BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------

N G U Y Ễ N T H

NGUYỄN THỊ THANH NGÂN

Ị T H A N H N G Â N

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH

Q U Ả N T R

I

K N H D O A N H

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

QUẢN TRỊ KINH DOANH

K H O Á 2 0 1 1 A

Hà Nội – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

---------------------------------------

NGUYỄN THỊ THANH NGÂN

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. PHẠM THỊ THANH HỒNG

Hà Nội – 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của

bản thân tôi, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được thực hiện

trên cơ sở nghiên cứu lý luận khoa học tình hình thực tiễn hoạt động Marketing tại

Trường cao đẳng Thương mại và Du lịch, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS. Phạm

Thị Thanh Hồng

Tất cả các số liệu, bảng biểu trong luận văn là kết quả của quá trình thu thập

tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở kiến thức tôi

đã tiếp thu được trong quá trình học tập, không phải là sản phẩm sao chép của các

đề tài nghiên cứu trước đây.

Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên. Nếu

sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Ngân

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn với đề tài: “Hoàn thiện hoạt động

Marketing tại Trường cao đẳng Thương Mại và Du Lịch”, tôi đã nhận được sự

quan tâm, giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế Quản trị kinh

doanh, Viện Kinh tế & Quản lý (Viện đào tạo sau đại học – Đại học Bách khoa Hà

Nội); Ban Giám Hiệu, các Khoa, các phòng ban Trường cao đẳng Thương Mại và

Du Lịch, … Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn, của TS.Phạm Thị Thanh Hồng; sự

ủng hộ, động viên của đồng nghiệp, gia đình và bè bạn.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan,

gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Sự giúp đỡ này đã động viên, cổ vũ và giúp tôi

nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả mặt lý luận và mặt thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn

nghiên cứu.

Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm

túc của bản thân. Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, nhưng do trình độ và thời gian có

hạn, nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định.

Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo

và những độc giả quan tâm đến đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên lớp Cao Học Bách Khoa, Khóa 2011 - Thái Nguyên

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Ngân

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu chữ viết tắt Nội dung viết tắt

1 7P Các yếu tố cấu thành Marketing dịch vụ

2 BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo

3 BGH Ban giám hiệu

4 BLĐTB&XH Bộ lao động thương binh và xã hội

5 CB Cán bộ

6 CBCNV Cán bộ công nhân viên

7 CĐ Cao đẳng

8 CĐN Cao đẳng nghề

9 CĐTM&DL Cao đẳng thương mại và du lịch

10 DN Doanh nghiệp

11 ĐH Đại học

12 GDP Tổng sản phẩm nội địa

13 GDTX Giáo dục thường xuyên

14 GVDG Giáo viên dạy giỏi

15 HĐND Hội đồng nhân dân

16 HSSV Học sinh sinh viên

17 KDNH-KS Kinh doanh nhà hàng – khách sạn

18 KDTM Kinh doanh thương mại

19 KHCN&ĐN Khoa học công nghệ và đối ngoại

20 KT&QTKD Kinh tế và quản trị kinh doanh

21 Nghiệp vụ kinh doanh dầu khí dầu mỏ hóa lỏng LPG

22 NCS Nghiên cứu sinh

23 NVKD Nhân viên kinh doanh

24 PTTH Phổ thông trung học

25 QL Quốc lộ

26 QTĐS Quản trị đời sống

27 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp

28 TCHC Tổ chức hành chính

29 TCN Trung cấp nghề

30 THCN Trung học chuyên nghiệp

31 THPT Trung học phổ thông

32 TNCS Thanh niên cộng sản

33 TTKT&ĐBCL Thanh tra khảo thí và đảm bảo chất lượng

34 TTLT Thông tư liên tịch

35 TW4 Trung ương 4

36 VD Ví dụ

37 VHTT&DV Văn hóa thông tin và dịch vụ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Cơ cấu lao động theo tính chất công việc và trình độ đào tạo ................. 38

Bảng 2.2: Mức thu học phí của Trường từ năm 2010 đến 2013 .............................. 60

Bảng 2.3: Mức thu học phí ngành học Kế toán, Quản trị kinh doanh của một số

trường ngoài công lập 2012 – 2013 ....................................................................... 61

Bảng 2.4: Chi phí cho tuyển sinh 2010 - 2012 ...................................................... 71

Bảng 2.5: Số lượng và trình độ giảng viên cơ hữu ................................................. 75

Bảng 2.6: Kết quả tuyển sinh của Trường .............................................................. 82

DANH MỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành Marketing dịch vụ ................................................. 7

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường CĐ Thương mại và Du lịch ............ 37

Hình 2.2: Kênh tuyển sinh đào tạo của Trường CĐ Thương mại và Du lich .......... 64

Hình 2.3: Kênh tuyển sinh và đào tạo ngắn hạn của Trường CĐ Thương mại và Du

lịch ........................................................................................................................ 65

Hình 2.4: Quy trình đào tạo ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh của Trường ........ 79

Hình 2.5: Quy trình đào tạo ngành Khách sạn – Du lịch của Trường CĐTM&DL 80

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1

2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài ................................................................................... 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 2

3.2. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 2

3.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 2

4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 2

5. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 3

Chương I TỔNG QUAN VỀ MARKETING TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO ....... 4

1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động marketing .................................................. 4

1.1.1 Khái niệm Marketing ...................................................................................... 4

1.1.2. Vai trò của Marketing trong kinh doanh và quản lý ....................................... 5

1.2. Khái niệm và đặc điểm của marketing dịch vụ .................................................. 5

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của sản phẩm dịch vụ ................................................ 5

1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của Marketing dịch vụ ............................................... 6

1.3. Hoạt động Marketing trong lĩnh vực đào tạo ..................................................... 8

1.3.1. Đặc điểm của Marketing trong lĩnh vực đào tạo (Marketing đào tạo) ............ 8

1.3.2. Nội dung hoạt động Marketing của cơ sở đào tạo ........................................ 12

1.3.2.1. Về nội dung nghiên cứu Marketing đào tạo ............................................... 12

1.3.2.2. Về phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu ......................... 13

1.3.2.3. Xây dựng và lựa chọn chiến lược Marketing trong đào tạo ....................... 14

1.3.2.4. Nội dung và chính sách các bộ phận cấu thành Marketing hỗn hợp

(Marketing- Mix) trong đào tạo ............................................................................. 17

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến Marketing đào tạo ................................................. 30

1.4.1. Các yếu tố bên ngoài cơ sở đào tạo ............................................................. 30

1.4.2. Các yếu tố bên trong cơ sở đào tạo .............................................................. 32

Chương II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MARKETING ĐÀO TẠO .................... 34

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH ............................... 34

2.1. Giới thiệu về trường Cao đẳng Thương mại và du lịch. ................................... 34

2.1.1. Quá trình phát triển ..................................................................................... 34

2.1.2. Về tổ chức bộ máy........................................................................................ 35

2.1.3. Lực lượng lao động ..................................................................................... 38

2.1.4. Về ngành nghề đào tạo, hệ đào tạo, quy mô đào tạo. ................................... 38

2.1.5. Về kết quả đào tạo: ...................................................................................... 40

2.2. Thực trạng các yếu tố môi trường và thị trường ảnh hưởng đến công tác đào tạo

và hoạt động Marketing của Trường CĐ Thương mại và Du lịch .......................... 40

2.2.1. Các yếu tố môi trường ................................................................................. 40

2.2.1.1. Các yếu tố địa lý tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã hội nơi đặt trụ sở chính của

trường. .................................................................................................................. 40

2.2.1.2. Môi trường chính trị, pháp luật ................................................................. 43

2.2.2. Thị trường đào tạo của Trường cao đẳng Thương Mại và Du Lịch .............. 50

2.2.3. Về tình hình cạnh tranh trên thị trường đào tạo ........................................... 52

2.3. Thực trạng hoạt động Marketing của Trường cao đẳng Thương Mại và Du

Lịch. ...................................................................................................................... 53

2.3.1. Chiến lược Marketing .................................................................................. 53

2.3.2. Các chính sách Marketing hỗn hợp của Trường .......................................... 54

2.3.2.1. Chính sách sản phẩm ................................................................................ 54

2.3.2.2. Chính sách giá cả đào tạo ......................................................................... 59

2.3.2.3. Chính sách phân phối trong đào tạo của Trường ...................................... 62

2.3.2.4. Chính sách giao tiếp, khuếch trương (Xúc tiến Marketing ) ...................... 67

2.3.2.5 Chính sách con người ................................................................................ 72

2.3.2.6. Về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo ............................... 77

2.3.2.7. Về quy trình đào tạo .................................................................................. 78

2.3.3. Nhận xét dánh giá chung về hoạt động Marketing của Trường .................... 80

2.3.3.1. Những điểm mạnh và kết quả đạt được. .................................................... 80

2.3.3.2. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân ..................................................... 82

Chương III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MARKETING ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG

CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH ................................................................... 89

3.1. Mục tiêu chiến lược Marketing của Trường CĐ Thương mại Du lịch ............. 89

3.1.1. Mục tiêu chiến lược phát triển nhà trường đến 2017, tầm nhìn đến 2025 ..... 89

3.1.2. Mục tiêu Marketing của Trường Cao đẳng Thương mại Du lịch .................. 90

3.2. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện Marketing đào tạo của Trường

Cao đẳng Thương mại Du lịch ............................................................................... 91

3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện Marketing-Mix của Trường Cao đẳng Thương mại

Du lịch .................................................................................................................. 91

3.2.1.1. Mở rộng ngành nghề đào tạo .................................................................... 91

3.2.1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo theo Học chế tín chỉ .................................... 95

3.2.1.3. Một số giải pháp khác ............................................................................... 99

3.2.2. Một số kiến nghị với các cơ quan quản lý cấp trên..................................... 102

3.2.2.1. Với Bộ Giáo dục và đào tạo .................................................................... 102

3.2.2.2. Với Bộ Công Thương .............................................................................. 105

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 108

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Marketing là một khoa học về kinh doanh, ra đời và phát triển trong nền kinh

tế thị trường. Ngày nay, nó không còn dừng lại ở phạm vi “làm thị trường” trong

lĩnh vực kinh doanh thương mại, mà đã đi sâu vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm và

phát triển rộng sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như dịch vụ, chính trị,

ngoại giao, đào tạo…

Trong đào tạo, lý luận Marketing cho chúng ta một tư duy mới, sự năng động,

sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm đào tạo. Nó chỉ ra cho chúng ta rằng, cũng như

trong kinh doanh, đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu của người học, xã hội, của thực

tế sản xuất kinh doanh ở từng ngành, từng địa phương, vùng, miền. Nhà trường phải

dạy những cái mà người học và xã hội cần chứ không phải chỉ dạy cái mà mình có.

Hơn nữa, cũng như các nước khác trên thế giới, trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay có nhiều thành phần tham gia đào tạo

(trường công lập, dân lập, tư thục…), người học được tự do lựa chọn ngành nghề,

chọn trường, chọn thày, các tổ chức sản xuất kinh doanh được tự do lựa chọn lao

động, thì sự cạnh tranh trong đào tạo là một tất yếu khách quan. Trong bối cảnh đó,

các cơ sở đào tạo nói chung, các trường đào tạo nói riêng muốn thu hút được người

học để tồn tại và phát triển phải chấp nhận tham gia cạnh tranh và muốn cạnh tranh

thắng lợi phải vận dụng Marketing để đổi mới công tác đào tạo của mình.

Vận dụng Marketing trong đào tạo hoàn toàn không phải là “thương mại hóa

đào tạo” hay hạ thấp yêu cầu đào tạo… mà trái lại, làm cho đào tạo trở nên thiết

thực hơn, chất lượng hơn, hấp dẫn hơn, thuận lợi hơn, đỡ tốn kém và có hiệu quả

cao hơn.

Nhận thức rõ ý nghĩa tầm quan trọng của Marketing trong lĩnh vực đào tạo

(gọi tắt là Marketing đào tạo), Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch

(CĐTM&DL), Bộ Công Thương đã thực hiện Marketing đào tạo nhiều năm và đã

đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong tình hình cạnh tranh gay gắt và

1

khó tuyển sinh như hiện nay, thì hoạt động Marketing của Trường còn nhiều hạn

chế. Vì thế, là một giảng viên công tác tại Trường, Tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn

thiện hoạt động Marketing tại Trường cao đẳng Thương mại và Du lịch ” làm luận

văn tốt nghiệp cao học của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu tổng quát:

Nghiên cứu thực trạng hoạt động Marketing của Trường Cao đẳng Thương

mại và Du lịch, Bộ Công Thương, chỉ ra những những kết quả đã đạt được, những

tồn tại hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm

hoàn thiện Markerting ( Marketing – Mix) của Trường để thu hút được nhiều người

vào học tại Trường, góp phần đạt được các mục tiêu mà Nhà trường đã đề ra.

Mục cụ thể của đề tài là:

- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về Marketing trong lĩnh vực đào tạo;

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động Marketing tại Trường cao đẳng

Thương mại và Du lịch cùng nguyên nhân của tình hình;

- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện Marketing của Trường cao đẳng

Thương mại và Du lịch.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu

- Lý luận về Marketing trong lĩnh vực đào tạo, chủ yếu là Marketing-Mix của

một cơ sở đào tạo.

- Thực trạng hoạt động Marketing tại Trường cao đẳng Thương mại và Du

lịch

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong hoạt động Marketing đào tạo của Trường

Cao đẳng Thương mại và Du lịch, Bộ Công Thương trong khoảng thời gian từ 2006

lại đây.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu Marketing: Thu thập và nghiên

2

cứu các tài liệu thứ cấp, khảo sát, điều tra, thống kê, phân tích, so sánh, thực

nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia… và xem xét vấn đề theo quan điểm duy vật biện

chứng và lịch sử.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan (cơ sở lý luận) về Marketing trong lĩnh vực đào tạo

- Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing tại Trường Cao đẳng Thương mại và

Du lịch

- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing của Trường Cao

3

đẳng Thương mại và Du lịch.

Chương I

TỔNG QUAN VỀ MARKETING TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO

1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động marketing

1.1.1 Khái niệm Marketing

Tùy thuộc vào sự phát triển, lĩnh vực hoạt động và góc độ quan tâm, người ta

đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về Marketing. Khi Marketing đã phát triển sang

các lĩnh vực khác ngoài sản xuất, kinh doanh, người ta đưa ra các định nghĩa khái

quát: “Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn những nhu

cầu và mong muốn của con người”[24-08], hay: “Marketing là một dạng hoạt động

của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao

đổi”[29-09]. Trong định nghĩa này, “trao đổi” được hiểu là hành vi nhận từ một

người nào đó thứ mà mình muốn và đưa lại cho người đó một thứ khác. Nó không

những được thể hiện ở hình thức giao dịch (trao đổi có tính chất mua bán), mà còn

thể hiện ở cả hình thức chuyển giao như: tặng phẩm, tài trợ, hoạt động từ thiện…

với hy vọng có được một lợi ích dưới một hình thức nào đó, kể cả lợi ích tinh thần

như mối thiện cảm, lòng biết ơn, sự thoát khỏi cảm giác tội lỗi, sự nhận thức phổ

quát một lý tưởng… Định nghĩa như vậy đã bao quát và phù hợp với tất cả các lĩnh

vực của đời sống xã hội.

Từ định nghĩa Marketing đã nêu trên, ta thấy Marketing có các đặc trưng sau:

- Tìm hiểu thị trường, xác định nhu cầu ngay từ trước khi sản xuất ra sản

phẩm cho nhu cầu đó;

- Marketing không những nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu, mà còn khơi dậy

nhu cầu, hướng dẫn nhu cầu, thay đổi cơ cấu nhu cầu, kích thích nuôi dưỡng nhu

cầu của người tiêu dùng ngày càng phát triển;

- Quá trình triển khai hoạt động Marketing sản phẩm hữu hình được thông

qua 04 yếu tố cấu thành còn gọi là 4P, bao gồm: Sản phẩm (product); Giá cả (price);

Phân phối (place); Xúc tiến (promotion). Đây là những yếu tố được sử dụng làm

công cụ (phương tiện) thu hút khách hàng và cạnh tranh với đối thủ (nếu chúng tốt

4

hơn, hấp đẫn hơn).

- Marketing ngày nay không chỉ dừng lại ở phạm vi “làm thị trường” như

Marketing truyền thống, mà đã đi sâu vào quá trình sản xuất sản phẩm và phát triển

rộng sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như dịch vụ, chính trị, ngoại giao,

tôn giáo, đào tạo...

1.1.2. Vai trò của Marketing trong kinh doanh và quản lý

Marketing có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất, kinh doanh (gọi

chung là kinh doanh) và quản lý vi mô (quản lý tổ chức cơ sở nói chung, các doanh

nghiệp nói riêng), vì nó định hướng kinh doanh, chỉ ra kinh doanh cái gì? như thế

nào? cho có hiệu quả. Nói cách khác, nó tạo ra sự kết nối làm cho toàn bộ hoạt động

kinh doanh cũng như từng bộ phận chức năng của doanh nghiệp thích ứng với thị

trường để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Người ta nói: Nếu hoạt động kinh

doanh mà không Marketing, thì không khác nào người khiếm thị đi đường.

Marketing cũng có vai trò to lớn trong quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước về

kinh tế - xã hội), vì: Thị trường vừa là đối tượng và vừa là căn quan trọng để quản

lý vĩ mô. Thông qua thị trường, nhà nước điều tiết sản xuất, kinh doanh, thực hiện

các cân đối lớn (cung – cầu, tiền – hàng...) để điều khiển kinh tế, xã hội phát triển

đúng hướng, có hiệu quả. Muốn hiểu được thị trường, thì phải nghiên cứu nó qua lý

luận và hoạt động Marketing. Marketing là một trong những khoa học để thực hiện

yêu cầu của xã hội đối với quá trình tái sản xuất hàng hóa, dịch vụ là năng suất, chất

lượng, hiệu quả.

1.2. Khái niệm và đặc điểm của marketing dịch vụ

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của sản phẩm dịch vụ

Theo Philip Kotler, “ Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể

cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm

đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan

đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó” [29- 478].

Khác với sản phẩm hàng hóa hữu hình, sản phẩm dịch vụ có những đặc tính

bao gồm:

5

- Tính vô hình (Intangibility)

Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, nghe thấy, nếm,

ngửi hay tiếp xúc, cảm giác được trước khi mua.

- Tính không tách rời nguồn gốc (Inseparability)

Các dịch vụ đều gắn chặt với nguồn gốc đã sinh ra nó. Nói cách khác, người

bán (cung cấp) dịch vụ không mất quyền sở hữu đối với dịch vụ đã bán. Người mua

dịch vụ không có quyền sở hữu, nên khi sử dụng xong, khách hàng không thể mang

theo làm của riêng mà chỉ mua quyền sử dụng tạm thời những thứ đó.

- Tính không thể tồn trữ (Perishability)

Dịch vụ không thể tồn trữ.Việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng

thời. Hầu hết các dịch vụ, người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc trực

tiếp với nhau, không thể tách rời nhau. Khách hàng tiếp xúc với nhân viên là một

phần quan trọng của sản phẩm dịch vụ.

- Tính chất lượng không ổn định (Variability)

Chất lượng của sản phẩm dịch vụ thường không ổn định, vì nó tuỳ thuộc

phần lớn vào người cung cấp, địa điểm cung cấp, và thời điểm cung cấp.

Từ đặc tính của dịch vụ nêu trên, việc quản lý chất lượng dịch vụ chính là

quản lý “bằng chứng”(điều kiện đảm bảo) chất lượng. Khách hàng đánh giá chất

lượng dịch vụ của cá nhân hay tổ chức cung ứng cũng thông qua những bằng chứng

chất lượng này. Vì thế, vấn đề đặt ra cho các tổ chức và cá nhân cung cấp dịch vụ là

phải làm cho các bằng chứng chất lượng này phải tốt hơn, hấp dẫn hơn để thu hút

khách hàng và đưa họ đến quyết định mua dịch vụ của mình.

1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của Marketing dịch vụ

Marketing dịch vụ là hoạt động Marketing đối với sản phẩm dịch vụ của cá

nhân hay tổ chức trong các ngành và lĩnh vực dịch vụ xã hội. Nói cách khác,

Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu

của khách hàng mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, biện pháp tác động vào

toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ nhằm đạt được

6

các mục tiêu của chủ thể Marketing

Từ đặc điểm của sản phẩm dịch vụ nêu trên, Marketing dịch vụ (Marketing –

Mix dịch vụ) có sự khác biệt so với Marketing hàng hóa hữu hình ở chỗ nó thường

có 7 yếu tố cấu thành, còn gọi là 7 P, bao gồm: Sản phẩm (product); Giá (price);

Địa điểm (place); Xúc tiến hay Truyền thông (promotion); Con người (People); Quy

trình (process) và Môi trường dịch vụ (Physical). Trong 7P này thì 4P đầu xuất phát

từ phối thức tiếp thị sản phẩm và 3P được mở rộng cho phù hợp với đặc điểm của

lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Tuy nhiên, trong các yếu tố mở rộng nêu trên cũng

không phải hoàn toàn như nhau với mọi dịch vụ, mà nó có thể thay đổi cho phù hợp

với từng loại dịch vụ cụ thể. Ví dụ: dịch vụ tư vấn thì không cần thiết bị nhiều,

nhưng dịch vụ khám - chữa bệnh lại đòi hỏi phải có thiết bị hiện đại, thậm chí thiếu

chúng thì không thể phát hiện ra bệnh tật.

Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành Marketing dịch vụ

Nguồn: 7p cho Marketing dịch vụ tác giả DNA Branding-www.dna.com.vn

Sản phẩm: là điểm cốt lõi trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu

sản phẩm không tốt thì mọi nỗ lực của các phối thức tiếp thị khác đều sẽ thất bại.

Giá: cách định giá của dịch vụ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ hài lòng

của khách hàng. Thông thường giá cao sẽ tạo tâm lý hài lòng cao ở khách hàng vì

mọi người đều nghĩ “tiền nào của nấy”.

Địa điểm: là một yếu tố khác tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi

7

hàng chục cây số để đến một nhà hàng dùng bữa. Vì vậy, địa điểm phù hợp sẽ tạo

sự tiện lợi và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian. Một nguyên tắc là vị trí càng gần

khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.

Truyền thông: nhằm tạo sự nhận biết cũng như cảm nhận ban đầu của khách

hàng về các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Để đảm bảo sự nhất quán và gia

tăng tính hiệu quả của truyền thông thì mọi thông điệp truyền tải cần phải bám sát

với định vị thương hiệu.

Con người: là phần mấu chốt trong việc thực hiện dịch vụ. Nếu nhà hàng có

những món ăn ngon mà người phục vụ quá kém thì cũng không tạo được sự hài

lòng của khách hàng. Sự ân cần và tươi cười luôn được đánh giá cao bởi khách

hàng.

Quy trình: là một phần quan trọng khác của chất lượng dịch vụ. Vì đặc tính

của dịch vụ là trừu tượng vì vậy quy trình sẽ giúp đảm bảo chất lượng và nối kết

giữa các công đoạn trong quy trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, quy trình dịch vụ

còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng thời gian chờ đợi của khách hàng và điều

này tạo ra giá trị lớn, chẳng hạn một khách hàng không thể chờ đợi hàng chục phút

để mua được phần thức ăn nhanh…

Môi trường dịch vụ: là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của

khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng, nên khách hàng thường phải

tìm các yếu tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá. Ví dụ, khi một

bệnh nhân tìm đến một nha sĩ thì yếu tố phòng khám sạch sẽ, trang nhã, yên tĩnh

hay trên tường treo nhiều giấy chứng nhận, bằng khen, bằng cấp, bài báo viết về vị

nha sĩ này sẽ tạo ra một niềm tin rất lớn từ bệnh nhân.

1.3. Hoạt động Marketing trong lĩnh vực đào tạo

1.3.1. Đặc điểm của Marketing trong lĩnh vực đào tạo (Marketing đào tạo)

Từ những khái niệm về Marketing, ta có thể nói rằng: Marketing đào tạo là

toàn bộ hoạt động chủ yếu của tổ chức cơ sở đào tạo nhằm thỏa mãn một cách hợp

lý, có ưu thế nhu cầu của cá nhân người học và của tổ chức sử dụng lao động được

8

đào tạo, để họ chấp nhận học, cử người đi học hay sử dụng người được đào tạo ở

cơ sở đào tạo thực hiện Marketing, qua đó thực hiện những mục tiêu chủ thể

Marketing đề ra.

Đặc điểm của mỗi loại Marketing được quyết định bởi mục đích Marketing,

tính chất Marketing, đặc điểm của đối tượng Marketing, cơ cấu thành phần

Marketing hỗn hợp và vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Theo đó

Marketing đào tạo có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất: Marketing đào tạo có sự giao thoa giữa Marketing xã hội,

Marketing đầu tư, Marketing dịch vụ và ở một chừng mực nhất định Marketing tổ

chức.

Marketing đào tạo, xét về mục đích, vừa thuộc loại Marketing xã hội (phi lợi

nhuận) vừa thuộc loại Marketing kinh doanh dịch vụ có lợi nhuận. Tính chất xã hội

của nó thể hiện ở chỗ không vì lợi nhuận, không lấy mục tiêu lợi nhuận làm chủ

yếu. Tính chất kinh doanh của nó thể hiện ở chỗ đào tạo có lợi nhuận. Trong một tổ

chức cơ sở đào tạo, thì mức độ tính chất xã hội và tính chất kinh doanh của

Marketing đào tạo có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau.

Chính vì lợi ích xã hội của hoạt động giáo dục đào tạo mà nhà nước, nhân dân

ở mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù theo thể chế chính trị nào cũng đều quan

tâm đầu tư cho lĩnh vực này, với mức độ nhiều, ít khác nhau và để đầu tư có hiệu

quả người ta phải nghiên cứu nhu cầu thị trường, xác định xem đầu tư đào tạo ai? ở

đâu? đào tạo như thế nào? Vì thế, Marketing đào tạo có tính chất của Marketing đầu

tư.

Theo tính chất đặc điểm của sản phẩm đào tạo - đối tượng trao đổi, thì

Marketing đào tạo thuộc loại Marketing dịch vụ và ở một chừng mực nhất định có

tính chất Marketing tổ chức. Cụ thể: Marketing đào tạo trước hết và chủ yếu là

Marketing sản phẩm đào tạo. Sản phẩm đào tạo với quan niệm mới là toàn bộ

những cái (chủ yếu là kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp) mà nhà trường cung

ứng cho người học và xã hội trong cả quá trình đào tạo cũng như trong mỗi nội

dung, yếu tố cấu thành quá trình đó thuộc loại dịch vụ. Nó có những đặc điểm chủ

9

yếu sau:

- Dịch vụ là vô hình, không giống như sản phẩm vật chất. Người ta không thể

nhìn thấy, nếm, ngửi, sờ mó, nghe… trước khi chúng được mua, được cung ứng. Để

đánh giá chất lượng dịch vụ người mua sẽ xem xét những dấu hiệu hoặc những

bằng chứng hữu hình của chất lượng thông qua con người, thiết bị, vật liệu kể cả

các ấn phẩm chứa thông tin, các biểu tượng, địa điểm, giá cả dịch vụ… Vì thế,

nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là quản lý bằng chứng hữu hình làm cho cái

vô hình trở thành hữu hình. Đối với đào tạo, quản lý sản phẩm đào tạo chính là quản

lý số lượng và chất lượng các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo như: mục tiêu, nội

dung chương trình, phương pháp, bài giảng… từng ngành nghề, bậc học.

- Cũng như các dịch vụ khác không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó, sản

phẩm đào tạo luôn gắn chặt với cơ sở đào tạo, với người (thày, cô giáo) đã cung ứng

ra nó. Với cùng một đối tượng đào tạo, nếu thày dạy có trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ tốt, lại bỏ nhiều công sức chăm lo cho bài giảng có chất lượng tốt; nếu cơ

sở đào tạo có phòng học hợp vệ sinh, thiết bị đồ dùng học tập đầy đủ, tân tiến, điều

kiện ăn ở và môi trường giáo dục tốt… thì chắc chắn chất lượng đào tạo sẽ cao hơn

so với các cơ sở đào tạo thiếu những điều kiện như vậy. Điều này cũng giải thích

hiện tượng người học chọn trường, chọn thày trong cùng một ngành nghề đào tạo và

nhiều khi người ta chấp nhận mức đóng góp rất cao để được vào học những trường,

lớp, những thày dạy có uy tín. Đây cũng chính là lý do để tổ chức cơ sở đào tạo làm

Marketing chính mình nhằm cải thiện hình ảnh của mình và Marketing đào tạo có

tính chất của Marketing tổ chức.

- Sản phẩm đào tạo, xét trong một giới hạn thời gian ngắn, một tiết học, một

bài giảng hay một lớp ngắn ngày…có tính chất không ổn định về chất lượng. Do

gắn với nguồn gốc cung ứng, nên sản phẩm đào tạo xét trong một thời gian ngắn

dao động trong một khoảng rộng, tùy thuộc vào thày dạy, trạng thái tâm lý của

người thày, thời gian, địa điểm, điều kiện học tập và những yếu tố này không phải

lúc nào cũng tốt như nhau. Mặt khác, cũng cần thấy rõ một thực tế là: cùng một thày

dạy với những điều kiện học tập như nhau, mức đóng góp chi phí như nhau, bên

10

cạnh những học sinh rất giỏi vẫn có những học sinh học yếu, kém. Sở dĩ như thế là

do tư chất và sự cố gắng của mỗi người học khác nhau, dẫn tới khả năng, mức độ

tiếp thu kiến thức, kỹ năng của họ cũng khác nhau. Dạy và học là hai mặt của một

quá trình đòi hỏi sự nỗ lực chung mới có kết quả tốt. Đó cũng là tính đặc thù của

việc trao đổi sản phẩm đào tạo.

Thứ hai: Cơ cấu thành phần Marketing hỗn hợp của cơ sở đào tạo gồm 7 yếu

tố: Sản phẩm; Phân phối (hình thức, phương thức, địa điểm); Giá cả; Giao tiếp,

khuếch trương; Con người; Cơ sở vật chất kỹ thuật; Quy trình.

So với Marketing hàng hóa vật thể, Marketing đào tạo có thêm ba yếu tố: con

người, cơ sở vật chất kỹ thuật và quy trình. Đây là những yếu tố chủ yếu tạo nên

hình ảnh của cơ sở đào tạo và cũng là những yếu tố đảm bảo chất lượng, là bằng

chứng hữu hình về chất lượng đào tạo. Trong các yếu tố trên, sản phẩm đào tạo

(trong đó có Ngành nghề đào tạo) là yếu tố quan trọng nhất của Marketing hỗn hợp

trong đào tạo. Người học và xã hội (các tổ chức sản xuất, kinh doanh, các cơ quan

đoàn thể…) sẽ xem xét sản phẩm đào tạo của trường nào, thày dạy nào tốt nhất

(thông qua các bằng chứng chất lượng của nó) để lựa chọn.

Thứ ba: Giá cả đào tạo xét ở góc độ là giá cả dịch vụ của các tổ chức cơ sở

đào tạo có thu lợi nhuận có khả năng tách xa giá trị đích thực của nó và điều này

phụ thuộc lớn vào uy tín của cơ sở đào tạo. Vì sản phẩm đào tạo là dịch vụ mà dịch

vụ có tính vô hình, khách hàng khó xác định chất lượng trước khi nó được trao đổi

(được cung ứng) và rất khó định lượng giá trị, nên giá cả đào tạo có khả năng tách

xa khỏi giá trị đích thực của nó. Khả năng này phụ thuộc lớn vào uy tín của cơ sở

đào tạo: uy tín càng cao, sự nổi tiếng càng lớn, thì khả năng này càng lớn và ngược

lại. Đặc điểm này cho phép cơ sở đào tạo làm Marketing thực hiện một chính sách

giá phân biệt, linh hoạt phù hợp với từng khách hàng khác nhau.

Thứ tư: Chức năng của các phần tử trung gian trong các kênh đào tạo có sự

khác biệt so với chức năng các phần tử trung gian trong hệ thống phân phối sản

phẩm hàng hóa là vật thể. Họ không thể nhận sản phẩm đào tạo để bán lại, mà chỉ

11

có thể làm chức năng môi giới, tham gia tổ chức, quản lý các lớp đào tạo, bồi dưỡng

với các mức độ khác nhau. Trong cùng một thời gian, họ có thể làm trung gian cho

nhiều cơ sở khác nhau.

Thứ năm: Marketing đào tạo chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố môi trường,

nhất là chính sách của nhà nước. Các yếu tố môi trường vĩ mô như điều kiện tự

nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội, nhất là các chính sách nhà nước có ảnh hưởng lớn tới

hoạt động Marketing đào tạo.

1.3.2. Nội dung hoạt động Marketing của cơ sở đào tạo

Quá trình hoạt động Marketing của một tổ chức cơ sở đào tạo bao gồm các

công đoạn lớn sau:

- Nghiên cứu, dự báo nhu cầu, môi trường và thị trường đào tạo (nghiên cứu

Marketing đào tạo);

- Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu;

- Xây dựng và lựa chọn chiến lược chung Marketing đào tạo;

- Xác lập và thực hiện các chính sách bộ phận cấu thành Marketing hỗn hợp

(Marketing – Mix).

Nội dung và phương pháp tiến hành các công đoạn trên, về cơ bản cũng

tương tự như Marketing hàng hóa hữu hình. Luận văn chỉ trình bày một số vấn đề

có nhiều khác biệt, cần được chú ý hơn trong các công đoạn nêu trên của Marketing

đào tạo.

1.3.2.1. Về nội dung nghiên cứu Marketing đào tạo

Mục đích chủ yếu của việc nghiên cứu Marketing đào tạo là xác định khả

năng duy trì và phát triển đào tạo một chuyên ngành, một nghề hay một số ngành

nghề đào tạo nào đó của cơ sở đào tạo. Trên cơ sở đó, cơ sở đào tạo tìm ra giải pháp

nâng cao khả năng thích ứng thị trường của mình để thu hút người học, đẩy mạnh

hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhằm thực hiện được những mục tiêu đã đề ra.

Với mục đích trên, nội dung nghiên cứu Marketing đào tạo, ngoài việc nghiên

cứu tập tính, nhu cầu của “khách hàng” đào tạo, tình hình cạnh tranh trên thị trường

12

đào tạo, cần đặc biệt quan tâm tới việc nghiên cứu thực trạng, ảnh hưởng của các

yếu tố môi trường, nhất là pháp luật về đào tạo và việc xác định yêu cầu của công

tác đào tạo bồi dưỡng trong những điều kiện cụ thể.

1.3.2.2. Về phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

a. Phân đoạn thị trường đào tạo

Việc phân đoạn thị trường thị trường đào tạo hay phân loại đối tượng tuyển

sinh thường dựa trên các tiêu chí chủ yếu sau: Theo ngành nghề đào tạo; Theo

phạm vi tuyển sinh; Theo học lực của học sinh và loại hình cơ sở giáo dục trung

học phổ thông; Theo kết quả thi đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, trên thực tế các cơ

sở đào tạo thường coi trọng hai tiêu chí sau. Cụ thể:

* Theo loại hình cơ sở giáo dục trung học phổ thông

Hiện nay, giáo dục trình độ phổ thông ở nước ta có nhiều loại hình, gồm:

+ Các trường trung học phổ thông, gồm 02 loại:

- Trường trung học phổ thông (THPT) dành cho đa số học sinh phổ thông đủ

điều kiện học lực đầu vào của mỗi trường và không có năng khiếu học xuất sắc một

môn học nào;

- Trường trung học phổ thông năng khiếu (trường chuyên) dành cho những

học sinh có năng khiếu học xuất sắc một hoặc một số môn học nào đó.;

+ Các trung tâm giáo dục thường xuyên dành cho những học sinh không đủ

điểm vào các trường trung học phổ thông, phảỉ học chương trình bổ túc THPT và

những người đã đi làm phải vừa làm vừa học.

Việc phân đoạn thị trường đào tạo theo tiêu chí này là để cơ sở đào tạo biết

mình có thể và chỉ nên tập trung nỗ lực Marketing vào những loại trường nào,

người học nào cho có hiệu quả, tránh làm tràn lan gây lãng phí nguồn lực. Các

trường “tốp dưới” thì không có hy vọng tuyển sinh ở những trường chuyên nổi

tiếng.

* Theo kết quả thi đại học, cao đẳng

Sau khi có kết quả thi đại học, cao đẳng thì toàn bộ đối tượng tuyển sinh sẽ

được chia thành 02 loại:

13

- Những thí sinh có điểm từ đủ điểm sàn đại học trở lên;

- Những thí sinh có điểm từ đủ điểm tối thiểu vào cao đẳng đến cận điểm sàn

đại học.

Việc phân chia theo tiêu chí này để cơ sở đào tạo biết mình có thể tuyển sinh

ở phổ điểm nào.

b. Lựa chọn thị trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu trong đào tạo là một đoạn hoặc một số đoạn thị trường

(vùng, loại trường phổ thông, đối tượng tuyển sinh) mà cơ sở đào tạo có hy vọng

thu hút, tuyển được nhiều người vào học và tập trung mọi nỗ lực Marketing của

mình vào đó.

Trên cơ sở phân đoạn thị trường đào tạo như trên, cơ sở đào tạo sẽ phân tích

những điểm mạnh, yếu của mình, đặc điểm về thị trường, tình hình cạnh tranh và

môi trường đào tạo để lựa chọn thị trường mục tiêu cho phù hợp.

1.3.2.3. Xây dựng và lựa chọn chiến lược Marketing trong đào tạo

Chiến lược chung Marketing (còn gọi là Marketing hỗn hợp) của một cơ sở

đào tạo đề cập đến vấn đề quan trọng nhất, bao trùm vào lâu dài của cơ sở đào tạo là

làm thế nào để thu hút được người học, đào tạo có chất lượng và hiệu quả, đáp ứng

được nhu cầu của người học và của xã hội. Nó là tư tưởng chủ đạo chi phối chính

sách sản phẩm, giá, phân phối giao tiếp – khuếch trương, con người, cơ sở vật chất

kỹ thuật và môi trường giáo dục, rồi từ những chính sách này mà hình thành những

quyết định chiến thuật đưa ra hàng ngày.

Việc lập và lựa chọn chiến lược chung Marketing đào tạo được tiến hành qua

các bước:

- Xác định mục tiêu chiến lược và chỉ tiêu cụ thể

- Phân tích dự đoán khả năng của cơ sở đào tạo và những yêu cầu bắt buộc

- Xác lập các chiến lược có thể

- Đánh giá và quyết định chọn chiến lược

Trong các nội dung trên, đối với Marketing đào tạo cần chú ý đến một số vấn

14

đề sau:

Về xác lập mục tiêu chiến lược và các chỉ tiêu cụ thể: Việc xây dựng và lựa

chọn chiến lược Marketing của một tổ chức cơ sở đào tạo cần hướng vào và đạt

được mục tiêu tổng hợp là thu hút được nhiều người học. Đây là điều kiện sống còn

của bất kỳ cơ sở đào tạo nào. Tuy nhiên, do mục đích chủ yếu của hoạt động đào tạo

của các loại hình cơ sở đào tạo khác nhau, nên mục tiêu tuyển được nhiều người học

được xác định thành những chỉ tiêu đào tạo cụ thể khác nhau và từ những chỉ tiêu

này mà xác lập, lựa chọn các chiến lược Marketing thích hợp. Chẳng hạn, cơ sở đào

tạo, bồi dưỡng của nhà nước và mục tiêu đào tạo chủ yếu là vì lợi ích đất nước,

trước tiên phải đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng mà nhà

nước đã giao theo từng ngành nghề, bậc, hệ đào tạo… và nhằm vào những đối

tượng đào tạo đã xác định. Ngoài số chỉ tiêu kế hoạch này, cơ sở đào tạo mới được

sử dụng phần năng lực đào tạo còn lại để mở rộng đào tạo (chủ yếu là đào tạo, bồi

dưỡng ngắn hạn, cấp chứng chỉ) theo nhu cầu xã hội. Còn các sơ sở đào tạo tư nhân

(điển hình là các trường, lớp dạy nghề tư nhân) với mục đích đào tạo chủ yếu là lợi

nhuận lại ưu tiên đào tạo những ngành nghề mà người học ưa thích, thời gian đào

tạo ngắn, lợi nhuận cao…Vì vậy, người lập chiến lược Marketing phải xác định rõ

mục đích, mục tiêu nhiệm vụ và các chỉ tiêu cụ thể của cơ sở đào tạo mới xác lập và

lựa chọn được chiến lược Marketing thích hợp.

Về phân tích, dự đoán khả năng của cơ sở đào tạo và các yêu cầu bắt buộc:

Trước khi vạch các chiến lược có thể đạt được các mục tiêu đề ra, cơ sở đào tạo cần

phải phân tích kỹ khả năng mọi mặt của mình, các yêu cầu bắt buộc phải tính đến

của cơ sở đào tạo, của thị trường và môi trường đào tạo bao gồm: Nguồn tài chính,

thày dạy, cơ sở vật chất kỹ thuật, những điểm mạnh, điểm yếu về ngành nghề đào

tạo, nội dung, phương pháp, phương thức, địa điểm đào tạo bồi dưỡng, kiến thức

kinh nghiệm của những người tổ chức, quản lý và thực hiện nhiệm vụ (kể cả những

người trung gian trong các kênh tuyển sinh, tổ chức lớp học).

Những yêu cầu bắt buộc của môi trường và thị trường đào tạo bao gồm:

Những yếu tố mà cơ sở đào tạo không thể thay đổi bằng chiến lược riêng của mình,

15

trái lại sẽ phải thích ứng với chúng. Đó là những quy định của cơ quan quản lý nhà

nước về đào tạo như điều kiện dự tuyển, kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập...;

những điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội có ảnh hưởng đến việc tuyển

sinh và quá trình đào tạo, bồi dưỡng …; những yếu tố ít bị thay đổi bởi chính sách

Marketing của cơ sở đào tạo như: số lượng cầu về sản phẩm đào tạo của toàn bộ thị

trường, một số thói quen, hình ảnh, động cơ, thái độ cũ đã ăn sâu của người tiếp thu,

tiếp nhận và sử dụng sản phẩm đào tạo, cơ cấu các kênh thông tin, cơ cấu về số

lượng, quy mô và thế lực của các cơ sở cạnh tranh trên thị trường…

Về xác lập các chiến lược có thể:

Việc xác lập chiến lược Marketing ở cơ sở đào tạo được tiến hành theo trình

tự: Lựa chọn đối tượng áp dụng chiến lược; Xác lập chiến lược có thể và xác định

khái quát Marketing hỗn hợp.

Đối tượng áp dụng chiến lược có thể là toàn bộ thị trường hay các đoạn phân

biệt của nó. Cơ sở đào tạo cần khai thác mạnh mẽ “khách hàng” hiện tại của mình

bằng cách quan tâm nhiều hơn đến “khách hàng” truyền thống để làm cho họ trung

thành với mình, tiếp tục gửi cán bộ, công nhân viên đi học tập, bồi dưỡng hoặc hợp

đồng mở lớp đào tạo bồi dưỡng hoặc nhận người đã được đào tạo ra; Cạnh tranh

giành “khách hàng” mới trên cơ sở đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, tăng

cường sự phục vụ thuận lợi để thu hút người học, làm cho họ thoát khỏi sự hấp dẫn

của cơ sở đào tạo cạnh tranh với mình.

Cơ sở đào tạo cần chú ý sử dụng tốt các nhân tố thúc đẩy của mình như: tính

thiết thực, cái mới mẻ của ngành nghề và nội dung đào tạo, chi phí thấp và thời gian

học ngắn ở mức hợp lý, phương pháp đào tạo tân tiến, độc đáo; hình thức và

phương pháp đào tạo thuận lợi cho người học; việc đăng ký và thủ tục đi học thuận

tiện, đơn giản; khả năng tìm được việc sau khi tốt nghiệp lớn; chiến dịch thông tin

quảng cáo mạnh mẽ; sự khuyến khích thỏa đáng cho những người thực hiện nhiệm

vụ (kể cả các tổ chức, cá nhân làm trung gian) v.v... Sự kết hợp các yếu tố thúc đẩy

trên sẽ xác định “tinh thần” của chiến lược chung Marketing là “kéo” hoặc “đẩy”

hoặc kết hợp cả hai như nhau hoặc nghiêng về phía “kéo”hoặc nghiêng về phía

16

“đẩy”.

Về đánh giá và lựa chọn chiến lược Marketing đào tạo phải tuân thủ các

nguyên tắc: Đảm bảo tính khả thi; Đảm bảo sự tương quan hợp lý (sự kết hợp hài

hòa) giữa thỏa mãn nhu cầu của người học với yêu cầu của công tác quản lý và mục

đích riêng của cơ sở đào tạo. Ví dụ: đưa lớp học về các địa phương, càng gần và

thuận tiện cho người học bao nhiêu thì chi phí cho việc đi lại làm việc và giảng dạy

của cơ sở đào tạo càng lớn bấy nhiêu. Vì vậy, cần có sự tính toán để đưa lớp học về

gần người học ở mức độ nào? ở đâu? để vừa thỏa mãn nhu cầu người học vừa

không quá tốn kém cho cơ sở đào tạo. Mặt khác, một chiến lược Marketing đào tạo

có chất lượng tốt phải thể hiện được sự thích ứng với môi trường, thị trường và

chính cơ sở đào tạo, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa các yếu tố

cấu thành Marketing hỗn hợp và phải có được lợi thế so sánh (ưu thế) so với các cơ

sở đào tạo khác.

1.3.2.4. Nội dung và chính sách các bộ phận cấu thành Marketing hỗn hợp

(Marketing- Mix) trong đào tạo

a. Chính sách sản phẩm đào tạo

Sản phẩm đào tạo trong nền kinh tế thị trường là toàn bộ những cái mà nhà

trường cung ứng cho xã hội trong cả quá trình đào tạo, cũng như trong mỗi nội

dung, yếu tố cấu thành quá trình đó. Đó là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp

nghề nghiệp của những ngành nghề, bậc, hệ, loại hình đào tạo khác nhau được thể

hiện qua những nội dung chương trình, những bài giảng (cả lý thuyết và thực

hành)…tương ứng.

Nếu hiểu sản phẩm đào tạo như trên, nội dung các chính sách về sản phẩm

đào tạo sẽ là: không ngừng đổi mới và hoàn thiện sản phẩm nhằm nâng cao chất

lượng đào tạo, cụ thể:

+ Đổi mới về cơ cấu ngành nghề đào tạo

Ngành nghề đào tạo với kiến thức, kỹ năng của bậc đào tạo xác định là biểu

hiện quan trọng nhất của sản phẩm đào tạo. Nói đến cơ cấu ngành nghề đào tạo là

nói đến tên các ngành nghề, bậc, hệ, loại hình đào tạo các ngành nghề ấy và tỷ trọng

17

của chúng trong toàn bộ danh mục ngành nghề đào tạo của cơ sở đào tạo. Việc đổi

mới ngành nghề và cơ cấu ngành nghề đào tạo của một cơ sở đào tạo được tiến hành

trên cơ sở rà soát lại toàn bộ những ngành nghề hiện đang đào tạo, xem những

ngành nghề nào đang có nhu cầu cao, chiếm tỷ lệ trọng đào tạo lớn, có vị trí trọng

yếu trong cơ cấu ngành nghề đào tạo của trường; ngành nghề nào xã hội có nhu cầu

cao, cơ sở đào tạo có khả năng nhưng chưa đào tạo; ngành nghề nào không được

người học hưởng ứng và nguyên nhân của tình hình đó. Chính sách đổi mới và hoàn

thiện ngành nghề đào tạo cụ thể là:

- Giữ lại và hoàn thiện tốt hơn về nội dung và phương pháp đào tạo với những

ngành nghề, bậc, hệ, loại hình đào tạo có vị trí trọng yếu đang phát huy tốt.

- Phát triển đào tạo một số ngành nghề, bậc hệ, loại hình đào tạo mà nhu cầu

xã hội cao và cơ sở đào tạo có khả năng

- Đổi mới cơ bản, thậm chí thay đổi cả tên gọi (tất nhiên cơ sở đào tạo đề nghị

và phải được cơ quan cấp trên cấp phép) đối với những chuyên ngành đào tạo

không phù hợp, không được người học hưởng ứng.

- Giảm hoặc dừng đào tạo những chuyên ngành, những nghề mà nhu cầu xã

hội thấp hoặc đào tạo đã bão hòa, lại có nhiều cơ sở đào tạo khác đang đào tạo để

tập trung năng lực đào tạo vào những ngành nghề khác có hiệu quả hơn.

+ Đổi mới về mục tiêu, nội dung chương trình

Mục tiêu đào tạo từng chuyên ngành, từng nghề, từng bậc học là cái đích để

quá trình đào tạo hướng tới và phải đạt được. Nó quyết định nội dung, phương pháp

đào tạo. Cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế văn hóa – xã hội,

mục tiêu đào tạo các ngành nghề ở từng bậc học cũng biến đổi theo hướng ngày

càng nâng cao và hoàn thiện. Mặt khác, mỗi ngành nghề lại có những yêu cầu riêng

và phần lớn nguồn nhân lực mà một số cơ sở đào tạo ra được sử dụng trong những

môi trường xác định với những điều kiện tự nhiên, kinh tế kỹ thuật và văn hóa – xã

hội xác định. Do đó, mục tiêu đào tạo phải đảm bảo đào tạo ra những sản phẩm vừa

đáp ứng được yêu cầu chung, lại vừa đáp ứng được yêu cầu riêng của từng ngành

nghề, trên từng vùng, từng miền cụ thể. Để đổi mới mục tiêu đào tạo, cơ sở đào tạo

18

phải thường xuyên rà soát lại mục tiêu đào tạo, điều chỉnh cho phù hợp với những

yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển và những biến đổi của điều kiện môi trường

sử dụng. Trên cơ sở đó, xác định nội dung và phương pháp đào tạo phù hợp với

mục tiêu đào tạo đã đề ra.

Nội dung đào tạo được thể hiện ở danh mục toàn bộ các môn học ghi trong kế

hoạch đào tạo từng chuyên ngành, từng nghề, từng bậc học và nội dung của từng

môn học, từng bài giảng cụ thể. Theo mục tiêu đào tạo đã được xác định, nội dung

đào tạo phải thường xuyên được chọn lọc, điều chỉnh, bổ sung. Chính sách đổi mới

nội dung là:

- Giữ lại và hoàn thiện hơn, làm phong phú thêm những nội dung (những môn

học, những vấn đề…) đang phù hợp với mục tiêu đào tạo và tình hình thực tế của

sản xuất, kinh doanh.

- Loại bỏ những môn học, những nội dung đã lạc hậu, kém thiết thực và

không cần thiết.

- Kịp thời bổ sung những môn học mới, những vấn đề mới cho phù hợp với

tình hình hiện tại và đáp ứng được yêu cầu phát triển trong tương lai.

Có như vậy, nội dung đào tạo mới đáp ứng được nhu cầu của người học và

của xã hội.

+ Đổi mới về phương pháp đào tạo

Phương pháp đào tạo, xét trên góc độ toàn khóa đào tạo một chuyên ngành,

một nghề nào đó, là phương pháp hình thành sản phẩm, là yếu tố quan trọng để

nâng cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu đào tạo đã xác định. Xét trên góc độ

truyền đạt nội dung một môn học, phương pháp giảng dạy là bộ phận cấu thành

quan trọng nhất của phương pháp đào tạo, thuộc phạm vi hoạt động xúc tiến đào

tạo, xúc tiến chuyển giao sản phẩm đào tạo cho khách hàng. Mặt khác, việc dạy học

không chỉ là dạy kiến thức, kỹ năng mà còn là dạy phương pháp làm việc. Người

thày dạy bằng phương pháp làm việc tốt của mình, truyền đạt kiến thức, kỹ năng

cho người học cũng có nghĩa là người thày đã trao cái phương pháp tốt cho người

học. Hơn thế, bằng phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá, người thày bồi

19

dưỡng cho người học năng lực tự học một cách tích cực, chủ động, năng lực tư duy

sáng tạo, biết đặt và giải quyết vấn đề một cách khoa học. Với ý nghĩa đó, trong một

chừng mực nhất định, phương pháp đào tạo cũng thuộc phạm trù sản phẩm đào tạo.

Vì thế, chính sách sản phẩm về phương pháp đào tạo là không ngừng cải tiến để

phương pháp đào tạo nói chung, phương pháp truyền thụ kiến thức, kỹ năng nói

riêng ngày càng tốt hơn.

b. Chính sách “giá cả” đào tạo

Giá cả đào tạo đối với một cơ sở đào tạo là mức thu tài chính hợp lý (đủ tồn

tại, phát triển và được người học chấp nhận) mà cơ sở đào tạo thu được từ hoạt

động đào tạo tính trên mỗi người học ở từng ngành nghề, bậc, hệ, loại hình, lớp

đào tạo, bồi dưỡng xác định.

Ngân sách thu được từ hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo tư nhân chủ

yếu do người học đóng góp, còn các trường công và bán công do hai nguồn kinh phí

nhà nước cấp và kinh phí đóng góp của người học.

Đối với một cơ sở đào tạo, kinh phí nhà nước cấp và mức thu học phí (có tính

chất bổ sung kinh phí đào tạo) của các đối tượng người học trong chỉ tiêu được giao

hoặc được Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp nhận phải tuân thủ theo chế độ chính sách

chung. Ở góc độ Marketing, chúng tôi muốn bàn sâu về chính sách thu tiền học phí

– mức giá cả đào tạo mà người học phải trả cho cơ sở đào tạo dựa trên cơ sở quan

hệ thị trường. Trong giới hạn này, chính sách giá cả của cơ sở đào tạo thể hiện chủ

yếu qua các nội dung sau:

+ Xác định mức giá cả (mức thu học phí)

Để xác định mức thu học phí đối với người học trong một khóa đào tạo chính

quy hay một lớp đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn, trước hết cơ sở đào tạo phải dự tính

được tổng chi phí đào tạo cần thiết và “giá thành đơn vị” đào tạo (mức chi phí bình

quân/ 1 người học), sau đó căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng như mục tiêu chủ yếu

của chiến lược Marketing (lợi nhuận hay sự tồn tại…), tình hình cạnh tranh trên thị

trường đào tạo, số lượng nhu cầu, sự phân tích ưu thế - các bằng chứng chất lượng

20

đào tạo của mình…mà xác định một mức giá chính thức.

Mức giá đào tạo không thể thấp dưới “giá thành đơn vị” đào tạo và không thể

cao vượt quá giới hạn mà người học có thể chấp nhận.

Do việc xác định giá cả đào tạo được tiến hành trước khi tuyển sinh đào tạo,

nên tổng chi phí đào tạo cần thiết, số lượng người học tuyển được và giá thành đơn

vị đào tạo chỉ là những con số dự tính. Hơn thế, giá cả đào tạo thuộc loại giá cả dịch

vụ, mà giữa giá trị đích thực của dịch vụ (khó xác định trước) và giá cả của nó có

một khoảng cách rộng, nên việc tính toán chỉ tiêu “giá thành đơn vị” đào tạo nêu

trên không thể và không đòi hỏi đưa ra số liệu chính xác tuyệt đối. Nó chỉ có ý

nghĩa tạo ra một cách tương đối cái ngưỡng dưới (“giá thành đơn vị” đào tạo) và

khoảng cách giới hạn cho giá cả đào tạo mà thôi. Đó cũng là đặc điểm của việc xác

định giá cả đào tạo.

+ Thực hiện chính sách giá phân biệt

Cơ sở đào tạo có thể áp dụng các mức giá khác nhau theo các vùng địa lý

theo thời gian học tập và mức độ sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, theo các tầng lớp

xã hội và các đối tượng người học cụ thể. Điều này không những góp phần vào mục

tiêu chung mà còn nâng cao uy tín, địa vị và làm đẹp thêm hình ảnh của chính cơ sở

đào tạo với công chúng. Nội dung chính sách giá phân biệt của cơ sở đào tạo cụ thể

là:

- Giảm mức thu học phí cho người học ở nông thôn, miền núi - những vùng

thường gặp thiên tai (bão lũ), thu nhập thấp, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn.

- Giảm mức học phí cho những người học theo các giờ học trong ngày, các

ngày học trong tuần mà mức độ sử dụng năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật thấp (ít

người học).

- Giảm mức học phí cho những người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội,

con thương binh, con liệt sỹ, con đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt có thể miễn

học phí cho những người tàn tật, trẻ mồ côi, học sinh, sinh viên nghèo vượt khó,

21

học giỏi…

Để làm được việc này, cơ sở đào tạo phải xác định mức giá công bố sao cho

tổng thu bù đắp được những thiếu hụt do việc giảm giá nêu trên, đảm bảo mang lại

hiệu quả tốt khi sử dụng giá phân biệt.

c. Chính sách phân phối trong đào tạo

Phân phối là đưa sản phẩm đào tạo và những thông tin có liên quan đến

những cá nhân và tổ chức là khách hàng theo những kênh, luồng địa chỉ xác định.

Nội dung chính sách phân phối trong đào tạo được thể hiện chủ yếu trên ba

vấn đề: Xác lập kênh tuyển sinh và đào tạo; Lựa chọn hình thức và phương thức đào

tạo; Lựa chọn địa điểm đào tạo.

+ Xác lập kênh tuyển sinh và đào tạo (Kênh Marketing đào tạo)

Để tổ chức tuyển sinh và đào tạo có hiệu quả, cơ sở đào tạo cần xác lập hệ

thống Marketing theo những kênh xác định. Việc lựa chọn số lượng kênh và các

loại kênh đòi hỏi cơ sở đào tạo phải cân nhắc kỹ. Nếu xác định không đủ số kênh và

số cấp cần thiết sẽ hạn chế kết quả Marketing và ngược lại, xác định dư thừa sẽ dẫn

đến hoạt động của các kênh kém hiệu quả, gây lãng phí.

Cơ sở đào tạo lựa chọn loại kênh, số lượng kênh phụ thuộc vào phạm vi

không gian địa lý của thị trường đào tạo. Nếu thị trường bó hẹp trong một thành

phố, thị xã, thì cơ sở đào tạo chỉ cần sử dụng loại kênh trực tiếp là đủ. Nếu thị

trường là một tỉnh, thì ngoài kênh trực tiếp còn sử dụng loại kênh một cấp. Nếu thị

trường rộng hơn phải sử dụng kênh hai, ba cấp…

Để các kênh được xác lập hoạt động tốt, vấn đề quan trọng đặt ra cho các cơ

sở đào tạo là phải lựa chọn đưa vào kênh được những phần tử trung gian phù hợp.

Các phần tử trong các kênh Marketing đào tạo có thể là những cá nhân làm môi giới

tự do hoặc làm công tác trong những cơ quan, đơn vị có liên quan tới hoạt động đào

tạo như giáo viên trong các trường phổ thông, những người làm công tác nhân sự -

đào tạo ở các phòng tổ chức - cán bộ của các tổ chức kinh tế, các cơ sở quản lý

ngành kinh tế, các chuyên viên ở phòng, ban theo dõi về đào tạo chuyên nghiệp và

dạy nghề thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động –Thương binh và Xã hội các

22

tỉnh. Trung gian có thể là cơ quan, đơn vị, tổ chức đoàn thể… với tư cách là một tổ

chức. Đặc biệt thuận lợi nếu cơ sở đào tạo làm Marketing tìm được các cơ sở đào

tạo khác không có đủ điều kiện đào tạo ngành nghề, bậc học của chủ thể Marketing,

nhưng có đủ điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật và khả năng tổ chức quản lý lớp

học... chấp nhận làm trung gian để tổ chức đào tạo tại các địa phương.

Việc lựa chọn những cá nhân, tổ chức trung gian (gọi tắt là người trung gian)

tham gia vào kênh đào tạo tùy thuộc vào đối tượng đào tạo chủ yếu, loại hình đào

tạo, yêu cầu của cơ sở đào tạo và khả năng của những người trung gian. Nếu đối

tượng đào tạo cần thu hút chủ yếu là học sinh tốt nghiệp phổ thông thì nên chọn các

trung gian là những người công tác ở hệ thống giáo dục - đào tạo từ cơ sở giáo dục -

đào tạo tỉnh đến các phòng giáo dục - đào tạo huyện, các giáo viên trong các trường

phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, giao cho họ những công việc như tuyên

truyền, quảng cáo, đăng ký, thu nhận hồ sơ và có thể cả tổ chức thi tuyển ở địa

phương. Nếu đối tượng đào tạo chủ yếu là cán bộ nhân viên trong ngành hoặc loại

hình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, thì nên chọn trung gian là các cán bộ nhân sự -

đào tạo ở các phòng tổ chức cán bộ từ sở quản lý ngành ở tỉnh đến các đơn vị thuộc

ngành ở địa phương với mức độ từ tổ chức tuyển sinh, quảng cáo, đăng ký tuyển

sinh, lo cơ sở vật chất, tổ chức và quản lý lớp học (tại địa phương). Nếu đối tượng

đào tạo gồm nhiều thành phần và hình thức đào tạo được xác định là tại chức ở các

địa phương, thì tốt nhất là lựa chọn đưa vào kênh được một cơ sở đào tạo khác

(trường, trung tâm…) tại địa bàn với nhiệm vụ và quyền hạn tương đối rộng rãi.

Việc đưa các phần tử trung gian đã được lựa chọn vào các kênh đào tạo được

thực hiện trên cơ sở giải quyết thỏa đáng lợi ích vật chất và lợi ích khác của họ. Sau

khi đã xác lập được các kênh đào tạo, vấn đề còn lại là phải thường xuyên kiểm tra,

đôn đốc, đánh giá hoạt động của những người trung gian và áp dụng các biện pháp

xử lý cần thiết để đảm bảo cho kênh hoạt động tốt.

+ Lựa chọn hình thức và phương thức đào tạo

Hình thức và phương thức đào tạo có ảnh hưởng tới việc thỏa mãn nhu cầu về

sự thuận tiện của người học, việc tổ chức quá trình đào tạo và việc lựa chọn kênh

23

Marketing đào tạo. Cụ thể:

- Hình thức đào tạo tập trung đòi hỏi cơ sở đào tạo phải thường xuyên đảm

bảo tốt về cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ giáo viên, giảng viên và các yếu tố khác

theo một kế hoạch chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, có tính khoa học cao để đảm bảo

cho quá trình đào tạo được liên tục và có chất lượng.

- Hình thức đào tạo vừa làm vừa học (tại chức) đòi hỏi cơ sở đào tạo chú ý về

thời gian học sao cho phù hợp với điều kiện vừa học vừa làm. Nếu học tập trung

xen kẽ nhiều môn học thì đào tạo theo hình thức này phải bố trí học gọn từng môn,

có đầy đủ tài liệu cung cấp cho người học và thời gian thi hết môn vào giữa hai đợt

học (trước khi học môn tiếp theo).

Về phương thức đào tạo: Nếu phương thức đào tạo là trực tiếp, cơ sở đào tạo

có thể sử dụng các kênh đào tạo có các phần tử trung gian tham gia vào tổ chức đào

tạo. Nếu phương thức đào tạo là đào tạo từ xa, cơ sở đào tạo chỉ cần sử dụng kênh

trực tiếp với sự giúp đỡ của các phương tiện thông tin đại chúng và cần có đủ tài

liệu cung cấp (bán) cho người học.

Việc lựa chọn hình thức và phương thức đào tạo chủ yếu dựa vào điều kiên về

thời gian đi học của người học và phạm vi không gian địa lý của thị trường đào tạo.

+ Lựa chọn địa điểm đào tạo

Địa điểm đào tạo bố trí các lớp học của một cơ sở đào tạo thường chính là nơi

có trụ sở đào tạo. Tuy nhiên, một cơ sở đào tạo có thể có nhiều địa điểm đào tạo ở

các vị trí khác nhau trên cùng một địa phương hoặc ở các địa phương, các vùng,

thậm chí các miền khác nhau. Trong trường hợp đó, viêc xác định địa điểm đào tạo

hợp lý là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến số lượng người học, chất lượng học

tập và chi phí đào tạo. Vậy, cơ sở đào tạo nên lựa chọn địa điểm đào tạo như thế

nào?

Theo tư duy Marketing, địa điểm đào tạo phải được bố trí gần người học,

thuận tiện cho việc đi lại, học tập và sinh hoạt. Song, vị trí lớp học lại phải tách biệt

tương đối với xung quanh, tạo sự yên tĩnh cần thiết cho việc học tập, nghiên cứu và

đảm bảo an toàn cho người học. Hơn nữa, cơ sở đào tạo còn phải tính đến việc giải

24

quyết cơ sở vật chất kỹ thuật cho lớp. Nếu phải thuê toàn bộ cơ sở vật chất hỹ thuật

cho lớp học, thì chi phí sẽ cao, ảnh hưởng đến khả năng tài chính, giá cả đào tạo và

lợi nhuận của cơ sở đào tạo. Vì vậy, vấn đề dặt ra cho cơ sở đào tạo là phải lựa chọn

được những địa điểm thuận tiện cho người học, nhưng đảm bảo giảm chi phí, hạ giá

thành đào tạo để đạt được mục tiêu lợi nhuận mong muốn.

Ngoài những nội dung trên, ở một chừng mưc nhất định, chính sách phân

phối của cơ sở đào tạo còn thể hiện ở việc quan tâm giải quyết đầu ra của quá trình

đào tạo – việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Trong cơ

chế thị trường, vai trò và khả năng giải quyết vấn đề này của các cơ sở đào tạo rất

hạn chế. Tuy nhiên, việc này ảnh hưởng đến kết quả truyển sinh - đầu vào của quá

trình đào tạo, nên cơ sở đào tạo phải tích cực tham gia giải quyết như một nhân tố

kích thích nhu cầu và thu hút người học.

Để giải quyết đầu ra cho quá trình đào tạo, ngoài việc đổi mới mục tiêu, nội

dung, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng cạnh tranh cho

HSSV tốt nghiệp trên thị trường sức lao động, cơ sở đào tạo có thể làm một số việc

sau:

- Đề xuất với cơ quan quản lý ngành, Nhà nước về những vấn đề có liên quan

đến giải quyết việc làm cho người lao động được đào tạo;

- Liên hệ với các trường đào tạo trình độ cao hơn để các em được học liên

thông nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện, khả năng;

- Liên hệ với các trung tâm giới thiệu việc làm, các doanh nghiệp, các cơ

quan hành chính, đơn vị sự nghiệp để giới thiệu các em đến tìm việc;

- Đẩy mạnh đào tạo theo địa chỉ để gắn đào tạo với bố trí, sử dụng HSSV khi

tốt nghiệp ra trường.

d. Chính sách giao tiếp và khuếch trương trong đào tạo

* Chính sách giao tiếp

Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, giao thiệp, tạo dựng các mối quan hệ giữa

cơ sở đào tạo với các tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động đào tạo của nó.

25

Trong đó, quan hệ với “khách hàng” đào tạo là quan trọng nhất.

Quan hệ với “khách hàng” đào tạo gồm: Quan hệ với “khách hàng” là tổ chức

và quan hệ với “khách hàng” là cá nhân người học. Cụ thể:

- Cơ sở đào tạo quan hệ với khách hàng là tổ chức trong việc ký kết hợp

đồng đào tạo tại doanh nghiệp, mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày. Trong mối quan

hệ này, cơ sở đào tạo cần chủ động tìm hiểu nhu cầu của tổ chức, nghiên cứu hình

ảnh sản phẩm đào tạo và hình ảnh bản thân của cơ sở đào tạo hiện hữu trong khách

hàng thông qua những câu chuyện hay nhận xét của họ… Chủ động giới thiệu và

làm cho khách hàng hiểu rõ hơn về các ngành nghề, bậc, hệ, loại hình đào tạo của

cơ sở đào tạo, đồng thời có những khích lệ cần thiết đối với những người có quyền

quyết định của tổ chức…

- Quan hệ với người học được thể hiện qua xúc tiến hoạt động đào tạo. Nó

diễn ra khi các chính sách Marketing của cơ sở đào tạo đã được xác định và đây là

bước thực hiện các chính sách đó. Thông qua hoạt động này, cơ sở đào tạo có thể

nhận rõ hơn tính thích ứng, tính hợp lý và hiệu quả của các chính sách Marketing

hỗn hợp đã đưa ra.

Chính sách giao tiếp với người học được thể hiện trong các chế độ, quy định

của cơ sở đào tạo, cách đối xử với người học. Trong đó, tiêu biểu nhất là mối quan

hệ thày trò trong quá trình giảng dạy học tập. Người thày khi giảng dạy phải tìm

hiểu trình độ nhận thức ban đầu, đặc điểm tâm lý của đối tượng đào tạo, những

mong muốn, yêu cầu của người học đối với bài giảng của thày để kịp thời điều

chỉnh và đáp ứng, những khó khăn của họ trong học tập để giúp đỡ… Làm được

như vậy cũng có nghĩa là người thày đã làm Marketing về sản phẩm đào tạo, làm

Marketing về chính bản thân mình để thu hút, hấp dẫn người học, làm cho người

học dễ tiếp thu, thích thú với những điều thày dạy, yêu mến kính phục và tin tưởng

ở thày mà cố gắng học tốt.

* Chính sách khuếch trương

Khuếch trương bao gồm các biện pháp và nghệ thuật mà cơ sở đào tạo dùng

để thông tin, giới thiệu về ngành nghề, bậc, hệ, loại hình đào tạo cùng sự phục vụ

26

kèm theo và về bản thân mình, nhằm tác động vào “khách hàng” đào tạo, lôi kéo,

thu hút họ vào học. Trong lĩnh vực đào tạo, các cơ sở đào tạo thường sử dụng hai

loại hình khuếch trương chủ yếu là quảng cáo và tuyên truyên.

+ Quảng cáo trong đào tạo: Quảng cáo đào tạo là sử dụng các phương tiện

truyền tin để đưa tới “khách hàng” đào tạo về việc đào tạo một ngành nghề, bậc,

hệ, loại hình đào tạo nào đó của cơ sở đào tạo. Chính sách quảng cáo được thể hiện

qua nội dung hoạt động quảng cáo, bao gồm: xác định mục tiêu quảng cáo, xác định

kinh phí quảng cáo, lựa chọn thông tin, xác định nội dung quảng cáo, lựa chọn

phương tiện truyền tin, xác định thời gian thực hiện, đánh giá chương trình quảng

cáo. Những vấn đề này đã được nhiều sách đề cập và trong lĩnh vực đào tạo không

có sự khác biệt.

+ Tuyên truyền trong đào tạo: là giới thiệu với công chúng về mục tiêu, nội

dung chương trình, quy trình, phương pháp, chất lượng đào tạo những ngành nghề,

bậc, hệ, loại hình đào tạo ở một cơ sở đào tạo nào đó và về chính bản thân cơ sở

đào tạo ấy dưới dạng những thông tin, tư liệu bài viết, phóng sự, bản tin, phim ảnh

qua đó đề cao hình ảnh, thuyết phục, củng cố niềm tin của người học tiềm năng

vào sản phẩm đào tạo và bản thân cơ sở đào tạo. Tuyên truyền được xem là một

bộ phận cấu thành của hoạt động tổ chức dư luận xã hội. Nội dung hoạt động tuyên

truyền gồm nhiều vấn đề. Tuy nhiên, để hoạt động tuyên truyền trong đào tạo đạt

kết quả tốt cơ sở đào tạo cần chú ý những nội dung sau:

- Xác định nhiệm vụ và lựa chọn đề tài tuyên truyền: Người làm công tac

tuyên truyền phải xác định rõ mục đích tuyên truyền nhằm hỗ trợ cho việc giải

quyết những nhiệm vụ Marketing nào? Làm tăng tính hấp dẫn, sức thuyết phục của

sản phẩm đào tạo hay đề cao hình ảnh, uy tín của nhà trường? Có hiểu rõ mục đích

thì người làm tuyên truyền mới xác định được những nhiệm vụ cụ thể như chuẩn bị

bài viết, hoạch định “chiến dịch” tuyên truyền và lựa chọn đề tài tuyên truyền phù

hợp.

- Lựa chọn nguồn phát tin: Người viết bài tuyên truyền có thể là giảng viên,

cán bộ nhân viên của co sở đào tạo hoặc thuê các nhà báo chuyên nghiệp. Nhưng dù

27

là người trong hay ngoài cơ sở đào tạo, công chúng thường tin tưởng vào thông tin

của những người có trình độ cao, có thái độ khách quan, trung thực, có uy tín và gây

được ấn tượng tốt đẹp.

đ. Chính sách con người trong Marketing đào tạo

Con người, đặc biệt là người thày có vai trò quyết định đến chất lượng giáo

dục đào tạo. Người thày giỏi, có ý thức trách nhiệm cao, thì bài giảng của thày mới

có chất lượng tốt, học trò của thày mới giỏi. Đó cũng là lý do để người học chọn

thày dạy, chọn trường và yếu tố con người - thày dạy trở thành một yếu tố cấu thành

Marketing đào tạo. Chính sách con người với tư cách là một yếu tố Marketing đòi

hỏi cơ sở đào tạo phải xây dựng được một đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ

quản lý có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề

và sử dụng tốt đội ngũ đó. Nói cách khác, phải tạo ra được hình ảnh của cơ sở đào

tạo, trong đó chủ yếu là hình ảnh của đội ngũ thày dạy có trình độ cao, rõ nét, đẹp,

có sức hấp dẫn và in sâu trong tâm trí công chúng. Để đạt được điều đó, cơ sở đào

tạo cần:

- Thu nhận (kể cả hợp đồng mời giảng) những người có trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ cao từ nơi khác đến bằng chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” của mình.

- Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ hiện có bằng nhiều con đường.

- Tạo điều kiện cần thiết về thời gian, tài liệu để giáo viên, giảng viên tự học

tập, tự nghiên cứu , nâng cao trình độ về mọi mặt.

Về quản lý, sử dụng, cần chú ý một số điểm sau:

- Lao động của người thày có tính chất đặc thù (vừa là lao động trí óc, vừa là

lao động chân tay; vừa là lao động chuyên môn kỹ thuật, vừa là lao động nghệ

thuật…), đòi hỏi có phương pháp quản lý phù hợp.

- Con người là một hệ thống phức tạp, vận động theo những quy luật phức tạp

nên việc quản lý, sử dụng con người phải có quan điểm hệ thống - muốn có đầu ra

mong muốn phải có các yếu tố đầu vào thích hợp và đủ lượng cần thiết. Tuy nhiên,

do có ý thức, tiếp thu có chọn lọc, con người không phải là một hệ thống thụ động

mà là một hệ thống chủ động, tích cực. Vì vậy, phải áp dụng đồng bộ các biện pháp:

28

Giáo dục - động viên, tổ chức, hành chính, kích thích vật chất và tinh thần. Trong

đó, đặc biệt chú ý tới yêu cầu về sự công bằng, nhu cầu được công nhận của người

thày trong việc đánh giá, sử dụng cán bộ. Mặt khác, phải đề cao sự kính trọng và

tôn trọng người thày trong nhà trường, không được xúc phạm nhân cách, lòng tự

trọng hay có hành vi ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự người thày. Mặt khác,

Marketing đào tạo cũng yêu cầu người thày phải chủ động làm Marketing chính bản

thân mình.

e. Chính sách cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm: phòng học, phòng thực hành, phòng thí

nghiệm, các máy móc thiết bị, dụng cụ là đồ dùng dạy học và các công trình phục

vụ sinh hoạt vừa là phương tiện vừa là điều kiện để nâng cao số lượng và chất lượng

đào tạo. Mặt khác, cơ sở vật chất kỹ thuật có liên hệ mật thiết với chi phí và giá cả

đào tạo, với con người sử dụng chúng. Do đó, chính sách cơ sở vật chất kỹ thuật,

với tư cách là yếu tố cấu thành của Marketing của một tổ chức cơ sở đào tạo, phải

được đặt trong mối quan hệ và đảm bảo sự kết hợp đồng bộ, hài hòa với chính sách

sản phẩm, giá, con người và các chính sách khác. Tuy nhiên, hướng chung nhất cho

mọi cơ sở đào tạo là phải tăng cường và thường xuyên đổi mới cơ sở vật chất kỹ

thuật, nhất là trang thiết bị, dụng cụ phục vụ trưc tiếp cho việc dạy và học cả lý

thuyết và thực hành.

g. Chính sách về quy trình đào tạo

Quy trình thực hiện một hoạt động nào đó là trình tự các công việc được sắp

xếp theo trật tự thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, buộc người thực hiện phải

tuân thủ. Đối với hoạt động đào tạo, quy trình đào tạo là trình tự thực hiện các

khâu, bước tiến hành quá trình đào tạo từng ngành nghề, bậc, hệ đào tạo.

Các khâu của quá trình đào tạo bao gồm: Tuyển sinh; Tổ chức lớp học (theo

lớp niên chế hoặc lớp tín chỉ); Tổ chức giảng dạy các môn học (lý thuyết và thực

hành, thực tế); Tổ chức thực tập nghề nghiệp (rèn nghề) và thực tập tốt nghiệp; Tổ

chức thi, kiểm tra, đánh giá và xét công nhận tốt nghiệp (cấp Bằng tốt nghiệp) cho

người học. Trong mỗi khâu lại có quy trình thực hiện từng công việc với các bước

29

tiến hành cụ thể như: Quy trình lên lớp giảng dạy lý thuyết; Quy trình hướng dẫn

thực hành, thực tập...Tùy theo mục tiêu, nội dung chương trình, thời gian đào tạo,

phương pháp và hình thức đào tạo từng ngành nghề, bậc, hệ đào tạo mà cơ sở đào

tạo xây dựng quy trình đào tạo cho từng khóa học, lớp học cụ thể.

Yêu cầu chung đặt ra với mọi cơ sở đào tạo là: Quy trình đào tạo phải được tổ

chức hợp lý để tiết kiệm các nguồn lực (thời gian, công sức, tiền của...) nhằm nâng

cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến Marketing đào tạo

1.4.1. Các yếu tố bên ngoài cơ sở đào tạo

a. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

Cũng như Marketing kinh doanh của các doanh nghiệp, Marketing của cơ sở

đào tạo chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường vĩ mô, bao gồm:

- Các yếu tố địa lý tự nhiên và cơ sở hạ tầng (đường giao thông). Các yếu tố

tự nhiên như địa hình, đất đai, khí hậu, thời tiết và điều kiện giao thông có ảnh

hưởng lớn tới phát triển kinh tế, văn hóa...Do đó, ảnh hưởng tới mặt bằng dân trí,

trình độ văn hóa – điều kiện đầu vào của các trường đào tạo đại học và chuyên

nghiệp.

- Các yếu tố dân cư, văn hóa – xã hội: Các yếu tố dân cư như số dân, cơ cấu

dân số theo thành phần dân tộc, lứa tuổi, địa bàn cư trú, phong tục tập quán, đặc

điểm tâm lý...; Các yếu tố văn hóa, xã hội như trình độ văn hóa phổ thông, những

quan điểm cơ bản tạo nên những nguyên tắc, giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức, tư

tưởng, tình cảm...đều ảnh hưởng đến nhu cầu học tập và việc lựa chọn nghề nghiệp

cúa các đối tượng tuyển sinh. Các yếu tố này cũng chi phối tới hình thức, phương

pháp truyền thụ kiến thức và giáo dục nhân cách.

- Các yếu tố kinh tế: Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, mức thu nhập bình

quân trên đầu người và số tiền tiết kiệm hàng năm...nói lên khả năng kinh tế và khả

năng chi trả cho việc học tập của người dân. Nếu kinh tế tăng trưởng, thu nhập tăng,

thì nhu cầu học tập, trong đó có nhu cầu được đào tạo nghề nghiệp cũng tăng và

30

ngược lại.

- Các yếu tố khoa học- công nghệ: Ngày nay, khoa học – công nghệ đã trở

thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm cho năng suất lao động tăng, kinh tế phát

triển, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu

vực dịch vụ. nhiều ngành nghề mới ra đời. Tình hình trên tác động đến nhu cầu đào

tạo cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng và sự phục vụ, làm cho chính sách các yếu tố

cấu thành Marketing đào tạo cũng phải thường xuyên đổi mới theo hướng ngày

càng tốt hơn. Đặc biệt, sự phát triển công nghệ thông tin, truyền thông và mạng

Internet...còn cung cấp cho các cơ sở đào tạo các công cụ quảng cáo, tuyên truyền

hiện đại, nhanh chóng, rộng khắp, hấp dẫn và hiệu quả.

- Các yếu tố chính trị, pháp luật: Các yếu tố này gồm thể chế chính trị, các

luật (Luật giáo dục, Luật giáo dục Đại học, Luật dạy nghề) và văn bản dưới luật, các

chính sách, chế độ, thể lệ, quy chế...cùng bộ máy quản lý Nhà nước về giáo dục -

đào tạo và bộ máy bảo vệ pháp luật. Tất cả tạo thành một hành lang pháp lý, đảm

bảo cho các hoạt động đào tạo diễn ra trong quỹ đạo quản lý của Nhà nước. Điều

này làm cho hoạt động Marketing của các cơ sở đào tạo, nhất là hoạt động quảng

cáo, chiêu sinh, thi cử, đào tạo liên kết...không thể vượt quá giới hạn cho phép.

Trong các yếu tố nêu trên, thì ảnh hưởng của cơ chế - chính sách thuộc môi

trường pháp luật là trực tiếp và lớn nhất. Sự tác động của chính sách nhà nước đối

với Marketing đào tạo thể hiện ở chỗ:

- Tạo ra sự biến động lớn về số lượng và cơ cấu nhu cầu đào tạo. Ví dụ: khi

nhà nước đưa ra chính sách tất cả những người muốn hành nghề kinh doanh Nhà

hàng – Khách sạn đều phải có văn bằng chứng chỉ đào tạo nghề phù hợp công việc,

thì nhu cầu đào tạo nghề về Nhà hàng – Khách sạn sẽ tăng lên đột biến.

- Tạo ra khuôn khổ và giới hạn pháp lý cho chính sách và quyết định

Marketing của cơ sở đào tạo về tuyển sinh, ngành nghề đào tạo, tuyên truyền quảng

cáo, đóng góp học phí… Do vậy, việc thỏa mãn nhu cầu đào tạo không phải là theo

ý người học một cách tùy tiện mà là sự thỏa mãn hợp lý (thỏa mãn có điều kiện),

phù hợp với quy chế Nhà nước và khả năng của cơ sở đào tạo. Ví dụ: Người học có

31

nhu cầu học cao đẳng, đại học muốn bỏ qua điều kiện tuyển sinh như trình độ văn

hóa đầu vào (bằng tốt nghiệp phổ thông hay bổ túc văn hóa) và các thủ tục thi tuyển

sinh… nhưng quy chế Nhà nước không cho phép.

b. Các yếu tố thuộc môi trường vi mô

Các yếu tố thuộc môi trường vi mô bên ngoài cơ sở đào tạo bao gồm:

- “Khách hàng” đào tạo là các đối tượng tuyển sinh của cơ sở đào tạo;

- Các đối tác của cơ sở đào tạo;

- Các đối thủ cạnh tranh với cơ sở đào tạo.

Trong các yếu tố nêu trên, thì động cơ, nhu cầu, thái độ, đặc điểm tâm lý...

của đối tượng tuyển sinh; Tinh thần tích cực, chủ động, nguồn lực hỗ trợ của các

đối tác; Những nỗ lực Marketing của các đối thủ cạnh tranh... có ảnh hưởng lớn tới

hoạt động và kết quả Marketing của cơ sở đào tạo.

1.4.2. Các yếu tố bên trong cơ sở đào tạo

Ngoài các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới kết quả hoạt động đã trở thành các

các yếu tố cấu thành Marketing đào tạo (Marketing- Mix), hoạt động Marketing của

cơ sở đào tạo còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố nội bộ khác, gồm:

- Mục tiêu chiến lược phát của cơ sở đào: Mục tiêu chiến lược phát triển cơ

sở đào tạo là mục tiêu bao trùm và lâu dài. Nó chi phối toàn bộ các kế hoạch, các

chương trình hoạt động, trong đó có mục tiêu hoạt động Marketing của cơ sở đào

tạo.

- Tầm nhìn, bản lĩnh quản trị của Ban lãnh đạo, nhất là của người đứng đầu và

sự ủng hộ của đội ngũ cán bộ nhân viên. Những yếu tố này cho biết khả năng một

giải pháp Marketing đưa ra có được lãnh đạo chấp thuận và mọi người đồng tình

hay không.

- Nguồn lực tài chính của cơ sở đào tạo: Nguồn lực tài chính mạnh sẽ cho

phép cơ sở đào tạo thực hiện các giải pháp Marketing mạnh như quảng cáo trên các

phương tiện thông tin quốc gia (Đài phát thanh –truyền hình Việt Nam, Báo Nhân

dân...), gửi Baner trên các trang mạng nổi tiếng, chi thù lao thỏa đáng cho những

người đi quảng bá, thu nhận hồ sơ đăng ký...Ngược lại, nguồn lực tài chính yếu thì

32

không thể thực hiện các giải pháp Marketing mạnh nhưng đòi hỏi chi phí lớn.

- Môi trường giáo dục

Môi trường giáo dục, ngoài yếu tố thày trò, cơ sở vật chất kỹ thuật là các yếu

tố cấu thành hoạt động giáo dục đào tạo, còn bao gồm các yếu tố khác như: Kỷ

cương, nền nếp trong học tập và sinh hoạt; Đời sống văn hóa tinh thần (nếp sống có

văn hóa); Vệ sinh môi trường và cảnh quan sư phạm; An ninh trật tự trong trường

và khu vực xung quanh.

Môi trường giáo dục, nhất là yếu tố an ninh trật tự và an toàn trong trường có

ảnh hưởng lớn tới kết quả tuyển sinh và chất lượng đào tạo toàn diện, thậm chí có

khi nó là tiêu chí quan trọng để các bậc phụ huynh và học sinh lựa chọn giữa các

trường có cùng ngành nghề đào tạo.

Việc xây dựng môi trường giáo dục tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ

thể của từng cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, mục tiêu chung nhất của chính sách về môi

trường giáo dục của mọi cơ sở đào tạo là phải tạo ra được một môi trường giáo dục

tốt, lành mạnh, an toàn. Môi trường giáo dục của cơ sở đào tạo có đạt được những

yêu cầu này thì mới tạo ra sự an tâm, tin tưởng của các bậc phụ huynh khi gửi con

33

em mình đến học, mới thu hút được nhiều người học tiềm năng và ngược lại.

Chương II

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MARKETING ĐÀO TẠO

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH

2.1. Giới thiệu về trường Cao đẳng Thương mại và du lịch.

2.1.1. Quá trình phát triển

Trường Cao đẳng Thương mại và du lịch, Bộ công thương tiền thân là

Trường trung cấp thương nghiệp miền núi, Bộ Thương mại, được thành lập ngày 11

tháng 6 năm 1962, với chức năng nhiệm vụ là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên

thương mại, dịch vụ cho khu vực miền núi trên phạm vi cả nước. Những khóa đầu

còn có cả một số cán bộ, học sinh người Campuchia theo học. Đến năm 1978, theo

chủ trương phân vùng đào tạo của Bộ Thương nghiệp lúc đó, Trường được đổi tên

thành Trường trung học thương nghiệp Bắc Thái, có chức năng nhiệm vụ đào tạo

cán bộ, nhân viên cho ngành thương nghiệp 9 tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm: Bắc

Thái (nay là Thái Nguyên và Bắc Kạn), Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà

Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu (nay là Lai Châu và Điện Biên), Sơn La. Năm

1990, theo chủ trương của Nhà nước, để phân biệt các trường thuộc Bộ, Ngành

trung ương với các trường trực thuộc địa phương, một lần nữa Trường được đổi tên

thành Trường trung học thương mại trung ương IV (TW4). Đến năm 2000, trong

điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh, Bộ Thương mại xóa bỏ việc phân vùng đào

tạo, nên Trường được trở lại tuyển sinh đào tạo trên phạm vi toàn quốc.

Với sự phát triển toàn diện của Trường cả về quy mô đào tạo, cơ sở vật chất

kỹ thuật, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, được sự đồng ý của Thủ tướng chính

phủ, sự nhất trí của các Bộ ngành hữu quan, ngày 27 tháng 3 năm 2006, Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 1534/QĐ- BGD&ĐT về việc thành lập

Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch trên cơ sở nâng cấp Trường trung học

thương mại TW4. Đây là mốc son đánh dấu sự phát triển về chất của Nhà trường.

Từ thời điểm đó, Trường trở thành một cơ sở đào tạo bậc đại học, trực thuộc Bộ

34

Công Thương, chịu sự quản lý về nghiệp vụ đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo

(BGD&ĐT), được tuyển sinh và đào tạo cán bộ, nhân viên có trình độ cao đẳng và

các trình độ thấp hơn cho ngành Thương mại và Du lịch trên phạm vi cả nước.

2.1.2. Về tổ chức bộ máy

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường được kết cấu theo mô hình kết hợp Trực

tuyến - chức năng, gồm 6 phòng chức năng, 4 khoa đào tạo và một số đơn vị trực

thuộc cùng các lớp HSSV cụ thể:

* Ban giám hiệu, gồm:

- Hiệu trưởng

- Phó hiệu trưởng về đào tạo và nghiên cứu khoa học.

- Phó hiệu trưởng về nội chính, cơ sở vật chất kỹ thuật và đời sống.

* 6 phòng chức năng:

+ Phòng dào tạo: Có chức năng tham mưu, giúp Hiệu trưởng, Phó Hiệu

trưởng về đào tạo:

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyển sinh hàng năm.

- Xây dựng kế hoạch đào tạo: kế hoạch giảng dạy, thời khóa biểu, kế hoạch

thi học kỳ, thi tốt nghiệp…

- Quản lý việc thực hiện các kế hoạch giảng dạy lý thuyết và thực hành, thực

tập, quản lý các phòng học lý thuyết.

- Quản lý kết quả học tập của học sinh , sinh viên, làm các thủ tục xét, công

nhận tốt nghiệp và cấp bằng cho học sinh sinh viên .

- Làm các báo cáo về đào tạo theo yêu cầu của các cấp quản lý.

+ Phòng công tác học sinh sinh viên : Là phòng chức năng giúp Hiệu trưởng

thực hiện công tác quản lý, giáo dục học sinh sinh viên (HSSV) cụ thể:

- Làm thủ tục nhập học, quản lý hồ sơ học sinh sinh viên từ khi nhập học đến

khi tốt nghiệp ra trường.

- Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

cho học sinh sinh viên.

- Đề xuất quản lý, giáo viên chủ nhiệm và cố vấn học tập.

35

- Theo dõi, tổng hợp kết quả học tập và rèn luyện của học sinh sinh viên.

- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với học sinh sinh viên theo quy định

của Nhà nước và nhà trường.

- Thực hiện công tác thi đua khen thưởng với học sinh sinh viên.

- Phối hợp với công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên…tổ chức

các hoạt động phong trào và hoạt động ngoại khóa cho học sinh sinh viên.

+ Phòng khoa học công nghệ và đối ngoại(KHCN&ĐN): Là phòng chức

năng giúp việc Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng về nghiên cứu khoa học trong việc

quản lý hoạt động nghiên cứu , ứng dụng khoa học kỹ thuật- công nghệ trong Nhà

trường; Thực hiện chức năng quan hệ đối ngoại.

+ Phòng thanh tra- khảo thí và đảm bảo chất lượng (TTKT&ĐBCL): Là

phòng chức năng giúp việc Hiệu trưởng về công tác thanh tra các mặt hoạt động của

Trường; Tổ chức các kỳ thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp theo sự phân công của Hội

đồng thi; Tổ chức các hoạt động tự đánh giá và làm các thủ tục đề nghị được kiểm

định ngoài để đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo.

+ Phòng tổ chức- hành chính- kế toán(TCHC): Là phòng chức năng tham

mưu giúp Hiệu trưởng thực hiện các mặt công tác: Tổ chức cán bộ, thi đua khen

thưởng, tài chính kế toán.

+ Phòng quản trị -Đời sống(QTĐS): Là phòng chức năng tham mưu giúp

việc Hiệu trưởng thực hiện việc xây dựng, mua sắm, phát triển và quản lý (kể cả

bảo vệ) cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác, giảng dạy, học tập và đời sống cán

bộ công nhân viên và HSSV của Trường.

* 4 khoa giảng dạy gồm:

+ Khoa Đại cương: Là đơn vị tác nghiệp thực hiện chức năng tổ chức quản lý

và thực hiện giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo kế hoạch của Trường các môn

học chung như: Lý luận chính trị, Pháp luật, Văn hóa cơ bản, Ngoại ngữ, Giáo dục

thể chất và Giáo dục quốc phòng...

+ Khoa Kế toán – Tài chính: Là đơn vị tác nghiệp thực hiện chức năng tổ

chức quản lý và thực hiện giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo kế hoạch của

36

Trường các môn học thuộc chuyên môn về Kế toán và Tài chính.

+ Khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh(Kinh tế &QTKD): Là đơn vị tác

nghiệp thực hiện chức năng tổ chức quản lý và thực hiện giảng dạy, nghiên cứu

khoa học theo kế hoạch của Trường các môn học thuộc chuyên môn về kinh tế,

quản trị kinh doanh thương mại.

+ Khoa Khách sạn- Du lịch: Là đơn vị tác nghiệp thực hiện chức năng tổ

chức quản lý và thực hiện giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo kế hoạch của

Trường các môn học Nghiệp vụ và Quản trị kinh doanh Nhà hàng - Khách sạn và

Du lịch lữ hành.

* Các đơn vị trực thuộc khác, gồm:

- Thư viện-Tư liệu; Ký túc xá sinh viên; xưởng trường…

* Các lớp học sinh sinh viên.

Toàn bộ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và tác nghiệp của Trường được thể

HIỆU TRƯỞNG

Các Hội đồng

Các Phó Hiệu trưởng

tư vấn

Phòng Đào tạo

Phòng QT-ĐS

Phòng Công tác HSSV

Phòng KHCN& ĐN

Phòng TCHC- Kế toán

Phòng TT. KT &ĐBCL

Khoa K.Sạn-

Khoa Kế toán – Tài chính

Khoa Kinh tế - QTKD

Khoa Đại cương

Du lịch

Các lớp học sinh sinh viên

hiện qua Hình 2.1. dưới đây:

37

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường CĐ Thương mại và Du lịch

2.1.3. Lực lượng lao động

Hiện nay trường có 146 cán bộ công nhân viên, trong đó có 109 giảng viên,

21 cán bộ quản lý và 16 nhân viên phục vụ. Phân theo trình độ đào tạo, có 2 tiến sĩ

chiếm 1,37%, 46 thạc sĩ chiếm 31,5%, 82 cử nhân chiếm 56,13%, trình độ khác

11%.

Bảng 2.1: Cơ cấu lao động theo tính chất công việc và trình độ đào tạo

Theo trình độ Trình độ Tiến sĩ Thạc sĩ Cử nhân khác

Theo tính Cộng SL % SL % SL % SL %

chất công việc

0 Giảng viên 0,92 38 34,86 70 64,22 0 109 1

0 21 CBNV quản lý 4,76 38,10 12 57,14 0 1 8

16 Nhân viên phục vụ 0 0 0 0 16 0 0

Cộng 1,37 46 31,50 82 56,13 16 11 146 2

Nguồn: Phòng Tổ chưc cán bộ của Trường

2.1.4. Về ngành nghề đào tạo, hệ đào tạo, quy mô đào tạo.

Hiện nay trường đã đang đào tạo các ngành nghề và hệ đào tạo sau:

* Hệ cao đẳng chính quy (3 năm)

+ Ngành học quản trị kinh doanh.

+ Ngành học kế toán.

+ Ngành Việt Nam học.

* Hệ cao đẳng nghề (3 năm)

+ Kế toán doanh nghiệp

38

+ Dịch vụ nhà hàng.

+ Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ.

* Hệ liên thông:

+ Liên thông cao đẳng nghề sang cao đẳng chuyên nghiệp gồm:

- Kế toán (6 tháng)

- Quản trị kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn (8 tháng)

+ Liên thông từ trung cấp chuyên nghiệp lên cao đẳng

- Kế toán (1,5 năm)

- Quản trị doanh nghiệp thương mại (1,5 năm)

- Quản trị kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn (1,5 năm)

* Hệ trung cấp chuyên nghiệp: (2 năm)

Đào tạo 12 chuyên ngành thuộc các ngành học sau:

+ Mã 423401: Kinh doanh:

- Kinh doanh thương mại và dịch vụ

- Quản lý và kinh doanh du lịch

- Quản lý và kinh doanh khách sạn

- Quản lý và kinh doanh nhà hàng và dịch vụ ăn uống

- Kinh doanh xuất nhập khẩu

+ Mã 423403: Kế toán kiểm toán

- Kế toán doanh nghiệp

- Kế toán hành chính sự nghiệp

+ Mã 428101: Dịch vụ du lịch

- Du lịch lữ hành

- Du lịch sinh thái

- Hướng dẫn du lịch

+ Mã 428102: Khách sạn, nhà hàng

- Kỹ thuật chế biến món ăn

- Kỹ thuật pha chế và phục vụ đồ uống

39

- Nghiệp vụ lễ tân

Quy mô đào tạo bình quân khoảng 4.000 học sinh sinh viên. Năm học 2012

có 3.717 học sinh sinh viên, trong đó gồm: Cao đẳng chuyên nghiệp 2.251 sinh viên

, cao đẳng nghề 581 sinh viên , trung cấp chuyên nghiệp 259 học sinh, liên thông

626 sinh viên.

2.1.5. Về kết quả đào tạo:

Qua 50 năm đào tạo và phát triển, Trường đã đào tạo được hàng vạn cán bộ,

nhân viên cho Ngành Thương mại và Du lịch, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ

của Ngành trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước. Nhiều người trưởng thành đã

và đang giữ chức vụ quản lý chủ chốt của các cơ quan, ban, ngành hoặc của các

doanh nghiệp ở trung ương và các địa phương trên khắp mọi miền đất nước. Thành

tích đó đã được ghi nhận và thể hiện ở những phần thưởng cao quý mà Trường nhận

được, bao gồm: 01 Huân chương độc lập hạng ba, 03 Huân chương lao động ( nhất,

nhì, ba), hàng chục Cờ thi đua, Bằng khen của Chính phủ, các Bộ ngành và Ủy ban

nhân dân tỉnh Thái Nguyên về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo và

các mặt công tác khác.

2.2. Thực trạng các yếu tố môi trường và thị trường ảnh hưởng đến công tác

đào tạo và hoạt động Marketing của Trường CĐ Thương mại và Du lịch

2.2.1. Các yếu tố môi trường

2.2.1.1. Các yếu tố địa lý tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã hội nơi đặt trụ sở chính của

trường.

Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch thuộc Bộ Công Thương, tuyển sinh

và đào tạo trên phạm vi cả nước, nhưng lại đóng trụ sở tại số: 478, đường Thống

nhất, Thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 75 km về phía bắc.

Tỉnh Thái Nguyên, trong đó có Thành phố Thái Nguyên - nơi Trường đặt trụ

sở, có những đặc điểm sau:

Thái Nguyên cách Hà Nội 80 Km về phía Bắc, là một tỉnh nằm ở vị trí cửa

ngõ phía nam vùng Trung du- Miền núi Bắc Bộ, tiếp giáp giao lưu kinh tế - xã hội

với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thái Nguyên có phía bắc

40

giáp vói tỉnh Bắc Kạn, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây

giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và phía nam giáp Hà Nội. Tỉnh có 9 đơn vị

hành chính là: Thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên,

Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương. Toàn Tỉnh có 180 xã,

trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.

Tỉnh có diện tích tự nhiên 3.562,82 Km2, dân số khoảng 1,2 triệu người, gồm 9 dân

tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, H.Mông, Sán Chay, Hoa và Dao.

Thành phố Thái Nguyên là thủ phủ của tỉnh Thái nguyên, là trung tâm chính

tri, kinh tế của khu Việt Bắc, đang phấn đấu để trở thành trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hóa, giáo dục đào tạo và y tế của cả vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.

Từ thành phố Thái Nguyên theo quốc lộ (QL) 3 đi Bắc Kan, Cao Bằng ở phía

bắc hoặc về Hà Nội ở phía nam và đi khắp đất nước; Theo QL 1B đi Lạng Sơn;

Theo QL 37 đi hướng Đông Nam về Bắc Giang, Bắc Ninh, xuống đường 1A đi các

tỉnh đồng bằng, lên đường 18 đi Quảng Ninh, rẽ xuống Hải Dương, Hải Phòng, đi

về hướng Tây sang Tuyên Quang, có thể đi tiếp lên Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai,

Lai Châu, Điện Biên, Sơn La…với điều kiện giao thông thuận tiện. Hiện nay, Nhà

nước đang cải tạo, mở rộng QL3 đoạn Thái Nguyên- Hà Nội và xây dựng một

đường cao tốc mới chạy song song với con đường này.

Ngoài điều kiện giao thông thuận tiện, các điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng

khác như điện, nước sạch, bưu chính viễn thông và các dịch vụ khác phát triển khá

hoàn thiện và cung ứng tương đối tốt.

Về kinh tế, xã hội: Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong

những năm gần đây, tuy có khó khăn do tình hình chung của thế giới và trong nước,

nhưng vẫn phát triển khá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức trung bình của cả

nước. GDP bình quân thời kỳ 2006-2010 tăng 12% - 13%. Năm 2012, những khó

khăn và thách thức đều lớn hơn dự báo, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, các

doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa chậm, lượng hàng hóa tồn kho lớn, mặt bằng lãi

suất tiền vay tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao..., nhưng với sự cố gắng phấn đấu

của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân toàn Tỉnh, nền kinh tế của

41

Tỉnh vẫn tiếp tục phát triển. Tổng sản phẩm GDP của Tỉnh đạt 29.508 tỷ đồng, tăng

7,2% so với năm 2011(cả nước tăng 5,02%). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch

theo hướng tích cực: Công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 41,25%; Thương mại

dịch vụ chiếm 37,78%; Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 20,97%.

Mục tiêu phấn đấu của tỉnh năm 2013 là: GDP sẽ tăng 9%, tỷ suất sinh thô

giảm 0,1%; tạo việc làm mới cho 16.000 lao động; ổn định tỷ lệ che phủ rừng là

50%; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 12,5% (giảm 2,1% so với năm 2012); đảm

bảo an ninh trật tự xã hội…(Báo cáo kỳ họp thứ 5, HĐND tỉnh Thái Nguyên khóa

XII, bài đăng trên báo Thái Nguyên điện tử 12/12/2012).

Các yếu tố về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ công cộng và sự

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung, thành phố Thái Nguyên

nói riêng nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tuyển sinh và đào tạo cũng

như kết quả và hiệu quả hoạt động Marketing của Nhà trường. Cụ thể:

- Điều kiện về vị trí địa lý, giao thông đã tạo ra sự thuận lợi cho việc đi lại

của cán bộ, công nhân viên, giảng viên và học sinh sinh viên.

- Sự phát triển kinh tế, giao thông thuận tiện và khá tốt đã làm cho mặt bằng

giá cả hàng hóa, nhất là những mặt hàng nông sản - thực phẩm, dịch vụ ăn uống

hàng ngày thường thấp hơn Hà Nội và nhiều tỉnh khác. Đây là yếu tố đảm bảo cho

việc ổn định đời sống của cán bộ, công nhân viên và học sinh sinh viên, góp phần

làm chi phí cho người đi học giảm đáng kể.

Bên cạnh những thuận lợi được xem như điểm mạnh nêu trên, thì việc

Trường đóng ở Thái Nguyên cũng là điểm yếu so với các trường đóng ở Hà Nội.

Nhiều thí sinh chưa đến và rõ Thái Nguyên, nhưng nghe địa danh Thái Nguyên đã

nghĩ tới hình ảnh 1 tỉnh miền núi xa xôi, rừng núi “Thủ đô gió ngàn” trong thời kì

chống Pháp, nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, cuộc sống nhiều khó khăn và

không sầm uất, hấp dẫn như Hà Nội. Hơn nữa, tâm lý phần lớn thí sinh trẻ muốn

được học các trường ở Hà Nội với nhiều lý do khác nhau như: Muốn được sống ở

Thủ đô đông vui, cuộc sống sôi động hoặc muốn có cơ hội đi làm thêm, va chạm

42

thử thách, dễ tìm việc sau khi tốt nghiệp ra trường.

Chính vì những nhận thức đó, nên trụ sở của Trường đóng ở tỉnh lẻ như Thái

Nguyên là một bất lợi lớn trong tuyển sinh vào Trường.

2.2.1.2. Môi trường chính trị, pháp luật

Hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo nói chung và của Trường Cao đẳng

Thương mại và Du lịch nói riêng hiện được đặt trong môi trường chính trị ổn định,

nhưng môi trường chính sách, pháp luật có nhiều thay đổi, chưa ổn định, cụ thể:

* Hệ thống quản lý giáo dục – đào tạo còn chưa hợp lý

Ở nước ta hiện nay, có 2 hệ thống quản lý về đào tạo: Hệ thống quản lý thuộc

Bộ Giáo dục và Đào tạo; Hệ thống quản lý thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã

hội (BLĐTB&XH).

Hệ thống quản lý thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo bao gồm trên cùng là Bộ giáo

dục và Đào tạo, ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là cấp tỉnh) có

Sở giáo dục và Đào tạo, còn ở các huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là cấp

huyện) có các phòng Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống các đơn vị tác nghiệp đào tạo

bao gồm các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) thuộc

Bộ giáo dục và Đào tạo, các Bộ ngành khác và các cơ sở đào tạo thuộc địa phương.

Hệ thống quản lý dạy nghề thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, gồm:

Trên là Tổng cục dạy nghề. Bên dưới là các Sở Lao động Thương binh và Xã hội

địa phương (tỉnh) có Phòng quản lý đào tạo nghề.

Hệ thống các đơn vị tác nghiệp có các trường Cao đẳng nghề (CĐN), Trung

cấp nghề (TCN) trực thuộc Bộ LĐTB&XH và các Bộ ngành khác hoặc trực thuộc

UBND các tỉnh, các Trung tâm dạy nghề cấp huyện. Ngoài ra còn các trường ĐH,

Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ ngành và địa phương có tham gia

đào tạo nghề.

Sự tồn tại của 2 hệ thống quản lý đào tạo cùng với 2 bộ luật (luật giáo

dục và luật dạy nghề) và các chính sách do 2 Bộ quản lý ban hành đôi khi đã không

có sự thống nhất, thậm chí mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cơ sở đào tạo trong

việc thi hành. Chẳng hạn, khi luật dạy nghề xác định là học CĐN, TCN có thể học

43

liên thông lên cao đẳng chuyên nghiệp và Đại học…thì Bộ giáo dục và đào tạo đã

không đồng ý. Trước áp lực của dư luận xã hội, sau nhiều lần thảo luận, ngày 28

tháng 10 năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Lao động – Thương binh và Xã

hội mới ra Thông tư liên tịch số: 27/2010/ TTLT- BGDĐT – BLĐTBXH về hướng

dẫn đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề lên trình độ cao

đẳng, đại học. Theo đó, trường nào muốn đào tạo liên thông các đối tượng trên phải

làm tờ trình nói rõ quá trình đào tạo nghề, so sánh giữa chương trình đào tạo nghề

với chương trình đào tạo chuyên nghiệp và đề xuất nội dung chương trình, thời

lượng các môn học và thời gian đào tạo liên thông, báo cáo Bộ giáo dục và đào tạo

xem xét, ra quyết định cho phép, thì mới được đào tạo. Thời gian ban hành thông tư

này cũng rất chậm, nên những học sinh, sinh viên học nghề tốt nghiệp năm học

2008 – 2009 phải dừng lại 1 năm mới được học liên thông và điều này đã làm cho

việc tuyển sinh TCN, CĐN của nhiều trường khối kinh tế vào các năm học 2008 –

2009, 2009 – 2010 không thực hiện được.

* Số lượng các cơ sở đào tạo phát triển quá nhanh, quá nhiều dẫn đến thiếu

nguồn tuyển sinh và cạnh tranh thiếu lành mạnh.

Năm 1987, cả nước có 101 trường Đại học và cao đẳng (63 trường Đại học,

chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%) đều là công lập, không có trường

ngoài công lập và trường cao đẳng nghề. Đến tháng 3 năm 2013, sau hơn 25 năm

đổi mới và phát triển, cả nước có 457 trường Đại học, cao đẳng (đại học 242

trường; cao đẳng 215 trường) tăng gấp sấp sỉ 4,53 lần so với 1987; có 266 trường

TCCN; 142 trường CĐN, 316 trường TCN và 905 trung tâm dạy nghề và hàng trăm

trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, huyện. Số trường phát triển nhanh và

quá nhiều đã dẫn đến thiếu nguồn tuyển sinh, năm 2012 cả nước có 940.225 học

sinh tốt nghiệp THPT (kể cả bổ túc THPT) nhưng riêng chỉ tiêu tuyển sinh các

trường Đại học, cao đẳng đã là 556.918 chỉ tiêu (theo Báo cáo Tổng kết các kỳ thi

phổ thông và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp năm 2012

và phương hướng, nhiệm vụ năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đọc tại Hội nghị

thi và tuyển sinh năm 2013 của Bộ, tổ chức ngày 22 tháng 01 năm 2013), còn lại là

44

chỉ tiêu 684 trường CĐN, TCCN và TCN khác. Các trường này chủ yếu tuyển đối

tượng học sinh tốt nghiệp THPT. Trong khi đó, nhiều em thì không đạt mức điểm

sàn hoặc đạt nhưng không chấp nhận học các trường Cao đẳng mà muốn ở lại tiếp

tục thi năm sau, nên nguồn tuyển thực tế của các trường cao đẳng, cao đẳng nghề

còn ít hơn nữa. Tình hình trên đã dẫn tới tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh ở

nhiều trường.

* Các chính sách về mở ngành tuyển sinh và đào tạo còn nhiều hạn chế, bất cập,

chưa ổn định

+ Về ngành học: Ngày 27/4/2010 Bộ giáo dục và đào tạo đã ra thông tư

14/2010/TT-BGDDT về việc ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ

cao đẳng, đại học, thay thế cho quyết định số 230/QĐ-LB ngày 22 tháng 12 năm

1990 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo và Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê

về việc ban hành Danh mục ngành đào tạo đại học nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam.

Theo thông tư mới này, thì giữa ngành học và ngành kinh tế có sự lẫn lộn

chưa hợp lý. Bởi vì, khi xem xét ngành học là xem xét tính chất nghiệp vụ của

ngành nghề đó. Nếu tính chất nghiệp vụ của ngành nghề như nhau (đòi hỏi kiến

thức, kỹ năng như nhau) thì xếp vào ngành học như nhau.

Như thế, một ngành học như Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế….có thể

áp dụng ở nhiều ngành kinh tế khác nhau như: Công nghiệp, Nông – lâm - ngư

nghiệp, Thương mại - dịch vụ…Nếu hiểu như vậy, thì ngành học cấp IV mà Bộ

Giáo dục và Đào tạo quản lý chỉ cần ghi là ngành học “Quản trị kinh doanh” còn

quản trị kinh doanh cái gì? ở ngành kinh tế nào? Nên để các trường xác định là

chuyên ngành đào tạo như trước đây. Song hiện nay, khi Thông tư 14/2010/TT-

BGDĐT ra đời, thì ngoài ngành học “Quản trị kinh doanh” (mà không biết kinh

doanh cái gì) vẫn để nguyên, lại có quản trị kinh doanh một số ngành kinh tế cụ thể

như: Quản trị dịch vụ du lịch, lữ hành, Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng và

dịch vụ ăn uống…tức là nâng việc quản trị kinh doanh một số ngành kinh tế cụ thể

thành ngành học. Tiêu chí để xếp ngành học cấp IV ở đây không rõ ràng, chưa hợp

45

lý. Điều này làm cho nhiều trường đang đào tạo các chuyên ngành quản trị kinh

doanh bỗng nhiên phải chuyển thành ngành học, phải mở ngành lại và theo quy định

mới thì lại chưa đủ các điều kiện để mở ngành.

+ Về mở ngành đào tạo:

Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17 tháng 2 năm 2011 của Bộ Giáo

dục và Đào tạo về Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ

tuyển sinh thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng,

điểm a khoản 1, điều 3 về “điều kiện được xem xét để mở ngành trình độ cao đẳng”

có ghi “có đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm nhận giảng dạy tối thiểu 70% khối lượng

của chương trình đăng kí mở ngành, trong đó có ít nhất 4 giảng viên có trình độ

thạc sỹ đúng ngành đăng ký”. Đây là một quy định thiếu thực tế. Bởi vì ngày nay,

trong cơ chế thị trường cạnh tranh, mỗi ngành học có rất nhiều trường đào tạo (khác

với thời kỳ kế hoạch hóa tập trung Nhà nước phân công ngành nghề đào tạo cho các

trường), nên thường mỗi năm, mỗi ngành học một trường chỉ tuyển được 1-2 lớp

học, thậm chí không tuyển đủ 1 lớp. Vì thế, dù có bố trí 100% giảng viên giảng dạy

có trình độ thạc sĩ thì phần lớn các trường không cần có 4 thạc sĩ được đào tạo đúng

ngành (mà thực chất là chuyên ngành) học đăng ký, vì không đủ giờ giảng cho các

thầy cô. Trên thực tế, sau khi có quy định này, rất ít trường cao đẳng đủ điều kiện

về giảng viên cơ hữu đúng ngành để mở ngành học mới.

+ Về liên kết đào tạo

Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo ban hành quyết định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên

nghiệp, cao đẳng, đại học, trong điều 2 “đối tượng áp dụng” ghi rõ. Quy định này áp

dụng đối với các Đại học, học viện, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao

đẳng, trường đại học (gọi chung là các trường) trong liên kết đào tạo theo các hình

thức giáo dục chính quy và vừa làm vừa học. Điều này có nghĩa là việc đào tạo và

cấp bằng chính quy cũng có thể thực hiện ngoài trụ sở chính của trường, tại các địa

điểm đủ điều kiện do 2 bên tham gia liên kết đào tạo quy định. Nhưng ngày

14/11/2009 Bộ giáo dục lại có công văn số 7628/BGĐT-GDDH v/v chấn chỉnh liên

46

kết đào tạo đại học, cao đẳng, trong đó quy định:

1- Không liên kết tuyển sinh và đào tạo liên thông ngoài cơ sở đào tạo để

cấp bằng cao đẳng, đại học hệ chính quy.

2 – Chỉ liên kết tuyển sinh và đào tạo liên thông tại các trường trung cấp

chuyên nghiệp trường cao đẳng, trường đại học, hoặc trung tâm giáo dục thường

xuyên cấp tỉnh.

Như vậy, theo văn bản này thì việc đào tạo chính quy ở ngoài trụ sở chính của

trường sẽ không được cấp bằng chính quy nữa và điều này trái với quy định về liên

thông theo Quyết định 42/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ giáo dục đào tạo trước đó.

Hơn thế, việc đào tạo đặt địa điểm bắt buộc tại các cơ sở liên kết, không tính

tới điều kiện cụ thể của nơi học tập, chưa hẳn đã có những công trình xây dựng làm

lớp học tốt hơn ở chỗ khác.

Những quy định này ra đời và ngay lập tức có hiệu lực áp dụng, không có

thời gian chuẩn bị cho các lớp đang đào tạo dở dang, biến việc đào tạo theo địa chỉ

theo nhu cầu xã hội trước đó đang đúng thành sai, làm cho các trường bị động, lúng

túng, gây bức xúc cho người học và gây khó khăn cho các trường đang đào tạo liên

kết chính quy dở dang. Điều này không tạo điều kiện cho người học và do đó cũng

gây ảnh hưởng tới việc tuyển sinh vào trường.

+ Về đào tạo liên thông: Trước tháng 12 năm 2012 việc đào tạo liên thông từ

trình độ TCCN lên Cao đẳng, Đại học hoặc từ Cao đẳng lên Đại học được quy định

bởi các văn bản:

- Quyết định số 06/2008/QĐ-BGDĐT ngày 13/2/2008 của Bộ trưởng Bộ giáo

dục và Đào tạo. Theo đó, việc đào tạo liên thông 1 cấp từ trình độ THCN lên Cao

đẳng, hoặc từ trình độ cao đẳng lên Đại học do Hiệu trưởng các trường quyết định.

Đào tạo liên thông 2 cấp: Từ THCN lên Đại học thì các trường phải báo cáo Bộ

giáo dục Đào tạo và được Bộ ra Quyết định cho phép. Những học sinh sinh viên tốt

nghiệp loại khá thì sẽ được học liên thông ngay, còn những học sinh sinh viên tốt

nghiệp loại trung bình khá phải sau 1 năm mới được thi liên thông, thời gian học

47

liên thông 1 cấp là 1,5 năm;

- Thông tư liên tịch số:27/2010/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH, ngày 28/10/2010

liên tịch giữa Bộ giáo dục và đào tạo và Bộ thương binh xã hội hướng dẫn việc đào

tạo liên thông từ trình độ TCN lên cao đẳng và từ trình độ cao đẳng nghề lên đại

học với nội dung đã nêu trên;

- Ngoài ra, việc đào tạo liên thông được quy định tại điều khoản 2 của Thông

tư số: 43/2011/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số

14/2009/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường cao đẳng.

Việc thực hiện đào tạo liên thông theo tinh thần các văn bản trên, tuy có cơ sở

đào tạo làm sai, chưa nghiêm túc, nhưng cơ bản đã được các trường chấp hành

nghiêm túc đi vào nề nếp, ổn định. Song, trước tình hình có một số trường thực hiện

chưa nghiêm túc, Bộ giáo dục Đào tạo đã ra thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT ngày

25/12/2012 về quy định đào tạo liên thông và thay thế tất cả các văn bản trên. Theo

tinh thần của thông tư này, thì việc đào tạo liên thông sẽ được xiết chặt, cụ thể:

- Những học sinh sinh viên tốt nghiệp TCCN, TCN, CĐ, CĐN trong thời

gian 3 năm kể từ ngày có Quyết định tốt nghiệp nếu muốn liên thông lên cao đẳng,

đại học phải dự kỳ thi tuyển sinh CĐ, ĐH cùng với học sinh tốt nghiệp PTTH do Bộ

Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm. Những học sinh này nếu trúng tuyển khi

vào học sẽ được nhà trường miễn giảm những học phần đã học. Những học sinh,

sinh viên tốt nghiệp sau 3 năm đi làm mới được thi liên thông vào các trường theo

đề thi riêng có môn cơ sở ngành do các trường tự ra đề và tổ chức thi. Chỉ tiêu đào

tạo liên thông của các trường không quá 20% tổng chỉ tiêu đào tạo đã đăng ký.

Trường đào tạo liên thông phải là trường đã đào tạo học chế tín chỉ và đã có báo cáo

kiểm định chất lượng đào tạo.

Những quy định mới này có tác dụng phần nào nâng cao chất lượng đào tạo

liên thông, nhưng cũng gây xôn xao dư luận xã hội và tạo ra những bức xúc cho học

sinh, sinh viên đang học dở dang. Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đến việc tuyển

sinh của các trường cao đẳng. Nhiều học sinh thi chưa đỗ đại học sẽ chọn con

48

đường ôn tập thêm 1 năm, chứ không thi vào trường cao đẳng để rồi 3 năm sau mới

được thi đại học. Như thế, nguồn tuyển sinh của các trường cao đẳng đã ít lại càng ít

hơn.

+ Về chính sách tuyển sinh: Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã

có quy chế thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và hàng năm đều có bổ sung. Việc thi

tuyển sinh theo phương thức “3 chung” nhiều năm nay đã đi vào nề nếp, ổn định và

tỏ ra có nhiều ưu điểm, nên được đa số các trường hưởng ứng, ủng hộ. Việc quy

định điểm sàn để vào đại học, cao đẳng đảm bảo chất lượng đầu vào cho các trường

là rất cần thiết. Nó tránh tình trạng tuyển sinh bừa bãi, lấy điểm đầu vào đại học quá

thấp dẫn đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường thấp, không đáp ứng được

nhu cầu xã hội và làm giảm uy tín chung của giáo dục đại học Việt Nam. Thực tế,

từ năm học 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép một số trường tốp trên tự

chủ động trong việc tuyển sinh, nhưng nhiều trường cũng từ chối thi riêng và tự

nguyện tuyển sinh theo phương thức “3 chung”. Tuy nhiên, việc xác định điểm sàn

và cách thức thí sinh dự thi và xét tuyển thì cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn

thiện, cụ thể:

- Về điểm sàn: Nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điểm sàn

vào đại học, tùy theo khối thi và thường giao động khoảng 13-15 điểm. Còn điểm

tối thiếu vào cao đẳng thường thấp hơn điểm sàn đại học khoảng 3 điểm. Ví dụ:

Năm 2012 vừa qua, bộ quy định điểm sàn vào đại học khối A là 13 điểm còn vào

cao đẳng là 10 điểm. Việc quy định điểm sàn như thế, đối với các trường đại học thì

thuận lợi vì có 242 trường đại học được tuyển số học sinh thi có điểm nằm trong

phổ rất rộng từ 13 điểm (thực tế 12,75 đã làm tròn thành 13 điểm) đến 30 điểm. Còn

đối với các trường cao đẳng, nếu tính cả hệ cao đẳng trong các trường đại học thì

457 trường chỉ được tuyển trong số lượng rất hạn hẹp những học sinh có điểm thi

nằm trong khoảng từ 10 điểm đến 12,5 điểm. Như thế có nghĩa là tổng chỉ tiêu đào

tạo cao đẳng của 457 trường rất nhiều, nhưng học sinh có điểm thi nằm trong phổ

điểm được tuyển vào các trường cao đẳng lại rất ít.

- Về cách thức tổ chức thí sinh dự xét tuyển: Những năm trước 2012 theo quy

49

định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, những thí sinh chưa đỗ vào trường dự thi theo

nguyện vọng 1 sẽ được các trường cấp 02 phiếu điểm đóng dấu đỏ để tham gia xét

tuyển vào các trường khác, ngành khác cùng khối thi. Phiếu số 1 sẽ dùng để xét

tuyển nguyện vọng 2, còn phiếu số 2 sẽ dùng xét tuyển nguyện vọng 3. Quy định

này buộc thí sinh phải tính toán kĩ để gửi phiếu điểm vào trường nào có khả năng

trúng tuyển. Nhờ đó, nhiều em đủ điểm, thậm chí điểm thi trên điểm sàn đại học vẫn

vào học ở trường cao đẳng.

Năm 2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo lại ra quy định mới cho phép thí sinh có

thể phô tô phiếu điểm và gửi đi rất nhiều trường. Các trường xét trúng tuyển và gọi

nhập học. Thí sinh quyết định học trường nào mới đem phiếu điểm chính (có dấu

đỏ) đến làm thủ tục nhập học. Cách làm này tạo ra rất nhiều cơ hội học tập cho thí

sinh, nhưng cũng gây ra rất nhiều khó khăn cho các trường. Bởi vì, số trúng tuyển

ảo sẽ rất lớn. Các trường khó ước đoán được số lượng thí sinh nhập học, nên không

gọi nhiều thì sợ thiếu người học, mà gọi nhiều quá lại lo vượt chỉ tiêu, bị phạt. Vì

thế, để an toàn các trường thường định điểm trúng tuyển thấp, nếu tuyển được gần

đủ chỉ tiêu sẽ tăng điểm xét tuyển các nguyện vọng sau. Mặt khác, cách làm này dãn

đến hệ quả là: Số thí sinh có điểm thi đạt từ 12,5 điểm trở lên sẽ chắc chắn đỗ đại

học, vì được dàn xếp hết, không vào trường này sẽ vào trường khác, không còn tình

trạng thí sinh có điểm thi đạt hoặc cao hơn điểm sàn đại học lại vào học cao đẳng

như những năm trước. Hơn nữa, nhiều trường đại học có đào tạo hệ cao đẳng cũng

gọi thẳng học sinh thi vào trường có điểm nằm trong phổ cao đẳng vào học hệ cao

đẳng trường mình mà không phát phiếu điểm nữa. Điều này làm cho nguồn tuyển

sinh của các trường cao đẳng đã ít lại trở nên ít hơn nữa. Như vậy, chính sách tuyển

sinh hiện nay cùng với việc có quá nhiều trường đào tạo ra đời đã làm cho việc

tuyển sinh đào tạo của các trường cao đẳng hiện nay rất khó khăn và việc cạnh tranh

tuyển sinh cao đẳng trở nên cực kỳ gay gắt.

2.2.2. Thị trường đào tạo của Trường cao đẳng Thương Mại và Du Lịch

Thị trường đào tạo của Trường cao đẳng Thương Mại và Du Lịch bao gồm

những người học tiềm năng và các cơ quan đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp sử dụng

50

học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, trong

điều kiện nguồn nhân lực được đào tạo về các ngành kinh tế và quản trị kinh doanh

dư thừa thì các tổ chức nói trên được thoả sức lựa trọn người cần tuyển trên thị

trường lao động, nên ít quan tâm và không muốn ràng buộc với bất cứ trường đào

tạo nào.Vì thế, “khách hàng” - đối tượng marketing mà các trường nói chung và

Trường cao đẳng Thương Mại và Du Lịch nói riêng cần thu hút chủ yếu là học sinh

tốt nghiệp THPT và phụ huynh của các em với những đặc điểm chủ yếu sau:

- Mục tiêu phấn đấu của phần lớn các em cũng như mong muốn của gia đình

là thi đỗ vào học một trường đại học theo những ngành nghề phù hợp. Nếu thi

không đỗ thì có thể vào một trường cao đẳng có ngành nghề thích hợp với hy vọng

sau đó có thể học liên thông lên đại học. Vì thế, việc thi và học cao đẳng chỉ là

phương án dự phòng. Chỉ có một phần các em đã trải qua hai mùa thi không đỗ đại

học mới lấy thi cao đẳng làm mục tiêu phấn đấu và yên tâm học ở trình độ này.

- Tâm lý chung của thí sinh là muốn đươc học ở những trường đứng trên địa

bàn Thủ đô Hà Nội nếu điều kiện kinh tế của gia đình cho phép. Điều này có ảnh

hưởng lớn tới việc đăng ký thi và gửi phiếu xét tuyển vào các trường tỉnh lẻ nhưng

không xa Hà Nội như Trưòng Cao Đẳng Thương Mại và Du Lịch. Bởi vì, nếu điều

kiện kinh tế không cho phép thì các em có thể học các trường đại học, cao đẳng

ngay tại tỉnh nhà hay các trường khu vực gần hơn; còn nếu đã có điều kiện đến học

tại Thái Nguyên, thì người ta sẵn sàng “cố thêm” để học tại Hà Nội với nhiều lý do

như đã nói ở mục trước.

- Thị trường đào tạo của Trường Cao đẳng Thương Mại và Du Lịch được mở

rộng trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế tuyển sinh nhiều năm vẫn tập

trung vào các tỉnh thuộc khu vực Trung du, Miền núi phía Bắc và một phần ở các

tỉnh Bắc Trung bộ ( Thanh, Nghệ - Tĩnh) và nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Đây là

những vùng kinh tế khó khăn, thu nhập bình quân người dân còn thấp, trong đó có

nhiều tỉnh thu nhập bình quân thấp dưới mức trung bình của cả nước. Mặt khác, đây

cũng là vùng tập trung nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số, có nhiều phong tục tập

51

quán đa dạng, trình độ dân trí còn thấp so với các tỉnh miền xuôi, đô thị. . .

Đây là những đăc điểm chủ yếu rất quan trọng mà nhà trường phải chú ý và

tính đến khi xây dựng chính sách marketing của mình.

2.2.3. Về tình hình cạnh tranh trên thị trường đào tạo

Như trên đã nói, do nguồn tuyển có hạn (chỉ giới hạn trong những người thi

đại học có phố điểm từ 10-12,5 điểm khối A,A1,D hoặc 11- 13,5 điểm khối C,

những người thi cao đẳng nhưng đã thi đại học rồi) số trường đào tạo trình độ cao

đẳng quá nhiều (457 trường), nên tình hình cạnh tranh trong tuyển sinh giữa các

trường trở lên cực kì gay gắt.

Ngoài cạnh tranh về nguồn tuyển nêu trên, Trường cao đẳng Thương Mại và

Du Lịch còn phải cạnh tranh với các trường cao đẳng cùng ngành nghề đào tạo và

các trường này lại có vị trí thuận lợi hơn như Trường cao đẳng Thương Mại và Du

Lịch Hà Nội thành lập cuối năm 2008, trực thuộc UBND Thành phố Hà Nội, nhưng

cũng được tuyển sinh trên phạm vi cả nước; Hệ cao đẳng trong Trường Đại học

Thương Mại Hà Nội; Trường Cao đẳng kỹ thuật Khách Sạn- Du Lịch, Bộ Công

Thương ở Hải Dương và các trường cùng đào tạo các ngành Kế toán, Quản trị kinh

doanh Thương Mại và Du Lịch khác.

Tỉnh Thái Nguyên - nơi Trường đặt trụ sở cũng là một trung tâm đào tạo lớn

thứ ba toàn quốc, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây có đại học Thái

Nguyên và 7 trường đại học thành viên (Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Đại học Sư

Phạm, Đại học Y khoa, Đại học Nông – Lâm nghiệp, Đại học Công nghệ thông tin,

Đại học Khoa học) và Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Nguyên. Ngoài Đại

học Thái Nguyên, còn có 11 trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp thuộc các

Bộ ngành khác và hàng chục trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề thuộc Bộ quốc

phồng, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, các tập đoàn kinh tế và tư nhân. Riêng

Bộ Công Thương đã có 5 trường trực thuộc ở đây (Trường Cao đẳng Thương Mại

và Du Lịch, Trường Cao đẳng Cơ khí - Luyện kim, Trưòng Cao đẳng Công nghiệp

Thái Nguyên, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt Đức, Trường Cao đẳng Công nghệ

52

và Kinh tế Công nghiệp).

Như vậy, ngay trong những thí sinh có nguyện vọng học các trường trên địa

bàn Thái Nguyên cũng bị chia sẻ cho khoảng 30 trường đào tạo. Trong cuộc cạnh

tranh nguồn tuyển tại đây, thì các trường đại học, nhất là Đại học Kinh tế Quản trị

kinh doanh có nhiều ngành nghề đào tạo trùng với Trường sẽ có ưu thế hơn.

Tình hình cạnh tranh gay gắt về nguồn tuyển sinh trên phạm vi cả nước, khu

vực Miền Bắc cũng như tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên nêu trên đòi hỏi Nhà trường

phải có các chính sách, giải pháp Marketing hợp lý mới mong thu hút được người

học để tồn tại và phát triển.

2.3. Thực trạng hoạt động Marketing của Trường cao đẳng Thương Mại và Du

Lịch.

Xuất phát từ thực trạng môi trường đào tạo, nhất là môi trường chính sách

pháp luật Nhà nước, trong đó có những yếu tố bắt buộc mà Trường không thể thay

đổi, phải chấp nhận để vượt qua; từ đặc điểm của thị trường đào tạo và tình hình

cạnh tranh về nguồn tuyển cực kỳ gay gắt nêu trên, Nhà trường đã thực hiện

Marketing đào tạo như sau:

2.3.1. Chiến lược Marketing

+ Mục tiêu là: Tuyển đủ số lượng người học theo chỉ tiêu đã đăng ký hàng

năm; Tập trung vào “ khách hàng” - những học sinh THPT có lực học trung bình ở

các trường THPT có chất lượng trung bình, các trung tâm giáo dục thường xuyên

cấp huyện, tỉnh.

+ Tư tưởng của chiến lược: Sử dụng chiến lược kéo dựa trên cơ sở nâng cao

chất lượng đào tạo, tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá về ngành nghề đào

tạo, quyền lợi của người học, hình ảnh Nhà trường về cơ sở vật chất kỹ thuật, đội

ngũ giảng viên và cán bộ công nhân viên, môi trường giáo dục, kết hợp với chiến

lược đẩy thông qua khuyến khích lợi ích các đối tác trong việc tuyển sinh và đào tạo

ở các cơ sở liên kết.

+ Thực hiện các chính sách - giải pháp hợp lý trên các yếu tố cấu thành

53

Marketing – Mix được trình bày dưới đây:

2.3.2. Các chính sách Marketing hỗn hợp của Trường

2.3.2.1. Chính sách sản phẩm

Từ khái niệm sản phẩm của cơ sở đà tạo đã nêu (ở chương I), chính sách sản

phẩm đào tạo của Trường là: Không ngừng đổi mới và hoàn thiện sản phẩm đào

tạo, nhất là nâng cao chất lượng đào tạo để hấp dẫn, thu hút sự quan tâm đăng ký thi

và dự xét tuyển của thí sinh và phụ huynh, sự quan tâm của các tổ chức, nhất là các

doanh nghiệp trong ngành Thương mại và Du lịch. Nhà trường đã thực hiện các giải

pháp sau:

* Đặt tên trường có phổ ngành rộng và hấp dẫn

Với tên là Trường Cao đẳng Thương Mại và Du Lịch, Nhà trường nhằm thu

hút những thí sinh có nguyện vọng làm việc trong 2 ngành kinh tế dịch vụ lớn của

xã hội là ngành Thương mại và ngành Du lịch. Hoạt động thương mại tức hoạt động

buôn bán hàng hóa ngày nay được phát triển rộng khắp, không phải chỉ giới hạn

trong lĩnh vực thuần thương mại, mà có ngay trong các ngành sản xuất vật chất khi

các doanh nghiệp mua bán nguyên, nhiên, vật liệu và tiêu thụ hàng hoá sản xuất ra.

Nó cũng phát triển rộng sang các lĩnh vực dịch vụ khác. Có thể nói hoạt động

thương mại đã bao chùm lên mọi hoạt động kinh tế của đời sống xã hội. Còn Du

Lịch là ngành kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của đất nước. Đặc biệt, khi kinh tế

phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, thì nhu cầu đi du lịch, thăm thú các

danh lam thắng cảnh, tìm hiểu lịch sử, văn hoá của người dân trong nước cũng như

của khách nước ngoài là rất cao, nên cơ hội phát triển của ngành Du lịch và nhu cầu

nguồn nhân lực của ngành Du lịch là rất lớn.

Việc đặt tên Trường hàm chứa nội dung đào tạo các ngành nghề thuộc hai

ngành kinh tế lớn như trên được các chuyên gia Marketing các trường bạn đánh giá

cao và nhiều trường hiện nay cũng muốn làm theo.

* Về ngành nghề đào tạo

Hiện nay nhà trường đang đào tạo các ngành nghề sau:

+ Hệ cao đẳng, thời gian đào tạo ba năm, gồm các ngành:

54

- Quản trị kinh doanh với các chuyên ngành và chương trình đào tạo sau:

. Quản trị doanh nghiệp Thương mại

. Quản trị kinh doanh xuất nhập khẩu

. Quản trị kinh doanh Khách sạn

. Quản trị kinh doanh Nhà hàng

. Quản trị kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn

. Quản trị kinh doanh Du lịch lữ hành

. Quản trị chế biến sản phẩm ăn uống

. Quản trị kinh doanh Bảo hiểm

- Ngành kế toán - kiểm toán, gồm:

. Kế toán doanh nghiệp

. Kế toán tổng hợp

- Ngành Việt Nam học gồm:

. Hướng dẫn du lịch

. Tiếng anh du lịch

+ Hệ trung cấp chuyên nghiệp, thời gian đào tạo 2 năm, gồm các chuyên

ngành:

- Nghiệp vụ kinh doanh thương mại

- Quản trị doanh nghiệp thương mại

- Nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu

- Nghiệp vụ kinh doanh nhà hàng – khách sạn

- Nghiệp vụ lễ tân khách sạn

- Nghiệp vụ kinh doanh xăng dầu

- Kỹ thuật xăng dầu

- Kỹ thuật chế biến sản phẩm ăn uống

- Nghiệp vụ kinh doanh du lịch lữ hành

- Kế toán doanh nghiệp

- Kế toán tổng hợp

+ Hệ cao đẳng nghề, thời gian đào tạo 3 năm, gồm các nghề:

55

- Kế toán, với 2 chương trình đào tạo là:

. Kế toán doanh nghiệp

. Kế toán tổng hợp

- Dịch vụ nhà hàng – khách sạn

+ Hệ sơ cấp, học 3 tháng và đào tạo ngắn hạn thường xuyên với các nghề:

- Nghiệp vụ kinh doanh xăng dầu

- Nghiệp vụ kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng ( LPG )

- Nghiệp vụ Lễ tân - buồng khách sạn

- Nghiệp vụ phục vụ Bàn, Bar

- Kỹ thuật chế biến món ăn

- Hướng dẫn du lịch ( 1,2 hoặc 3 tháng tuỳ thuộc đối tượng đào tạo)

Về cơ bản, danh mục đào tạo ngành nghề của Trường đã có hầu hêt các ngành

nghề trong lĩnh vực Thương mại và Du lịch. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, với

chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội và tự trang trải chi phí thường xuyên nên chỉ

những ngành nghề nào tuyển sinh đủ số lượng tối thiểu của 1 lớp học (khoảng 20

sinh viên) thì Trường mới mở lớp. Vì thế, có những ngành nghề năm có lớp, năm lại

không.

Đặc biệt, khi Danh mục ngành đào tạo cấp 4 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban

hành theo Thông tư số: 14/2010/TT – BGDĐT ngày 27/4/2010, nhiều chuyên ngành

đang đào tạo của Trường như: Quản trị kinh doanh Nhà hàng - Khách sạn...phải

đăng ký thành ngành mới, trong khi quy định mở ngành đào tạo theo Thông tư

08/2011/TT – BGDĐT ngày 17/02/2011 lại đưa ra điều kiện cao là phải có 4 thạc sỹ

đúng ngành ( tức chuyên ngành cũ ), thì Trường lại chưa đủ. Sau khi có danh mục

ngành mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ cho in thông tin đến những ngành học trên

“Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng”. Vì thế, từ chỗ Trường có

nhiều chuyên ngành đào tạo in trên quyển: “ Những điều cần biết về tuyển sinh đại

học, cao đẳng...” thì nay chỉ còn ghi được 3 ngành học, lại không rõ ràng là:

- Quản trị kinh doanh

- Kế toán

56

- Việt Nam học

Đây là một bất lợi lớn cho Trường, vì là Trường Cao đẳng Thương mại và Du

lịch nhưng trên ấn phẩm thông tin tuyển sinh chính thống của Bộ về ngành đào tạo

lại không có một chữ nào dính đến Thương mại và Du lịch.

Mặt khác, các ngành nghề đào tạo Cao đẳng nghề còn ít ( mới có 2 nghề)

trong khi tiềm năng mở các nghề mới về Khách sạn và Du lịch còn nhiều. Hơn nữa,

Trường cũng đủ khả năng đào tạo hệ Trung cấp nghề, nhưng trên thực tế lại chưa

tuyển sinh và đào tạo hệ này.

* Về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

Mục tiêu đào tạo từng chuyên ngành, từng nghề, từng bậc học là cái đích để

quá trình đào tạo hướng tới và đạt được. Nó quyết định nội dung, phương pháp đào

tạo. Hiểu rõ điều này, trong những năm qua, Trường đã thường xuyên rà soát lại

mục tiêu đào tạo từng ngành nghề, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu ngày càng

cao của sự phát triển và những biến đổi của môi trường sử dụng. Mục tiêu đào tạo

của các ngành học đã được cụ thể hoá thành các chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng,

thái độ và công bố công khai trên website của Trường. Trên cơ sở đó, Trường

thường xuyên rà soát lại nội dung chương trình, phương pháp đào tạo cho phù hợp

với mục tiêu đề ra. Cụ thể:

- Giữ lại và hoàn thiện, làm phong phú thêm những môn học, những nội dung

đang phù hợp với mục tiêu đào tạo và tình hình thực tế sản xuất kinh doanh.

- Loại bỏ những môn học, những nội dung đã lạc hậu, kém thiết thực và

không cần thiết.

- Kịp thời bổ sung những môn học mới, những vấn đề mới cho phù hợp với

tình hình hiện tại và đáp ứng yêu cầu phát triển trong tương lai.

Nhờ những hoạt động đó mà mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo của

Trường được đổi mới, đáp ứng yêu cầu của người học và xã hội.

Hiện nay, chương trình đào tạo ngành Kế toán của Trường được các đối tác (

Công ty cổ phần đào tạo và du lịch Hoàng Long, Hiệp hội du lịch Việt Nam ) đánh

giá là chương trình hoàn thiện về chuyên môn, dạy đầy đủ, chi tiết kế toán các loại

57

hình doanh nghiệp ( sản xuất xây lắp, thương mại, dịch vụ ), kế toán các cơ quan

hành chính và đơn vị sự nghiệp với thời lượng ( lý thuyết và thực hành ) lớn hơn

hẳn chương trình đào tạo ngành này ở các trường khác có liên kết đào tạo với họ.

Chương trình đào tạo hướng dẫn du lịch kết cấu theo kiểu ngành chính -

ngành phụ ( ngành chính là Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch, ngành phụ là Tiếng Anh

du lịch ) đã nâng thời lượng học Tiếng Anh từ 18 đơn vị học trình lên 41 đơn vị học

trình, đảm bảo sinh viên tốt nghiệp ra trường có thể sử dụng Tiếng Anh để hướng

dẫn cho du khách nước ngoài, khắc phục tình trạng yếu kém về Tiếng Anh của

hướng dẫn viên du lịch nội địa được các trường đào tạo ra hoặc phải sử dụng người

tốt nghiệp đại học ngoại ngữ làm hướng dẫn viên nhưng lại thiếu kiến thức Việt

Nam học và kiến thức nghiệp vụ hướng dẫn.

Cũng nhờ chính sách sản phẩm này, nội dung chương trình và cách thức đào

tạo Cao đẳng nghề của Trường đã có những đổi mới theo hướng hoàn thiện hơn,

chặt chẽ hơn, chất lượng hơn, được Bộ Giáo dục - Đào tạo ghi nhận, đánh giá tốt.

Vì thế, Trường cao đẳng Thương Mại và Du Lịch là trường duy nhất trong cả nước

được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo liên thông ngang từ cao đẳng nghề

sang cao đẳng chuyên nghiệp ( chính quy ) trong thời gian 6 đến 8 tháng tuỳ theo

ngành học. Điều này đã làm tăng uy tín của Trường trong hệ thống các trường cao

đẳng và xã hội, đồng thời tạo ra sức hút đối với học sinh vào học hệ cao đẳng nghề

của Trường.

* Về đổi mới phương pháp đào tạo

Như chương I đã trình bày, việc dạy học ở bậc đại học không chỉ là truyền đạt

kiến thức, kỹ năng, mà còn dạy cả phương pháp làm việc. Hơn thế, bằng phương

pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, người thầy bồi dưỡng cho HSSV năng lực tự học

một cách tích cực, chủ động, năng lực tư duy sáng tạo, biết đặt và giải quyết vấn đề

một cách khoa học. Với ý nghĩa đó, trong một chừng mực nhất định, phương pháp

đào tạo cũng thuộc phạm trù sản phẩm đào tạo. Chính sách sản phẩm về phương

pháp đào tạo là không ngừng cải tiến để phương pháp đào tạo nói chung, phương

58

pháp truyền thụ kiến thức kỹ năng nói riêng ngày càng tốt hơn.

Bên cạnh việc đổi mới, hoàn thiện quy trình và phương pháp đào tạo toàn

khóa, phương pháp giảng dạy của các thày, cô giáo cũng không ngừng được đổi

mới theo hướng giảng dạy tích cực - lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ

động, sáng tạo của người học. Người thày đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, giao

nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá kết quả. Học sinh, sinh viên tự học, tự nghiên cứu là

chủ yếu qua các tài liệu, thư viện và mạng internet. Nhà trường đã trang bị đèn

chiếu Projecter và thiết bị âm thanh cho tất cả các phòng học, yêu cầu giảng viên

biên soạn và giảng các bài giảng điện tử, trong đó chú trọng sử dụng các video clip,

các hình ảnh minh hoạ để tăng tính sinh động, hấp dẫn của bài giảng, tạo hứng thú

học tập cho người học. Thực tế cho thấy, bằng cách này chất lượng và hiệu quả các

bài giảng đã được nâng cao hơn trước.

2.3.2.2. Chính sách giá cả đào tạo

Giá cả đào tạo đối với cơ sở đào tạo là mức thu tài chính hợp lý, đủ tồn tại,

phát triển và được người học chấp nhận mà cơ sở đào tạo thu được từ hoạt động đào

tạo tính trên mỗi người học ở từng ngành, nghề, bậc học , loại hình, lớp đào tạo, bồi

dưỡng xác định.

Đối với trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch, Bộ Công Thương, tuy là

trường công lập, nhưng từ năm 2000 Bộ chủ quản đã thực hiện việc giao khoán kinh

phí. Theo đó, Bộ chỉ cấp khoảng 20% - 25% nhu cầu chi tiêu thường xuyên (chi

hoạt động nghiệp vụ đào tạo, tiền công, tiền lương, xăng, xe, điện, nước…). Phần

còn lại, Trường phải tự lo từ nguồn thu học phí và các dịch vụ khác.

Mức thu học phí của Trường đối với học sinh sinh viên đào tạo phải theo quy

định của Nhà nước tại Nghị định số: 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010

quy định miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí

đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến

2014-1015 ( gọi tắt là Nghị định số: 49/2010/ NĐ-CP). Theo đó, mức thu học phí

của Trường đối với hệ Cao đẳng và TCCN học chính quy từ năm học 2010 – 2011

59

đến năm học 2012- 2013 được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2: Mức thu học phí của Trường từ năm 2010 đến 2013

Đơn vị tính: 1000 đồng/ người/ tháng

Năm học

Năm học

Năm học

2010 -2011

2011 -2012

2012 -2013

HỆ ĐÀO

NGÀNH HỌC

TẠO

Thu QĐ Thu QĐ

Thu

335

232

Kế toán - QTKD

230

284

280

336

CAO

Khách sạn – Du lịch

248

245

316

315

384

380

ĐẲNG

Kế toán – QTKD

203

200

248

245

294

290

TRUNG

CẤP

Khách sạn – Du lịch

217

215

276

275

336

335

Thu – Mức thu học phí của Trường

Nguồn: Phòng Kế toán của Trường

Chú giải: QĐ – Mức thu học phí theo quy định tại Nghị định số: 49/2010/ NĐ-CP

Mức thu học phí của Trường nêu trên thấp hơn mức quy định của Nhà nước

không nhiều, nhưng trong điều kiện Trường phải tự lo 75 – 80% kinh phí thường

xuyên như đã nói trên, thì cũng là một sự cố gắng giảm nhẹ cho người học. Hơn thế,

mức thu này thấp hơn nhiều so với mức thu của các trường ngoài công lập có điều

kiện kinh tế, xã hội tương tự. Ví dụ: Mức thu học phí của một số trường cao đẳng

ngoài công lập đối với sinh viên học ngành Kế toán và ngành Quản trị kinh doanh

60

năm học 2012 -2013 như sau:

Bảng 2.3: Mức thu học phí ngành học Kế toán, Quản trị kinh doanh

của một số trường ngoài công lập 2012 – 2013

NƠI ĐẶT TRỤ SỞ

MỨC THU

STT

TÊN TRƯỜNG

01

Trường CĐ Asean

Văn lâm, Hưng Yên

450

02

Trường CĐ Bách khoa Hưng Yên

Mỹ Hào, Hưng Yên

450

03

Trường CĐ công nghệ Bắc Hà

Từ Sơn, Bắc Ninh

440

04

Trường CĐ công nghệ Hà Nội

Từ Liêm, Hà Nội

520

05

Trường CĐ Đại Việt

Từ Liêm, Hà Nội

550

Đơn vị tính: 1000 đồng/ người/ tháng

Trung bình:

482

Việt Nam.

Như vậy, so với mức thu học phí trung bình các ngành học Kế toán và Quản

Nguồn: Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2013, NXB Giáo dục

trị kinh doanh của các trường ngoài công lập nêu trên (482.000 đồng/ SV/ tháng),

thì mức thu học phí cùng các ngành học này của Nhà trường (335.000 đồng/ SV/

tháng) thấp hơn 147.000 đồng/SV/ tháng. Điều này, thể hiện lợi thế của trường công

lập nói chung và của Trường nói riêng trong việc tuyển sinh vào trường.

Đối với đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, thì mức thu học phí do Trường tự tính

dựa trên những chi phí cần thiết cho một lớp học và số người học dự kiến sẽ tham

gia lớp.

Nhà trường đã luôn thực hiện chính sách giá phân biệt trong quá trình đào

tạo. Cụ thể:

Trong đào tạo chính quy, Trường luôn thực hiện tốt chính sách miễn giảm

61

học phí cho các học sinh sinh viên nghèo, các đối tượng thuộc diện chính sách xã

hội như thương binh, con thương binh, con liệt sĩ, học sinh sinh viên là người dân

tộc thiểu số, người học ở nông thôn miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên

giới, hải đảo, những vùng thường xuyên gặp thiên tai bão lụt…thu nhập thấp, đời

sống kinh tế gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ học sinh sinh viên thuộc diện này của

Trường khá cao. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số: 49/2010/NĐ-CP, các khoản hỗ

trợ cho học sinh, sinh viên này đã được Nhà nước chi thông qua các Sở Lao động

Thương binh và Xã hội ở địa phương.

Đối với các lớp đào tạo ngắn hạn và bồi dưỡng, Nhà trường cũng thực hiện

chính sách giá phân biệt, mềm dẻo, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế cụ thể của người

học ở tùng địa phương. Ví dụ, các lớp mở tại Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,

Phú Thọ có thể thu học phí cao hơn các lớp mở tại Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang…

Nhờ chính sách này, nên không có học sinh sinh viên hoặc người học nào

đang học mà phải bỏ học vì điều kiện học phí.

Ngoài học phí, các chi phí khác cho người học tại Trường cũng rất thấp.

Ví dụ: Chi phí ở ký túc xá của trường năm 2011-2012 là 80.000đ/ người / tháng

với điều kiện ở tốt như: Nhà xây kiên cố, sạch đẹp, công trình vệ sinh khép kín,

đầy đủ điện nước.

2.3.2.3. Chính sách phân phối trong đào tạo của Trường

Nội dung chính sách phân phối trong đào tạo được thể hiện chủ yếu trên các

vấn đề: Xác lập kênh tuyển sinh và đào tạo; Lựa chọn hình thức và phương thức đào

tạo; Lựa chọn địa điểm đào tạo và giải quyết “đầu ra” của quá trình đào tạo.

+ Xác lập kênh tuyển sinh và đào tạo (Kênh Marketing đào tạo )

Để tuyển sinh và đào tạo có hiệu quả, Trường đã lập một số kênh tuyển sinh

và đào tạo thông qua liên kết, hợp tác với các đối tác (một số trường TCCN hoặc

các đơn vị có chức năng đào tạo) ở các địa phương, các Sở Giáo dục và Đào tạo,

các Trường THPT, các Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX). Cụ thể:

- Trực tiếp đến một số trường THPT và trung tâm GDTX tỉnh, huyện của một

62

số tỉnh trong khu vực để tuyên truyền quảng cáo tuyển sinh và đặt quan hệ hợp tác;

- Trường đã tới tham dự các Hội nghị triển khai công tác tuyển sinh đại học,

cao đẳng hàng năm do các sở Giáo dục và Đào tạo địa phương tổ chức và gửi các

bản thông tin về tuyển sinh, các tờ rơi quảng cáo có thông tin về ngành nghề, chỉ

tiêu đào tạo, một số hình ảnh về Trường đến các trường THPT, trung tâm GDTX

tỉnh, huyện khi các đơn vị này tới dự hội nghị (có trả thù lao cho người nhận và phát

tài liệu ở các đơn vị). Trong kênh này, cán bộ Phòng giáo dục chuyên nghiệp các sở,

lãnh đạo và cán bộ thực hiện ở các trường THPT, trung tâm GDTX tỉnh, huyện

được xem là các trung gian trong tuyển sinh. Các năm 2011, 2012, Trường đã làm

như vậy với các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Bắc Giang, Tuyên Quang,

Hà Giang.

- Sử dụng các đơn vị liên kết, hợp tác trong tuyển sinh và đào tạo. Theo kênh

này, Trường ủy quyền cho các đơn vị hợp tác phân phát các thông báo tuyển sinh,

trực tiếp thu nhận các hồ sơ đăng ký xét tuyển gửi về trường để xét. Trường có giấy

báo nhập học gửi đến các đơn vị liên kết, hợp tác để gửi đến người học và làm thủ

tục nhập học. Lớp học có thể đặt tại Trường hoặc tại đơn vị liên kết tùy theo điều

kiện về địa vị pháp lý (đúng Thông tư 42/TT- BGDĐT) và điều kiện cơ sở vật chất

kỹ thuật của đơn vị liên kết. Sau đó, Trường tổ chức đào tạo và cấp Bằng, còn đơn

vị hợp tác sẽ phối, kết hợp trong công tác quản lý học sinh sinh viên. Theo tinh thần

đó, Trường đã có liên kết với các đơn vị sau:

. Trường THPT Chu Văn An ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh để đào

tạo được nhiều lớp cho khu vực Móng Cái và các huyện khác nhau của tỉnh Quang

Ninh.

. Công ty cổ phần đào tạo và du lịch Hoàng Long ở Hà Nội, thuộc Hiệp hội

du lịch Việt Nam, là đơn vị đầu mối của Hiệp hội trong việc hợp tác với Trường để

đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội.

63

. Trường TCCN Công Thương Hà Nội

Trường CĐTM&DL

Sở GD&ĐT

Các đơn vị liên kết hợp tác

Các trường THPT

Các trung tâm GDTX tỉnh, huyện

Đối tượng tuyển sinh

Hình 2.2: Kênh tuyển sinh đào tạo của Trường CĐ Thương mại và Du lich

Đối với đào tạo nghề ngắn hạn như Nghiệp vụ kinh doanh (NVKD) Xăng-

dầu, NVKD khí dầu mỏ hóa lỏng(LPG), Kỹ thuật chế biến sản phẩm ăn uống,

Nghiệp vụ phục vụ bàn, bar, Lễ tân khách sạn, Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch cấp

chứng chỉ…thì Trường hợp tác với các Sở Công Thương, Sở Văn hóa Thể thao và

Du lịch của các dịa phương để mở lớp. Trong đó, Trường ủy quyền cho các sở này

chiêu sinh tại địa phương, lo cơ sở vật chất kỹ thuật , tổ chức và quản lý lớp học,

thu học phí. Trường đào tạo và cấp chứng chỉ. Thực tế Trường đã mở được nhiều

64

lớp, khắp các tỉnh thuộc khu vực Trung du - Miền núi phía Bắc.

Trường CĐTM&DL

Sở Công Thương

Sở VH,TT&DL

Các DN, hộ KDTM

Các DN& hộ KD NH-KS

Người học ngắn hạn

Hình 2.3: Kênh tuyển sinh và đào tạo ngắn hạn

của Trường CĐ Thương mại và Du lịch

+ Lựa chọn hình thức và phương thức đào tạo:

Việc lựa chọn hình thức và phương thức đào tạo có ảnh hưởng tới việc thỏa

mãn nhu cầu về sự thuận tiện của người học, về tổ chức quá trình đào tạo và việc

lựa chọn kênh Marketing đào tạo. Vì thế, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

của mình, Trường đã sử dụng các hình thức và phương thức đào tạo hợp lý. Cụ thể:

- Về hình thức đào tạo: Trường đã sử dụng hình thức đào tạo tập trung với

các lớp đào tạo chính quy dài hạn tại trường và một số đơn vị liên kết đảm bảo được

các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật và người học chủ yếu là học sinh tốt nghiệp

THPT, bổ túc THPT, chưa có nghề nghiệp và chưa đi làm.

Trường cũng mở một số lớp học theo hình thức vừa học vừa làm. Để tạo điều

65

kiện cho những người học thuộc đối tượng này, Trường bố trí học vào buổi tối, các

ngày nghỉ cuối tuần và đối với các lớp học xa Trường thì học theo hình thức “cuốn

chiếu” - học lần lượt từng học phần từ bắt đầu đến kết thúc trong một thời gian liên

tục.

- Về phương thức đào tạo:

Hiện nay, Trường mới chỉ sử dụng phương thức đào tạo trực tiếp, chưa có

thực hiện đào tạo từ xa qua các phương tiện nghe nhìn.

+ Việc lựa chọn địa điểm đào tạo:

Đối với các lớp đào tạo dài hạn tập trung, Trường đã tổ chức đào tạo chủ yếu

là tại địa điểm đóng trụ sở chính của Trường. Nhà trường cũng mở lớp ở các địa

điểm của một số đối tác có đủ điều kiện về phòng học và thiết bị giảng dạy để tạo

điều kiện thuận lợi cho người học.

Đối với đào tạo ngắn hạn như NVKD Xăng - dầu, NVKD khí dầu mỏ hóa

lỏng(LPG), Kỹ thuật chế biến sản phẩm ăn uống, Nghiệp vụ phục vụ bàn, bar, Lễ

tân khách sạn, Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch cấp chứng chỉ…Trường chủ yếu đặt

lớp tại địa phương khi các Sở quản lý ngành hoặc các đối tác chiêu sinh đủ lớp và

thuê được những lớp học đủ tiêu chuẩn. Việc đặt lớp học tại các địa phương để đào

tạo ngắn hạn cho các đối tượng người học ở địa phương theo phương châm “đưa

lớp học về gần người học” đã tạo ra sự thuận tiện cho người học trong việc đi lại, ăn

ở là rất hợp lý. Nhờ đó , các lớp học thu hút được đông đảo người học.

Ngoài đào tạo tại các tỉnh, Trường cũng thường xuyên mở lớp đào tạo ngắn

hạn tại Trường để thu nhận những người chưa kịp học các lớp ở địa phương, tạo

điều kiện cho họ có thể theo học ngay cùng các học viên các tỉnh khác mà không

phải đợi mở lớp tiếp theo ở tỉnh mình.

+ Giải quyết “đầu ra” của quá trình đào tạo:

Ngoài những nội dung nêu trên, chính sách phân phối sản phẩm của cơ sở đào

tạo còn thể hiện ở việc quan tâm giải quyết “đầu ra” của quá trình đào tạo - việc

làm hoặc học tiếp của học sinh sinh viên tốt nghiệp ra trường. Để làm được việc

này, ngoài việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy để nâng cao

66

chất lượng đào tạo nhằm xây dựng “thương hiệu” cho sản phẩm, nâng cao khả năng

cạnh tranh của “mặt hàng” sức lao động ngành nghề cung ứng cho thị trường sức

lao động, Nhà trường đã thực hiện các giải pháp sau:

- Hợp tác với Hiệp hội du lịch Việt Nam để đào tạo nguồn nhân lực theo nhu

cầu của các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội - đào tạo theo địa chỉ. Theo đó, Nhà

trường đào tạo và cấp Bằng, còn doanh nghiệp đầu mối của Hiệp hội – Công ty cổ

phần đào tạo và du lịch Hoàng Long sẽ lo chỗ thực tập và giới thiệu việc làm cho

học sinh sinh viên tốt nghiệp ra trường tại các thành viên của Hiệp hội.

- Giới thiệu những học sinh sinh viên tốt nghiệp với các tổ chức sản xuất kinh

doanh có nhu cầu tuyển dụng lao động.

- Tổ chức đào tạo liên thông từng ngành, nghề, bậc học để tạo điều kiện cho

học sinh sinh viên tốt nghiệp có nhu cầu học tiếp được thỏa mãn. Cụ thể:

. Tổ chức đào tạo Bằng 2 để các em có nhiều ngành nghề, đáp ứng nhu cầu đa

dạng của thị trường sức lao động, qua đó dễ tìm được việc làm.

. Đào tạo liên thông từ TCCN lên CĐ (liên thông dọc)

. Đào tạo liên thông từ CĐN sang CĐ chính quy (liên thông ngang) nhằm

hoàn thiện kiến thức CĐ, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên học liên thông lên

trình độ đại học. Hiện nay, theo công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Cao

đẳng Thương mại và Du lịch là trường duy nhất được đào tạo liên thông ngang từ

CĐN nghề sang CĐ. Đây là lợi thế lớn của trường. Thực tế cho thấy, trong khi

tuyển sinh CĐ khó khăn, thì việc tuyển sinh CĐN và liên thông ngang đã mở ra cho

người học cơ hội học tập lớn, đồng thời làm cho Trường có sức hút lớn đối với

người học và xã hội .

Nhờ các giải pháp trên, qua khảo sát có trên 90% học sinh sinh viên do

Trường đào tạo ra tìm được việc làm đúng ngành nghề đào tạo hoặc được học liên

thông lên trình độ cao hơn.

2.3.2.4. Chính sách giao tiếp, khuếch trương (Xúc tiến Marketing )

* Chính sách giao tiếp:

Như phần lý luận đã nêu: Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, giao thiệp, tạo

67

dựng mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo với các tổ chức, cá nhân có liên quan tới hoạt

động đào tạo của nó.

Cơ sở đào tạo có mối quan hệ ngang là quan hệ với cơ sở đào tạo cạnh tranh

với mình và các cơ quan đơn vị có liên quan như kho bạc nhà nước, ngân hàng…và

các mối quan hệ dọc bao gồm các mối quan hệ với các cơ quan quản lý cấp trên và

các “khách hàng” đào tạo, chủ yếu là người học hiện tại và tiềm năng của mình.

Đối với Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch, trong mối quan hệ ngang,

Nhà trường đã tạo dựng được sự hiểu biết lẫn nhau, thân thiện và hợp tác với các

trường bạn trong Bộ Công Thương, các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên, với Kho bạc nhà nước, các ngân hàng, cơ quan bảo hiểm xã hội, y tế…ở

địa phương tỉnh Thái Nguyên, các hiệp hội, các đối tác đào tạo... nên dã được các

cơ quan, đơn vị này tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ

liên quan.

Mối quan hệ dọc của Trường bao gồm: Mối quan hệ với Bộ Công Thương -

Bộ chủ quản, quản lý toàn diện Nhà trường; Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý về

hoạt động nghiệp vụ đào tạo; Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, trực tiếp là Vụ đào

tạo và Tổng cục du lịch trong việc quản lý chuyên môn nghiệp vụ về du lịch (Khách

sạn, Lữ hành); Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong hoạt động dạy nghề… và

các sở quản lý ngành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Trong các mối quan hệ này,

Nhà trường đã tạo dựng được sự đồng cảm, ủng hộ, giúp đỡ những chính sách,

quyết định Marketing của mình trong các hoạt động có liên quan, trong điều kiện

cho phép và khuôn khổ pháp luật hiện hành.

Mối quan hệ với “khách hàng” đào tạo gồm quan hệ với các tổ chức có nhu

cầu đào tạo và cá nhân người học.

Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch có mối quan hệ với khách hàng là

tổ chức chủ yếu trong việc mở lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn tại các địa phương

trong khu vực. Cụ thể: Mối quan hệ với Sở Công Thương các tỉnh Trung du, Miền

núi Bắc Bộ trong việc đào tạo các lớp NVKD xăng - dầu, gas; Sở VHTT&DL trong

việc mở các lớp đào tạo nghiệp vụ du lịch như: Lễ tân khách sạn; Phục vụ buồng,

68

bàn, bar; Kỹ thuật chế biến sản phẩm ăn uống; Du lịch cộng đồng; Nghiệp vụ

hướng dẫn du lịch ngắn hạn… Trong các mối quan hệ này, Trường đã tạo dựng

được sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác, chia xẻ những khó khăn của địa phương, đã chủ

động nghiên cứu nhu cầu đào tạo của cơ quan, đơn vị, hình ảnh của sản phẩm đào

tạo và bản thân Nhà trường hiện hữu trong từng khách hàng để chủ động uốn nắn

những nhận thức sai lạc, chủ động giới thiệu và làm cho khách hàng hiểu rõ hơn về

những ngành nghề, bậc, hệ đào tạo của Trường, đồng thời có những kích thích cần

thiết (chia xẻ lợi ích) khi mở được lớp.

Mối quan hệ với “khách hàng” là người học hiện tại và tiềm năng được thể

hiện qua việc thực hiện các giải pháp tuyển sinh và quá trình đào tạo. Nó diễn ra khi

các chính sách Marketing đã được xác định và đây là bước thực hiện các chính

sách đó.

Chính sách giao tiếp với người học hiện tại được thể hiện trong các chế độ,

quy định của Trường, cách đối xử của các bộ phận công tác và cán bộ, công nhân

viên với người học. Trong đó, tiêu biểu nhất là mối quan hệ thày - trò trong quá

trình giảng dạy, học tập. Ban Giám hiệu Nhà trường đã rất quan tâm tới việc xây

dựng mối quan hệ thày trò lành mạnh, trong sáng, trong đó thày cô giáo phải là tấm

gương sáng về đạo đức, tác phong, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tận tụy làm

việc để học sinh sinh viên học tập tốt. Vì thế, ngoài việc các thày, cô giáo phải tìm

hiểu kỹ tâm lý học sinh, sinh viên để đưa ra bài giảng và phương pháp giảng dạy

phù hợp, tạo hứng thú và nâng cao chất lượng giờ giảng, thì việc hưởng ứng và thực

hiện cuộc vận động “hai không với bốn nội dung” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát

động đã được Nhà trường quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh. Các hiện tượng tiêu

cực trong quá trình giảng dạy, thi, kiểm tra đánh giá như học sinh, sinh viên mua

điểm hay giáo viên nhận phong bì khi coi thi, kiểm tra...về cơ bản không còn nữa.

Điều này đã tác động tích cực đến tinh thần, thái độ học tập của học sinh, sinh viên

và việc đánh giá kết quả học tập của các em qua các học kỳ đã đảm bảo trung thực,

chính xác hơn. Chất lượng giảng dạy, học tập vì thế cũng được nâng lên một bước.

69

* Khuếch trương trong đào tạo

Khuếch trương trong đào tạo bao gồm: Các loại hình như quảng cáo tuyên

truyền và kích thích tiêu thụ sản phẩm đào tạo.

+ Về quảng cáo: Từ nhiều năm nay, khi mùa tuyển sinh tới, Trường đã tích

cực quảng cáo trên nhiều phương tiện truyền tin. Cụ thể:

- Quảng cáo thường xuyên trên Website của Trường tại địa chỉ

www.cdtmdl.edu.vn hay www.ctm.edu.vn;

- Quảng cáo bằng áp phích tấm lớn tại cổng Trường;

- Quảng cáo theo các thời điểm làm hồ sơ thi tuyển sinh vào tháng 2, 3 và xét

tuyển tháng 7,8 trên các báo: Nhân dân, Công Thương, Giáo dục và thời đại, Thái

Nguyên, Đài phát thanh - truyền hình Việt Nam, Đài phát thanh - truyền hình Thái

Nguyên, Tạp chí Công Thương, báo Dân trí điện tử…in và phát các tờ rơi quảng

cáo về Trường.

Trường đã in mỗi năm khoảng 20.000 tờ gấp, trong đó có các thông tin về

ngành nghề đào tạo, phạm vi tuyển sinh, một số hình ảnh và địa chỉ Trụ sở Nhà

trường…Để phát những tờ gấp này, Trường đã cử cán bộ đến Hội nghị triển khai

công tác tuyển sinh của các Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương để gửi về các

trường THPT hoặc cử người đến thẳng các trường để phát trực tiếp cho học sinh.

Đối với một số trường trong tỉnh Thái Nguyên, Nhà trường đã cử cán bộ đến dự các

hội nghị tư vấn tuyển sinh để tuyên truyền, quảng cáo, phát tài liệu, chiếu phim

Video về Nhà trường, tuyên truyền các ngành, nghề đào tạo và nói rõ ưu thế của

từng ngành, nghề, bậc học , điều kiện học tập, cơ hội việc làm, hướng phát triển của

học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Nhìn chung, hoạt động quảng cáo,

tuyên truyền tuyển sinh, Trường đã tiến hành rất bài bản, sử dụng hầu hết các hình

thức phương tiện truyền tin chủ yếu. Nội dung quảng cáo đã cung cấp cho người

70

nhận tin những nội dung cơ bản.

Bảng 2.4: Chi phí cho tuyển sinh 2010 - 2012

Đơn vị tính: 1000 đồng

Chi cho Nội Dung Công tác các Chi quảng In tờ gấp In lịch phí đi trường cáo (tờ rơi) Tổng cộng quảng bá Năm PTTH

2010 65.400 15.655 37.480 0 0 102.880

2011 80.040 62.040 44.000 74.803 56.700 255.543

2012 119.775 74.800 43.225 68.238 129.500 360.738

Cộng 265.215 152.495 124.705 143.041 186.200 719.161

Nguồn: Tác giả tập hợp từ số liệu Phòng Kế toán của Trường.

+ Tuyên truyền: Tuyên truyền trong đào tạo là giới thiệu với người học và

công chúng rộng rãi về quá trình đào tạo, sản phẩm đào tạo và bản thân cơ sở đào

tạo dưới dạng những thông tin tư liệu, bài viết, phóng sự, hình ảnh… qua đó thuyết

phục, đề cao hình ảnh, củng cố niềm tin của họ vào sản phẩm đào tạo và bản thân

cơ sở đào tạo. Nó được xem là một bộ phận cấu thành hoạt động tổ chức dư luận xã

hội.

Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch thường tổ chức viết bài tuyên

truyền về Nhà trường và quá trình đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo của

Trường vào các dịp kỷ niệm lớn như: Ngày 20/11, Ngày kỷ niệm thành lập Trường

11/6… Nhà trường xây dựng các dĩa phim nhân dịp kỷ niệm 45 năm, 50 năm ngày

thành lập Trường để giới thiệu toàn diện về Nhà trường, từng ngành, nghề, bậc

học…của Trường bằng ngôn ngữ, hình ảnh.

71

+ Về kích thích tiêu thụ:

Để kích thích những người đi quảng bá tuyển sinh, Nhà trường dã có chế độ

bồi dưỡng ngoài chế độ công tác phí mà Nhà nước quy định. Cụ thể: Đã chi thêm

ngoài chế độ 100.000đ/ người/ ngày công tác. Chi thù lao cho Lãnh đạo và cán bộ

tuyển sinh của các trường THPT, các TTGDTX mỗi đơn vị 500.000đ. Tổng chi phí

cho hoạt động quảng bá tuyển sinh của Trường hàng năm là khá lớn (xem Bảng 2.1).

2.3.2.5 Chính sách con người

Yếu tố con người trong đào tạo bao gồm toàn thể cán bộ công nhân viên

(CBCNV) của cơ sở đào tạo, nhưng chủ yếu là đội ngũ giảng viên và cán bộ quản

lý.

Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch nhận thức rõ về vai trò, tầm quan

trọng có tính chất quyết định của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý Nhà trường

trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng thương hiệu của Trường, nên

đã có nhiều chính sách cụ thể để xây dựng đội ngũ này. Cụ thể:

* Đối với đội ngũ giảng viên:

+ Về tuyển dụng: Để tuyển dụng được đội ngũ giảng viên có chất lượng .

Trường đã tiến hành một quy trình tuyển dụng như sau:

- Xây dựng các tiêu chuẩn tuyển dụng:

. Về chuyên môn nghiệp vụ: Tùy theo chuyên môn cần tuyển mà mức độ yêu

cầu có cao thấp khác nhau, nhưng tối thiểu người được tuyển dụng phải đạt trình độ

chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật hiện hành - Luật giáo dục đại

học.

. Về phẩm chất đạo đức: Không bị hạnh kiểm xấu hoặc bị kỷ luật trong quá

trình học tập, công tác trước đó.

. Về ngoại hình và sức khỏe: Đạt chiều cao tối thiểu quy định với Nam

1,60m, nữ từ 1,55m trở lên, hình thức khá, không dị dạng dị tật, sức khỏe tốt, không

nói ngọng, nói lắp, có tố chất làm giảng viên.

72

- Tiến hành sơ tuyển, gồm:

. Xem xét hồ sơ dự tuyển và con người cụ thể để đảm bảo các tiêu chuẩn tối

thiểu cần thiết nêu trên. Nếu trường hợp ứng viên nào không đáp ứng được các tiêu

chuẩn đã đề ra, thì loại ngay ở vòng sơ tuyển này.

- Tổ chức cho ứng viên học việc 3 tháng.

Mục đích học việc là để ứng viên tìm hiểu, làm quen với môi trường công tác

và công việc của người giảng viên, nghiên cứu , biên soạn bài giảng, giáo án, tập

giảng, dự giờ, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, đồng thời thể hiện

bản thân về phẩm chất đạo đức, năng lực làm việc, ý thức chấp hành kỷ luật lao

động, tính hợp tác trong công việc…trước tập thể lao động và cũng là thời gian để

tập thể đánh giá ứng viên về các mặt nêu trên.

Trong thời gian học việc, ứng viên phải nghiên cứu các tài liệu về pháp luật

liên quan, về chuyên môn nghiệp vụ, biên soạn một vài chương, bài, chuẩn bị bài

giảng, giáo án, tập giảng và giảng thực hành 3 bài giảng, mỗi bài 1 tiết (45 phút)

trước tập thể giảng viên bộ môn và lãnh đạo khoa. Cuối thời gian học việc, ứng viên

phải làm bản kiểm điểm tự đánh giá kết quả học việc và tập thể giảng viên bộ môn,

khoa phải họp nhận xét, tham gia góp ý kiến với ứng viên. Nếu ứng viên đạt yêu

cầu, khoa phải lập biên bản cuộc họp và kiến nghị với Ban Giám hiệu Nhà trường,

Hội đồng tuyển dụng cho ứng viên đó được giảng báo cáo trước Hội đồng tuyển

dụng, BGH nhà trường 1 bài. Hội đồng tuyển dụng sẽ đánh giá tiết giảng bằng

phiếu chấm tuyển dụng giảng viên, trong đó đề cao các điểm thuộc tố chất giảng

viên của ứng viên. Các thành viên Hội đồng độc lập chấm điểm và người đạt yêu

cầu phải có điểm chấm trung bình từ 12/20 điểm trở lên.

Nếu ứng viên đạt yêu cầu học việc sẽ được BGH Trường ký hợp đồng vụ việc

để giảng dạy học phần đã nghiên cứu, chuẩn bị trong thời gian học việc đến khi thi

tuyển chính thức vào tháng 8 hàng năm.

- Việc thi tuyển giảng viên tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

+ Về đào tạo, bồi dưỡng: Nhà trường thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng giảng

73

viên theo cách:

- Kèm cặp, bồi dưỡng tại đơn vị công tác. Theo đó, các giảng viên mới được

tổ bộ môn phân công người hướng dẫn, giúp đỡ biên soạn bài giảng, giáo án và thực

hành giảng dạy để lấy ý kiến của đồng nghiệp; Họ phải đi dự giờ giảng của những

giảng viên lâu năm, giỏi chuyên môn nghiệp vụ để học hỏi kinh nghiệm và rút ra

những bài học cần thiết cho mình.

- Tổ chức lớp bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ đào tạo như: Nghiệp vụ sư

phạm bậc 1, bậc 2, Nghiệp vụ giáo dục đại học, Khai thác mạng Internet và sử dụng

các phần mềm ứng dụng vào thiết kế các bài giảng điện tử…

- Cử giảng viên đi thi và học cao học, nghiên cứu sinh ở các trường đại học

phù hợp chuyên môn…

+ Về sử dụng: Việc phân công giảng dạy cho giảng viên của Trường đảm bảo

đúng chuyên môn ngành nghề được đào tạo để tạo điều kiện cho họ đi sâu nghiên

cứu, nâng cao chất lượng giảng dạy. Việc định mức lao động tuân theo định mức

và chế độ công tác giảng viên của Nhà nước quy định tại Thông tư liên tịch số

06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT ngày 01/06/2011 của Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và

Đào tạo.

Để tăng cường kỷ luật lao động và động viên những CBCNV, giảng viên thực

hiện tốt nhiệm vụ, Nhà trường đã xây dựng tiêu chuẩn và tiến hành bình xét công

A,B,C hàng tháng để phân phối tiền lương làm thêm. Giảng viên vượt định mức

giảng dạy được Nhà trường thanh toán tiền vượt giờ đầy đủ, kịp thời.

+ Về đãi ngộ nhân sự: Những năm gần đây, nhờ mở rộng quy mô đào tạo,

đẩy mạnh mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, ngân sách của Nhà trường đã

dảm bảo chi lương cho giảng viên, CBCNV thêm mỗi năm 4 tháng lương cơ bản.

Ngoài ra, còn duy trì được chế độ ăn trưa 300.000đ/người/ tháng. Ngày lễ, tết,

Trường đều có quà cho CBCNV (tết Nguyên đán, Trường chi 2.000.000đ/ người).

Tính chung, thu nhập hàng năm của CBCNV đạt từ 1,5 đến 2,0 lần lương cơ bản.

Những người có thành tích giảng dạy, công tác được khen thưởng động viên theo

74

Luật thi đua khen thưởng hiện hành của Nhà nước.

Những giảng viên đi học cao học, ngoài việc Nhà trường đóng 100% học phí,

tính thời gian công tác cho việc học 10 tuần/ năm nếu học ở Hà Nội, 6 tuần/ năm

nếu học ở Thái Nguyên và khi có Bằng tốt nghiệp được hỗ trợ 5.000.000đ. Giảng

viên đi nghiên cứu sinh được đóng 100% học phí, tính giảm 50% thời gian làm việc

tại Trường và khi có Bằng tốt nghiệp được hỗ trợ 70.000.000đ/ người

Ngoài khuyến khích vật chất, những giảng viên có thành tích trong giảng dạy,

nghiên cứu được đánh giá công nhận các danh hiệu thi đua như Giảng viên dạy giỏi

(GVDG) cấp trường, cấp tỉnh, Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và Chiến sĩ thi đua cấp Bộ,

được quy hoạch đề bạt các vị trí quản lý.

Các chính sách nêu trên đã tạo ra động lực mạnh mẽ để giảng viên phấn đấu

liên tục nhằm nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học, góp

phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, nâng cao hình ảnh,

uy tín và thương hiệu của Trường, qua đó hấp dẫn thu hut người học.

Hiện nay, đội ngũ giảng viên cơ hữu của Nhà trường có 109 người (tính cả

giảng viên kiêm quản lý), trong đó có 25 Nam chiến 22,94%, 84 nữ chiếm 77,06%,

có 1 tiến sĩ, 38 người có trình độ thạc sĩ. Ngoài ra, hiện có 2 người đang nghiên cứu

sinh (NCS), 16 người đang theo học cao học.

Bảng 2.5: Số lượng và trình độ giảng viên cơ hữu

Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học Tổng Năm

SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ số

2010 101 01 0,99 25 24,75 75 74,26

2011 106 01 0,94 27 25,47 78 73,59

2012 109 01 0,92 38 34,86 70 64,22

75

Nguồn: Tác giả tự tập hợp từ số liệu của phòng TCCB Trường

Qua biểu trên cho thấy tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ đã tăng mạnh từ

25,47% năm học 2011 lên 34,86% năm học 2012 và hiện còn 16 người đang học

làm luận văn tốt nghiệp cao học. Nếu tính đến tháng 10/2013, khi số người đang

học cao học và NCS bảo vệ thành công luận văn, luận án thì số người có trình độ

thạc sĩ trở lên sẽ là 55/109 người đạt tỷ lệ 50,46%. Số lượng và trình độ giảng viên

như trên cơ bản đáp ứng được nhu cầu hiện tại, nhưng để có thể mở thêm ngành đào

tạo và phát triển thành Trường Đại học Thương mại và Du lịch vào năm 2017 như

mục tiêu đặt ra, thì đội ngũ này còn thiếu cả số lượng và trình độ, nhất là giảng viên

có trình độ tiến sỹ.

Tiêu chuẩn giảng viên của Trường đề ra là:

- Về trình độ: Có trình độ Thạc sỹ trở lên về chuyên môn; Tiếng Anh B; Tin

học B (nhưng sử dụng thành thạo các chương trình ứng dụng để soạn thảo bài giảng

điện tử); Có chứng chỉ Giáo dục đại học và chứng chỉ Nghiệp vụ sư phạm bậc 2;

Chứng chỉ Quản lý hành chính nhà nước cho ngạch chuyên viên và tương đương.

- Về đạo đức, lối sống: Theo tiêu chuẩn chung của viên chức. Đặc biệt, không

vi phạm pháp luật Nhà nước hoặc vi phạm kỷ luật về đạo đức, lối sống từ mức cảnh

cáo trở lên.

- Về ngoại hình và sức khỏe: Như tiêu chuẩn tuyển dụng đã nêu ở trên.

Tiêu chuẩn giảng viên của Trường nêu trên ngang bằng với tiêu chuẩn giảng

viên của trường đại học mà Luật Giáo dục Đại học hiện hành quy định ( về trình độ

chuyên môn thì cao hơn tiêu chuẩn giảng viên trường cao đẳng ghi trong Luật).

*Đội ngũ CB quản lý và nhân viên phục vụ

Đội ngũ cán bộ quản lý của Trường gồm các quản trị viên từ cấp tổ trưởng trở

lên như Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, trưởng, phó các Phòng, Ban, Khoa và

phụ trách các đơn vị trực thuộc khác.

Việc tuyển chọn, đề bạt cán bộ quản lý theo quy hoạch công tác cán bộ của

Trường. Cụ thể, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, sau mỗi kỳ Đại hội, cùng với việc

quy hoạch đội ngũ cán bộ Đảng, Nhà trường tiến hành làm công tác quy hoạch đội

76

ngũ cán bộ chính quyền (chuyên môn) cho nhiệm kỳ kế hoạch 5 năm sau và có xem

xét, điều chỉnh, bổ sung hàng năm. Nguồn cán bộ quản lý chủ yếu phát triển từ đội

ngũ giảng viên các khoa và chuyên viên các phòng, ban. Việc quy hoạch được tiến

hành công khai, dân chủ, đúng quy trình, theo các bước: Phát hiện giới thiệu của

CBCNV; Lập danh sách đưa vào quy hoạch dự thảo; Lấy phiếu tín nhiệm của cán

bộ chủ chốt và đưa vào quy hoạch chính thức, đảm bảo mỗi vị trí công tác quản lý

có 3 người và mỗi người được quy hoạch không quá 3 vị trí công tác. Những người

được đưa vào quy hoạch sẽ tự phấn đấu và được Trường tạo điều kiện cho đi học

các lớp đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng cần thiết còn thiếu so với tiêu

chuẩn của vị trí đã được quy hoạch.

Việc quy hoạch cán bộ quản lý công khai, dân chủ nêu trên gắn liền với việc

dánh giá chất lượng và năng lực công tác cũng như phẩm chất đạo đức của từng

người đã tạo ra dộng lực cho CBCNV, giảng viên phấn đấu không ngừng theo các

tiêu chuẩn của người cán bộ quản lý. Sau khi đã có quy hoạch, thì việc cân nhắc bổ

nhiệm một vị trí quản lý nào đó sẽ được xem xét cụ thể trong số những người có

trong quy hoạch ở vị trí đó.

Hiện nay toàn Trường có 146 CBCNV, thì cán bộ quản lý tính từ tổ trưởng

trở lên có 24 người, chiếm tỷ lệ 16,44% tổng số CBCNV. Trong đó, có 18/24 người

chiếm tỷ lệ 75% cán bộ quản lý có trình độ thạc sĩ trở lên. Đây là đội ngũ mạnh, có

trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đủ sức để chèo lái sự nghiệp đào tạo và

phát triển Nhà trường trong điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện tại.

2.3.2.6. Về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo

Nhận thức rõ tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật trong việc thu hút

người học và nâng cao chất lượng đào tạo, nên Lãnh đạo Nhà trường đã rất quan

77

tâm tới việc xây dựng các công trình và mua sắm thiết bị phục vụ việc dạy và học. Hiện tại, tính đến 31/12/2012, Trường có diện tích đất 39.760m2, bao gồm nhà Hiệu bộ 1.922m2, 35 phòng học lý thuyết có diện tích 5.740m2, phòng thực hành, nhà xưởng 1.097m2, nhà thư viện 1.503m2, 3 nhà ký túc xá 5 tầng với tổng diện tích 6.254m2. Nếu tính riêng diện tích xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo thì hiện nay Trường có 7.931m2. Diện tích này, theo điểm a, khoản 2, điều 5 của Thông tư số:

57/2011/TT-BGDĐT ngày 2 tháng 12 năm 2011, thì đủ điều kiện học tập cho

khoảng 4.000 học sinh sinh viên . Hiện Trường có quy mô đào tạo là 3.510 học sinh

sinh viên, nên còn thiếu khoảng 500 sinh viên nữa mới sử dụng hết diện tích xây

dựng theo tiêu chuẩn quy định tại văn bản này.

Về thiết bị phục vụ đào tạo, ngoài bàn ghế, bảng đen trang bị cho các phòng

học, Trường đã trang bị đèn chiếu Projector lắp cố định cho khoảng 50% số phòng

học lý thuyết và để hàng chục đèn chiếu lưu động cho các giảng viên sử dụng khi

giảng dạy ở nơi khác. Hiện tại, Trường có khoảng hơn 300 máy vi tính cho học sinh

sinh viên học tập, đảm bảo khi học tin học, thực hành kế toán máy có đủ 01 máy/ 01

HSSV.

Các thiết bị phục vụ thực hành các môn học khác và rèn nghề Nhà hàng-

Khách sạn (buồng, bàn, bar, bếp, lễ tân) đều được trang bị đầy đủ.

Về học liệu: Ngoài việc cung cấp sách, giáo trình các môn học trực tiếp cho

học sinh sinh viên, đảm bảo học môn nào có giáo trình môn đó, Nhà trường còn có

một Trung tâm thư viện để cán bộ, giảng viên, học sinh sinh viên đến đọc và mượn

sách. Thư viện của Trường gồm có 2.000 đầu sách với số lượng hàng vạn cuốn

đang sử dụng, đảm bảo cập nhật kiến thức mới và phù hợp các ngành nghề đang đào

tạo (đã thường xuyên rà soát, loại bỏ những sách cũ, nội dung lạc hậu, không còn

phù hợp với thực tế hiện nay); Phòng đọc của thư viện, ngoài sách, báo, tạp chí,

thông tin khoa học…, Trường còn bố trí 25 máy tính nối mạng Internet và mở cửa

cả ngày để phục vụ học sinh sinh viên vào đọc. Trường cũng đã phủ sóng Wìfie

toàn Trường để HSSV vào mạng ở bất cứ vị trí nào trong khuôn viên của Trường.

Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật thuận lợi trên đã là yếu tố quan trọng góp

phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường và là một trong những bằng chứng

hữu hình về chất lượng đào tạo để thu hút người học.

2.3.2.7. Về quy trình đào tạo

Nhà trường đã rà soát lại quy trình đào tạo, điều chỉnh lại quy trình đào tạo

78

toàn khoá với từng chuyên ngành cho hợp lý hơn theo hướng tăng tỷ lệ thực hành,

thực tế, bố trí giảng dạy các môn học và các khâu của quá trình đào tạo theo một

trình tự logic. Quy trình đào tạo cụ thể đối với các ngành học như sau:

Tuyển

Tổ chức lớp học

Thực hành tổng hợp

sinh

Học chính trị đầu khóa

Học lý thuyết và thực hành

Thực tập

Ôn thi và thi tốt nghiệp

tốt nghiệp

a. Đối với các ngành học Kế toán, Quản trị kinh doanh

Hình 2.4: Quy trình đào tạo ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh của Trường

So với quy trình đào tạo trình độ cao đẳng của tất cả các trường khác, thì quy

trình đào tạo của Trường có thêm công đoạn Thực hành tổng hợp nhằm khâu nối

các phần thực hành của các học phần chuyên môn thành một hệ thống từ đầu đến

cuối, từ đơn giản đến phức tạp và rèn luyện kỹ năng nghề cho sinh viên. Nhờ có

công đoạn này mà kỹ năng thực hành của sinh viên được nâng cao.

b. Đối với ngành Khách sạn – Du lịch:

Quy trình đào tạo đối với các chuyên ngành thuộc ngành Khách sạn – Du

lich, ngoài các công đoạn như quy trình đào tạo Kế toán và Quản trị kinh doanh nêu

trên, Nhà trường còn bố trí thêm 2 đợt thực tế và một đợt thực hành rèn nghề ngoài

Trường. Cụ thể:

- Đợt 1: vào năm thứ nhất - thực tế nhận thức nghề nghiệp;

- Đợt 2: vào năm thứ hai - thực tế bổ sung kiến thức, minh hoạ các môn học.

Ví dụ: Chuyên ngành Hướng dẫn du lịch đưa sinh viên đến thăm các danh lam

79

thắng cảnh, các di tích lịch sử văn hoá...);

- Đợt 3: vào năm thứ ba - thực hành rèn nghề ngoài Trường trước khi các em

đi thực tập tốt nghiệp. Ví dụ: Sinh viên học chuyên ngành Hướng dẫn du lịch đi

thực hành trên thực địa 10 ngày, đến các điểm du lịch dọc “con đường di sản miền

trung” vào tận Thánh địa Mỹ Sơn, Hội An sau khi đã thực hành Nghiệp vụ hướng

tại Trường. Qua đợt thực hành trên thực địa này, chất lượng đào tạo hướng dẫn viên

đã được nâng cao, được sinh viên, gia đình và xã hội đánh giá tốt

Quy trình đào tạo các chuyên ngành thuộc ngành Khách sạn – Du lịch được

Tuyển

Thực tế

Học chính trị đầu khóa

Tổ chức lớp học

Học lý thuyết và TH môn học

sinh

năm 1

Thực tế

Thực hành rèn nghề trong trường

Học lý thuyết và TH môn học tiếp

Học lý thuyết và TH môn học tiếp

năm 2

Thực tập

Thực hành rèn nghề ngoài trường

Ôn và thi TN hoặc bảo vệ khóa luận TN

tốt nghiệp

thể hiện qua hình sau:

Hình 2.5: Quy trình đào tạo ngành Khách sạn – Du lịch của Trường CĐTM&DL

Với Quy trình đào tạo như trên, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành

Khách sạn – Du lịch, nhất là kỹ năng thực hành của sinh viên đã được nâng cao,

đảm bảo cho các em tốt nghiệp ra trường có thể làm việc được ngay, thậm chí nhiều

học sinh, sinh viên đang thực tập tốt nghiệp đã được các doanh nghiệp đăng ký

tuyển dụng.

2.3.3. Nhận xét dánh giá chung về hoạt động Marketing của Trường

80

2.3.3.1. Những điểm mạnh và kết quả đạt được.

a. Những điểm mạnh nổi bật

Nhà trường đã tiến hành đồng bộ các yếu tố cấu thành Marketing – Mix về

đào tạo để thu hút người học. Cụ thể:

- Đã lựa chọn được tên Trường với phổ ngành nghề đào tạo rộng, thuộc hai

lĩnh vực đang phát triển của đời sống kinh tế, xã hội là Thương mại và Du lịch. Do

đó, đã gây được sự quan tâm chú ý và tăng sức thu hút người học;

- Đã thường xuyên rà soát, đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và

phương pháp đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện;

- Đã chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý dủ về số lượng,

tốt về chất lượng, có cơ cấu hợp lý để đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo và là

một trong những bằng chứng chất lượng nhằm thu hút người học;

- Đã chú trọng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, bao gồm các phòng học lý

thuyết, thực hành, mua sắm các thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập; Xây dựng ký

túc xá khang trang, tạo điều kiện tốt cho việc ăn, ở của học sinh sinh viên;

- Xây dựng được Quy trình đào tạo hợp lý (khoa học), trong đó chú trọng

nâng cao kỹ năng thực hành nghể và phù hợp với từng ngành học;

- Xây dựng được môi trường giáo dục tốt – Xanh, sạch, đẹp, trong sáng, lành

mạnh, an ninh, an toàn;

- Đã hợp tác với đơn vị bạn để thực hiện phương châm đưa lớp học về gần

người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học;

- Xác định mức học phí đúng quy định của Nhà nước, thấp hơn nhiều các

trường ngoài công lập, đỡ khó khăn cho người học;

- Thực hiện việc tuyên truyền quảng bá rộng rãi hình ảnh và thương hiệu của

Nhà trường.

b. Kết quả đạt được

+ Tuyển sinh:

Nhờ các giải pháp đồng bộ nêu trên, Trường đã thu hút được nhiều người học

81

các ngành, nghề, bậc học của Trường.

Bảng 2.6: Kết quả tuyển sinh của Trường

So sánh

Năm Năm Năm Hệ đào 2011/2010 2012/2011 tạo 2010 2011 2012

SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %

Cao đẳng 682 1.223 651 541 79,33 -572 -87,86

130 176 981 46 35,38 805 457,39 CĐ. nghề

151 132 145 -19 -12,58 13 9,85

TCCN

Cộng 963 1.531 1.777 568 58,98 246 16,08

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ số liệu của Phòng Đào tạo Trường

Tuy cơ cấu học sinh, sinh viên tuyển được theo các hệ có thay đổi, nhưng

tổng số học sinh, sinh viên tuyển được qua các năm có tăng lên. Năm 2011 so với

năm 2010 tuyển tăng 568 học sinh sinh viên, tương ứng tăng 58,98%. Năm 2012 so

với năm 2011 tuyển tăng 246 học sinh sinh viên, tương ứng tăng 16,08%.

2.3.3.2. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những điểm mạnh và kết quả đã nêu trên, thì Marketing –Mix của Trường

còn một số những tồn tại và hạn chế như sau:

a. Về sản phẩm

+ Ngành nghề đào tạo của trường còn hẹp. Đặc biệt, theo danh mục mã

ngành cấp 4 mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và được lấy làm chuẩn để đăng

danh mục ngành đào tạo cho Trường trên “Những điều cần biết về tuyển sinh đại

học, cao đẳng”, thì hiện nay Trường chỉ có 3 ngành là Quản trị kinh doanh, Kế

toán, Việt Nam học. Điều này đã rất ảnh hưởng tới việc quảng bá tuyển sinh của

Trường, vì quyển “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng” hàng năm

82

do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành là căn cứ chủ yếu để học sinh tìm hiểu về

ngành nghề đào tạo của các trường. Việc chỉ có 3 ngành đào tạo, lại không có chữ

nào thể hiện Thương mại và Du lịch được đăng trên tài liệu thông tin chính thức của

Bộ Giáo dục và Đào tạo làm cho các em học sinh không biết được Nhà trường đào

tạo những chuyên ngành cụ thể nào thuộc lĩnh vực Thương mại và Du lịch. Do đó,

nó thiếu sự hấp dẫn và hạn chế việc các em đăng ký vào học ở Trường.

Nguyên nhân của tình trạng này là:

Khi có thông tư 14/2010/TT – BGDĐT Ngày 27 tháng 4 năm 2010 của Bộ

Giáo dục & Đào tạo ban hành “ Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ cao

đẳng, đại học”, do tiêu trí phân ngành học không rõ ràng, lẫn lộn giữa ngành học và

ngành kinh tế , nên nhiều chuyên ngành đào tạo theo ngành kinh tế được nâng lên

thành ngành học và theo thông tư 08/2011/TT- BGDĐT ngày 17 tháng 2 năm 2011

của Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc “Quy định điều kiện hồ sơ , quy trình mở ngành

đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học,

cao đẳng” thì nhiều chuyên ngành đang đào tạo của Trường phải nâng lên thành

ngành đào tạo, phải đăng ký lại và phải có đủ điều kiện như đăng ký mới. Cũng theo

thông tư này , điều kiện mở ngành mới kể cả các chuyên ngành đào tạo nâng lên

thành ngành đào tạo cũng phải có 4 thạc sỹ đúng tên ngành. Quy định này , không

thực tế, vì trong điều kiện đào tạo “trăm hoa đua nở” hiện nay, mỗi năm các trường

chỉ tuyển được 1 đén 2 lớp cho một ngành học mà thực chất là chuyên ngành cũ, thì

việc tuyển dụng 4 thạc sỹ đúng tên ngành cho mỗi ngành đào tạo để làm gì? Không

trường nào chấp nhận trả lương cho giảng viên mà không có việc làm cho họ. Tuy

nhiên, thông tư mới ra đời nên không dễ gì thay đổi và vì thế hàng loạt các chuyên

ngành đào tạo của Trường trước đây chưa đủ điều kiện nâng thành ngành bị cắt bỏ,

không được ghi trong “Những điều cần biết về tuyển sinh…” của Bộ Giáo dục và

Đào tạo .

Về chủ quan, Trường cũng chưa thật tích cực để chuẩn bị tốt cho việc đăng

ký lại các ngành đào tạo trên, chưa buộc một số giảng viên đi học cao học và tìm

kiếm giảng viên có trình độ thạc sỹ để đủ điều kiện mở ngành như quy định của Bộ

83

Giáo dục và Đào tạo .

+ Chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ chưa cao

Năm học 2009-2010, khi Trường còn đào tạo theo niên chế kết hợp với học

phần mềm dẻo, thì tỷ lệ học sinh, sinh viên xếp loại học tập yếu, kém có 10,3%,

nhưng sang năm 2010-2011, năm học đầu tiên Nhà trường áp dụng chuyển sang đào

tạo theo Học chế tín chỉ, thì tỷ lệ học sinh sinh viên xếp loại học tập yếu kém lên

đến 26,3%, tăng gấp hơn 2 lần.

Nguyên nhân: Kết quả học tập của sinh viên đào tạo theo Học chế tín chỉ

chưa cao là do:

- Về phía người học: Khi chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, thời

gian học tập tiếp xúc với thày cô trên lớp giảm xuống, còn thời gian sinh viên tự

học tập, nghiên cứu tăng lên. Nhưng sinh viên không tự chủ động tận dụng được

thời gian này vào việc học tập, mà thường sử dụng nó như những thời gian nhàn rỗi,

cùng với phương pháp, kỹ năng, kinh nghiệm tự nghiên cứu của sinh viên còn yếu

dẫn tới kết quả chưa cao.

- Về phía người dạy: Một số thày cô giáo chưa đổi mới được phương pháp

giảng dạy, kiểm tra dánh giá , chưa thực sự lấy người học làm trung tâm, cách chấm

điểm theo tư duy cũ 5/10 là đạt yêu cầu. Hơn thế, có nhiều thày cô còn chưa thật sự

hiểu rõ về đào tạo theo Học chế tín chỉ, chưa thực sự cố gắng nghiên cứu , chuẩn bị

bài giảng tốt, chưa giao được nhiệm vụ và chỉ ra các tài liệu cần thiết cho sinh viên,

đồng thời chưa có biện pháp hữu hiệu để quản lý được việc sử dụng thời gian tự học

của sinh viên. Vì thế, giờ tự học của sinh viên trở thành thời gian nhàn rỗi, sinh viên

không tự học, mất kiểm soát dẫn tới kết quả học tập của sinh viên kém.

- Về phía quản lý: Ngoài những nguyên nhân đã nêu trên, việc Trường chưa

xây dựng chuẩn đầu ra thật cụ thể, chi tiết cho từng chuyên ngành đào tạo và chưa

công bố báo cáo kiểm định chất lượng, nhất là chưa được các tổ chức kiểm định

đánh giá ngoài cũng làm giảm động lực phấn đấu của người dạy và người học, dẫn

tới đào tạo chất lượng chưa cao và điều này cũng ảnh hưởng hạn chế tới việc quảng

84

bá hình ảnh, thương hiệu của Nhà trường.

b. Về phân phối sản phẩm:

Để khắc phục sự bất lợi về vị trí trụ sở ở tỉnh lẻ trong việc tuyển sinh đào tạo,

Trường đã kết hợp với nhiều đối tác để mở rộng đào tạo ở Hà Nội và nhiều địa

phương khác. Tuy nhiên, trong hoạt động phân phối, việc giải quyết đầu ra cho quá

trình đào tạo của Trường thời gian qua còn nhiều hạn chế. Theo kết quả khảo sát

của Trường nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường vào cuối năm 2012,

ngoài số học sinh, sinh viên tiếp tục học liên thông lên trình độ cao hơn, có hơn

90% học sinh sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được việc làm phù hợp với ngành

nghề đào tạo. Song, kết quả này có được là do ngành nghề đào tạo của Trường khá

phù hợp với nhu cầu hiện tại của xã hội . Nhu cầu sử dụng học sinh sinh viên tốt

nghiệp về kinh doanh Nhà hàng - Khách sạn, kỹ thuật chế biến sản phẩm ăn uống…

rất cao, Trường đào tạo ra không đủ cung cấp cho các doanh nghiệp và các em cũng

chủ động vận động tìm việc làm ngay từ khi còn đi học. Việc tìm kiếm, giới thiệu

việc làm cho học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường của Nhà trường còn rất hạn

chế, hầu như chưa làm được gì đáng kể. Ngay cả việc thành lập một Trung tâm tư

vấn tuyển sinh và giới thiệu việc làm cho học sinh, sinh viên tốt nghiệp, Trường đã

có dự kiến từ lâu, nhưng vẫn chưa thực hiện được. Việc chậm ra đời Trung tâm giới

thiệu việc làm, tuy không ảnh hưởng nhiều đến việc giải quyết đầu ra với sản phẩm

đào tạo của Trường, nhưng xét dưới góc độ Marketing, thì chưa tạo thêm được sự

hấp dẫn đối với người học và xã hội.

Nguyên nhân của việc chậm ra đời trung tâm này là do:

- Hầu hết học sinh, sinh viên ra trường vẫn tự tìm được việc làm phù hợp với

ngành nghề Trường đào tạo. Một số ngành nghề Trường đào tạo ra không đủ cung

ứng cho các đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, nên chưa tạo ra áp lực buộc phải

có Trung tâm giới thiệu việc làm cho các em.

- Thiếu cán bộ quản lý có năng lực đảm nhận công việc này. Để làm việc ở

Trung tâm tư vấn tuyển sinh và giới thiệu việc làm có hiệu quả, chất lượng, người

cán bộ tư vấn phải thật sự am hiểu về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo từng

85

ngành, nghề, bậc, hệ đào tạo của trường, có kinh nghiệm ,kiến thức ,kỹ năng giao

tiếp, trình bày, diễn đạt hấp dẫn, có sức thuyết phục “khách hàng” đến tìm hiểu.

Ngoài ra, cán bộ tư vấn phải có tính năng động, sáng tạo trong công việc, có quan

hệ rộng rãi, nhất là quan hệ với các doanh nghiệp và các trung tâm giới thiệu việc

làm khác, có kỹ năng sử dụng, khai thác mạng Internet tốt. Một cán bộ đáp ứng

được những yêu cầu trên không dễ tìm. Với lý do như vậy, Lãnh đạo Nhà trường

chưa mạnh dạn quyết định thành lập Trung tâm này.

c. Về tuyên truyền quảng bá tuyển sinh:

Việc tuyên truyền quảng bá tuyển sinh thời gian qua, Trường đã có nhiều giải

pháp và mạnh dạn chi phí. Tuy nhiên, việc này vẫn còn một số hạn chế như sau:

- Việc quảng bá trên phương tiện thông tin đại chúng đã có nhưng còn hạn

hẹp, chủ yếu là báo, truyền hình địa phương, một số lần quảng cáo trên Tạp chí

Thương mại...Còn quảng cáo trên Báo Nhân dân và Truyền hình Việt Nam rất ít.

- Chưa sử dụng và chưa có chính sách khuyến khích CBCNV và học sinh,

sinh viên Nhà trường tích cự tuyên truyền, quảng bá ngành nghề đào tạo, giới thiệu

và thu nhận hồ sơ tuyển sinh cho Trường; Chưa có chính sách khuyến khích vật

chất mạnh dạn đối với các trường THPT để họ tích cực giúp đỡ việc tuyên truyền,

giới thiệu và thu nhận hồ sơ dự tuyển sinh cho Trường.

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên chính là chi phí của những loại

hình quảng bá và kích thích nêu trên quá lớn, trong khi kinh phí của Trường công

lập nói chung và của Nhà trường nói riêng lại rất hạn hẹp. Mặt khác, do kinh phí

tuyển sinh theo quy định của Nhà nước thấp, chưa đủ cho việc tổ chức thi tuyển, cơ

chế quản lý chi tiêu của các trường công lập theo chế độ Nhà nước khá chặt chẽ,

nên Trường thường phải chủ động lấy thêm các quỹ khác để thực hiện việc quảng

cáo, tuyên truyền và nhiều khi việc thanh quyết toán gặp khó khăn. Hơn nữa, lãnh

đạo Nhà trường chưa mạnh dạn chi các khoản khuyến khích như vậy.

d. Về yếu tố con người (Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý)

Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý của Trường về cơ bản đáp ứng được

yêu cầu nhiệm vụ hiện tại của Nhà trường. Tuy nhiên, để có thể nâng cấp một số

86

chuyên ngành về kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn thành ngành học và mở thêm

một số ngành học mới như: Thương mại điện tử, Kinh doanh dịch vụ Logistic...,

nhất là chuẩn bị cho mục tiêu phấn đấu thành Trường Đại học Thương mại và Du

lịch vào năm 2017 và để xây dựng thương hiệu, thu hút được nhiều người học thì

đội ngũ giảng viên của Trường còn một số hạn chế sau:

- Thiếu khoảng 50 giảng viên cho các ngành học (kể cả bổ sung cho ngành

học hiện tại và để đủ điều kiện giảng viên cho ngành học mới sẽ mở);

- Tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sỹ trở lên còn chưa cao, nếu tính cả những

người sẽ bảo vệ luận văn thạc sỹ từ nay đến tháng 10 năm 2013, thì mới có 55/109

người đạt tỷ lệ 50,46%, trong đó tỷ lệ trình độ tiến sỹ rất thấp.

Nguyên nhân của tình hình trên là: Một số giảng viên mới tuyển vào Trường

dưới 03 năm chưa kịp đi học Cao học; Một số giảng viên có trình độ thạc sỹ có tư

tưởng “an phận”, ngại làm nghiên cứu sinh (NCS), sợ khó khăn và chi phí tốn kém.

Mặt khác, Nhà trường hỗ trợ kinh tế cho người đi học, làm NCS chưa nhiều và cũng

chưa có biện pháp mạnh để buộc một số giảng viên có khả năng phải đi học.

e. Về cơ sở vật chất kỹ thuật:

- Hiện nay, Trường còn thiếu 01 nhà lớp học 5-7 tầng, nhà học thực hành thực

tập (khách san 5 tầng), 1 hội trường lớn, 1 nhà thể thao đa năng để phục vụ giảng

dạy học tập.

Việc xây dựng những ngôi nhà này vừa làm tăng diện tích trực tiếp phục vụ

giảng dạy, học tập, vừa làm cho cảnh quan của Trường thêm bề thế, xứng đáng với

trường công lập có bề dày truyền thống 51 năm xây dựng và phát triển, tạo thêm

bằng chứng chất lượng đào tạo và củng cố thêm lòng tin của xã hội qua đó thu hút

người học.

- Trường cũng còn thiếu trang thiết bị phục vụ đào tạo. Hiện nay, hầu hết các

lớp học lý thuyết trong Trường đã lắp máy chiếu Projector. Tuy nhiên, cần mua

thêm nhiều máy chiếu để lắp cho các phòng học còn thiếu và sử dụng lưu động khi

giảng viên đi giảng dạy ngoài Trường. Hơn nữa, cần trang bị hệ thống âm thanh (âm

87

ly, loa đài) cho một số phòng học, vì có nhiều môn học thuộc về nghiệp vụ kinh

doanh thương mại, nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn du lịch… rất cần chiếu các

Video Clip có âm thanh hình ảnh.

Trên đây là những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt

động Marketing-Mix của Trường trong thời gian qua. Bên cạnh phát huy những mặt

mạnh, những kết quả đạt được trong hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách

Marketing đào tạo của Trường đã nêu, Nhà trường cần sớm khắc phục nguyên nhân

gây ra những hạn chế trên đây để Marketing đào tạo của Trường được hoàn thiện

hơn, thu hút được sự quan tâm của người học và xã hội, làm cho việc tuyển sinh và

88

đào tạo của Trường đạt kết quả tốt hơn.

Chương III

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MARKETING ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG

CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH

3.1. Mục tiêu chiến lược Marketing của Trường CĐ Thương mại Du lịch

3.1.1. Mục tiêu chiến lược phát triển nhà trường đến 2017, tầm nhìn đến 2025

Căn cứ vào Luật giáo dục đại học (số 08/2012/QH 13) đã được Quốc hội

khóa XIII Nước cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012,

có hiệu lực thi hành từ 01/01/2013; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-

2020 ban hành theo Quyết định số: 711/QĐ-TTG ngày 13/6/2012 của Thủ tướng

Chính phủ, Nghị quyết số: 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Thủ

tướng Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn

2006-2020; Điều lệ trường Cao đẳng ban hành theo Thông tư số: 14/2009/TT-

BGDĐT ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Chương trình

hành động của ngành giáo dục và đào tạo triển khai kết luận số 51- KL/TW Đảng

và chỉ thị số 02/CT/ ngày 22/01/2013 của Thủ tướng chính phủ, Trường Cao đẳng

Thương mại Du lịch, Bộ công thương đã xây dựng Chiến lược phát triển Trường

giai đoạn 2013-2017, tầm nhìn đến 2025. Theo đó, sứ mạng, mục tiêu và tầm nhìn

cuả Nhà trường được xác định như sau:

Sứ mạng của Trường: “Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch là cơ sở

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao trong các lĩnh

vực Thương mại và Du lịch, cung cấp cho Ngành Thương mại và Du lịch, cho xã

hội nguồn nhân lực có chất lượng cao, tương ứng với mỗi bậc học, đảm bảo cho

học sinh sinh viên khi ra trường tìm được việc làm dễ dàng, lập thân, lập nghiệp và

phát triển tốt; Nghiên cứu và thực nghiệm khoa học- công nghệ phục vụ đào tạo,

sản xuất, kinh doanh. Qua đó, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và khảng định

thương hiệu Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch - một địa chỉ đào tạo tin cậy

89

của xã hội”.

Mục tiêu phát triển Trường Cao đẳng Thương mại Du lịch đến năm 2017 và

tầm nhìn 2025:

Mục tiêu tổng quát:

Phấn đấu đến năm 2017, trở thành Trường Đại học Thương mại và Du lịch

đào tạo đa cấp học, đa ngành nghề, loại hình và phát triển toàn diện, có quy mô 200

cán bộ, công nhân viên, trong đó 85% giảng viên có trình độ thạc sỹ trở lên với

khoảng 6.000 học sinh, sinh viên; Đến năm 2025 có quy mô 500 cán bộ, công nhân

viên và khoảng 11.000 học sinh, sinh viên; Có cơ sở vật chất kỹ thuật khang trang,

hiện đại, môi trường giáo dục tốt, đời sống vật chất , tinh thần của cán bộ, giảng

viên và học sinh, sinh viên được nâng cao. Nhà trường trở thành một địa chỉ đào tạo

tin cậy, có uy tín và thương hiệu mạnh trong phạm vi cả nước.

Mục tiêu cụ thể:

Về ngành nghề đào tạo: Ngoài những ngành nghề đào tạo hiện có như: Kế

toán (gồm 2 chuyên ngành: Kế toán doanh nghiệp; Kế toán tổng hợp); Quản trị kinh

doanh gồm 8 chuyên ngành: Quản trị doanh nghiệp thương mại, Quản trị kinh

doanh thương mại; Quản trị kinh doanh xăng dầu; Quản trị kinh doanh Nhà hàng;

Quản trị kinh doanh Khách sạn; Quản trị kinh doanh du lịch lữ hành; Quản trị chế

biến sản phẩm ăn uống; Quản trị kinh doanh bảo hiểm; Việt Nam học gồm 2 chuyên

ngành: Hướng dẫn du lịch và Tiếng Anh du lịch, Trường Cao đẳng Thương mại Du

lịch sẽ chuẩn bị để đủ điều kiện mở thêm một số ngành học mới như: Tiếng Anh

thương mại; Thương mại điện tử; Marketing kinh doanh…

Về quy mô đào tạo: Từng bước nâng cao quy mô đào tạo thích ứng với sự

phát triển năng lực đào tạo của Nhà trường, đảm bảo tăng quy mô đào tạo hàng năm

từ 10% - 15%, đến năm 2017 đạt quy mô 6.000 học sinh, sinh viên và đến năm

2025 đạt quy mô 10.000 học sinh, sinh viên.

3.1.2. Mục tiêu Marketing của Trường Cao đẳng Thương mại Du lịch

Để đạt được các mục tiêu trên, cùng với việc tăng cường nguồn lực con

người, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật …hoạt động Marketing của Trường cần

90

được đẩy mạnh với mục tiêu là: Xây dựng các chính sách trên 7 yếu tố cấu thành

Marketing – Mix thực sự hấp dẫn người học, nhất là mở rộng ngành nghề và nâng

cao chất lượng sản phẩm đào tạo, xây dựng và quảng bá thương hiệu Trường Cao

đẳng Thương mại và Du lịch, nhằm đạt được mục tiêu mỗi năm tăng quy mô sinh

viên từ 10% - 15% và đến năm 2017 đạt quy mô 6.000 học sinh, sinh viên như mục

tiêu chiến lược phát triển Trường đã đề ra.

3.2. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện Marketing đào tạo của

Trường Cao đẳng Thương mại Du lịch

Để khắc phục những hạn chế, thiếu xót, hoàn thiện Marketing - Mix của

Trường nhằm thu hút nhiều người học và đạt được các mục tiêu chiến lược đã đề ra,

tôi xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị sau:

3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện Marketing-Mix của Trường Cao đẳng Thương

mại Du lịch

3.2.1.1. Mở rộng ngành nghề đào tạo

a. Căn cứ hình thành giải pháp

Giải pháp này được hình thành dựa trên các căn cứ sau:

+ Tầm quan trọng của ngành nghề đào tạo: Theo lý luận về Marketing trong

lĩnh vực đào tạo, thì ngành nghề đào tạo được xác định là một yếu tố cấu thành quan

trọng của sản phẩm đào tạo. Người học chọn trường học trước hết là chọn ngành

nghề đào tạo. Họ phải cân nhắc xem học ngành nào xã hội đang cần, để khi ra

trường có thể tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đảm bảo cuộc sống của

bản thân, có điều kiện giúp đỡ gia đình và đóng góp được phần nhỏ cho xã hội. Đó

là lý do chủ yếu để người học chọn ngành này, trường này mà không chọn ngành

khác, trường khác, tạo nên tình trạng có ngành học, trường học rất nhiều người đăng

ký, nhưng cũng có những ngành học, trường học rất ít, thậm chí không có người

học. Vì thế, muốn thu hút và tuyển được nhiều người học, thì danh mục ngành nghề

đào tạo của các trường nói chung, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch nói

riêng phải được mở rộng, trong đó có những ngành học hấp dẫn, nhu cầu xã hội cao

như: Quản trị kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn; Kỹ thuật chế biến sản phẩm ăn

91

uống; Quản trị kinh doanh du lịch lữ hành...

+ Pháp luật Nhà nước về mở ngành đào tạo trình độ đại học, cao đẳng. Cụ

thể:

- “Luật Giáo dục Đại học” ban hành theo Nghị quyết số 08/ 2012/ QH 13

ngày 16 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội Khóa 13, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, “Điều 33- Mở ngành, chuyên ngành đào tạo”;

- Thông tư 14/2010/TT – BGDĐT Ngày 27 tháng 4 năm 2010 của Bộ Giáo

dục & Đào tạo ban hành “ Danh mục giáo dục , đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng,

đại học”;

- Thông tư 08/2011/TT- BGDĐT ngày 17 tháng 2 năm 2011 của Bộ Giáo

dục & Đào tạo về việc “Quy định điều kiện hồ sơ , quy trình mở ngành đào tạo,

đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, cao

đẳng”.

+ Kết quả phân tích thực trạng Marketing của Trường Cao đẳng Thương mại

và Du lịch, trong đó có những tồn tại hạn chế về ngành nghề đào tạo và nguyên

nhân của tình hình (đã trình bày ở Chương II );

+ Mục tiêu chiến lược phát triển Nhà trường và mục tiêu Marketing của

Trường (Mục 3.1)

b- Mục tiêu giải pháp

Mục tiêu của giải pháp này là: Nâng cấp được một số chuyên ngành đang đào

tạo (chủ yếu về Nhà hàng – Khách sạn) thành Ngành đào tạo và mở được một số

Ngành học mới, được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận, cho phép (ra Quyết định)

và được đăng trên “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng” do Bộ

Giáo dục và Đào tạo phát hành hàng năm.

c- Nội dung giải pháp

Nội dung của giải pháp này là một số việc mà Trường phải làm, bao gồm:

+ Đào tạo nâng cao trình độ cho một số giảng viên Khoa Khách sạn – Du lịch

để đủ điều kiện có 04 Thạc sỹ đúng tên ngành nhằm nâng cấp các chuyên ngành về

92

Kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn thành Ngành học. Cụ thể:

Như đã nêu ở chương 2, khi chưa có Thông tư số: 14/2010/ TT- BGDĐT

ngày 27 tháng 4 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Danh

mục đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng, đại học, thì ngành học Quản trị kinh doanh

của Trường gồm rất nhiều chuyên ngành đào tạo về Thương mại, Nhà hàng - khách

sạn… và đều được thể hiện trong quyển “những điều cần biết về tuyển sinh đại học

và cao đẳng” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành. Nhưng khi Thông tư số:

14/2010/ TT- BGDĐT ra đời, thì trên “Những điều cần biết về tuyển sinh…”

Trường chỉ còn 3 ngành học là: Quản trị kinh doanh , Kế toán và Việt Nam học,

không thể hiện được gì về Thương mại và Du lịch. Điều này đã làm cho xã hội

không thực sự hiểu về các chuyên ngành đào tạo của Trường, cảm thấy danh mục

đào tạo của Trường nghèo nàn, đơn điệu, kém hấp dẫn và giảm số người đăng ký

học. Vì thế, Trường cần khẩn trương cử một số giảng viên của Khoa Khách sạn –

Du lịch đi học cao học để đủ điều kiện có 04 Thạc sỹ đúng tên ngành nhằm nâng

cấp các chuyên ngành về Kinh doanh Nhà hàng – Khách sạn thành Ngành học.

+ Trường cũng cần tuyển dụng thêm giảng viên và cử đi đào tạo nâng cao

trình độ để đủ điều kiện mở thêm một số ngành học mới như: Tiếng Anh thương

mại, Thương mại điện tử, Marketing kinh doanh… và làm thủ tục mở ngành, đề

nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xét duyệt và ra quyết định.

d- Điều kiện thực hiện giải pháp

Để thực hiện được giải pháp này, Trường cần phải làm tốt một số việc có tính

chất điều kiện sau:

+ Thực hiện việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên với mục tiêu: Giảng viên của

Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch phải đạt trình độ Thạc sỹ trở lên, ngang

bằng với trình độ chuẩn của giảng viên các trường đại học như quy định tại Khoản

3, Điều 5, Luật Giáo dục Đại học số 08/ 2012/ QH 13 hiện hành. Việc chuẩn hóa

trình độ như vậy buộc các giảng viên khi được tuyển dụng vào Trường phải chủ

động thu xếp việc đi học cao học hoặc làm nghiên cứu sinh để đạt được trình độ

chuẩn mà Nhà trường đề ra;

93

+ Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về sự cần thiết và ý thức trách

nhiệm cho đội ngũ CBCNVC nói chung, đội ngũ giảng viên nói riêng trong việc

học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để làm việc tốt, đồng thời góp

phần vào việc mở ngành đào tạo và phát triển Nhà trường;

+ Đảng ủy Nhà trường cần có Nghị quyết chuyên đề về xây dựng đội ngũ

giảng viên và cán bộ quản lý của Trường, trong đó có việc giao nhiệm vụ cho một

số giảng viên là Đảng viên có khả năng và điều kiện phải đi học tập, nghiên cứu

nâng cao trình độ, làm gương cho các giảng viên khác noi theo, tạo ra phong trào

tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ học vấn trong đội ngũ giảng viên

và cán bộ quản lý của Trường;

+ Có chế độ ưu tiên tuyển dụng và ưu đãi đặc biệt đối với những người có

trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ đúng ngành nghề cần tuyển từ các cơ quan, đơn vị khác

chuyển đến làm giảng viên của Trường; Đồng thời, có chế độ khuyến khích thỏa

đáng đối với giảng viên đi học cao học, đặc biệt ưu đãi đối với giảng viên đi làm

NCS để trở thành Tiến sỹ.

đ- Kết quả dự kiến

Thực hiện được giải pháp này, thì:

- Danh mục ngành nghề đào tạo của Trường sẽ được mở rộng và hấp dẫn

người học hơn. Cụ thể: Từ ngành Quản trị kinh doanh hiện tại sẽ phát triển thành

các ngành học: Kinh doanh thương mại (Mã số 51340115); Quản trị dịch vụ du lịch

và lữ hành (Mã số 51340103); Quản trị Khách sạn (Mã số 51340407); Quản trị Nhà

hàng và dịch vụ ăn uống (Mã số 51340109). Ngoài những chuyên ngành được nâng

thành Ngành đào tạo nêu trên, thì Trường còn có thể mở thêm được một số ngành

học mới như: Thương mại điện tử; Kinh doanh dịch vụ Logistic...

- Ngành nghề đào tạo của Trường sẽ được thông tin đầy đủ trên “Những điều

cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng” hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo –

một kênh thông tin tuyển sinh quan trọng, chủ yếu, có tính pháp lý cao, phạm vi lan

tỏa rộng sẽ làm cho thông tin về ngành nghề đào tạo của Trường đến với mọi người,

94

nhất là các thí sinh được đầy đủ và rõ ràng hơn.

Kết quả cuối cùng là danh mục ngành nghề đào tạo của Trường sẽ rộng hơn,

phong phú, hấp dẫn hơn, với những ngành nghề cụ thể, rõ ràng về lĩnh vực Thương

mại và Du lịch, thể hiện được thế mạnh của Trường, lại được thông tin đầy đủ trên

những kênh chính thống, có độ tin cậy cao, nên thu hút được nhiều người vào học

và kết quả tuyển sinh của Trường sẽ tốt hơn hiện nay.

3.2.1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo theo Học chế tín chỉ

a- Căn cứ hình thành giải pháp

Giải pháp này được hình thành xuất phát từ những căn cứ sau:

Thứ nhất, Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của chất lượng đào tạo: Đây

là mặt chất của sản phẩm đào tạo - một yếu tố cấu thành quan trọng nhất của

Marketing đào tạo. Xã hội và người học sẽ nhìn vào chất lượng sản phẩm đào tạo

của Trường xem những người được Trường đào tạo ra có làm được việc theo ngành

nghề (chuyên môn, nghiệp vụ) đã được đào tạo không? Làm việc với năng suất,

chất lượng, hiệu quả như thế nào? Có được người sử dụng lao động (các doanh

nghiệp) chấp nhận hay không? Vì thế, việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung,

chất lượng đào tạo theo học chế Tín chỉ nói riêng là điều kiện sống còn của bất kỳ

cơ sở giáo dục đào tạo nào và Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch không phải

là trường hợp cá biệt, ngoại lệ;

Thứ hai, căn cứ“Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ

thống tín chỉ” ban hành theo Quyết định số: 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8

năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là Quy chế 43/2007);

Thứ ba, căn cứ vào thực trạng chất lượng đào tạo theo Học chế Tín chỉ tại

Trường còn hạn chế (thấp) và nguyên nhân của tình hình (đã phân tích ở Chương

II). Cụ thể:

Khi chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo Học chế tín chỉ, theo

“Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành

theo Quyết định số: 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là Quy chế 43/2007) mà nội dung cơ bản của nó là

95

làm tăng tính chủ động, tích cực của người học, giảm thời lượng tiếp xúc trực tiếp

trên lớp giữa giảng viên và sinh viên so với đào tạo theo niên chế hoặc theo niên

chế kết hợp với học phần mềm dẻo (Quy chế đào tạo ban hành theo Quyết định số

25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) , thì chất lượng

học tập của học sinh, sinh viên có phần giảm sút. Năm học 2010-2011 số học sinh,

sinh viên yếu kém tăng cao tới 26,3% . Nguyên nhân tỷ lệ học sinh sinh viên xếp

loại yếu kém tăng cao là do năm đầu tiên Nhà trường chuyển sang đào tạo theo Học

chế tín chỉ, nhiều sinh viên chưa quen với phương pháp tự học và một số giảng viên

chưa đổi mới phương pháp giảng dạy, đánh giá sinh viên cho phù hợp, nên kết quả

đạt được chưa cao. Tình trạng này cần phải sớm được khắc phục.

Thứ tư, Căn cứ vào mục tiêu chiến lược phát triển Nhà trường đến 2017, tầm

nhìn đến 2025 và mục tiêu Marketing của Trường (đã nêu trên).

b- Mục tiêu giải pháp

Mục tiêu của giải pháp là: Nâng cao chất lượng đào tạo theo Học chế Tín chỉ.

Cụ thể: Nâng tỷ lệ HSSV xếp loại học tập Khá và Giỏi (theo mục tiêu phấn đấu của

Trường) lên từ 35 – 45%, giảm tỷ lệ HSSV xếp loại Yếu, Kém xuống dưới 5%.

c- Nội dung giải pháp

Nội dung của giải pháp này là: Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình,

phương pháp đào tạo (quy trình đào tạo; phương pháp dạy và học; phương pháp

kiểm tra, đánh giá) để nâng cao chất lượng đào tạo. Cụ thể:

+ Rà soát, đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo theo hướng thiết

thực, chú trọng trang bị phương pháp tổ chức, học tập, nghiên cứu, tăng cường kỹ

năng thực hành...

+ Đổi mới phương pháp đào tạo, bao gồm:

- Đổi mới quy trình đào tạo theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa học lý thuyết và

thực hành, thực tế;

- Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, “lấy người học làm

trung tâm”, thể hiện qua việc tăng tính tự chủ cho người học trong việc chọn thày,

chọn lớp học, chọn tiến độ và thời khóa biểu học tập...; Tăng tính chủ động, tự giác

96

học tập, nghiên cứu của HSSV thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như

làm các bài tập lớn, viết tiểu luận môn học, nghiên cứu các đề tài khoa học... dưới

sự hướng dẫn, giúp đỡ của thày, cô giáo; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin

trong giảng dạy để nâng cao tính hấp dẫn và hiệu quả của bài giảng.

- Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng tránh

kiểm tra và trả bài theo dạng “học thuộc lòng”.

d- Điều kiện thực hiện giải pháp

Để thực hiện được giải pháp này, cần phải làm tốt một số việc cụ thể sau:

+ Đối với giảng viên:

- Mỗi giảng viên cần nghiên cứu kỹ Quy chế 43/2007 về đào tạo theo học

chế tín chỉ để chuẩn bị giảng dạy tốt; cần xác định rõ những nội dung giảng dạy trên

lớp, những nội dung cần giao cho sinh viên tự học tập, nghiên cứu và hệ thống các

tài liệu tham khảo cần đọc.

- Giảng viên cần nghiên cứu để đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng

tích cực – lấy người học làm trung tâm. Phương pháp này thể hiện ngay trong việc

tổ chức từng buổi giảng, cách thức truyền đạt và thực hiện nội dung bài giảng; Xây

dựng nội dung bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường các hình ảnh,

các video clip để minh họa… làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn. Hơn thế,

ngoài việc giao nhiệm vụ học tập thường xuyên, giảng viên cần tổ chức cho các em

nghiên cứu, viết tiểu luận và tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học, tạo cho các

em niềm say mê nghiên cứu, học tập...

- Giảng viên cần đổi mới tư duy và phương pháp đánh giá cho phù hợp với

quy chế đào tạo tín chỉ. Chẳng hạn, đào tạo theo niên chế thì điểm 5/10 là trung

bình, còn đào tạo theo học chế tín chỉ thì điểm trung bình phải từ 5,5 đến 6,9. Như

thế, khi chấm điểm, nếu giảng viên vẫn tư duy cũ, khi chấm thấy các em đạt mức

trung bình mà chấm điểm 5, thì thực chất các em lại không đạt điểm trung bình theo

học chế tín chỉ. Mặt khác, việc đánh giá phải chú trọng đánh giá về phương pháp, về

tính sáng tạo, chứ không nên đánh giá về mặt thông tin đơn thuần theo kiểu học

thuộc lòng những gì chép được.

97

+ Đối với tổ Bộ môn và Khoa:

- Tổ bộ môn phải thảo luận kỹ và đi tới thống nhất đề cương từng bài giảng,

từng môn học, xác định rõ nội dung nào giảng viên giảng trên lớp, nội dung nào

giao cho sinh viên tự nghiên cứu; Thống nhất danh mục tài liệu tham khảo tối thiểu

mà giảng viên và sinh viên bắt buộc phải đọc đối với từng môn học; Đồng thời,

thường xuyên tổ chức dự giờ, thao giảng để rút kinh nghiệm giảng dạy và học hỏi

lẫn nhau.

- Khoa, tổ bộ môn cần tổ chức các Hội thảo về phương pháp giảng dạy, đánh

giá đối với học sinh, sinh viên theo học chế tín chỉ để tìm ra phương pháp giảng

dạy, đánh giá tốt, phù hợp.

- Trưởng khoa, trưởng bộ môn cần phân công giảng viên đủ trình độ, năng

lực và có kinh nghiệm để giảng dạy, hướng dẫn khóa luận và tăng cường việc kiểm

tra, giám sát để các quy định về giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của sinh viên

được thực hiện nghiêm túc.

+ Đối với Nhà trường:

Cùng với việc xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, tốt về chất lượng,

Nhà trường cần thực hiện tốt những việc sau:

- Tổ chức các cuộc Hội thảo ở cấp Trường về phương pháp giảng dạy, học

tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HSSV đào tạo theo Học chế Tín chỉ;

- Sớm hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra các ngành, chuyên ngành đào tạo

và hoàn thành Báo cáo kiểm định chất lượng đào tạo. Đây là những cam kết đối với

xã hội và khẳng định chất lượng đào tạo của Nhà trường.

- Tổ chức cho học sinh, sinh viên nghiên cứu kỹ Quy chế 43/2007/QĐ-

BGDĐT ngày 15/8/2007 về đào tạo tín chỉ để các em thấy rõ tầm quan trọng của

việc tự học tập, nghiên cứu, có thái độ học tập đúng đắn, chủ động, tự giác và tích

cực học tập để có kiến thức thực sự cho bản thân, tránh hiện tượng sử dụng thời

gian tự học tập vào làm những việc riêng không thuộc về học tập.

- Trang bị bổ sung thêm các thiết bị phục vụ giảng dạy như: máy chiếu

Projector, hệ thống âm thanh, các thiết bị thực hành rèn nghề về nghiệp vụ Nhà

98

hàng – Khách sạn...

- Xây dựng đội ngũ “cố vấn học tập” mạnh, nắm vững mục tiêu, nội dung

chương trình đào tạo từng ngành nghề, bậc, hệ đào tạo và có kinh nghiệm tư vấn để

giúp đỡ các em HSSV trong quá trình học tập.

đ- Kết quả dự kiến

Thực hiện được giải pháp này sẽ đưa việc đào tạo theo Học chế Tín chỉ của

Trường phát triển theo chiều sâu và nâng cao được chất lượng đào tạo. Nó cho phép

tăng dần tỷ lệ HSSV xếp loại học tập Khá, Giỏi qua từng học kỳ, từng năm để đến

năm 2017 đạt tỷ lệ 40 – 45% như mục tiêu đề ra. Kết quả là: Chất lượng đào tạo

toàn diện của Trường được nâng cao. HSSV tốt nghiệp ra trường làm được việc và

dễ tìm được việc làm đúng ngành nghề đào tạo. Uy tín, hình ảnh và thương hiệu của

Trường được nâng cao, tạo điều kiện thu hút được nhiều người học hơn.

3.2.1.3. Một số giải pháp khác

a- Giải pháp về yếu tố con người

Yếu tố con người trong Marketing đào tạo là một trong những yếu tố quan

trọng để thu hút người học, vì nó là yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, là “bằng

chứng” về chất lượng đào tạo. Người học và xã hội sẽ nhìn vào đội ngũ giảng viên

và cán bộ quản lý của Trường để đánh giá chất lượng đào tạo và quyết định có chọn

học ở Trường hay không.

Cán bộ quản lý của Trường về cơ bản đạt trình độ theo tiêu chuẩn chức danh

từng vị trí. Đội ngũ giảng viên hiện có 109 người, trong đó mới có 39 người đạt

trình độ thạc sỹ trở lên và đến tháng 10 năm 2013, khi có thêm 16 người bảo vệ

thành công luận văn thạc sỹ nữa, thì tổng số giảng viên có trình độ thạc sỹ trở lên

của Trường sẽ là 55/109 người, đạt tỷ lệ 50,46%,

Trình độ đội ngũ giảng viên của Trường như trên đã 100% đạt chuẩn giảng

viên trình độ cao đẳng, đảm đương được nhiệm vụ hiện tại và so với mặt bằng

chung của các trường cao đẳng thì tỷ lệ có trình độ thạc sỹ trở lên tương đối cao,

nhưng so với mục tiêu phấn đấu thành Trường Đại học Thương mại và Du lịch

(Khoản 3, Điều 5, Luật giáo dục đại học hiện hành quy định trình độ chuẩn của

99

chức danh giảng viên dạy trình độ đại học là thạc sỹ trở lên), thì còn thấp xa. Đặc

biệt, để nâng cấp thành trường đại học, Trường cần phải có ít nhất 10% giảng viên

đạt trình độ tiến sỹ.

Để đạt mục tiêu đó, Nhà trường phải gấp rút đào tạo đội ngũ bằng cách:

- Yêu cầu các giảng viên vào Trường sau 2 năm phải đi học cao học, để năm

2016 phải đạt tỷ lệ 95% có trình độ thạc sỹ trở lên (chỉ trừ những giảng viên mới

tuyển thêm chưa kịp học cao học);

- Cử ngay một số giảng viên có trình độ thạc sỹ, có khả năng và điều kiện đi

nghiên cứu sinh để trở thành tiến sỹ. Điều này, đòi hỏi Đảng ủy Trường phải có

Nghị quyết (như đã nói ở trên) để Ban giám hiệu Trường giao nhiệm vụ cho một số

giảng viên, trước hết là những cán bộ, đảng viên thực hiện. Cùng với việc giao

nhiệm vụ như thế, trường cần có chính sách hỗ trợ về mặt thời gian, kinh phí nghiên

cứu cho nghiên cứu sinh và đưa vào quy chế chi tiêu nội bộ để thực hiện. Theo tôi,

cần nâng cao mức hỗ trợ tài chính cho mỗi nghiên cứu sinh từ 70 triệu như hiện tại

lên mức 100 triệu đồng để động viên, khích lệ và tạo điều kiện cho họ hoàn thành

tốt nhiệm vụ nghiên cứu.

Ngoài việc nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý như trên,

Đảng ủy và Ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể trong Trường cần tăng cường giáo

dục cán bộ công nhân viên lao động của Trường ý thức trách nhiệm, tinh thần tận

tụy phục vụ người học, trước hết là thái độ ứng xử có văn hóa, tôn trọng người học,

quý mến khách đến Trường, tạo ra hình ảnh đẹp về người cán bộ, nhân viên Trường

cao đẳng Thương mại Du lịch.

b- Giải pháp về phân phối sản phẩm

Trường cần sớm thành lập Trung tâm tư vấn tuyển sinh và giới thiệu việc làm

để có người chuyên trách đảm nhận nhiệm vụ tìm kiếm, giới thiệu việc làm cho học

sinh, sinh viên khi tốt nghiệp ra trường. Đây là vấn đề rất quan trọng. Bởi vì, nếu

không giải quyết được đầu ra của quá trình đào tạo, nếu nhiều sinh viên ra trường

không tìm được việc làm đúng ngành nghề, thì sẽ không thu hút được người đăng

100

ký tuyển sinh và vào học tại Trường.

Trung tâm tư vấn tuyển sinh và giới thiệu việc làm cần bố trí ở cổng Trường,

nơi dễ nhận biết và thuận tiện cho việc ra vào của học sinh, sinh viên và của khách;

Phải có nhiều máy tính nối mạng và phải có quan hệ rộng với các doanh nghiệp, các

đơn vị hành chính sự nghiệp, đặc biệt phải liên kết với các Trung tâm giới thiệu việc

làm của các Sở lao động và thương binh xã hội của các địa phương, các trung tâm

hay công ty dịch vụ và tư vấn giới thiệu việc làm và tuyển dụng lao động chuyên

nghiệp… để cung cấp thông tin cho các em và hướng dẫn các em tự tìm kiếm thông

tin qua mạng máy tính. Có như vậy, Trung tâm mới thực sự hữu ích, có ý nghĩa

giúp Trường giải quyết đầu ra của quá trình đào tạo.

c- Giải pháp về quảng bá, xúc tiến tuyển sinh

Để quảng bá thương hiệu, giới thiệu các ngành nghề đào tạo cũng như điều

kiện ăn ở, học tập tại Trường tới người học và xã hội, ngoài các hình thức xúc tiến

tuyển sinh đã trình bày ở phần thực trạng, Nhà trường cần thực hiện thêm một số

việc sau:

- Cần thông báo tuyển sinh trên một số báo, đài trung ương, có tầm thông tin

trên phạm vi toàn quốc như: Báo nhân dân, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam…

Chi phí đăng, phát thông tin trên các phương tiện này tuy lớn, nhưng thông tin trên

phạm vi toàn quốc và có sức lan tỏa lớn.

- Thực hiện kích thích vật chất, trả thù lao bằng tiền đối với học sinh, sinh

viên và cán bộ, công nhân viên trong việc tuyên truyền, giới thiệu, thu nhận hồ sơ

đăng ký vào học ở Trường có kết quả. Theo đó, nếu học sinh, sinh viên và cán bộ,

công nhân viên giới thiệu được một người nộp hồ sơ vào Trường, dự thi hoặc xét

tuyển và đến học tại Trường, thì sau một kỳ học sẽ được trả thù lao ở mức nhất định

(theo tôi khoảng 300.000 đ/ HSSV tuyển được). Khoản tiền này không lớn nhưng

khuyến khích học sinh, sinh viên đang học tại Trường và cán bộ, công nhân viên

của Trường quan tâm, tích cực hơn trong việc giúp Trường tuyển sinh. Giải pháp

này sẽ có hiệu quả hơn việc cử cán bộ đi các tỉnh để tuyển sinh, vì lực lượng học

sinh, sinh viên của Trường đông, kỳ nghỉ hè, nghỉ tết về thăm gia đình sẽ có mặt ở

101

mọi địa phương.

- Đẩy mạnh hợp tác, có chính sách khuyến khích thỏa đáng các đối tác như

quy định tỷ lệ % được hưởng trên mức thu học phí để họ làm các trung gian tích

cực của Trường trong việc tuyên truyền, quảng bá thương hiệu, ngành nghề đào tạo

và thu nhận hồ sơ đăng ký vào học ở Trường.

d- Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật

- Trường cần xây dựng thêm (ngoài các công trình đã có) một số công trình

phục vụ đào tạo như khu giảng đường từ 5 đến 7 tầng với khoảng 30 đến 35 phòng

học; Nhà thực hành thực tập về Thương mại và Nhà hàng – Khách sạn (Khách sạn 5

tầng), một hội trường lớn khoảng 500 - 700 chỗ ngồi và một nhà thể thao đa năng…

- Cần định kỳ sơn lại các công trình xây dựng để đảm bảo bộ mặt của Trường

luôn mới, sáng sủa.

- Trường cũng cần mua sắm thêm trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập

còn thiếu như: máy chiếu projector và hệ thống âm li – loa đài lắp đủ cho 100% số

phòng học; Các thiết bị về Nhà hàng – Khách sạn như: máy hút bụi, máy giặt, là

công nghiệp, lò làm bánh, máy vặt lông gà vịt, máy rửa bát đĩa… và thường xuyên

rà soát, bổ sung, thay thế các máy móc, thiết bị, dụng cụ hiện có đã hư hỏng, lạc

hậu, xuống cấp…

Đây là những điều kiện đảm bảo chất lượng và là bằng chứng về chất lượng

đào tạo mà người học và xã hội dễ nhận biết, đánh giá…, nên trường cần thường

xuyên hoàn thiện và đổi mới.

3.2.2. Một số kiến nghị với các cơ quan quản lý cấp trên

3.2.2.1. Với Bộ Giáo dục và đào tạo

Để cho việc đào tạo của các trường cao đẳng nói chung, Trường Cao đẳng

Thương mại và Du lịch nói riêng được tiến hành thuận lợi, đúng pháp luật, tôi mạnh

dạn đề xuất với quý Bộ một số kiến nghị như sau:

- Bộ cần xem xét, điều chỉnh lại “Danh mục ngành học cấp IV trình độ cao

đẳng, đại học” đã ban hành theo Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT, ngày 27 tháng

4 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo theo hướng phân biệt rõ ngành

102

học với ngành kinh tế. Cụ thể: Bộ Giáo dục chỉ cần quản lý ngành học Quản trị kinh

doanh (Mã: 51340101), còn quản trị kinh doanh ngành kinh tế nào là để cho các

trường tự xác định thành chuyên ngành đào tạo; Không nâng quản trị kinh doanh

ngành kinh tế cụ thể (ví dụ: Quản trị kinh doanh Khách sạn; Quản trị kinh doanh

Nhà hàng và dịch vụ ăn uống...) thành một ngành học ngang bằng với ngành học

Quản trị kinh doanh.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần xem xét, điều chỉnh điểm a, khoản 1, Điều

3 của “Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo… trình độ đại học,

trình độ cao đẳng” ban hành theo Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐ, ngày 17 tháng 2

năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó quy định: Muốn mở

ngành học nào đó trình độ cao đẳng, thì trường cao đẳng “phải có ít nhất 4 giảng

viên có trình độ thạc sỹ đúng ngành đăng ký”, mà thực chất ngành đăng ký theo

danh mục ngành đào tạo cấp IV mà Bộ ban hành theo Thông tư 14/2010/TT-

BGDĐT nói trên chỉ như một chuyên ngành đào tạo trước đây. Điều này là không

sát với thực tế như đã phân tích ở chương 2. Tôi đề nghị quý Bộ cần điều chỉnh tiêu

chuẩn này xuống 2 thạc sỹ như trước đây, vì như thế cũng đủ có 100% thạc sỹ

giảng dạy các môn chuyên môn rồi. Điều chỉnh như vậy sẽ rất sát với thực tế, vẫn

đảm bảo nâng cao chất lượng giảng dạy và lại tạo điều kiện thuận lợi cho các trường

trong việc mở ngành đào tạo và chấp hành pháp luật Nhà nước.

- Cần sửa đổi điểm b, khoản 2, Điều 7 của “Quy định về liên kết đào tạo trình

độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học” ban hành theo Quyết định số

42/2008/QĐ- BGDĐT, ngày 28 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo, theo đó địa điểm đặt lớp liên kết đào tạo cao đẳng, đại học phải là các

trường, các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh. Thực tế cho thấy không nên

quy định “cứng” về điều này, vì nhiều nơi trung tâm giáo dục thường xuyên cấp

quận, huyện còn có cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhất là các lớp học khang trang, sạch

đẹp hơn cả trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh. Quy định như Quyết định số

42/2008/QĐ- BGDĐT đã hạn chế khả năng liên kết, hợp tác – kênh phân phối sản

103

phẩm đào tạo của các trường cao đẳng, đại học.

- Cần nghiên cứu kỹ trước khi ban hành chính sách và ổn định chính sách

quản lý để một chính sách được ban hành có thời gian “sống” tương đối dài, ổn

định, tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo chủ động các kế hoạch đào tạo của mình.

Khi một văn bản thay đổi, cần có thời gian để chuẩn bị thực hiện, không nên phủ

định tức thời văn bản cũ dẫn đến các cơ sở đào tạo không kịp chuẩn bị, dẫn đến tình

trạng “nay đúng, mai sai”. Ví dụ, theo Quyết định số 42/2008/QĐ- BGDĐT thì các

trường không bị cấm sử dụng cả chỉ tiêu đào tạo chính quy để đào tạo theo địa chỉ,

theo nhu cầu xã hội và cấp Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng chính quy cho các

sinh viên học ở những lớp này theo hình thức đào tạo chính quy. Nhưng công văn

số: 7628/BGDĐT-GDĐH, ngày 14 tháng 11 năm 2011 về việc chấn chỉnh liên kết

đào tạo đại học, cao đẳng của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại quy định “chỉ cấp bằng tốt

nghiệp hình thức vừa làm vừa học” (tại chức cũ). Công văn này có hiệu lực ngay

sau ngày ký đã biến các lớp đào tạo theo địa chỉ, theo nhu cầu xã hội học tại các cơ

sở liên kết ngoài trường cấp Bằng chính quy đang “đúng thành sai”, gây bức xúc

cho các cơ sở đào tạo, người học và xã hội.

- Cần xem xét lại và sửa đổi Thông tư 55/2012/TT-GDĐT về “Quy định đào

tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học” cho hợp lý hơn. Cụ thể, điểm b, khoản 1,

điều 9 – Tuyển sinh có quy định: “người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, trung

cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, cao đẳng chưa đủ 36 tháng kể từ ngày được

bằng tốt nghiệp đến ngày nộp hồ sơ thi lên trình độ cao đẳng hoặc đại học phải dự

thi tuyển các môn văn hóa, năng khiếu theo khối thi tuyển sinh cao đẳng, đại học

chính quy do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm” là chưa thực sự công

bằng với các em. Bởi vì, giữa điểm đỗ thi đại học với chưa đỗ thi đại học nhiều khi

chỉ cách nhau 0,25 điểm (ví dụ: Khối A, thí sinh thi được 12,5 điểm không đỗ vào

đại học, nhưng thí sinh thi được 12,75 điểm thì đỗ vào đại học) và các em không đỗ

đại học đó vào học cao đẳng, khi học liên thông đã phải học thêm ½ năm rồi. Quy

định như trên đã làm giảm đáng kể nguồn tuyển sinh của các trường cao đẳng, vì

phần lớn các em có mục tiêu học đại học sẽ quyết định không học cao đẳng mà tiếp

104

tục ôn thi đại học.

- Cần xác định khoảng cách điểm tối thiểu đỗ cao đẳng và điểm sàn đỗ đại

học cách xa nhau. Như nhiều năm lại đây, khoảng cách này khá sát nhau, nên nguồn

tuyển sinh vào các trường cao đẳng khá ít. Cụ thể, lấy ví dụ khối A, nếu xác định

điểm sàn đỗ đại học là 13 điểm (thực chất từ 12,75 làm tròn thành 13 điểm) còn

điểm tối thiểu đỗ cao đẳng là 10 điểm, thì phổ điểm được tuyển của hơn 200 trường

đại học rất rộng từ 12,75 đến 30 điểm (với việc cho các em gửi phiếu điểm photo

đến các trường thì số này sẽ được sắp xếp hết), còn phổ điểm tuyển của các trường

cao đẳng rất hẹp, 457 trường cao đẳng hoặc đại học có đào tạo hệ cao đẳng sẽ tranh

tuyển những thí sinh có điểm tuyển nằm trong phổ hẹp từ 10 điểm đến 12,5 điểm,

mà số này chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số học sinh dự thi. Mặt khác, phần lớn các

em thi cao đẳng đều đã thi đại học, còn thi cao đẳng chỉ là dự phòng. Vì thế, các

trường cao đẳng thiếu nguồn tuyển sinh là đương nhiên. Tôi đề nghị, giãn cách giữa

điểm tối thiểu vào cao đẳng và điểm sàn đỗ đại học là 5. Cụ thể: Với khối A, nếu

điểm tối thiều để vào trường cao đẳng (đối với thí sinh khu vực 3) là 10 điểm, thì

điểm sàn đỗ vào trường đại học phải là 15 điểm. Các khối thi khác cũng tương tự.

Có như vậy, người được vào học các trường đại học cũng thật xứng đáng, nguồn

tuyển sinh cho các trường cao đẳng sẽ được nhiều lên.

3.2.2.2. Với Bộ Công Thương

Bộ cần quan tâm đầu tư cho Trường xây thêm các công trình xây dựng còn

thiếu như: 01 nhà lớp học 30 đến 35 phòng học; 01 khách sạn thực hành 5 tầng và 1

Hội trường lớn để có đủ điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ đào tạo và góp

phần đổi mới hơn nữa “bộ mặt” của Nhà trường, nhằm thu hút được nhiều người

105

học hơn nữa.

KẾT LUẬN

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động Marketing đối với các cơ

sở đào tạo nói chung, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch nói riêng trong điều

kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế; Từ thực trạng hoạt động Marketing của Trường

và thực tiễn công tác của bản thân tại đây, Tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn

thiện Marketing đào tạo của Trường cao đẳng Thương mại và Du lịch” làm luận văn

tốt nghiệp cao học của mình. Đề tài đã hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu đề ra

là:

- Hệ thống hóa lý luận về Marketing đào tạo;

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động Marketing (chủ yếu là Marketing -

mix) về đào tạo của Trường cao đẳng Thương mại và Du lịch cùng nguyên nhân của

tình hình;

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện Marketing của Trường

trong thời gian tới.

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về Marketing nói chung, Marketing trong lĩnh

vực dịch vụ và Marketing của một cơ sở đào tạo nói riêng; Từ phân tích, đánh giá

thực trạng hoạt động và kết quả Marketing đào tạo tại Trường Cao đẳng Thương

mại và Du lịch, làm rõ ưu, nhược điểm và nguyên nhân của tình hình, luận văn đã

đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện Marketing đào tạo của Trường nhằm

nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, xây dựng thương hiệu và thu hút được ngày

càng nhiều người học hơn. Luận văn cũng kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Công Thương về một số vấn đề thuộc cơ chế chính sách có liên quan để hoạt

động đào tạo, hoạt động Marketing của các trường cao đẳng, trong đó có Trường

Cao đẳng Thương mại và Du lịch được tiến hành thuận lợi, đúng pháp luật và có

hiệu quả hơn.

Do trình độ và thời gian có hạn, những giải pháp, kiến nghị nêu ra có thể chưa

toàn diện, chưa thấy hết các khía cạnh của vấn đề và Luận văn không tránh khỏi

những sai sót, hạn chế, nhưng Tác giả tin tưởng rằng nếu các giải pháp đó được

106

Trường áp dụng và các kiến nghị được các Bộ quan tâm sẽ góp phần làm cho

Marketing đào tạo của Trường cao đẳng Thương mại và Du lịch được hoàn thiện và

hoạt động Marketing của Trường sẽ đạt kết quả tốt hơn.

Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thày, cô giáo, các bạn đồng

nghiệp để Luận văn được hoàn thành với chất lượng tốt hơn và xin trân trọng cảm

107

ơn !

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012

của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đề án “Đổi

mới, căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,

hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội

nhập quốc tế”.

2. Thủ tướng Chính phủ: Chỉ thị 02-CT-TTg, ngày 2 tháng 1 năm 2013 về việc triển

khai thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012 của Hội nghị lần

thứ sau Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế

thị trường định hướng xh chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

3. Thủ tướng Chính phủ: Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 ban hành theo

Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ.

4. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 579/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 4 năm 2011

của Thủ tướng Chính phù phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời

kỳ 2011-2020.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chương trình hành động của ngành Giáo dục triển khai

Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban

chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Chỉ thị 02-CT-TTg, ngày 2 tháng 1 năm

2013 về việc triển khai thực hiện Kết luận số 51-KL/TW.

6. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật Giáo dục ban hành ngày 14

tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục ngày 25

tháng 11 năm 2009.

7. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật giáo dục đại học ngày 28 tháng

6 năm 2012.

8. Chính phủ: Nghị định số 75/2006/NĐ-CP, ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính

108

phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục.

9. Chính phủ: Nghị định số 31/2011/NĐ-CP, ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Chính

phủ sửa đối, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP, ngày 02 tháng

8 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Luật Giáo dục.

10. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 5

năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành điều lệ trường cao

đẳng.

11. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 28 tháng 7

năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế liên kết đào tạo

trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.

12. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quyết định số 06/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 13 tháng 2

năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định liên thông

trình độ cao đẳng, đại học.

13. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quyết định số 795/QĐ-BGDĐT, ngày 27 tháng 2năm

2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về việc xác định chỉ

tiêu tuyển sinh, quy trình đăng ký, thông báo chỉ tiêu tuyển sinh, kiểm tra và xử lý

việc thực hiện các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh sau đại học, đại học, cao

đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

14. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT, ngày 27 tháng 4

năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành danh mục giáo dục đào

tạo cấp IV – trình độ cao đẳng, đại học.

15. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Lao động Thương binh Xã hội: Thông tư liên tịch

số 27/2010/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH, ngày 28 tháng 10 năm 2010 liên tịch Bộ

Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn đào tạo

liên thông từ trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề lên trình độ cao đằng và đại

học.

16. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17 tháng 2

109

năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện hồ sơ, quy

trình mở ngành đào tạo đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo

trình độ đại học, cao đẳng.

17. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Công văn số 7628/BGDĐT-GDĐH, ngày 14 tháng

11năm 2011 về việc chấn chỉnh liên kết đào tạo đại học, cao đẳng.

18. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư số 09/2012/TT-BGDĐT, ngày 05 tháng 3

năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tuyển sinh đại

học, cao đẳng hệ chính quy.

19. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT, ngày 25 tháng 12

năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định đào tạo liên thông trình

độ cao đẳng, đại học.

20. Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội), Dự án giáo dục kỹ

thuật và dạy nghề (VTFP): Sổ tay Marketing, NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội,

2007.

21. Trương Đình Chiến, “Giáo trình Quản trị Marketing”, NXB. Thống Kê, Hà Nội,

2002.

22. TS.Trương Đình Chiến, “Giáo trình Quản trị kênh phân phối (kênh Marketing)”,

NXB. Thống Kê, Hà Nội, 2004.

23. TS.Trương Đình Chiến, “Giáo trình Quản trị Marketing trong doanh nghiệp”,

NXB. ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2011.

24. PGS.TS. Trần Minh Đạo, “Giáo trình Marketing căn bản”, NXB. Giáo dục, Hà

Nội, 2002.

25. TS. Lưu Văn Nghiêm, “Giáo trình Marketing trong kinh doanh, dịch vụ”, NXB.

Thống Kê, Hà Nội, 2001.

26. Nguyễn Đức Ngọc, “Nghệ thuật Marketing”, NXB. Lao động – Xã hội, 2002.

27. PGS.TS. Nguyễn Xuân Quang, “Giáo trình Marketing Thương mại”, NXB. ĐH

Kinh tế Quốc dân, 2010.

28. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai trang, “Nguyên lý Marketing”, NXB.

110

NXB. ĐH Quốc gia TP HCM, 2003.

29. PhilipKotler, “Marketing căn bản”- Bản dịch của TS Phạm Thăng, TS. Vũ Thị

111

Phương, Giang Văn Chiến, NXB. Thống kê, Hà Nội, tái bản lần 3, 20.