ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUANG HIẾU
TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM (SEO) CHO
BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60320101
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Trƣờng Giang
Hà Nội, năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa báo chí Trường Đại học
Khoa học xã hội nhân văn, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ Báo
chí học với đề tài “Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) cho báo điện tử ở
Việt Nam”.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS. TS Nguyễn Thị Trường
Giang, giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS Đặng Thị Thu Hương, các thầy,
cô giảng viên trong khoa Báo chí – Truyền thông và các thầy, cô giảng dạy
các bộ môn đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn không thể tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy
cô giáo, của các anh chị và các bạn đồng môn.
Trân trọng cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoàn đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; Toàn bộ
các số liệu nêu trong luận văn là trung thực; Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quang Hiếu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM (SEO)
CHO BÁO ĐIỆN TỬ ................................................................................................................. 11
1.1. Khái niệm ................................................................................................. 11
1.2. Vai trò của tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho báo điện tử ........................ 19
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho
báo điện tử ................................................................................................ 24
1.4. Cách thức ứng dụng SEO cho báo điện tử ............................................... 34
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 43
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM CHO BÁO
ĐIỆN TỬ ....................................................................................................................................... 44
2.1. Giới thiệu về các cơ quan báo chí được khảo sát ..................................... 44
2.2. Khảo sát tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trên báo Dân Trí, VietNamNet
và VietnamPlus. ........................................................................................ 49
2.3. Những kết quả đạt được và tồn tại khi tối ưu hóa công cụ tìm kiếm ở 3
báo được khảo sát ..................................................................................... 77
Tiểu kết Chương 2 .......................................................................................... 99
CHƢƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM CHO CÁC BÁO ĐIỆN TỬ .... 100
3.1. Những vấn đề đặt ra................................................................................ 100
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo
điện tử ..................................................................................................... 105
Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................ 119
KẾT LUẬN ................................................................................................................................ 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................................... 124
PHỤ LỤC .................................................................................................................................... 129
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hình ảnh một số báo điện tử phổ biến ở Việt Nam ......................... 11
Hình 1.2 Hình so sánh thị phần của các công cụ tìm kiếm ............................. 16
Hình 1.3 Hình ảnh bảng kết quả tìm kiếm của Google ................................... 18
Hình 1.4 Ảnh chụp thành phần trong một kết quả tìm kiếm hiển thị trên bảng
kết quả tìm kiếm của Google ........................................................ 19
Hình 1.5 Thời gian trung bình mà người Việt dành để dùng internet ............ 28
Hình 1.6 Biểu đồ tỷ lệ người sử dụng các mạng xã hội ở Việt Nam .............. 29
Hình 1.7 So sánh tỷ lệ nhấp chuột ở top 10 trên bảng kết quả tìm kiếm ........ 30
Hình 1.8 Biểu đồ tỷ lệ nhấp chuột ở 10 kết quả tìm kiếm đầu tiên của .......... 31
Hình 1.9 Biểu đồ nghiên cứu tỷ lệ nhấp chuột trên bảng kết quả tìm kiếm
Google của Caphyon năm 2014 .................................................... 31
Hình 1.10 Kết quả tìm kiếm thể hiện tít của tác phẩm báo điện tử ................ 37
Hình 1.11 Kết quả tìm kiếm thể hiện phần mô tả của tác phẩm báo điện tử .. 39
Hình 2.1 Giao diện trang chủ của báo điện tử Dân Trí ................................... 44
Hình 2.2 Giao diện trang chủ của Báo điện tử Vetnamnet ............................. 46
Hình 2.3 Giao diện trang chủ của Báo điện tử Việt Nam Plus ....................... 48
Hình 2.4 Kết quả tìm kiếm với từ khóa “vắc xin Quinvaxem & Pentaxim” .. 50
Hình 2.5 Kết quả tìm kiếm từ khóa “tái cơ cấu viễn thông” .......................... 61
Hình 2.6 Kết quả tìm kiếm từ khóa “đàm phán TPP thành công” .................. 65
Hình 2.7 Kết quả tìm kiếm với từ khóa “thảm sát 6 người Bình Phước” ....... 69
Hình 2.8 Kết quả tìm kiếm từ khóa “động đất ở Nepal” ................................ 72
Hình 2.9 Kết quả tìm kiếm từ khóa “kỳ thi THPT Quốc gia 2015” ............... 75
Hình 2.10 Cụm bài viết về chủ đề: Thi THPT Quốc gia 2015 báo VNPlus ... 76
Hình 2.11 Một số nội dung được chia sẻ không có định hướng cụ thể .......... 91
Hình 2.12 Top 10 báo có số tin bài bị đăng lại nhiều nhất trên Baomoi ........ 93
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời của Internet đã mang đến những thay đổi lớn cho nhân loại.
Số người sử dụng Internet trên thế giới ngày càng tăng. Tại Việt Nam,
Internet xuất hiện từ năm 1997. Trong những năm gần đây, nước ta luôn nằm
trong nhóm những quốc gia có tốc độ phát triển Internet nhanh nhất thế giới.
Theo số liệu của trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), số người dùng
Internet ở nước ta hiện nay vào khoảng 31 triệu người, chiếm gần 35% dân
số.
Trước một kho dữ liệu khổng lồ, người dùng Internet rất khó khai thác
được những thông tin cần thiết. Để giải quyết vấn đề này, các công cụ tìm
kiếm như Google, Yahoo, Bing, Altavista... đã ra đời và ngày càng phát triển.
Trong đó, Google với cơ chế hoạt động nhanh, hiệu quả, phù hợp với người
dùng, là công cụ tìm kiếm phổ biến nhất hiện nay. Với công cụ tìm kiếm
Google, người dùng chỉ cần gõ một hoặc một cụm từ khóa vào hộp text. Gần
như ngay lập tức, họ nhận lại được một danh sách những liên kết của các
trang web. Danh sách đó có thể là vài chục, vài trăm hoặc hàng triệu liên kết
của các trang web cá nhân, các trang thông tin điện tử… và cả các báo điện
tử. Vấn đề là người dùng sẽ không thể và không muốn truy cập vào tất cả các
trang web có trong danh sách. Họ thường chỉ chú ý đến những liên kết đầu
tiên và nếu không tìm thấy trang web mong muốn, họ sẽ thay đổi từ khóa tìm
kiếm để thực hiện lệnh tìm kiếm mới. Do đó, những trang web nằm ở những
vị trí đầu tiên của bảng kết quả tìm kiếm Google sẽ có nhiều cơ hội được
người dùng ghé thăm. Và đây chính là điều mà báo điện tử quan tâm. Vì tăng
cơ hội được người dùng lựa chọn tức là tăng lượng truy cập. Điều này đồng
nghĩa với việc tăng thương hiệu, uy tín; tăng doanh thu quảng cáo, nguồn thu
duy nhất của báo điện tử. Mặc dù, trên thế giới một số hình thức thu phí đối
1
với người đọc báo điện tử đã được áp dụng nhưng chưa thực sự phổ biến trên
thế giới và Việt Nam.
Việc gia tăng thứ hạng trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm Google
đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của báo điện tử.
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm còn được gọi với thuật ngữ SEO (viết tắt
của “Search Engine Optimization” hay “Search Engine Optimizer”) là việc
thực hiện những cách thức làm tăng thứ hạng của trang web lên những vị trí
đầu trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm. Đối với tác phẩm báo điện tử,
SEO giúp cho các tác phẩm trở nên phù hợp với cơ chế hoạt động của công cụ
tìm kiếm Google bằng việc nghiên cứu từ khóa; tối ưu hóa tít, sapô, chính
văn, hình ảnh, liên kết; quảng bá tác phẩm. Điều này giúp tăng thứ hạng của
tác phẩm báo điện tử trên bảng kết quả của Google, giúp tác phẩm tiếp cận
công chúng nhanh hơn.
Trong vài năm trở lại đây, thuật ngữ SEO đang dần được biết đến rộng
rãi. Các báo điện tử cũng bước đầu nắm bắt và thực hiện tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm thông qua bộ phận kinh doanh, bộ phận kỹ thuật của báo, hoặc thuê
các công ty SEO, các kỹ thuật SEO bên ngoài và hướng dẫn cho phóng viên,
biên tập viên những thao tác cơ bản về SEO. Tuy nhiên, việc ứng dụng SEO
vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả cao. Bằng chứng là số lượng các báo điện
tử có thứ hạng tốt trên trang kết quả của Google còn khá khiêm tốn. Trong khi
đó, nhờ thực hiện SEO tốt hơn mà nhiều trang thông tin điện tử, trang web cá
nhân có thứ hạng cao hơn các báo điện tử, dù chất lượng tốt, dù chất lượng
nội dung và hình thức thông tin khó có thể sánh bằng.
Thực tế là hầu hết các báo điện tử chưa dành sự quan tâm đúng mức
cũng như chưa thấy được ý nghĩa đích thực của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
đối với tác phẩm báo điện tử. Bản thân đội ngũ sáng tạo tác phẩm phần nhiều
vẫn chỉ coi đây là nhiệm vụ của bộ phận kỹ thuật hoặc không hiểu rõ về cơ
2
chế hoạt động của các công cụ tìm kiếm, thiếu sự phân tích và áp dụng một
cách logic các cách thức tối ưu hóa. Trong khi đó, các lớp học về SEO còn
nặng về yếu tố kỹ thuật, chưa kết hợp được khả năng tư duy, kỹ năng của nhà
báo với các kỹ năng SEO.
Nhận thức được tầm quan trọng của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho
các tác phẩm báo điện tử cùng những hạn chế xung quanh vấn đề này, tác giả
luận văn đã lựa chọn đề tài “Tối ưu hoá công cụ tìm kiếm (SEO) cho báo điện
tử” làm đề tài cho luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tuy mới xuất hiện ở Việt Nam được gần 20 năm nhưng báo điện tử đã
và đang phát triển mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội cũng như
đội ngũ những người nghiên cứu báo chí. Thời gian qua, đã có nhiều cuốn
sách, đề tài nghiên cứu, luận văn thạc sĩ về báo điện tử và về tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm (SEO)
Những cuốn sách như “Báo điện tử - Những vấn đề cơ bản” (2011,
NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội) của PGS. TS. Nguyễn Thị Trường
Giang, “Sáng tạo tác phẩm báo điện tử” (2014, NXB Chính trị quốc gia – Hà
Nội) do PGS. TS. Nguyễn Thị Trường Giang chủ biên, “Báo điện tử - Đặc
trưng và phương pháp sáng tạo” (2014, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật) do
TS. Nguyễn Trí Nhiệm và PGS. TS. Nguyễn Thị Trường Giang đồng chủ
biên, “Các thủ thuật làm báo điện tử” do Vũ Kim Hải, Đinh Thuận biên soạn,
đều nêu lên những vấn đề cơ bản về báo điện tử.
Đề tài nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học KHXH-NV về báo mạng
điện tử và Internet chủ yếu mang tầm vĩ mô như: đề tài “Báo chí trực tuyến ở
Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Phan Văn Tú năm 2006;
“Truyền thông đa phương tiện trên Internet xu thế của truyền thông hiện đại”
của Nguyễn Xuân Hương năm 2007; “Ngôn ngữ thể loại tin trên báo mạng
3
điện tử Việt Nam hiện nay” của Phạm Thị Mai năm 2010; Tương tự như vậy,
ở trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng có một số đề tài như “Quản
lý xã hội đối với báo mạng điện tử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của
Nguyễn Thị Huyền Thương năm 2011;
Những khía cạnh, vấn đề cụ thể của báo mạng điện tử đã được đề cập
đến trong nhiều luận văn thạc sĩ như: “Báo điện tử với việc khai thác và sử
dụng nguồn tin từ mạng xã hội” (Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Báo chí
học của Nguyễn Thị Hằng, Đại học KHXHNV năm 2011); “Sử dụng mạng
xã hội trong phát triển thương hiệu báo điện tử (Khảo sát Báo Vnexpress,
VTC News, Vietnamplus từ tháng 01/2013 đến 01/2014)” (Luận văn Thạc sỹ
chuyên ngành Báo chí học của Hoàng Thị Kim Khánh, Đại học KHXHNV
năm 2015); “Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử” (Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành Báo chí học của Trần Quang Huy, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, năm 2006); “Cách thức đưa tin đa phương tiện trên báo mạng điện tử
ở Việt Nam hiện nay” (Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Báo chí học của Phạm
Thị Hồng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2010); “Vấn đề sử dụng
ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” (Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành Báo chí học của Lê Minh Yến, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, năm 2011); “Mối quan hệ giữa tác phẩm báo mạng điện tử và vấn đề
tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google” (Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Báo
chí học của Đặng Linh Chi, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2014);…
Cuốn sách về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm chính thống, đầu tiên của
Google là “Google search engine optimization starter guide” vào năm 2010
đã có những giải thích và hướng dẫn rất cụ thể về các cơ chế hoạt động của
công cụ tìm kiếm Google và một số những phương pháp để tăng thứ hạng trên
bảng tìm kiếm. Một cuốn sách quan trọng nữa phải kể đến (được amazon bình
chọn trong 2 năm liền) là “Search engine optimization (SEO) secrect” của tác
4
giả Danny Dover, một thành viên kỳ cựu của SEOmoz. Một số cuốn sách
khác về SEO cũng khá nổi tiếng với nhiều thông tin có giá trị như: “The link
buiding book” của Paddy Moogan; “SEO Fitness Workbook” của Jason
McDonald; “Tối ưu hóa: làm thế nào để thu hút khách hàng bằng seo, truyền
thông xã hội và tiếp thị nội dung” của Lee Odden; “SEO for Content Writers
and PR Pros” của Phil Byrne; “SEO for Beginners” của Amit Bhawnani;
“Search Engine Optimization for Dummies” của Peter Kent;… Tại Việt Nam,
Tổ chức giáo dục iNet cũng cho ra đời cuốn sách “SEO Master”của tác giả
Nguyễn Trọng Thơ, NXB Lao Động năm 2010.
Cũng do cơ chế tìm kiếm và xếp hạng của Google thường xuyên thay
đổi vì vậy việc gây khó khăn cho nhà nghiên cứu trong việc biên tập thành
các tài liệu có giá trị tham khảo dài hạn. Tuy vậy, các bài viết về SEO từ các
tổ chức giáo dục, từ các đơn vị chuyên về marketing online tương đối nhiều.
Các chương trình học và tài liệu của tổ chức SEO Việt hoặc Vinalink được
những người làm SEO chuyên nghiệp đánh giá rất cao. Một số bài viết thu hút
được lượng độc giả lớn như: Tính khả dụng và thứ hạng trên máy tìm kiếm –
Việt SEO dot Net; Kết quả tìm kiếm Google không sử dụng Keywords Meta
Tag – Việt SEO dot Net; Những vấn đề hay mắc phải trong quá trình SEO –
Ngọc Chinh Blog; Thủ thuật tăng CTR bằng tiêu đề mới lạ – SEO Top VN;
Thủ thuật tối ưu hóa thẻ title – Thạch Phạm Blog; 8 lưu ý khi viết blog cho
SEO – Thạch Phạm Blog;…
Các nghiên cứu và bài viết về SEO cho báo điện tử còn rất hạn chế, tại
Việt Nam hiện chưa có các bài viết liên quan đến chủ đề này. Tuy nhiên, cũng
đã có rất nhiều các bài viết bằng tiếng nước ngoài mà nổi bật nhất là bài viết
“10 SEO tips for journalists” và “PR 2.0 and how the web is changing
journalism” của tác giả Paul Anthony viết năm 2010 và được đăng tải trên
website webdistortion.com.
5
Bên cạnh những nghiên cứu về SEO và báo điện tử, việc nghiên cứu
những ảnh hưởng của Internet với độc giả của báo điện tử cũng cần được xem
xét một cách kỹ lưỡng nhằm giúp các cơ quan báo điện tử hiểu rõ hơn về thế
giới kỹ thuật số, nơi mà các báo điện tử đang hoạt động và cung cấp nội dung
đến độc giả của mình. Một cuốn sách của hai nhà lãnh đạo cấp cao của
Google (Eric Schmidt - Jared Cohen) là “Sống sao trong thời đại kỹ thuật số”
đã được Hoàng Thạch Quân biên dịch và được NXB Trẻ phát hành 7/2015.
Đây là cuốn sách mô tả rất kỹ những ảnh hưởng của thế giới kỹ thuật số đến
đời sống tinh thần và cách thức độc giả tiếp nhận thông tin trong thời đại công
nghệ thông tin như hiện nay.
Tuy vậy, tính đến nay ở nước ta vẫn chưa có cuốn sách, đề tài nghiên
cứu khoa học, luận văn thạc sĩ nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm cho các báo điện tử ở Việt Nam. Vì đây là một góc nhìn
tương đối mới đối với nền báo chí nước ta và chỉ bắt đầu được các cơ quan
báo điện tử biết đến, chú ý trong vài năm trở lại đây.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả luận văn tiếp cận, giải quyết vấn
đề thông qua việc phân tích, lý giải và đưa ra những số liệu dẫn chứng cụ thể,
những vấn đề đặt ra và giải pháp cơ bản để nâng cao việc tối ưu hoá công cụ
tìm kiếm cho báo điện tử.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống cơ
sở lý luận về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử. Đề tài tiến hành
khảo sát thực trạng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm ở báo điện tử hiện nay để
nhận diện được những thành công, hạn chế và tìm ra nguyên nhân, từ đó đề
xuất một số giải pháp nâng cao việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho báo điện
tử.
6
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên cần hoàn
thành những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về báo điện tử, như: tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm, vai trò của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm đối với các tác phẩm báo
điện tử, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo
điện tử, cách thức báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm.
- Khảo sát thực trạng sử dụng tối ưu hoá công cụ tìm kiếm trên 3 báo
điện tử, từ đó, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của việc
sử dụng tối ưu hoá công cụ tìm kiếm trên 3 báo.
- Từ kết quả khảo sát, đề xuất một số giải pháp đối với cơ quan báo điện
tử và đặc biệt là những giải pháp dành cho đội ngũ sáng tạo tác phẩm của báo
điện tử nhằm nâng cao việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho báo điện tử.
4. Đối tƣợng và phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đối tƣợng: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tối ưu hoá công
cụ tìm kiếm cho báo điện tử.
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận văn này, do độ phổ
biến và mức ảnh hưởng của công cụ tìm kiếm Google tại Việt Nam là cao
nhất, vì vậy, tác giả luận văn tiến hành khảo sát việc sử dụng tối ưu hoá công
cụ tìm kiếm Google cho các tác phẩm báo chí trên 3 báo điện tử là Dantri,
VietNamNet, Vietnamplus từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015. Tuy nhiên vì
số lượng các tác phẩm có sử dụng tối ưu hoá công cụ tìm kiếm là rất lớn. Do
đó, tác giả luận văn sẽ khảo sát thực trạng sử dụng tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm Google cho báo điện tử thông qua 8 sự kiện nổi bật được công chúng
quan tâm diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015
trên 3 báo điện tử này.
7
Dựa trên những sự kiện thời sự nổi bật trên các báo điện tử và mức độ
phổ biến của các từ khóa trên Google, tác giả luận văn đã lựa chọn 8 sự kiện
tiêu biểu đi kèm là những từ khóa đặc trưng cho sự kiện:
- Vấn đề vacxin cho trẻ nhỏ (Từ khoá: Vắc xin Pentaxim & Quinvaxem),
- Đà Nẵng kiện nhân tài (Từ khoá: kiện nhân tài),
- Khủng bố tại Paris (Từ khoá: khủng bố Paris),
- Tái cơ cấu ngành viễn thông Việt Nam (Từ khoá: Tái cơ cấu viễn
thông)
- Việt Nam kết thúc đàm phán hiệp định TPP (Từ khóa: Đàm phán TPP
thành công)
- Thảm sát tại Bình Phước (Từ khóa: Thảm sát 6 người Bình Phước)
- Thảm họa động đất Nepal (Từ khóa: Động đất ở Nepal)
- Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp THPT (Từ khóa: Kỳ thi THPT Quốc gia
2015)
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí; quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng, nhà nước về Internet và hoạt động báo chí; lý luận về
báo chí cách mạng Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để tham khảo các thông tin, các
kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó hoàn thiện cơ sở lý luận cho
đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát: dùng để khảo sát thực trạng việc sử dụng tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm Google trên 3 báo điện tử: Dantri, VietNamNet và
VNPlus.
8
- Phương pháp thống kê: dùng để thống kê tài liệu, con số, sự kiện, dữ
liệu… có được trong quá trình khảo sát.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và điều tra xã hội học bằng bảng hỏi:
dùng để thu thập thông tin, ý kiến từ các phóng viên, biên tập viên.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: dùng để phân tích, đánh giá, tổng
kết những kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích nội dung: dùng để phân tích nội dung các bài
viết trên các báo điện tử được khảo sát.
6. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Đề tài làm rõ những khái niệm và vấn đề lý luận liên
quan đến vấn đề tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử, một vấn đề còn
khá mới mẻ hiện nay. Đề tài góp phần đưa ra những giải pháp, cách thức cụ
thể, cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tối ưu hoá công cụ tìm
kiếm cho các tác phẩm báo điện tử.
Ý nghĩa thực tiễn: Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề tài sẽ đem đến cái nhìn
sơ lược về thực trạng sử dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trên các báo điện
tử hiện nay, giúp cho người làm báo điện tử thấy được những thành công, hạn
chế của việc sử dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm đối với tác phẩm báo điện
tử. Đề tài đóng góp những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao việc tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm Google cho báo điện tử.
Ngoài ra, đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ cho sinh viên báo chí, đặc
biệt là sinh viên chuyên ngành báo điện tử, phóng viên, biên tập viên báo điện
tử và những người quan tâm tới lĩnh vực này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
với nội dung như sau:
9
- Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) cho báo
điện tử
- Chƣơng 2. Thực trạng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử
- Chƣơng 3. Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp nhằm nâng cao tối
ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử
10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM
(SEO) CHO BÁO ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm
1.1.1. Báo điện tử
Trong lịch sử báo chí thế giới, báo điện tử là loại hình báo chí ra đời
muộn nhất. Tuy mới xuất hiện được hơn 20 năm nhưng báo điện tử đã nhanh
chóng khẳng định được vị trí của mình và đang trở thành một kênh thông tin
không thể thiếu. Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận về việc sử dụng thuật ngữ
định danh loại hình báo chí mà thông tin được truyền tải và tiếp nhận qua
mạng Internet dưới dạng một trang web. Người ta định ra nhiều tên gọi như:
Internet newspaper (báo Internet), Online newspaper (báo trực tuyến),
Electronic journal còn gọi là E-journal (báo điện tử), Cyber newspaper (báo
mạng) … Ở Việt Nam, những thuật ngữ được sử dụng là báo mạng, báo chí
internet, báo trực tuyến, Báo điện tử, …
Hình 1.1 Hình ảnh một số báo điện tử phổ biến ở Việt Nam
11
Có nhiều ý kiến chưa thống nhất về khái niệm báo điện tử như sau:
Điều 3, Chương 1, trong Luật số 12/1999/QH10 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Báo chí năm 1989 quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí
thực hiện trên trang mạng thông tin máy tính” [26]
Trong nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 16/4/2002 của Chính phủ,
Chương 1, Điều 1 đưa ra giải thích: “Báo điện tử: là tên gọi loại hình báo chí
thực hiện trên mạng thông tin máy tính” [31]
Trong “Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí xuất bản” của
Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền thông có khái
niệm về Báo điện tử như sau: “Báo điện tử là hình thức báo chí mới sinh ra từ
sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công
nghệ cao hơn như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải
thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu” [48, tr.205]
PGS. TS. Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn “Báo điện tử - Những
vấn đề cơ bản” cho rằng: “Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây
dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet”
[11, tr.53] Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả luận văn sử dụng thuật
ngữ Báo điện tử với tư cách là một loại hình báo chí tồn tại dưới dạng một
trang web, được phát hành và tiếp nhận trên mạng Internet.
1.1.2. Tác phẩm báo điện tử
Trong nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 16/4/2002 của Chính phủ,
Chương 1, Điều 1, quy định: “Tác phẩm báo chí là tên gọi chung cho tất cả
các thể loại tin, bài, ảnh… đã được đăng, phát trên báo chí” [31]
Trong Tác phẩm báo chí, tập 1, NXB Giáo dục, năm 1995, các tác giả
Tạ Ngọc Tấn và Nguyễn Tiến Hải đã đưa ra quan niệm: “Tác phẩm báo chí là
một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức là
quan hệ bên trong cơ bản của nó. Tính chất chỉnh thể của tác phẩm báo chí
12
mang ý nghĩa tương đối trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí hoàn chỉnh”
[40, tr7]
Trong “Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương”, TS. Nguyễn Thị
Thoa cùng nhóm tác giả Học viện Báo chí và Tuyên truyền đưa ra một khái
niệm mở về tác phẩm báo chí như sau: “Là sản phẩm tư duy của nhà báo, lấy
hiện thực khách quan (mang tính thời điểm) làm đối tượng nghiên cứu và
phản ánh; Có hình thức tương ứng với nội dung thông tin; Được đăng tải trên
các phương tiện thông tin đại chúng và là một bộ phận cấu thành một sản
phẩm báo chí; Có giá trị sử dụng: tạo dư luận xã hội (tức thời) và làm thay
đổi hành vi người tiếp nhận thông tin; Được pháp luật bảo hộ bản quyền tác
giả và được trả tiền” [42, tr.11]
Từ những khái niệm nêu trên có thể đưa ra cách hiểu cơ bản về tác phẩm
báo điện tử như sau: Tác phẩm báo điện tử là tác phẩm báo chí được đăng tải
trên một báo điện tử, là sản phẩm của tập thể đội ngũ những người sáng tạo
tác phẩm báo điện tử và mang đặc trưng của báo điện tử. Các đặc trưng của
báo điện tử giúp cho tác phẩm báo điện tử khác biệt với những loại hình báo
chí khác.
Quy trình sáng tạo tác phẩm báo điện tử
Báo điện tử ra đời muộn hơn các loại hình báo chí khác nên nó kế thừa
và phát huy tính tích cực của các loại hình có trước. Người ta gọi báo điện tử
là loại hình truyền thông đa phương tiện. Nó bao gồm một phần của báo in,
một phần của phát thanh và một phần của truyền hình. Hiện nay, báo điện tử
phần lớn khai thác khả năng chuyển tải thông tin báo in thông qua dạng văn
bản được xuất bản trên mạng và công chúng tiếp thu thông qua màn hình máy
tính, điện thoại di động... Việc khai thác loại hình thông tin báo chí phát thanh
và truyền hình chưa nhiều do các điều kiện về hạ tầng cơ sở, đường truyền,
thiết bị tích hợp... Vì vậy, trong quy trình sáng tạo tác phẩm báo mạng điện
13
tử, các bước tiến hành phụ thuộc nhiều vào những yếu tố kỹ thuật như việc
thiết kế các giao diện, các phần mềm quản lý và xuất bản thông tin trên mạng.
Những yếu tố này tác động trực tiếp đến quy trình sáng tạo tác phẩm. Các
bước cơ bản trong quy trình sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử bao gồm 8
bước sau đây:
- Một là, Tìm hiểu và nghiên cứu thực tế
- Hai là, Chọn đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đề cho tác phẩm
- Ba là, Thu thập thông tin, tổng hợp tư liệu, liên hệ với những người liên
quan để phỏng vấn, ghi âm hoặc tiến hành quay phim tại thực địa, thẩm
định thông tin liên quan (sử dụng các phương pháp khai thác và thu
thập thông tin báo chí).
- Bốn là, Xem lại và xử lý các dữ liệu đã thu thập được (lựa chọn)
- Năm là, Chuẩn định dạng các file văn bản, âm thanh, hình ảnh
- Sáu là, Lựa chọn hình thức thể hiện tác phẩm hiệu quả nhất có thể và
tiến hành thể hiện tác phẩm (thể loại)
- Bảy là, Duyệt và xuất bản (bao gồm duyệt nội dung và kỹ thuật)
- Tám là, Lắng nghe thông tin phản hồi qua các kênh khác nhau.
1.1.3. Tối ƣu hoá công cụ tìm kiếm
1.1.3.1. Công cụ tìm kiếm
Vào thời kỳ đầu của Internet, số lượng trang web không nhiều, các
trang web được biết đến thông qua truyền miệng hoặc qua một trang web
danh bạ chứa địa chỉ của tất cả các trang web khác (gọi là web hub). Nhưng
khi Internet phát triển mạnh mẽ, đặc biệt với sự ra đời của không gian thông
tin toàn cầu World Wide Web, số lượng các trang web ngày càng tăng, với
nhiều định dạng file, việc tìm kiếm chính xác thông tin trở nên vô cùng khó
khăn. Số lượng người sử dụng Internet ngày càng tăng với nhu cầu tìm kiếm
ngày càng cao hơn. Do đó, các công cụ tìm kiếm ra đời.
14
Công cụ tìm kiếm (tiếng Anh là “Search Engines”) là một hệ thống
thông minh được lập trình và nâng cấp nhằm giúp người dùng tìm thấy những
thông tin cần thiết trong hàng triệu trang web trên Internet. Công cụ tìm kiếm
dựa trên các từ khóa tìm kiếm của người dùng phân tích trong cơ sở dữ liệu
để trả lại danh sách kết quả phù hợp.
Công cụ tìm kiếm đầu tiên mang tên Archie ra đời năm 1990, trước khi
mạng toàn cầu (World Wide Web) xuất hiện. Tiếp đến là sự ra đời của hàng
loạt các công cụ tìm kiếm mới với nhiều cải tiến hơn trong kỹ thuật tìm kiếm
như: Excite, ALIWEB, Primitive Web Search, WebCrawler, Altavista... Sau
đó là sự xuất hiện của các “ông lớn” trong lĩnh vực công cụ tìm kiếm là
Yahoo, Google, Bing.
Google chính thức xuất hiện năm 1998 do Larry và Sergey sáng lập.
Hiện nay có rất nhiều công cụ tìm kiếm, mỗi công cụ có những ưu điểm và
nhược điểm riêng, nhưng Google vẫn được nhiều người dùng lựa chọn nhờ sự
đơn giản, thuận tiện trong thao tác cũng như sự nhanh chóng việc tìm kiếm.
Theo thống kê của Công ty chuyên đo lường và đánh giá các thông tin
về hành vi người sử dụng internet, StatCounter, trong năm 2015 thị phần tìm
kiếm của Google chiếm đến 90,53% vượt hơn hẳn các công cụ tìm kiếm khác.
Tại Việt Nam, cũng theo số liệu của StatCounter trong năm 2015 thì con số
này là 91,67%.
15
Nguồn: Google Organic CTR 2014
Hình 1.2 Hình so sánh thị phần của các công cụ tìm kiếm
1.1.3.2. Tối ƣu hoá công cụ tìm kiếm
“Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm” được biết đến với thuật ngữ thông dụng
là SEO (viết tắt của “Search Engine Optimization” hay “Search Engine
Optimizer”). Cụm từ “Search Engine Optimization” được cho là chính thức
xuất hiện vào khoảng năm 1997 bởi một người không rõ danh tính. Danny
Sullivan, một trong những chuyên gia hàng đầu về công cụ tìm kiếm trên thế
giới, lần đầu tiên tìm thấy cụm từ này khi nó được sử dụng vào khoảng tháng
5 năm 1997 trên một thẻ siêu dữ liệu tại website của Danny Sullivan lúc bấy
giờ là searchenginewatch.com. Và Danny Sullivan cũng thừa nhận rằng có
thể thuật ngữ này đã từng được sử dụng trước đây nhưng không tìm thấy được
những bằng chứng lưu trữ. [59] Theo cách định nghĩa của Google: “SEO là từ
viết tắt cho “sự tối ưu hóa công cụ tìm kiếm” hoặc “tìm kiếm tối ưu hóa động
cơ”. [57] Về cơ bản có thể hiểu: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm là việc thực
hiện những phương pháp, thao tác làm tăng thứ hạng của trang web lên
những vị trí đầu trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm.
Trong giai đoạn đầu các công cụ tìm kiếm đưa ra kết quả theo thứ tự
bảng chữ cái Alphabet hoặc theo thứ tự mà các trang web được tìm thấy.
16
Những người thực hiện việc tối ưu hóa lợi dụng việc này để đặt tên các trang
web, tít bài bằng những chữ cái đầu tiên hoặc cập nhật trang web vào lúc
công cụ tìm kiếm thực hiện việc sắp xếp dữ liệu mà thường là vào lúc nửa
đêm. Những năm sau đó, các công cụ tìm kiếm mới lần lượt xuất hiện với
việc áp dụng các thuật toán phức tạp hơn khi sử dụng những yếu tố liên quan
đến mật độ từ khóa và những thẻ siêu dữ liệu (metatag). Những người thực
hiện việc tối ưu hóa lại tận dụng những yếu tố này để làm tăng mức độ liên
quan của trang web với việc lặp từ khóa nhiều lần trong nội dung và thẻ siêu
dữ liệu.
Vào khoảng cuối những năm 90, các công cụ tìm kiếm lớn và hiện đại
bắt đầu sử dụng những yếu tố dựa trên liên kết để xếp hạng kết quả tìm kiếm.
Các công cụ tìm kiếm cũng nhận ra sự hiện diện của những kỹ thuật tối ưu
hóa nên cũng không ngừng nghiên cứu thay đổi các thuật toán để tránh việc
nhồi nhét từ khóa hay mua bán liên kết của các trang web. Các kỹ thuật tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm vì thế cũng được cải tiến và phức tạp hơn rất nhiều.
Sau đó, ngành công nghiệp SEO cũng hình thành và phát triển một
cách chuyên nghiệp hơn. Các buổi hội thảo lớn được tổ chức và các tổ chức
chuyên nghiệp lần lượt ra đời. Những hội nghị về SEO như Triển lãm thiếp
thị tìm kiếm – Search Marketing Expo (SMX), Chiến lược công cụ tìm kiếm
– Search Engine Strategies (SES) được tổ chức trên thế giới và thu hút hàng
ngàn người tham dự. Các trang thương mại điện tử sử dụng SEO như một
chiến dịch làm gia tăng lợi nhuận. Nhận thấy vai trò của SEO, Báo điện tử
cũng sử dụng nó như một biện pháp hiệu quả nhằm tăng lượng truy cập.
Tại Việt Nam, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm bắt đầu xuất hiện vào
khoảng giữa năm 2006. Đến nay, SEO đã trở thành một khái niệm mà hầu
như bất kỳ nhà quản trị website nào cũng biết đến và ít nhiều tìm hiểu về nó.
SEO còn được đưa vào hoạt động của nhiều công ty, đặc biệt là những
công ty có hoạt động thương mại điện tử để giúp tăng doanh thu. Nhiều công
17
ty chuyên về SEO ra đời cùng với việc tổ chức các buổi hội thảo về SEO.
Nhiều trang web, diễn đàn về SEO xuất hiện và có số lượng lớn thành viên
hoạt động thường xuyên như SEO24h.com, thegioiseo, vnwebmaster.com….
1.1.3.3. Tối ƣu hoá công cụ tìm kiếm Google
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google là việc thực hiện những phương
pháp, thao tác làm tăng thứ hạng của trang web lên những vị trí đầu tiên trên
bảng kết quả của công cụ tìm kiếm Google.
Bảng kết quả tìm kiếm Google được đề cập ở đây là bảng kết quả tìm
kiếm không bao gồm những liên kết trang web quảng cáo, tài trợ. Ví trí những
liên kết trang web quảng cáo, tài trợ nằm ở 3 liên kết phía trên cùng, 3 liên kết
cuối cùng và 10 liên kết bên phải. Các liên kết quảng cáo, tài trợ này được
ngăn cách với bảng kết quả tìm kiếm theo hệ thống bằng những đường ngăn
cách mờ. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google chỉ ảnh hưởng đến các kết quả
có tính phí hoặc được tài trợ như Google AdWords.
Hình 1.3 Hình ảnh bảng kết quả tìm kiếm của Google
Sau khi nhận được một truy vấn tìm kiếm, tức là sau khi người dùng
đánh một hoặc một vài từ khóa vào ô tìm kiếm và ấn nhập, công cụ tìm kiếm
18
sẽ xác định nội dung chính của truy vấn. Sau đó, công cụ tìm kiếm sẽ lọc ra
danh sách tất cả các trang web có chung chủ đề, đánh giá các trang web đó và
xếp các trang web theo thứ tự phù hợp giảm dần đối với từ hoặc cụm từ khóa.
Một bảng kết quả tìm kiếm chứa các trang web phù hợp đã được sắp xếp sẽ
được trả về cho người dùng trong khoảng 0,5 giây sau khi người dùng gửi
lệnh tìm kiếm. Để xếp hạng được các trang web, công cụ tìm kiếm Google sử
dụng một loạt các thuật toán phức tạp. Có hơn 200 tiêu chí để xác định.
Google chỉ công bố một số và ẩn đi đến 50%.
Bảng kết quả tìm kiếm được chia thành nhiều trang, tùy thuộc vào số
lượng các kết quả tìm được. Mỗi trang chứa 10 liên kết gồm tin tức, hình ảnh,
bản đồ, địa chỉ, điểm đánh giá của người dùng, thông tin sản phẩm và video.
Mỗi kết quả gồm tiêu đề, đường dẫn địa chỉ trang web (URL) và phần mô tả
nội dung.
Tiêu đề (title)
Địa chỉ (URL)
Mô tả ngắn (Snippet)
Hình 1.4 Ảnh chụp thành phần trong một kết quả tìm kiếm hiển thị trên bảng kết quả tìm kiếm của Google
1.2. Vai trò của tối ƣu hoá công cụ tìm kiếm cho báo điện tử
Tăng lƣợng truy cập
1.2.1.
Tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho báo điện tử sẽ giúp tăng lượng truy
cập, từ đó gia tăng nguồn thu cho Báo điện tử. Khác với các loại hình báo chí
19
khác, nguồn thu chính của Báo điện tử đến từ quảng cáo. Theo “Báo cáo
Thương mại điện tử Việt Nam năm 2013” của Cục Thương mại điện tử và
Công nghệ thông tin, trong các hình thức quảng cáo doanh nghiệp lựa chọn
thì Báo điện tử chiếm 58%. Một trong những tiêu chí hàng đầu để những nhà
quảng cáo lựa chọn báo điện tử nào để đăng tải quảng cáo của mình là lượng
truy cập vào tờ báo đó. Do đó, Báo điện tử cần thu hút nhiều công chúng để
tăng càng nhiều càng tốt lượng truy cập. Độc giả truy cập vào một báo điện tử
theo ba cách là truy cập trực tiếp, truy cập chuyển tiếp qua các website trung
gian và truy cập thông qua công cụ tìm kiếm. Theo một nghiên cứu của Pew
Internet & American Life được thực hiện vào tháng 2 năm 2012, trung bình
công cụ tìm kiếm chịu trách nhiệm về 30% lượng truy cập vào các trang web
tin tức hàng đầu, trong đó, Google đóng vai trò lớn nhất. [53] Phải nói rằng
đối với một báo điện tử đã xây dựng được thương hiệu thì lượng công chúng
trực tiếp truy cập vào trang báo là không nhỏ. Nhưng không phải tất cả những
người tìm kiếm thông tin trên mạng Intertnet đều tìm kiếm một tờ báo nhất
định. Đối với những người chỉ đơn thuần là tìm kiếm một thông tin gì đó họ
tình cờ nghe thấy trên đài phát thanh, qua truyền hình hoặc thông qua người
khác thì việc sử dụng công cụ tìm kiếm là việc thường xuyên và hiệu quả. Vì
họ có thể ngay lập tức tìm thấy bài viết mà họ quan tâm.
Vấn đề là kết quả mà công cụ tìm kiếm đưa đến cho người dùng lại quá
nhiều. Đó có thể là vài trăm, vài nghìn, thậm chí hàng triệu kết quả. Người
dùng không muốn và không có khả năng xem tất cả các kết quả. Do đó, 10 kết
quả đầu tiên trên bảng kết quả tìm kiếm Google sẽ có nhiều khả năng nhất
được người dùng lựa chọn truy cập. Nếu một tác phẩm Báo điện tử không
nằm trong những kết quả đầu tiên thì tức là nó sẽ ít có khả năng được tiếp
nhận. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm sẽ giúp giải quyết vấn đề này. Vì nó đảm
bảo cho tác phẩm Báo điện tử có được thứ hạng cao trên bảng kết quả tìm
20
kiếm của Google. Nhờ đó, tăng khả năng truy cập, giúp thu hút người đọc
trực tuyến mới và độc giả tiềm năng.
1.2.2. Tăng độ tin cậy
Thông tin trên báo điện tử thường có độ cậy thấp hơn báo in và các loại
hình truyền thông đại chúng truyền thống khác. Ngoài ra, do thông tin trên
các báo điện tử bị sao chép và đăng tải lại rất nhiều trên các trang tin tức tổng
hợp khác, do vậy, việc báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Google sẽ giúp tăng độ tin cậy của báo điện tử.
Vì thường những trang web có chất lượng tốt, cập nhật thông tin liên
tục, và có nhiều lượng truy cập sẽ được ưu tiên xếp vào những vị trí đầu trong
bảng kết quả tìm kiếm. Việc báo điện tử xuất hiện ở những vị trí đầu của bảng
kết quả tìm kiếm Google sẽ thể hiện được độ tin cậy cao của trang báo trong
suy nghĩ của người dùng công cụ tìm kiếm, do vậy người dùng sẽ lựa chọn để
đọc nhiều hơn, uy tín của trang báo cũng ngày được nâng cao hơn.
1.2.3. Tiếp cận công chúng nhanh hơn
Tác phẩm Báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google sẽ
tiếp cận với công chúng trực tiếp hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Dù người
dùng là người truy cập thường xuyên vào một trang báo nhất định thì việc
phải hướng người dùng đi từ trang chủ đến một tác phẩm báo chí cụ thể sẽ
mất nhiều thời gian mà chưa chắc đã hiệu quả. Thay vào đó, tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm sẽ giúp hướng công chúng thẳng đến một tác phẩm Báo điện tử
cụ thể. Việc biết và sử dụng thành thạo những cách thức tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm Google sẽ giúp cho nhà báo biết cách giới thiệu tác phẩm của mình
tới công chúng, đồng thời có khả năng xây dựng tác phẩm phù hợp với công
chúng. Mục đích của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google là làm cho chắc
chắn rằng người đọc có thể tìm thấy tác phẩm. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
21
Google là viết tác phẩm báo chí chứa thông tin theo cách mà cả công cụ tìm
kiếm và con người dễ dàng tìm và hiểu.
1.2.4. Tăng khả năng cạnh tranh
Việc tác phẩm Báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm sẽ
góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của Báo điện tử. Trong môi trường
Internet, không chỉ có Báo điện tử cung cấp thông tin mà bên cạnh đó còn có
những trang thông tin điện tử, các trang thương mại điện tử hay blog. Trong
số đó, có một số lượng lớn các trang có hệ thống tự động cập nhật tin bài từ
các báo điện tử như baomoi.com, xemngay.com. Công việc duy nhất của các
trang web này là tiến hành tối ưu hóa tác phẩm Báo điện tử vừa sao chép.
Không cần trả lương, phụ cấp cho phóng viên, biên tập viên để sản xuất tin
bài, chi phí duy nhất mà các trang web này bỏ ra có lẽ là chi phí cho SEO.
Nhờ có SEO tốt mà các trang web này có vị trí cao trong bảng kết quả tìm
kiếm của Google. Thậm chí, tác phẩm của một báo điện tử “qua tay” các
trang web này còn đứng ở vị trí cao hơn nhiều so với tác phẩm đó ở chính báo
điện tử sản xuất ra nó. Có thể nói các trang này đang sống dựa trên công sức
mà các báo điện tử bỏ ra và hưởng phần lợi nhuận mà các báo điện tử đáng lẽ
được hưởng.
Bên cạnh những vai trò tích cực, cũng phải kể đến những trang web có
nội dung nghèo nàn, thiếu thông tin nhưng lại biết cách SEO, nhờ đó “leo”
lên được những vị trí đầu trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm Google.
Điều này không chỉ khiến các báo điện tử có nội dung chất lượng bị tụt hạng
mà còn khiến cho người dùng không có được những thông tin thực sự chất
lượng mà họ tìm kiếm. Do đó, để tăng khả năng cạnh tranh của Báo điện tử
với các trang web cung cấp thông tin khác, Báo điện tử cần ứng dụng việc tối
ưu hóa công cụ tìm kiếm Google một cách hiệu quả.
22
Có thể nói, Báo điện tử đang nắm trong tay nhiều thuận lợi trong quá
trình ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm của mình. Nội
dung là điểm mấu chốt, cơ bản trong tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google.
Báo điện tử có số lượng tin bài lớn. Nhờ có hệ thống lưu trữ một cách logic,
khoa học, có quy luật tìm kiếm rõ ràng mà các nội dung gốc vẫn luôn tồn tại
trên Báo điện tử. Thêm vào đó, số lượng tin bài liên tục được cập nhật giúp
Báo điện tử có lượng nội dung phong phú, không trùng lặp và liên tục được
bổ sung. Báo điện tử đang nắm trong tay điểm mấu chốt của tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm Google. Người làm Báo điện tử vì thế cũng đang sở hữu một
trong những kỹ năng quan trọng nhất của SEO: kỹ năng sản xuất nội dung
nhanh chóng và chất lượng. Do đó, việc tiếp cận với những kỹ năng khác
trong tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google đối với người làm Báo điện tử sẽ
trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Nền tảng xuất bản web hiện nay giúp SEO trở
nên đơn giản, với những thao tác thân thiện cho phép phóng viên, biên tập
viên tập trung vào nội dung hơn là kỹ thuật. Điều này cho thấy việc hiểu công
cụ tìm kiếm một cách cơ bản cũng là điều quan trọng để nội dung của tác
phẩm báo mạng thực hiện được chức năng của mình.
Công cụ tìm kiếm đóng vai trò đặc biệt trong sự phát triển của báo điện
tử, đặc biệt là Google. Mục đích của Google là phân phát nội dung chất lượng
cho người dùng. Đưa đến cho công chúng những tác phẩm chất lượng nhất
cũng là mục đích của Báo điện tử. Do đó, báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm chính là để phục vụ công chúng tốt hơn.
1.2.5. Quảng bá tác phẩm báo điện tử
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm giúp quảng bá các tác phẩm báo điện tử.
Tối ưu hóa báo điện tử giúp cho việc chia sẻ các tác phẩm báo điện tử dễ dàng
hơn. Một nghiên cứu của Pew được công bố vào ngày 23/5/2010 đã chỉ ra
rằng 44% người sử dụng tin tức trực tuyến biết được những thông tin thông
23
qua thư điện tử, cập nhật tự động hoặc bài viết từ các trang web mạng xã hội
[58]. Do đó, để quảng bá tin bài tới công chúng, các báo điện tử có thể sử
dụng những tính năng quảng bá tự động là RSS và Newsletter. “Đây là cách
thức rẻ tiền nhiều trang sử dụng nhất để phân phát nội dung và giữ chân độc
giả” [56, tr.24]. RSS (Real Simple Syndication) là tính năng tự động thông
báo cho người đọc – những người đã đăng ký nhận RSS khi web có nội dung
mới. Newsletter là dạng thức gửi thư điện tử (email) tự động khi độc giả cung
cấp địa chỉ email và đồng ý nhận email tin vắn từ báo.
Hiện nay, các trang mạng xã hội đã trở nên rất phổ biến, đặc biệt là đối
với giới trẻ. Số lượng người sử dụng mạng xã hội đã và đang tăng một cách
nhanh chóng. Thông tin được lan truyền với tốc độ cao trong cộng đồng mạng
xã hội. Đơn cử như sự kiện World Cup 2014 đã mang tới những cuộc bàn
luận sôi nổi với quy mô lớn chưa từng thấy trên Facebook. Theo khảo sát
Reuters, World Cup 2014 đã đạt mốc 1 tỷ tương tác trên Facebook chỉ sau 2
tuần diễn ra sự kiện này, phá vỡ kỷ lục và trở thành sự kiện thể thao được
quan tâm, bàn luận nhiều nhất trên mạng xã hội Facebook. Việc cộng đồng
mạng xã hội chia sẻ, bình luận về tác phẩm Báo điện tử sẽ giúp tăng lượng
thời gian thực của tác phẩm. Vì công cụ tìm kiếm Google ngày càng hướng
đến mức độ thời gian thực của bài viết. Do đó, việc tận dụng các trang mạng
xã hội để quảng bá cho tác phẩm là một việc làm vô cùng thiết thực và hiệu
quả.
1.3. Những nhân tố ảnh hƣởng tới việc tối ƣu hoá công cụ tìm kiếm cho
báo điện tử
1.3.1. Đặc điểm công chúng báo điện tử
Người dùng đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của công cụ tìm
kiếm Google. Vì mục tiêu của Google là phục vụ người dùng một cách tốt
nhất. Người dùng công cụ tìm kiếm Google là những người thường xuyên sử
24
dụng Google để tìm kiếm thông tin trên môi trường Internet. Trong những
thông tin mà đối tượng này tìm kiếm có những thông tin nằm trong các báo
điện tử. “Theo Trung tâm điều tra nghiên cứu Pew, 20% người Mỹ lên mạng
xem tin tức ít nhất mỗi tuần một lần. Con số đó nhảy vọt từ 11 triệu lên 36
triệu người sử dụng chỉ trong vòng 2 năm. Đối tượng tiếp nhận thông tin trực
tuyến ngày càng trẻ hơn, học vấn cao hơn, có điều kiện kinh tế hơn và quan
tâm theo dõi tình hình nội dung chính hơn là dân chúng nói chung. Hơn một
nửa trong số những người lướt mạng để xem tin tức nói rằng họ lên mạng để
tìm hiểu thêm về những câu chuyện họ đã đọc hoặc đã xem từ nguồn tin
truyền thống.” [13, tr.419] Và khi người dùng nhấp chuột vào một liên kết
trên bảng kết quả tìm kiếm của Google để truy cập vào một báo điện tử, họ
trở thành công chúng Báo điện tử.
Công chúng Báo điện tử có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội được Báo
điện tử tác động hoặc hướng vào để tác động. Công chúng có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự ra đời, tồn tại và thành công của Báo điện tử nói chung
và tác phẩm Báo điện tử nói riêng.
Việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử phụ thuộc lớn vào
đặc điểm của đối tượng công chúng Báo điện tử sử dụng công cụ tìm kiếm
Google. Trong cuốn “Báo điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo” PGS.
TS. Nguyễn Thị Trường Giang đã đưa ra những đặc điểm của công chúng
Báo điện tử là: có trình độ nhận thức và văn hóa nhất định so với mặt bằng
chung của xã hội; có điều kiện và khả năng sử dụng công nghệ hiện đại; có
khả năng tự nhận biết và xử lý thông tin; có quỹ thời gian hạn hẹp song lại có
nhu cầu thông tin cao; có tuổi đời trung bình từ 15 đến 30 tuổi [33, tr.127]. Có
thể nói đặc điểm công chúng Báo điện tử và người sử dụng công cụ tìm kiếm
có nhiều nét tương đồng vì hoạt động của nhóm đối tượng này đối với Báo
điện tử và công cụ tìm kiếm đều dựa trên môi trường Internet. Trong khuôn
25
khổ của luận văn này, tác giả luận văn xin được nêu ra một số đặc điểm của
công chúng Báo điện tử sử dụng công cụ tìm kiếm như sau: có độ tuổi trung
bình dưới 35 tuổi; thường xuyên sử dụng mạng xã hội, có nhu cầu tìm kiếm
thông tin nhanh; có nhu cầu thông tin cao; có khả năng nhận biết, đánh giá và
xử lý thông tin.
1.3.1.1. Độ tuổi trẻ (dƣới 35)
Trong cuốn “Báo điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo”, các tác
giả đưa ra nhiều số liệu đáng quan tâm: Theo khảo sát mới nhất của
WeAreSocial, một tổ chức có trụ sở chính ở Anh, nghiên cứu độc lập về
truyền thông xã hội toàn cầu, 73% người sử dụng Internet ở Việt Nam dưới
35 tuổi. Theo báo cáo mới nhất (tính đến hết tháng 7/2013) của comScore,
Việt Nam và Thái Lan là 2 quốc gia có lượng người dùng Internet ở độ tuổi
trẻ nhất khu vực, với 42% người sử dụng Internet tại Việt Nam ở độ tuổi 15 –
24 và ở Thái Lan tỷ lệ tương ứng là 45%. Độ tuổi người dùng Internet từ 25
đến 34 ở Việt Nam là 32% [33, tr.131].
Theo báo cáo NetCitizens Việt Nam năm 2010 của Cimigo, một công
ty khảo sát thị trường Châu Á Thái Bình Dương: độ tuổi trung bình của người
sử dụng Internet ở Việt Nam là 29 tuổi và 50% số người sử dụng Internet
dưới 27 tuổi [4, tr.12]. Cũng theo báo cáo NetCitizens Việt Nam của Cimigo
năm 2012, có 60% số người thường xuyên sử dụng công cụ tìm kiếm Google
dưới 35 tuổi [53, tr.62].
Như vậy, số người thường xuyên sử dụng Internet thuộc nhóm người
có độ tuổi trung bình dưới 35 tuổi. Điều này kéo theo việc người dùng thường
xuyên sử dụng công cụ tìm kiếm cũng như truy cập Báo điện tử cũng nằm
trong nhóm độ tuổi này.
26
1.3.1.2. Nhu cầu cao về thông tin
Trong cuốn “Công chúng báo chí” của TS. Phạm Thị Thanh Tịnh có
đưa ra khái niệm như sau: “Khái niệm nhu cầu tiếp nhận thông tin là những
đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về tiếp nhận các luồng
thông tin trong mọi mặt đời sống được cung cấp từ các phương tiện truyền
thông khác nhau để thêm hiểu biết, tri thức và thỏa mãn những thiếu thốn
đang cần có của mỗi người.” [44, tr.16]
Nhu cầu thông tin của công chúng Báo điện tử sử dụng công cụ tìm
kiếm Google là rất cao được thể hiện bằng thời gian họ dành cho việc tìm
kiếm thông tin trên Internet và độ phong phú, đa dạng trong những thông tin
mà họ tìm kiếm. “Các thống kê gần đây cho thấy: 76% người sử dụng
Internet của thế giới thường xuyên sử dụng mạng để đọc tin tức của báo chí.
Mỗi ngày họ sử dụng 10% đến 20% thời gian của mình để truy cập các trang
đa phương tiện và đọc thông tin.” [33, tr.135-136]
Theo “Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2013” của Cục
Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, 92% số người sử dụng Internet
truy cập Internet hầu hết các ngày trong tuần và 87% người sử dụng Internet
để cập nhật thông tin [5, tr.27-28]. Theo báo cáo NetCitizens Việt Nam năm
2012 của Cimigo, thì 95% số người sử dụng Internet là tìm kiếm tin tức [54].
Theo báo cáo của WeAreSocial về Internet và di động tháng 1/2014 tại Việt
Nam, thời gian trung bình một người sử dụng Internet trên máy tính mỗi ngày
là 4 giờ 37 phút [50]. Thời gian sử dụng Internet trong một ngày càng lớn thì
người dùng càng có khả năng tiếp nhận nhiều thông tin.
27
Average time that internet
Average time that mobile
Mobile internet
internet users spend
users spend using the
penetration as a
internet each day through a desktop or laptop
using the mobile internet each day
percentage of total population
wearesocial.sg • @wearesocialsg • 206
We Are Social Source: US Census Bureau, GlobalWebIndex
Hình 1.5 Thời gian trung bình mà người Việt dành để dùng internet
Người dùng luôn có xu hướng tìm kiếm những thông tin mới nhất.
Theo Google, có hàng tỷ lượt tìm kiếm trên Google mỗi ngày. Từ năm 2003,
Google đã trả lời 450 tỷ truy vấn tìm kiếm mới mà chưa từng gặp trước đó và
16% các tìm kiếm trên Google hàng ngày là tìm kiếm mới.
1.3.1.3. Sử dụng mạng xã hội nhiều
Người dùng, đặc biệt là giới trẻ, thường xuyên truy cập vào các trang
mạng xã hội để chia sẻ thông tin, trao đổi ý kiến. Theo “Báo cáo Thương mại
điện tử Việt Nam năm 2013” của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ
thông tin, 73% số người sử dụng Internet tham gia diễn đàn và mạng xã hội
[5, tr.28]. Theo báo cáo về Internet và di động tháng 1/2014 tại Việt Nam của
WeAreSocial: Tỷ lệ người sử dụng mạng xã hội chiếm 38% tổng dân số,
Facebook là mạng xã hội được sử dụng phổ biến nhất hiện nay với 22% dân
số sử dụng, theo sau là Google+, Twitter, Linkedin. Dự đoán của eMarketer
đến năm 2017 trên thế giới sẽ có 2,33 tỷ người sử dụng mạng xã hội [50].
28
Any Social Network
Google+
wearesocial.sg • @wearesocialsg • 208
We Are Social Source: GlobalWebIndex . Figures represent percentage of internet users.
Hình 1.6 Biểu đồ tỷ lệ người sử dụng các mạng xã hội ở Việt Nam
Thông tin trên mạng xã hội được truyền đi với tốc độ nhanh và độ phát
tán rộng. Đây cũng là một trong những điểm đáng chú ý khi Báo điện tử tối
ưu hóa công cụ tìm kiếm cho tác phẩm của mình. Vì việc sử dụng các trang
mạng xã hội để giới thiệu, quảng bá tác phẩm Báo điện tử sẽ đem lại hiệu quả
cao.
1.3.1.4. Nhu cầu tìm kiếm thông tin nhanh
Mục đích duy nhất của người dùng khi sử dụng công cụ tìm kiếm là tìm
thấy những thông tin mà họ mong muốn một cách tốt nhất. Do đó, người dùng
thường có xu hướng lựa chọn những công cụ tìm kiếm đưa ra được kết quả
nhanh và chính xác. Đây cũng là lý do khiến công cụ tìm kiếm Google được
nhiều người dùng lựa chọn.
Người sử dụng công cụ tìm kiếm theo những bước cơ bản là:
- Xác định nhu cầu bằng cách tìm kiếm câu trả lời, thông tin phù hợp
- Định hình nhu cầu đó thành một từ hay một cụm từ cụ thể, gọi là từ
khóa.
- Nhập từ khóa đó vào công cụ tìm kiếm.
- Xem lướt các liên kết trên bảng kết quả để tìm nội dung phù hợp
- Lựa chọn và nhấp chuột vào một liên kết.
29
- Nếu không thỏa mãn với liên kết vừa truy cập, quay trở lại trang kết
quả của công cụ tìm kiếm để nhấp vào một liên kết khác, hoặc thực hiện một
lệnh tìm kiếm mới với từ khóa mới.
Các bước trong quá trình trên diễn ra rất nhanh. Khi công cụ tìm kiếm
trả về bảng kết quả, người dùng muốn ngay lập tức nhìn thấy kết quả phù hợp
với nhu cầu của họ. Vì vậy, họ thường chú ý đến những kết quả đầu. Người
dùng cũng không có đủ kiên nhẫn để tìm kiếm với một số lượng lớn các trang
kết quả được công cụ tìm kiếm trả về. Đối với họ việc thực hiện một lệnh tìm
kiếm mới dễ dàng hơn nhiều so với việc phải xem các trang kết quả tiếp theo.
Nghiên cứu năm 2011 được thực hiện bởi Slingshot đã tiết lộ tỉ lệ nhấp
chuột của các thứ hạng hàng đầu: Vị trí ố 1 trên bảng kết quả tìm kiếm của
Google nhận 18,2% lưu lượng truy cập thông qua nhấp chuột. Vị trí thứ hai
nhận 10,1%; vị trí thứ ba nhận 7,2%; vị trí thứ tư nhận 4,8% và những vị tiếp
theo đều chưa đến 2%. Nghiên cứu của Tổ chức quảng cáo trực tuyến Chikita
năm 2013 cho thấy: vị trí thứ 1 chiếm 32,5%; vị trí thứ 2 chiếm 17,6%; vị trí
thứ 3 chiếm 11,4% [52, tr.14]
Nguồn: Google Organic CTR (Click-Through Rate) 2014
Hình 1.7 So sánh tỷ lệ nhấp chuột ở top 10 trên bảng kết quả tìm kiếm Google
30
Nghiên cứu của Chikita năm 2013 cũng chỉ ra rằng 3 trang kết quả tìm
kiếm đầu tiên của Google chiếm 97,4% số lượt nhấp chuột.
Nguồn: Chitika Insights June 2013
Hình 1.8 Biểu đồ tỷ lệ nhấp chuột ở 10 kết quả tìm kiếm đầu tiên của Google
Một nghiên cứu do Caphyon, Công ty phần mềm chuyên cung cấp các
giải pháp tiếp thị công cụ tìm kiếm, thực hiện năm 2014 cũng cho thấy 3 trang
kết quả tìm kiếm đầu tiên chiếm 76,92% lượt nhấp chuột [52, tr.25].
Nguồn: Google Organic CTR 2014
Hình 1.9 Biểu đồ nghiên cứu tỷ lệ nhấp chuột trên bảng kết quả tìm kiếm Google của Caphyon năm 2014
Như vậy, đa số người dùng luôn sẵn sàng thực hiện một lệnh tìm kiếm
mới ngay khi họ không tìm được những gì mình mong muốn trong không quá
3 trang đầu tiên trên bảng kết quả tìm kiếm, thậm chí là không quá 10 kết quả
đầu tiên.
31
1.3.1.5. Có khả năng nhận biết, đánh gía và xử lý thông tin
Trước một bảng kết quả tìm kiếm với số lượng lớn các kết quả, người
dùng có khả năng nhận biết, đánh giá được liên kết nào là cái mà họ đang tìm
kiếm, liên kết nào không phù hợp thông qua những thành phần được hiển thị
như tít, phần mô tả. Từ đó, họ đưa ra những quyết định gần như ngay lập tức
là nhấp chuột hoặc không nhấp chuột vào liên kết nào. Và một khi người
dùng đã nhấp chuột vào một liên kết trên bảng kết quả tìm kiếm, khả năng
nhận biết và cách đánh giá của họ được thể hiện trong quá trình họ ở lại với
trang web đó, nhấp chuột vào những liên kết có trong trang web để đến với
những bài viết khác hoặc ấn nút “back” để quay trở lại với bảng kết quả tìm
kiếm của Google. Quyết định đọc thông tin nào; đọc ra sao; tìm kiếm những
thông tin bổ sung; đưa ra những ý kiến, đánh giá thế nào phụ thuộc hoàn toàn
vào người dùng.
Như vậy, đối với phóng viên, biên tập viên Báo điện tử trong quá trình
sáng tạo, đăng tải tác phẩm cần phải tâm niệm rằng mình đang phục vụ công
chúng Báo điện tử, và cũng là người dùng công cụ tìm kiếm. Tức là phải viết
phù hợp với đặc điểm công chúng Báo điện tử sử dụng công cụ tìm kiếm.
1.3.2. Nhận thức của cơ quan báo điện tử
Nhận thức của cơ quan Báo điện tử về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Google cho các tác phẩm báo điện tử chính là nhận thức của các thành viên
trong cơ quan Báo điện tử. Điều này đóng vai trò quyết định trong việc cơ
quan Báo điện tử có tiến hành tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google hay
không, tiến hành ở mức độ nào, quy trình cùng sự phối hợp giữa các bộ phận
như thế nào.
Trong đó, vai trò của người lãnh đạo cơ quan báo chí là đặc biệt quan
trọng. Tổng biên tập, Phó tổng biên tập là những người sẽ quyết định lộ trình
ứng dụng SEO cho tác phẩm, quyết định mở lớp đào tạo, tập huấn hoặc cử
32
phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên đi học những lớp về tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm Google cho tác phẩm Báo điện tử.
Đối với đội ngũ sáng tạo tác phẩm Báo điện tử, nhận thức của họ về vai
trò của ứng dụng SEO này quyết định tới việc họ dành bao nhiêu thời gian,
công sức, sự quan tâm cho việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử.
Đội ngũ sáng tạo tác phẩm Báo điện tử nhận thức càng sâu sắc về tầm quan
trọng của việc SEO cho tác phẩm càng giúp cho họ có ý thức dành sự quan
tâm, đầu tư phù hợp cho việc nâng cao kiến thức, kỹ năng về SEO, nghiêm
túc ứng dụng hiểu biết và cách thức tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện
tử.
1.3.3. Kỹ năng sử dụng tối ƣu hóa công cụ tìm kiếm của đội ngũ sáng tạo
tác phẩm báo điện tử
Việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử không chỉ là nhiệm
vụ của bộ phận kỹ thuật hệ thống hay của bộ phận chuyên trách về SEO, việc
tối ưu hóa công cụ tìm kiếm phải được thực hiện từ khâu sáng tạo tác phẩm.
Đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo điện tử cần phải thực hiện tối ưu ngay từ khi
tiến hành sáng tạo các tác phẩm để đảm bảo các thành phần trong tác phẩm
Báo điện tử phù hợp với công cụ tìm kiếm Google. Đây thực ra là yếu tố quan
trọng nhất, quyết định hiệu quả của việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google
cho tác phẩm báo điện tử vì công cụ tìm kiếm Google sẽ không chỉ căn cứ
vào các kỹ thuật SEO được thực hiện trên hệ thống phần mềm mà Google còn
căn cứ vào nội dung các bài viết và cách thức xử lý các thành phần trong tác
phẩm.
Dù đội ngũ sáng tạo tác phẩm Báo điện tử có nắm bắt được những kiến
thức cơ bản về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử và việc tối ưu hóa
không được tiến hành trong thực tế và sẽ không đem lại bất kỳ hiệu quả nào.
Do đó, việc đội ngũ sáng tạo tác phẩm Báo điện tử thuần thục các thao tác,
33
cách thức SEO và biến nó thành một kỹ năng là nhân tố không thể thiếu trong
việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cho tác phẩm Báo điện tử.
Trong các cơ quan báo điện tử, việc thực hiện tối ưu cho báo điện tử
cần được thực hiện đồng đều, tránh tình trạng có tác phẩm được tối ưu, có tác
phẩm thì lại không được tối ưu, điều này sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến việc
xếp hạng của trang báo điện tử.
1.4. Cách thức ứng dụng SEO cho báo điện tử
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Google, trong vài năm trở lại đây, một số báo điện tử bắt đầu ứng dụng tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm Google đối với tác phẩm. Dựa trên các nguyên tắc viết
cho Báo điện tử và cơ chế hoạt động của công cụ tìm kiếm Goole, các báo
điện tử đã áp dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google nhằm gia tăng chất
lượng, hiệu quả của tác phẩm, thu hút công chúng, tăng lượng truy cập.
Trong 8 bước của quy trình sáng tạo tác phẩm báo điện tử, yếu tố SEO
cho tác phẩm báo điện tử được đưa vào ở bước 6, là bước thực hiện sáng tạo
tác phẩm báo điện tử.
Theo tìm hiểu của tác giả luận văn cũng như dựa trên một số tài liệu về
SEO, tác giả luận văn xin đưa ra những cách thức cơ bản tác phẩm Báo điện
tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google như sau:
- Lựa chọn từ khóa
- Tối ưu hóa nội dung tác phẩm Báo điện tử
- Quảng bá tác phẩm Báo điện tử
1.4.1. Lựa chọn từ khoá
Từ khóa là một từ hoặc một cụm từ dùng để thể hiện, nhấn mạnh nội
dung quan trọng mà tác phẩm Báo điện tử đề cập. Từ khóa là một từ hay một
cụm từ mà người dùng công cụ tìm kiếm sử dụng để tìm ra thông tin cần thiết,
trong đó có các tác phẩm Báo điện tử.
34
Google xác định mức độ liên quan của trang web với từ khóa tìm kiếm
bằng cách xem xét xem nội dung trang web có chứa từ khóa hay không, tần
suất xuất hiện của từ khóa trong văn bản và những từ trong nội dung trang
web có liên quan đến từ khóa tìm kiếm. Do đó, để tăng độ liên quan của trang
web tới từ khóa, cần xác định chính xác từ khóa và chèn từ khóa một cách
hợp lý vào những vị trí quan trọng của tác phẩm Báo điện tử. Việc xác định từ
khóa đóng vai trò to lớn vì nó sẽ giúp định vị được nội dung chủ yếu của tác
phẩm đồng thời giúp tác phẩm xuất hiện ở những vị trí đầu của bảng kết quả
tìm kiếm.
Đầu tiên cần xác định từ khóa chính. Đây là từ khóa giúp tác phẩm Báo
điện tử nằm ở đầu trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm Google. Việc xác
định từ khóa chính cho một tác phẩm Báo điện tử không phải lúc nào cũng dễ
dàng bởi cùng một nội dung có thể có nhiều cách chọn từ khóa. Thậm chí có
nhiều tác phẩm Báo điện tử có từ khóa chính giống nhau. Nhà báo có thể lựa
chọn từ khóa chính bằng kinh nghiệm, độ nhạy cảm, thói quen hoặc bằng các
công cụ hỗ trợ. Bên cạnh từ khóa chính, nhà báo có thể xác định thêm các từ
khóa liên quan. Để xác định từ khóa, nhà báo cũng có thể sử dụng những
công cụ tìm kiếm từ khóa như: Google Từ khóa Planner, Google Trends,
WordTracker.com, Google Suggets.
Lựa chọn từ khóa tốt, đặt đúng chỗ trong tác phẩm sẽ đem lại hiệu quả
cao khi SEO. Cần rải rác từ khóa trong tác phẩm ở mọi thành phần của bài
viết: tít, sapô, chính văn. Một bài báo chỉ sử dụng từ khóa trong tít sẽ yếu hơn
khi công cụ tìm kiếm tiến hành tìm kiếm. “Dù là do thiết kế hay ngẫu nhiên,
cách công cụ tìm kiếm tiếp cận, đánh giá tác phẩm cũng tương tự như cách
công chúng đọc Báo điện tử: đầu tiên là tít, tiếp đến là sapô, rồi đến hai đoạn
văn bản đầu tiên.” [56, tr.21] Google sẽ biết được liệu nội dung tác phẩm có
phù hợp với truy vấn tìm kiếm hay không, mức độ liên quan tới đâu, cũng
35
giống như người đọc sẽ biết được cái bài báo đề cập liệu có phù hợp với nhu
cầu thông tin cùa mình và có thể lựa chọn đọc tiếp nó hay không.
Tuy nhiên không nên chèn ép quá nhiều từ khóa vào trong tác phẩm
Báo điện tử. Việc nhồi nhét từ khóa thậm chí sẽ bị Google phạt, loại bỏ khỏi
danh sách kết quả tìm kiếm. Nhưng điều quan trọng nhất là việc có quá nhiều
từ khóa trong tác phẩm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nội dung tác phẩm và
gây khó chịu, phản cảm đối với công chúng. Cuối cùng Báo điện tử sẽ tự
đánh mất công chúng cùa mình. Điều này đòi hỏi nhà báo phải quan tâm đến
việc sử dụng một số lượng hợp lý từ khóa. Quan trọng nhất là tác phẩm phải
đảm bảo về mặt nội dung, hình thức và phù hợp với người dùng. Trong quá
trình viết tác phẩm, nhà báo cần chú ý sử dụng từ khóa chính và các từ khóa
liên quan một cách phù hợp và đặc biệt quan tâm tới vị trí của từ khóa.
1.4.2. Tối ƣu hoá nội dung tác phẩm báo điện tử
1.4.2.1. Tối ƣu Tít (title)
Tít là thành phần đầu tiên của tác phẩm Báo điện tử tiếp xúc với công
chúng. “Trung bình tít của một bài báo được đọc nhiều gấp 5 lần nội dung
của bài báo đó” [20, tr.128]. Nhà báo sử dụng tít để lôi cuốn công chúng, để
thuyết phục họ về tầm quan trọng của việc đọc tác phẩm. Tít của tác phẩm
Báo điện tử bao quát, tóm tắt và phù hợp với nội dung tác phẩm; nêu bật được
yếu tố mới của tác phẩm.
Tít của một tác phẩm Báo điện tử được dùng làm phần tiêu đề khi được
tìm kiếm ra trên Google. Phần tiêu đề là thành phần nổi bật nhất, có kích
thước lớn nhất, màu nổi nhất so với tất cả các thành phần khác. Tiêu đề hiện
ra trên bảng kết quả tìm kiếm không quá 67 ký tự, bao gồm cả khoảng trống.
Trong trường hợp tiêu đề dài hơn sẽ bị Google tự động cắt đi trên bảng kết
quả tìm kiếm. Điều này khiến tác phẩm khó được công chúng tiếp nhận hơn
vì công chúng không đọc được hết tít của tác phẩm và có nguy cơ không hiểu
nội dung, không thấy được sự hấp dẫn của tác phẩm. Như vậy khi đặt tít cho
36
tác phẩm Báo điện tử, tốt nhất nên đặt những tít ngắn gọn để tránh tình trạng
bị cắt khi tiếp cận với công chúng qua công cụ tìm kiếm.
Tít bị cắt
Tít không bị cắt
Hình 1.10 Ảnh kết quả tìm kiếm thể hiện tít của tác phẩm báo điện tử
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Google chủ yếu tập trung tìm kiếm vào
60 ký tự đầu tiên của mỗi đầu đề… Google “thích” các địa danh, tên người
khi tìm kiếm và là cách đơn giản để lựa chọn các bài viết, chuyên mục [33,
tr.135-136].
Công cụ tìm kiếm sử dụng tít trong việc tính toán độ liên quan của
trang web tới từ khóa tìm kiếm của người dùng. Độ liên quan càng lớn thứ
hạng website càng cao. Do đó, việc quan trọng nhất trong quá trình tối ưu hóa
tít là phải cho từ khóa vào trong tít. Đặt từ khóa vào trong tít phải chú ý đến
việc là hướng vào mục đích tìm kiếm cũng như phải phù hợp với người dùng.
Điều này sẽ đảm bảo tít được người dùng click vào nhiều hơn.
Các phóng viên, biên tập viên luôn được nhắc nhở rằng tít là bộ phận
đầu tiên tiếp xúc với công chúng nên cần phải hấp dẫn, lôi cuốn. Nhưng khi
tham gia vào thế giới của công cụ tìm kiếm. Công cụ tìm kiếm sẽ không thể
nào hiểu được hàm nghĩa bên trong của tít. Tức là công cụ tìm kiếm không
thể hiểu nghĩa nước đôi, ẩn dụ hay lối nói hài hước, châm biếm. Do đó, cần
tránh sử dụng những tít chơi chữ, mang nhiều hàm nghĩa. Cũng phải nói thêm
37
rằng những tít quá rườm rà, chơi chữ sẽ không thể được người dùng tìm kiếm
trên Google trong trường hợp họ chưa biết đến tác phẩm. Bởi người dùng
thường tìm kiếm thông tin với những từ, cụm từ đơn giản nhất có thể. Những
tít đơn giản, đúng trọng tâm, chứa từ khóa gần gũi với người dùng và dễ dàng
có mặt trên bảng kết quả tìm kiếm hơn.
Đối với những tác phẩm viết về một đối tượng cụ thể, nổi tiếng, phổ
biến, được nhiều người biết đến thì nên viết đầy đủ tên đối tượng hoặc viết
tên đối tượng theo cách mà họ vẫn thường được biết đến, đặc biệt không nên
viết tắt tên đối tượng. Việc viết tắt, rút ngắn tên đối tượng sẽ gây khó hiểu tới
người chưa từng biết đến đối tượng hoặc sẽ gây nhầm lẫn cho công chúng.
Viết tên đầy đủ sẽ giúp tác phẩm có khả năng được hiển thị ở nhiều nội dung
tìm kiếm có liên quan.
1.4.2.2. Tối ƣu sapo
“Phần mô tả sẽ cung cấp cho công cụ tìm kiếm bản tóm tắt nội dung
của trang. Nó có thể là một câu, hai câu hoặc một đoạn ngắn” [57, tr.6] Phần
mô tả cũng được dùng làm phần mô tả cho một đường link khi nó xuất hiện
trên các trang mạng xã hội. Thông thường đối với tác phẩm Báo điện tử, phần
mô tả này chính là sapô của tác phẩm. Sapô phản ánh nội dung chính của tác
phẩm đồng thời góp phần thu hút công chúng. Đối với tác phẩm Báo điện tử,
sapô là thành phần quan trọng thứ hai sau tít. Trên bảng kết quả tìm kiếm, nó
cũng là thành phần quan trọng giúp người dùng quyết định có click vào tác
phẩm hay không. Độ dài của phần mô tả xuất hiện trên bảng kết quả tìm kiếm
tối đa là 160 ký tự, kể cả khoảng trống. Nếu phần mô tả dài hơn nó sẽ bị cắt đi
khi xuất hiện trên bảng kết quả tìm kiếm của Google. Từ khóa mà người dùng
sử dụng để tìm kiếm sẽ được bôi đậm trong phần mô tả.
38
Hình 1.11 Ảnh kết quả tìm kiếm Google thể hiện phần mô tả của tác phẩm báo điện tử
Sapô trong tác phẩm Báo điện tử cần phải viết ngắn gọn, tạp trung vào
nội dung chính và quan trọng là phải chứa từ khóa. Số lượng từ khóa xuất
hiện trong sapô không nên quá 3 lần. Quan trọng nhất vẫn là nội dung hướng
tới người dùng.
1.4.2.3. Tối ƣu chính văn
Công cụ tìm kiếm Google ưu tiên 500 từ đầu tiên tức là 2 hoặc 3 đoạn
đầu của tác phẩm Báo điện tử. Google không quan tâm nhiều đến những đoạn
văn bản ở cuối trang vì nó quan tâm nhất đến cái đầu tiên mà người đọc nhìn
thấy mà không phải cuộn trang. Do đó cần tập trung từ khóa trong phạm vi
500 từ đầu tiên. Việc chia nhỏ nội dung ra thành nhiều bài sẽ tạo điều kiện
cho công cụ tìm kiếm phân tích tất cả nội dung thay vì chỉ 500 từ đầu tiên.
Trong phần chính văn cũng cần chú ý đến các tít phụ và những chữ in
nghiêng, in đậm. Mỗi một tít phụ đề cập đến một ý của vấn đề đang được đề
cập đến trong tác phẩm. Tít phụ giúp người đọc có thể dễ dàng nắm bắt những
ý chính của tác phẩm và có thể quyết định chọn đọc ý này và bỏ qua ý khác vì
không phải ai cũng thích đọc và có thời gian đọc tất cả nội dung do nhà báo
cung cấp. Tít phụ có thể chứa từ khóa nhưng không nên chèn từ khóa vào tất
cả các tít phụ. Chữ bôi đậm và in nghiêng sẽ giúp cho người đọc và Google
39
biết được tác phẩm đang nhấn vào từ khóa và nội dung nào. Từ khóa xuất
hiện trong chữ bôi đậm hoặc in nghiêng cần linh hoạt và tùy thuộc vào nội
dung tác phẩm.
1.4.2.4. Tối ƣu hình ảnh
Hình ảnh là một thành phần giúp cho tác phẩm Báo điện tử sinh động
hơn, truyền tải thêm nội dung thông tin, tăng tính chân thực, thuyết phục cho
tác phẩm. Công chúng thường chú ý tới hình ảnh. Tuy nhiên, công cụ tìm
kiếm Google không thể hiểu và xem hình ảnh như con người. Tức là công cụ
tìm kiếm không thể nhìn vào hình ảnh mà hiểu được bức ảnh muốn truyền tải
nội dung, thông điệp gì. Thậm chí nếu trong hình ảnh có chứa chữ, công cụ
tìm kiếm cũng không thể hiểu. Trước hình ảnh, công cụ tìm kiếm Google như
một người khiếm thị tuy nó có thể phát hiện ra sự tồn tại của hình ảnh. Để
hiểu hình ảnh, công cụ tìm kiếm Google dựa vào thẻ mô tả, tên ảnh, chú thích
ảnh và nội dung xung quanh ảnh. Do đó, nhà báo cần đảm bảo tất cả các yếu
tố này chuẩn và nên chứa từ khóa chính hoặc các từ khóa liên quan.
Thẻ mô tả ảnh là bản mô tả ngắn gọn nhưng chính xác về hình ảnh.
“Thẻ mô tả ảnh là một dạng văn bản thay thế cho hình ảnh nếu hình ảnh đó
không thể hiển thị vì một số lý do” [5, tr.18]. Nếu trình duyệt người dùng sử
dụng không hỗ trợ hình ảnh hoặc không đọc được ảnh, nó sẽ hiển thị nội dung
thẻ mô tả giúp cho người đọc biết ảnh đó nói về cái gì.
Tên ảnh cũng là một thành phần quan trọng trong việc giúp công cụ tìm
kiếm Google cũng như người dùng hiểu được nội dung hình ảnh. Do đó, từ
khóa phải xuất hiện trong tên ảnh. Người viết nên đặt tên ảnh trùng tít bài và
không có dấu.
Vai trò của chú thích ảnh rất quan trọng. “Một bức ảnh hiếm khi truyền
tải được một thông tin đầy đủ, duy nhất. Còn hơn cả từ ngữ, hình ảnh chứa
đựng các cách hiểu khác nhau rất đa dạng. Người đọc giải mã hình ảnh theo
văn hóa, nghề nghiệp… của họ. Chính người biên tập phải tính đến điều này.
40
Vì thế tất cả các ảnh minh họa đều phải đi kèm chú thích” [20, tr.142]. Trong
chú thích hình ảnh nên được chèn thêm từ khóa để tăng hiệu quả SEO.
Chữ xung quanh ảnh là đoạn chữ nằm ở phía trước, phía sau, hai bên
(nếu có) của ảnh. Chữ xung quanh ảnh phải liên quan chặt chẽ đến hình ảnh,
nên có từ khóa và các cụm từ liên quan.
1.4.2.5. Tối ƣu các liên kết
Liên kết là một sức mạnh riêng có của Báo điện tử. Liên kết giúp tác
phẩm Báo điện tử có khả năng truyền tải thông tin một cách đầy đủ, toàn
diện, đảm bảo cho độc giả có thể hiểu một cách tường tận thông tin theo cách
mà họ muốn. Liên kết giúp tác phẩm Báo điện tử giảm bớt dung lượng vì
không phải nêu lại những thông tin mà trước đó người viết đã đề cập, hoặc
thông tin từ tác phẩm của một đồng nghiệp khác. Nếu độc giả muốn biết thêm
thông tin về đối tượng, họ chỉ cần nhấp chuột vào đường link do nhà báo cung
cấp.
Xây dựng liên kết tốt với các bài viết liên quan sẽ giúp tác phẩm Báo
điện tử có nhiều cơ hội thành công trong việc gia tăng thứ hạng trên bảng kết
quả tìm kiếm. Việc liên kết qua các tác phẩm khác phù hợp với nội dung cũng
là một trong những tiêu chí đánh giá của công cụ tìm kiếm khi xếp hạng các
tác phẩm Báo điện tử trên bảng kết quả tìm kiếm. Vì Google có khả năng
nhận biết được mối liên hệ giữa nội dung tác phẩm và các liên kết nên liên kết
nội bộ trên web còn giúp định hướng tốt cho công cụ tìm kiếm. Google cũng
rất “thích” các liên kết. Việc chèn từ khóa mục tiêu vào trong liên kết để biến
những liên kết này thành liên kết “giàu” từ khóa sẽ giúp tăng thứ hạng của
trang web.
Hình thức thông thường của một liên kết là chữ màu xanh, có gạch
chân. Đó có thể là liên kết tới một bài viết trong nội bộ báo điện tử hoặc liên
kết tới một bài viết ở một trang web khác. Những liên kết này thường ở
những vị trí dưới sapô hoặc được chèn dưới chân tác phẩm trong phần “tin bài
liên quan”. Liên kết cũng có thể nằm ngay trong nội dung tác phẩm. Ví dụ
41
như khi tác phẩm đề cập đến những thuật ngữ khó hiểu hoặc những từ, cụm từ
cần giải thích thêm hay cần cung cấp thông tin, người viết có thể tạo ra các
liên kết ngay tại từ đó. Độc giả có nhu cầu tìm hiểu thêm thông tin có thể
click ngay vào từ này thay vì phải tìm kiếm trên Google. Đôi khi nhà báo
thường phân vân liệu đây có phải là từ, cụm từ khó hiểu, cần giải thích thêm
không hoặc luôn nghĩ rằng độc giả đã biết nên không cần giải thích thêm. Một
điều chắc chắn rằng không phải ai cũng biết về tất cả mọi thứ, có những điều
tưởng như đơn giản với người này nhưng lại không nằm trong vùng hiểu biết
của người khác. Việc đưa ra những liên kết nhằm giải thích thêm không bao
giờ là thừa vì nó sẽ rất hữu ích cho một bộ phận công chúng và cũng không
đến mức làm “phật lòng” những công chúng khác. Tất cả các liên kết cần
được kiểm tra về sự tồn tại của liên kết cũng như tính chính xác của thông tin.
Điều này sẽ giúp tăng độ tin cậy cho tác phẩm Báo điện tử.
42
Tiểu kết chƣơng 1
Chương 1 đã giải quyết được những vấn đề lý luận liên quan đến tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm Google cho báo điện tử.
Tác giả luận văn đã làm rõ khái niệm về Báo điện tử, tác phẩm Báo điện
tử, công cụ tìm kiếm, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Đồng thời khẳng định tối
ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử đóng vai trò quan trọng trong việc
tăng lượng truy cập, tăng nguồn thu, gia tăng sự cạnh tranh của Báo điện tử
cũng như giúp công chúng tiếp cận được các tác phẩm Báo điện tử có chất
lượng.
Chương 1 cũng đưa ra những yếu tố cơ bản nhất quyết định việc tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm cho Báo điện tử. Đó là đặc điểm của công chúng Báo
điện tử về nhân tố ảnh hưởng tới tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử,
kỹ năng tối ưu hóa của đội ngũ sáng tạo tác phẩm Báo điện tử.
Ở chương này, tác giả cũng đưa ra quy trình sáng tạo tác phẩm báo điện
tử được ứng dụng phổ biến trong các cơ quan báo điện tử và các cách thức
Báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cũng được đề cập
nhằm giúp người đọc có được những hình dung cơ bản về nghiên cứu từ
khóa, tối ưu hóa nội dung và quảng bá tác phẩm Báo điện tử.
Những vấn đề lý luận chung nhất, cần thiết nhất về tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử được nêu ra trong chương 1 tạo cơ sở
tiền đề cho việc tiếp cận các chương tiếp theo.
43
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM CHO
BÁO ĐIỆN TỬ
2.1. Giới thiệu về các cơ quan báo chí đƣợc khảo sát
2.1.1. Dân Trí
Dân trí được thành lập từ tháng 4/2005 với cơ quan chủ quản là Trung
ương Hội khuyến học Việt Nam. Ban đầu Dân trí xuất hiện với tư cách là
trang tin điện tử. Ngày 15/7/2008, Dân trí được Bộ Thông tin và Truyền
thông cấp phép hoạt động báo điện tử với tên miền dantri.com.vn. Ngày
15/11/2009, phiên bản tiếng Anh của Dân trí với tên gọi Dantri International,
viết tắt là DtNews được thử nghiệm và chính thức đi vào hoạt động sau đó
một tháng. Ngày 16/3/2010, Dân trí ra mắt phiên bản mobile.
Hình 2.1 Giao diện trang chủ của báo điện tử Dân Trí
44
Theo số liệu khảo sát năm 2012 của Kantar Media, một công ty khảo
sát thị trường uy tín có quy mô toàn cầu, về các trang web được người dùng
từ 15 – 54 thường xuyên truy cập nhất, dantri.com.vn đứng ở vị trí thứ 2 (chỉ
sau Google) với 14% dân số trong độ tuổi này. Hai vị trí dẫn đầu này cũng
giữ nguyên tại 6 thành phố lớn nhất Việt Nam, với các tỷ lệ tương ứng là 22%
đối với Google và 18% đối với dantri.com.vn. Theo số liệu được Dân trí công
bố, tính đến tháng 5 năm 2014, số lượt đọc Dân trí trong tuần cán mốc 220
triệu lượt/tuần, tương đương với hơn 900 triệu lượt/tháng và trên dưới 30 triệu
lượt/ngày. Phiên bản mobile của Dân trí luôn giữ vững vị trí số 1 tại Việt
Nam với khoảng 55 triệu lượt đọc/tuần.
Báo điện tử Dân trí có số lượng tin bài lớn, được cập nhật liên tục. Số
lượng các chuyên mục cũng rất phong phú là: video, sự kiện, xã hội, thế giới,
thể thao, gióa dục, nhân ái, kinh doanh, văn hóa, giải trí, pháp luật, nhịp sống
trẻ, tình yêu, sức khỏe, sức mạnh số, xe, chuyện lạ, bạn đọc. Dân trí tận dụng
ưu thế tương tác với công chúng của báo điện tử. Trong mỗi tác phẩm của
Dân trí đều tích hợp chức năng gửi bình luận với giao diện thân thiện, đơn
giản. Dân trí tạo nhiều điều kiện thuận lợi để mọi cá nhân, tổ chức có thể
cung cấp thông tin một cách dễ dàng như thông qua hòm thư, email, đường
dây nóng, diễn đàn. Dân trí cũng dành riêng chuyên mục “Bạn đọc” để đăng
tải ý kiến, thư phản ánh của bạn đọc.
Có thể nói Dân trí đã trở thành một trong những báo điện tử tạo được
chỗ đứng trong lòng công chúng. Làm nên tên tuổi của Dân trí phải kể đến
tôn chỉ xuyên suốt hoạt động của báo là “nhân văn- nhân bản- nhân ái”. Dân
trí tham gia rất tích cực vào các hoạt động xã hội, công tác từ thiện. Dân trí
cũng đã khởi xướng và thu hút đông đảo công chúng chung tay đóng góp cho
xã hội. Những hoạt động tiêu biểu như chương trình xây dựng cầu Dân trí nối
liền đôi bờ vui ở nhiều địa phương, chương trình “Một triệu cuốn vở đến với
45
vùng sâu vùng xa”, chương trình “Tiếp sức ngư dân bám biển”. Những tác
phẩm về những hoàn cảnh khó khăn cần sự giúp đỡ do Dân trí phản ánh đã
lay động trái tim của đông đảo độc giả.
2.1.2. VietNamNet
Khởi điểm ban đầu của VietNamNet là trang thông tin VASC Orient
được thành lập ngày 19/12/1997, trực thuộc Công ty Phần mềm và Truyền
thông (VASC) – Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).
Thời điểm đó, VietNamNet là hệ thống thông tin trực tuyến đầu tiên và lớn
nhất tại Việt Nam. Ngày 23/1/2003, VietNamNet chính thức được cấp phép
hoạt động dưới tên miền VietNamNet.vn (hoặc vnn.vn).
Hình 2.2 Giao diện trang chủ của Báo điện tử Vetnamnet
VietNamNet có các chuyên mục như: quốc tế, công nghệ thông tin –
viễn thông, chính trị, văn hóa, kinh tế, bạn đọc. Ngoài những chuyên mục
46
truyền thống, VietNamNet có những chuyên trang như: Hà Nội xưa và nay;
Chuyên trang Blog Việt là nơi chia sẻ tâm sự của giới trẻ; Chuyên trang về
bảo vệ người tiêu dùng; Dầu khí. Đặc biệt là chuyên trang Tuanvietnam là nơi
tập hợp những bài viết chuyên sâu, phản biện xã hội, có chất lượng của những
cây bút, tên tuổi uy tín về những vấn đề lớn của đất nước được dư luận quan
tâm. Có thể kể đến các chủ đề như chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia;
các lĩnh vực đất đai, tài nguyên, môi trường; các chuyên đề kinh tế về tài
chính; chống tham nhũng; cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa.
VietNamNet đã nhanh chóng trở thành thương hiệu mạnh trong làng
báo chí Việt Nam cũng như tạo được vị thế trong lòng công chúng với thông
tin đa dạng, phong phú và cập nhật nhanh. VietNamNet luôn coi trọng tương
tác với công chúng thông qua đường dây nóng, mục “Liên hệ tòa soạn”, phần
bình luận dưới mỗi bài báo và các diễn đàn. VietNamNet tạo dấu ấn riêng
biệt, uy tín trong làng báo với những diễn đàn “Bàn tròn trực tuyến”, “Tuần
Việt Nam” chuyên bàn luận sâu sắc về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội.
2.1.3. VietnamPlus
Tiền thân của VietnamPlus là trang đối ngoại vnanet.vn của Thông tấn
xã Việt Nam. Báo điện tử VietnamPlus chính thức xuất hiện vào ngày
13/11/2008 với địa chỉ www.vietnamplus.vn, là đơn vị trực thuộc Thông tấn
xã Việt Nam. Vietnamplus có các phiên bản tiếng Việt, Anh, Pháp, Tây Ban
Nha, Trung Quốc. Ngày 11/1/2010, VietnamPlus cung cấp phiên bản đọc báo
đa ngôn ngữ trên mạng viễn thông đầu tiên tại Việt Nam. Ứng dụng này có
hơn 500.000 lượt tải về và được coi là một trong những ứng dụng tin tức di
động thành công nhất ở Việt Nam. Từ tháng 8/2003, VietnamPlus trở thành
cơ quan báo chí đầu tiên ở Việt Nam đi tiên phong thử nghiệm bán tin thu
phí, được áp dụng trên sản phẩm VietnamPlus Mobile.
47
Hình 2.3 Giao diện trang chủ của Báo điện tử Việt Nam Plus
Ngày 13/1/2013, VietnamPlus ra mắt giao diện mới với nhiều tính năng
như những chuyên mục lớn được xây dựng như các website riêng rẽ; tăng tính
tương tác với độc giả thông qua các ứng dụng mạng xã hội và phần bình luận;
bổ sung chuyên mục riêng cho ảnh, video và thông tin đồ họa. Giao diện mới
có chức năng giới thiệu các tin cùng chủ đề trên các báo điện tử khác, giúp
người đọc vào một địa chỉ mà có thể có nhiều lựa chọn nhiều nguồn tin tham
khảo. Mục tin địa phương được VietnamPlus tổ chức nhập dữ liệu để tạo ra
63 website nhỏ cho mỗi tỉnh thành trong cả nước, cũng phân chia tin tức theo
chuyên mục kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa... để độc giả dễ dàng theo dõi.
Cách tổ chức này hỗ trợ hiệu quả cho tính năng tìm kiếm thông tin dựa theo
địa điểm, đang là xu hướng công nghệ hiện nay.
48
Bản tin bằng nhạc rap RapNewsPlus đầu tiên được phát vào tháng
11/2003, qua mạng xã hội Youtube và trang web Vietnamplus.vn.
VietnamPlus sản xuất bản tin thời sự nhạc rap 2 tuần một số với thời lượng
mỗi số khoảng 3 phút về các tin tức chính trị xã hội, quốc tế, thể thao. Đây là
một phương thức phản ánh thông tin thời sự mới mẻ, sáng tạo, thu hút giới
trẻ, đặc biệt trong độ tuổi từ 15 đến 25 tuổi. RapNewsPlus số đầu tiên có
khoảng 1 triệu người xem trong vòng 48 tiếng, các số khác trung bình có
khoảng 500 nghìn người xem mỗi clip.
Định hướng phát triển nội dung của báo điện tử Vietnamplus là: chính
xác, nhanh và nhiều, đảm bảo 100% thông tin có bản quyền. Ngay từ khi ra
đời, báo điện tử VietnamPlus chủ trương sản xuất 100% nội dung của mình
và đều là nội dung có bản quyền, kể cả thông tin trong nước lẫn các thông tin
quốc tế. VietnamPlus chỉ đăng tải thông tin do đội ngũ phóng viên, biên tập
viên, cộng tác viên của báo cũng như thông tin của Thông tấn xã Việt Nam do
các ban biên tập cùng mạng lưới phóng viên từ hơn 90 phân xã trong và ngoài
nước sản xuất. Thông tấn xã Việt Nam hiện có quan hệ hợp tác với hơn 40
hãng thông tấn, phát thanh- truyền hình quốc tế để đảm bảo nguồn tin chính
thống, có bản quyền, phục vụ nhanh chóng nhu cầu của độc giả, bao gồm cả
nội dung văn bản, ảnh, video và đồ họa.
2.2. Khảo sát tối ƣu hóa công cụ tìm kiếm trên báo Dân Trí, VietNamNet
và VietnamPlus.
2.2.1. Vấn đề Vắc xin Pentaxim & Quinvaxem cho trẻ em
Trong những ngày tháng cuối năm 2015, cơn sốt vắc xin 5 trong 1
Pentaxim chưa bao giờ hạ. Có những bậc phụ huynh vì con em mình mà xếp
hàng cả đêm và ngất xỉu vì quá mệt mỏi chờ đợi tới lượt. Có những người vì
con mà gọi điện hơn 200 cuộc lên tổng đài mới đăng ký tiêm phòng được.
Nhiều trường hợp chờ chực, chen lấn vài ngày hay thức qua đêm trong cái giá
49
lạnh mùa đông vẫn chưa chen chân vào đăng ký được... Tình trạng khan hiếm
vắc xin 5 trong 1 vẫn diễn ra, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của rất nhiều em nhỏ.
Bộ y tế cũng không có cách nào thuyết phục được người dân chuyển hướng
tiêm theo dạng tiêm chủng mở rộng - Quinvaxem thay vì chen lấn đăng ký và
chờ đợi tiêm Pentaxim.
Vào ngày 1/3/2016, Tác giả luận văn tiến hành tìm kiếm trên Google
với từ khoá “Vắc xin Pentaxim & Quinvaxem”, thì cho thấy 107,000 kết quả
trong vòng 0,43 giây. Trong đó, VietNamNet có tác phẩm “Tiêm vắc xin
Quinvaxem hay Pentaxim tốt hơn?” đứng vị trí thứ 21 bảng xếp hạng top 30
Google (vị trí thứ 2 trang 3); Dân trí có chùm tác phẩm với chủ đề “tiêm vắc
xin Quinvaxem” đứng vị trí thứ 26 bảng xếp hạng (vị trí thứ 6 trang 3);
Vietnamplus có tác phẩm “Tỷ lệ phản ứng nặng sau tiêm Quinvaxem và
Pentaxim là “tương đương”” xếp vị trí thứ 29 trong bảng xếp hạng. 10 kết quả
đầu tiên trên bảng kết quả tìm kiếm là các bài viết trên trang Vnexrpess,
hanoimoi.com.vn, zing.vn, baochinhphu.vn, vnmedia.vn.
Hình 2.4 Kết quả tìm kiếm với từ khóa “vắc xin Quinvaxem & Pentaxim”
So sánh việc sử dụng SEO đối với từ khóa “vắc xin Quinvaxem &
Pentaxim” của 3 báo thông qua kết quả tìm kiếm của Google như sau:
50
Tiêu chí
VietNamNet
Dantri
VietnamPlus
Tít
Tít bao gồm 54 kí tự nên bị cắt bớt trên phần tìm kiếm Google. Tuy nhiên, từ khóa chính vẫn xuất hiện đầy đủ.
Tít gồm 8 từ, khá ngắn gọn và xuất hiện trọn vẹn trên bảng tìm kiếm. Phần tiêu đề của tác phẩm xuất hiện trên bảng kết quả gồm tít bài và tên báo.
Tít ở đây là tên của một chùm 7 tác phẩm được gắn kết với nhau bởi cụm từ “tiêm vắc xin Quinvaxem”. Đây cũng là cách thể hiện độc đáo nhưng chưa tối ưu.
Phần mô tả
Phần mô tả gồm 95 ký tự, trong đó từ “Quinvaxem” xuất hiện 2 lần. Phần mô tả này không mang nhiều ý nghĩa với độc giả lắm vì nó không cung cấp đầy đủ thông tin về sự kiện
Phần sapô của tác phẩm bao gồm 141 ký tự, nhưng phần mô tả xuất hiện trên bảng tìm kiếm chỉ sử dụng một phần của sapô gồm 75 kí tự. Độ dài của phần mô tả vừa phải để xuất hiện đầy đủ trên bảng kết quả tìm kiếm và trong đó chứa 1 từ khóa.
Phần mô tả tác phẩm gồm 152 kí tự. Phần mô tả này có chứa 1 lần từ “vắc xin 5 trong 1”; 1 lần từ “vắc xin”, “Quinvaxem”, “Pentaxim”. Việc nhắc đến nhiều từ quan trọng trong phần sapô giúp Google nhận diện sự kiện dễ dàng hơn
Từ khoá “vắc xin 5
trong 1 Pentaxim và Quinvaxem” không
Chính văn dùng toàn bộ
Nội dung các bài viết tương đối dài, đều có
được nhắc tới trong phần chính văn. Tuy
là hình ảnh để mô tả nội dung và so sách giữa
Chính văn
hình ảnh tượng trưng và các từ khóa được đề cập
nhiên, từ “vắc xin” được nhắc đến 51 lần,
hai loại vacxin
khá nhiều lần
“Quinvaxem” nhắc đến 7 lần, “Pentaxim” nhắc
tới 1 lần, “5 trong 1” nhắc đến 2 lần;
Tác phẩm có 2 ảnh
Tên ảnh đặt không liên
Tên ảnh đều có kèm tên bài viết, ví dụ: “ty-le-
nhưng không đặt tiêu đề theo tít, đặt lần lượt là
Hình ảnh
quan đến từ khóa “20160106142646- tiem-chung–jpg”
“0101_tiem_chung” và “0101_tiem_chung_1”
phan-ung-nang-cua- vac-xin-dich-vu-va- quinvaxem-la-tuong- duong.jpg”
51
Dưới các bài viết đều có
Dưới bài viết có tag các
Dưới bài viết có tag một số từ “vắc xin, vắc xin 5
tag các từ khóa như “vắc xin dịch vụ, tiêm
từ khóa như: “Vắcxin dịch vụ, Quinvaxem,
Tag
trong 1, tiêm chủng, tiêm phòng, vắc xin
vắc xin Quinvaxem, tiêm chủng mở rộng,
Pentaxim, Vắcxin 5 trong 1, Tiêm chủng mở
dịch vụ, Quinvaxem, Pentaxim”
tiêm dịch vụ, vắc xin Pentaxim”
rộng, Tiêm chủng muộn, Bệnh ho gà”
Mỗi bài viết đều có từ
Dưới chân bài viết có 5 link đến các bài viết
Tác phẩm có 7 liên kết đến các tác phẩm khác
3-6 link dẫn đến các bài
viết khác nằm
trong
Liên kết
khác và các link này đều có chứa các từ
của báo. Các link liên kết này không đứng ở
chuỗi sự kiện này của
báo DânTrí
trong danh mục từ được tag ở trên.
cuối bài mà đứng ở bên trái của chính văn
Theo kết quả phân tích ở bảng trên thì thấy rõ, các báo đều rất chú
trọng đến việc chọn từ khóa, đặt từ khóa trong tiêu đề, trong phần mô tả và
đặc biệt là trong phần tag. Ngoài ra, các nội dung cần tối ưu khác như tối ưu
tít, sapo, chính văn, hình ảnh, liên kết… vẫn chưa được thực hiện đúng mức,
mức độ tối ưu còn thấp, thậm chí còn không được coi trọng (đặc biệt là phần
mô tả và đặt tên file ảnh). Việc đặt tag được chỉ rõ trong giao diện quản trị
CMS khi viết bài nên phần này các bài viết đều được đặt tag rất đầy đủ. Cụ
thể hơn như sau:
Tác phẩm “Tiêm vắc xin Quinvaxem hay Pentaxim tốt hơn?” của
VietNamNet đứng vị trí thứ 21 trong bảng xếp hạng top 30 của Google so
sánh về công dụng, xuất xứ… của 2 loại vắc xin. Tác phẩm nhận được 778
lượt thích trên Facebook. Từ khoá “Vắc xin Pentaxim và Pentaxim” xuất hiện
gần đầy đủ trong tít, được thay từ “hay” với từ “và”, đảo vị trí của từ
“Pentaxim” với từ “Quinvaxem”. Phần sapô của tác phẩm bao gồm 141 ký tự:
“Lựa chọn Quinvaxem hay Pentaxim cho con đang là mối quan tâm hàng đầu
của các bậc làm cha, mẹ. Xuất xứ, tác dụng ngừa bệnh và phản ứng sau tiêm
52
của hai loại vắc xin này như thế nào?” Phần mô tả xuất hiện trên bảng tìm
kiếm chỉ sử dụng một phần của sapô gồm 75 kí tự “Lựa chọn Quinvaxem hay
Pentaxim cho con đang là mối quan tâm hàng đầu của các bậc làm cha, mẹ.”
Độ dài của phần mô tả vừa phải để xuất hiện đầy đủ trên bảng kết quả tìm
kiếm và trong đó chứa 1 lần từ “Quinvaxem và Pentaxim”. Chính văn của tác
phẩm không chứa kí tự mà dùng toàn bộ là hình ảnh để so sánh 2 loại vắc xin,
đem lại sự sinh động và đầy đủ thông tin để độc giả có cái nhìn rõ ràng về 2
loại vắc xin này. Cách nhà báo dùng toàn bộ hình ảnh trình bày trong chính
văn khá là khác biệt so với các bài báo khác khiến công chúng chú ý nhiều
hơn. Tuy nhiên, tên ảnh đặt không đặt theo tít mà là 1 số vô nghĩa
“20160106142646-tiem-chung–jpg”. Điều này khiến Google khó nhận diện
được nội dung ảnh và không thân thiện với người dùng. Tuy nhiên, ảnh có tag
một số từ “vắc xin, vắc xin 5 trong 1, tiêm chủng, tiêm phòng, vắc xin dịch vụ,
Quinvaxem, Pentaxim” để khi độc giả click vào ảnh thì sẽ link sang 1 landing
page khác với hình ảnh đó nhưng size to và rõ ràng hơn. Dưới chân tác phẩm
đưa ra link của 5 tác phẩm có cùng chủ đề để độc giả có thể tiếp tục cập nhật
thông tin theo đà quan tâm trước đó. Các link đều chứa những từ quan trọng
như “vắc xin, vắc xin dịch vụ, Quinvaxem …”
Chùm 7 tác phẩm với chủ đề “tiêm vắc xin Quinvaxem” của Dân trí
đứng vị trí thứ 26 bảng xếp hạng (vị trí thứ 6 trang 3). Chùm tác phẩm được
gắn kết với nhau bởi cụm từ “tiêm vắc xin Quinvaxem” dưới dạng đường dẫn
http://dantri.com.vn/tiem-vac-xin-quinvaxem.tag. Các báo điện tử thường chú
ý tập trung tới việc chèn tag. Đây thực chất là việc nhà báo lựa chọn những từ
khoá đại diện cho nội dung của tác phẩm. Một tác phẩm có thể có nhiều từ
khoá đại diện. Các từ khoá sẽ xuất hiện ở chân tác phẩm trong phần “xem
thêm” hoặc “từ khoá”. Khi độc giả click vào một trong các từ khoá dưới chân
tác phẩm nó sẽ chuyển hướng tới những tác phẩm chứa từ khoá đó. Cùng một
53
từ khoá xuất hiện ở một loạt tác phẩm sẽ liên kết các tác phẩm lại với nhau để
cùng xuất hiện trong một chủ đề mang tên ở từ khoá. Ở trong trường hợp này
của Dân trí, 7 tác phẩm có cùng 1 phần của từ khoá tìm kiếm “Quinvaxem”
với phần mô tả “tiêm vắc xin Quinvaxem” - Dân trí cập nhật thông tin mới
nhất, nhanh nhất và đầy đủ nhất về chủ đề tiêm vắc xin Quinvaxem” gồm 95
ký tự, trong đó từ “Quinvaxem” xuất hiện 2 lần. Phần mô tả này không mang
nhiều ý nghĩa với độc giả lắm vì nó không cung cấp đầy đủ thông tin về sự
kiện. Các tác phẩm xuất hiện trên dòng sự kiện có các liên kết đi kèm. Số
lượng liên kết đi kèm từ 3-6 liên kết. Những liên kết đi kèm đó làm đa dạng
sự lựa chọn cho công chúng hơn thay vì việc phải ấn vào “trang sau” hoặc
“trang tiếp” để tìm kiếm những tác phẩm khác cùng dòng sự kiện. Khi click
vào mỗi tác phẩm, trong đó có chèn các liên kết đến các tác phẩm khác trong
website. Ở cuối mỗi tác phẩm, tại phần “Theo dòng sự kiện” có chứa 5-10
liên kết đến các tác phẩm khác cùng dòng sự kiện. Khi độc giả click vào “xem
tất cả”, dòng sự kiện sẽ hiện ra.
Với tác phẩm “Tỷ lệ phản ứng nặng sau tiêm Quinvaxem và Pentaxim
là “tương đương” của VietnamPlus xếp vị trí thứ 29 trong bảng xếp hạng top
30 của Google. Phần mô tả xuất hiện trên bảng tìm kiếm gồm tít và tên báo.
Tít của tác phẩm có chứa từ “Quinvaxem và Pentaxim”. Tít bao gồm 54 kí tự
nên bị cắt bớt trên phần tìm kiếm Google. Phần mô tả tác phẩm gồm 152 kí tự
“Trước tình hình khan hiếm vắcxin dịch vụ 5 trong 1 (Pentaxim), hiện nay
nhiều bà mẹ vẫn băn khoăn về chất lượng vắcxin Quinvaxem trong Chương
tình tiêm chủng mở rộng để phòng bệnh cho trẻ”. Phần mô tả này có chứa 1
lần từ “vắc xin 5 trong 1”; 1 lần từ “vắc xin”, “Quinvaxem”, “Pentaxim”.
Việc nhắc đến nhiều từ quan trọng trong phần mô tả giúp Google nhận diện
sự kiện dễ dàng hơn. Tác phẩm phản ánh tỷ lệ phản ứng sau tiêm 2 loại vắc
xin Quinvaxem và Pentaxim trong 1 đoạn phỏng vấn Phó viện trưởng Viện
54
Dịch tễ Trung ương. Việc không nhắc đến đầy đủ từ khoá “vắc xin 5 trong 1
Pentaxim và Quinvaxem” trong phần chính văn khiến tác phẩm thiếu đi lợi
thế vì Google sẽ đánh giá mức độ liên quan của tác phẩm với truy vấn tìm
kiếm thấp hơn. Tuy nhiên, trong chính văn, từ “vắc xin” được nhắc đến 51
lần, “Quinvaxem” nhắc đến 7 lần, “Pentaxim” nhắc tới 1 lần, “5 trong 1” nhắc
đến 2 lần; điều này cũng giúp Google phần nào nhận diện được nội dung tác
phẩm. Về phần hình ảnh: tác phẩm có 2 ảnh nhưng không đặt tiêu đề theo tít,
đặt lần lượt là “0101_tiem_chung” và “0101_tiem_chung_1” không có ý
nghĩa lắm và gây trở ngại cho Google nhận diện nội dung bức ảnh liên quan
đến sự kiện. Tuy nhiên, dưới chân mỗi bức ảnh cũng được chú thích 1 phần
nội dung và nguồn gốc ảnh. Tác phẩm có 7 liên kết đến các tác phẩm khác
của báo. Các link liên kết này không đứng ở cuối bài như VietNamNet hay
Dân trí mà đứng ở ngay bên trái của chính văn. Dưới chân tác phẩm có chứa
tag các từ khoá có liên quan đến tác phẩm để định hướng công chúng có thể
click vào xem các tin tức có liên quan. Khâu quảng bá của tác phẩm chưa
được tốt lắm, like share trên Facebook là 20 lượt.
2.2.2. Đà Nẵng kiện nhân tài
Ngày 30/9, tin từ Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Đà Nẵng (CPHUD) cho hay, đơn vị đã chính thức khởi kiện nhiều nhân tài đi
du học diện chính quyền cử đi nhưng không quay về phục vụ thành phố. Đợt
đầu, có 7 trường hợp bị CPHUD kiện ra tòa dân sự và buộc hoàn gần 20 tỉ
đồng cho chính quyền thành phố. Thua kiện, với mong muốn được giảm án
phí và giảm lãi suất cho khoản tiền bồi thường cho Đà Nẵng, 7 nhân tài vi
phạm hợp đồng đã làm đơn kháng cáo.
Tác giả luận văn tiến hành tìm kiếm với cụm từ khoá “kiện nhân tài”,
Google đã trả về kết quả trong top 30 Google. Trong đó, Dân trí có 2 tác
phẩm đứng ở vị trí thứ 9 và 11, lần lượt là: “Đà Nẵng tiếp tục khởi kiện “nhân
55
tài” vi phạm hợp đồng Đề án 922” và “Vụ 'Đà Nẵng khởi kiện nhân tài': Ký
'hợp đồng trái tim', xử bằng 'hợp đồng luật pháp” (vị trí thứ 1 trang 2).
VietNamNet và VietnamPlus không có tác phẩm nào thuộc bảng xếp hạng top
30 Google.
Tác phẩm “Đà Nẵng tiếp tục khởi kiện “nhân tài” vi phạm hợp đồng
Đề án 922” giữ vị trí thứ 9. Đây là một trong những thông tin tiếp theo về
việc Đà Nẵng khởi kiện nhân tài, tuy không quá nổi bật nhưng lại được quan
tâm về khâu tối ưu hoá. Phần tít tác phẩm gồm 15 từ và chứa từ khoá “kiện
nhân tài” mang đủ thông điệp cần truyền tải tới công chúng. Phần mô tả gồm
50 từ: “Ngày 1/10, Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao TP
Đà Nẵng cho biết đã và đang tiếp tục khởi kiện hàng loạt học viên không
hoàn thành nghĩa vụ khi tham gia Đề án phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao (Đề án 922)”. Trong phần mô tả, chứa từ “Đà Nẵng”, “khởi kiện”.
Phần tít và sapô có độ dài hơi thừa so với quy định nên không xuất hiện trọn
vẹn trên bảng kết quả tìm kiếm Google. Tuy nhiên phần sapô làm tốt nhiệm
vụ nêu rõ nội dung chính của tác phẩm khiến độc giả muốn đọc thêm chi tiết
để hiểu rõ hơn tình hình. Chính văn của tác phẩm bao gồm 511 từ, không bao
gồm từ khoá “kiện nhân tài” nhưng từ “kiện” xuất hiện 5 lần, không có các tít
phụ. Tác phẩm có 1 ảnh đặt tên theo tít và có chú thích rõ ràng dưới ảnh, giúp
độc giả nắm bắt rõ ràng sự kiện hơn. Tác phẩm nhận được 67 lượt chia sẻ trên
trang facebook, 3 lượt bình luận trên trang và có 1 liên kết sang tác phẩm
khác.
Tác phẩm “Vụ 'Đà Nẵng khởi kiện nhân tài': Ký 'hợp đồng trái tim', xử
bằng 'hợp đồng luật pháp'” giữ vị trí thứ 11 của bảng xếp hạng Google. Trong
đó, tít tác phẩm gồm 18 từ, bao gồm từ khoá “kiện nhân tài” giúp Google
nhận diện nhanh và dễ dàng đẩy tít tác phẩm lên bảng xếp hạng. Phần sapô
của tác phẩm gồm 58 từ: “Thành phố Đà Nẵng kiên quyết đưa các “nhân tài”
56
xù hợp đồng quay trở lại phục vụ quê hương bằng cách đưa ra tòa dân sự,
buộc họ phải bồi thường tiền mà nhà nước, nhân dân đã bỏ ra để phục vụ học
tập. Tuy nhiên, con số “nhân tài” xù hợp đồng ngày càng nhiều. Vì sao vậy?”.
Trong đó dù không xuất hiện đầy đủ từ khoá nhưng từ “nhân tài” xuất hiện 2
lần để nhấn mạnh vào đối tượng chính được quan tâm của tác phẩm. Phần
chính văn gồm 883 từ, không chứa từ khoá đầy đủ “kiện nhân tài” nhưng
chứa 2 từ “nhân tài” và 9 từ “kiện” đứng riêng biệt. Ngoài ra, chính văn còn
có 1 tít phụ được in đậm, không chứa từ khoá, để mô tả rõ hơn về sự kiện.
Tác phẩm có 1 ảnh được đặt tên theo tít, có chứa từ khoá nhưng không có chú
thích dưới ảnh. Việc đặt tên ảnh theo tiêu đề khiến Google dễ nhận diện nội
dung ảnh và thân thiện hơn với người đọc. Tác phẩm có 3 liên kết sang các
tác phẩm khác có liên quan đến sự kiện này. Dân trí luôn lưu tâm đến việc
liên kết các tác phẩm, điều này cũng khiến Google dễ nhận diện và thu hút sự
chú ý và đánh giá cao tác phẩm.
Tác giả luận văn tiến hành tìm kiếm từ khoá “kiện nhân tài –
Vietnmanet” trên Google nhưng chỉ ra 2 tác phẩm, không phải do chính báo
VietNamNet viết mà đều lấy lại thông tin từ báo khác. Vì vậy, không được
tập trung tối ưu hoá công cụ tìm kiếm nên không được xếp vào bảng xếp hạng
top 30 của Google. Trên trang Vietnamplus, tác giả luận văn cũng tiến hành
tìm kiếm nhưng không thấy kết quả, đồng thời cũng tìm kiếm theo từ khoá
“kiện nhân tài – Vietnamplus nhưng cũng không đưa ra kết quả nào. Điều này
cho thấy Vietnamplus không có bài viết nào về sự kiện này.
2.2.3. Khủng bố tại Paris
Ngày 13/11, tại thủ đô Paris của Pháp đã xảy ra một loạt vụ tấn công
khủng bố kinh hoàng đã khiến cả thế giới rung đông. Truyền thông Pháp đưa
tin hơn 150 người đã thiệt mạng trong các vụ nổ súng và đánh bom tại 6 địa
điểm quanh Paris và trên 200 người bị thương. Tất cả đều được thực hiện một
57
cách lạnh lùng, tàn nhẫn và dường như để trả đũa việc Pháp tấn công IS tại
Syria. Cảnh sát đã nổ súng tấn công những kẻ khủng bố, bắt cóc con tin. Đến
ngày 19/11 Abdelhamid Abaaoud, kẻ chủ mưu gây ra vụ thảm sát kinh hoàng
ở Paris đã bị giết hạ sau 7h đấy súng. Cảnh sát vẫn tiếp tục truy tìm những kẻ
tình nghi trong cuộc khủng bố tại Paris.
Vào ngày 20/11/2015, tác giả luận văn tiến hành tìm kiếm trên Google
với từ khóa “khủng bố Paris”. Trong 3 trang kết quả đầu tiên của Google,
VietNamNet có chùm 38 tác phẩm thuộc chủ đề “khủng bố Paris – Toàn cảnh
vụ khủng bố kinh hoàng giữa Paris” đứng ở vị trí thứ 5. Dân trí có tác phẩm
giữ vị trí thứ 20 (vị trí thứ 10 trang 2) là “Toàn cảnh 6 vụ tấn công khủng bố
liên hoàn tại Paris, 128 người chết”. VietnamPlus không có tác phẩm nào lọt
vào top 30 của bảng kết quả Google.
Với chùm 38 tác phẩm của VietNamNet đứng ở vị trí thứ 5 cho thấy,
các dòng sự kiện cùng chủ đề thể hiện được sức mạnh nắm giữ vị trí cao trên
bảng kết quả Google. Tuy nhiên, mỗi tác phẩm trong dòng sự kiện không
chứa liên hết đến các tác phẩm khác mà chỉ chứa liên kết đến dòng sự kiện.
Điều này gây ra sự bất tiện nhất định với công chúng nếu họ muốn xem
những tác phẩm khác có liên quan thì họ phải quay trở lại tìm kiếm ở dòng sự
kiện “Toàn cảnh vụ khủng bố kinh hoàng giữa Paris”. Đối với một tác phẩm
đơn lẻ, việc không chứa liên kết trong tác phẩm cũng không được Google
đánh giá cao. Đồng thời, xét về cá nhân mỗi tác phẩm, việc xuất hiện trong
dòng sự kiện khiến công chúng phải một lần nữa bị điều hướng lựa chọn chứ
không phải truy cập trực tiếp vào tác phẩm cụ thể. Công chúng có thể chọn
tác phẩm này mà không phải tác phẩm khác. Mỗi tác phẩm phải cạnh tranh
với một số lượng lớn các tác phẩm khác trong dòng sự kiện để được truy cập.
Số lượng tác phẩm trong dòng sự kiện là rất nhiều nên công chúng sẽ không
58
đủ kiên nhẫn để tìm đến các trang sau. Đây cũng là một mặt nên lưu ý cho
VietNamNet.
Đối với tác phẩm “Toàn cảnh 6 vụ tấn công khủng bố liên hoàn tại
Paris, 128 người chết” của Dân trí, vị trí 20 của top 30 bảng kết quả Google.
Mặc dù, Dân trí cũng có những tác phẩm khác về Khủng bố Paris, thậm chí là
những tác phẩm mới hơn tác phẩm “Toàn cảnh 6 vụ tấn công khủng bố liên
hoàn tại Paris, 128 người chết” nhưng không giữ được vị trí trong top bảng
xếp hạng.
Tít của tác phẩm bao gồm 68 kí tự. Khi xuất hiện trên bảng kết quả tìm
kiếm của Google với tư cách là phần tiêu đề, tít của tác phẩm đi kèm với tên
báo gồm 76 kí tự. Độ dài của tít chưa thực sự phù hợp vì hơi dài, không xuất
hiện trọn vẹn trên bảng kết quả tìm kiếm. Tít phần nào thu hút được công
chúng với những từ như “6 vụ tấn công” “khủng bố liên hoàn Paris”. Trong tít
chứa từ khoá “khủng bố Paris”.
Phần mô tả xuất hiện trên bảng tìm kiếm là: “Toàn cảnh 6 vụ tấn công
khủng bố liên hoàn tại Paris, 128 người chết - Một loạt 6 vụ tấn công khủng
bố liên hoàn, gần như đồng thời tại Paris tối 13/11, đã khiến thế giới rúng
động…”. Phần mô tả này bao gồm tít và sapô của tác phẩm. Phần sapô của
tác phẩm gồm 40 từ: “Một loạt 6 vụ tấn công khủng bố liên hoàn, gần như
đồng thời tại Paris tối 13/11, đã khiến thế giới rúng động. Tất cả đều được
thực hiện một cách lạnh lùng, tàn nhẫn và dường như để trả đũa việc Pháp tấn
công IS tại Syria. Reuters dẫn nguồn tin cơ quan công tố Paris cho biết 128
người đã thiệt mạng, 99 người bị thương nặng”. Phần sapô này cũng đưa ra
một số thông tin mới thu hút sự quan tâm của công chúng về việc tấn công
khủng bố liên hoàn gây ra những thương vong vô cùng đáng tiếc. Trong phần
mô tả, không có từ khoá “khủng bố Paris” nhưng từ “Paris được nhắc lại 2
lần”, từ “khủng bố” xuất hiện 1 lần. Điều này làm tăng mức độ liên quan của
59
truy vấn. Phần thông tin công chúng quan tâm đến vụ khủng bố là số người
thương vong thì đã được nêu rất rõ trong phần tít và mô tả.
Phần chính văn của tác phẩm gồm 1432 chữ, không chứa từ khoá
“khủng bố Paris”, 7 lần từ “Paris” đứng tách riêng. Tác phẩm có 5 tít phụ
được in đậm là “Đánh bom tự sát sân vận động Stade de France”, “Xả súng,
đánh bom tự sát tại nhà hát Bataclan”, “Xả súng tại Belle Equipe bar”, “Xả
súng tại phố Bichat”, “Xả súng trên phố la Fontaine”. Cách đặt tít phụ giúp
ngăn cách các ý chính của tác phẩm để người đọc tiện theo dõi.
Tác phẩm có 6 ảnh và 2 video. Tên ảnh và video được đặt theo tít tác
phẩm “toan-canh-6-vu-tan-cong-khung-bo-lien-hoan-tai-paris-128-nguoi-
chet”. Điều này khiến Google dễ nhận diện nội dung ảnh và thân thiện với
người dùng. Tất cả các ảnh và video đều có phần chú thích ảnh và mô tả nội
dung. Tác phẩm có 3 liên kết dưới sapô, 6 liên kết dưới chân tác phẩm. Một
vài liên kết có chứa từ “khủng bố”, “paris”, và chứa 1 số từ được quan tâm
trong nội dung của tác phẩm như “đánh bom” và địa điểm bị đánh bom. Tác
phẩm có 928 lượt chia sẻ trên trang Facebook và 19 lượt bình luận trên trang.
2.2.4. Tái cơ cấu ngành Viễn thông Việt Nam
Bộ Thông tin và Truyền thông đặt vấn đề tái cơ cấu thị trường và doanh
nghiệp viễn thông một cách quyết liệt với tâm điểm là tái cơ cấu Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT để hình thành doanh nghiệp năng
động hơn, thích ứng hơn. MobiFone sẽ tách ra khỏi Tập đoàn VNPT và thành
lập Tổng Công ty Thông tin di động. MobiFone được đánh giá đang sở hữu
một thương hiệu khá mạnh, hoạt động độc lập hơn so với VinaPhone trong
Tập đoàn VNPT, khi tách ra sẽ giúp cho chủ trương cổ phần hóa của Chính
phủ nhanh chóng hơn. Bên cạnh đó vẫn đảm bảo Tập đoàn VNPT có bức
tranh tài chính lành mạnh, tiếp tục phát triển trong thời gian tới, còn
60
MobiFone vẫn có nhiều điều kiện phát triển, hình thành một doanh nghiệp
năng động hơn.
Tác giả luận văn tiến hành tìm kiếm trên Google với từ khoá “tái cơ
cấu viễn thông” đã cho thấy 338,000 kết quả trong vòng 0,47 giây. Trong đó,
chùm 20 tác phẩm “Tái cơ cấu VNPT” của VietnamPlus đứng vị trí 2 trong
bảng xếp hạng Google. VietNamNet có tác phẩm “Tái cơ cấu VNPT có thể
hoàn thành sớm 5 năm” xếp vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng. Dân trí không
có tác phẩm nào về sự kiện này trong top 30 vị trí cao nhất của bảng xếp
hạng.
Hình 2.5 Kết quả tìm kiếm từ khóa “tái cơ cấu viễn thông”
So sánh việc sử dụng SEO đối với từ khóa “tái cơ cấu viễn thông” của
3 báo điện tử trên thông qua kết quả tìm kiếm của Google như sau:
Tiêu chí
VietNamNet
VietnamPlus
Tít
Tít đi kèm tên báo gồm 44 ký tự và
Tít gồm 12 từ và bao gồm cả từ khóa
61
xuất hiện trọn vẹn trên bảng tìm kiếm “tái cơ cấu” và tên báo.
Phần mô tả
Phần mô tả gồm 32 từ (142 ký tự) không chứa từ khoá, không chứa tít, phần mô tả này là một phần nội dung của chính văn
Phần mô tả gồm 31 từ và là phần mô tả của một bài trong chùm 20 tác phẩm. Trong phần mô tả này có cả từ khóa là “tái cơ cấu” và “viễn thông”
Chính văn trong chùm các tác phẩm
Phần chính văn không có từ khóa “tái
được thể hiện dưới nhiều hình thức, gồm cả tin, bài phỏng vấn. Và các từ
Chính văn
cơ cấu” nhưng có xuất hiện 8 lần từ “tái cấu trúc”
khóa được lồng ghép rất khéo léo.
Tên ảnh không được đặt theo tiêu đề,
Tên ảnh đặt không liên quan đến từ
không chứa từ khoá và đặt theo những số vô nghĩa
khóa “tiengiang.jpg” và hoặc có chỉ rõ nguồn từ báo điện tử khác
Hình ảnh
“ttxvn_pham_long_tran.jpg”
“20151016110806-vnptdaklak” và “20151016110806-vnpt-bd”
Dưới mỗi bài viết đều có phần tag
Dưới bài viết chỉ tag 2 từ:”Tái cấu
các từ khóa như:”Phạm Đức Long VNPT Tái cấu trúc VNP-VinaPhone
Tag
trúc” và “VNPT”
Bộ Thông tin và Truyền thông Dịch vụ giá trị gia tăng Tái cơ cấu VNPT”
Tác phẩm không có link liên kết nào dưới sapô nhưng có 6 liên kết dưới
Các bài viết đều có liên kết sang các bài viết khác đứng ở bên trái của
Liên kết
chân tác phẩm
chính văn.
Từ những phân tích ở bảng trên cho thấy, các bài viết tại các báo này
mới chỉ quan tâm đến việc lựa chọn từ khóa, tag từ khóa và đưa từ khóa vào
trong bài viết, còn việc thực hiện tối ưu hóa cho tít, cho sapo, chính văn, cho
hình ảnh, cho liên kết và khâu quảng bá tác phẩm chưa được chú trọng và
chưa được thực hiện đầy đủ. Cụ thể với từ khóa này ở hai báo VietnamPlus và
VietNamNet như sau:
Với chùm tác phẩm “Tái cơ cấu VNPT” của VietnamPlus đứng ở vị trí
thứ 2, cho thấy quả thực sức mạnh SEO chùm tác phẩm có cùng chủ đề là rất
lớn. Phần mô tả xuất hiện trên bảng tìm kiếm bao gồm Tít, tên báo và đoạn
62
văn đầu tiên của một trong các tác phẩm thuộc chùm tác phẩm “Tái cơ cấu
VNPT”. Tít có độ dài là 12 kí tự có chứa từ “tái cơ cấu”. Trong dòng sự kiện,
VietnamPlus không có phần giới thiệu riêng về dòng sự kiện đó. Do vậy mà
Google lấy phần mô tả của tác phẩm đầu tiên xuất hiện trên chuỗi bài làm
phần mô tả. Với cách sử dụng phần mô tả như vậy thì độc giả sẽ tiếp cận
được bài viết mới nhất về chủ đề này. Tuy nhiên, trong dòng sự kiện, mỗi sự
kiện được dẫn dắt bằng tiêu đề và một đoạn đầu tiên của tác phẩm nhưng lại
không có liên kết đi kèm hay là hướng dẫn “xem thêm”. Độc giả buộc phải
quay lại click tiếp vào tít của tác phẩm đó để xem được toàn bộ nội dung.
Ngoài ra, khi muốn xem thêm các tác phẩm khác trong dòng sự kiện, độc giả
phải nhấn vào “trang 2, trang 3…”. Khi click vào mỗi tác phẩm, dưới chân tác
phẩm có các tag từ khoá nổi bật liên quan đến dòng sự kiện này nhưng lại
không có link sang các tác phẩm khác cùng dòng sự kiện “Tái cơ cấu VNPT”.
Vì vậy, mỗi tác phẩm của dòng sự kiện này phải cạnh tranh với số lượng tác
phẩm khác về độ truy cập.
Tác phẩm “Tái cơ cấu VNPT có thể hoàn thành sớm 5 năm” của
VietNamNet đứng vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng Google. Tít của tác phẩm
gồm 33 kí tự. Khi xuất hiện trên bảng kết quả tìm kiếm của Google với tư cách
là phần tiêu đề, tít của tác phẩm được đi kèm với tên báo gồm 44 kí tự. Độ dài
của tít phù hợp để xuất hiện trọn vẹn trên bảng kết quả tìm kiếm. Tít cũng hấp
dẫn khi nhấn mạnh với công chúng với từ “tái cơ cấu VNPT” và “hoàn thành
sớm 5 năm”. Phần mô tả xuất hiện trên bảng kết quả tìm kiếm lại không bao
gồm từ khóa và tít mà lại là một phần nội dung trong chính văn “Trong khối viễn
thông các tỉnh, thành phố, VNPT Đắc Lắc là một trong số đơn vị đi đầu về thực
hiện tái cấu trúc và là đơn vị tăng trưởng doanh”. Phần sapô gồm 179 kí tự:
“Với việc toàn bộ 63 trung tâm kinh doanh của các tỉnh, thành đã được nhập về
Tổng công ty VNPT VinaPhone sau ngày 1/10, giai đoạn 2 của đề án Tái cấu
63
trúc Tập đoàn VNPT theo Quyết định số 888 của Thủ tướng Chính phủ đã hoàn
tất.” Trong phần sapô này không chứa từ khoá, không chứa tít nên vẫn giữ được
đầy đủ thông tin muốn truyền tải. Phần chính văn của tác phẩm gồm 1332 chữ,
không chứa từ khoá, 1 lần từ “viễn thông” đứng riêng. Tác phẩm có 2 tít phụ
được in đậm là “Thay đổi tư duy” và “Quan trọng là thực chất”. Cách đặt tít phụ
giúp ngăn cách các ý chính của tác phẩm để người đọc tiện theo dõi. Tác phẩm
có 2 ảnh, tuy nhiên tên ảnh không được đặt theo tiêu đề, không chứa từ khoá và
đặt theo những số vô nghĩa “20151016110806-vnptdaklak” và
“20151016110806-vnpt-bd”. Điều này khiến Google khó nhận diện nội dung
ảnh. Tuy nhiên, dưới mỗi ảnh cũng có chú thích riêng. Tác phẩm không có link
liên kết nào dưới sapô nhưng có 6 liên kết dưới chân tác phẩm. Tác phẩm có 178
lượt thích, chia sẻ trên facebook.
2.2.5. Việt Nam kết thúc đàm phán hiệp định TPP
Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic
Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình
Dương.
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư
cách thành viên liên kết. Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm
phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP,
và ngày 5/10/2015 Hiệp định đã được thông qua với sự nhất trí của 12 nước.
Tham gia Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ
hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam sẽ
có cơ hội đàm phán để Hoa Kỳ mở cửa thị trường cho hàng hóa của Việt
Nam, tạo cú hích mạnh để thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Bên cạnh
đó, việc tham gia Hiệp định TPP sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa đầu tư của
Hoa Kỳ và các nước vào Việt Nam.
64
Thực hiện tìm kiếm với từ khóa “đàm phán TPP thành công” tác giả
luận văn thấy có 513.000 kết quả trong 0,4 giây, chi tiết như hình 2.6 dưới
đây.
Hình 2.6 Kết quả tìm kiếm từ khóa “đàm phán TPP thành công”
Kết quả tìm kiếm cho thấy Vietnamplus có tác phẩm nằm ở trang tìm
kiếm thứ 2, Vietnamnet có một tác phẩm xuất hiện ở trang thứ 4 và Dantri có
1 tác phẩm xuất hiện ở trang thứ 6 của bảng kết quả tìm kiếm Google.
VietnamPlus
VietNamNet
Dân Trí
Tít gồm 12 từ, phân
Tít ngắn gọn, gồm 9 từ,
Tít ngắn gọn gồm 7 từ,
Tít
làm 2 ý (ý sau nhấn
có chứa tên báo, thể
chứa tên báo, từ khóa
mạnh và bổ sung cho ý
hiện đầy đủ tít trên
chính được đặt vị trí
đầu). Tít bị cắt trên
bảng tìm kiếm.
đầu tít
bảng tìm kiếm goolge.
Từ khóa không đứng vị
Tít chứa từ khóa và ở vị
trí đầu của Tít
trí đầu tiên, không chứa
tên báo.
65
Phần mô tả bị cắt
Phần mô tả gồm 288 ký
Phần mô tả gồm 184 ký
Phần mô
nhưng chứa 2 từ khóa,
tự (có chứa khoảng
tự (Có chứa khoảng
tả
nội dung mô tả hiện
trống, phần thông tin
trống), cung cấp thông
trên bảng tìm kiếm đã
mô tả hiện trên goole
tin chính của bài viết,
thông báo sơ qua về
không mang nhiều ý
cũng bị cắt trên mục
thông tin, sự kiện
nghĩa lắm
tìm kiếm của google,
chứa 2 từ khóa
Nội dung bài viết vừa
Nội dung bài viết vừa
Nội dung bài viết gồm
Chính
phải, được phân chia
phải, được phân chia
459 từ, từ khóa TPP
văn
thành nhiều đoạn rõ
thành nhiều đoạn rõ
xuất hiện 8 lần ,hiệp
ràng. Bài viết gồm 569
ràng gồm 651 từ. Hiệp
định TPP xuất hiện 2
từ , trong đó từ TPP
định TPP xuất hiện 3
lần , đàm phán TPP
xuất hiện 9 lần, từ đàm
lần.
xuất hiện 2 lần
phán xuất hiện 7 lần
TPP xuất hiện 14 lần
Tên ảnh có đặt tên liên
Có 1 hình ảnh minh họa
Có 1 hình ảnh minh
Hình
quan đến từ khóa TPP,
và đặt theo từ khóa TPP
họa, tên ảnh đặt trùng
ảnh
1110TPP.jpg. Chỉ có 1
theo tít bài dam-phan-
20151005194316-
hình ảnh minh họa
tpp-buoc-vao-ngay-
tppcountriesmap.jpg
quyet-dinh.jpg
Dưới bài viết có tag 7
Dưới chân bài viết có
Có tag 5 từ khóa và có
Tag
từ khóa và từ khóa đàm
tag 1 từ khóa duy nhât
bao gồm cả từ khóa
phán TPP đứng thứ 2
là TPP , tại đây là chùm
TPP
các bài viết liên quan
đến TPP
Phần đầu chính văn có
Phần đầu chính văn có
Liên kết Bên dưới chân bài viết
chèn link là chùm 7 bài
chèn 1 link bài viết liên
chèn 1 link bài viết liên
viết có liên quan đến
quan
quan .
chủ đề TPP
Các báo đều đã chú trọng trong việc chọn từ khóa. Tiêu đề của các tác
phẩm dài dẫn đến bị cắt như với tác phẩm “Đàm phán Hiệp định TPP thành
66
công – Cú hích cho đàm phán RCEP” của VietnamPlus, còn Vietnamnet và
Dantri có tiêu đề ngắn gọn, phù hợp và hiển thị đầy đủ tiêu đề và tên báo trên
bảng kết quả tìm kiếm.
Các thành phần khác của tác phẩm như: sapo, chính văn… đều chưa
được tối ưu. Phần quảng bá tác phẩm trên mạng xã hội còn chưa được chú
trọng, chỉ riêng báo dân trí phần like, share được hiện cả đầu và bài viết, điều
này giúp quảng bá tác phẩm tốt hơn.
2.2.6. Thảm sát tại Bình Phƣớc
Vụ thảm sát 6 người tại một gia đình ở huyện Chơn Thành, tỉnh Bình
Phước tháng 7/2015 đã gây chấn động dư luận bởi âm mưu giết người ghê rợn
và quá trình ra tay tàn độc chỉ vì bị gia đình bạn gái ngăn cản.
Hung thủ chính là Nguyễn Hải Dương, sau khi bị người yêu cũ là Lê
Thị Ánh Linh cự tuyệt tình cảm, thanh niên 24 tuổi thù hận, nuôi ý định sát
hại Linh và những người trong gia đình cô gái. Để thực hiện âm mưu, Dương
mua súng bắn bi sắt, súng bắn điện, dao bấm, găng tay cao su, dây rút, băng
keo, bình xịt hơi cay và sim điện thoại. Có dụng cụ gây án, kẻ si tình rủ Trần
Đình Thoại tham gia giết người. Rạng sáng 5/7, Dương và Thoại mang hung
khí, chạy xe máy đến trước cổng nhà Linh. Anh ta nhắn tin cho Dư Minh Vỹ
(cháu ông Mỹ) ra mở cổng nhưng Vỹ không ra nên hai người đành quay về
nhà trọ. Thời điểm này, Thoại đổi ý định, không tham gia giết người cùng
Dương với lý do phải về quê thăm bà ngoại bị bệnh. Trước khi về quê, Thoại
đưa cho Dương con dao Thái Lan để gây án. Để có thêm đồng bọn, Dương
gọi Vũ Văn Tiến và rủ người này tham gia kế hoạch cướp tài sản. 23h50 ngày
6/7, Dương mang balô đựng hung khí, chạy xe máy chở Tiến từ huyện Hóc
Môn (TP HCM) lên nhà của Linh tại xã Minh Hưng (huyện Chơn Thành,
Bình Phước) để thực hiện kế hoạch. 2h ngày 7/7, khi Vỹ ra mở cửa cổng thì
Dương và Tiến bịt miệng, bóp cổ cho đến lúc nạn nhân bất tỉnh. Sau đó,
67
Dương rút dao đâm vào ngực và cổ khiến Vỹ tử vong. Tiếp đó, 2 thanh niên
lên lại phòng của Linh và Như để hỏi địa điểm giấu tiền nhưng bất thành.
Dương sát hại Như trước mắt Linh rồi xuống tay với người yêu cũ. Hung thủ
xuống tầng trệt, vào phòng khống chế bà Nga, ông Mỹ, Quốc Anh (con trai
ông Mỹ), tra khảo nơi cất tiền rồi lần lượt sát hại các nạn nhân. Sát hại 6
người xong, hai kẻ sát nhân lấy iPad, máy tính xách tay, 5 điện thoại và hơn 4
triệu đồng. Trước khi bỏ trốn, Dương nghe tiếng Bé Na (con út ông Mỹ) khóc
trong phòng nên vào ru cho bé ngủ rồi trốn khỏi hiện trường. Tổng trị giá tài
sản mà Dương và Tiến chiếm đoạt của gia đình ông Mỹ là trên 49 triệu đồng.
Vụ án được phá ngay sau gần 1 tuần và xét xử kéo dài đến cuối năm
2015. Theo dòng sự kiện đó, các báo đã liên tục update các thông tin liên
quan đến Vụ thảm sát 6 người tại Bình Phước.
Thực hiện tìm kiếm Goolge với từ khóa “thảm sát 6 người Bình
Phước”, tác giả luận văn thấy có 530.000 kết quả trong 0,39 giây. Trong đó
Vietnamnet có một tác phẩm ở vị trí thứ 9 của trang kết quả tìm kiếm đầu
tiên. Dân Trí có chùm bài viết về sự kiện và một tác phẩm ở trang thứ 2, còn
Vietnamplus có một tác phẩm ở trang thứ 6 của bảng kết quả tìm kiếm
Google.
Page 1
68
Page 2
Page 6
Hình 2.7 Kết quả tìm kiếm với từ khóa “thảm sát 6 người Bình Phước”
Từ kết quả tìm kiếm trên ta thấy, về tiêu đề của tác phẩm, tác phẩm của
báo Vietnamnet có 12 từ xuất hiện trọn vẹn trên trang tìm kiếm, phần tiêu đề
xuất hiện bao gồm tên báo, tít bài và vài dòng tóm tắt nội dung tác phẩm. Tiêu
đề các tác phảm của báo Dân Trí xuất hiện trên trang tìm kiếm bao gồm đủ
các từ khóa và là là một chùm tác phẩm, gồm nhiều bài viết có thông tin quan
trọng. Khi click vào link dẫn hiện lên 2 trang có tít và 1 phần sapo, ảnh đại
diện của các bài viết chứa đựng diễn biến mới nhất. Dưới 1 số bài viết nổi bật
lại có thêm 2-3 link liên kết đến các tác phẩm liên quan. Các tác phẩm đều có
từ cụm từ khóa: Vụ thảm sát ở Bình Phước ngay trước tít chính. Tiêu đề tác
phẩm của báo Vietnamplus mặc dù bị cắt nhưng chứa trọn vẹn cụm từ khóa.
69
Sapo tác phẩm của báo Vietnamnet gồm 41 từ, nhưng phần mô tả trên
trang tìm kiếm bị rút gọn, chỉ xuất hiện khoảng 30 từ, trong đó có chứa 4 từ
khóa: 6 người, Bình Phước. Với báo Dân Trí, phần mô tả trên trang tìm kiếm
xuất hiện đủ cụm từ khóa “6 người bị thảm sát ở Bình Phước”. Và vì là chùm
tác phẩm nên thông tin trên trang tìm kiếm là thông tin diễn biến mới nhất của
sự kiện, gồm 27 từ. Riêng với VietnamPlus, bài viết mào đầu luôn mà không
có sapo, chỉ có phần mô tả có 31 từ trên trang tìm kiếm, cũng chứa đủ các từ
khóa thảm sát 6 người tại Bình Phước
Chính văn của chùm bài viết trên báo Dân Trí có độ dài ngắn khác
nhau tùy vào từng sự kiện, tuy nhiên, từ khóa xuất hiện với mật độ nhiều nhất
là Thảm sát, Bình phước. Còn tác phẩm của báo Vietnamnet là một phóng sự
ảnh, tường thuật diễn biến tại hiện trường tuần tự theo thời gian từ lúc bắt đầu
xảy ra cho đến khi kết thúc sự kiện ngày hôm đó. Từ khóa rất ít xuất hiện
trong tác phẩm, chỉ có 4 từ Thảm sát và Bình Phước là xuất hiện nhiều hơn.
Bài viết của VietnamPlus đưa thêm thông tin mới là tạm bắt giữ thêm một
nghi can và tóm tắt lại toàn bộ sự kiện cho độc giả theo dõi. Tuy nhiên, từ
khóa xuất hiện tương đối ít, hầu như chỉ xuất hiện một lần với các từ sáu
người, thảm sát, Bình Phước
Về phần hình ảnh, bài viết của Vietnamnet có 12 bức ảnh nhưng không
tên file ảnh không có chứa từ khóa, trong phần mô tả ảnh thì có ảnh thứ 2 có
chứa từ khóa “thảm sát 6 người”. Trên báo Dân Trí mỗi bài viết đều có từ 2
ảnh trở lên, bài nhiều nhất là phóng sự ảnh lên tới 16 bức. Trong đó chỉ có
một số bức ảnh được đặt tên có kèm từ khóa còn một số thì tên file ảnh lộn
xộn, phần mô tả thì có 2 từ khóa được dùng nhiều là thảm sát. Trên báo
Vietnamplus thì không sử dụng hình ảnh.
Các báo đều sử dụng Tag nhiều, dưới chân các bài viết của báo Dân Trí
có chứa các tags chính là: thảm sát, ban chuyên án, chấn động dư luận, Bình
70
phowcs, Vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước, hành hung, nghi phạm. Báo
Vietnamplus có các tags: Bình Phước, Trọng án, Giết người, Khởi tố bị can,
Bắt tạm giam, Nguyễn Hải Dương, Vũ Văn Tiến, Gia đình ông Lê Văn Mỹ,
Vụ giết người ở Bình Phước. Báo Vietnamnet thì có số lượng từ khóa được
tag ít hơn chỉ có 2 cụm từ: Thảm sát ở Bình Phước, dựng lại hiện trường, biệt
thự
Các tác phẩm trên các báo đều có sử dụng các liên kết, báo Vietnamnet
có duy nhất 1 link ở giữa bài viết dẫn đến video quay tại buổi dàn dựng hiện
trường với nội dung giống như tác phẩm. Còn lại không có link liên kết đến
các tác phẩm viết trước đó. Trong các bài viết của báo Dân Trí đều có 2-4 link
dẫn đến các bài viết liên quan thuộc chuỗi sự kiện này. Báo Vietnamplus đính
kèm link dưới bài viết ngày 10/8/2015 này là 2 bài viết nữa, 1 bài ngày
13/7/2015 viết và 1 bài ngày 11/7/2015. Đồng thời có 4 tin cùng liên quan
cùng xuất hiện dưới chân trang
Việc quảng bá tác phẩm của báo Dân Trí tốt hơn hai báo còn lại, các
tác phẩm đều có hàng nghìn lượt thích trên facebook và nhiều ý kiến bình
luận của khán giả ở ngay dưới bài viết. Bài viết của báo Vietnamplus có 62
lượt share còn báo Vietnamnet thì không có lượt share hay like nào.
2.2.7. Thảm họa động đất Nepal
Ngày 25/4/2015, tại Nepal trận động đất kinh hoàng mạnh 7,9 độ
richter làm rung chuyển cả đất nước, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người
và phá hủy nửa triệu ngôi nhà mà phần lớn ở khu vực nông thôn. Ngay sau
đó, ngày 12/5/2015, trong lúc người dân Nepal đang cố gắng khắc phục hậu
quả của trận động đất của tháng trước, trận động đất thứ hai tiếp tục xảy ra,
mạnh 7,3 độ richter kéo theo nhiều dư chấn, trong đó có dư chấn mạnh 6,3 độ
richter ở khu vực cách thủ đô Kathmandu 76 km phía đông. Hai cơn địa chấn
mạnh hơn 7 độ Richter xảy ra ở Nepal trong vòng chưa đầy 3 tuần đã làm số
71
người chết vượt quá con số kỷ lục 8.500 người cùng hàng chục nghìn người
bị thương và nhiều người mất tích tại các ngôi làng hẻo lánh.
Tìm hiểu thông tin về sự kiện này, tác giả luận văn tìm kiếm trên
google với từ khóa Động đất ở Nepal thì có hơn 415.000 kết quả trong 0,49
giây, báo Vietnamnet.vn có một tác phẩm xuất hiện ở cuối trang tìm kiếm số
1, Dantri.com.vn xuất hiện ở trang tìm kiếm số 3, đứng thứ 25,
Vietnamplus.vn xuất hiện ở trang 4, đứng thứ 32. Chi tiết hình ảnh tìm kiếm
như hình 2.7
Hình 2.8 Kết quả tìm kiếm từ khóa “động đất ở Nepal”
Khi click vào link “Toàn cảnh trận động đất kinh hoàng ở Nepal” của
Vietnamnet trên trang tìm kiếm, sẽ thấy hiện ra chùm bài khoảng 22 bài viết.
Tít sự kiện của Dân Trí xuất hiện trên trang tìm kiếm là: “Sự kiện: Động đất
làm hơn 8.000 người chết tại Nepal” đây cũng là link tổng hợp chùm tác
phẩm viết về sự kiện của Dân trí bao gồm 4 trang với 33 bài viết liên quan.
Vietnamplus với cụm từ khóa xuất hiện ở trang 4, đứng thứ 32, bao trọn cả
72
cụm từ khóa Động đất ở Nepal, click vào link thấy 3 trang và khoảng 50 bài
viết liên quan. Như vậy, có thể thấy tít tổng hợp của các báo đều đã tối ưu, đã
bao gồm từ khóa và hiển thị đầy đủ trên bảng kết quả tìm kiếm. Tuy nhiên, tít
của các bài viết trong cụm bài của cả 3 báo thì từ khóa chỉ xuất hiện ở một số
tác phẩm và chưa được tối ưu. Có thể các tác phẩm là được viết từ nhiều
phóng viên, biên tập viên khác nhau và chưa được đào tạo về SEO kỹ, còn
việc hiển thị tít tổng hợp là do bộ phận làm SEO của các báo thực hiện nên đã
đảm bảo tối ưu với công cụ tìm kiếm Google.
Vì là chùm bài viết nên dòng mô tả trên trang tìm kiếm là trích dẫn một
phần sapo của bài viết đầu tiên về sự kiện, cũng bao gồm đủ cụm từ khóa
được tìm kiếm. Và phần lớn các sapo trong hàng loạt bài viết của Vietnamnet
và Dân Trí về sự kiện đều sử dụng một phần hoặc toàn bộ cụm từ khóa, riêng
Vietnamplus không dùng sapo nên phần hiển thị trên trang tìm kiếm là các tít
bài nổi bật nhất có liên quan đến sự kiện.
Trong phần chính văn của các bài viết trên 3 báo, từ khóa “động đất”
và “Nepal” đã được đưa vào khá tốt và mật độ từ khóa cũng đã rất phù hợp.
Về phần hình ảnh, các tác phẩm trên Vietnamnet đều sử dụng từ 1-4
ảnh cho một bài viết, có một số bức ảnh được chú thích và có sử dụng từ khóa
“động đất”, tuy nhiên, một vài tác phẩm khác chỉ dẫn nguồn và không có chú
thích. Các hình ảnh trong các tác phẩm của báo Dân Trí và Vietnamplus đều
có chú thích và sử dụng từ khóa “động đất” hoặc “Nepal”. Đối với việc đặt
tên cho các file ảnh thì 2 báo Dân Trí và Vietnamnet làm chưa tốt, hầu hết tên
các file ảnh đều không được chú ý, rất lộn xộn và không theo một quy tắc nào
cả. Chỉ có báo Vietnamplus thì các bức ảnh đều được đặt tên rất cẩn thận và
có kèm theo cả từ khóa của bài viết đó.
73
Cả 3 báo đều rất lưu ý đến việc tag các từ khóa và đính kèm các liên
kết đến các bài viết có liên quan đến sự kiện. Tuy nhiên, các bài viết đều
không được quảng bá tốt, hầu như không có bất cứ lượt like hay share nào.
2.2.8. Đổi mới kỳ thi THPT
Theo quyết định của Bộ GD-ĐT thì năm 2015, học sinh học hết chương
trình THPT sẽ không có 2 kì thi riêng rẽ để xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh
ĐH-CĐ mà chỉ phải tham gia 1 kì thi quốc gia duy nhất. Kết quả thi của thí
sinh sẽ được sử dụng để xét tốt nghiệp THPT và là một căn cứ quan trọng để
các trường ĐH-CĐ tuyển sinh. Tuy nhiên các trường ĐH - CĐ vẫn có thể tự
chủ tổ chức tuyển sinh riêng nếu đáp ứng được điều kiện của Bộ GD quy
định.
Bộ GD-ĐT quyết định là mỗi thí sinh phải dự thi 4 môn (gọi là các
môn thi tối thiểu) gồm: 3 môn bắt buộc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 1
môn do thí sinh tự chọn trong số các môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử
và Địa lí. Ngoài 4 môn thi nói trên, thí sinh có quyền đăng ký thi thêm các
môn thi còn lại của Kỳ thi để sử dụng cho việc đăng ký tuyển sinh ĐH, CĐ
theo yêu cầu của các ngành đào tạo do từng trường ĐH, CĐ quy định trong
Đề án tuyển sinh của trường. Như vậy sẽ không còn khối thi truyền thống như
trước đây tuy nhiên các trường đại học vẫn phải duy trì tổ hợp các môn để xét
vào đại học như năm 2014. Ví dụ năm 2014 trường xét vào ngành Y khối B
với ba môn là Toán - Lý - Hoá thì năm 2015 trường vẫn phải duy trì xét tổ
hợp ba môn là Toán - Lý - Hoá này bên cạnh có thể thêm tổ hợp khác để xét
tuyển.
Việc đổi mới này của Bộ Giáo Dục tạo ra nhiều ý kiến trái ngược nhau,
một số thì cho rằng bỏ đi một kỳ thi là hợp lý vì vừa tiết kiệm lại vừa giảm tải
cho các học sinh, tuy nhiên, một số khác lại quan điểm là làm như vậy có thể
dẫn tới nhiều tiêu cực và vì chưa có sự chuẩn bị kỹ càng có thể sẽ làm ảnh
74
hưởng đến việc lựa chọn trường CĐ-ĐH của học sinh, tức là ảnh hưởng đến
tương lai của thế hệ trẻ. Đây là một sự kiện “nóng” thu hút rất nhiều sự quan
tâm của dư luận trong suốt quá trình diễn ra kỳ thi và còn kéo dài đến khi tất
cả các trường hoàn thành kế hoạch tuyển sinh của mình.
Thực hiện tìm kiếm với từ khóa “kỳ thi THPT Quốc gia 2015” tác giả
luận văn có được hơn 613.000 kết quả trong khoảng 0,48 giây. Các báo Dân
Trí và Vietnamnet đều xuất hiện ở trang thứ 3 của bảng kết quả tìm kiếm, còn
Vietnamplus thì không có tác phẩm nào trong cả 12 trang kết quả. Chi tiết
như trong hình 2.9
Hình 2.9 Kết quả tìm kiếm từ khóa “kỳ thi THPT Quốc gia 2015”
Bảng kết quả tìm kiếm cho thấy cụm hơn 13 bài viết của báo Dân Trí
được làm SEO tốt nên cụm từ khóa xuất hiện đầy đủ và phần tiêu đề không bị
cắt, hiển thị được cả tên báo. Tit bài viết “Nhiều thay đổi trong kỳ thi THPT
75
quốc gia” của Vietnamnet cũng được tối ưu đầy đủ, tít không bị cắt ngắn, có
bao gồm từ khóa và hiển thị cả tên báo.
Vì là cụm bài viết nên Sapo của các tác phẩm trên báo Dân Trí không
được hiển thị trên bảng tìm kiếm, phần nội dung mặc dù có chứa từ khóa
nhưng bị đứt và là những đoạn ghép từ nội dung của cụm bài viết. Sapo của
bài viết trên báo Vietnamnet cũng bị cắt nhưng vẫn hiển thị được đầy đủ cụm
từ khóa, còn trong phần nội dung được hiển thị trên bảng kết quả tìm kiếm chỉ
bao gồm từ “2015”.
Việc tối ưu hóa link của các báo cơ bản chưa tốt, các link đều quá dài
dẫn đến việc hiển thị trên bảng tìm kiếm không đầy đủ, bị cắt đi rất nhiều.
Mặc dù vậy thì việc đưa các từ khóa vào các link này vẫn được làm rất tốt,
trên đường link của Dân Trí còn thể hiện được toàn bộ từ khóa tìm kiếm này.
Báo Vietnamplus mặc dù cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến từ
khóa này, kết quả tìm kiếm được chỉ ra như Hình 2.10
Hình 2.10 Cụm bài viết về chủ đề: Thi THPT Quốc gia 2015 báo VNPlus
Tiến hành khảo sát các bài viết thì thấy với sự kiện đổi mới trong kỳ thi
THPT 2015 này, mặc dù cũng có bài viết tag từ khóa “kỳ thi Quốc Gia”
76
nhưng phần lớn các bài viết trên báo Vietnamplus tập trung vào từ khóa “kỳ
thi hai trong một” chứ không theo từ khóa như tác giả luận văn đã khảo sát.
2.3. Những kết quả đạt đƣợc và tồn tại khi tối ƣu hóa công cụ tìm kiếm ở
3 báo đƣợc khảo sát
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân
2.3.1.1. Những kết quả đạt đƣợc
Thứ nhất, tăng thứ hạng của tác phẩm báo điện tử trên bảng kết quả
tìm kiếm Google nhờ ứng dụng cách thức SEO phù hợp, linh hoạt, độc đáo.
Quá trình khảo sát cho thấy một số báo điện tử thường xuyên xuất hiện
ở những vị trí cao trên bảng kết quả tìm kiếm của Google như Dân trí,
Vnexpress, VietNamNet, Dântri. Đối với từng sự kiện đơn lẻ, một số báo điện
tử đã giữ vững vị trí cao của mình trong một khoảng thời gian dài. Các tác
phẩm có vị trí cao trên bảng kết quả tìm kiếm nhờ một phần quan trọng là
được áp dụng SEO một cách độc đáo, phù hợp. Cụ thể là cách lựa chọn, bố trí
các từ khóa đa dạng, linh hoạt: thêm tên báo vào tiêu đề; viết lại phần mô tả;
sắp xếp các tác phẩm vào cùng một chủ đề, dòng sự kiện; chèn tag; chú ý đến
khâu quảng bá tác phẩm. Kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi do tác giả
luận văn tiến hành với 39 phóng viên, biên tập viên của 3 tờ báo khảo sát cho
thấy có 32/39 người cho rằng việc ứng dụng SEO giúp tăng lượng truy cập
của độc giả vào tác phẩm của mình.
Một biểu hiện đáng chú ý là việc thêm tên báo vào sau tít tác phẩm.
Cách làm này giúp khẳng định bản quyền đối với tác phẩm của tờ báo khi
xuất hiện trên bảng kết quả của Google. Trong một số trường hợp nếu tác
phẩm bị sao chép lại bởi một hệ thống tự động hoặc một website khác và
website này “lười” chỉnh sửa lại tít thì tên báo vẫn sẽ hiện ra trên những
website lấy lại bài. Điều này góp phần khẳng định tác phẩm gốc thuộc báo
điện tử và gây thiện cảm với công chúng. Đối với các trang báo mạng nổi
77
tiếng, có lượng công chúng ổn định như Dân trí, VietNamNet, VietnamPlus,
việc thêm tên báo vào tít còn giúp gia tăng tỷ lệ nhấp chuột của nhóm công
chúng yêu thích, quen thuộc với thương hiệu của tờ báo khi họ tìm thấy tác
phẩm trên bảng kết quả tìm kiếm. Hơn nữa, bản thân tên báo cũng là một từ
khóa phổ biến. Đơn cử như Dân trí, theo công bố của Google Zeitgeist,
“dantri.com.vn” xếp thứ 9 trong top 10 từ khóa có tốc độ tăng trưởng tìm
kiếm nhanh nhất toàn cầu năm 2012. Do đó, việc gắn thêm tên báo vào tít sẽ
giúp gia tăng khả năng xuất hiện trên nhiều truy vấn tìm kiếm hơn. Tuy
nhiên, đôi khi cách này khiến tít bài bị cắt trên bảng kết quả tìm kiếm vì nó
làm tăng độ dài của tít. Điều này ảnh hưởng tới khả năng tiếp nhận thông tin
của công chúng. Do đó, khi thêm tên báo cần cân nhắc tới vấn đề này.
Việc báo điện tử đầu tư trong việc viết lại phần mô tả cho tác phẩm
cũng thể hiện nỗ lực ứng dụng SEO. Trong quá trình khảo sát, tác giả luận
văn đã thấy xuất hiện hiện tượng viết lại phần mô tả cho tác phẩm trong một
số trường hợp của VietNamNet, VietnamPlus, đặc biệt là VietnamPlus. Việc
viết lại phần mô tả thay vì lấy sapô hay đoạn văn bản đầu tiên của tác phẩm
giúp đảm bảo độ dài phù hợp và chứa từ khóa bên trong phần mô tả. Hiệu
quả của phần mô tả này cao hơn. Vì sapô hay đoạn văn bản đầu tiên thường
có dung lượng vượt quá quy định cho phép khi xuất hiện trên bảng kết quả
tìm kiếm và đôi khi không chứa từ khóa chính. Tuy nhiên, việc làm này
cũng sẽ mất nhiều thời gian hơn so với việc dùng sapô hay đoạn văn bản đầu
tiên của tác phẩm làm mô tả.
Nhiều báo điện tử hiện nay đã rất thành công với việc sắp xếp các tin
bài có cùng chung một chủ đề, phản ánh cùng một sự kiện trong thời gian
dài thành một chuỗi bài gọi là “chủ đề” hoặc “dòng sự kiện”. Chỉ với một
liên kết, công chúng sẽ tiếp cận được với một số lượng lớn tác phẩm có liên
quan tới từ khóa tìm kiếm thay vì chỉ một tác phẩm như thông thường. Như
78
đã đề cập ở trên, cách sắp xếp này là một cách làm khoa học và rất hữu hiệu.
Trước hết nó đem đến sự thuận lợi cho công chúng. Chỉ cần một cú click
chuột, công chúng đã có khả năng tiếp cận với một loạt tác phẩm. Các bài
viết được sắp xếp theo trật tự sẽ giúp công chúng có được cái nhìn toàn diện
được tác phẩm nào mới, cũ để lựa chọn. Vì thế nó cũng góp phần làm tăng
khả năng truy cập của công chúng vào tất cả các tác phẩm. Khi xuất hiện
trên dòng sự kiện, mỗi tác phẩm lại xuất hiện với tít, sapô, hình ảnh và đôi
khi cả liên kết. Cách xuất hiện này cũng không nằm ngoài mục đích là giúp
công chúng biết được nội dung cơ bản của mỗi tác phẩm là gì, có phù hợp
với nhu cầu thông tin của họ hay không, có hấp dẫn và đáng để đọc chi tiết
hay không.
Đối với SEO thì thay vì phải đau đầu với những tính toán mật độ từ
khóa, lựa chọn số lượng liên kết hợp lý cho mỗi tác phẩm thì xét về mặt tổng
thể cả tờ báo việc sắp xếp theo chuỗi bài sẽ tập trung được sức mạnh từ
khóa, liên kết, giúp tăng cơ hội được truy cập cho tất cả các tác phẩm. Bởi
mỗi tác phẩm có một số lượng từ khóa và liên kết nhất định. Khi chúng được
tập hợp với nhau thì con bọ tìm kiếm của Google không phải mất nhiều thời
gian để lần theo những liên kết từ một tác phẩm đến với những tác phẩm
khác. Thêm vào đó, tít và sapô của tác phẩm xuất hiện trên dòng sự kiện
cũng giống như khi xuất hiện trên bảng kết quả của Google. Tức là việc tối
ưu hóa mỗi tác phẩm còn giúp cho việc xuất hiện của tác phẩm trên dòng sự
kiện.
Các báo điện tử hiện nay rất quan tâm tới vấn đề chèn tag. Chèn tag
thực chất là việc tạo ra nhiều từ khóa trong một tác phẩm. Những từ khóa
này xuất hiện dưới chân tác phẩm sẽ góp phần giúp công chúng quan tâm
khi click vào bất kỳ từ khóa nào sẽ điều hướng họ tới những tác phẩm chứa
từ khóa đó. Tuy nhiên vì nhóm từ khóa này nằm dưới chân tác phẩm nên nó
79
ít thu hút được sự chú ý của công chúng. Việc xây dựng một số lượng từ
khóa tiêu biểu cho nội dung của tác phẩm giúp cho công chúng tìm kiếm tác
phẩm trên website của tờ báo dễ dàng hơn. Vì hộp tìm kiếm của các báo
điện tử cũng phục vụ việc tìm kiếm của công chúng thông qua các từ khóa.
Chèn tag cũng hỗ trợ đắc lực cho phóng viên, biên tập viên báo điện tử trong
việc tìm kiếm những tác phẩm trước đó để tìm liên kết chèn vào tác phẩm
mới. Do đó, vấn đề chèn tag thực chất đã được các báo điện tử chú ý xây
dựng từ trước khi nhận thấy vai trò của các công cụ tìm kiếm như Google,
Yahoo, Bing…
Chèn tag cũng có tác dụng nhất định trong quá trình SEO. Trước hết,
nó giúp các tác phẩm hoàn toàn khác xa nhau, thậm chí không nằm trong
cùng một chuyên mục có sự kết nối với nhau thông qua các từ khóa chung.
Tức là việc chèn tag giúp tạo ra những liên kết nội bộ giữa các tác phẩm.
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thu thập dữ liệu của Google
khi con bọ tìm kiếm có thể đi theo các liên kết nội bộ được xây dựng bởi các
từ khóa dùng chung. Nhờ đó, Google sẽ không bỏ sót tác phẩm nào. Google
cũng sẽ dễ dàng phân loại nội dung và đưa ra kết quả khi người dùng tìm
kiếm với từ khóa tương ứng. Để có thể xây dựng được những từ khóa chất
lượng trong tag buộc nhà báo phải nghiên cứu từ khóa. Đây là khâu quan
trọng trong quá trình ứng dụng SEO cho tác phẩm. Trong quá tình khảo sát,
tác giả luận văn đã nhận thấy những điểm tích cực trong chèn tag cho tác
phẩm báo điện tử. Trước hết là việc lựa chọn đúng từ khóa, đảm bảo từ khóa
mang tính đặc trưng, có thể xuất hiện trong nhiều tác phẩm có cùng chủ đề.
Báo điện tử cũng đã quan tâm đến khâu quảng bá tác phẩm. Các báo
điện tử hiện nay đều tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho công chúng lan
truyền, chia sẻ thông tin thông tin trong cộng đồng mạng. Các báo điện tử
hầu hết đều có sẵn kết nối với các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter,
80
Google+… tại mỗi tác phẩm báo điện tử. Thậm chí đăng tải những thông tin
mới và tạo điều kiện cho những thành viên trao đổi ý kiến, bình luận về sự
kiện, tác phẩm của trang báo. Tính đến ngày 25/2/2016, trang fanpage của
VietNamNet là https://facebook.com/www.VietNamNet.vn có khoảng hơn
85 nghìn thành viên, của VietnamPlus là https://facebook.com/VietnamPlus
(khoảng 69 nghìn) và của Dân Trí là https://facebook.com/baodantridientu
(hơn 100 nghìn). Có những trang fanpage rất thành công khi thu hút được
một lượng lớn thành viên, số người thích, chia sẻ, bình luận dưới mỗi tin bài.
Đơn cử có thể kể tới trường hợp trang facebook của VNexpress với hơn 2,1
triệu thành viên https://facebook.com/congdongvnexpress. Theo
Socialbakers, công ty chuyên cung cấp công cụ giám sát và theo dõi phân
tích mạng xã hội, trung bình mỗi tháng trang fanpage của Vnexpress tăng
khoảng 57 nghìn thành viên. Tác phẩm xuất hiện trên fanpage bao gồm tít,
sapô, hình ảnh. Đi kèm với tác phẩm là những lời giới thiệu, gợi mở bình
luận từ phía người chia sẻ. Việc chia sẻ giúp thành viên trong fanpage ngay
lập tức biết được những thông tin mới của báo vì họ thường xuyên sử dụng
facebook. Đồng thời công chúng có thể dễ dàng đưa ra những ý kiến, bình
luận cũng như chia sẻ thông tin tới những người khác qua facebook.
Thứ hai, tăng lượng truy cập và gia tăng uy tín cho báo điện tử
Việc gia tăng thứ hạng trên Google cũng góp phần không nhỏ vào
thành công của báo điện tử. Nó giúp cho các báo điện tử thu hút thêm công
chúng, làm tăng lưu lượng truy cập. Kết quả điều tra xã hội học bằng bảng
hỏi do tác giả luận văn tiến hành cũng cho thấy có 32/39 phóng viên, biên
tập viên cho rằng thành công của việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các
tác phẩm báo điện tử là giúp tăng lượng truy cập. Đánh giá về vấn đề này,
anh Chu Mạnh Hải, Thư ký tòa soạn Báo Dân trí cho biết: “Khi đề cập đến
những phương pháp giúp tăng lượng truy cập chúng tôi cũng có đề cập tới
81
việc ứng dụng SEO và cũng đánh giá cao tính hiệu quả của việc ứng dụng
SEO cho tác phẩm. Thực ra không phải riêng chúng tôi mà giới truyền
thông đều đánh giá SEO là một trong những phương pháp hiệu quả để tăng
tỷ lệ bạn đọc”. [PL5, tr.126]
Chị Bạch Thị Hân, phóng viên Ban kinh tế của VietNamNet cũng
khẳng định thành công của SEO trong gia tăng lượng truy cập : “Theo thống
kê của Ban kinh tế, nếu làm SEO cẩn thận, đúng quy trình, đúng từ khóa
quan trọng thì tác phẩm báo mạng được xuất hiện ở vị trí cao hơn trên bảng
kết quả và có lượng truy cập nhiều hơn. Ban Kinh tế đã từng thí điểm một
tuần không ứng dụng SEO và một tuần ứng dụng SEO. Kết quả cho thấy,
lượng view tăng lên một cách rõ rệt ở tuần ứng dụng SEO so với tuần không
tiến hành ứng dụng SEO.” [PL8, tr.134]
Bên cạnh đó, việc giữ những vị trí đầu trên bảng kết quả tìm kiếm còn
góp phần tạo dựng uy tín cho cơ quan báo điện tử. Khi thường xuyên thấy
những tác phẩm của một số báo điện tử ở những vị trí đầu, công chúng sẽ có
cảm giác là những tờ báo đó luôn cập nhật thông tin nhanh, phong phú và đa
dạng. Từ đó, trong suy nghĩ của công chúng, đây là tờ báo có uy tín và đáng
được tin cậy.
Thứ ba, tạo thói quen, kỹ năng tác nghiệp mới cho đội ngũ những
người làm báo điện tử
Việc ứng dụng SEO cho báo điện tử đã và đang trở thành một xu
hướng đáng được quan tâm. Báo điện tử ứng dụng SEO buộc lãnh đạo cơ
quan báo điện tử phải phát huy cao hơn vai trò định hướng, chỉ đạo, sự sâu
sát trong khâu tổ chức, quản lý. Việc làm tốt tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Google cho trang báo thể hiện tầm nhìn, sự phân công hợp lý của lãnh đạo
cơ quan báo điện tử.
82
Việc ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cho tác phẩm báo
điện tử tạo nên thói quen, kỹ năng mới cho phóng viên, biên tập viên báo
điện tử. Để có thể tối ưu hóa tác phẩm báo điện tử thành công, phóng viên,
biên tập viên đầu tư thêm thời gian, công sức, trí tuệ trong quá trình sáng tạo
tác phẩm. Từ đó, phóng viên, biên tập viên có thêm kỹ năng mới bên cạnh
kỹ năng cơ bản của nhà báo điện tử: kỹ năng tối ưu hóa. Phóng viên, biên
tập viên vì thế sẽ hiểu rõ hơn cơ chế hoạt động của công cụ tìm kiếm. Cách
thức SEO buộc phóng viên, biên tập viên phải không ngừng nghiên cứu thị
hiếu, xu hướng tìm kiếm của người dùng. Điều này giúp phóng viên, biên
tập viên nắm giữ được sự thay đổi của công chúng, tận dụng được những ưu
thế của mạng xã hội để phục vụ cho quá trình tác nghiệp. Ứng dụng SEO
cũng là cơ hội để các phóng viên, biên tập viên phát huy năng lực tiếp cận,
ứng dụng những xu hướng, cách thức tối ưu hóa hiện đại một cách nhanh
nhất trong quá trình sáng tạo tác phẩm.
2.3.1.2. Nguyên nhân của những thành công kể trên
Thứ nhất, lãnh đạo các cơ quan báo điện tử đã nhận thức được tầm
quan trọng của tối ưu hóa công cụ tìm cho báo điện tử và đã có những chỉ
đạo về việc thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử của đơn vị
mình.
Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi và tiến hành phỏng vấn sâu đối với
một số lãnh đạo, phóng viên, kỹ thuật viên tại ba cơ quan báo chí nói trên,
kết quả khảo sát cho thấy việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử
đã được các lãnh đạo tòa soạn rất quan tâm và đã thành lập các đội ngũ làm
SEO độc lập với đội ngũ sáng tạo tác phẩm. Gần như 100% tác phẩm của 3
tờ báo khảo sát đều được tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google.
Nhận thức về tầm quan trọng của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo
điện tử, nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng biên tập báo VietnamPlus, cho biết:
83
“VietnamPlus áp dụng các kỹ thuật SEO vào cuối năm 2008, đến năm 2010,
tòa soạn bắt đầu đẩy mạnh công tác này trong phần nội dung. Phóng viên,
biên tập viên được huấn luyện để chủ động đặt tag cho các bài viết cũng như
học cách thức về đặt tiêu đề, viết sapô hoặc đặt tên file ảnh, video cho hiệu
quả nhất, hỗ trợ SEO được tốt nhất… Tất cả các bài viết của VietnamPlus
đều được ứng dụng SEO và làm bằng tay.” [PL4, tr.122]. Tại VietNamNet,
chị Vũ Huyền Linh, Trưởng phòng SEO và Marketing cũng có những ý kiến
tương tự: “ngày càng nhiều báo điện tử, trang tin tổng hợp ra đời kéo theo
nguồn thông tin cho người dùng trở nên khổng lồ hơn bao giờ hết. Vậy làm
thế nào để một trang báo gặp đúng độc giả của mình trên môi trường tìm
kiếm rộng lớn? Làm thế nào để một trang báo tiếp cận ngay lập tức với người
dùng của mình bằng chính vấn đề họ quan tâm? Tối ưu hoá công cụ tìm kiếm
chính là một vấn đề rất nóng đối với tất cả các trang tin, báo điện tử hiện
nay. Chính vì thế, có thể nói, một báo điện tử/trang tin điện tử hoặc là phải
làm SEO hoặc là sẽ chìm dần trong biển thông tin rộng lớn.” Và việc tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm là thực hiện “tối ưu nội dung (nội dung tự sản xuất và
phù hợp thị hiếu độc giả, bố cục chuẩn SEO), chuẩn hoá website về mặt kỹ
thuật sao cho thân thiện với máy tìm kiếm, phát triển các kênh mạng xã hội để
phủ rộng lượng độc giả cho website” [PL6, tr.129]
Thứ hai, các báo điện tử đã có những quy định cụ thể cho đội ngũ sáng
tạo tác phẩm và kỹ thuật viên ở đơn vị mình
Các báo điện tử đều coi trọng việc chèn tag, tức là việc lựa chọn những
từ khóa đặc trưng để đặt ở dưới chân tác phẩm. Những từ khóa đó có thể là từ
đại diện cho sự kiện, tên nhân vật, tên địa điểm diễn ra sự kiện…. Hệ thống
quản trị nội dung CMS của Dân trí luôn yêu cầu phóng viên, biên tập viên đặt
từ khóa trong tag. Hệ thống này cũng có chức năng đặt từ khóa tự động. Dựa
vào đó, phóng viên, biên tập viên có thể bỏ những từ khóa không phù hợp
84
hoặc thêm những từ khóa phù hợp hơn. Theo biên tập viên Nguyễn Hoàng
Yến, Báo Dân trí: “Việc lựa chọn từ khóa dựa vào nội dung của sự kiện và
mức độ quan tâm của độc giả. Từ khóa phải có liên hệ mật thiết, đại diện tiêu
biểu cho sự kiện. Phóng viên, biên tập viên thường dựa vào những tác phẩm
có chủ đề liên quan tới tác phẩm mình đang tiến hành SEO. Tác phẩm nào có
nhiều lượt xem của độc giả thì phóng viên, biên tập viên sẽ dựa vào những từ
khóa của bài đó để đặt từ khóa phù hợp cho tác phẩm của mình. Ngay cả
những dòng bình luận của độc giả cũng có thể giúp cho việc lựa chọn từ khóa
vì phóng viên, biên tập viên biết được công chúng đang quan tâm tới vấn đề
gì và đang gọi sự kiện với từ khóa phổ biến nào” [PL7, tr.131]. Báo
VietNamNet thì tùy vào từng ban mà số lượng từ khóa trong tag sẽ khác nhau
và việc tiến hành SEO cũng có những điểm khác biệt. Nhưng nhìn chung
thông thường mỗi tác phẩm, phóng viên sẽ chèn 2 đến 10 từ khóa đặc trưng,
thể hiện nội dung chủ yếu nhất của tác phẩm. Đối với yêu cầu trong việc lựa
chọn từ khóa, nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng biên tập báo VietnamPlus cũng
cho biết: “Phóng viên, biên tập viên được yêu cầu chú trọng đến các từ khóa
thuộc loại “long tail” (từ khóa dài) để giảm tính cạnh tranh và đạt hiệu quả
cao hơn. Có những loại từ khóa đang phổ biến thì cần lưu ý, nhưng cũng cần
biết đặt ra những từ khóa khác biệt…” [PL4, tr.122]
Tít của tác phẩm được yêu cầu phải chính xác, cô đọng, có độ dài tối
đa không quá 14 từ. Tít không nên mang hơi hướng văn chương, chơi chữ
mà cần đơn giản, gần gũi với công chúng. Từ khóa cần xuất hiện trong tít.
Đối với những sự kiện kéo dài, có nhiều tác phẩm nối tiếp nhau, phóng viên,
biên tập viên thường lựa chọn một từ khóa chính cố định ở đầu tít cho tất cả
các tác phẩm của sự kiện. Phần sapô phải tóm tắt được nội dung chính của
tác phẩm. Độ dài của sapô không quá 58 từ và nên chứa từ khóa chính.
85
Đối với chính văn, ngoài việc phản ánh cô đọng nội dung với cách diễn
đạt phong phú, hấp dẫn, chính văn của tác phẩm báo điện tử cũng yêu cầu
phải có xuất hiện các từ khóa chính. Theo anh Chu Mạnh Hải, Thứ ký toàn
soạn báo Dân trí: “Mật độ từ khóa trong chính văn cũng được quan tâm,
thường ưu tiên từ khóa chính ở những vị trí đầu tác phầm. Chú thích ảnh
cũng được hướng vào việc tìm kiếm hiệu quả, cần nêu rõ thời gian, địa điểm,
nguồn ảnh rõ ràng.” [PL5, tr.126]
Số lượng liên kết chèn dưới sapô của mỗi tác phẩm thường là 3 liên
kết. Đó là liên kết tới các tác phẩm cùng tác giả, hai là liên kết tới các tác
phẩm có cùng chủ đề. Liên kết chèn dưới sapô của tác phẩm thường là liên
kết tới những tác phẩm có cùng nội dung liên quan. Dân trí không chèn quá
nhiều liên kết vào tác phẩm vì nó sẽ gây rối mắt với độc giả và thực tế hệ
thống CMS cũng giới hạn số lượng liên kết chèn trong một tác phẩm.
Đối với việc tối ưu hóa hình ảnh, trong phần chú thích ảnh, các báo
không bắt buộc phải chèn từ khóa nhưng nội dung chú thích phải phản ánh
được nội dung bức ảnh. Riêng đối với các chùm ảnh, phóng sự ảnh thì phải
có từ khóa trong chú thích ảnh.
Tóm lại, những thành công kể trên đến từ việc nhiều báo điện tử đã
thấy được vai trò của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện
tử. Các báo này đã bắt đầu thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google
thông qua bộ phận kinh doanh, bộ phận kỹ thuật của báo hoặc thuê công ty
SEO, kỹ thuật SEO hay đào tạo, hướng dẫn cho phóng viên, biên tập viên
các cách thức tối ưu hóa.
Nhiều báo điện tử đã từng tổ chức các khóa đào tạo SEO cho một số
lượng phóng viên, biên tập nhất định. Các khóa đào tạo này do các chuyên
gia của các công ty SEO chuyên nghiệp giảng dạy. Ví dụ như các báo
VietNamNet, VTC, Thể thao 24h, Giaoduc.net, VTC News đã thuê công ty
86
SEO tổ chức chương trình đào tạo Seomind cho Phóng viên, Biên tập viên.
Báo điện tử Người Đưa Tin, Báo điện tử Tiền Phong Online cũng đã thuê
công ty chuyên về SEO đào tạo cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Năm
2013, báo điện tử VnMedia cũng đã có buổi chia sẻ, hướng dẫn và đào tạo
SEO cho hơn 20 phóng viên và biên tập viên. Việc tham gia các khóa đào
tạo giúp phóng viên, biên tập viên của các báo điện tử có nhận thức cơ bản
về cách thức tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google và bước đầu áp dụng cho
tác phẩm báo điện tử của đơn vị mình.
Hệ thống quản trị nội dung (Content Management System – CMS)
của một số báo điện tử đã tích hợp tính năng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Google. Một phần công việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google có thể tự
được tự động thực hiện nhờ tính năng này như: tối ưu hóa đường dẫn URL,
gợi ý các từ khóa đặc trưng cho một bài báo, đánh giá chất lượng nội dung
trên khía cạnh đáp ứng SEO. Các phóng viên, biên tập viên có thể tiến hành
SEO cho các tác phẩm báo điện tử với các thao tác đơn giản, thân thiện của
hệ thống.
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Những tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, tác phẩm báo điện tử chưa thực sự ứng dụng hiệu quả và
dành sự quan tâm đúng mức cho tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Một số lượng không nhỏ các báo điện tử đã ứng dụng tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm Google cho tác phẩm của mình nhưng hiệu quả không cao. Biểu
hiện là phần lớn các báo điện tử ít có thứ hạng cao trên bảng kết quả tìm kiếm
Google. Không cần phải là một chuyên gia trong lĩnh vực SEO, người dùng
công cụ tìm kiếm thường xuyên cũng có thể dễ dàng nhận ra điều này.
Qua khảo sát, tác giả luận văn nhận thấy số lần các báo điện tử có tác
phẩm xuất hiện ở 3 vị trí đầu tiên của bảng kết quả tìm kiếm là khá ít, mặc dù
87
đây là những vị trí chiếm số lượt click lớn nhất của người dùng. Thậm chí,
những báo điện tử thường xuyên có vị trí cao trên bảng kết quả tìm kiếm cũng
không ít lần bị tụt hạng hoặc có khi không có tác phẩm nào xuất hiện trên 3
trang đầu của bảng kết quả. Việc ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Google không hiệu quả làm lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc của cơ quan
báo điện tử. Sự lãng phí bắt nguồn từ khâu chuẩn bị, trong quá trình ứng dụng
SEO, đến việc bỏ lỡ những cơ hội gia tăng lượng truy cập, gia tăng uy tín và
khả năng cạnh tranh cho cơ quan báo điện tử.
Một số vấn đề về tối ưu hóa vẫn chưa được quan tâm và tiến hành hiệu
quả. Cụ thể là chưa quan tâm đến độ dài của tít, sapô; vấn đề tối ưu hóa hình
ảnh chưa được chú trọng; liên kết thiếu đa dạng; chưa tận dụng triệt để trang
fanpage để quảng bá tác phẩm.
Tít và sapô của tác phẩm đôi khi có độ dài quá lớn khiến chúng bị cắt
trên bảng kết quả tìm kiếm của Google. Điều này ảnh hưởng tới khả năng tiếp
nhận thông tin của công chúng. Vì họ không đọc được hết nội dung thông tin
chứa trong tít, sapô, đôi khi đó là những thông tin chính, quan trọng. Sapô của
một số tác phẩm không thân thiện với người dùng khi cố lặp lại nhiều lần từ
khóa. Ví dụ như những phần mô tả chứa cả tít của tác phẩm hay phần mô tả
dòng sự kiện, tag của Dân trí. Mặc dù cách này giúp gia tăng mức độ liên
quan của tác phẩm với từ khóa tìm kiếm những chúng lại không đem đến
thông tin mới cho công chúng.
Việc chèn từ khóa vào tít phụ và từ in đậm, in nghiêng trong phần
chính văn của tác phẩm vẫn chưa được quan tâm. Dĩ nhiên, không phải bất cứ
tít phụ, phần chữ nào cũng có thể tùy tiện chèn từ khóa, in nghiêng, in đậm.
Những rõ ràng các tác phẩm báo điện tử hiện nay vẫn chưa tận dụng được
những yếu tố này để giúp cho tác phẩm được tối ưu hóa hơn.
88
Các tác phẩm báo điện tử sử dụng hình ảnh, video để làm tăng sức hấp
dẫn, thuyết phục. Tuy nhiên, việc tối ưu hóa các thành phần này vẫn chưa
thực sự hiệu quả. Thực tế là chỉ có 9/39 phóng viên, biên tập viên được hỏi
quan tâm tới vấn đề tối ưu hóa hình ảnh. Thẻ mô tả, tên ảnh và vị trí đặt ảnh
chưa thực sự giúp công cụ tìm kiếm hiểu được nội dung của hình ảnh, video.
Từ khóa, tít bài đa phần vẫn chưa được sử dung trong thẻ mô tả ảnh, tên ảnh.
Vị trí của những bức ảnh, video vẫn chưa được xem xét một cách hợp lý. Có
những bức ảnh, video đứng ngay sau tít, hoặc cuối tác phẩm. Những phần văn
bản trước, sau, hai bên không có hoặc không chứa từ khóa, từ khóa liên quan
để đủ sức hỗ trợ Google hiểu nội dung ảnh, video.
Các dạng liên kết trong tác phẩm chủ yếu là liên kết dạng tít của tác
phẩm khác nằm dưới phần sapô của tác phẩm hoặc trong phần “tin liên quan”,
hoặc “theo dòng sự kiện” ở chân tác phẩm. các liên kết dạng chữ nằm trong
phần chính văn của tác phẩm vẫn chưa được ý thức sử dụng để làm gia tăng
sự phóng phú, đa dạng của các dạng liên kết. Sự đa dạng trong chèn liên kết
cũng sẽ là một thành phần được Google đánh giá cao. Kết quả điều tra xã hội
học bằng bảng hỏi do tác giả luận văn tiến hành cũng cho thấy chỉ có 12/39
phóng viên, biên tập viên quan tâm tới vấn đề tối ưu hóa liên kết.
Mặc dù các báo điện tử được khảo sát có lập các trang fanpage trên
mạng xã hội facebook nhưng những trang fanpage này chưa đạt hiệu quả cao
trong việc quảng bá tác phẩm. Đối với Dân trí, hiện nay Dân trí có khá nhiều
trang fanpage khác nhau, số lượng các thành viên của các trang fanpage này
còn khá ít, lượng chia sẻ các tác phẩm cũng không nhiều. Thậm chí có những
trang fanpage đã ngừng chia sẻ tin bài từ năm 2012. Dân trí có nhiều trang
fanpage dành riêng cho các chuyên mục: chuyên mục Công nghệ thông tin
khoa học của báo Dân trí https://facebook.com/sucmanhsodantri có hơn 35
nghìn thành viên; trang Nhật ký radio https://facebook.com/nhatkyradio có
89
hơn 6 nghìn thành viên. Ngoài ra Dân trí còn có một số trang facebook khác
như https://facebook.com/baodantri có chia sẻ mới nhất vào năm 2012; Hiện
tại theo kết quả search google cho từ khóa “fanpage dân trí” thì fangage
https://facebook.com/baodantridientu là fanpage có nhiều thành viên nhất
(>100 nghìn thành viên) và có mức độ cập nhật các chia sẻ gần nhiều nhất
(thông tin đến ngày 25/2/2016). Sự xuất hiện của quá nhiều trang fanpage sẽ
làm cho công chúng khó phân biệt, các trang phải chia sẻ số lượng các thành
viên tham gia. Số lượng chia sẻ, bình luận, thích đối với mỗi tác phẩm được
đăng tải trên facebook vì thế cũng rất ít.
Trang fanpage của VietnamPlus https://facebook.com/VietnamPlus và
của VietNamNet https://facebook.com/www.VietNamNet.vn đều có số bài
được chia sẻ khá nhiều nhưng số tác phẩm được thích, chia sẻ, bình luận lại
khá ít. Bên cạnh đó, số tin bài được chia sẻ trên facebook thiếu đi sự chọn lọc
và tính quy luật. Có ngày số lượng tin bài được chia sẻ nhiều nhưng có ngày
không chia sẻ bất kỳ tin bài nào. Dĩ nhiên không phải bất kỳ tác phẩm nào
đăng tải trên báo đều được chia sẻ trên fanpage. Nhưng việc thiếu chọn lọc và
chia sẻ không liên tục sẽ làm giảm đi sức hấp dẫn, lôi cuốn với cộng đồng
mạng. Vì thế các tác phẩm được chia sẻ trên trang fanpage sẽ nhận được ít sự
quan tâm của thành viên hơn. Thậm chí có những tác phẩm được chia sẻ trên
trang fanpage của VietNamNet không nhận được bất kỳ lượt thích, chia sẻ,
bình luận nào. Ví dụ như tác phẩm “Chủ tịch Thanh Hóa hứa xử lý vụ “chôn
hóa chất”” được chia sẻ trên facebook của VietNamNet vào ngày 27/9/2013,
tác phẩm “Chân dung “góa phụ đen” đánh bom đẫm máu tại Nga” được chia
sẻ ngày 30/12/2013, tác phẩm “Phát hiện thi thể đã chết 3 ngày trong phòng
trọ ở Đồng Nai” chia sẻ trên facebook vào ngày 22/1/2014 đều không nhận
được bất kỳ lượt thích, chia sẻ, bình luận nào.
90
Các Fanpage của các trang báo còn chưa được quan tâm đúng mức, nội
dung đăng tải trên các fanpage vẫn chỉ là các thông tin chia sẻ như cá nhân
thông thường, chưa hướng đến mục đích để quảng bá, giới thiệu tác phẩm.
Theo dòng thời gian, các nội dung trên các fanpage đã có tính định hướng hơn
tuy nhiên vẫn chưa phát huy được vai trò to lớn của Facbook trong việc quảng
bá các tác phẩm của báo điện tử.
Hình 2.11 Một số nội dung được chia sẻ không có định hướng cụ thể
Cũng cần kể đến việc phần lớn các URL vẫn còn khá dài khiến nó bị
phá vỡ trên bảng kết quả tìm kiếm của Google. Vì URL là một trong những
thành phần hiển thị trên bảng kết quả tìm kiếm. Do đó nó cần phải được tiến
hành tối ưu để xuất hiện ngắn gọn hơn, đem đến nhiều thông tin hơn cho công
chúng.
Thứ hai, giảm khả năng cạnh tranh của báo điện tử
Cơ quan báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cho
tác phẩm không hiệu quả dẫn đến việc các trang báo này thiếu khả năng cạnh
tranh với các trang thông tin điện tử phù hợp. Có rất nhiều trang thông tin
91
điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm Google một cách khá hiệu quả, theo tìm hiểu của tác giả luận văn, các
trang 24h.com.vn, vietbao.vn, eva.vn tiến hành SEO cho gần như 100% các
tác phẩm, các trang này đều có bộ phận SEO và đội ngũ biên tập viên đều có
thể áp dụng SEO và luôn được nhắc nhở về tầm quan trọng của SEO. Điều
này giúp các trang này chiếm được những vị trí đầu trên bảng kết quả tìm
kiếm của Google. Người dùng có thể dễ dàng nhận thấy, những trang thông
tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp thường xuyên có thứ hạng cao
trên bảng kết quả tìm kiếm như baomoi.com, 24h.com.vn, vietbao.vn,..
Thực trạng đạo báo, vi phạm bản quyền đã làm cho các tác phẩm báo
điện tử bị đăng lại ở nhiều trang web khác. Theo chuyên gia SEO Hà Anh
Tuấn, Giám đốc Công ty cổ phần truyền thông Vinalink: “Một số trang tổng
hợp thông tin tự động như baomoi.com có khả năng làm SEO tốt hơn nhiều so
với các báo điện tử. Vì thế nhiều tác phẩm vừa mới được xuất bản trên báo
điện tử nhưng khi tìm kiếm với Google, những tác phẩm đó lại nằm trên
baomoi.com và nhiều khi có thứ hạng cao hơn so với tác phẩm gốc.” [PL3,
tr.118] Theo thống kê trong 3 tháng, từ tháng 12/2015 đến 2/2016 của
baomoi.com thì các báo điện tử luôn có số lượng tác phẩm bị đăng lại nhiều
lần như Dân Việt, Zing, VietnamPlus, Tiền Phong... Trong đó, VietnamPlus
có 7155 bài bị đăng lại, VietNamNet có 4255 tin bị đăng lại.
92
Nguồn: http://www.baomoi.com/Statistics/Report.aspx (ngày 25/2/2016)
Hình 2.12 Top 10 báo có số tin bài bị đăng lại nhiều nhất trên baomoi.com
Hạn chế trong ứng dụng SEO Google của các báo điện tử khiến công
chúng phải nhấp chuột vào trang thứ 2, thứ 3 thậm chí nhiều trang sau của
bảng kết quả tìm kiếm mới có thể tìm thấy tác phẩm báo điện tử. Điều này
làm giảm đáng kể khả năng lựa chọn truy cập của công chúng đối với các báo
điện tử.
Thứ ba, các tác phẩm báo điện tử hay khó hoặc thậm chí không tiếp
cận được với công chúng
Rõ ràng các báo điện tử có ưu thế lớn về mặt nội dung và khả năng cập
nhật thông tin, Nhưng việc nhiều báo điện tử không ứng dụng SEO hoặc ứng
dụng không hiệu quả khiến các báo điện tử này chưa tận dụng được những ưu
thế vốn có của mình. Không xuất hiện trên bảng kết quả tìm kiếm có nghĩa là
những tác phẩm báo điện tử hay, chất lượng không đến được với công chúng.
Điều này không những làm lãng phí công sức của đội ngũ sáng tạo tác phẩm
báo điện tử mà còn không đem lại lợi ích cho công chúng.
93
2.3.2.2. Một số nguyên nhân dẫn tới các tồn tại ở trên
Cơ quan báo điện tử chưa nhận thức một cách đúng đắn về tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử.
Nguyên nhân trước hết xuất phát từ chính bản thân cơ quan báo điện tử.
Nhiều cơ quan báo điện tử chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử, chưa thấy được ý
nghĩa đích thực của SEO trong việc gia tăng lượng truy cập, khả năng cạnh
tranh của tờ báo. Đồng thời cơ quan báo điện tử cũng không thấy rõ điều kiện
thuận lợi, ưu thế nổi trội về mặt nội dung của báo điện tử đối với việc áp dụng
SEO.
Điều này dẫn đến việc các cơ quan báo điện tử này chưa áp dụng SEO
hoặc chưa đầu tư thời gian, công sức đúng mức cho việc ứng dụng SEO cho
báo điện tử. Lưu lượng truy cập chủ yếu của các tờ báo này đến từ việc truy
cập trực tiếp của công chúng hoặc truy cập gián tiếp qua các website trung
gian. Trong một khoảng thời gian ngắn với lượng công chúng trung thành
tương đối ổn định, nhiều báo điện tử vẫn sẽ duy trì tốt lượng truy cập mà chưa
cần quan tâm tới SEO. Nhưng trước thực tế cạnh tranh khốc liệt và xu hướng
tìm kiếm thông tin qua công cụ tìm kiếm ngày càng tăng, trong tương lai
không xa, những trang báo này sẽ bị giảm lượng truy cập. Bởi việc các cơ
quan báo điện tử này xuất hiện ở những vị trí đầu trên bảng kết quả tìm kiếm
là không thể. Có thể hiểu là các trang này “mất hút” trên bảng kết quả tìm
kiếm Google, người dùng không thể tìm thấy các trang báo này để truy cập
vào. Điều này sẽ gây ra nhiều khó khăn cho cơ quan báo điện tử, đặc biệt là
những cơ quan báo điện tử chưa thực sự xây dựng được chỗ đứng trong lòng
công chúng, chưa được nhiều người biết đến. Do đó, những báo điện tử này
sẽ không thể thu hút một lượng lớn công chúng truy cập, mất cơ hội tăng khả
năng cạnh tranh và gia tăng uy tín.
94
Áp dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm một cách không phù hợp
Trên thực tế có những báo điện tử áp dụng SEO một cách rập khuôn
theo cơ quan báo khác mà không tìm cách ứng dụng phù hợp với đặc điểm,
phong cách riêng của sản phẩm báo chí của tờ báo mình. Một điều không thể
phủ nhận là có những cách thức cơ bản để ứng dụng SEO nhưng việc áp dụng
chúng như thế nào vào thực tế ở mỗi nơi lại không giống nhau. Vì tôn chỉ,
cách thức sản xuất tin bài, đặc điểm, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật, nguồn
nhân lực mỗi nơi mỗi khác. Do đó, cách ứng dụng rập khuôn, máy móc, ứng
dụng một cách hời hợt sẽ không đem lại hiệu quả lâu dài cho cơ quan báo
điện tử. Đối với một tác phẩm báo điện tử nói riêng, đó có thể là kiểu áp dụng
một cách máy móc khi chọn từ khóa chính, chỗ đặt từ khóa, cách đặt tít, viết
sapô giống như một tác phẩm khác có cùng đối tượng phản ánh. Điều này sẽ
làm giảm khả năng cạnh tranh của tác phẩm.
Thiếu hợp lý trong phân công, phối hợp giữa các thành viên của cơ
quan báo điện tử
Sự phân công giữa các thành viên đối với việc tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm cho báo điện tử còn chưa rõ ràng. Kết quả điều tra xã hội học cho bằng
bảng hỏi cho thấy có 7/39 phóng viên, biên tập viên cho rằng đây là nguyên
nhân dẫn đến những hạn chế trên. Các thành viên trong cơ quan báo điện tử
chưa nắm rõ trách nhiệm của mình trong quy trình tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm. Nhiều cơ quan báo điện tử cũng chỉ dừng lại ở việc khuyến khích
phóng viên, biên tập viên áp dụng những cách thức SEO cho báo điện tử mà
không có các chế tài nếu phóng viên, biên tập viên không thực hiện hoặc làm
SEO chưa đúng. Do đó, quá trình tối ưu hóa công cụ tìm kiếm không được
tiến hành một cách đồng bộ, trơn tru.
Đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo điện tử chưa có nhận thức đúng đắn,
thiếu hiểu biết căn bản và kỹ năng cần thiết về SEO
95
Một bộ phận đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo điện tử chưa có nhận thức
rõ ràng về SEO và ứng dụng SEO cho báo điện tử. Vẫn có trường hợp phóng
viên, biên tập viên không biết đến SEO (5 trên tổng số 39 người). Có nhiều
trường hợp phóng viên, biên tập viên dù biết đến SEO nhưng lại đánh đồng
các cách thức SEO với việc lựa chọn từ khóa trong chèn tag.
Theo nhận xét của chuyên gia SEO Hà Anh Tuấn, Giám đốc Công ty
cồ phẩn truyền thông Vinalink: “Những người làm báo điện tử thiếu đi sự
quan tâm với lĩnh vực SEO. Gần đây, sự phổ biến của các kỹ thuật SEO khiến
những người làm báo điện tử cũng quan tâm tới vấn đề này, tuy nhiên chưa
nhiều. Những người làm báo điện tử không thực sự am hiểu về cách viết nội
dung để đáp ứng tốt nhất với công cụ tìm kiếm. Họ thường chú trọng diễn đạt
nội dung theo văn phong của mình mà quên đi các biện pháp, các tính toán cụ
thể trong việc kết hợp từ ngữ để gia tăng sức cạnh tranh cho nội dung của
mình trên internet.” [PL3, tr.118]
Đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo điện tử không hiểu rõ cơ chế tìm kiếm
của công cụ tìm kiếm Google, chưa hiểu đúng và nắm rõ cách thức tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm Google cho tác phẩm báo điện tử (20/39 người). Đồng thời,
thiếu sự phân tích, áp dụng một cách logic các cách thức SEO, thiếu sự kết
hợp, hỗ trợ giữa các kỹ năng SEO với các kỹ năng sẵn có của người làm báo
điện tử. Nhiều phóng viên, biên tập viên chỉ nắm một cách mơ hồ, chung
chung về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google, áp dụng một số thao tác cụ thể
về tối ưu hóa tít, tối ưu hóa sapô một cách máy móc mà chưa có sự tìm tòi,
sáng tạo.
Phóng viên, biên tập viên báo điện tử luôn có tâm lý cho rằng tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm chủ yếu thiên về kỹ thuật và là công việc của kỹ thuật
viên hoặc bộ phận SEO (20/39 người), do đó, phóng viên, biên tập viên báo
96
điện tử không dành nhiều thời gian tìm hiểu cách thức tối ưu hóa để áp dụng
vào quá trình sáng tạo tác phẩm báo điện tử.
Khâu đào tạo còn thiếu và chưa thực sự chất lượng
Nguyên nhân khách quan không kém phần quan trọng là vấn đề về đào
tạo. Có thể nói hiện tại các lớp đào tạo, những khóa học SEO của các công ty
chuyên về SEO, các trung tâm chuyên giảng dạy SEO chủ yếu không phân
biệt đối tượng. Điều này có nghĩa là hầu như chưa có những lớp đào tạo thực
sự chỉ dành riêng cho những người làm báo điện tử. Những phóng viên, biên
tập viên muốn tự nâng cao hiểu biết cho bản thân thì việc tìm kiếm những
khóa đào tạo dành riêng cho báo điện tử là khá khó khăn.
Mặc dù các cơ quan báo điện tử đã từng tiến hành các khóa đào tạo bài
bản về SEO nhưng số lượng phóng viên, biên tập viên được tham gia các
khóa đào tạo này không nhiều. Theo kết quả điều tra bằng bảng hỏi dành cho
đội ngũ sáng tạo tác phẩm tại 3 tờ báo được khảo sát, có tới 34/39 trường hợp
chưa từng được đào tạo về SEO. Hiện tại, việc đào tạo cho phóng viên, biên
tập viên về SEO vẫn chủ yếu là qua chia sẻ kinh nghiệm giữa các đồng
nghiệp trong cơ quan. Cách làm này chưa đi vào thực chất mà mới chỉ dừng
lại ở những thao tác tối ưu hóa cụ thể. Vì thế, người làm báo điện tử nắm bắt
khá mơ hồ, chung chung, không hiểu được bản chất của SEO.
Vấn đề tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cũng không được đề cập trong nội
dung giảng dạy của chuyên ngành báo điện tử tại các trường đào tạo về báo
chí. Do đó, sinh viên báo chí, đặc biệt là sinh viên báo điện tử không có bất
kỳ khái niệm nào về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm hoặc nếu có tự tìm hiểu thì
nhận thức cũng khá mơ hồ. Điều này sẽ gây khó khăn cho sinh viên khi tác
nghiệp trong thực tế.
Thêm vào đó, nguồn tài liệu tiếng việt về SEO dành riêng cho báo điện
tử về SEO còn rất hạn chế. Trên những diễn đàn về SEO cũng cung cấp
97
những tài liệu dịch từ tài liệu nước ngoài hoặc những tài liệu này không được
xây dựng một cách hệ thống, nhiều vấn đề có những ý kiến trái chiều. Vì vậy,
nếu các phóng viên,biên tập viên chưa có kiến thức căn bản về tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm khi tiếp cận với những tài liệu này sẽ rất khó khăn để hiểu
một cách cặn kẽ và kiến thức thu được cũng khá “tủn mủn”. Tài liệu nước
ngoài về SEO khá phong phú. Nhưng những tài liệu về SEO dành riêng cho
báo điện tử được biên tập một cách hệ thống vẫn chưa có nhiều. Phần lớn
những tài liệu đề cập đến vấn đề này mới chỉ dừng lại ở những bài viết chia sẻ
kinh nghiệm, những nghiên cứu do cá nhân thực hiện. Đối với những phóng
viên, biên tập viên có vốn ngoại ngữ tốt thì đây là nguồn tài liệu rất hữu ích.
Tuy nhiên các tài liệu này sử dụng tương đối nhiêu thuật ngữ chuyên ngành
và các ví dụ, phân tích dựa tên đặc điểm công chúng, sự kiện báo chí tại nước
bản địa nên ít nhiều sẽ gây khó khăn cho người tiếp cận.
98
Tiểu kết Chƣơng 2
Trong chương 2, tác giả luận văn đã khảo sát thực trạng tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm trên ba báo điện tử Dân trí, VietNamNet, VietnamPlus.
Thực trạng khảo sát đã cho thấy các báo điện tử đã bước đầu dành sự quan
tâm, đầu tư cho SEO và đạt được những thành công nhất định như: tăng thứ
hạng tác phẩm báo điện tử trên bảng kết quả Google nhờ áp dụng cách thức
SEO linh hoạt, độc đáo; tăng lượng truy cập và gia tăng uy tín cho tờ báo;
tạo thói quen, kỹ năng tác nghiệp mới cho đội ngũ những người làm báo
điện tử. Bên cạnh đó, những hạn chế trong việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
cho các tác phẩm báo điện tử cần phải nhắc đến là: tác phẩm báo điện tử
chưa ứng dụng hiệu quả và dành sự quan tâm đúng mức cho cách thức SEO;
giảm khả năng cạnh tranh của báo điện tử, các tác phẩm hay không đến được
với công chúng.
Những hạn chế còn tồn tại bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản
là: cơ quan báo điện tử chưa nhận thức một cách đúng đắn về tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử; Áp dụng tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm một cách không phù hợp; Thiếu hợp lý trong phân công công việc,
phối hợp giữa các thành viên của cơ quan báo điện tử; Đội ngũ sáng tạo tác
phẩm báo điện tử chưa có nhận thức đúng đắn, thiếu hiểu biết căn bản và kỹ
năng cần thiết; Khâu đào tạo còn thiếu và chưa thực sự chất lượng.
Chương 2 mang đến cho người đọc cái nhìn cơ bản về thực trạng ứng
dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử. Dựa trên
thực trạng này, tác giả luận văn sẽ đề cập đến những giải pháp nâng cao hiệu
quả tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử ở chương 3.
99
CHƢƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO TỐI ƢU HÓA CÔNG CỤ TÌM KIẾM CHO CÁC
BÁO ĐIỆN TỬ
3.1. Những vấn đề đặt ra
3.1.1. Báo điện tử chƣa thực sự khai thác hiệu quả việc sử dụng SEO cho
các tác phẩm của mình
Việc báo điện tử ứng dụng SEO cho tác phẩm đã trở thành một xu
hướng của báo chí thế giới nhưng nhiều báo điện tử việt Nam vẫn chưa bắt
kịp được với xu hướng này. SEO đã trở nên phổ biến đối với các báo điện tử
trên thế giới nhiều năm qua. Thậm chí, một thuật ngữ cũng đã được đưa ra để
định danh báo điện tử có ứng dụng SEO là Newspaper SEO (Báo SEO). Nhận
thức được tác động tích cực của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, những báo điện
tử hàng đầu thế giới đều có đội ngũ SEO và hỗ trợ phóng viên, biên tập viên
của họ về những cách thức, thao tác SEO cho tác phẩm. Theo nghiên cứu
“Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trong sản xuất tin tức ở Anh” của Murray Dick
xuất bản trực tuyến năm 2011 bởi Taylor & Francis Online, nhiều tổ chức tin
tức trực tuyến hàng đầu của Anh hiện đang thuê các chuyên gia SEO: The
Telegraph có một bộ phận tiến hành SEO từ năm 2010; tờ Daily Mail bổ
nhiệm người quản lý SEO từ tháng 7/2008, trong đó có: Paul Roach (người có
nền tảng kỹ thuật) giữ chức lãnh đạo kỹ thuật SEO, SEO thương mại và Chris
Moran (người có nền tảng biên tập) giữ chức SEO điều hành biên tập, thư ký
tòa soạn. [54]
Những báo điện tử nổi tiếng thế giới đã tiến hành ứng dụng SEO có thể
kể đến như: BBC News Online, New York Times, The Guardian, The
Financial Times, The Economist, The Telegraph,… Cách thức mà các báo
điện tử trên thế giới ứng dụng SEO cho tác phẩm cũng không nằm ngoài
100
những cách thức cơ bản là nghiên cứu từ khóa, tối ưu hóa nội dung và quảng
bá tác phẩm.
Vào cuối năm 2009, BBC News Online đã công bố đầu tư nhiều hơn
vào SEO. Dĩ nhiên, trước đó những người phụ trách đăng ký nội dung của
BBC với công cụ tìm kiếm và những người làm SEO tại BBC từ đầu những
năm 2000 cũng nỗ lực để BBC News Online có những vị trí tốt hơn trên bảng
kết quả tìm kiếm. Chiến lược SEO của BBC News Online tập trung vào việc
đưa các từ khóa vào nội dung để khiến cho bài báo có thứ hạng cao hơn trên
bảng kết quả tìm kiếm. Nhóm SEO của BBC News Online đã đặt ra những
điểm lưu ý cho phóng viên, biên tập viên khi tối ưu hóa tít cho tác phẩm. Đó
là sử dụng các từ mà mọi người sẽ dùng để tìm kiếm thông tin; đưa các yếu tố
có khả năng được tìm kiếm nhiều nhất lên phía trước; tên riêng thường được
sử dụng để tìm kiếm, vì vậy tên riêng nên xuất hiện trong tít và nên để lên
phía trước. Theo nghiên cứu “Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trong sản xuất tin
tức ở Anh” của Murray Dick xuất bản trực tuyến năm 2011 bởi Taylor &
Francis Online: từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010, khoảng 600 phóng viên
BBC đã được đào tạo cơ bản về lý thuyết và thực hành SEO. Giữa tháng
8/2010, BBC News Online cũng đã tiến hành thay đổi thẻ mô tả. Số lượng các
liên kết trở về website cao và ổn định theo thời gian cũng là yếu tố quan trọng
khiến công cụ tìm kiếm tin tưởng nội dung của BBC News Online và xếp
hạng BBC News Online cao. [54] SEO đã thực sự đemlại hiệu quả cho BBC
News Online. Theo Martin Asser, một trong những nhà báo chuyên gia SEO
đầu tiên của BBc công bố trong bài viết “Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trong
BBC News” ngày 6/9/2012 trên trang blog của BBC: Trước khi SEO, đồ thị
lưu lượng truy cập là tương đối bằng phẳng, ngay sau khi BBC News bắt đầu
tối ưu hóa, các đồ thị bắt đầu leo lên và tiếp tục xu hướng tăng. So sánh số
liệu trước khi SEO và nửa đầu năm 2011, sau khi tiến hành SEO, lưu lượng
101
truy cập vào BBc News Online từ công cụ tìm kiếm tăng 57% và tổng lượng
truy cập tăng 34%. [51]
The New York Times cũng có một chiến lược SEO, hoạt động dựa trên
khuyến cáo của các công cụ tìm kiếm kết hợp với kiến thức nội bộ của New
York Times về độc giả và các chủ đề. SEO là một trong những yếu tố làm nên
thành công trong tiếp thị nội dung của New York Times. Theo một số báo
cáo, với việc tiến hành SEO, New York Times ngay lập tức đã tăng được
lượng truy cập từ công cụ tìm kiếm lên tới 52%. New York Times tiến hành
SEO đối với công tác biên tập và kỹ thuật. Tờ báo này đào tạo những người
thực hiện SEO trên toàn bộ hệ thống để tận dụng kiến thưc chuyên môn nội
bộ. Việc phân cấp quản lý của chiến lược SEO là một cách tiếp cận hiệu quả
của News York Times vì nó giúp tận dụng mọi nguồn lực của tờ báo trong
tiến hành SEO. Tăng cường quảng bá tác phẩm cũng được coi là một thành
công của News York Times. Tờ báo này đã biết tận dụng lợi ích của trang
mạng xã hội cũng như hình thức gửi mail tự động. Tờ The News York Times
đã có được 6,5 triệu độc giả bằng email. Đây cũng là cách thức được nhiều
báo điện tử sử dụng như The Atlantic và Politico. Trang Facebook của The
Economist có một lượng theo dõi lớn và tờ báo thường xuyên sử dụng mạng
xã hội này để quảng bá các tác phẩm bất cứ khi nào có thể.
CNN cũng có riêng một đội ngũ SEO cho website. Bộ phận SEO của
CNN làm việc với đội ngũ thiết kế và phát triển để đảm bảo rằng trang web
được xây dựng và mã hóa theo cách mà công cụ tìm kiếm có thể dễ dàng đọc
được. Bộ phận SEO của CNN cũng phối hợp với các phóng viên, biên tập
viên để giúp họ biết những xu hướng tìm kiếm hiện tại và những thay đổi
trong hành vi tìm kiếm của người dùng. Từ đó, phóng viên, biên tập viên có
thể tự tiến hành tối ưu hóa tác phẩm của mình.
102
Trả lời phỏng vấn sâu của tác giả luận văn, chuyên gia SEO Hà Anh
Tuấn cho biết: “Việc ứng dụng SEO trên bất cứ hệ thống website nào, không
chỉ với báo điện tử, là xu hướng tất yếu. Hiện tại, trên thế giới, việc ứng dụng
kỹ thuật này với báo điện tử đã trở nên rất phổ biến. Người ta không chỉ ứng
dụng nó với các mô hình website trên máy tính thông thường mà còn áp dụng
trên website dành cho các thiết bị di động, thiết bị hiển thị thông minh và cả
các phương pháp tối ưu dành cho độc giả theo các vị trí địa lý khác nhau.”
[PL3, tr.118]
Tại Việt Nam, báo điện tử cũng đã bước đầu ứng dụng SEO nhưng vẫn
chưa bắt kịp được với sự phát triển của báo điện tử thế giới. Việc tìm hiểu,
tổng kết kinh nghiệm của các báo điện tử thế giới vẫn chưa được báo điện tử
nước ta quan tâm đúng mức. Do đó, báo điện tử Việt Nam cần chú ý tới vấn
đề này để có thể bắt kịp được với sự phát triển không ngừng của lĩnh vực này
trên thế giới trong thời gian tới.
3.1.2. Các tác phẩm báo điện tử lạm dụng quá nhiều việc sử dụng SEO
Một số báo điện tử, trang thông tin điện tử coi việc ứng dụng tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm là “chiếc chìa khóa vạn năng” làm gia tăng lợi nhuận. Biểu
hiện có thể kể đến là “nhồi nhét” từ khóa, tạo spam liên kết trỏ về, chèn quá
nhiều liên kết trong tác phẩm. Trong đó,việc ảnh hưởng nhiều nhất tới chất
lượng tác phẩm là cố gắng chèn nhiều từ khóa vào tất cả các thành phần của
tác phẩm. Nó gây ra hiện tượng lặp từ, khiến cho câu văn trở nên khô cứng,
diễn đạt không rõ ý, thậm chí là phá vỡ cấu trúc thông tin của tác phẩm. Điều
này gây khó khăn cho việc tiếp nhận thông tin của công chúng, tạo cảm giác
mệt mỏi, nhàm chán cho công chúng. Công chúng sẽ nhanh chóng thoát ra
khỏi trang web và như vậy tác phẩm không đạt được hiệu quả. Cuối cùng tờ
báo sẽ đánh mất công chúng, sụt giảm uy tín. Cũng phải nói thêm rằng việc
chèn từ khóa với một mật độ dày đặc không những không giúp tăng thứ hạng
103
của tác phẩm mà khi bị Google phát hiện, trang web sẽ bị đánh tụt hạng.
Thậm chí với lỗi như mua bán liên kết trỏ về, trang web sẽ bị loại khỏi bảng
kết quả tìm kiếm của Google. Như vậy, mục đích khi tiến hành tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm Google là tăng thứ hạng và tăng lượng công chúng của
trang web đều không đạt được.
Quá sa đà vào tối ưu hóa công cụ tìm kiếm mà không chú trọng tới chất
lượng sản phẩm là một sai lầm nghiêm trọng của báo điện tử. Vì thông tin
quyết định sự sống còn của tờ báo. Việc đầu từ sản xuất tin bài sẽ luôn là ưu
tiên hàng đầu của báo điện tử. Cung cấp những tác phẩm đảm bảo về nội
dung và hình thức là điều kiện tiên quyết để giữ chân độc giả, tạo được niềm
tin trong lòng công chúng.
Báo điện tử theo thị hiếu, xu hƣớng tìm kiếm của ngƣời dùng
3.1.3.
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm giúp nhà báo ý thức được rằng việc quan
tâm tới công chúng báo điện tử sử dụng công cụ tìm kiếm là rất quan trọng.
Tuy nhiên, chạy theo thị hiếu, xu hướng tìm kiếm của người dùng sẽ dẫn đến
việc các trang báo chỉ tập trung sản xuất những tin bài theo cái mà công
chúng tìm kiếm, nhiều khi còn dẫn tới những biểu hiện hết sức tiêu cực. Theo
kết quả thống kê của Google, Việt Nam đứng thứ 6 trong top 10 nước có số
lượng người truy cập tìm kiếm sex nhiều nhất thế giới trong giai đoạn 2004
đầu năm 2013. Do đó, hiện tượng một số báo điện tử với mục đích “câu view”
đã sản xuất hàng loạt các tin bài giật gân, câu khách về các vụ “cướp, giết,
hiếp”, “lộ hàng”. Điều này gây phản cảm, tác động không tốt tới hình ảnh báo
điện tử. Một ví dụ khác là trường hợp của từ khóa “Gangnamstyle” và
“Phương Mỹ Chi”. Đây là hai trong số những từ khóa được người dùng tìm
kiếm nhiều nhất năm 2013 tại Việt Nam. Do đó, để tăng khả năng được tìm
thấy trên bảng kết quả tìm kiếm, một số trang thông tin điện tử, báo điện tử đã
đưa thông tin một cách ồ ạt về sự kiện liên quan đến 2 từ khóa này. Tuy
104
nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc tập trung sản xuất tác phẩm phù hợp với xu
hướng tìm kiếm của người dùng thì các tin tức khác sẽ ít được quan tâm phản
ánh hơn, trong đó có những thông tin quan trọng về đời sống chính trị trong
nước. Báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng phải cung cấp thông tin về
mọi mặt của cuộc sống, giúp công chúng gia tăng hiểu biết, nhận thức.
Đối với vấn đề này, nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng biên tập
VietnamPlus đưa ra nhận định: “Đa số các báo phụ thuộc vào bộ phận kỹ
thuật còn về nội dung thì nhiều nơi làm chưa đúng hoặc lạm dụng quá nhiều.
Ví dụ như vào những thời điểm nhất định, có những từ khóa đang nổi bật và
được liệt vào dạng xu hướng thì có báo cho vào tất cả các tin. Làm như vậy là
lừa độc giả vì nội dung thực tế không hề liên quan. Phụ thuộc quá vào SEO
cũng có nguy cơ làm giảm chất lượng báo chí. Lý do là cá nhân các phóng
viên và cao hơn là cấp độ tòa soạn sẽ chạy theo những vấn đề, những từ khóa
xu hướng hơn là những vấn đề thực sự có ý nghĩa với xã hội.” [PL4, tr.122]
Xét về tổng thể, việc nhiều báo điện tử thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm cho các tác phẩm báo điện tử không hợp lý sẽ làm giảm chất lượng
thông tin của tác phẩm, gây mất lòng tin của công chúng. Những vấn đề đặt ra
đối với việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử cần
được cơ quan báo điện tử, nhà báo quan tâm để có những hướng giải quyết
phù hợp.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao tối ƣu hóa công cụ tìm kiếm cho
báo điện tử
3.2.1. Giải pháp về quản lý
3.2.1.1. Nâng cao nhận thức của lãnh đạo các toà soạn về vai trò của SEO
với báo điện tử
Tổng biên tập, Phó tổng biên tập là những người đứng đầu cơ quan báo
điện tử, hơn ai hết cần nhận thức được tầm quan trọng của tối ưu hóa công cụ
105
tìm kiếm cho báo điện tử. Để có nhận thức phù hợp, tổng biên tập, Phó tổng
biên tập phải luôn bám sát thực tiễn hoạt động báo chí, xu hướng của báo chí
thế giới cũng như trong nước, không ngừng học hỏi kinh nghiệm quản lý, sản
xuất tin bài, kinh nghiệm tăng doanh thu từ những cơ quan báo điện tử trong
và ngoài nước.
Từ thực tế áp dụng của các cơ quan báo điện tử khác, lãnh đạo báo điện
tử có thể thấy rõ được những ưu điểm của việc ứng dụng SEO cho báo điện
tử. Học hỏi kinh nghiệm từ các trang báo khác cùng với việc nắm rõ đặc thù
của cơ quan báo điện tử của mình, tổng biên tập, Phó tổng biên tập tiến hành
lập kế hoạch, xây dựng lộ trình cho cơ quan báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm đối với tác phẩm. Cùng với đó, người đứng đầu cơ quan báo
điện tử cần xây dựng ngân sách, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, kế hoạch đào
tạo nguồn nhân lực phục vụ cho việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác
phẩm báo điện tử.
Người đứng đầu cơ quan báo mạng cần không ngừng nắm bắt cách
thức quản lý mới, phương pháp ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm hiệu
quả trên thế giới và tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu tài liệu, tham dự
các cuộc hội thảo, trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài nước.
3.2.1.2. Tăng cƣờng công tác quản lý
Khi thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, công tác quản lý càng cần
được tiến hành một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa
các bộ phận trong quá trình tối ưu hóa.
Tổng biên tập, Phó tổng biên tập cần giao trách nhiệm rõ ràng cho Thư
ký toàn soạn, biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên trong quy trình tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm. Trách nhiệm của mỗi vị trí đối với quá trình tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm là khác nhau. Thêm vào đó, mỗi người đều có những điểm
mạnh, điểm hạn chế nhất định. Việc nắm rõ những ưu nhược điểm và tiềm
106
năng của mỗi thành viên sẽ giúp nhà quản lý sắp xếp đúng người vào đúng vị
trí. Sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phù hợp sẽ giúp việc tối ưu hóa diễn ra
thuận lợi. Nhà quản lý cũng cần thường xuyên kiểm tra nhằm phát hiện ra
những điểm thiếu hợp lý để có những điều chỉnh kịp thời.
3.2.1.3. Định kỳ đánh giá hiệu quả
Cần định kỳ đánh giá tính hiệu quả của việc tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm Google cho tác phẩm báo điện tử. Công tác đánh giá hiệu quả cần giao
cho một bộ phận phụ trách cùng với sự phối hợp của các phòng, ban khác.
Việc đánh giá hiệu quả thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các
tác phẩm báo điện tử có thể được thực hiện thường xuyên cùng với các cuộc
họp sản xuất tin bài, đề xuất đề tài hàng ngày, hàng tuần hoặc tổ chức riêng
rẽ. Kết quả của việc đánh giá tính hiệu quả phải được thông báo cho tất cả các
phóng viên, biên tập viên của cơ quan báo điện tử. Từ kết quả đó, mỗi thành
viên của cơ quan báo điện tử sẽ nhận diện được những thành công để tiếp tục
phát huy và nắm được những hạn chế để đưa ra những điều chỉnh. Công tác
đánh giá hiệu quả cũng góp phần quan trọng cho những định hướng hoạt động
SEO tiếp theo của cơ quan báo điện tử.
3.2.2. Giải pháp về đào tạo
Cơ quan báo điện tử cần tăng cường công tác đào tạo SEO. Trước hết
cần có những buổi tập huấn nhằm nâng cao nhận thức cho tất cả các thành
viên trong cơ quan báo điện tử về tầm quan trọng của tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm cho các tác phẩm báo điện tử. Cơ quan báo điện tử cần đảm bảo cho
mỗi thành viên của cơ quan hiểu rõ bản chất của tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm, tầm quan trọng của việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm và hiểu rõ trách
nhiệm của mỗi thành viên trong quy trình tối ưu hóa.
Cơ quan báo điện tử có thể trực tiếp mở các khóa đào tạo, tập huấn về
tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cho phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật
107
viên hoặc cử phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên đi học tại các lớp đào
tạo. Bản thân phóng viên, biên tập viên cũng rất mong muốn được đào tạo
bài bản về SEO khi có tới 100% trường hợp trả lời bảng hỏi mong muốn
được gia tăng hiểu biết, nhận thức, kỹ năng về SEO cho tác phẩm. Dù cơ
quan báo điện tử đã có bộ phận SEO riêng thì việc đào tạo cho phóng viên,
biên tập viên, kỹ thuật viên vẫn là một việc làm cần thiết. Vì việc ứng dụng
SEO cần tiến hành đồng bộ và việc tất cả các thành viên trong cơ quan báo
điện tử nắm rõ về cách thức tối ưu hóa sẽ giúp việc tối ưu hóa trôi chảy và
đạt được hiệu quả cao hơn.
Cách thức đào tạo kỹ thuật viên, biên tập viên, phóng viên cũng có sự
khác biệt do tính chất công việc của mỗi vị trí không giống nhau. Đối với kỹ
thuật viên, công tác đào tạo nghiêng về khâu kỹ thuật với những vấn đề như
sơ đồ cấu trúc website (sitemap), mã trạng thái http, đường dẫn URL, tốc độ
website. Đối với phóng viên những cách thức tối ưu hóa cần được đào tạo
kết hợp với các kỹ năng trong quá trình sáng tạo tác phẩm. Biên tập viên là
những người thường xuyên tiếp xúc với một lượng lớn tác phẩm do phóng
viên gửi về. Do đó, biên tập viên cần được đào tạo để xử lý tối ưu hóa với
một lượng lớn tin bài trong thời gian nhanh nhất.
Để đảm bảo tính hiệu quả của công tác đào tạo, tốt nhất mỗi cơ quan
báo điện tử nên thuê những chuyên gia trong lĩnh vực tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm thực hiện những khóa đào tạo chuyên biệt. Những khóa đào tạo này sẽ
dựa trên đặc trưng, thế mạnh, đặc điểm sản xuất tin bài, tôn chỉ, mục đích
hoạt động của cơ quan báo điện tử nhằm đưa những cách thức tối ưu hóa
phù hợp nhất. Đồng thời các khóa đào tạo cần tập trung kết hợp giữa các kỹ
năng của nhà báo điện tử với kỹ năng tối ưu hóa, giúp cho người học có thể
áp dụng ngay lập tức mà không bị quá “choáng ngợp” với các yếu tố thuộc
về kỹ thuật. Người làm báo điện tử luôn phải chịu áp lực lớn về mặt thời
108
gian, càng hiểu rõ và nắm bắt được những thao tác tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm họ càng dễ áp dụng, kết hợp với các kỹ năng sẵn có. Các khóa đào tạo
này có thể tiến hành định kỳ nhằm theo kịp với những thay đổi trong cơ chế
hoạt động của công cụ tìm kiếm, xu hướng tìm kiếm cũng như thói quen,
nhu cầu, khả năng tiếp nhận của công chúng. Đồng thời việc đào tạo cũng
nên được tiến hành kịp thời đối với những phóng viên, biên tập viên mới vào
làm việc tại cơ quan báo điện tử.
Các trường đào tạo báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo
kỹ năng cho đội ngũ làm báo điện tử tương lai. Nhà trường giúp người học
có đủ những kỹ năng cần thiết để khi ra trường có thể ngay lập tức tác
nghiệp. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cũng là một kỹ năng cần thiết giúp
người làm báo điện tử tăng tính hiệu quả tác phẩm. Các cơ quan báo điện tử
cũng coi đây là một kỹ năng cần đào tạo cho đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo
điện tử. Do đó, thiết nghĩ những kỹ năng về SEO cũng nên được giới thiệu
trong chương trình đào tạo của trường đào tạo báo chí. Điều này giúp sinh
viên báo chí có thể theo kịp với thực tế tác nghiệp trong tương lai.
3.2.3. Giải pháp về kỹ năng
3.2.3.1. Kỹ năng viết nội dung cho các tác phẩm báo điện tử
Nội dung là điều mà cả người đọc và công cụ tìm kiếm mong muốn.
Chất lượng nội dung là điều đáng được quan tâm nhất đối với báo điện tử.
Cơ quan báo điện tử phải xây dựng nội dung đầy đủ, không ngừng “làm
giàu” thông tin để đáp ứng mọi nhu cầu của công chúng. Một báo điện tử sẽ
bị đánh tụt hạng ngay cả khi nằm trong 10 vị trí đầu tiên trang kết quả tìm
kiếm khi không liên tục bổ sung thêm bài viết mới, lấy đầy khoảng trống.
Theo nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng biên tập VietnamPlus: “Trong bối cảnh
tất cả các website đều tích cực ứng dụng SEO, kể cả sử dụng các thủ thuật
không lành mạnh, thì việc tạo ra những nội dung độc đáo vẫn là yếu tố quan
109
trọng để tạo ra sự khác biệt và thu hút độc giả đến với website của mình.”
[PL4, tr.122] Thông tin cập nhật một cách đa dạng, phong phú ở mọi lĩnh
vực của đời sống trong và ngoài nước sẽ giúp cho báo điện tử xuất hiện trên
bảng kết quả tìm kiếm của Google ngày càng nhiều truy vấn tìm kiếm, tăng
khả năng truy cập của người dùng vào trang báo.
Đề cao chất lượng nội dung cũng chính là việc làm hướng đến công
chúng. Khi công chúng truy cập vào một báo điện tử mà họ có thể tìm thấy
thông tin của tất cả các lĩnh vực họ quan tâm đồng nghĩa với thời gian họ ở
lại với tờ báo lâu hơn và khả năng quay lại truy cập cao hơn. Đây cũng là
một trong những yếu tố để Google đánh giá xếp hạng.
Nhìn chung các báo điện tử liên tục cập nhật thông tin về các sự kiện
thời sự nổi bật cũng như không ngừng có những tác phẩm mới cho các
chuyên mục sẽ đảm bảo được vị trí cao của trang báo trong lòng công chúng
cũng như đối với công cụ tìm kiếm.
3.2.3.2. Kỹ năng sử dụng đa phƣơng tiện trong các tác phẩm báo điện tử
Tính đa phương tiện của báo điện tử là đặc trưng và là một trong
những thế mạnh của báo điện tử so với các loại hình báo chí khác. Tính đa
phương tiện được thể hiện ở sự kết hợp giữa các yếu tố văn bản, hình ảnh
(động, tĩnh), đồ họa, âm thanh, video trong một sản phẩm báo chí. Một tác
phẩm báo điện tử thường không đơn thuần chỉ là một văn bản chữ mà nó còn
kết hợp với một hoặc nhiều phương tiện khác. Nhờ đó, công chúng vừa có
thể xem, nghe, đọc một tác phẩm. Điều này tạo nên sức hấp dẫn, sống động
đặc biệt cho tác phẩm báo điện tử nói riêng và báo điện tử nói chung. Công
chúng sẽ ở lại trang web lâu hơn và dành nhiều thời gian để truy cập sâu hơn
vào các trang chuyên mục của báo. Công chúng cũng sẽ đánh giá cao hơn
chất lượng của trang báo. Từ đó lượng công chúng truy cập báo điện tử sẽ
tăng lên.
110
Tận dụng tính đa phương tiện cũng góp phần đem lại hiệu quả trong
tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cho tác phẩm báo điện tử. Công cụ tìm
kiếm Google cũng cho phép người dùng tìm kiếm hình ảnh, video. Người
dùng cũng có thể tìm kiếm các dạng file âm thanh, hình ảnh bằng các thuật
toán. “Giữa tháng 9 năm 2014, Google đã đưa ra khảo sát cho thấy 85%
người dùng Internet Việt Nam lên mạng xem video thường xuyên. Vào
tháng 10 năm 2014, hãng thống kê uy tín Nielsen cũng đưa ra một bản báo
cáo về thói quen xem video trên mạng của các nươc Đông Nam Á. Theo báo
cáo này, 91% người dùng Internet Việt Nam lên mạng xem video ít nhất một
lần mỗi tuần” “Cisco đưa ra dự đoán vào năm 2017, video sẽ chiếm 69% lưu
lượng truy cập Internet của người dùng, lưu lượng truy cập video theo nhu
cầu sẽ tăng gấp 3 lần.” Có thể thấy, nhu cầu được tiếp nhận thông tin của
công chúng qua video, hình ảnh đang ngày càng cao. Do đó, việc tác phẩm
báo điện tử sử dụng kết hợp các yếu tố văn bản, hình ảnh, video, âm thanh sẽ
giúp tăng khả năng xuất hiện trên bảng kết quả tìm kiếm của nhiều truy vấn
của người dùng hơn.
Tuy nhiên, trong quá trình tận dụng tính đa phương tiện, báo điện tử
cũng cần phải chú ý đến những yếu tố gây khó khăn cho công cụ tìm kiếm.
Những công nghệ trên web gây khó khăn cho bọ tìm kiếm của Google có thể
kể đến là JavaScript, Flash, Frames, Coolis. Đối với các file ảnh và video, bọ
tìm kiếm có thể phát hiện ra sự tồn tại của hình ảnh và video trên trang web
nhưng không thể hiểu hay xem video và hình ảnh như con người. Do đó,
trong quá trình sử dụng hình ảnh, video cho tác phẩm báo điện tử, nhà báo
cần sử dụng hợp lý những yếu tố như thẻ mô tả, tên, chú thích, giúp công cụ
tìm kiếm dễ dàng nhận diện nội dung của hình ảnh, video. Nhà báo cũng
cần chú ý tới vị trí đặt ảnh và video trong tác phẩm để chúng có được sự hỗ
111
trợ từ các đoạn văn bản xung quanh gíup tăng khả năng Google nhận diện
nội dung ảnh và video.
3.2.3.3. Kỹ năng sử dụng nội dung phổ biến, tác phẩm cũ
Trên báo điện tử có những nội dung luôn được người dùng tìm kiếm.
Đó là những nội dung theo mùa, theo dịp đặc biệt, những thông tin hướng
dẫn như tư vấn du học, du lịch,…hay những nội dung về ẩm thực, thời trang,
tình yêu…Công chúng luôn luôn có nhu cầu tìm kiếm những thông tin thiết
yếu đối với đời sống hàng ngày hoặc vào những dịp đặc biệt như lễ tết. Do
đó, các tờ báo cần duy trì được lượng truy cập thường xuyên. Lượng truy
cập này sẽ giúp tăng uy tín của tờ báo với các công cụ tìm kiếm.
Bên cạnh những tác phẩm mới được công chúng tìm kiếm. Hoặc công
chúng có thể tìm thấy tác phẩm khi nhấp chuột vào liên kết ở một tác phẩm
mới trỏ về một tác phẩm cũ. Do đó, nhà báo cần phải xem lại nội dung cũ để
đảm bảo chắc chắn rằng nội dung ấy còn tồn tại trên trang báo. Việc có một
hệ thống lưu trữ lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho báo điện tử giữ lại tất cả
các tác phẩm trên website của mình dù các tác phẩm đó đã được đăng tải từ
rất lâu. Nhà báo cũng có thể thêm vào các liên kết đến một nội dung mới
phù hơp hơn hoặc thêm vào những thông tin mới cho tác phẩm.
3.2.3.4. Kỹ năng sử dụng các liên kết
Đối với cơ quan báo điện tử có ký kết, thỏa thuận hoặc được sự chấp
nhận bằng văn bản cho phép sử dụng lại các tác phẩm của nhau, các tờ báo
này cần quan tâm hơn đến những tác phẩm lấy lại từ các báo khác. Tác
phẩm lấy lại nên được chèn thêm các liên kết đến tác phẩm khác trong hoặc
ngoài website thay vì chỉ đăng tải một cách rập khuôn theo tác phẩm gốc.
Việc lựa chọn liên kết đến tác phẩm nào cần phải thực hiện một cách nghiêm
túc, kỹ lưỡng nhằm đảm bảo mục đích thông tin của trang báo. Chèn thêm
liên kết cũng giúp thông tin trở nên phong phú, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
112
công chúng. Việc sử dụng các liên kết tới các tác phẩm trong nội bộ website
sẽ giúp tăng lượng truy cập đến những tác phẩm khác của tờ báo.
3.2.3.5. Kỹ năng bảo vệ bản quyền tác phẩm báo điện tử
Tên tác giả thường đặt ở cuối mỗi tác phẩm báo điện tử nhằm thể hiện
quyền tác giả đối với tác phẩm. Đó có thể là tên thật, bút danh của một hoặc
một nhóm phóng viên, nhà báo sáng tạo nên tác phẩm báo điện tử. Tên tác
giả đóng vai trò rất quan trọng trong việc khẳng định bản quyền đối với mỗi
tác phẩm báo điện tử. Đối với những nhà báo thành danh, được đông đảo
công chúng biết đến thì tên tác giả là một thành tố giúp tăng thêm tính thuyết
phục, hấp dẫn đối với công chúng.
Tuy nhiên, thực trạng đạo báo, vi phạm bản quyền trên báo điện tử
hiện nay khiến tác giả thực sự của tác phẩm không nhận được thành quả
đúng với công sức bỏ ra. Nhà báo có thể phát hiện tác phẩm của mình bị sao
chép hay không bằng cách sử dụng các trang web giúp phát hiện tác phẩm bị
sao chép như Copyscape (copyscape.com); Myows (myows.com); Copyright
Protection (copyrightprotection.com)… Nhưng cách thức đơn giản nhất vẫn
là sử dụng các công cụ tìm kiếm, chỉ với một thao tác tìm kiếm đơn giản,
nhà báo có thể dễ dàng phát hiện ra tác phẩm của mình đang được đăng tải
trên những website nào, ở vị trí ra sao trên bảng kết quả công cụ tìm kiếm.
Tuy việc phát hiện tác phẩm bị sao chép không khó nhưng việc xử lý
các trang vi phạm bản quyền đến nay vẫn còn rất khóa khăn. Với ngôn ngữ
Tiếng Anh thì việc copy nội dung bị Goolge nhận diện rất nhanh và phạt rất
nặng, tuy nhiên với ngôn ngữ tiếng việt thì hiện tại các công cụ tìm kiếm còn
chưa làm tốt phần việc này. Vì thế, các nhà báo phải tự tìm cách để bảo vệ
thương hiêu, uy tín của bản thân nhờ công cụ của Goolge như Authors Ship
(cùng với sự ra đời của Goolge+ trước đó) nhằm tránh hiện tượng copy và
giúp khẳng định bản quyền tác giả. Các báo điện tử nên cài Authors Ship và
113
mỗi nhà báo nên có một thẻ Authors Ship riêng. Nhà báo xác thực Authors
Ship tức là khi nhà báo viết một tác phẩm mới thì đồng thời tác phẩm này sẽ
được chia sẻ trên Google+, và khi đó Google sẽ xác nhận nhà báo đó là
người đầu tiên viết tác phẩm này, những người copy sau sẽ bị giảm điểm
chất lượng, điều này sẽ giúp bảo toàn nội dung gốc của tác phẩm báo điện
tử, tăng uy tín của website.
Bản quyền tác giả Author Ship sẽ gắn chặt với chỉ số Authors Rank.
Những nhà báo có uy tín, thường xuyên có tác phẩm chất lượng, thu hút
được nhiều người bình luận, chia sẻ… sẽ có chỉ số Authors Rank cao hơn,
chỉ số này được đo ở Google+ và ở các trang mạng xã hội khác như
Facebook, Tweeter… Cách đánh giá này sẽ giúp cho Goolge dễ dàng hơn
trong việc đánh giá, sắp xếp tác phẩm nào lên trước, những tác phẩm của tác
giả nào là tác phẩm gốc và có chỉ số Authors Rank cao sẽ có vị trí cao hơn
trên bảng kết quả tìm kiếm của Goolge.
Để xử lý tình trạng đạo báo, nhà báo cũng có thể gửi thông tin báo vi
phạm bản quyền tới Google (Google DMCA) bằng cách truy cập vào đường
dẫn: https:google.com/webmasters/tools/dmca-notice sau đó điền đầy đủ
thông tin theo mẫu, bao gồm: thông tin liên hệ; nhập nội dung bị sao chép
trái phép, cung cấp cho Google link gốc của bài viết và link bài sao chép.
Google sẽ xử lý thông báo vi phạm trong khoảng thời gian không quá 1 tuần,
nếu nhanh sẽ chỉ mất từ 2 đến 3 ngày. Những đường link tác phẩm bị sao
chép sẽ bị xóa trên bảng kết quả tìm kiếm của Google và website bị sao chép
sẽ bị google phạt. Tuy nhiên, đối với những nhà báo bị sao chép nhiều tác
phẩm thì đây là cách giải quyết tốn nhiều thời gian và công sức
3.2.3.6. Nghiên cứu công chúng
Nghiên cứu công chúng được hiểu là bước quan trọng giúp ngày càng
nhiều công chúng biết và tiếp cận sản phẩm của cơ quan báo điện tử. Cơ
114
quan báo điện tử cần thường xuyên, liên tục nghiên cứu công chúng bằng
nhiều hình thức vì công việc này giúp cơ quan báo diện tử đưa ra những
quyết định phù hợp cho việc ra đời những ấn phẩm mới, thêm chuyên trang,
chuyên mục, xây dựng hình ảnh của đơn vị mình. Việc nghiên cứu công
chúng thường xuyên sẽ giúp cơ quan báo điện tử nắm bắt được sự thay đổi
của công chúng để có thể điều chỉnh kịp thời; giúp nắm rõ những nhu cầu,
nguyện vọng, sở thích, thị hiếu, khả năng và điều kiện tiếp cận của công
chúng.
Trong quá trình báo điện tử ứng dụng tối đa hóa công cụ tìm kiến,
việc nghiên cứu công chúng càng đặc biệt quan trọng. Công chúng không
chỉ là độc giả mà còn là người thường xuyên sử dụng công cụ tìm kiếm, do
vậy việc nghiên cứu công chúng sẽ giúp nhà báo có được cách viết tin bài
phù hợp với công chúng cũng như phù hợp với công cụ tìm kiếm. Vì xét cho
cùng công cụ tìm kiếm hoạt động dựa trên đặc điểm người dùng.
Việc nắm bắt xu hướng tìm kiếm của cộng đồng mạng sẽ giúp cho
nhà báo biết được những chủ đề nào đang được bắt đầu quan tâm, chủ đề
nào thì nên dừng lại. Đây cũng là một nguồn gợi ý về đề tài cho nhà báo.
Khâu lựa chọn đề tài thuộc về kỹ năng của người làm báo, nhà báo luôn có ý
thức lựa chọn cuộc sống thực tế những đề tài hấp dẫn, có liên quan đến lợi
ích của nhiều người, tuy nhiên, việc ứng dụng công cụ trên Internet sẽ giúp
cho việc lựa chọn đề tài đôi khi trở nên dễ dàng hơn. Một lý do quan trọng
hơn đó là việc nắm được xu hướng tìm kiếm của người dùng sẽ giúp nhà báo
xác định được từ khóa phù hợp cho tác phẩm, khâu quan trọng trong ứng
dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm.
Các giải pháp về kỹ thuật
3.2.4.
Các yếu tố kỹ thuật đóng vai trò nhất định đối với hiệu quả của việc
ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Tuy nhiên, vấn đề kỹ thuật thường
115
nằm ngoài khả năng của phóng viên, biên tập viên báo điện tử mà thuộc về
trách nhiệm của đội ngũ kỹ thuật viên. Do đó, để nâng cao hiệu quả tối ưu hóa
công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm báo điện tử, các vấn đề về kỹ thuật cũng
cần được xem xét kỹ.
3.2.4.1. Thiết kế website phù hợp với các công cụ tìm kiếm
Khi xây dựng một báo điện tử, nhà thiết kế website không phải chỉ đáp
ứng đặc điểm của một tờ báo mạng mà còn phải coi nó như một website
thương mại có nguồn thu chính từ quảng cáo. Do đó, nhà thiết kế phải nghĩ
đến việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm nhằm đảm bảo những điều kiện kỹ thuật
thuận lợi nhất cho việc ứng dụng SEO.
Tuy nhiên, cũng không nên thiết kế web chỉ dành riêng cho việc tối ưu
hóa mà cần xây dựng trang web hướng đến công chúng là chính, SEO chỉ là
hoạt động phụ trợ thứ yếu.
3.2.4.2. Thƣờng xuyên theo dõi các dữ liệu của website
Bộ phận kỹ thuật cần theo dõi trang web thường xuyên để có được sự
đo lường chính xác về thực trạng của báo điện tử, định lượng được tính hiệu
quả của việc ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Có thể sử dụng công cụ
google analytic hoặc những phần mềm phân tích khác để nắm được những
thông số liên quan đến hoạt động của website.
Điều này giúp cơ quan báo điện tử tìm ra lý do làm giảm đáng kể lượng
truy cập, vì sao các trang báo khác có vị trí cao hơn trên bảng kết quả tìm
kiếm Google, hay những từ khóa nào đem đến lưu lượng truy cập nhiều
nhất… từ đó đề ra những phương án cập nhật, tái tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
một cách hiệu quả hơn. Phóng viên, biên tập viên báo điện tử cũng có quyền
truy cập vào cơ sở dữ liệu này để đánh giá hiệu của tối ưu hóa trong các tác
phẩm của mình.
116
3.2.4.3. Rà soát hệ thống và các yếu tố kỹ thuật của website
Bộ phận kỹ thuật cần rà soát hệ thống của các báo điện tử nhằm đảm
bảo cho việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm hoạt động hiệu quả, các yếu tố kỹ
thuật cần phải được lưu tâm, thường xuyên kiểm tra, giám sát để điều chỉnh
kịp thời.
Trước hết là về tốc độ truy cập vào trang web, tốc độ truy cập trang là
một yếu tố làm ảnh hưởng đến vị trí của trang web trên bảng tìm kiếm kết quả
của Google, dù đây không phải là một yếu tố có tầm quan trọng quá lớn
nhưng có một điều chắc chắn là nếu tất các các yếu tố đều giống nhau thì báo
điện tử nào có tốc truy cập nhanh hơn thì sẽ có thứ hạng cao hơn. Trong quá
trình dò quét và xây dựng cơ sở dữ liệu, bọ tìm kiếm Google bị giới hạn về
mặt thời gian nên thời gian tải trang càng nhanh sẽ giúp cho bọ tìm kiếm lập
chỉ mục được càng nhiều trang.
Tốc độ truy cập trang web là chìa khóa để người dùng cảm thấy muốn
truy cập lại lần sau. Với cùng một khoảng thời gian, nếu website tải nhanh
hơn, người đọc sẽ truy cập được nhiều trang hơn và có khả năng tìm được
những nội dung họ yêu thích. Từ đó khả năng công chúng chia sẻ, bình luận
và liên kết tới trang web của cơ quan báo điện tử cũng sẽ lớn hơn. Các trang
web tải chậm là web không thân thiện và không hướng đến người dùng. Cần
phải khẳng định rằng một báo điện tử có tốc độ truy cập chậm sẽ không giữ
chân được độc giả vì họ sẽ không có đủ kiên nhẫn để chờ đợi, họ sẽ chuyển
ngay sang một trang khác. Điều này sẽ làm tờ báo mất đi một lượng lớn công
chúng. Vì những lý do đó mà các báo điện tử cần đảm bảo tốc độ truy cập
website của mình càng nhanh, càng tốt.
Một số yếu tố thuộc về kỹ thuật mà các phóng viên, biên tạp viên báo
điện tử cũng thường xuyên được “khuyến cáo” là không nên chỉnh sửa như
thẻ tiêu đề trang và đường dẫn URL cũng cần được bộ phận kỹ thuật quan
117
tâm. Cần chỉnh sửa thẻ tiêu đề trang trong hệ thống quản trị nội dung website
CMS. Thẻ tiêu đề trang là mã văn bản xuất hiện trên cùng của cửa sổ tìm
kiếm, đây là một trong những nơi mà công cụ tìm kiếm tìm để kết nối bài báo
với một yêu cầu tìm kiếm. Hầu hết các báo điện tử sử dụng tít chính như là
thẻ tiêu đề trang, do đó, không nên để hệ thống ở chế độ thiết lập mặc định
(default setting) mà cần để ở chế độ có thể chỉnh sửa được. Thẻ tiêu đề phải
có từ khóa và thêm tên của website vào cuối thẻ tiêu đề.
URL là đường dẫn tới tác phẩm, mọi đường dẫn URL đều bao gồm:
giao thức (http hoặc https), tên miền phụ (www), tên miền chính, tên miền
cấp cáo nhất (.com; .org;…), tên thư mục, tên file… Hệ thống quản trị nội
dung CMS thường sử dụng tiêu đề trang để xây dựng dạng mặc định cho phần
cuối của URL, với dạng thức không đấu và được ngăn cách bởi gạch nối (-).
Nhưng nếu quá dài nó sẽ bị phá vỡ khi sử dụng, do đó, trước khi tác phẩm
được đăng tải, cần xây dựng URL với độ dài thích hợp (càng ngắn càng tốt)
và phải chèn từ khóa vào trong URL. Việc URL có độ dài phù hợp còn giúp
cho nó dễ dàng được sao chép và chia sẻ qua email hay mạng xã hội. Điều
này cũng giúp cho URL hiển thị đầy đủ trên công cụ tìm kiếm. Quan trọng
nhất là URL nên hướng đến người dùng, vì người dùng thường không mấy
thiện cảm với những URL bị cắt bớt, hoặc URL chứa những ký tự khó hiểu.
URL nên chứa thông tin cơ bản, quan trọng, liên quan đến nội dung tác phẩm.
Google cũng rất khuyến khích làm việc này vì nó giúp cho người dùng có thể
dễ dàng biết được chính xác nội dung tác phẩm, ghi nhớ và dễ dàng quyết
định lựa chọn truy cập vào tác phẩm nào. Xây dựng URL thân thiện với người
dùng và phù hợp với công cụ tìm kiếm cũng góp phần làm tăng thứ hạng của
các tác phẩm trên bảng kết quả tìm kiếm.
118
Tiểu kết Chƣơng 3
Trong chương 3, tác giả luận văn đã chỉ ra một số vấn đề đáng quan
tâm trong quá trình thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm
báo điện tử, đó là: coi trọng một cách thái quá khả năng của tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm và xem nhẹ chất lượng của tác phẩm báo điện tử, hoặc chạy theo
thị hiếu, xu hướng tìm kiếm của người dùng. Những vấn đề này khiến SEO
không hiệu quả, thậm chí là sụt giảm một lượng lớn công chúng, suy giảm uy
tín của báo điện tử, do đó, đội ngũ những người làm báo điện tử cần quan tâm
để đưa ra hướng giải quyết hợp lý.
Tác giả luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm của báo điện tử. Đây là những
định hướng, những gọi ý bước đầu về giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn.
Đối với vấn đề quản lý, người đứng đầu cơ quan báo điện tử cần có nhận thức
đúng đắn, đề ra lộ trình, lập kế hoạch, xây dựng ngân sách, tổ chức và kiểm
tra việc ứng dụng SEO cho báo điện tử một cách khoa học và phù hợp.
Đối với vấn đề đào tạo, cơ quan báo điện tử cần tạo điều kiện thuận lợi
để đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo điện tử được học tập, rèn luyện kỹ năng,
nâng cao nhận thức, hiểu biết về SEO. Các trường đào tạo về báo chí có thể
cân nhắc việc đề cập đến vấn đề này trong quá trình giảng dạy về báo điện tử.
Các giải pháp về kỹ năng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm Google cho tác
phẩm báo điện tử gồm sáu giải pháp: đặt chất lượng nội dung lên hàng đầu;
tận dụng tính đa phương tiện; tận dụng những nội dung phổ biến, tác phẩm
cũ; thêm liên kết vào các tác phẩm lấy lại từ báo khác, nhà báo cần tự bảo vệ
bản quyền tác giả và thường xuyên tiến hành nghiên cứu công chúng.
Các giải pháp về kỹ thuật bao gồm các vấn đề về thiết kế website, theo
dõi dữ liệu, rà soát hệ thống và các yếu tố kỹ thuật khác của website.
119
KẾT LUẬN
Hiện nay, số lượng công chúng báo điện tử sử dụng công cụ tìm kiếm
lớn và sự cạnh tranh giữa các báo điện tử, cũng như giữa báo điện tử với các
trang thông tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, trang mạng xã hội
ngày càng cao. Điều này khiến cho việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các
tác phẩm báo điện tử cũng ngày càng được quan tâm hơn.
Tác phẩm báo điện tử được tối ưu hóa tốt sẽ có thứ hạng cao trên bảng
kết quả tìm kiếm của của Google và sẽ có cơ hội nhận được nhiều lượt truy
cập hơn, tiếp cận nhanh hơn với công chúng. Điều này góp phần làm tăng
lượng công chúng của báo điện tử, cũng đồng nghĩa với việc tăng khả năng
cạnh tranh, gia tăng lợi ích về mặt kinh tế, tăng uy tín, thương hiệu của tờ
báo. Do đó, việc báo điện tử quan tâm đến vấn đề tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
cho tác phẩm của mình là rất cần thiết. Điều này cũng đem đến lợi ích cho
công chúng vì họ có nhiều cơ hội để tìm thấy ngay những tác phẩm báo điện
tử chất lượng ở vị trí đầu tiên của bảng kết quả tìm kiếm. Công cụ tìm kiếm vì
thế cũng đạt được mục đích của mình là cung cấp cho người dùng những kết
quả chất lượng, chính xác nhất.
Nhận thấy vai trò của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử,
trong vài năm trở lại đây, nhiều báo điện tử đã quan tâm đầu tư cho SEO,
nhiều báo điện tử đã có bộ phận SEO, đào tạo phóng viên, biên tập viên về
SEO. Cách thức ứng dụng SEO của nhiều trang cũng có sự linh hoạt, độc đáo
như việc viết lại phần mô tả, thêm tên báo vào tít, sắp xếp các tác phẩm theo
dòng sự kiện, chú ý tới khâu quảng bá tác phẩm… Điều này đã bước đầu đem
đến những thành công cho các báo điện tử, một số báo điện tử thường xuyên
có tác phẩm ở vị trí cao trên bảng kết quả tìm kiếm, nhờ đó, tác phẩm có được
lượng truy cập lớn từ công chúng. Việc công chúng nhận thấy báo điện tử
thường có tác phẩm ở vị trí cao trên bảng kết quả tìm kiếm càng tạo tâm lý tin
120
tưởng rằng tờ báo luôn có thông tin mới, đa dạng. Việc ứng dụng SEO cho tác
phẩm cũng giúp tạo kỹ năng tác nghiệp mới cho đội ngũ những người làm
báo điện tử, bên cạnh những kỹ năng làm báo sẵn có, ứng dụng SEO cũng là
một kỹ năng cần thiết trong môi trường Internet.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho
các tác phẩm báo điện tử, nhiều báo điện tử vẫn có những hạn chế trong cách
thức ứng dụng SEO cho tác phẩm. Tác phẩm bảo điện tử vì thế không tận
dụng được những ưu thế của mình để xuất hiện ở những vị trí cao trên bảng
kết quả tìm kiếm. Hệ quả của nó là làm giảm khả năng cạnh tranh của báo
điện tử, khiến cho các tác phẩm hay không đến được với công chúng.
Nguyên nhân của những hạn chế này đến từ việc nhiều cơ quan báo
điện tử vẫn chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm cho các tác phẩm báo điện tử; Áp dụng SEO không phù hợp; Thiếu sự
hợp lý trong phân công công việc, phối hợp giữa các thành viên; đội ngũ sáng
tạo tác phẩm chưa có nhận thức đúng đắn, thiếu hiểu biết căn bản và kỹ năng
cần thiết về SEO, khâu đào tạo còn thiết và chưa thực sự chất lượng.
Để nâng cao hiệu quả tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử cần
một hệ thống các giải pháp bao gồm các giải pháp về quản lý, đào tạo, kỹ
năng và kỹ thuật. Các giải pháp này cần có sự phối hợp của lãnh đạo, đội ngũ
sáng tạo tác phẩm, bộ phận kỹ thuật của cơ quan báo điện tử. Quan trọng nhất
là đội ngũ phóng viên, biên tập viên, những người nắm rõ nội dung, hình thức
của tác phẩm báo điện tử, cần có nhận thức đúng đắn, thực sự hiểu về SEO và
cách thức SEO, biết kết hợp giữa kỹ năng làm báo với kỹ năng SEO.
Báo điện tử nắm bắt được xu hướng phát triển SEO và có những giải
pháp thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm phù hợp sẽ đạt được nhiều thành
công trong môi trường internet ngày càng phát triển và cạnh tranh khốc liệt
như hiện nay.
121
Trong khuôn khổ luận văn “Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) cho
báo điện tử ở Việt Nam” tác giả đã bám rất sát vào mục đích nghiên cứu đã
đưa ra, bước đầu đã làm rõ được những lý luận chung về báo điện tử, như: tối
ưu hóa công cụ tìm kiếm, vai trò của tối ưu hóa công cụ tìm kiếm đối với các
tác phẩm báo điện tử, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm cho báo điện tử, cách thức báo điện tử ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm. Bên cạnh đó tác giả cũng đã tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng
vấn sâu tại 3 cơ quan báo báo điện tử để làm rõ thực trạng sử dụng tối ưu hoá
công cụ tìm kiếm trên 3 báo điện tử này, từ đó, phân tích, đánh giá những kết
quả đạt được và hạn chế của việc sử dụng tối ưu hoá công cụ tìm kiếm trên 3
báo. Từ kết quả khảo sát, tác giả đã có một số đề xuất về giải pháp đối với cơ
quan báo điện tử và đặc biệt là những giải pháp dành cho đội ngũ sáng tạo tác
phẩm của báo điện tử nhằm nâng cao việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho
báo điện tử.
Tác giả đã tập trung được vào đối tượng nghiên cứu của luận văn và
ứng dụng triệt để các phương pháp nghiên cứu đã đề xuất trong suốt quá trình
thực hiện đề tài. Các kết quả nghiên cứu của luận văn bước đầu đã làm rõ
những khái niệm và vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm cho báo điện tử, một vấn đề còn khá mới mẻ hiện nay. Về mặt thực
tiễn, luận văn cũng đã đem đến cái nhìn sơ lược về thực trạng sử dụng tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm trên các báo điện tử, giúp cho người làm báo điện tử
thấy được những thành công, hạn chế của việc sử dụng tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm đối với tác phẩm báo điện tử của mình. Ngoài ra, nội dung luận văn
cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho sinh viên báo
chí, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành báo điện tử, phóng viên, biên tập viên
báo điện tử và những người quan tâm tới lĩnh vực này.
122
Tuy nhiên, luận văn chưa xây dựng hệ thống lý luận chặt chẽ và chưa
đưa ra được các giải pháp mang tính ứng dụng sát với tình hình hiện nay của
các cơ quan báo điện tử. Luận văn mới chỉ là bước đầu khai phá một lĩnh vực,
một góc nhìn mới cho vấn đề kỹ thuật được ứng dụng trong quá trình sáng tạo
tác phẩm báo điện tử, các nội dung về hệ thống lý luận, các giải pháp nhằm
nâng cao tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử cần được nghiên cứu
chuyên sâu ở các cấp cao hơn để đề tài này thực sự có giá trị về mặt lý luận và
tính ứng dụng thực tiễn sâu sắc hơn nữa.
123
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Frank Bass (2007), Hướng dẫn tìm kiếm trên internet và viết báo của
hang thông tấn AP, NXB Thông tấn, Hà Nội;
2. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội,
NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội;
3. Bộ thông tin và Truyền Thông (2013), Sách trắng về công nghệ thông tin
và truyền thông Việt Nam 2013, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà
Nội;
4. Cimigo (2010), Báo cáo NetCitizens Việt Nam: Tình hình sử dụng và tốc
độ phát triển Internet tại Việt Nam, www.cimigo.vn;
5. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin – Bộ Công thương
(2013), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2013,
www.vecita.gov.vn;
6. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, NXB Văn hóa – Thông
tin, Hà Nội;
7. Đức Dũng (2010), Báo chí và đào tạo báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội;
8. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, NXB Lao
Động, Hà Nội;
9. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao Động, Hà
Nội;
10. Nguyễn Văn Dững (chủ biên, 2000), Báo chí – Những điểm nhìn từ thực
tiễn, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
11. Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Báo điện tử - Những vấn đề cơ bản,
NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội;
124
12. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Sáng tạo tác phẩm báo điện tử, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
13. The Missouri Group (2009), Nhà báo hiện đại, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí
Minh
14. Trần Dzĩ Hạ (2005), Thuật làm báo, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội;
15. Vũ Kim Hải (2006), Các thủ thuật làm báo điện tử, NXB Thông tấn, Hà
Nội:
16. Vũ Quang Hào (2012), Ngôn ngữ báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội;
17. Jack Hart (2007), Huấn luyện viên của người viết báo, NXB Thông tấn,
Hà Nội;
18. Hà Thu Hương (2002), Đặc điểm công chúng độc giả báo Internet Việt
Nam, Luận văn thạc sỹ, HV Báo chí và Tuyên truyền;
19. Phong Huyền, Người Việt xem video trên mạng nhiều nhất Đông Nam Á,
gần gấp đôi Singapore, Báo Lao Động Online, Đăng tải ngày 6/10/2014
(http://laodong.com.vn/the-gioi/nguoi-viet-xem-video-tren-mang-nhieu-
nhat-dong-nam-a-gan-gap-doi-singapore-253415.bld);
20. Jean – Lucmartin – Lagardette (2006), Hướng dẫn cách viết báo, NXB
Thông tấn, Hà Nội;
21. Kỷ yếu hội thảo khoa học (2008), Đào tạo báo chí đáp ứng nhu cầu xã
hội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền;
22. V.Lazutina (2003), Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo, NXB Thông
tấn, Hà Nội;
23. Lê Hồng Liên (2009), Lời dẫn tác phẩm báo chí trên mạng báo điện tử,
Luận văn Thạc sỹ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền;
24. Thùy Long (2010), Hành trang nghề báo: Kỹ năng thu thập thông tin và
viết bài, NXB Thông tấn, Hà Nội;
25. Luật báo chí (1989), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
125
26. Luật báo chí (đã được sửa đổi bổ sung năm 1999), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội;
27. Claudia Mast (2003), Truyền thông đại chúng – Những kiến thức cơ bản,
NXB Thông tấn, Hà Nội;
28. Claudia Mast (2004), Truyền thông đại chúng – Công tác biên tập, NXB
Thông tấn, Hà Nội;
29. X.A.Mikhailốp (2004), Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và
nghịch lý, NXB Thông tấn, Hà Nội;
30. Lưu Hồng Minh (2009), Sự tiếp cận phương tiện truyền thông đại chúng
của công chúng Việt Nam, Báo cáo tổng quan đề tài cấp cơ sở, Học viện
Báo chí và Tuyên Truyền;
31. Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 16/4/2002;
32. Nghị định 72/2013/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
Internet và thông tin trên mạng;
33. Nguyễn Trí Nhiệm – Nguyễn Thị Trường Giang (đồng chủ biên, 2014),
Báo điện tử - Đặc trung và phương pháp sáng tạo, NXB Chính trị Quốc
gia – Sự thật;
34. E.P. Prôkhôrốp (2004), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội;
35. Quảng cáo Google Adwords, Điểm tin Quý I Google năm 2013, đăng
ngày 1/3/2013
(https://facbook.com/adwordsvietnam/posts/252491558151125)
36. Trần Quang (2001), Làm báo – Lý thuyết và thực hành, NXB Đại học
Quốc Gia, Hà Nội;
37. Randy Reddick, Elliot King (2001), Nhà báo trực tuyến: Sử dụng
Internet và các nguồn điện tử khác, Học viện Báo chí và Tuyên truyền;
38. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2005), Cơ sở lý luận
báo chí và truyền thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội;
126
39. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
40. Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Tiến Hải (1995), Tác phẩm báo chí, tập 1, NXB
Giáo dục;
41. Theo TTCN/CNET, Google vẫn là “vua” tìm kiếm tại thị trường Mỹ,
Đăng tải ngày 15/11/2013 (http://nss.vn/p0c21n18560/google-va-la-vua-
tim-kiem-tai-thi-truong-my.htm)
42. Nguyễn Thị Thoa (2008), Giáo trình tác phẩm báo chí đại cương, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền;
43. Nguyễn Thị Huyền Thương (2011), Quản lý xã hội đối với báo điện tử ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền;
44. Phạm Thị Thanh Tịnh (2013), Công chúng báo chí, NXB Chính trị -
Hành chính, Hà Nội;
45. Trần Thị Thu Trang (2012), Cạnh tranh thông tin trên báo điện tử Việt
Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Báo chí học, Học viện báo chí và
Tuyên truyền;
46. Gia Trịnh, Trào lưu tương tác đa truyền thông trong tiếp thị, Báo Doanh
nhân Sài Gòn điện tử, đăng tải ngày 13/7/2014
(http://doanhnhansaigon.vn/marketing-pr/trao-luu-tuong-tac-da-truyen-
thong-trong-truyen-thong-tiep-thi/1082493)
47. Trung tâm Internet Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông (2013),
Báo cáo Tài nguyên Internet Việt Nam năm 2013;
48. Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền thông
(2013), Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí xuất bản, tập II,
NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội;
127
49. Nguyễn Uyển (1998), Báo chí – Nghề nghiệt ngã, NXB Văn hóa Thông
tin, Hà Nội;
50. VTMGroup, Phân tích số liệu thống kê về Internet và di động tại Việt
Nam năm 2014 (http://vtmgroup.com.vn/phan-tich-so-lieu-thong-ke-ve-
internet-và-di-dong-tai-viet-nam-nam-2014)
TIẾNG ANH
51. Martin Asser, Search Engine Optimisation in BBC News, 6/9/2012
(http://bbc.co.uk/blogs/internet/posts/search_engine_optimisation_in)
52. Caphyon (2014), Google Organic CTR 2014
(http://advancedwebranking.com/google-ctr-study-2014.html)
53. Cimigo (2012), NetCitizens 2012 (http://cimigo.vn)
54. Murray Dick (2011), Search Engine Optimisation in UK News
production, Taylor and Francis Online, 23/9/2011
(http://tandfonline.com)
55. Eric Enge, Stephan Spencer, Rand Fishkin, Jessie C. Stricchiola (2009),
The art of SEO, O’Reily Media;
56. Adam Gaumont (2009), SEO for magazines: Optimizing content for
digital publication, Simon Fraser University;
57. Google (2010), Search Engine Optimisation Starter Guide, ebook;
58. Pew Research Center’s Jounalism Project Staff, New Media Old Media,
23/5/2010 (http://jounalism.org/2010/05/23/new-media-old-media/)
59. Danny Sullivan, Who Invested the Term “Search Engine Optimization”?
(http://forums.searchenginewatch.com/showpost.php?p=2119&postcount=10)
14/6/2004
128
PHỤ LỤC 1
PHIẾU THĂM DÕ Ý KIẾN
"TỐI ƯU HOÁ CÔNG CỤ TÌM KIẾM (SEO) CHO BÁO ĐIỆN TỬ"
là một vấn đề quan trọng đang được các đơn vị báo chí rất quan tâm. Từ
những phân tích, đánh giá những mặt đạt được và những hạn chế trong việc
sử dụng SEO ở các cơ quan báo chí hiện nay, mục tiêu là đưa ra một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả SEO cho báo điện tử.
Tôi rất mong nhận được ý kiến của anh chị bằng việc trả lời các câu hỏi
dưới đây,
Trân trọng cám ơn!
Câu hỏi 1: Anh (chị) có biết tối ưu hoá công cụ tìm kiếm (SEO - Search
Engine Optimization) không?
Có
Không?
Câu hỏi 2: Tại cơ quan anh (chị) ai là người chịu trách nhiệm thực hiện SEO
cho các tác phẩm báo điện tử?
Biên tập viên
Phóng viên
Kỹ thuật viên
Bộ phận SEO
Khác
Câu hỏi 3: Anh (chị) đã từng được đào tạo chính thức về SEO chưa?
Đã từng
Chưa bao giờ
129
Câu hỏi 4: Theo anh (chị) SEO có vai trò gì đối với báo điện tử?
Không có vai trò gì
Giúp công chúng dễ tìm thấy tác phẩm thông qua Google
Giúp tác phẩm tiếp cận công chúng nhanh và hiệu quả
Giúp tăng lượt truy cập cho báo
Khác
Câu hỏi 4: Anh (chị) có áp dụng SEO cho các tác phẩm của mình không?
Tất cả các tác phẩm
Khoảng 1/4 tác phẩm
Khoảng 1/3 tác phẩm
Khoảng 1/2 tác phẩm
Khác
Câu hỏi 5: Khi áp dụng SEO, anh/chị quan tâm đến cách thức tối ưu nào nhất?
Nghiên cứu từ khoá
Tối ưu tít (Tittle)
Tối ưu hoá Sapô
Tối ưu hoá chính văn
Tối ưu hoá hình ảnh
Tối ưu hoá liên kết
Quảng bá tác phẩm báo điện tử
Câu hỏi 6: Trong quá trình áp dụng SEO, anh (chị) thường gặp khó khăn gì?
Hạn chế về mặt thời gian
Không hiểu rõ vai trò của SEO đối với các tác phẩm báo điện tử
Không thực sự nắm rõ các cách thức tối ưu hoá công cụ tìm kiếm
Không thành thạo các thao tác, kỹ năng chưa tốt
Thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận, phòng ban
Khác
130
Câu hỏi 7: Việc áp dụng SEO cho báo điện tử của anh (chị) mang lại hiệu
quả gì?
Tăng lượng truy cập vào bài viết nói riêng và cho báo điện tử nói chung
Tăng khả năng cạnh tranh của báo điện tử
Tăng thương hiệu, uy tín của báo mạng điện tử
Khác
Câu hỏi 8: Anh (chị) có muốn nâng cao kiến thức và kỹ năng về SEO cho
báo điện tử không?
Có
Không
Câu hỏi 9: Anh (chị) muốn tìm hiểu thêm về SEO bằng cách nào?
Tự tìm hiểu
Tham gia các khoá huấn luyện do cơ quan tổ chức
Tham gia các khoá huấn luyện bên ngoài
Được đào tạo trong các trường đào tạo báo chí
Khác
Câu hỏi 10: Anh (chị) đánh giá về thực trạng ứng dụng SEO trong đơn vị của
mình như thế nào?
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
Câu hỏi 11: Theo anh (chị) để nâng cao hiệu quả SEO cho báo điện tử của
mình, anh chị cần giải pháp gì?
Nâng cao nhận thức của lãnh đạo và các bộ phận liên quan
Tăng cường đào tạo để nâng cao trình độ và kỹ năng cho đội ngũ
sáng tạo tác phẩm
131
Nâng cao khả năng quản lý, phối hợp giữa các phòng ban
Chú trọng đến các yếu tố kỹ thuật
132
PHỤ LỤC 2
KẾT QUẢ THĂM DÕ Ý KIẾN
Đối tƣợng đƣợc khảo sát: Phóng viên, Biên tập viên và bộ phận làm SEO Thời gian thực hiện: Tháng 2/2016 Phƣơng thức tiến hành: Sử dụng công cụ Survey Online của Google
133
134
135
136
137
PHỤ LỤC 3
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Mr. Hà Anh Tuấn Chức vụ: CEO (chuyên gia về Digital Marketing) Cơ quan công tác: Công ty Cổ phần truyền thông Vinalink Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn qua email
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Chị đánh giá như thế nào về vai trò của tối ưu hoá công cụ tìm
kiếm đối với báo điện tử?
Việc xuất bản các tác phẩm báo điện tử và việc tối ưu hóa các nội dung
này sao cho tương thích với công cụ tìm kiếm có liên hệ mật thiết với nhau,
các tác phẩm báo điện tử được tối ưu hóa không những có khả năng tự tạo ra
lượng độc giả tốt mà còn tạo được độ cạnh tranh nhất định so với các tác
phẩm báo chí khác cùng chủ đề, thậm chí là với chính nội dung của tác phẩm
báo chí đó bị sao chép bởi những trang thông tin tổng hợp. Trong thời đại
hiện nay, đa phần các nội dung xuất hiện trên Internet đều được cung cấp tới
độc giả thông qua công cụ tìm kiếm. Vì vậy, việc các tác phẩm báo chí được
tiến hành SEO là việc làm không thể thiếu.
Câu hỏi 2: Theo anh, báo điện tử có những thuận lợi gì khi ứng dụng tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm của mình?
Báo mạng điện tử ứng dụng SEO có những thuận lợi nhất đinh. Thuận
lợi đầu tiên là số lượng độc giả của báo điện tử lớn khiến cho các nội dung
trên báo điện tử được thường xuyên chia sẻ rộng rãi trong cộng đồng mạng,
điều này giúp ích rất nhiều cho việc tăng thứ hạng các nội dung trên báo điện
tử cho với các nội dung trên website thuộc thể loại khác. Một báo điện tử
càng có lượng độc giả lớn, khả năng tự tương thích với các công cụ tìm kiếm
càng cao.
138
Một thuận lợi khác nằm ở nguồn nhân lực tương đối mạnh của các báo
điện tử, nguồn nhân lực viết bài của các báo giúp các báo tạo ra được một
lượng lớn các nội dung không trung lặp với chất lượng nội dung cao mà ít
website khác có được.
Câu hỏi 3: Anh đánh giá như thế nào về thực trạng báo điện tử Việt Nam ứng
dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trong thời gian qua?
Việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trên các website báo điện tử Việt
Nam mới được quan tâm trong thời gian chưa lâu, có thể nói là chậm hơn rất
nhiều so với các loại website khác, nhất là với các website thương mại điện
tử. Điều này một phần là do khả năng tự động tương thích với các công cụ tìm
kiếm của báo điện tử nhờ lượng độc giả lớn, điều này khiến những người làm
báo mạng điện tử thiếu đi sự quan tâm với lĩnh vực SEO.
Gần đây, sự phổ biến của các kỹ thuật SEO khiến những người làm báo
điện tử cũng quan tâm tới những vấn đề này, tuy nhiên chưa nhiều. Một số
trang tổng hợp thông tin tự động như baomoi.com có khả năng làm SEO tốt
hơn nhiều so với các báo mạng điện tử, vì thế tác phẩm vừa mới xuất bản trên
báo điện tử nhưng khi tìm kiếm với Google, những tác phẩm đó lại nằm trên
baomoi.com và nhiêu khi trên baomoi.com lại có thứ hạng cao hơn so với tác
phẩm gốc. Báo điện tử Việt Nam nói chung còn cần phải cải tiến nhiều cả về
kỹ thuật lẫn các phương thức sản xuất nội dung để có thể khai thác tối đa
lượng độc giả thông qua các công cụ tìm kiếm.
Câu hỏi 4: Theo anh, nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế của báo điện
tử Việt Nam trong quá trình tối ứu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm
báo điện tử?
Nguyên nhân trước hết đến từ các vấn đề mang tính kỹ thuật. Các hệ
thống website đăng tải nội dung của các báo điện tử Việt Nam hiện nay đa
phần chưa được xây dựng tốt, nhất là với các thành phần cần thiết để đáp ứng
139
cho các công cụ tìm kiếm. Hai là do báo điện tử chậm thích ứng với công
nghệ, với xu thế SEO. Ba là những người làm báo điện tử không thực sự am
hiểu về cách viết nội dung để đáp ứng tốt nhất với công cụ tìm kiếm, họ
thường chú trọng diễn đạt nội dung theo văn phong của mình mà quên đi các
biện pháp, các tính toán cụ thể trong việc kết hợp từ ngữ để gia tăng sức cạnh
tranh cho nội dung của mình trên Internet. Đại đa phần các phóng viên báo
điện tử thậm chí không được đào tạo về các kiến thức này.
Câu hỏi 5: Anh có thể đưa ra những giải pháp mà báo điện tử Việt Nam có
thể áp dụng để nâng cao hiệu quả tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các tác
phẩm?
Để nâng cao hiệu quả khai thác độc giả từ nguồn công cụ tìm kiếm,
trước tiên các báo điện tử cần cải tiến tốt hạ tầng kỹ thuật trên hệ thống
website của mình, tiếp đó là những người làm báo cần được đào tạo kỹ năng
viết bài và tư duy theo hướng không chỉ đảm bảo chất lượng nội dung mà còn
phải đảm bảo SEO. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn phải là việc đầu tư cho
chất lượng nội dung theo hướng có nghiên cứu nghiêm túc về các chủ đề đáp
ứng nhu cầu thông tin của xã hội, các nội dung bám theo những chủ đề này sẽ
có tác dụng tốt trong việc thu hút độc giả đến từ công cụ tìm kiếm.
Câu hỏi 6: Anh thường chú ý đến vấn đề gì khi tiến hành đào tạo SEO cho
các bạn làm báo điện tử?
Trong các khóa đào tạo SEO cho các báo điện tử, tôi chú trọng nhất
đến vấn đề nghiên cứu chất lượng nội dung và phân tích độ cạnh tranh của
các nội dung theo chủ đề sẽ được viết so với các nội dung khác đã tồn tại trên
Internet.
Câu hỏi 7: Anh dự đoán như thế nào về xu hướng ứng dụng tối ưu hóa công
cụ tìm kiếm cho báo điện tử trong thời gian tới?
140
Việc ứng dụng SEO trên bất cứ hệ thống website nào, không chỉ với
báo điện tử, là xu hướng tất yếu. Hiện trên thế giới, việc áp dụng kỹ thuật này
với báo điện tử đã trở nên rất phổ biến, người ta không chỉ ứng dụng nó với
các mô hình website trên máy tính thông thường mà còn áp dụng trên các
website dành cho thiết bị di động, thiết bị hiển thị thông minh và các phương
pháp tối ưu dành cho độc giả theo vị trí địa lý khác nhau.
Tại Việt Nam, các xu hướng kể trên còn đang manh nha nhưng với sự
phát triển mạnh mẽ của công nghệ, trong tương lai rất gần, các công nghệ trên
sẽ được ứng dụng tại Việt Nam, cùng với sự phát triển ngày càng theo chiều
sâu của các công cụ tìm kiếm, việc làm SEO cũng sẽ dần dần phát triển về
chất nhiều hơn là về lượng và tập trung chủ yếu ở quá trình sản xuất nội
dung.
141
PHỤ LỤC 4
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Ông Lê Quốc Minh Chức vụ: Tổng biên tập Cơ quan công tác: Báo điện tử VietnamPlus Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn qua email
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Thưa anh! VietnamPlus ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
(SEO) từ bao giờ? Tại sao VNPlus lại quyết định ứng dụng SEO và thời điểm
đó ạ?
SEO là cách làm bắt buộc để nội dung đạt hiệu quả trên các công cụ
tìm kiếm và chúng tôi áp dụng các kỹ thuật SEO ngay khi báo điện tử ra đời
vào cuối năm 2008. Ban đầu VietnamPlus chủ yếu phụ thuộc vào đối tác công
nghệ về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm chứ các phóng viên, biên tập viên hầu
như chưa tham gia gì vào quá trình này, vì thực tế SEO liên quan nhiều đến
công đoạn lập trình và tối ưu hóa hệ thống.
Đến năm 2010 thì tòa soạn bắt đầu đẩy mạnh công tác này trong phần
nội dung, Phóng viên, Biên tập viên được huấn luyện để chủ động đặt tag cho
các bài viết cũng như học các cách thức về đặt tiêu đề, viết summary hoặc đặt
tên file ảnh, video cho hiệu quả nhất, hỗ trợ SEO được nhiều nhất.
Câu hỏi 2: Anh đánh giá như thế nào về vai trò của SEO đối với các tác
phẩm báo điện tử nói riêng và đối với báo điện tử nói chung?
Muốn nội dung được tìm kiếm thì phải biết làm SEO – cả về lập trình
công nghệ cho đến việc chủ động trong nội dung. Việc này là không phải bàn
cãi, và gần đây nhiều báo cũng đẩy mạnh SEO, tuy nhiên, đa số các báo phụ
thuộc vào bộ phận kỹ thuật chứ về nội dung thì nhiều nơi làm chưa đúng hoặc
lạm dụng quá nhiều. Ví dụ vào những thời điểm nhất định, có những từ khóa
(Từ khóa) đang nội bật và được liệt vào dạng trending thì có báo cho tất cả
142
vào các tin, làm như vậy là lừa độc giả vì nội dung thực tế không hề liên
quan.
Phụ thuộc quá nhiều vào SEO cũng có nguy cơ làm giảm chất lượng
báo chí, lý do cá nhân các phóng viên và cao hơn là cấp độ tòa soạn sẽ chạy
theo những vấn đề, những từ khóa trending hơn là những vấn đề thực sự có ý
nghĩa với xã hội.
Câu hỏi 3: VietnamPlus có đặt ra những quy định, nguyên tắc, cách thức ứng
dụng SEO cho báo điện tử không?
Đương nhiên tòa soạn cũng chú trọng đến SEO trong nội dung và có
những quy định cụ thể, ví dụ với phóng viên, biên tập viên được yêu cầu chú
trọng đến các từ khóa thuộc loại “long tail” để giảm tính cạnh tranh và đạt
được hiệu quả cao hơn. Có những loại Từ khóa đang phổ biến thì cần lưu ý,
nhưng cũng cần biết đặt ra những Từ khóa khác biệt. Chúng tôi cũng hướng
dẫn kỹ về cách thức đặt tiêu đề sao cho thu hút, dễ nổi bật trên các trang tìm
kiếm, cách viết các đoạn summary sao cho hỗ trợ được tiêu đề, giúp độc giả
nhanh chóng quyết định click vào tin của mình. Đương nhiên còn rất nhiều
vấn đề tiểu tiết khác.
Câu hỏi 4: Ở VietnamPlus, bộ phận nào chịu trách nhiệm SEO cho các tác
phẩm báo điện tử? Tỷ lệ các tác phẩm của VietnamPlus được tiến hành SEO
là bao nhiêu?
Như đã đề cập, một mặt VietnamPlus phối hợp với đối tác công nghệ
SEO về mặt kỹ thuật, cách thức này sẽ hỗ trợ không chỉ toàn trang web mà tất
cả các nội dung đều được ứng dụng SEO một cách tự động. Ngoài ra, với
từng bài viết, các phóng viên và biên tập viên đều bắt buộc phải thực hiện một
số thao tác để hỗ trợ SEO, ví dụ như đặt tag, biết chọn các trending từ khóa
trong tiêu đề, biết cách summary để thu hút, trong nội dung bài thì phải lưu ý
một số điểm, cách xử lý ảnh hoặc video phải như thế nào… Tất cả các bài viết
143
của VietnamPlus đều được ứng dụng SEO bằng cả cách là tự động và làm
bằng tay.
Câu hỏi 5: VietnamPlus có tiến hành đào tạo SEO cho phóng viên, biên tập
viên không?
Chúng tôi tổ chức đào tạo nghiệp vụ thường xuyên và SEO cũng là một
phần của công tác đào tạo. Tuy nhiên, đây không phải là việc chính của phóng
viên, biên tập viên mà chỉ là một công cụ cần lưu ý trong công việc.
Việc đào tạo này cũng kéo dài, mang tính chất khuyến khích và góp ý
là chính chứ không có chế tài nếu phóng viên, biên tập viên làm chưa đúng.
Đôi khi chung tôi mời chuyên gia về huấn luyện về SEO và trong phần trao
đổi nội bộ hàng tuần cũng thường xuyên rút kinh nghiệm về việc này.
Câu hỏi 6: Việc ứng dụng SEO cho báo điện tử đã đem lại những thành công
gì cho VietnamPlus? Và VietnamPlus có thường xuyên tiến hành đánh giá
hiệu quả của việc ứng dụng SEO không?
Thành công rõ ràng nhờ SEO thì khó nói, bởi chúng tôi tiến hành khá
tổng thể về mọi phương diện để VietnamPlus trở nên nội bật hơn: Từ việc
thiết kế lại giao diện, bổ sung responsive design, tối ưu hóa về công nghệ
cũng như tốc độ hiển thị ảnh, video trên desktop cũng như tablet và mobile;
Có các chiến lược cụ thể về nội dung, kết hợp social media, liên tục giới thiệu
các sáng tạo mới như ảnh 360, flycam… SEO chỉ là một phần trong toàn bộ
quy trình này và thực tế chúng tôi chú trọng vừa phải yếu tố SEO bởi không
thể thuần túy chạy theo các vấn đề mang tính câu khách.
Câu hỏi 7: Theo anh đâu là những hạn chế mà VietnamPlus cần khắc phục
để nâng cao hiệu quả ứng dụng SEO cho báo điện tử? Những hạn chế này bắt
nguồn từ nguyên nhân nào?
Nhiệm vụ của VietnamPlus là phản ánh đầy đủ mọi mặt cuộc sống,
cũng như cung cấp đầy ddur mọi thông tin về thế giới cho độc giả, vì thế nội
144
dung của VietnamPlus rất nhiều và đa dạng chứ không tập trung vào tuyến tin
câu khách. Đây là những ưu thế nhưng cũng là khó khăn của VietnamPlus.
SEO về mặt kỹ thuật chỉ đáp ứng được một phần, nếu không có những
nội dung đang được dư luận quan tâm thì cũng khó tiếp cận độc giả, nhưng
trong rất nhiều trường hợp, biết là nội dung ăn khách nhưng VietnamPlus
cũng không thể triển khai giống như các báo điện tử khác vì tôn chỉ của
VietnamPlus là đưa thông tin chính thống và nghiêm túc. Trong trường hợp
đó, dù có áp dụng mọi thủ thuật SEO thì một tỷ lệ không nhỏ nội dung vẫn
khó được đa số độc giả quan tâm.
Câu hỏi 7: Để nâng cao hiệu quả ứng dụng SEO, theo anh cần những giải
pháp gì?
Để nâng cao hiệu quả SEO, quan trọng nhất là liên tục nâng cấp hệ
thống kỹ thuật, xỷ lý lỗi trong hệ thống, lỗi duplicate các nội dung, tối ưu hóa
đặc biệt là về hình ảnh và video để tăng tốc độ tài, bổ sung các lệnh để các
trang tìm kiếm dễ index. VietnamPlus gần như cập nhật hệ thống hàng tháng,
thậm chí có thời gian là hàng tuần. Đương nhiên, về nội dung phải “bắt” được
xu hướng của độc giả, chủ động từ khâu lên kế hoạch nội dung, triển khai bài
viết cho đến việc chú trọng cac yếu tố tin bài như tag, tiêu đề, summary…
Nhưng trong bối cảnh tất cả các website đề tích cực ứng dụng SEO, kể cả sử
dụng các thủ thuật không lành mạnh thì việc tạo ra những nội dung độc đáo
vẫn là yếu tố quan trọng để tạo sự khác biệt và thu hút độc giả đến với
website của mình.
145
PHỤ LỤC 5
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Chu Mạnh Hải Chức vụ: Thư ký tòa soạn Cơ quan công tác: Báo điện tử Dân Trí Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn qua email
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Cơ quan báo điện tử của anh có ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm
kiếm (SEO) cho các tác phẩm báo điện tử không?
Dân Trí có tiến hành ứng dụng SEO cho các tác phẩm, đây cũng là xu
hướng chung của báo điện tử. Thực ra nó xuất phát từ chính nhu cầu của độc
giả, xu hướng đọc tin bây giờ không nhất thiết vào một địa chỉ, một tờ báo
nào đó mà công chúng có thể dựa trên từ khóa thông qua các công cụ tìm
kiếm để đọc những thông tin cần thiết.
Câu hỏi 2: Trong cơ quan báo điện tử của anh, bộ phận nào chịu trách
nhiệm thực hiện SEO cho các tác phẩm báo điện tử?
Phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên đều tiến hành ít nhiều những
cách thức, phương pháp SEO cho báo điện tử.
Câu hỏi 3: Dân Trí có tiến hành đào tạo SEO cho phóng viên, biên tập viên?
Đội ngũ phóng viên, biên tập viên mới vào chủ yếu là được những
đồng nghiệp đi trước truyền kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Làm càng
nhiêu, phóng viên, biên tập viên sẽ càng có nhiều kinh nghiệm. Từ đó họ rút
ra được những cách tốt để vừa phản ánh đối tượng nội dung thông tin vừa
giúp tăng thứ hạng của tác phẩm trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm.
Câu hỏi 4: Tỷ lệ các tác phẩm báo điện tử của đơn vị mình được tiến hành
SEO là bao nhiêu?
146
Hầu như 100% các tác phẩm của Dân Trí đều được ít nhiều tiến hành
các cách thức SEO.
Câu hỏi 5: Dân Trí có đặt ra những quy định, nguyên tắc, cách thức ứng
dụng SEO cho các tác phẩm của đơn vị mình không?
Khi đã xác định dùng SEO thì mình cần xác định tối ưu hóa cần tương
đồng với xu hướng tìm kiếm của độc giả, những sự kiện nóng nhất thiết phải
có những từ khóa để công chúng dễ dàng tìm kiếm. Những từ khóa chính
được ưu tiên để trên tít, sapo. Thực ra trước đây khi chưa nhận thức được tầm
quan trọng của SEO, báo điện tử vẫn thường đặt tít không chứa từ khóa và
mang hơi hướng văn chương, chơi chữ, bây giờ, tòa soạn định hướng đặt tít
đơn giản, gần gũi với công chúng và phù hợp với công cụ tìm kiếm.
Mật độ từ khóa trong chính văn cũng được quan tâm, thường ưu tiên từ
khóa chính ở những vị trí đầu tác phẩm, chú thích ảnh cũng được hướng vào
việc tìm kiếm hiệu quả, cần nêu rõ thời gian, địa điểm, nguồn ảnh rõ ràng.
Dân Trí coi trọng chèn Tag, điều này giúp biên tập viên kiểm soát lượng bài
một cách liên tục, liền mạch và phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm trên website
của các báo. Thực ra việc chèn tag đều đã được các báo điện tử làm trước khi
nhận thức được vai trò của ứng dụng SEO.
Câu hỏi 6: Hiệu quả sau khi ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho các
tác phẩm báo điện tử là gì?
Dân Trí có tổ chức những buổi họp trong đội ngũ thư ký tòa soạn,
thường là một tháng một lần để tổng kết lượng bạn đọc. Khi đề cập đến
những phương pháp giúp tăng lượng truy cập, chúng tôi cũng có đề cập đến
việc ứng dụng SEO và cũng đánh giá cao tính hiệu quả của việc ứng dụng
SEO cho tác phẩm.
147
Thực ra, không phải riêng chúng tôi mà giới truyền thông đều đánh giá
SEO là một trong những phương pháp hiệu quả để tăng tỷ lệ bạn đọc, khi ứng
dụng SEO tốt sẽ giúp tác phẩm ở đầu trang kết quả tìm kiếm.
Câu hỏi 7: Theo anh, việc áp dụng SEO cho báo điện tử có những hạn chế
gì? Và phương án khắc phục các hạn chế này như thế nào?
Báo điện tử hiện nay đang phải cạnh tranh với những trang tin điện tử.
Đây là sự cạnh tranh không lành mạnh khi nhiều báo điện tử không ứng dụng
SEO tốt bằng các trang tin điện tử, điều này đến từ việc nhiều cơ quan báo
điện tử chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của SEO. Ngay tử đội ngũ những
người làm báo tương lai cũng chưa được đào tạo, tiếp cận với vấn đề SEO.
Do đó, cần nâng cao nhận thức của cơ quan báo điện tử, của đội ngũ phóng
viên, biên tập viên.
148
PHỤ LỤC 6
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Vũ Huyền Linh Chức vụ: Trưởng phòng SEO và Marketing Cơ quan công tác: Báo điện tử VietNamNet Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn qua email
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Chị đánh giá như thế nào về vai trò của tối ưu hoá công cụ tìm
kiếm đối với báo điện tử?
Google đang là công cụ hàng đầu trong việc tìm kiếm các nội dung
quan tâm của người dùng. Một sự kiện đang nóng, một nhân vật đang gây chú
ý hay một chương trình hay..., nếu muốn tìm hiểu các thông tin chi tiết, người
dùng chỉ cần gõ vài từ khoá trên Google cũng như các công cụ tìm kiếm khác
(Bing, Cốc cốc...). Hơn thế nữa, ngày càng nhiều báo điện tử, trang tin tổng
hợp ra đời kéo theo nguồn thông tin cho người dùng trở nên khổng lồ hơn bao
giờ hết. Vậy làm thế nào để một trang báo gặp đúng độc giả của mình trên
môi trường tìm kiếm rộng lớn? Làm thế nào để một trang báo tiếp cận ngay
lập tức với người dùng của mình bằng chính vấn đề họ quan tâm? Tối ưu hoá
công cụ tìm kiếm chính là một vấn đề rất nóng đối với tất cả các trang tin, báo
điện tử hiện nay. Chính vì thế, có thể nói, một báo điện tử/trang tin điện tử
hoặc là phải làm SEO hoặc là sẽ chìm dần trong biển thông tin rộng lớn!
Câu hỏi 2: Chị đã từng được đào tạo về SEO chưa?
Tôi đã được đào tạo về SEO bởi các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh
vực này. Đồng thời, với yêu cầu công việc, các kiến thức SEO cũng luôn cần
được cập nhật mỗi ngày
Câu hỏi 3: Nhiệm vụ chính của phòng SEO ở đơn vị mình bao gồm những gì?
Team SEO có nhiệm vụ tối ưu hoá website về mặt kỹ thuật sao cho
thân thiện với các bộ máy tìm kiếm, hướng dẫn đội ngũ biên tập xuất bản các
149
bài viết chuẩn SEO và xây dựng các đường liên kết thân thiện để website trở
nên hữu dụng với người dùng, đồng thời trở thành một website được các máy
tìm kiếm dễ dàng tiếp cận và hiểu được website hướng đến đối tượng nào.
Câu hỏi 4: Phòng SEO có quản lý việc thực hiện SEO của đội ngũ phóng
viên, BTV không? hay toàn bộ công việc SEO này được thực hiện tại đây?
Công việc SEO được điều phối chính bới team SEO, tất yếu phải có sự
tham gia của đội ngũ phóng viên, BTV vì nội dung của một website là quan
trọng hàng đầu trong việc làm SEO
Câu hỏi 5: Trong quá trình thực hiện SEO cho đơn vị mình, chị tiến hành
SEO như thế nào?
Tối ưu nội dung (nội dung tự sản xuất và phù hợp thị hiếu độc giả, bố
cục chuẩn SEO), chuẩn hoá website về mặt kỹ thuật sao cho thân thiện với
máy tìm kiếm, phát triển các kênh mạng xã hội để phủ rộng lượng độc giả cho
website
Câu hỏi 6: Cách thức đánh giá hiệu quả sau khi chị thực hiện SEO thế nào?
Thứ hạng website đối với các từ khoá cốt lõi, thứ hạng website trên
trang tìm kiếm đối với các từ khoá theo xu hướng, lượng traffic tăng trưởng
từ tìm kiếm tự nhiên
Câu hỏi 7: Chị đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của việc tăng cường
áp dụng SEO cho báo điện tử của mình?
SEO cùng với các hình thức marketing online khác là đòn bẩy cho sự
tăng trưởng của báo điện tử. Tuy nhiên chất lượng nội dung vẫn là quan trọng
số 1 và giúp tờ báo đó trở thành thương hiệu được ghim trong tâm trí độc giả,
thúc đẩy ngược lại làm tăng trưởng hiệu quả của các hình thức marketing.
150
PHỤ LỤC 7
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Nguyễn Hoàng Yến Chức vụ: Biên tập viên ban xã hội Cơ quan công tác: Báo điện tử Dân Trí Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp tại tòa soạn
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Chị có biêt về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) không?
Thực ra tôi không nắm rõ khái niệm chính xác về SEO, nhưng tại Dân
Trí, chúng tôi có tiến hành những cách thức để giúp tác phẩm có thứ hạng cao
hơn trên bảng kết quả của công cụ tìm kiếm
Câu hỏi 2: Chị đã từng được đào tạo về SEO chưa?
Tôi đã công tác ở Dân Trí khoảng 7-8 năm nhưng tôi vẫn chưa trải qua
một khóa đào tạo chính thức nào về SEO. Những cách thức SEO chủ yếu tôi
biết trong quá trình làm việc, trao đổi với đồng nghiệp.
Câu hỏi 3: Trong quá trình biên tập tác phẩm, chị tiến hành ứng dụng SEO
như thế nào?
Gần như 100% các tác phẩm đều được tiến hành SEO. Trước hết là lựa
chọn từ khóa, việc lựa chọn từ khóa dựa vào nội dung của sự kiện và mức độ
quan tâm của độc giả. Từ khóa phải có liên hệ mật thiết, đại diện tiêu biểu cho
sự kiện. Mức độ quan tâm của mỗi độc giả phụ thuộc vào lượng view của các
tác phẩm có đề cập tới nhân vật, sự kiện liên quan. Tức là chúng tôi thường
dựa vào những tác phẩm có chủ đề liên quan tới tác phẩm mình đang tiến
hành SEO. Tác phẩm nào có nhiều lượt xem của độc giả thì chúng tôi sẽ dựa
vào những từ khóa của bài đó để đặt từ khóa phù hợp cho tác phẩm của mình.
Ngay cả những dòng bình luận của độc giả cũng có thể giúp cho việc lựa chọn
151
từ khóa khi phóng viên, biên tập viên biết được công chúng đang quan tâm tới
vấn đề gì và đang tìm kiếm sự kiện với từ khóa phổ biến nào.
Thương là biên tập viên cố gắng hết sức có thể để từ khóa có trong tít.
Từ khóa thường được đặt ngay đầu Tít, dĩ nhiên, trong một số trường hợp
cũng cần cân nhắc giữa tít có thể gây xúc động được với công chúng và tít
chứa từ khóa. Độ dài của tít cố gắng tối đa là 14 từ, độ dài của Sapo không
quá 58 từ.
Chủ yếu khi biên tập, chúng tôi quan tâm đến đặt tag, tức là chúng tôi
lựa chọn và chèn những từ khóa tiêu biểu, liên quan mật thiết tới nội dung tác
phẩm vào dưới chân tác phẩm. Hệ thống quản lý nội dung cũng có chức năng
đặt từ khóa trong tag tự động. Khi biên tập mình sẽ bỏ những từ khóa không
phù hợp hoặc thêm vào những từ khóa phù hợp hơn, việc này giúp cho độc
giả có thể dễ dàng tìm kiếm tin bài trên trang báo và cũng giúp phóng viên dễ
dàng tìm kiếm link bài viết liên quan để chèn vào một tác phẩm mới. Nó cũng
hỗ trợ cho quá trình SEO tác phẩm.
Tuy nhiên việc lựa chọn từ khóa cũng cần rất cân nhắc, dung lượng titis
nhiều khi không cho phép từ khóa quá dài, và đôi khi biên tập viên biết là cho
nhiều từ khóa đang “hot” vào tác phẩm thì sẽ giúp tác phẩm có nhiều cơ hội
được tìm kiếm hơn. Nhưng khi từ khóa đó không thực sự phù hợp với nội
dung tác phẩm hoạc có thể gây hiểu nhầm về nội dung tác phẩm thì chúng tôi
không cho vào.
Dân Trí không có quy định cụ thể về chèn liên kết nhưng cố gắng
không chèn nhiều vì nó sẽ gây rối mắt với độc giả và thực tế hệ thống cũng
không thể hiện quá nhiều liên kết. Số lượng link các bài viết liên quan chèn ở
dưới sapo thường là 3 link.
Câu hỏi 4: Hiệu quả sau khi ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo
điện tử là gì?
152
Vấn đề về SEO hỗ trợ rất tốt cho việc tìm kiếm trên Google của độc
giả, thực ra bây giờ độc giả không phải ai cũng vào một trang báo nhất định
mà có thể họ chỉ quan tâm đến sự kiện và họ sẽ tìm tác phẩm thông qua
Google. Vì vậy việc tối ưu rất quan trọng, nếu làm tốt tác phẩm của báo mình
sẽ có thứ hạng cao hơn trên bảng tìm kiếm kết quả Google và vì thế tác phẩm
sẽ dễ dàng tiếp cận với độc giả hơn. Ngược lại, tác phẩm của báo mình sẽ có
vị trí thấp hơn tác phẩm của báo khác và độc giả sẽ truy cập vào các trang báo
khác, như thế báo mình sẽ mất độc giả.
153
PHỤ LỤC 8
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Bạch Thị Hân Chức vụ: Phóng viên Ban Kinh tế Cơ quan công tác: Báo điện tử VietNamNet Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn qua email
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Chị có biêt về tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) không?
Về khái niệm SEO thực sự là tôi không nắm rõ nhưng nói đến công cụ
tìm kiếm Google thì tôi cũng có biết một chút
Câu hỏi 2: Chị đã từng được đào tạo về SEO cho báo điện tử chưa?
Những kỹ năng về SEO thường là kinh nghiệm của đồng nghiệp đi
trước truyền lại và làm theo quy định của từng ban. Tôi làm ở VietNamNet
được 3 năm và chưa từng tham gia một khóa đào tạo chính thức nào. Nếu
được tham gia các lớp, khóa đào tạo về SEO thì rất tốt, điều này giúp tác
phẩm được SEO tốt hơn.
Câu hỏi 3: Chị có thường xuyên tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho tác phẩm
của mình không?
Gần như 100% tác phẩm đều được ứng dụng một số cách thức SEO, kể
cả những tác phẩm lấy lại từ báo khác, VietNamNet quy định tít không quá 13
từ và bắt buộc phải chứa từ khóa. Từ khóa sẽ được dàn trải trong tác phẩm.
Từ khóa tìm kiếm không nhất thiết phải chèn trong chú thích ảnh nhưng nếu
nằm trong chùm ảnh thì phóng viên phải chú ý đưa từ khóa vào chú thích ảnh.
VietNamNet chú trọng tới việc chèn Tag, tuy nhiên, mỗi ban làm theo
một cách khác nhau. Ở VietNamNet thì Biên tập viên phụ trách vấn đề này,
riêng ban kinh tế của VietNamNet do phóng viên tự làm. Quy định mỗi tác
phẩm, phóng viên sẽ phải chèn ít nhất 10 từ khóa thông dụng nhất và thể hiện
154
nội dung chủ yếu của tác phẩm vào phần tag dưới chân tác phẩm. Đối với
những tác phẩm lấy lại của báo khác không nhất thiết phải chứa 10 từ khóa.
Những từ khóa này gọi là từ khóa tìm kiếm để khi người dùng gõ vào một từ
khóa nào nằm trong số những từ đó khi tìm kiếm trên google thì tác phẩm của
mình sẽ hiện ra trên bảng kết quả. Hàng tuần ban kinh tế của VietNamNet có
thống kê số liệu về từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên Google cho phóng
viên tham khảo.
Dưới Sapo ít nhất có 3 link tới tác phẩm khác. Nếu tác phẩm là một vấn
đề sâu thì link tới tác phẩm của báo VietNamNet, còn đối với tác phẩm lấy từ
báo khác, VietNamNet không có nhiều tác phẩm về chủ đề này thì mới dẫn
của báo khác.
Câu hỏi 4: Trong quá trình tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho tac phẩm báo
điện tử, chị thường gặp những khó khăn gì?
Thứ nhất là do hạn chế về mặt thời gian. Phóng viên báo điện tử luôn
có một khoảng thời gian hạn hẹp cho sáng tạo tác phẩm và việc đẩy tác phẩm
lên hệ thống. Do đó, thời gian dành cho các thao tác SEO cho tác phẩm không
nhiều. Thứ hai là do không được đào tạo một cách bài bản nên những kỹ năng
về SEO không thuần thục. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho việc áp dụng
SEO cho tác phẩm mất nhiều thời gian hơn.
Câu hỏi 5: Chị có thể cho biết hiệu quả sau khi ứng dụng tối ưu hóa công cụ
tìm kiếm cho báo điện tử không?
Theo thống kê của ban kinh tế thì nếu làm SEO cẩn thận, đúng quy
trình, đúng từ khóa quan trọng thì tác phẩm báo điện tử được xuất hiện ở vị trí
cao hơn trên bảng kết quả tìm kiếm và có số lượng truy cập nhiều hơn. Ban
kinh tế đã từng thí điểm một tuần không ứng dụng SEO và một tuần ứng dụng
SEO, kết quả cho thấy, lượng view tăng lên một cách rõ rệt ở tuần có ứng
dụng SEO.
155
Câu hỏi 6: Theo chị có những biện pháp gì để giải quyết những khó khăn và
nâng cao hiệu quả SEO cho các tác phẩm báo điện tử?
Nếu muốn làm tốt SEO, theo tôi phải có những quy định cụ thể bắt
buộc đối với phóng viên, biên tập viên. Vấn đề SEO đang không được đề cao,
phóng viên, biên tập viên đang làm SEO với tính chất đối phó nên hiệu quả
không cao.
156
PHỤ LỤC 9
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử
Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Nguyễn Hà Quyên
Chức vụ: Phóng viên
Cơ quan công tác: Báo điện tử VienamPlus
Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn bên ngoài tòa soạn
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Chị có được yêu cầu sử dụng tối ưu hoá công cụ tìm kiếm (SEO)
cho các tác phẩm trước khi xuất bản không?
Trước đây, cơ quan chúng tôi không chú trọng SEO, nhưng gần đây do
lượt truy cập giảm, thứ hạng giảm, và ban lãnh đạo quan tâm đến việc tối ưu
hóa công cụ tìm kiếm hơn nên đã yêu cầu phóng viên, biên tập viên phải thực
hiện SEO tác phẩm của mình. Trước đó, cơ quan đã mời chuyên gia SEO về
giảng bài và nêu rõ các bước cho từng phòng ban. Ngoài ra, còn có một đội
SEO hỗ trợ.
Câu hỏi 2: Chị đánh giá như thế nào về vai trò của SEO với báo điện tử?
Rất quan trọng hiện nay bởi giúp người đọc nhận diện được báo của
mình, bài của mình nhiều hơn. Sau khi thực hiện SEO, tên báo được hiện lên
trên thanh công cụ tìm kiếm nhiều hơn
Câu hỏi 3: Chị đã từng được đào tạo về SEO chưa?
Chưa, nhưng mới đây đã được cơ quan mời chuyên gia về giảng bài.
Câu hỏi 4: Chị có thường xuyên ứng dụng tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho
các tác phẩm của mình không?
Do cũng mới được tiếp cận và được giới thiệu nên nên chỉ mới thỉnh
thoảng áp dụng
157
Câu hỏi 5: Chị thực hiện SEO cho các bài viết của mình như thế nào?
Trước mắt tìm ra từ khóa chính cho bài viết (cụm từ có nghĩa từ 3-8
chữ), sau đó thực hiện tối ưu từ khóa chính trên title (tilte không trùng 100%
với từ khóa chính, từ khóa chính nên được ưu tiên xuất hiện trên đầu title,
không dùng các ký tự đặc biệt ngăn cách), sau đó tối ưu trên sapo (nhắc lại từ
khóa chính, ưu tiên ở đầu sapo, dùng thêm từ khóa phụ - có nghĩa tương đồng
từ khóa chính). Tiếp đến sử dụng từ khóa chính và từ khóa tương đồng từ
khóa chính ít nhất 2 lần trong bài, title phụ, chú thích ảnh). Cuối cùng nhập từ
khóa chính, tag vào cms. Trong đó tag là từ khóa phụ.
Câu hỏi 6: Chị thấy hiệu quả sau khi chị SEO các bài viết là như thế nào?
Sau khi gõ từ khóa trên công cụ tìm kiếm, bài viết của mình hiện lên
trên những trang đầu.
Câu hỏi 7: Trong quá trình SEO các tác phẩm của mình chị thường gặp
những khó khăn gì?
Chưa quen và bất tiện trong việc xác định từ khóa chính, diễn đạt lặp
lại từ khóa gây rối, bất tiện.
Câu hỏi 8: Theo chị có những biện pháp nào để giải quyết những khó khăn
và nâng cao hiệu hiệu quả SEO cho các tác phẩm báo điện tử?
Training nhiều hơn về SEO và tối ưu nội dung. Trong SEO, nội dung
vẫn là yếu tố quan trọng nhất.
158
PHỤ LỤC 10
BIÊN BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
Đề tài: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm cho báo điện tử Họ tên ngƣời trả lời phỏng vấn: Lương Tấn Hường Chức vụ: Thư ký tòa soạn Cơ quan công tác: Báo điện tử VietNamNet Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn qua email
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Câu hỏi 1: Anh đánh giá như thế nào về vai trò của tối ưu hoá công cụ
tìm kiếm đối với báo điện tử?
Cùng với công tác chuyên môn và nghiệp vụ báo chí, tính hấp dẫn của
đề tài, khả năng của phóng viên và biên tập viên thì SEO là một phần không
thể thiếu đối với mọi báo điện tử. SEO không chỉ giúp cho bài báo đến được
với nhiều độc giả hơn mà còn tăng tính cạnh tranh giữa các báo và giúp cho
“tuổi thọ” của bài báo được dài hơn.
Câu hỏi 2: Theo anh, báo điện tử có những thuận lợi và khó khăn gì
trong việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm cho các tác phẩm của mình?
Thuận lợi: Các nội dung được tạo mới liên tục và người làm SEO có
điều kiện để xây dựng các chiến dịch SEO, chủ đề SEO với nội dung đa dạng
hơn và có hiệu quả hơn.
Khó khăn: Trong nhiều trường hợp, để đảm bảo tính báo chí, sự cẩn
trọng của nghiệp vụ và các tôn chỉ, mục đích khác, các thủ thuật và kỹ thuật
SEO không thể được áp dụng.
Câu hỏi 3: Anh đánh giá như thế nào về thực trạng ứng dụng SEO cho
báo điện tử ở Việt Nam hiện nay?
Một số tờ báo đã bắt đầu nhận thức được sự quan trọng của SEO trong
báo chí và đã có chiến lược thực hiện. Tuy nhiên, sự hạn chế trong kỹ thuật
(do không được nắm quyền tùy biến, chỉnh sửa và thay đổi bộ mã nguồn
159
(code) của CMS), sự hiểu biết chưa đầy đủ về SEO… nên hiệu quả chưa cao,
thậm chí mang lại hiệu quả ngược.
Câu hỏi 3: Theo anh, những hạn chế của việc ứng dụng SEO cho báo
điện tử bắt nguồn từ những nguyên nhân nào?
Không được nắm quyền kiểm soát mã nguồn của CMS nên không có
khả năng thay đổi, tùy biến linh hoạt theo từng giai đoạn để phục vụ
cho việc SEO.
Không (chưa đủ) điều kiện về kinh phí, nhân lực…để xây dựng đội ngũ
SEO chuyên nghiệp cho tòa soạn.
Câu hỏi 4: Anh thường chú ý đến vấn đề gì khi đào tạo SEO cho đội
ngũ sáng tạo tác phẩm điện tử?
Khả năng nắm bắt từ khóa trong từng bài viết, khả năng móc nối giữa
nội dung hiện tại với các từ khóa đang hot (trending)…
Câu hỏi 5: Anh có dự báo gì về xu hướng ứng dụng SEO cho báo điện
tử ở Việt Nam và trên thế giới?
Nhận thức được sự quan trọng của việc làm SEO bài bản và chuyên
nghiệp, tiến tới bộ phận SEO sẽ trở thành một thành tố không thể thiếu và tồn
tại song song với các bộ phận chuyên môn của báo điện tử như: PHòng phóng
viên, phòng biên tập, phòng SEO…
Câu hỏi 6: Thưa anh! Đơn vị của mình ứng dụng SEO từ bao giờ? Và
tại sao đơn vị của mình lại quyết định ứng dụng SEO tại thời điểm đó?
Báo điện tử Infonet bắt đầu ứng dụng SEO từ năm 2012 (1 năm sau khi
báo ra đời). Đó là thời điểm bộ máy nhân sự của báo đã khá hoàn chỉnh và
công tác xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu đã hoàn thành.
Câu hỏi 9: Ở đơn vị mình, việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm có được
quy định cụ thể không (ví dụ có quy định về các nguyên tắc, cách thức ứng
dụng SEO không)?
160
Có. Một số các nguyên tắc cơ bản buộc mọi phóng viên, biên tập viên
phải tuân thủ như: Chọn từ khóa, đưa từ khóa lên tiêu đề bài viết, số lần lặp
lại từ khóa trong phần tóm tắt và nội dung bài, việc gắn thẻ (tag) các từ
khóa…
Câu hỏi 10: Ở đơn vị mình, bộ phận nào chịu trách nhiệm về SEO cho
các tác phẩm? Và tỷ lệ các tác phẩm được SEO là bao nhiêu?
Tất cả các Biên tập viên và đặc biệt là Thư ký tòa soạn. Tỷ lệ khoảng
60-70%.
Câu hỏi 11: Việc ứng dụng SEO cho báo điện tử của mình đã đem lại
những hiểu quả gì? Và bên anh có thường xuyên tiến hành đánh giá hiệu quả
thực hiện SEO không?
Kể từ khi ứng dụng SEO, lượng truy cập của Báo điện tử Infonet đã
tăng liên tục và khá ổn định. Nguồn truy cập từ các công cụ tìm kiếm từ mức
15%/tổng lượng truy cập (năm 2012) lên mức 45% (năm 2015).
Câu hỏi 12: Theo anh đâu là những hạn chế của việc ứng dụng SEO
mà đơn vị anh cần khắc phục? Và những hạn chế này bắt nguồn từ những
nguyên nhân nào?
Ý thức ứng dụng SEO của các phóng viên, biên tập viên chưa liên tục
và triệt để. Trong nhiều trường hợp, phóng viên viết bài và biên tập viên quên
hoàn toàn yếu tố SEO trong bài viết. Đôi khi, do yêu cầu về thời gian xuất
bản để kịp tính thời sự của bài viết, việc ứng dụng SEO không thể thực hiện
được.
Câu hỏi 13: Để nâng cao hiệu quả SEO, theo anh cần thực hiện những
biện pháp gì?
Cần có bộ phận SEO chuyên biệt và làm việc thường xuyên với bộ
phận sản xuất nội dung để phối hợp trước khi tin bài được xuất bản,
161