa. So sánh, phân tích sự khác biệt giữa hai nhóm trước và sau khi triển khai thực
nghiệm.
3.3.7. Công cụ đánh giá sau thực nghiệm
Phương pháp chính để đánh giá mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm là
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Bảng hỏi gồm bốn phần như sau:
Phần A: Các biểu hiện của áp lực tâm lý.
Phần B: Nguyên nhân gây ra áp lực tâm lý
Phần C: Ảnh hưởng của áp lực tâm lý
Phần D: Các cách ứng phó với áp lực tâm lý.
Đối với các câu hỏi 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, mỗi
câu sai được 2 điểm. Câu hỏi số 9 cho điểm theo 5 mức độ: Rất tốt: 1 điểm, Tốt: 2
điểm, Lưỡng lự: 3 điềm, Không tốt: 4 điểm và Rất không tốt: 5 điểm.
Cách tính điểm cụ thể được thể hiện trong bảng 3.1
Kết quả thu được từ bảng hỏi sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 13.0 nhằm
tính tần số, tỉ lệ phần trăm, điểm trung bình và đặc biệt là kiểm nghiệm T - Test.
119
Bảng 3.1. Cách tính điểm bảng hỏi thực nghiệm
Mức độ ĐTB Nội dung
Nhận thức cao 6.0 – 8.0
Biểu hiện về mặt cảm xúc Nhận thức trung bình 9.0 –10.0
Nhận thức thấp 11.0 – 12.0
Nhận thức cao 8.0 – 10.0
Biểu hiện về mặt hành vi Nhận thức trung bình 11.0 – 13.0
Nhận thức thấp 14.0 – 16.0
Nhận thức cao 4.0 – 4.5 Biểu hiện về mặt sức khỏe
Nguyên nhân gây ra áp lực Nhận thức trung bình 5.0 – 6.0
Ảnh hưởng về mặt sức khỏe Nhận thức thấp 7.0 – 8.0
Nhận thức cao 1 – 1.3
Ảnh hưởng về mặt cảm xúc Nhận thức trung bình 1.4 – 1.6
Nhận thức thấp 1.7 – 2.0
Nhận thức cao 18 – 30
Cách ứng phó tích cực Nhận thức trung bình 31 – 42
Nhận thức thấp 43 – 54
Nhận thức cao 51 – 70
Cách ứng phó tiêu cực Nhận thức trung bình 35 – 50
Nhận thức thấp 14 – 34
3.4. Phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm
3.4.1. Kết quả nghiên cứu trước thực nghiệm
Xét tổng thể về mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm thì không có sự khác
biệt, cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng đều có nhận thức về áp lực tâm lý ở
mức trung bình.
Về một số biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt cảm xúc, trẻ lao động sớm ở cả
hai nhóm thực nghiệm và đối chứng đều có điểm trung bình trên 8.0, trong đó nhóm
120
đối chứng là 8.83 và nhóm thực nghiệm là 9.16. Đây là mức điểm nằm trong
khoảng nhận thức trung bình chứng tỏ trẻ lao động sớm chưa nhận thức được đầy
Bảng 3.2. So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý
của trẻ lao động sớm giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
đủ những biểu hiện của áp lực tâm lý.
Nhóm Nhóm STT Nội dung Sig. ĐC TN
8.8333 9.1667 0.546 Một số biểu hiện Trong cảm xúc
của áp lực tâm lý 1 12.5000 12.3333 0.524 Trong hành vi
6.1667 6.0833 0.611 Trong sức khỏe
6.3333 6.2500 0.672 Ảnh hưởng của áp Về mặt sức khỏe 2 lưc tâm lý 1.4167 1.7500 0.706 Về mặt cảm xúc
6.8333 6.8333 0.307 3 Nguyên nhân gây áp lực tâm lý
32.6667 32.0833 0.739 Cách ứng phó với Tích cực 4 áp lực tâm lý 49.4167 50.0000 0.403 Tiêu cực
Trong sáu nội dung về một số biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt cảm xúc, có
bốn nội dung các em trả lời sai rất nhiều, tỉ lệ trả lời sai của nhóm thực nghiệm và
đối chứng hầu như tương đương nhau. Đó là nội dung cảm xúc vẫn cân bằng, chỉ
thỉnh thoảng có buồn bã một chút với tỷ lệ 66.7% ( nhóm đối chứng là 33% và
nhóm thực nghiệm là 33.7%), xuất hiện triệu chứng xung đột, nóng nảy với tỷ lệ
52% (nhóm đối chứng là 27% và nhóm thực nghiệm là 25%), thờ ơ với cuộc sống
với tỷ lệ 65% (nhóm đối chứng là 35% và nhóm thực nghiệm là 30%), thờ ơ với
cuộc sống tỷ lệ 69% (nhóm đối chứng là 35% và nhóm thực nghiệm là 34%). Trong
quá trình phát phiếu điều tra cho hai nhóm đối chứng và thực nghiệm, người nghiên
cứu quan sát phần lớn các em rất phân vân và không tự tin với sự lựa chọn của
mình. Điều này cho thấy, các em trả lời theo cảm nhận của bản thân và phần lớn
chưa được tiếp cận với nội dung trên.
Các biểu hiện áp lực tâm lý trong hành vi có điểm trung bình giữa hai nhóm
đều là 12.5 và 12.33, rõ ràng không có sự khác biệt ý nghĩa ở nội dung này giữa hai
121
nhóm. Trị số P= 0.524> 0.05 cũng đã khẳng định điều này. Đặc biệt,trong tám nội
dung về biểu hiên của áp lực tâm lý ở mặt hành vi có tới sáu nội dung các em trả lời
sai trên 60%. Đa số các em cho rằng, người gặp áp lực tâm lý vẫn có thể sinh hoạt
bình thường như những người khác (62.5%), và không thể dẫn tới hành vi tự sát
được (70.8%). Chính vì vậy, nội dung này rất để người nghiên cứu quan tâm và chú
ý thực nghiệm.
Về các biểu hiện áp lực tâm lý ở mặt sức khỏe, cả nhóm thực nghiệm và đối
chứng đều có điểm trung bình tương đương nhau trong đó nhóm đối chứng là 6.16
và nhóm thực nghiệm là 6.08, không có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm. Trong
bốn nội dung đề cập thì có hai nội dung có tỷ lệ trả lời sai trên 60%, đó là nội dung
đau đầu thường xuyên với tỷ lệ 62.5% (trong đó nhóm đối chứng là đối chứng là 30.5% và nhóm thực nghiệm là 32%) và nội dung trí nhớ giảm sút với tỷ lệ 66.7%
(trong đó nhóm đối chứng là 33% và nhóm thực nghiệm là 33.7%). Các nội dung còn lại có một nội dung trả lời sai trên 40% và một nội dung trả lời sai dưới 40%. Nhìn chung mức độ nhận thức ở nội dung biểu hiện áp lực tâm lý về mặt sức khỏe của trẻ lao động sớm ở mức thấp, chưa nhận thức đầy đủ.
14
12
10
8
Đối chứng
6
Thực nghiệm
4
2
0
Cảm xúc
Hành vi
Sức khỏe
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức về biểu hiện của áp lực tâm lý
122
giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
123
Một trong những nội dung nhận thức quan trọng về áp lực tâm lý là nhận thức
về những hậu quả trên hai phương diện sức khỏe và cảm xúc của người bị áp lực
tâm lý. Kết quả so sánh giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm trước khi thực
nghiệm cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm này ở cả hai nội
dung.
Về mặt sức khỏe, điểm trung bình của nhóm đối chứng và thực nghiệm đều
trên 6.2 đều ở mức thấp. Điều này cho thấy, nhận thức của trẻ lao động sớm ở nội
dung này chưa cao. Cụ thể, cả bốn nội dung được đưa ra các em đều trả lời sai trên
50.0%. Đa số trẻ lao động sớm cho rằng áp lực tâm lý không ảnh hưởng gì đến sức
khỏe con người (62.5%), không thể dẫn đến trầm cảm (66.7%), không thể tăng nguy
cơ mắc các bệnh tâm thần (70.8%) và không thể dẫn đến rối loạn các chức năng của
hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn được (54.2%). Sức khỏe được xem là mặt quan trọng hàng
đầu trong đời sống con người. Tuy nhiên, mức độ nhận thức về những hậu quả của
áp lực tâm lý trên phương diện này khá thấp. Điều này thực sự cần phải được quan
tâm đúng mực.
Về mặt cảm xúc, điểm trung bình của nhóm đối chứng là 2.41 thấp hơn nhóm
thực nghiệm là 0.34 nhưng cũng không có sự khác biệt. Đa số các em đều cho rằng
áp lực tâm lý chỉ tạo ra những cảm xúc tiêu cực (70.8%). Áp lực tâm lý tạo ra
những cảm xúc tiêu cực là một nhận định không sai tuy nhiên chưa thật đầy đủ. Ở
một số khía cạnh áp lực tâm lý cũng có thể tạo ra những cảm xúc tích cực thúc đẩy
con người làm việc. Nếu không nhận thức được điều này sẽ khiến con người suy
nghĩ bi quan, khó mà vượt qua được những áp lực tâm lý ấy.
Ở nội dung nguyên nhân dẫn tới áp lực tâm lý, điểm trung bình của cả hai
nhóm đều là 6.83, rõ ràng không có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm. Ở nội dung
này, đa số các em đều nhận thức rất tốt rằng áp lực tâm lý là do những yếu tố bên
ngoài tác động nhưng lại không cho rằng những kỳ vọng của bản thân cũng góp
phần gây ra những áp lực tâm lý (87.5%). Đây là một trong những nội dung quan
trọng cần phải hiểu rõ nếu muốn vượt qua được những áp lực tâm lý, vì vậy người
nghiên cứu rất chú trọng đến phần này trong quá trình thực nghiệm.
124
So với những nội dung được thực nghiệm thì các cách ứng phó với áp lực tâm
lý được các em nhận thức với mức độ tương đối tốt hơn. Ở nội dung các cách ứng
phó tiêu cực, điểm trung bình của cả hai nhóm đều lớn hơn 49 điểm cho thấy các
em nhận thức khá tốt về các cách ứng phó này. Tuy nhiên, vẫn còn những trẻ nhận
thức mơ hồ về các cách ứng phó tiêu cực này khi chọn mức độ “lưỡng lự” khi được
yêu cầu đánh giá về các cách ứng phó (29.2%, trong đó nhóm đối chứng là 15% và
nhóm thực nghiệm là 14.2%). Ở nội dung ứng phó tích cực, điểm trung bình của cả
hai nhóm đều trên 32 điểm, rơi vào khoảng trung bình cho thấy các em vẫn còn
lưỡng lự khi đánh giá hiệu quả của các cách ứng phó tích cực với áp lực tâm lý.
50
45
40
35
30
Nhóm đối chứng
25
Nhóm thực nghiệm
20
15
10
5
0
Tích cực
Tiêu cực
Biều đồ 3.2: Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức về cách ứng phó với áp lực tâm
lý giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
Như vậy, kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để đánh giá hiệu quả
của biện pháp thực nghiệm nhằm nâng cao mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm
về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý. Mặc dù việc chọn nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm là hoàn toàn ngẫu nhiên nhưng hai nhóm lại có mức độ
nhận thức về áp lực tâm lý tương đồng nhau. Do vậy, việc chọn mẫu để tiến hành
125
thực nghiệm đã đảm bảo đầy đủ các điều kiện khoa học và kết quả thu được sau quá
trình thực nghiệm là có giá trị về mặt khoa học.
3.4.2. Kết quả nghiên cứu sau khi thực nghiệm
3.4.2.1. So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm
Bảng 3.3. So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm ở
nhóm đối chứng giữa trước và sau thực nghiệm
lý ở nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm
Điểm trung bình
STT NỘI DUNG Sig Trước Sau
TN TN
8.83 0.466 8.83 Trong cảm xúc Một số biểu hiện của 12.50 12.00 0.243 Trong hành vi 1 áp lực tâm lý 6.16 5.75 0.382 Trong sức khỏe
6.33 5.91 0.548 Về mặt sức khỏe Ảnh hưởng của áp lưc 2 1.41 1.83 0.939 tâm lý Về mặt cảm xúc
6.83 6.66 0.077 3 Nguyên nhân gây áp lực tâm lý
32.66 29.58 0.619 Tích cực Cách ứng phó với áp 4 50.25 51.33 0.236 lực tâm lý Tiêu cực
Kết quả thống kê ở bảng 3.2 cho thấy hầu như không có sự thay đổi nào đáng
kể giữa mức độ nhận thức về áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm trước và sau khi
thực nghiệm ở nhóm đối chứng. Mức độ nhận thức của trẻ ở hầu hết các nội dung
vẫn ở mức thấp dù sau thực nghiệm điểm trung bình có thay đổi nhưng không đáng
kể và cũng không có ý nghĩa về mặc thống kê.
Biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt hành vi và mặt sức khỏe của nhóm đối
chứng trước thực nghiệm có điểm trung bình lần lượt là 12.5 và 6.16, sau thực
nghiệm là 12 và 5.75 nhưng sự giảm đi này không có ý nghĩa về mặt thống kê.
126
Các biện pháp ứng phó với áp lực tâm lý trước thực nghiệm có điểm trung
bình là tiêu cực: 50.25, tích cực: 32.66; sau thực nghiệm điểm trung bình là tiêu
cực: 51.33, tích cực: 29.58. Có thể thấy mức độ nhận thức về các cách ứng phó tiêu
cực với áp lực tâm lý có sự thay đổi theo chiều hướng nhận thức rõ hơn tuy nhiên,
sự thay đổi này ở các nội dung này đều không đáng kể và cũng không có ý nghĩa về
mặt thống kê. Có thể sự thay đổi này là do sự trùng hợp ngẫu nhiên khi các em lựa
chọn đáp án theo cảm tính, cảm thấy đúng thì sẽ chọn hoặc trẻ đã có kinh nghiệm từ
lần khảo sát trước đó.
Kết quả nghiên cứu trên nhóm đối chứng có thể khẳng định những nội dung
liên quan đến áp lực tâm lý nhằm nâng cao nhận thức của các em về vấn đề này vẫn
chưa được triển khai trong quá trình truyền thông của các giáo dục viên, tình
nguyện viên trong quá trình tiếp xúc với trẻ lao động sớm.
Qua đó ta cũng nhìn rõ thêm một thực trạng về vấn đề này, gia đình, xã hội,
các trung tâm bảo trợ xã hội quan tâm rất nhiều tới đời sống vật chất, điều kiện giáo
dục của trẻ lao động sớm nhưng những vấn đề liên quan tới đời sống tinh thần của
các em thì lại chưa được quan tâm đúng mức. Xã hội ngày càng phát triển, nhịp
sống của con người cũng ngày càng gấp gáp hơn, kéo theo đó là những căng thẳng,
mệt mỏi về mặt tinh thần mà trẻ lao động sớm là một trong những đối tượng có
nguy cơ cao gặp các vấn đề này. Chúng ta không thể thay đổi được những hệ lụy đi
kèm sự phát triển của xã hội, cũng không thể cấm trẻ tình nguyện lao động để giúp
đỡ gia đình, vì vậy việc tăng cường sự hiểu biết về áp lực tâm lý và cách ứng phó
với những áp lực tâm lý cho trẻ là một trong những điều hết sức cần thiết để tránh
được những hậu quả đáng tiếc do áp lực tâm lý gây ra. Tuy nhiên, vấn đề này lại
chưa được xã hội thực sự quan tâm.
Tóm lại, hầu như không có sự thay đổi đáng kể nào về mức độ nhận thức của
trẻ lao động sớm trước và sau thực nghiệm ở nhóm đối chứng. Kết quả này cho thấy
trẻ lao động sớm thực sự chưa được tiếp cận với những kiến thức khoa học về nội
dung này.
127
3.4.2.2. So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm
Bảng 3.4. So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp
lực tâm lý của trẻ lao động sớm ở nhóm thực nghiệm giữa trước và sau thực
nghiệm
lý ở nhóm thực nghiệm giữa trước và sau thực nghiệm
Điểm trung bình
STT NỘI DUNG Sig Trước Sau
TN TN
9.1667 6.6667 1.000 Trong cảm xúc Một số biểu hiện của 12.3333 8.83 0.009 Trong hành vi 1 áp lực tâm lý 6.0833 4.3333 0.000 Trong sức khỏe
6.2500 4.3333 0.000 Về mặt sức khỏe Ảnh hưởng của áp lực 2 1.7500 1.0833 0.029 tâm lý Về mặt cảm xúc
0.000 6.8333 4.000 3 Nguyên nhân gây áp lực tâm lý
32.0833 18.5833 0.047 Cách ứng phó với áp Tích cực 4 lực tâm lý 50.0000 64.0000 0.025 Tiêu cực
Kết quả thống kê cho thấy, có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận thức về áp
lực tâm lý của trẻ lao động sớm trước và sau thực nghiệm trên cả bốn nội dung: biểu
hiện, ảnh hưởng, nguyên nhân và cách ứng phó với áp lực tâm lý.
Trong số các nội dung, chỉ có một nội dung là không có sự khác biệt ý nghĩa
về mặt thống kê. Đó là biểu hiện áp lực tâm lý trong cảm xúc, vì điểm trung bình
của nội dung này trước thực nghiệm đã khá thấp, gần với mức nhận thức tốt nên dù
sau thực nghiệm điểm trung bình của trẻ lao động sớm có giảm đi khá rõ rệt nhưng
sự thay đổi này vẫn không có ý nghĩa về mặt thống kê. Ở những nội dung còn lại, trị
số P và điểm trung bình đều cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trước thực nghiệm và
sau thực nghiệm ở nhóm thực nghiệm. Như vậy, biện pháp thực nghiệm đã có tác
dụng trong việc nâng cao mức độ nhận thức về áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm.
128
Điểm trung bình của nội dung biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt hành vi đã
giảm xuống khá nhiều chứng tỏ nhận thức về biểu hiện áp lực tâm lý ở mặt hành vi
của trẻ lao động sớm đã tăng lên đáng kể. Trước thực nghiệm, điểm trung bình của
nội dung này là 12.33, sau thực nghiệm đã giảm xuống còn 8.83. Điều này có nghĩa
là trẻ lao động sớm đã nhận thức rõ những biểu hiện của áp lực tâm lý về mặt hành
vi. Cụ thể, hai biểu hiện về mặt hành vi trước thực nghiệm trả lời sai nhiều nhất đều
đã được cải thiện. Điển hình như nội dung người gặp áp lực tâm lý vẫn có thể sinh
hoạt bình thường như những người khác, trước thực nghiệm có đến 62.5% trẻ trả lời
sai, sau thực nghiệm không còn trẻ nào trả lời sai. Hành vi thứ hai là hành vi tự sát,
trước thực nghiệm có tới 70.8% trẻ trả lời sai, sau thực nghiệm chỉ có 33.3% trẻ trả
lời sai.
Nhận thức của trẻ lao động sớm về một số biểu hiện về mặt sức khỏe của
người gặp áp lực tâm lý cũng được tăng lên đáng kể sau thực nghiệm. Các em đã có
thể nhận biết được một số biểu hiện của cơ thể như những dấu hiệu ban đầu cho
thấy con người đang rơi vào trạng thái căng thẳng của áp lực tâm lý.
Đối với các hậu quả của áp lực tâm lý thì mức độ nhận thức cũng được tăng
lên sau khi tiến hành thực nghiệm. Cụ thể, về mặt sức khỏe, trước thực nghiệm có
đến 66.7% trẻ trả lời sai ở nội dung áp lực tâm lý có thể dẫn đến trầm cảm thì sau
thực nghiệm chỉ còn lại 8.3% (1 trẻ lao động sớm) trả lời sai nội dung này. Hậu quả
của áp lực tâm lý về mặt cảm xúc có sự cải thiện rất đáng kể. Bởi vì có đến 91.7%
trẻ trả lời đúng sau khi thực nghiệm so với trước thực nghiệm là 29.2%.
Ở nội dung nguyên nhân dẫn tới áp lực tâm lý, điểm trung bình của nhóm thực
nghiệm giữa trước và sau thực nghiệm có sự thay đổi đáng kể. Nếu trước thực
nghiệm nhận thức của trẻ lao động sớm về nguyên nhân của áp lực tâm lý được xếp
ở mức thấp (ĐTB= 6.83/8) thì sau khi thực nghiệm, điểm trung bình đã giảm xuống
còn 4.0 xếp ở mức nhận thức cao đối với nội dung này.
Nhận thức của trẻ lao động sớm về hiệu quả của các biện pháp ứng phó với áp
lực tâm lý cũng được tăng lên đáng kể. Ở nội dung này trước thực nghiệm, trẻ lao
động sớm đã nhận thức khá tốt về hiệu quả của các biện pháp ứng phó tiêu cực với
129
điểm trung bình lên tới 50.0, tuy nhiên vẫn còn những trẻ nhận thức mơ hồ về các
cách ứng phó tiêu cực này khi chọn mức độ “lưỡng lự” khi được yêu cầu đánh giá
về các cách ứng phó với tỷ lệ là 29.2%. Sau thực nghiệm, điểm trung bình tăng lên
tới 64.0/70 điểm, cho thấy đa số các trẻ đều đánh giá các biện pháp tiêu cực là rất
không tốt để giải tỏa áp lực tâm lý.
Cùng với kết quả thống kê, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn những trẻ tham
gia thực nghiệm và cũng nhận được những kết quả rất khả quan. Bé T.T cho biết:
“Em thấy chương trình này rất vui và bổ ích. Trước đây mỗi khi buồn thì chúng em
cứ làm những việc mà mình có thể nghĩ ra để hết buồn chứ không biết những cách
đó có thực sự giúp mình giải quyết vấn đề được hay không. Bây giờ thì em đã biết
mình phải làm gì rồi. Em cũng biết được là còn có rất nhiều người yêu thương em
và em không cần phải buồn vì những thiếu thốn của mình”.
Như vậy, kết quả thực nghiệm cho thấy, nếu áp dụng các biện pháp lồng ghép
nội dung về áp lực tâm lý vào hoạt động truyền thông, thông qua việc tổ chức
chuyên đề được tổ chức một cách sinh động, thực tiễn, cuốn hút thì hoàn toàn có thể
nâng cao mức độ nhận thức trẻ lao động sớm tại thành phố Hồ Chí Minh về áp lực
tâm lý.
3.4.2.3. So sánh mức độ nhận thức về áp lực tâm lý giữa nhóm đối chứng và nhóm
thực nghiệm sau thực nghiệm
Đây là căn cứ quan trọng nhất để có thể kết luận về tính hiệu quả của các biện
pháp thực nghiệm. Nếu mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm ở nhóm thực
nghiệm tăng lên một cách có ý nghĩa về mặt thống kê so với nhóm đối chứng thì
hoàn toàn có thể chứng minh được các biện pháp thực nghiệm mà đề tài sử dụng là
có hiệu quả thực tế.
Kết quả cho thấy, có sự khác biệt lớn về mức độ nhận thức về áp lực tâm lý
của trẻ lao động sớm ở nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm. Cả
bốn nội dung: biểu hiện, hậu quả, nguyên nhân và các cách ứng phó với áp lực tâm
lư đều có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê.
130
Bảng 3.5. So sánh mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm giữa nhóm đối
chứng
và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm
Nhóm Nhóm STT NỘI DUNG Sig ĐC TN
8.83 6.67 0.133 Trong cảm xúc Một số biểu hiện của 12.00 8.83 0.006 Trong hành vi 1 áp lực tâm lý 5.75 4.33 0.016 Trong sức khỏe
5.92 4.33 0.016 Về mặt sức khỏe Ảnh hưởng của áp lực 2 1.83 1.08 0.002 tâm lý Về mặt cảm xúc
6.67 4.00 0.000 3 Nguyên nhân gây áp lực tâm lý
29.58 18.58 0.003 Cách ứng phó với áp Tích cực 4 lực tâm lý 51.33 64.0 0.000 Tiêu cực
Khi tổ chức các chuyên đề nâng cao nhận thức về áp lực tâm lý cho trẻ lao
động sớm điều đầu tiên mà chúng tôi nhận thấy là sự rụt rè, lo lắng của các em khi
đưa ra quyết định có tham gia các buổi chuyên đề chúng tôi hay không vì nhiều lý
do nhưng trong đó có một lý do là các em chưa thực sự tin tưởng chúng tôi, sợ
chúng tôi “giăng bẫy” rồi kêu công an tới bắt. Điều này có lẽ xuất phát từ việc ít có
những trường hợp tổ chức chuyên đề cho các em như thế này và xuất phát từ đặc
điểm tâm lý của các em luôn đề phòng với những người lạ, nhu cầu an toàn, phản
ứng tự vệ của bản thân buộc các em luôn phải biết đề phòng. Chúng tôi phải động
viên các em rất nhiều và tận dụng các mối quan hệ mới có thể đưa các em tới được
với buổi sinh hoạt chuyên đề được tổ chức ở địa điểm mà các em tự chọn (chúng tôi
phải đáp ứng điều này các em mới chịu tham gia). Trong không gian mở của công
viên, không máy chiếu, chỉ với chiếc máy tính và những giáo cụ được chuẩn bị thủ
công, nhóm nghiên cứu và mười hai trẻ lao động sớm đã trải qua những giờ phút
hào hứng. Ngay sau khi “khởi động” bằng những trò sinh hoạt tập thể, những màn
ảo thuật và phần tự giới thiệu với không khí vui tươi, thoải mái và thân tình, sự lo
131
lắng ban đầu của các em dường như biến mất, các em thực sự hào hứng với những
hoạt động mà báo cáo viên tổ chức. Cũng có những lúc không khí chùn xuống khi
báo cáo viên cho các em xem những đoạn phim về những cô bé, cậu bé cùng hoàn
cảnh với các em trong quá trình kiếm sống đã trải qua những khó khăn, những vất
vả nào. Các em xem rất chăm chú và cùng bình luận với nhau ở với những tình
huống, những nhân vật, những câu chuyện giống với các em trong cuộc sống thực.
Sau mỗi buổi chuyên đề, chúng tôi đều dành thời gian cho các em chia sẻ
những trải nghiệm của bản thân, những khó khăn mà hàng ngày các em gặp phải
trong quá trình kiếm sống và cách giải quyết của các em như thế nào, những ước
mơ và dự định để thực hiện ước mơ ấy. Những nhận thức nào chưa đúng, chưa thật
sự phù hợp sẽ được báo cáo viên lúc này như những anh chị nhấn mạnh và phân
tích.
Với các hoạt động giáo dục như trên, qua kết quả khảo sát sau thực nghiệm
cho thấy, mức độ nhận thức về áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm đã được cải thiện
rõ rệt so với nhóm đối chứng. Cụ thể như sau:
Về biểu hiện của áp lực tâm lý, chỉ riêng biểu hiện về mặt cảm xúc là không có
sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm. Nhưng nhìn vào kết quả có thể thấy biểu hiện
áp lực tâm lý trong mặt hành vi và sức khỏe đều có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai
nhóm. Điển hình như biểu hiện ở mặt hành vi, nhóm đối chứng lên tới 12.00 nhưng
nhóm thực nghiệm đã giảm xuống còn 8.83, rõ ràng nhận thức của nhóm thực
nghiệm đã được tăng lên đáng kể.
Về ảnh hưởng của áp lực tâm lý, đây là một trong những nội dung được chú
trọng khi tiến hành thực nghiệm, kết quả của nhóm thực nghiệm cho thấy chúng tôi
đã tiến hành rất hiệu quả nội dung này. Cụ thể, hậu quả trên cả hai phương diện sức
khỏe và cảm xúc đều có sự khác biệt ý nghĩa giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm.
Điển hình như, ở ảnh hưởng về mặt sức khỏe có sự khác biệt rất lớn giữa hai nhóm
với điểm trung bình ở nhóm thực nghiệm là 4.33 so với nhóm đối chứng lên tới
5.91. Điều này chứng tỏ sau thực nghiệm, nhận thức của các em nâng cao lên rất rõ
rệt, các em biết được khi gặp áp lực tâm lý sẽ đem lại những hậu quả gì không chỉ
132
đơn giản là “buồn bã, chán ăn” như các em thường đề cập. Từ đó các em có ý thức
ngăn ngừa và ứng phó hợp lý với những áp lực tâm lý.
Hầu hết các trẻ khi được phỏng vấn đều đồng tình với kết quả này. Bé B.Đ
cho biết: “Trước giờ em chỉ nghĩ đơn giản là mỗi khi buồn, chán thì mình cứ làm
mọi cách miễn sao thoát khỏi cảm giác khó chịu ấy là được, nhưng không ngờ có
những việc em thường làm lại có thể ảnh hưởng lớn tới như vậy!”. Đồng tình với
quan điểm trên, bé H.L cũng cho chúng tôi biết thêm: “Em không ngờ là mình chỉ
cần thay đổi cách suy nghĩ là lại có thể làm biến mất những cảm xúc buồn chán như
vậy được. Từ giờ em sẽ tập cho mình cách suy nghĩ tốt về mọi người, mọi việc!”. Từ
những phản hồi của các em có thể nhận thấy những biện pháp thực nghiệm đã thể
hiện rõ tính hiệu quả và tính giá trị khi áp dụng trên thực tế nhóm trẻ thực nghiệm.
5.91
6
5
4.33
4
3
Đối chứng
1.83
Thực nghiệm
2
1.08
1
0
Ảnh hưởng tới cảm xúc
Ảnh hưởng tới sức khoẻ
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức về ảnh hưởng của áp lực tâm lý
giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm.
Về các biện pháp ứng phó với áp lực tâm lý, ở cả nhóm các biện pháp tiêu cực
và biện pháp tích cực đều có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm. Ở nhóm các biện
pháp tích cực, điểm trung bình đã giảm từ 29.58 xuống còn 18.58 và ngược lại ở
133
nhóm biện pháp tiêu cực, điểm trung bình đã tăng lên từ 51.33 lên tới 64.0 cho thấy
các em đều có những nhận thức đúng đắn về hiệu quả của các nhóm biện pháp này.
3.5. Minh chứng trên một số trường hợp cụ thể
3.5.1. Kết quả thực nghiệm đối với em V.B.Đ
3.5.1.1. Sơ lược về hoàn cảnh cá nhân
Chúng tôi gặp cậu bé V.B.Đ vào một buổi trưa nắng gắt tại công viên T.P, khu
vực nơi em làm việc. Dù đã được miêu tả từ trước, chúng tôi vẫn thấy bất ngờ khi
nhìn thấy em, bởi không ai nghĩ cậu bé nhỏ xíu, gầy còm đang đứng trước mặt mình
là cậu bé 15 tuổi và đã có năm năm kinh nghiệm làm việc. Em mặc áo thun màu đỏ,
chiếc quần bò rộng, rách gối và đi đôi giày thể thao hình như hơi quá khổ so với bàn
chân em, trên tay là hộp đồ nghề với đôi dép nhựa cho khách thay lúc đánh giày,
mấy hộp xi, cây cọ và mấy miếng lót giày. Em bảo với chúng tôi, tất cả gia tài của
em chỉ có thế. Nghe giọng em khàn đặc, chúng tôi hỏi và được biết, em đang bị cảm
vì tối hôm qua đi về bị mắc mưa. Chúng tôi hỏi bệnh sao không ở nhà nghỉ mà hôm
nay vẫn đi làm, rồi đã ăn uống gì chưa, đã uống thuốc chưa. Em cười nói em đã
mua thuốc rồi, còn cơm thì xíu nữa mới ăn bởi đang phải tranh thủ làm giờ trưa
đông khách. Em nói nghỉ ở nhà cũng không làm gì lại mất một khoản tiền rồi phải
mua thuốc, mua cơm… Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ đây. Em nói quê em ở
Khánh Hòa, cha mất sớm, mẹ lập gia đình với người khác, cha dượng không thương
em, gia đình lại nghèo khó nên em nghỉ học từ năm 10 tuổi. Em mới vào Sài Gòn
đanh giày được 2 năm. Chúng tôi hỏi em thế trước đó em làm gì? ở đâu? Em cười
bảo anh chị có tin là em đã từng đi chém mướn không? Tôi phì cười vì ai mà đi
thuê một cậu bé mới muời mấy tuổi đầu lại nhỏ xíu này đi chém mướn? Em nói thật
đấy chị ạ. Em đi cùng với mấy anh họ. Hồi đó ở quê, nghỉ học rồi không biết làm gì
em đi theo mấy anh họ em. Chị muốn “giải quyết” ai, cứ đưa tiền và một tấm hình,
ngày mai người ấy vào bệnh viện liền. Tôi thoáng giật mình. Em kể tiếp, sau đó thì
em bỏ không theo mấy anh nữa, em đi bán vé số. Nhưng công việc ở quê không
đựợc suôn sẻ, kiếm chẳng đựợc bao nhiêu tiền nên em vào Sài Gòn này đánh giày
vì nghe nói ở trong này dễ kiếm ăn hơn. Em thuê một nhà trọ ở quận Tân Bình ở với
134
mấy đứa bạn cùng nghề và hàng ngày làm việc để nuôi sống mình và có dư thì gửi
về cho mẹ. Em bảo, đợt tết năm ngoái em ở lại làm tết luôn, em đem về cho mẹ em
được mười triệu lận đó. Mẹ em thương em lắm, thỉnh thoảng mẹ lại vào chơi với em
mấy ngày rồi về. Những lúc bệnh như thế này em thèm nhất là ăn cháo mẹ em nấu.
Cháo trắng ăn với đường, ở nhà khi nào em bệnh mẹ em lại nấu cho em ăn. Thời
gian làm việc của em bắt đầu từ sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều. Buổi sáng sớm và
buổi trưa thì em tập trung làm ở công viên T.P này vì vào giờ này, nhân viên của
các công ty quanh đây ghé uống nước và em đánh giày cho họ. Khi họ đã vào làm
thì em đi quanh khu vực này chào khách. Em nói em đang tiết kiệm dành tiền để đi
học sửa xe máy. Em thích nghề này và thấy nghề này kiếm tiền cũng được. Ước mơ
của em là sau này mở được một tiệm sửa chữa xe gắn máy.
3.5.1.2. Kết quả thực nghiệm
Trước thực nghiệm, nhận thức của Đ về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp
lực tâm lý đa phần đều nằm ở mức độ thấp đến trung bình, chỉ có một nội dung có
mức nhận thức cao là nhận thức về các cách ứng phó tiêu cực. Cụ thể, Định nhận
thức về biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt sức khoẻ (ĐTB= 7/8), ảnh hưởng của áp
lực tới cảm xúc (ĐTB= 2/2) và nguyên nhân của áp lực tâm lý (ĐTB= 7/8) ở mức
độ thấp. Các nội dung còn lại nhận thức của Định đều ở mức trung bình. Các câu trả
lời của Định đều theo những suy nghĩ thông thường của bản thân, có nhiều câu em
Bảng 3.6. Điểm trung bình mức độ nhận thức của V.B.Đ trước và sau thực
nghiệm
lưỡng lự khi trả lời, trả lời rồi gạch đi chọn lại…
Nội dung TT
1 Một số biểu hiện của áp lực tâm lý
2 Ảnh hưởng của áp lưc tâm lý Trong cảm xúc Trong hành vi Trong sức khỏe Về mặt sức khỏe Về mặt cảm xúc
3 Nguyên nhân gây áp lực tâm lý ĐTB trước TN 9.0 13.0 7.0 6.0 2.0 7.0 ĐTB sau TN 7.0 8.0 4.0 4.0 1.0 4.0
135
4 Cách ứng phó với áp lực tâm lý Tích cực Tiêu cực 32.0 52.0 18.0 66.0
136
Trước thực nghiệm, điểm trung bình mức độ nhận thức của Đ ở các nội dung
đều tương ứng với mức độ nhận thức thấp và trung bình thì sau thực nghiệm tất cả
các nội dung đã tăng lên ở mức độ nhận thức cao. Trong ba nội dung có mức độ
nhận thức thấp trước thực nghiệm là biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt sức khoẻ
(ĐTB= 7/8), ảnh hưởng của áp lực tới cảm xúc (ĐTB= 2/2) và nguyên nhân của áp
lực tâm lý (ĐTB= 7/8) thì sau thực nghiệm nhận thức của Đ đã được nâng lên ở
mức độ nhận thức cao. Cụ thể, ở nội dung biểu hiện của áp lực tâm lý đến sức khoẻ
điểm trung bình của Đ giảm từ 7/8 xuống còn 4/8, ở nội dung ảnh hưởng của áp lực
tới cảm xúc giảm từ 2/2 xuống còn 1/2 và ở nội dung nguyên nhân của áp lực tâm lý
giảm từ 7/8 xuống còn 4/8. Những nội dung còn lại mức độ nhận thức cũng được
tăng lên từ trung bình lên mức độ nhận thức cao.
Kết quả phỏng vấn Đ cũng làm rõ thêm kết quả này. Em cho biết: “Trước đây,
chưa bao giờ em nghĩ tới và cũng không ai nói với em về những điều này. Mỗi khi
thấy buồn hay mệt mỏi thì em cứ tuỳ tâm trạng hay hoàn cảnh lúc đó mà làm thôi.
Có khi em khóc, có khi thì nằm dài ngủ một giấc, có khi thì đi đâu đó, cũng thỉnh
thoảng bạn bè thấy buồn rủ đi nhậu thì em cũng đi thôi. Em không biết là những
hành động như vậy nó có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ, tới cuộc sống sau này của em
như thế nào. Từ khi em được học về điều này lại được các anh chị tận tình chia sẻ,
giúp đỡ em, em thấy tốt hơn rất nhiều. Bây giờ mỗi khi có chuyện buồn, em biết
phải làm thế nào để hết buồn mà không ảnh hưởng tới người khác hay tới bản thân
rồi!”
Như vậy, những biện pháp thực nghiệm áp dụng đối với V.B.Đ đã phát huy
tác dụng, góp phần làm tăng mức độ nhận thức của em về áp lực tâm lý cũng như
các cách ứng phó với áp lực tâm lý lên mức độ cao. Em đã biết cách để ngăn ngừa
và ứng phó tích cực với những áp lực tâm lý mà mình có thể gặp trong cuộc sống
hàng ngày.
137
3.5.2. Kết quả thực nghiệm đối với em H.N
3.5.2.1. Sơ lược về hoàn cảnh cá nhân
H.N là một bé gái năm nay 14 tuổi. Em sống cùng cha mẹ tại một ngôi nhà
nằm trong con hẻm nhỏ ở phường 9, quận Tân Bình. Gia đình em có ba người con,
em và hai chị gái. Chị cả đã lập gia đình và có một con nhỏ nhưng vẫn sống chung
cùng ngôi nhà với bố mẹ. Hàng ngày, mẹ em ở nhà trông cháu cho vợ chồng chị cả
đi làm và lo cơm nước, giặt giũ cho cả nhà. Bố em bán hoa trong chợ ở gần nhà, chị
gái thứ hai (cũng nghỉ học sớm như em) đi làm công nhân. Vì gia đình quá khó
khăn, em nghỉ học từ năm 13 tuổi và đi phụ bán hàng cho người ta. Ban đầu, em
phụ quán cho một cửa hàng bán bánh mì nhưng vì thời gian làm việc nhiều lại hay
bị chủ chửi mắng, nhất là những lúc cửa hàng ế ẩm nên em nghỉ và xin đi phụ bán
nước sâm trên đường Âu Cơ từ đó cho đến giờ. Hàng ngày em đi làm từ 9 giờ sáng
đến 10 giờ đêm, buổi trưa được nghỉ 1,5 giờ đồng hồ để ăn uống và nghỉ ngơi. Buổi
trưa em đạp xe về nhà ăn cơm cùng mẹ và đem cơm theo cho buổi chiều. Tối sau
khi dọn dẹp xong ở cửa hàng, đạp xe về nhà, tắm rửa cũng mất hơn một giờ đồng
hồ nên thời gian đi ngủ thường là sau 11 giờ đêm. Ngày mai lại bắt đầu hành trình
như thế. Mỗi tháng, nếu đi làm đầy đủ em sẽ được trả 2,5 triệu đồng, số tiền này em
chỉ giữ lại mấy trăm ngàn để sắm sửa những vật dụng cần thiết hàng ngày, còn lại
thì gửi hết cho mẹ. Em không có bạn thân, nếu có chuyện gì buồn em kể cho chị
nghe, nhưng vì chị và em đều đi làm suốt ngày nên cũng rất ít khi nói chuyện được
với nhau. Mỗi khi buồn em thường khóc và cố giấu không cho mọi người biết. Ước
mơ của em là được làm người mẫu, nhưng em chưa biết đến bao giờ mới có thể
thực hiện được. Đây cũng là nỗi trăn trở lớn trong cuộc sống của em.
3.5.2.2. Kết quả thực nghiệm
Trước thực nghiệm, mức độ nhận thức của H.N về áp lực tâm lý và cách ứng
phó với áp lực tâm lý cũng giống như B.Đ là đều ở mức trung bình và thấp. Trong
số tám nội dung thực nghiệm, có tới bốn nội dung mà nhận thức của Như đều rất
hạn chế, đó là: biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt hành vi (ĐTB= 14/16), ảnh hưởng
của áp lực tâm lý về mặt sức khoẻ (ĐTB= 7/8), ảnh hưởng của áp lực tâm lý tới
mặt cảm xúc (ĐTB= 2/2) và nguyên nhân dẫn đến áp lực tâm lý (ĐTB= 7/8).
138
Bảng 3.7. ĐTB mức độ nhận thức của H.N trước và sau thực nghiệm
ĐTB trước ĐTB sau
Nội dung TT TN TN
Trong cảm xúc 10.0 7.0 Một số biểu hiện của áp 1 Trong hành vi 14.0 9.0 lực tâm lý Trong sức khỏe 5.0 5.0
Về mặt sức khỏe 7.0 5.0 Ảnh hưởng của áp lưc 2 tâm lý Về mặt cảm xúc 2.0 1.0
3 Nguyên nhân gây áp lực tâm lý 7.0 4.0
Cách ứng phó với áp Tích cực 29.0 18.0 4 lực tâm lý Tiêu cực 49.0 63.0
Mỗi khi gặp áp lực tâm lý, H.N thường khóc và cố giấu không cho mọi người
biết em khóc. Sau mỗi lần như vậy, em thấy trong lòng có nhẹ nhàng hơn nhưng lại
thấy mệt mỏi vào ngày hôm sau. Nhất là những khi em khóc vào buổi đêm, sáng ra
mắt em thường xưng lên và trong lòng lại cảm thấy buồn chán. Em lại không có bạn
thân để chia sẻ, các chị gái thì đi làm thường xuyên nên không ai có thể giúp đỡ em.
Trước thực nghiệm, điểm trung bình của H.N đều rơi vào mức độ nhận thức
thấp và nhận thức trung bình. Trong số tám nội dung thực nghiệm thì có bốn nội
dung N nhận thức rất mơ hồ và chưa có cách ứng phó thích hợp mỗi khi gặp áp lực
tâm lý. Sau thực nghiệm, các nội dung này đều đã được N nhận thức ở mức độ cao.
Cụ thể, ở nội dung biểu hiện của áp lực tâm lý ở mặt hành vi, điểm trung bình của N
đã giảm từ 14/16 tương ứng với mức độ nhận thức thấp xuống còn 9/16 tương ứng
với mức độ nhận thức cao, ở nội dung ảnh hưởng của áp lực tâm lý về mặt sức khoẻ
giảm từ 7/8 tương ứng với mức độ nhận thức thấp xuống còn 5/8 tương ứng với
mức độ nhận thức trung bình, ở nội dung ảnh hưởng của áp lực tâm lý tới mặt cảm
xúc giảm từ 2/2 xuống còn 1/2 và ở nội dung nguyên nhân dẫn đến áp lực tâm lý
giảm từ 7/8 xuống còn 4/8. Các nội dung còn lại cũng tăng từ mức độ nhận thức
trung bình lên mức độ nhận thức cao.
139
Tiến hành phỏng vấn trẻ về những kết quả thu được sau thực nghiệm cho thấy,
em đã có sự đáp ứng khá tốt đối với các biện pháp thực nghiệm mà đề tài đề xuất.
Em chia sẻ: “Nhà nghèo lại không được đi học như các bạn nên nhiều lúc em thấy
mình tủi thân và buồn chán. Trước đây, mỗi khi có chuyện gì em đều chỉ biết khóc
hoặc đọc sách thôi. Em cũng sợ mọi người biết em khóc nên em thường khóc thầm
hoặc khóc vào ban đêm. Bây giờ thì em biết mình phải suy nghĩ mọi việc tích cực
hơn và phải biết nhờ sự giúp đỡ của mọi người. Em sẽ gần gũi với mẹ nhiều hơn và
tìm cho mình những người bạn. Em tin là em sẽ tìm được những người bạn thân”.
Như vậy, có thể kết luận rằng, H.N đã có sự đáp ứng tích cực đối với các biện
pháp thực nghiệm. Mức độ nhận thức của em đã tăng lên rõ rệt và em đã có ý thức
tìm ra những cách ứng phó phù hợp với bản thân mình hơn.
Các trường hợp thực nghiệm khác cũng cho những kết quả tương tự. Nói cách
khác, ở từng trường hợp thì sự thay đổi về nhận thức của trẻ khá tích cực sau khi tác
động thực nghiệm. Mức độ nhận thức của trẻ đã tăng lên rõ rệt, trẻ biết cách để ứng
phó phù hợp với những áp lực tâm lý mà mình gặp phải trong cuộc sống. Điều này
cho thấy hiệu quả của những biện pháp thực nghiệm mà đề tài đã đề xuất.
140
TIỂU KẾT
Có thể áp dụng các biện nâng cao nhận thức của trẻ lao động sớm về áp lực
tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý thông qua việc ứng dụng các biện pháp
thực nghiệm.
Mô hình thực nghiệm như sau:
Test + phỏng vấn sau thực nghiệm
NHÓM THỰC NGHIỆM
Test + phỏng vấn sau
Làm việc với trẻ
Xác định mức độ nhận thức
Xác định lại mức độ nhận thức
Xác định mức độ nhận thức
Tiến hành đồng bộ các biện pháp
Kết quả thực nghiệm đã cho thấy:
Trước thực nghiệm, mức độ nhận thức về áp lực tâm lý giữa nhóm đối chứng
và nhóm thực nghiệm tương đồng nhau đều ở mức trung bình. Ở nhóm đối chứng
sau khi thực nghiệm dù điểm trung bình có thay đổi so với trước thực nghiệm,
nhưng không đáng kể và không có ý nghĩa về mặt thống kê. Ở nhóm thực nghiệm,
có sự khác biệt ý nghĩa giữa trước và sau khi thực nghiệm, mức độ nhận thức đã
tăng lên khá đáng kể. Sau thực nghiệm, mức độ nhận thức của trẻ lao động sớm ở
nhóm thực nghiệm đã ở mức độ nhận thức cao, nhóm đối chứng vẫn ở mức độ nhận
thức trung bình. Nhìn chung, trẻ lao động sớm đã nhận thức rõ hơn về các nội dung
biểu hiện của áp lực, nguyên nhân dẫn tới áp lực, ảnh hưởng của nó tới đời sống
cũng như những biện pháp ứng phó với áp lực tâm lý, từ đó có ý thức trong việc
phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với áp lực tâm lý
141
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Áp lực tâm lý và cách ứng phó với những áp lực tâm lý là một vấn đề rất
được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Áp lực tâm lý là
những nhân tố tạo sức ép cho con người trong quá trình sống, làm cho con người có
những căng thẳng về mặt tâm lý, gây cản trở hoạt động, ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống và sức khỏe của con người. Biểu hiện áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm
cũng có những biểu hiện như trên. Tuy nhiên do đặc điểm tâm lý lứa tuổi và đặc
điểm đặc trưng của hoàn cảnh sống nên những biểu hiện các của em được thể hiện
đặc trưng hơn gắn với hoạt động làm việc. Ứng phó tâm lý là quá trình xử lý các đòi
hỏi bên trong hoặc bên ngoài được tri giác thấy là gây ra căng thẳng hoặc vượt quá
khả năng sẵn có của con người. Trẻ lao động sớm cũng sử dụng những cách ứng
phó với áp lực tâm lý như trẻ vị thành niên nói chung với ba kiểu ứng phó cơ bản:
ứng phó mang sắc thái tình cảm; ứng phó trong suy nghĩ và ứng phó bằng hành
động.
1.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực
tâm lý ở trẻ lao động sớm một số quận tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cho
thấy:
- Về mức độ gặp áp lực tâm lý, có tới 51.7% trẻ thường xuyên gặp áp lực tâm
lý. Các yếu tố gây áp lực cho trẻ lao động sớm chủ yếu thuộc về công ăn việc làm
(ĐTB = 2.45), tiếp theo là vấn đề chỗ ở (ĐTB= 2.71) và vấn đề xếp ở vị trí thứ ba là
trong quan hệ với bạn bè (ĐTB= 2.73). Mỗi áp lực cụ thể trong mỗi dạng áp lực đều
rất phong phú, trong đó đáng chú ý là: thời gian làm việc (ĐTB = 2.68), tiền nhà trọ
(ĐTB= 2.72), không có việc làm (ĐTB= 2.72), tiền lương (ĐTB= 2.88). Mức độ
gặp áp lực ở các khía cạnh cụ thể này có sự khác biệt ý nghĩa giữa độ tuổi, nơi ở, lý
do đi làm và trình độ của trẻ lao động sớm nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa
giữa quê quán và việc các em đang sống cùng ai.
142
- Về mặt ảnh hưởng của áp lực tâm lý, đa số áp lực tâm lý ảnh hưởng tới các
mặt trong đời sống của trẻ lao động sớm được thể hiện ở mức trung bình, nhiều nhất
là đến mặt sức khoẻ (ĐTB= 3.31), sau đó là đến cảm xúc (ĐTB= 3.81) và cuối cùng
là hành vi (ĐTB= 4.88).
- Về cách ứng phó với áp lực tâm lý, trong ba nhóm cách ứng phó với các áp
lực trong cuộc sống thì cách ứng phó mà các em lựa chọn nhiều nhất là thay đổi,
điều chỉnh cảm xúc (ĐTB= 1.72), tiếp đến là thay đổi, điều chỉnh hành vi (ĐTB=
1.85) và cuối cùng mới đến thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ (ĐTB= 2.46). Một số cách
ứng phó được các em thường xuyên sử dụng: cảm thấy buồn chán (39.5%), lo lắng,
bất an (37.7%), hi vọng có một phép màu để thay đổi điều này (41.3%), chơi thể
thao, đọc truyện để quên đi vấn đề (52.7%). Mức độ sử dụng các cách ứng phó với
áp lực tâm lý này có sự khác biệt ý nghĩa giữa trẻ lao động nam và trẻ lao động nữ,
trẻ ở các nhóm tuổi, trẻ ở các quận và trẻ có quê quán khác nhau nhưng không có sự
khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm trẻ đi làm vì lý do khác nhau và việc các em đang
sống cùng ai.
1.3. Các biện pháp tác động như: thay đổi nhận thức của trẻ và những người
xung quanh, tăng cường kỹ năng sống cho trẻ lao động sớm và một số các biện
pháp khác được lồng ghép vào các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận
thức của trẻ lao động sớm về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý là có
hiệu quả. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nhận thức về áp lực tâm lý và cách ứng
phó với áp lực tâm lý của nhóm thực nghiệm cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng.
Sự khác biệt đó là có ý nghĩa về mặt thống kê. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu
thực nghiệm trên một số trường hợp cụ thể cũng đã cho thấy, mức độ nhận thức của
trẻ được nâng cao rõ rệt. Nói cách khác, những biện pháp nâng cao nhận thức về áp
lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý của trẻ lao động sớm đã thực nghiệm
là có hiệu quả và giá trị.
143
2. Kiến nghị
Xuất phát từ cơ sở lý luận và kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu đưa ra một
số kiến nghị nhằm giảm áp lực tâm lý, nâng cao kỹ năng ứng phó với áp lực tâm lý
của trẻ lao động sớm.
2.1. Đối với các trung tâm bảo trợ xã hội
- Thường xuyên tổ chức những buổi tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho trẻ
lao động sớm về áp lực tâm lý và cách ứng phó với áp lực tâm lý.
- Mở trung tâm tham vấn tâm lý cho trẻ lao động sớm để trẻ có được chỗ dựa
xã hội đánh tin cậy khi gặp áp lực tâm lý nói riêng và các vấn đề tâm lý nói chung.
- Cần chú ý hình thành cho trẻ lao động sớm những kỹ năng sống cần thiết
như: kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng giải quyết vấn đề…
- Các nhân viên công tác xã hội, các giáo dục viên, những người tiếp xúc trực
tiếp với trẻ lao động sớm cần trau đồi những kiến thức tâm lý học về đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ và một số kỹ năng sống cần thiết để có thể kịp thời giúp đỡ các em
mỗi khi các em gặp các vấn đề tâm lý.
- Hỗ trợ tìm kiếm các khu nhà ở giá rẻ, an toàn cho trẻ lao động sớm để giảm
gánh nặng cho trẻ về vấn đề nhà ở.
2.2. Đối với cha mẹ trẻ lao động sớm
- Không gây áp lực tâm lý về mặt vật chất, tinh thần lên trẻ lao động sớm.
- Cha mẹ cần dành thời gian nhiều hơn cho con cái của mình, để tăng lên trong
các em sự tin tưởng và tự tin đối với cha mẹ của mình, qua đó các em dễ dàng bộc
lộ và cởi mở hơn khi tâm sự những nỗi lo lắng, sợ hãi và những khó khăn của các
em.
2.3. Đối với bản thân trẻ lao động sớm
- Thúc đẩy và khuyến khích sự cởi mở hơn ở trẻ trong việc chia sẻ vấn đề của
các em và tìm sự giúp đỡ về tâm lý khi cần thiết.
- Tự bản thân mỗi trẻ lao động sớm cần biết cách phòng ngừa áp lực tâm lý,
lựa chọn cách ứng phó hiệu quả khi gặp áp lực tâm lý.
144
- Học cách thư giãn, cách sắp xếp cuộc sống một cách khoa học, kết hợp làm
việc và nghỉ ngơi, sống thanh thản và hài lòng với cuộc sống.
- Khuyến khích trẻ viết nhật ký, chơi thể thao và đọc thêm sách vở những khi
rảnh rỗi.
2.4. Đối với các cơ quan quản lý:
- Tăng cường xây dựng các dự án hỗ trợ thiết thực đối với trẻ lao động sớm và
gia đình, hạn chế tới mức tối đa trẻ phải lao động kiếm sống quá sớm giúp trẻ có cơ
hội được đến trường và sống cuộc sống như những trẻ em bình thường khác.
- Tăng cường tuyên truyền, ban hành các văn bản pháp luật trong việc quản lý
sử dụng trẻ lao động sớm đối với các cơ quan, xí nghiệp một cách rõ ràng và cụ thể
hơn, nhất là khâu kiểm tra việc thực hiện, tránh trường hợp trẻ bị lạm dụng, bóc lột
khi tham gia lao động.
Trên hết, cần có sự phối hợp giữa gia đình, các trung tâm bảo trợ xã hội và các
tổ chức đoàn thể trong việc tuyên truyền và phòng chống nạn lạm dụng trẻ lao động
sớm. Trong đó, việc quan tâm nhiều hơn đến đời sống tinh thần của trẻ, xây dựng
những sân chơi hấp dẫn và lành mạnh là một điều cấp thiết. Chính những sân chơi
này sẽ giúp học sinh có thể giải tỏa được những áp lực trong cuộc sống và tăng
cường rèn luyện kỹ năng sống để có thể ứng phó với những khó khăn trong cuộc
sống.
145
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Nhan Thị Lạc An (2010), Cách thức ứng phó trước những khó khăn tâm lý
của học sinh trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ
Tâm lý học, ĐHSPTP. HCM.
2. Nguyễn Trọng An (2007), Vấn đề lao động trẻ em - Thực trạng và giải pháp,
Bộ LĐTB&XH.
3. Hồ Hoàng Anh (2007), Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật lao
động, khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội.
4. Tô Thị Ánh & Nguyễn Thị Bích Hồng (1991), Tâm lý học lứa tuổi, NXBGD.
5. Trần Thị Tú Anh (2010), Bước đầu sử dụng thang đo ứng phó của trẻ vị thành
niên ACS để tìm hiểu đặc điểm ứng phó với khó khăn của trẻ vị thành niên
thành phố Huế, tạp chí Tâm lý học số 10/2010, trang 20-29.
6. Đỗ Ngân Bình (2009), Phòng chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em
- Pháp luật và thực tiễn, Tạp chí Luật học số 02/2009.
7. Vũ Ngọc Bình (2002), Vấn đề lao động trẻ em, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Thanh Bình (1996), Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao
tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp, Luận
án PTS.
9. Lain Byner (1998), Quyền con người của trẻ đường phố và trẻ em phải lao
động, Tài liệu hướng dẫn phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động .
10. Trần Thị Ngọc Dung (2007), Tìm hiểu sự đáp ứng khó khăn tâm lý trong học
tập của học sinh lớp 12 tại một số trường THPT TP. Hồ Chí Minh, Khóa luận
tốt ngiệp đại học.
11. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách Khoa.
146
12. Ngô Minh Duy (2012), Phá vỡ cơ chế phòng vệ dồn nén trong tiến trình tham
vấn tâm lý qua một ca lâm sàng, Khoá luận tốt nghiệp đại học Sư phạm TP.
HCM.
13. Lê Bá Đạt (2002), Rối nhiễu trầm cảm ở học sinh THPT hiện nay, tạp chí Giáo
dục số 42/2002.
14. Judith Ennew (2000), Trẻ đường phố và trẻ em lao động: Hướng dẫn lập kế
hoạch (Streeting and working children: A guide to planning), NXB ĐH Mở
TPHCM.
15. Camus Jean (2003), Sự bố trí thời gian và các khó khăn học đường, Phản ứng
tức thời và trì hoãn, Hội thảo trẻ em, văn hóa, giáo dục, tr. 296-301.
16. Vũ Ngọc Hà (2008), Đánh giá của giáo viên tiểu học về khó khăn tâm lý trong
học tập của học sinh lớp 1, Tạp chí Tâm lý học, Số 5 (110).
17. Lưu Song Hà (2005), Một số khó khăn trong học tập của trẻ vị thành niên và
cách ứng phó của các em đối với những tình huống này, Tạp chí Tâm lý học,
số 4 (73), số 10 (79).
18. Lê Việt Hà (2006), Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên theo
quy định của pháp luật lao động Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật
Hà Nội.
19. Dương Thị Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức, Khó khăn tâm lý và
nhu cầu tham vấn của học sinh trung học phổ thông, Tạp chí Tâm lý học, số 2
(95).
20. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thắng (1999), Tâm lý học lứa tuổi
và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội.
21. Trần Thị Kim Huệ (2012), Sử dụng test CSI để khảo sát kỹ năng ứng phó với
stress của sinh viên Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Quảng Ngãi, Hội thảo
Khoa học quốc tế Tâm lý học đường lần thứ 3, NXB ĐHSPTP. HCM.
22. Phan Thị Mai Hương (2005), Mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị
thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tố nhân cách, Tạp chí Tâm
lý học, số 5 (74).
147
23. Phan Thị Mai Hương (2005), Mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị
thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tố xã hội, Tạp chí Tâm lý
học, số 1 (70).
24. Hội tâm thần học Hoa Kỳ (1994), “Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn
tâm thần” (DSM-IV),
25. Nguyễn Công Khanh (2000), Tâm lý học trị liệu, NXB ĐHQG Hà Nội.
26. Đặng Phương Kiệt (2004), Ứng dụng tâm lý học trong đời sống, NXB Đại học
quốc gia Hà Nội.
27. Nguyễn Thị Sông Lam (2006), Tìm hiểu thực trạng áp lực tâm lý trong hoạt
động học tập của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Luận
văn tốt nghiệp đại học, ĐHSPTPHCM.
28. Đặng Bá Lãm - Weiss Bahr (chủ biên) (2007), Giáo dục, tâm lý và sức khỏe
tâm thần trẻ em Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành,
NXB ĐHQG Hà Nội, trang 287.
29. Đặng Thị Lan (2008), Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ
của sinh viên những năm đầu ở trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội,
Tạp chí Tâm lý học, số 2(107).
30. Lại Thế Luyện (2007), Biểu hiện stress trong sinh viên trường đại học Sư
phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sỹ Tâm lý học.
31. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Nguyễn Đức Hưởng (2003), Các lý thuyết phát
triển tâm lý người, NXB Đại học Sư phạm.
32. Bologinini Monique, Plancherel Bernard; Halfon Olivier (2003), Đánh giá
chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có sự khác nhau theo tuổi và theo
giới tính hay không?, Hội thảo trẻ em, văn hóa, giáo dục,
tr. 329 - 337.
33. Nguyễn Thị Hằng Phương (2009), Thực trạng và nguyên nhân gây ra rối loạn
lo âu ở học sinh trường THPT chuyên Quảng Bình, Tạp chí Tâm lý học, số
6/2009, trang 57-63.
148
34. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, số 25/2004/QH11, ngày 15 tháng 6 năm 2004.
35. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Bộ luật lao động
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Chương XI. Mục I , Điều 119,
120, 121, 122).
36. Barry D.Smith, Harold J.Vietter, Các học thuyết về nhân cách, NXB Văn hóa
thông tin, 2005.
37. John W. Santrock (2005), Tìm hiểu thế giới tâm lý của tuổi vị thành niên,
NXB Phụ nữ.
38. Lê Thành (2004), Bí quyết để xua đi những lo âu và căng thẳng, (Dịch từ
Harold fink, Nevivre plus sur vos nerfs, Denoel, Franc), NXB Phụ Nữ.
39. Nguyễn Hữu Thụ, Nguyễn Bá Đạt (2009), Các kiểu ứng phó với stress trong
học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Tâm lý học, số 3
(120).
40. Nguyễn Xuân Thức, Đào Thị Lan Hương (2007), Phân tích các biểu hiện khó
khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất sư phạm, Tạp
chí Tâm lý học, số 9 (102).
41. Lê Thị Thanh Thủy (2009), Stress trong học tập và cách ứng phó của học sinh
cuối cấp trung học phổ thông, tạp chí Tâm lý học số 4/2009.
42. Hoàng Gia Trang (2005), Áp lực tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh
THCS, Tạp chí Tâm lý học số 9/2005.
43. Đinh Thị Hồng Vân (2012), Ứng dụng tiếp cận nhận thức hành vi trong việc
hình thành cách ứng phó tích cực với cảm xúc âm tính cho trẻ vị thành niên,
Hội thảo Khoa học quốc tế Tâm lý học đường lần thứ 3, NXB ĐHSPTP.
HCM.
44. Nguyễn Khắc Viện (2001), Tự điển tâm lý, NXB Thế Giới, Hà Nội.
45. Vụ pháp luật hình sự hành chính (2005), Quyền trẻ em trong pháp luật Việt
Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
46. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin.
149
Tài liệu Tiếng Anh
47. Edward H. Fischer and John LeB. Turner (1970), Orientations to seeking
professional help:Development and research utility of an attitude scale, Joural
of Consulting and Clinical Psychology, Vol 35, No. 1
48. Carver, C.S.Scheier, M.F., & Weintraub, J.K. (1989), Assessing coping
strategies: Atheoretically based approach, Journal of Personality and Social
Psychology, 56, pp. 267 –283.
49. Andrew J. Sadler and Ian J.Deary (2000), The Coping Inventory for Stressful
Situations: Factorial Structure and Associations With Personality Traits and
Psychological Health, Journal of Applied Biobehavioral Research, 5, pp. 121
– 143.
50. Debra Rickwood, Frank P. Deane, Coralie J. Wilson and Joseph Ciarrochi
(2005), Young people’s help-seeking for mental health problems, Australian e-
Journal for the Advancement of Mental Health (AeJAMH), Vol.4.
Tài liệu Internet
51. http://hcm.edu.vn/KyNangSong/stress.asp?id=bieuhien.
52.http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_v%E1%B
B%81_Quy%E1%BB%81n_tr%E1%BA%BB_em.
53. http://www.baomoi.com/Bao-dong-tre-em-mac-benh-nghe
nghiep/82/5105575.epi.
54. http://laodong.com.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=37791.
55. http://vanhoanghean.vn/van-hoa-va-doi-song/cuoc-song-quanh-ta/2486-tre-
em-lang-thang-va-nhu-cau-tro-giup-tam-ly.html.
56. http://dantri.com.vn/c25/s25-68155/an-do-nhieu-hoc-sinh-tu-tu-vi-so-thi-
truot.htm
57. http://tuyensinh.dantri.com.vn/c25/s135-67776/gioi-tre-nan-nhan-so-1-cua-
chung-tram-cam.htm
58. http://www.baomoi.com/Con-qua-nhe/47/6439639.epi
59.http://www.molisa.gov.vn/others/faq/faqdetail/tabid/211/newsid/55396/seo/Tinh
-hinh-lao-dong-tre-em--thuc-trang-va-giai-phap/language/vi-VN/Default.aspx
150
60. http://luanvanfree.com/f/showthread.php?3816-Nghien-cuu-lao-dong-tre-em.
61.http://www.gopfp.gov.vn/vi/so86;jsessionid=9CB1BE736F586C8779D8290D5C15
75DB?p_p_id=62_INSTANCE_Z5vv&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&_6
2_INSTANCE_Z5vv_struts_action=%2Fjournal_articles%2Fview&_62_INSTA
NCE_Z5vv_version=1.0&_62_INSTANCE_Z5vv_groupId=18&_62_INSTANC
E_Z5vv_articleId=2323
PHỤ LỤC 1 - SỐ LIỆU THỐNG KÊ
QUAN
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Quan 1
35
30.7
30.7
30.7
Quan 8
41
66.7
36.0
36.0
Quan Tan Binh
38
100.0
33.3
33.3
Total
114
100.0
100.0
TUOI
Valid
6 den 11
Frequency 41
Percent 36.0
Valid Percent 36.0
Cumulative Percent 36.0
12 den 15
73
64.0
64.0
100.0
Total
114
100.0
100.0
QUE QUAN
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Thanh pho
64
56.1
56.1
56.1
Tinh khac
50
43.9
43.9
100.0
Total
114
100.0
100.0
VI SAO EM DI LAM
Valid
Vi gia dinh ngheo
Frequency 87
Percent 76.3
Valid Percent 76.3
Cumulative Percent 76.3
Buon chuyen gia dinh
83.3
7.0
8
7.0
Em thich tu lap
100.0
16.7
19
16.7
Total
100.0
114
100.0
GIOI TINH
Valid
Nam
Frequency 50
Percent 43.9
Valid Percent 43.9
Cumulative Percent 43.9
Nu
64
56.1
100.0
56.1
Total
114
100.0
100.0
SONG CUNG AI
Valid
Cung cha me
Frequency 66
Percent 57.9
Valid Percent 57.9
Cumulative Percent 57.9
Song voi me
68.4
10.5
12
10.5
Song voi cha
85.1
16.7
19
16.7
Khong song cung cha me
100.0
14.9
17
14.9
Total
100.0
114
100.0
VI SAO EM DI LAM
Valid
Vi gia dinh ngheo
Frequency 87
Percent 76.3
Valid Percent 76.3
Cumulative Percent 76.3
Buon chuyen gia dinh
8
7.0
7.0
83.3
Em thich tu lap
19
16.7
16.7
100.0
Total
114
100.0
100.0
N
Valid
CUOC SONG HIEN TAI 114
MUC DO HAI LONG 114
Missing
0
0
Mean
3.20
3.30
Median
3.00
3.00
Mode
3
3
Range
3
3
Minimum
2
2
Maximum
5
5
Statistics
CUOC SONG HIEN TAI
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Tot
10
8.8
8.8
8.8
Binh thuong
80
70.2
78.9
70.2
Khong tot
15
13.2
92.1
13.2
Rat nang ne
9
7.9
100.0
7.9
Total
114
100.0
100.0
MUC DO HAI LONG
Valid
Hai long
Frequency 22
Percent 19.3
Valid Percent 19.3
Cumulative Percent 19.3
Tuong doi hai long
56
49.1
49.1
68.4
It hai long
16
14.0
14.0
82.5
Hoan toan khong hai long
20
17.5
17.5
100.0
Total
114
100.0
100.0
MUC DO XAY RA AP LUC
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 17
Percent 14.9
Valid Percent 14.9
Cumulative Percent 14.9
Thuong xuyen
42
36.8
36.8
51.8
Thinh thoang
47
41.2
41.2
93.0
Hiem khi
8
7.0
7.0
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
N
Valid
tongyeutov ieclam 114
tongyeuton han 114
tongyeutoa ntoan 114
tongyeutob anbe 114
tongyeutoc hame 114
tongyeutun gquanh 114
Missing
0
0
0
0
0
0
Mean
1.86
2.02
2.27
2.30
2.01
2.49
Median
2.00
2.00
2.00
2.00
2.00
3.00
Mode
2
2
2
3
2
3
Range
2
2
2
2
2
2
Minimum
1
1
1
1
1
1
Maximum
3
3
3
3
3
3
Statistics
CONG AN VIEC LAM
CHO O
VAN DE AN TOAN
QUAN HE BAN BE
QUAN HE VOI CHA ME
QUAN HE VOI MOI NGUOI XQ
N
Valid
114
114
114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
0
Mean
2.38
2.68
3.97
3.82
3.37
4.52
Median
1.00
2.00
4.00
4.00
4.00
5.00
Mode
1
2
4
3
5
6
Range
5
5
5
4
5
5
Minimum
1
1
1
2
1
1
Maximum
6
6
6
6
6
6
VAN DE AN TOAN
Valid
Thu hang 1
Frequency 4
Percent 3.5
Valid Percent 3.5
Cumulative Percent 3.5
Thu hang 2
8
7.0
7.0
10.5
Thu hang 3
25
21.9
21.9
32.5
Thu hang 4
45
39.5
39.5
71.9
Thu hang 5
14
12.3
12.3
84.2
Thu hang 6
18
15.8
15.8
100.0
Total
114
100.0
100.0 QUAN HE BAN BE
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Thu hang 2
16
14.0
14.0
14.0
Thu hang 3
36
31.6
31.6
45.6
Thu hang 4
26
22.8
22.8
68.4
Thu hang 5
25
21.9
21.9
90.4
Thu hang 6
11
9.6
9.6
100.0
Total
114
100.0
100.0
QUAN HE VOI CHA ME
Valid
Thu hang 1
Frequency 25
Percent 21.9
Valid Percent 21.9
Cumulative Percent 21.9
Thu hang 2
15
13.2
13.2
35.1
Thu hang 3
14
12.3
12.3
47.4
Thu hang 4
20
17.5
17.5
64.9
Thu hang 5
33
28.9
28.9
93.9
Thu hang 6
7
6.1
6.1
100.0
Total
114
100.0
100.0 CHO O
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Thu hang 1
22
19.3
19.3
19.3
Thu hang 2
42
36.8
36.8
56.1
Thu hang 3
23
20.2
20.2
76.3
Thu hang 4
8
7.0
7.0
83.3
Thu hang 5
15
13.2
13.2
96.5
Thu hang 6
4
3.5
3.5
100.0
Total
114
100.0
100.0
CONG AN VIEC LAM
Valid
Thu hang 1
Frequency 66
Percent 57.9
Valid Percent 57.9
Cumulative Percent 57.9
Thu hang 2
8
7.0
7.0
64.9
Thu hang 3
12
10.5
10.5
75.4
Thu hang 4
5
4.4
4.4
79.8
Thu hang 5
5
4.4
4.4
84.2
Thu hang 6
18
15.8
15.8
100.0
Total
100.0
114
100.0 QUAN HE VOI MOI NGUOI XQ
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Thu hang 1
3
2.6
2.6
2.6
Thu hang 2
17
14.9
14.9
17.5
Thu hang 3
13
11.4
11.4
28.9
Thu hang 4
14
12.3
12.3
41.2
Thu hang 5
19
16.7
16.7
57.9
Thu hang 6
48
42.1
42.1
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
N
Valid
CONG AN BAT 114
BI NGUOI KHAC BAT NAT 114
DAU OM 114
MAC BENH XA HOI 114
Missing
0
0
0
0
Mean
3.90
3.19
3.08
4.29
Median
4.00
3.00
3.00
5.00
Mode
5
3
3
5
Range
4
4
4
4
Minimum
1
1
1
1
Maximum
5
5
5
5
DAU OM
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 7
Percent 6.1
Valid Percent 6.1
Cumulative Percent 6.1
Thuong xuyen
17
14.9
14.9
21.1
Thinh thoang
56
49.1
49.1
70.2
Hiem khi
28
24.6
24.6
94.7
Khong bao gio
6
5.3
5.3
100.0
Total
114
100.0
100.0
CONG AN BAT
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 8
Percent 7.0
Valid Percent 7.0
Cumulative Percent 7.0
Thuong xuyen
8
7.0
14.0
7.0
Thinh thoang
17
14.9
28.9
14.9
Hiem khi
35
30.7
59.6
30.7
Khong bao gio
46
40.4
100.0
40.4
Total
114
100.0
100.0
BI NGUOI KHAC BAT NAT
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 13
Percent 11.4
Valid Percent 11.4
Cumulative Percent 11.4
Thuong xuyen
11
9.6
21.1
9.6
Thinh thoang
46
40.4
61.4
40.4
Hiem khi
29
25.4
86.8
25.4
Khong bao gio
15
13.2
100.0
13.2
Total
114
100.0
100.0
TIEN NHA TRO
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid Rat thuong xuyen
19
16.7
16.7
16.7
Thuong xuyen
35
30.7
47.4
30.7
Thinh thoang
29
25.4
72.8
25.4
Hiem khi
21
18.4
91.2
18.4
Khong bao gio
10
8.8
100.0
8.8
Total
114
100.0
100.0
Statistics
TIEN NHA TRO
CHO O KHONG AN TOAN
N
Valid
114
114
Missing
0
0
Mean
2.72
3.79
Median
3.00
4.00
Mode
2
4
Range
4
4
Minimum
1
1
Maximum
5
5
CHO O KHONG AN TOAN
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 8
Percent 7.0
Valid Percent 7.0
Cumulative Percent 7.0
Thuong xuyen
8
7.0
7.0
14.0
Thinh thoang
12
10.5
10.5
24.6
Hiem khi
58
50.9
50.9
75.4
Khong bao gio
28
24.6
24.6
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
CHA ME LO LANG QUA NHIEU
VIEC GUI TIEN CHO CHA ME
NHO GIA DINH
CHA ME KHONG QUAN TAM
CHA ME GHET BO
N
Valid
114
114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
Mean
2.93
3.23
3.46
3.81
3.33
Median
3.00
4.00
4.00
4.00
3.00
Mode
3
4
3
4
3
Range
4
4
4
4
4
Minimum
1
1
1
1
1
Maximum
5
5
5
5
5 NHO GIA DINH
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid Rat thuong xuyen
20
17.5
17.5
17.5
Thuong xuyen
15
13.2
30.7
13.2
Thinh thoang
12
10.5
41.2
10.5
Hiem khi
53
46.5
87.7
46.5
Khong bao gio
14
12.3
100.0
12.3
Total
114
100.0
100.0
VIEC GUI TIEN CHO CHA ME
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 9
Percent 7.9
Valid Percent 7.9
Cumulative Percent 7.9
Thuong xuyen
21
18.4
26.3
18.4
Thinh thoang
34
29.8
56.1
29.8
Hiem khi
23
20.2
76.3
20.2
Khong bao gio
27
23.7
100.0
23.7
Total
114
100.0
100.0
CHA ME LO LANG QUA NHIEU
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 28
Percent 24.6
Valid Percent 24.6
Cumulative Percent 24.6
Thuong xuyen
11.4
11.4
36.0
13
Thinh thoang
25.4
25.4
61.4
29
Hiem khi
23.7
23.7
85.1
27
Khong bao gio
14.9
14.9
100.0
17
Total
114
100.0
100.0
CHA ME KHONG QUAN TAM
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 12
Percent 10.5
Valid Percent 10.5
Cumulative Percent 10.5
Thuong xuyen
10
8.8
8.8
19.3
Thinh thoang
33
28.9
28.9
48.2
Hiem khi
31
27.2
27.2
75.4
Khong bao gio
28
24.6
24.6
100.0
Total
114
100.0
100.0
CHA ME GHET BO
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid Rat thuong xuyen
6
5.3
5.3
5.3
Thuong xuyen
8
7.0
7.0
12.3
Thinh thoang
20
17.5
17.5
29.8
Hiem khi
48
42.1
42.1
71.9
Khong bao gio
32
28.1
28.1
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
KHONG CO VIEC LAM
TIEN LUONG
THOI GIAN LAM VIEC
QUAN HE VOI CHU
QUAN HE VOI KHACH HANG
QUAN HE VOI BAN BE LAM CUNG
N
Valid
114
114
114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
0
Mean
3.70
3.76
3.51
2.72
2.88
2.68
Median
4.00
4.00
4.00
3.00
3.00
3.00
Mode
4
4
4
3
3
2
Range
4
4
4
4
4
4
Minimum
1
1
1
1
1
1
Maximum
5
5
5
5
5
5
TIEN LUONG
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 11
Percent 9.6
Valid Percent 9.6
Cumulative Percent 9.6
Thuong xuyen
23.7
23.7
27
33.3
Thinh thoang
42.1
42.1
48
75.4
Hiem khi
18.4
18.4
21
93.9
Khong bao gio
6.1
6.1
7
100.0
Total
114
100.0
100.0
THOI GIAN LAM VIEC
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 9
Percent 7.9
Valid Percent 7.9
Cumulative Percent 7.9
Thuong xuyen
38.6
38.6
44
46.5
Thinh thoang
36.0
36.0
41
82.5
Hiem khi
13.2
13.2
15
95.6
Khong bao gio
4.4
4.4
5
100.0
Total
114
100.0
100.0
QUAN HE VOI KHACH HANG
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 2
Percent 1.8
Valid Percent 1.8
Cumulative Percent 1.8
Thuong xuyen
5.3
5.3
6
7.0
Thinh thoang
21.9
21.9
25
28.9
Hiem khi
57.0
57.0
65
86.0
Khong bao gio
14.0
14.0
16
100.0
Total
114
100.0
100.0
QUAN HE VOI CHU
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 2
Percent 1.8
Valid Percent 1.8
Cumulative Percent 1.8
Thuong xuyen
8.8
8.8
10
10.5
Thinh thoang
19.3
19.3
22
29.8
Hiem khi
57.9
57.9
66
87.7
Khong bao gio
12.3
12.3
14
100.0
Total
114
100.0
100.0
KHONG CO VIEC LAM
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 19
Percent 16.7
Valid Percent 16.7
Cumulative Percent 16.7
Thuong xuyen
19.3
19.3
22
36.0
Thinh thoang
42.1
42.1
48
78.1
Hiem khi
19.3
19.3
22
97.4
Khong bao gio
2.6
2.6
3
100.0
Total
114
100.0
100.0
QUAN HE VOI BAN BE LAM CUNG
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 5
Percent 4.4
Valid Percent 4.4
Cumulative Percent 4.4
Thuong xuyen
7.0
7.0
8
11.4
Thinh thoang
34.2
34.2
39
45.6
Hiem khi
42.1
42.1
48
87.7
Khong bao gio
12.3
12.3
14
100.0
Total
114
100.0
100.0
TIEN NHA TRO
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 19
Percent 16.7
Valid Percent 16.7
Cumulative Percent 16.7
Thuong xuyen
30.7
30.7
35
47.4
Thinh thoang
25.4
25.4
29
72.8
Hiem khi
18.4
18.4
21
91.2
Khong bao gio
8.8
8.8
10
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
N
Valid
TIEN NHA TRO 114
CHO O KHONG AN TOAN 114
Missing
0
0
Mean
2.72
3.79
Median
3.00
4.00
Mode
2
4
Range
4
4
Minimum
1
1
Maximum
5
5
CHO O KHONG AN TOAN
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 8
Percent 7.0
Valid Percent 7.0
Cumulative Percent 7.0
Thuong xuyen
8
7.0
7.0
14.0
Thinh thoang
12
10.5
10.5
24.6
Hiem khi
58
50.9
50.9
75.4
Khong bao gio
28
24.6
24.6
100.0
Total
114
100.0
100.0
tongcx
Valid
Thuong xuyen
Frequency 19
Percent 16.7
Valid Percent 16.7
Cumulative Percent 16.7
Thinh thoang
67
58.8
58.8
75.4
Hiem khi
28
24.6
24.6
100.0
Total
114
100.0
100.0
tonghanhdong
Valid
Thuong xuyen
Frequency 17
Percent 14.9
Valid Percent 14.9
Cumulative Percent 14.9
Thinh thoang
61
53.5
53.5
68.4
Hiem khi
36
31.6
31.6
100.0
Total
114
100.0
100.0
tongsinhly
Valid
Thuong xuyen
Frequency 14
Percent 12.3
Valid Percent 12.3
Cumulative Percent 12.3
Thinh thoang
67
58.8
58.8
71.1
Hiem khi
33
28.9
28.9
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
NHIP TIM
TANG NHANH DAU DAU
TRI NHO GIAM SUT CHAN AN
N
Valid
114
MET MOI KEO DAI 114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
Mean
3.93
3.19
3.10
3.86
3.75
Median
4.00
3.00
3.00
4.00
4.00
Mode
5
3
3
4
4
Range
4
4
4
3
4
Minimum
1
1
1
2
1
Maximum
5
5
5
5
5
Statistics
N
Valid
Missing
Mean
Median
Mode
Range Minimum Maximum
114
0
3.59
4.00
4
4
1
5
NE TRANH KHONG MUON GAP AI
DE NOI NONG
114
0
3.54
3.50
3
4
1
5
114
0
3.80
4.00
5
4
1
5
THO O VOI MOI THU
DE GAY GO
114
0
4.11
5.00
5
4
1
5
114
0
4.16
4.00
5
4
1
5
CAU GAT, GIAN DU
114
0
4.04
4.00
5
4
1
5
MUON BO DI THAT XA
TU SAT HOAC MUON TU SAT
114
0
4.03
4.00
5
4
1
5
114
0
3.02
3.00
4
4
1
5
KHOC HOAC MUON KHOC
114
0
3.60
4.00
3
4
1
5
MAT TAP TRUNG
114
0
2.43
2.00
2
4
1
5
NGU NHIEU HOAC MAT NGU
Statistics
NHIP TIM
TANG NHANH DAU DAU
MET MOI KEO DAI
TRI NHO GIAM SUT CHAN AN
N
Valid
114
114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
Mean
3.93
3.10
3.19
3.86
3.75
Median
4.00
3.00
3.00
4.00
4.00
Mode
5
3
3
4
4
Range
4
4
4
3
4
Minimum
1
1
1
2
1
Maximum
5
5
5
5
5
Descriptives CUOC SONG HIEN TAI Std. Deviation
Std. Error
N
Mean
95% Confidence Interval for Mean
Minimu m
Maximum
Lower Bound
Upper Bound
Quan 1
35
3.51
.818
.138
3.23
3.80
2
5
Quan 8
41
2.90
.436
.068
2.76
3.04
2
4
Quan Tan Binh
38
3.24
.714
.116
3.00
3.47
2
5
Total
114
3.20
.706
.066
3.07
3.33
2
5
Multiple Comparisons Dependent Variable: CUOC SONG HIEN TAI Tukey HSD
Mean Difference (I-J)
(I) QUAN
(J) QUAN
Std. Error
Sig.
95% Confidence Interval
Quan 1
Quan 8 Quan Tan Binh
.612(*) .277
.153 .156
.000 .182
.25 -.09
.98 .65
Quan 8
Quan 1
-.612(*)
.153
.000
-.98
-.25
Quan Tan Binh
Quan Tan Binh
Quan 1 Quan 8
-.334 -.277 .334
.150 .156 .150
.071 .182 .071
-.69 -.65 -.02
.02 .09 .69
* The mean difference is significant at the .05 level. tbtongykien
Valid
Dong y
Frequency 65
Percent 57.0
Valid Percent 57.0
Cumulative Percent 57.0
Luong lu
48
42.1
42.1
99.1
Khong dong y
1
.9
.9
100.0
Total
114
100.0
100.0
Statistics
tongykienc ongviec
tongykienn hao
tongykienb anbe
tongykienc hame
tongykiena ntoan
tongykienxu ngquanh
N
Valid
114
114
114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
0
Mean
1.5526
1.8333
1.7193
1.9298
2.2895
1.2982
Median
1.0000
2.0000
2.0000
2.0000
3.0000
1.0000
Std. Deviation
.69246
.70292
.67192
.73736
.81711
.57883
Range
2.00
2.00
2.00
2.00
2.00
2.00
Statistics
N
Valid
THAY DOI CAM XUC BEN TRONG 114
TIM KIEM NGUOI CHIA SE 114
Missing
0
0
Mean
2.80
2.84
Median
3.00
3.00
Mode
3
3
Range
4
4
Minimum
1
1
Maximum
5
5
TIM KIEM NGUOI CHIA SE
Valid Rat thuong xuyen
Frequency 12
Percent 10.5
Valid Percent 10.5
Cumulative Percent 10.5
Thuong xuyen
21.9
32.5
25
21.9
Thinh thoang
48.2
80.7
55
48.2
Hiem khi
11.4
92.1
13
11.4
Khong bao gio
7.9
100.0
9
7.9
Total
114
100.0
100.0
THAY DOI CAM XUC BEN TRONG
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid Rat thuong xuyen
9.6
9.6
11
9.6
Thuong xuyen
29.8
39.5
34
29.8
Thinh thoang
36.8
76.3
42
36.8
Hiem khi
18.4
94.7
21
18.4
Khong bao gio
5.3
100.0
6
5.3
Total
114
100.0
100.0
Statistics
CO GANG KIEM CHE BAN THAN
THUC HIEN HANH VI TIEU CUC
THUC HIEN HANH VI TICH CUC
TIM KIEM LOI KHUYEN
LEN KE HOACH CU THE
N
Valid
114
114
114
114
114
Missing
0
0
0
0
0
Mean
3.35
3.55
3.25
2.80
2.78
Median
3.00
4.00
3.00
3.00
3.00
Mode
3
4
3
3
3
Range
4
4
4
4
4
Minimum
1
1
1
1
1
Maximum
5
5
5
5
5
Statistics
N
Valid
PHU NHAN CAC AP LUC 114
CHAP NHAN AP LUC 114
LY GIAI THEO HUONG TIEU CUC 114
LY GIAI THEO HUONG TICH CUC 114
LANG TRANH CAC AP LUC 114
Missing
0
0
0
0
0
Mean
3.92
3.69
3.52
3.84
2.93
Median
4.00
4.00
4.00
4.00
3.00
Mode
4(a)
3
4
4
2
Range
4
4
4
4
4
Minimum
1
1
1
1
1
Maximum
5
5
5
5
5
a Multiple modes exist. The smallest value is shown
Statistics
N
Valid
tongungphocx 114
tongungpho suynghi 114
tongungph ohanhvi 114
Missing
0
0
0
Mean
2.0789
1.8684
1.5965
Median
2.0000
2.0000
1.5000
Mode
2.00
2.00
1.00
Range
2.00
2.00
2.00
Minimum
1.00
1.00
1.00
Maximum
3.00
3.00
3.00
Statistics
N
Valid
Missing
Mean
Std. Deviation
114
0
3.3246
.80370
tinhcamtic hcuc2
114
0
3.1579
.68587
tinhcamtie ucuc2
114
0
3.1930
.96741
suynghitic hcuc2
114
0
3.3596
.77719
suynghitie ucuc2
114
0
3.1140
.74973
hanhdongti chcuc2
79
35
4.3924
.92567
hanhdongti eucuc2
Group Statistics
THOI GIAN
Mean
Std. Deviation
N
Std. Error Mean
anhhuongsuckhoe
truoc thuc nghiem
12
7.3333
.98473
.28427
sau thuc nghiem
12
4.3333
.49237
.14213
anhhuongcamxuc
truoc thuc nghiem
12
1.7500
.45227
.13056
sau thuc nghiem
12
1.0833
.28868
.08333
Group Statistics
THOI GIAN
N
Std. Deviation
Std. Error Mean
Mean
bieuhienhanhvi
truoc thuc nghiem
12
.289
.083
14.92
sau thuc nghiem
12
.718
.207
8.83
bieuhiencamxuc
truoc thuc nghiem
12
.49237
.14213
10.6667
sau thuc nghiem
12
.49237
.14213
6.6667
bieuhiensuckhoe
truoc thuc nghiem
12
.00000
.00000
7.0000
sau thuc nghiem
12
.49237
.14213
4.3333
Group Statistics
THOI GIAN
tichcuc
truoc thuc nghiem
N 12
Mean 34.3333
Std. Deviation 2.87096
Std. Error Mean .82878
sau thuc nghiem
12
18.5833
1.67649
.48396
tieucuc
truoc thuc nghiem
12
42.6667
2.60536
.75210
sau thuc nghiem
12
64.0000
1.47710
.42640
Group Statistics
THOI GIAN
nguyennhan
truoc thuc nghiem
N 12
Mean 7.3333
Std. Deviation .49237
Std. Error Mean .14213
sau thuc nghiem
12
4.0000
.00000
.00000
Group Statistics
NHOM
ungphotieucuc
doi chung
N 12
Mean 49.4167
Std. Deviation 1.50504
Std. Error Mean .43447
thuc nghiem
12
50.0000
1.75810
.50752
ungphotichcuc
doi chung
12
32.6667
1.96946
.56854
thuc nghiem
12
32.0833
2.19331
.63315
Group Statistics
THOI GIAN
suynghitichcuc
truoc thuc nghiem
N 12
Mean 3.3333
Std. Deviation .98473
Std. Error Mean .28427
sau thuc nghiem
12
2.0000
.00000
.00000
PHỤ LỤC 2 – PHIẾU KHẢO SÁT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
Các em thân mến!
Để có cơ sở xây dựng biện pháp làm giảm áp lực trong cuộc sống của trẻ lao động sớm, chúng tôi rất cần ý kiến chân thực của các em. Hãy đọc thật kỹ câu hỏi, lựa chọn và đánh dấu X vào những câu trả lời phù hợp nhất với suy nghĩ và cảm xúc của em. Mỗi câu trả lời của các em đều có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả của nghiên cứu này. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của các em. Xin chân thành cảm ơn.
Thông tin cá nhân:
I. Câu 1: Em xác định các thông tin sau nhé!
- Quê quán: Thành phố Tỉnh khác
- Tuổi: từ 6 đến 11 tuổi từ 12 đến 15 tuổi
- Giới tính Nam Nữ
Quận 8 Quận Tân Bình
- Nơi ở: Quận 1 Câu 2. Hiện nay, em đang sống cùng với ai? Cùng cha mẹ Chỉ sống với cha Chỉ sống với mẹ Không sống cùng người thân. Câu 3. Em đã học đến lớp mấy? Chưa từng đi học Chưa học xong tiểu học Học xong tiểu học Chưa học xong trung học cơ sở Học xong trung học cơ sở Câu 4. Vì sao em lại đi làm?
Vì gia đình nghèo nên em đi làm để giúp đỡ gia đình.
Em buồn chuyện gia đình nên bỏ đi làm Vì bạn bè rủ rê, lôi kéo Em thích tự lập, tự do Người lớn dụ dỗ, lôi kéo em Em bị người lớn ép buộc
II. Nội dung
Câu 5: Em hãy đánh dấu X vào ô tương ứng với thực trạng cuộc sống hiện tại và
mức độ hài lòng của em đối với cuộc sống.
Cuộc sống của em hiện nay Mức độ hài lòng của em đối với cuộc sống hiện
tại
Rất tốt Rất hài lòng
Tốt Hài lòng
Bình thường Tương đối hài lòng
Không tốt Ít hài lòng
Rất nặng nề, đau khổ Hoàn toàn không hài lòng
Câu 6: Đánh dấu vào mức độ xảy ra những áp lực trong cuộc sống của em
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng
Hiếm khi Không bao giờ
Câu 7: Em hãy đánh dấu X vào những khía cạnh trong cuộc sống gây ra áp lực
cho em
STT
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
1 Công ăn việc làm
2 Chỗ ở
3 Vấn đề an toàn
4 Mối quan hệ với bạn bè
5 Mối quan hệ với cha, mẹ
6 Mối quan hệ với mọi người xung quanh (chủ, những người làm cùng)
Câu 8: Em hãy sắp xếp từ 1-6 theo vị trí ưu tiên những vấn đề thường gây áp lực
cho em trong cuộc sống hiện nay (1: nhiều nhất, 6: ít nhất)
Vấn đề trong cuộc sống Thứ hạng STT
1 Công ăn việc làm
2 Chỗ ở
Vấn đề an toàn 3
Mối quan hệ với bạn bè 4
Mối quan hệ với cha mẹ 5
6 Mối quan hệ với mọi người xung quanh
Câu 9: Trong các vấn đề sau, những vấn đề nào đã gây áp lực cho em và mức độ
của nó thế nào?
STT Vấn đề Rất thường Thường Thỉnh Hiếm Không
xuyên xuyên thoảng khi bao giờ
1 Không có việc làm
2 Tiền lương
3 Thời gian làm việc
4 Mối quan hệ với chủ
5 Mối quan hệ với khách hàng
6 Mối quan hệ với các bạn làm
cùng
7 Tiền nhà trọ
8 Chỗ ở không an toàn
9 Công an bắt trả về địa phương
10 Bị người khác bắt nạt
11 Đau ốm
12 Mắc bệnh xã hội
13 Không có bạn thân
14 Bạn bè chế giễu, coi thường
15 Cha mẹ lo lắng quá nhiều
16 Việc gửi tiền về cho cha mẹ
17 Nhớ gia đình
18 Cha mẹ không quan tâm
19 Cha mẹ ghét bỏ
20 Không được yêu mến, tin
tưởng
21 Bị đánh đập
Câu 10: Dưới đây là một số ý kiến liên quan tới người lao động sớm. Em hãy đánh
dấu vào những ý kiến phù hợp với em nhất.
STT Ý kiến liên quan tới người lao Hoàn Đúng Lưỡng lự Không Hoàn
động sớm toàn đúng đúng toàn sai
1 Người lao động sớm thường
khó tìm việc làm
2 Người lao động sớm được trả
công ít hơn người khác nếu
cùng làm một công việc
3 Tiền nhà trọ hàng tháng là
khoản tiền quá nhiều đối với mức lương của người lao động sớm
4 Người lao động sớm thường phải ở những nhà trọ tồi tàn, nóng bức, chật chội
5 Việc bị công an bắt và trả về địa phương là điều đáng sợ với người lao động sớm
6 Việc những người lao động
sớm bị bắt nạt rất thường xảy ra
7 Người lao động sớm thường bị bạn bè chế giễu, coi thường
8 Người lao động sớm ít có cơ
hội tìm được bạn thân
9 Người lao động sớm thường đối mặt với nỗi lo lắng tìm cách kiếm tiền gửi về cho gia đình
10 Những người lao động sớm thường không được cha mẹ quan tâm
11 Những người lao động sớm là
những đứa trẻ dễ hư hỏng.
12 Người lao động sớm là người
dễ có nguy cơ mắc các bệnh xã
hội
Câu 11: Em hãy đánh dấu vào những cảm xúc và hành vi thường xảy ra với em
khi em gặp áp lực trong cuộc sống.
STT Cảm xúc Rất thường Thường Thỉnh Hiếm Không
xuyên xuyên thoảng khi bao
giờ
1 Luôn ám ảnh về tương lai mù
mịt
2 Tự ti vì công việc thấp hèn
3 Thất vọng về bản thân
4 Buồn chán vì số phận hẩm hiu, kém may mắn
5 Né tránh không muốn gặp ai
6 Mặc cảm không được sống, học tập như những bạn khác
7 Dễ nổi nóng, kích động
8 Thờ ơ với tất cả mọi thứ
9 Muốn buông xuôi mọi thứ
10 Đau thắt vùng tim hoặc nhịp tim tăng nhanh
11 Đau đầu thường xuyên
12 Mệt mỏi kéo dài
13 Trí nhớ giảm sút
14 Chán ăn hoặc ăn không ngon
miệng
15 Dễ gây gổ, phá phách hoặc đánh nhau với người khác vô cớ
16 Cáu gắt, giận dữ, mỉa mai, châm
chọc người khác vô cớ
17 Muốn bỏ đi đâu đó thật xa
Thực hiện hành vi tự sát hoặc có 18 ý muốn tự sát
19 Khóc hoặc muốn khóc mà
không có lí do
20 Mất tập trung vào công việc
21 Ngủ quá nhiều hoặc mất ngủ, ngủ không ngon giấc
Câu 12: Em hãy xếp hạng từ 1 -3 (trong đó 1: thường xuyên nhất, 3: ít thực hiện
nhất) các cách giải quyết mà các em thường làm khi gặp những áp lực trong cuộc
sống?
Hướng giải quyết Xếp hạng STT
Thay đổi, điều chỉnh tình cảm, cảm xúc của mình đối với 1 các áp lực.
Thay đổi, điều chỉnh suy nghĩ của mình đối với các áp 2
lực.
3 Thay đổi, thực hiện các hành động cụ thể để vượt qua áp
lực.
Câu 13: Khi gặp các áp lực trong cuộc sống, em thường chọn các cách giải quyết
nào?
Rất thường Thường Thỉnh Hiếm Không STT
xuyên xuyên thoảng khi bao giờ
Thay đổi, điều chỉnh tình cảm, 1 cảm xúc ở bên trong
Tìm kiếm người có thể chia sẻ 2 những cảm xúc của mình
Phủ nhận các áp lực đang tồn 3
tại
Chấp nhận áp lực đó như một 4 phần của cuộc sống
5 Lý giải áp lực theo hướng tiêu
cực
6 Lý giải áp lực theo hướng tích
cực
7 Lảng tránh các áp lực
8 Cố gắng kiềm chế bản thân
Thực hiện các hành vi tiêu cực 9 để quên đi các áp lực
Thực hiện các hành vi tích cực 10 để giải quyết các áp lực
Tìm kiếm lời khuyên từ những 11 người có uy tín với mình
Lên kế hoạch cụ thể để giải 12 quyết các áp lực.
Câu 14: Em hãy chọn những cách giải quyết cụ thể em thường sử dụng trong số
những cách dưới đây khi gặp những áp lực trong cuộc sống:
STT Rất Thường Thỉnh Hiếm Không
thường xuyên thoảng khi bao giờ
xuyên
1 Cảm thấy buồn chán
2 Cảm thấy thế giới dường như vô
nghĩa
3 Không còn tin vào cuộc sống
4 Có cảm giác lo lắng, bất an
5 Ăn không thấy ngon miệng
6 Khóc
7 Bực bội, cáu gắt
8 Bồn chồn, bối rối không biết làm gì
9 Kể với bạn bè suy nghĩ của mình
Nhận được sự thông cảm, an ủi từ 10 những người khác
Nói với bố mẹ (nếu có) những điều
11 mình lo lắng qua điện thoại hoặc
trực tiếp
Tự nhủ những áp lực đó không phải 12 là sự thật
13 Coi như chẳng có điều gì xảy ra
Giả vờ vấn đề đó không có gì quan 14 trọng
15 Nghĩ đằng nào thì mọi sự cũng đã
xảy ra
Có muốn cũng không thay đổi được 16 tình trạng này
Mặc kệ mọi việc xảy ra thế nào 17 cũng được
18 Áp lực giúp mình làm việc hiệu quả
hơn
Nhờ điều này, em hiểu ai là người 19 tốt với mình
20 Chuyện xảy ra không phải do lỗi
của mình
21 Mọi người đã quá tệ bạc với mình
22 Hi vọng có một phép màu để thay
đổi điều này
23 Cầu mong sự giúp đỡ của Tiên, Phật
24 Ngồi một mình để suy nghĩ về mọi
việc
25 Dùng các chất kích thích (bia, rượu,
. . .)
26 Gây gổ, đánh nhau với người khác
27 Bỏ đi lang thang đâu đó
Nói những lời giận dữ, mỉa mai 28 người khác
Làm mọi việc như chơi thể thao, 29 đọc truyện để quên đi vấn đề này
Nói ra mọi thứ để thấy dễ chịu hơn
30 dù không biết có giải quyết được gì
hay không
Trò chuyện với bố mẹ để tìm ra giải 31 pháp
Nói chuyện với người có thể giúp 32 đỡ mình
33 Hỏi bạn bè phải làm gì vào lúc này
34 Cố gắng lên kế hoạch làm việc
35 Suy nghĩ nhiều về những việc tiếp
theo
36 Sắp xếp lại cuộc sống của mình
37 Quyết tâm vượt qua những áp lực
này
38 Tập trung toàn bộ vào công việc
39 Cố gắng tìm hiểu điều gì gây ra áp
lực
Tập trung sự giúp đỡ của mọi người 40 để giúp em giải quyết vấn đề gây áp
lực
Câu 15: Dưới đây là một số tình huống gây ra áp lực tâm lý cho em, em chọn cách
giải quyết nào?
TH1: Trong khi em đã cố gắng hết sức vẫn không kiếm đủ số tiền để gửi về nhà, cha mẹ
la mắng, chỉ trích em, em sẽ:
1. Cảm thấy buồn chán
2. Em bực bội, cáu gắt với mọi người
3. Em kể với bạn bè cảm xúc của mình
4. Em tự nhủ điều đó không quan trọng
5. Em uống bia rượu để quên buồn
6. Em đi chơi, đọc truyện, đá bóng . . . để hết buồn.
7. Khác:
TH2: Thời gian làm việc của em quá nhiều mà tiền lương lại trả ít hơn những người
khác, em sẽ:
1. Em nói chuyện thẳng thắn với chủ
2. Em bực bội, cáu gắt với mọi người
3. Em kể với bạn bè, cha mẹ để xin lời khuyên
4. Em tự nhủ điều đó không quan trọng
5. Em uống bia rượu để quên buồn
6. Em đi chơi, đọc truyện, đá bóng . . . để hết buồn.
7. Khác:
TH3: Bạn em đã gặp một tình huống khiến bạn rất lo lắng, căng thẳng khi đi lao động
sớm, theo em đó là tình huống nào?
1. Bạn không tìm được việc làm hoặc có việc nhưng tiền lương lại quá thấp
2. Bạn không tìm được chỗ ở thoải mái
3. Thường xuyên bị các trẻ lao động sớm khác bắt nạt
4. Thường bị công ăn bắt
5. Cha mẹ bạn đòi hỏi bạn quá nhiều
6. Mọi người xung quanh không tôn trọng bạn
7. Khác:
TH4: Bị công an đuổi bắt khi đi lao động sớm, em sẽ:
1. Em lo lắng, sợ hãi
2. Em bực bội, cáu gắt với mọi người
3. Em kể với bạn bè, cha mẹ, các nhân viên công tác xã hội để nhờ giúp đỡ
4. Em tự nhủ điều đó không quan trọng, lần sau em sẽ cẩn thận hơn
5. Em uống bia rượu để quên buồn
6. Em đi chơi, đọc truyện, đá bóng . . . để hết buồn.
7. Khác:
TH5: Số tiền của em kiếm được trong ngày vừa bị những trẻ lao động sớm khác cướp
mất, em sẽ:
1. Em lên kế hoạch để lấy lại số tiền đó
2. Em bực bội, cáu gắt với mọi người
3. Em kể với bạn bè, cha mẹ, các nhân viên công tác xã hội để xin lời khuyên
4. Em tự nhủ điều đó không quan trọng, lần sau em sẽ may mắn hơn
5. Em uống bia rượu để quên buồn
6. Em đi chơi, đọc truyện, đá bóng . . . để hết buồn.
7. Khác:
TH6: Mọi người trong khu nhà em ở xa lánh em, không cho con họ chơi với em vì cho
rằng em là trẻ lao động sớm thì sẽ dễ hư hỏng, em sẽ:
1. Cảm thấy buồn chán
2. Em bực bội, cáu gắt với mọi người
3. Em kể với bạn bè cảm xúc của mình
4. Em tự nhủ điều đó không quan trọng, em sẽ chơi với những người bạn khác
5. Em uống bia rượu để quên buồn
6. Em đi chơi, đọc truyện, đá bóng . . . để hết buồn.
7. Khác:
Chân thành cám ơn em đã hoàn thành phiếu trưng cầu ý kiến này
Chúc em nhiều niềm vui và thành công trong cuộc sống
Thân mến!
PHỤ LỤC 3 – BIÊN BẢN PHỎNG VẤN
Ngày phỏng vấn:
Địa điểm phỏng vấn:
Họ tên người phỏng vấn:
Họ tên người được phỏng vấn
Câu 1: Em đi làm từ khi nào? Vì sao em đi làm?
Câu 2: Cuộc sống hiện tại của em như thế nào? Trong cuộc sống nếu được em muốn
thay đổi điều gì nhất?
Câu 3: Hiện nay em đang làm công việc gì? Công việc thế nào? Em hãy mô tả công
việc cụ thể của mình?
Câu 4: Mối quan hệ của em với cha mẹ như thế nào?
Câu 5: Các bạn làm cùng làm đối xử với em như thế nào? Còn mọi người xung quanh?
Câu 6: Em có bạn thân không cùng hoàn cảnh không? Các bạn đối xử với em như thế
nào?
Câu 7: Em ở đâu? Em hãy mô tả căn nhà em đang ở?
Câu 8: Em có hay khóc không? Em khóc vì lý do gì?
Câu 9: Mỗi khi gặp áp lực như vậy, em thấy tâm trạng mình thế nào?
Câu 10: Em thường làm gì để vượt qua được những áp lực đó?
Câu 11: Dự định tương lai của em thế nào?
Câu 12 : Em thấy chương trình như thế nào? Nếu bây giờ nếu gặp áp lực tâm lý, em sẽ
làm gì?
MỘT SỐ KẾT QUẢ PHỎNG VẤN THU ĐƯỢC
Câu 1: Em V.B.Đ (quận Tân Bình) : “Em đi làm từ năm 13 tuổi. Vì gia đình quá khó
khăn nên em nghỉ học đi làm kiếm tiền”.
Câu 2: Em V.B.Đ (quận Tân Bình): “Em cảm thấy cuộc sống của em hiện nay rất bình
thường, đôi khi gặp nhiều khó khăn. Em mong muốn sau này sẽ có được cuộc sống tốt
hơn, đỡ vất vả hơn bây giờ”
Em H.T (quận 1): “Nhiều lúc em thấy cuộc sống của em rất nặng nề. Em muốn
được thay đổi cuộc sống hiện nay”.
Câu 3: Em N.H.B.N (14 tuổi): “Hàng ngày, em làm việc từ 9 giờ sáng đến 10 giờ đêm,
buổi trưa được nghỉ hai tiếng đồng hồ. Thời gian làm việc nhiều quá khiến em không
thể làm được bất cứ một công việc riêng nào”.
Câu 4: Em V.B.Đ (12 tuổi): “Mẹ em thường xuyên gọi điện cho em, lo lắng em ở trong
này ăn uống không đủ, bị ốm, rồi bị bắt nạt, sợ em bị bạn xấu rủ rê. Nhất là những lúc
em bị bệnh, mẹ em gọi điện rồi khóc suốt”.
Câu 6: Em H.N (15 tuổi, quận Tân Bình): “Em có bạn thân, nhưng các bạn ấy cũng
nghỉ học đi làm sớm như em. Còn các bạn khác (không cùng hoàn cảnh) thì không”.
“Có lẽ do em nghèo, các bạn không muốn chơi với em mà em cũng không muốn chơi
với các bạn ấy”
Câu 7: Em N.T.T (14 tuổi): “Buôn bán bây giờ chậm lắm cô ơi. Trong khi đó, hàng
tháng gia đình con phải trả gần 2 triệu tiền nhà cho 4 người ở, còn chưa tính điện,
nước nữa”.
Câu 8: Em H.B.N (quận Tân Bình): “Em thường xuyên khóc. Mỗi lần có chuyện mệt
mỏi em đều khóc. Khóc xong em thấy đỡ hơn.”
Câu 9: Em T.L (quận Tân Bình): “Nhiều lúc em cảm thấy mình rất tệ. Nhất là những
lúc cha mẹ bị bệnh mà em không có đủ tiền để gửi về, em thấy mình thật kém cỏi, không
được như người ta”.
Em H.T (quận 1) nói: “Nhiều lúc em thấy tủi thân, sao em không được bằng các
bạn. Các bạn được đi học, còn em thì suốt ngày cắm cúi làm . . .”
Câu 10: Em V.B.Đ (quận Tân Bình): “Mỗi khi buồn em rủ bạn đi chơi, đi uống nước
hoặc là đi chùa”.
Câu 11: Bé H.N (quận Tân Bình): “Em định sau này sẽ mở một tiệm sửa xe gắn máy.
Em thấy nghề này cũng dễ kiếm tiền. Bây giờ em đang đi làm để dành tiền sau này có
thể mở tiệm”.
Câu 12: Bé T.T (quận 1): “Em thấy chương trình này rất vui và bổ ích. Trước đây mỗi
khi buồn thì chúng em cứ làm những việc mà mình có thể nghĩ ra để hết buồn chứ
không biết những cách đó có thực sự giúp mình giải quyết vấn đề được hay không. Bây
giờ thì em đã biết mình phải làm gì rồi. Em cũng biết được là còn có rất nhiều người
yêu thương em và em không cần phải buồn vì những thiếu thốn của mình”.
Bé B.Đ (quận Tân Bình): “Trước giờ em chỉ nghĩ đơn giản là mỗi khi buồn, chán
thì mình cứ làm mọi cách miễn sao thoát khỏi cảm giác khó chịu ấy là được, nhưng
không ngờ có những việc em thường làm lại có thể ảnh hưởng lớn tới như vậy!
H.L cũng cho chúng tôi biết thêm: “Em không ngờ là mình chỉ cần thay đổi cách
suy nghĩ là lại có thể làm biến mất những cảm xúc buồn chán như vậy được. Từ giờ em
sẽ tập cho mình cách suy nghĩ tốt về mọi người, mọi việc!”
PHỤ LỤC 4 – BẢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢNG HỎI THỰC NGHIỆM
Các em thân mến!
Để có cơ sở xây dựng biện pháp làm giảm áp lực trong cuộc sống của trẻ lao động sớm,
chúng tôi rất cần ý kiến chân thực của các em. Tất cả những thông tin ở đây đều được giữ bí
mật và chỉ sử dụng cho nghiên cứu khoa học. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của các em. Xin
chân thành cảm ơn.
I. Thông tin cá nhân:
Giới tính:
Nam
Nữ
II. Nội dung
Câu 1: Trong cuộc sống hàng ngày, người bị áp lực tâm lý thường có những biểu hiện
như thế nào?
Biểu hiện
Đúng
Sai
STT
Né tránh không muốn gặp ai
1
Thờ ơ với tất cả mọi thứ
2
Đau đầu thường xuyên
3
4 Mệt mỏi kéo dài
Trí nhớ giảm sút
5
Chán ăn hoặc ăn không ngon miệng
6
Cáu gắt, giận dữ, mỉa mai, châm chọc người khác vô cớ
7
Thực hiện hành vi tự sát hoặc có ý muốn tự sát
8
Khóc hoặc muốn khóc mà không có lí do
9
10 Mất tập trung vào công việc
11 Ngủ quá nhiều hoặc mất ngủ, ngủ không ngon giấc
12 Họ vẫn ăn uống và sinh hoạt bình thường
Câu 2: Người có áp lực tâm lý, cảm xúc của họ được thể hiện như thế nào?
STT
Biểu hiện
Đúng
Sai
Tự ti vì công việc thấp hèn
1
Thất vọng về bản thân
2
Buồn chán
3
Thờ ơ với tất cả mọi thứ
4
Cảm xúc vẫn cân bằng, chỉ thỉnh thoảng họ có buồn bã một chút
5
Xuất hiện các triệu chứng hay xung đột, nóng nảy
6
Câu 3: Nếu bị áp lực tâm lý thì sức khoẻ của con người sẽ ảnh hưởng như thế nào?
1. Không có ảnh hưởng gì, chỉ hơi mệt mỏi
2. Có thể dẫn đến trầm cảm
3. Có thể dẫn đến rối loạn chức năng của hệ tuần hoàn, hệ tiêu hoá
4. Làm tăng nguy cơ bị các bệnh tâm thần.
Câu 4: Cảm xúc của con người bị ảnh hưởng như thế nào khi gặp các áp lực tâm lý?
1. Có thể tạo ra những cảm xúc tích cực nhưng cũng có thể tạo ra những cảm xúc tiêu cực.
2. Xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực, bi quan, chán nản
3. Tạo ra những cảm xúc tích cực thúc đẩy con người làm việc
4. Cảm xúc con người vẫn cân bằng, chỉ là hơi buồn bã hơn bình thường.
Câu 5: Theo em, yếu tố nào đã gây nên áp lực tâm lý?
1. Do những yếu tố bên ngoài tác động
2. Do những kì vọng của chính bản thân mình
3. Do thần kinh quá yếu
4. Do có quá nhiều công việc.
Câu 6: Một người bạn gặp áp lực tâm lý và bạn đã giải toả bằng cách đi nhậu để hết
buồn. Theo em,
1. Điều đó có thể chấp nhận được vì bạn quá buồn.
2. Đó là điều hoàn toàn không nên.
3. Thỉnh thoảng như vậy thì cũng được.
4. Em đồng ý với bạn vì em cũng thường làm như vậy.
Câu 7: Một người bạn của em gặp áp lực tâm lý, em sẽ làm gì?
1. Rủ bạn đi nhậu để bạn hết buồn
2. Ngồi lắng nghe và chia sẻ với bạn mọi thứ
3. Cùng bạn lập kế hoạch để vượt qua những áp lực tâm lý đó
4. Mặc kệ bạn, rồi mọi việc sẽ qua vì em còn nhiều việc phải làm.
Câu 8: Dưới đây là một số cách ứng phó khi gặp áp lực tâm lý. Em đánh giá như thế nào
về những cách ứng phó này
STT
Cách ứng phó
Rất tốt
Tốt Lưỡng
Không
Rất
lự
tốt
không tốt
Rút lui (không nói chuyện
1
hay chơi với người khác)
Tránh hoặc trì hoãn không
2
làm việc phải làm
Khóc
3
Đi ngủ sớm hơn
4
Thức khuya
5
Cười đùa, khôi hài
6
Đổ lỗi cho người khác
7
Nhờ sự giúp đỡ
8
Ngẫm nghĩ, suy nghĩ
9
Chơi thể thao
10
Đánh nhau
11
Lo lắng
12
Ăn nhiều hơn
13
Cầu nguyện
14
Nói cho mọi người biết là sự
15
việc đã tệ hại như thế nào đối
với mình
Viết lại những gì xảy ra
16
Tìm bạn mới
17
Bỏ đi
18
Tự cho là mình có lỗi
19
Làm việc miệt mài hơn
20
Giả vờ như mọi việc đều ổn
21
Hút thuốc
22
Than phiền
23
Dự tính việc phải làm và cách
24
làm
Suy nghĩ là sự việc sẽ diễn ra
25
theo chiều hướng tốt
Đi chơi với bạn
26
Câu 9: Suy nghĩ tích cực có thể làm giảm đi những căng thẳng, những áp lực trong cuộc
sống. Theo em,
1. Đúng
2. Sai
Câu 10: Cả tuần nay công việc của em không được như ý trong khi mọi người lại rất suôn
sẻ. Em suy nghĩ như thế nào?
1. Ai cũng may mắn hết, chỉ có mình là xui xẻo.
2. Đời bất công thế đấy
3. Mình thật là kém cỏi
4. Đây coi như là thời gian mình được nghỉ ngơi. Tuần sau mình sẽ cố gắng hơn.
Chân thành cám ơn em đã hoàn thành phiếu trưng cầu ý kiến này
Chúc em nhiều niềm vui và thành công trong cuộc sống
Thân mến!
PHỤ LỤC 5 – GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
Buổi 1: TÌM HIỂU VỀ ÁP LỰC TÂM LÝ
Thời Nội dung Hoạt động Phương pháp Chuẩn bị
gian
Khởi động Chơi trò chơi 5’
- Tìm hiểu các tình huống Điều gì khiến chúng ta bị áp lực - Giấy Roky, 10’
gây ra áp lực tâm lý viết lông - Học sinh liệt kê các tình huống
- Hình vẽ - Ảnh hưởng của áp lực thường gây căng thẳng trong
tâm lý “Tâm trạng cuộc sống hàng ngày
căng thẳng” - GV yêu cầu học sinh chọn một
trong các tình huống đã nêu, và
nói lên các tâm trạng có thể có
khi gặp tình huống đó theo nhóm
(dựa vào hình vẽ “Tâm trạng
căng thẳng” giáo viên phát).
20’ Nhận diện các biểu hiện Áp lực tâm lý – Chúng là ai? - Giấy A4
của áp lực tâm lý - Giáo viên đưa ra các tình hoặc Roky: 3
huống gây áp lực, HS thảo luận bản
những dấu hiệu của bản thân - Viết bi hoặc
khi gặp áp lực. viết lông: 3
- Cho các nhóm lên trình bày. cây
- Giáo viên tóm lại các biểu
hiện của áp lực tâm lý (phân - Bản tóm tắt
theo từng loại : cơ thể, cảm xúc, trên giấy
hành vi) Roky: 1bản
5’ Tổng kết Trẻ chia sẻ về áp lực tâm lý
Buổi 2: CÁCH ỨNG PHÓ VỚI ÁP LỰC TÂM LÝ
Thời Nội dung Hoạt động Phương pháp Chuẩn bị
gian
5’ Khởi động Chơi trò chơi
20’ - Tìm hiểu các cách - Giấy Roky, Yêu cầu học sinh chọn một tình
ứng phó với áp lực viết lông huống, và yêu cầu các em nêu vài
tâm lý - Các cách ứng cách ứng phó khi gặp áp lực.
phó - Ảnh hưởng của áp Phát cho mỗi HS một phiếu trong bộ
lực tâm lý phiếu ghi cách ứng phó
GV đọc lên một tình huống gây áp
lực cụ thể nào đó, yêu cầu HS suy
nghĩ xem em có thích phiếu ứng phó
mà các em đã cầm trong tay khi đối
chiếu nó với tình huống.
5. HS di chuyển đến một trong ba vị
trí ở trong phòng để thể hiện thái độ
của mình đối với cách ứng phó được
ghi trên phiếu mà mình đang có:
THÍCH, KHÔNG THÍCH, LƯỠNG
LỰ
GV yêu cầu một vài HS đọc phiếu
ứng phó của mình và giải thích vì
sao các em lại thích, không thích
hoặc lưỡng lự.
10’ Hiệu quả của các Thảo luận nhóm về các cách ứng
cách ứng phó phó
5’ Tổng kết Trẻ chia sẻ về các cách ứng phó của
Xác định lại • mức độ nhận thức
mình
Buổi 3: SUY NGHĨ TÍCH CỰC
Nội dung Hoạt động Phương pháp Chuẩn bị Thời
gian
5’ Khởi động Chơi trò chơi
10’ - Giấy A4 Dòng suy nghĩ Ghi ra những suy nghĩ tích cực hay
tích cực và tiêu tiêu cực về tình huống được nghe
cực Mời một vài HS đọc lên ý kiến của
mình và ghi lại các ý lên bảng
Thảo luận
10’ Nhìn sự việc theo - Liệt kê nhanh một vài tình huống
một cách mới - Giấy A4 gây áp lực
- Kể cho bạn bên cạnh biết suy nghĩ
của bản thân mình về sự việc xảy ra
- Yêu cầu HS đưa ra các suy nghĩ
mới và khác với những cách các em
thường hay nghĩ về sự việc xảy ra
- Trình bày suy nghĩ của mình, thảo
luận sau mỗi tình huống.
10’ Hãy bày tỏ cảm xúc - Bong bóng - Trò chơi: “Gương mặt bong bóng”
của mình - Bút lông - Thảo luận
5’ Tổng kết Trẻ chia sẻ về các cách ứng phó của
mình

