BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Bích Thùy KHẢO SÁT THÀNH NGỮ VÀ QUÁN NGỮ
TRÊN BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Bích Thùy KHẢO SÁT THÀNH NGỮ VÀ QUÁN NGỮ
TRÊN BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN
CHUYÊN NGÀNH : NGÔN NGỮ HỌC Mã số
: 602201
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Hai
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nổ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ từ gia đình, thầy cô và bạn bè, tôi xin chân
thành gửi lời cảm ơn đến:
- Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ
văn và quý thầy cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện và hoàn
thành đề tài này.
- Gia đình - cha mẹ đã luôn sát cánh, động viên, chia sẻ những lúc tôi gặp khó
khăn.
- Đặc biệt là cô Nguyễn Thị Hai - người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận
văn này. Xin được gửi tới cô lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất. Sự chỉ
bảo, động viên, đôn đốc của cô đã trở thành nguồn động viên lớn lao, giúp tôi
vượt qua khó khăn để có thể hoàn thành được đề tài của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012 HVTH: Nguyễn Bích Thùy
QUY ĐỊNH VIẾT TẮT
Tuổi trẻ cuối tuần: TTCT
Quán ngữ: QN
Quán ngữ liên kết: QNLK
Thành ngữ: Thn
t: thuộc tính của A
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ....................................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................ 2 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ....................................................................... 6 4. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................ 6 5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 7 6. Bố cục của luận văn ............................................................................................... 7 Chương 1: MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ..................... 9 1.1.Thành ngữ, quán ngữ ............................................................................................ 9 1.1.1. Thành ngữ ..................................................................................................... 9 1.1.2. Quán ngữ .................................................................................................... 17 1.2.Văn bản............................................................................................................... 23 1.2.1. Khái niệm ................................................................................................... 23 1.2.2. Liên kết hình thức trong văn bản ................................................................ 25 1.3. Sơ lược về quá trình hình thành báo Tuổi trẻ và TTCT .................................... 32 1.4. Phong cách chức năng báo chí- công luận ........................................................ 34 1.4.1. Khái quát về phong cách chức năng báo chí- công luận ............................ 34 1.4.2. Chức năng của ngôn ngữ trong phong cách báo chí- công luận và đặc trưng chung của phong cách này ............................................................................................... 34
CHƯƠNG 2: VIỆC SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ TRÊN BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN NĂM 2007, 2008, 2009.................................................................... 37 2.1. Về tần số xuất hiện của thành ngữ và quán ngữ ................................................ 37 2.1.1.Về báo TTCT năm 2007 .............................................................................. 37 2.1.2.Về báo TTCT năm 2008 .............................................................................. 37 2.1.3.Về báo TTCT năm 2009 .............................................................................. 37 2.2. Khảo sát thành ngữ, quán ngữ ........................................................................... 38 2.2.1. Thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2007, 2008, 2009 .................. 38 2.2.2. Khảo sát, thống kê, phân loại quán ngữ liên kết ........................................ 61
Kết luận ................................................................................................................... 86 Tài liệu tham khảo .................................................................................................. 89 Phụ lục ..................................................................................................................... 95 Phụ lục 1 ................................................................................................................... 96 Phụ lục 2 ................................................................................................................. 126 Phụ lục 3 ................................................................................................................. 142 Phụ lục 4 ................................................................................................................. 158
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ của một dân tộc vừa là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất vừa là
công cụ tư duy. Chính vì vậy nó có khả năng tàng trữ, lưu giữ những tinh hoa, tri thức,
bản sắc văn hóa của dân tộc. Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt như thế. Nó
có chức năng lưu giữ tri thức của cộng đồng. Tiếng Việt chúng ta có một kho tàng
thành ngữ phong phú và đa dạng. Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, thành
ngữ dần hình thành và được nhân dân sử dụng như một công cụ giao tiếp chung. Do
được hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử dân tộc, những tổ hợp từ có nội
dung ngữ nghĩa sâu rộng, được chắt lọc gọt giũa, trau chuốt dần dần cố định thành
thành ngữ. Vì là một bộ phận quan trọng trong từ vựng nên thành ngữ là đối tượng
nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học, cũng là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu
văn học, văn hóa. Tất nhiên sức sống của thành ngữ không chỉ là đối tượng để nghiên
cứu mà còn ở khả năng được vận dụng vào lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân,
vào trong sáng tác văn chương, trong các bài viết có tính chính luận trên đài phát
thanh, truyền hình, sân khấu, báo chí, chính ở khả năng hoạt động này, thành ngữ đã
góp phần khẳng định sức sống bền vững của mình. Có thể thấy, ở lĩnh vực báo chí,
tần số xuất hiện của thành ngữ không phải thấp nếu như không muốn nói là thường
xuyên, và đã thực sự trở thành một trong những phương tiện đắc lực trong nhiều
trường hợp ở nhiều bài viết, của nhiều tác giả. Song hiện tượng này lại chưa nhận
được sự quan tâm, nghiên cứu thích đáng trong giới nghiên cứu báo chí.
Như vậy việc tìm hiểu bước đầu tình hình sử dụng thành ngữ trên báo chí là một
thao tác nhằm khẳng định sức sống cũng như những giá trị của thành ngữ trong đời
sống hiện đại, khi mà văn hóa dân tộc vẫn cùng nhịp độ phát triển của đất nước liên
tục thu nhận những thành tựu, những yếu tố ngữ văn mới. Đây cũng là mong muốn
góp phần vào công việc giữ gìn và phát huy những thành tố văn hóa dân tộc của
người viết khi thực hiện đề tài này.
Như chúng ta đã biết, trong giao tiếp và diễn đạt, chúng ta thường hay sử dụng
các cụm từ cố định như nói cách khác, suy cho cùng, một mặt thì, mặt khác thì,... Đó
chính là các quán ngữ. Quán ngữ có chức năng vừa là phương tiện liên kết các đơn vị
giao tiếp, lại vừa như một tín hiệu có chức năng đưa đẩy, chêm xen làm cho lời nói
tăng tính biểu thị tình thái. Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu quán ngữ trên báo chí cũng
chưa được chú ý. Bên cạnh đó, quán ngữ và thành ngữ đều là cụm từ cố định. Vậy
giữa chúng có khác nhau không? Nguyên tắc cấu tạo của chúng như thế nào? Đặc
trưng ngữ nghĩa, cú pháp của chúng ra sao? Đó cũng chính là lí do chúng tôi chọn
quán ngữ để khảo sát trong luận văn của mình bên cạnh thành ngữ.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Việc nghiên cứu thành ngữ
Như trên đã nói, việc nghiên cứu thành ngữ được khá nhiều người quan tâm,
đã có một số sách, tài liệu viết về thành ngữ.
Trong cuốn sách “Hoạt động của từ tiếng Việt” [58], Đái Xuân Ninh đã chỉ ra
đặc điểm của thành ngữ trên hai phương diện: nội dung và hình thức.
Đặc điểm về nội dung ý nghĩa của thành ngữ thường không thể giải thích trên
cơ sở những yếu tố tạo thành mà nó thường gắn liền với điều kiện lịch sử xã hội, của
một lớp người nhất định.
Đặc điểm về hình thức thành ngữ thường sử dụng so sánh, đối xứng, có sự
hoán đổi và thay đổi trật tự giữa các thành tố.
Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” [25], Nguyễn Thiện Giáp đã dựa vào
cơ chế ngữ nghĩa để phân biệt hai loại thành ngữ: thành ngữ hợp kết (được hình thành
do sự kết hợp của các thành tố trong thành ngữ) và thành ngữ hòa kết (được hình
thành trên cơ sở ẩn dụ toàn bộ).
Giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” của Đỗ Hữu Châu [11] đã so sánh
đối chiếu thành ngữ với từ phức và cụm từ tự do.Tác giả đã đưa ra định nghĩa về
thành ngữ một cách gián tiếp qua ngữ cố định: “Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa
có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhưng đã cố định
hóa, cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ” [11;
61]. Đỗ Hữu Châu còn nêu lên các giá trị ngữ nghĩa của thành ngữ và các đặc điểm
của thành ngữ.
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
về thành ngữ theo những cách khác nhau, mức độ khác nhau và quan điểm cũng
không hoàn toàn như nhau. Chúng ta thấy rằng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn
đề sử dụng thành ngữ trong các sáng tác văn chương. Trong khi đó, nếu xét ở góc độ
nghiên cứu ngôn ngữ, vấn đề sử dụng thành ngữ, quán ngữ trên báo chí lại không
nhận được nhiều sự quan tâm như thế. Có rất ít bài viết hay công trình đề cập, nghiên
cứu vấn đề này, hoặc nếu có, thì cũng chỉ tìm hiểu một khía cạnh nhất định của vấn
đề. Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã tìm hiểu được những công trình,
bài viết sau:
1. Đỗ Quang Lưu [50] có bài Cần tôn trọng và giữ gìn tính trong sáng và vẻ đẹp
riêng của tiếng Việt trong việc sử dụng thành ngữ dân gian. Trong bài viết này, Đỗ
Quang Lưu tập trung nói đến việc sử dụng những biến thể của thành ngữ trên báo chí
hằng ngày (báo nói, báo viết cũng như báo hình). Theo tác giả, hàng loạt thành ngữ
của nhân dân dù đơn giản nhất như những câu nói ví thông thường ở cửa miệng dân
chúng, nhưng khá tinh tế về ý cũng như lời thường có nhiều biến thể xuất hiện khi đi
vào hoạt động như thành ngữ “cao chạy xa bay” bị đổi ngược thành “cao bay xa
chạy”, thành ngữ “nói giăng nói cuội” bị biến thành “nói nhăng nói cuội”,…
Có thể nói bài viết đã đề cập trực tiếp đến vấn đề mà chúng tôi đang tìm hiểu,
song mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những trường hợp dùng đơn vị thành ngữ biến thể.
2. Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí của Nguyễn Đức Dân [18]
là bài đề cập trực tiếp và chuyên sâu nhất trong những tài liệu mà chúng tôi tiếp xúc
khi tìm hiểu đề tài. Trong bài viết của mình, Nguyễn Đức Dân xoáy vào kĩ năng vận
dụng thành ngữ, tục ngữ và danh ngôn trong diễn đạt báo chí. Thành ngữ, tục ngữ có
thể xuất hiện dưới nhiều dạng thức cho phù hợp với nội dung của bài báo. Theo ông,
có thể vận dụng thành ngữ, tục ngữ vào báo chí với một số cách thức như: vận dụng
nguyên dạng, thay yếu tố trên nghĩa bóng và quá trình hình thành nghĩa bóng của
thành ngữ, tục ngữ, chuyển đổi từ câu khẳng định sang câu nghi vấn, thay một, hai từ
làm thay đổi quan hệ cũ, tạo ra một quan hệ mới và sử dụng các yếu tố của thành ngữ,
tục ngữ chỉ còn là những thành phần riêng rẽ trong câu nhưng vẫn mang nghĩa biểu
trưng như thành ngữ gốc. Và sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ được xem là khéo léo
khi giữ được nhịp điệu, tiết tấu hài hòa của câu gốc và thành ngữ, tục ngữ sử dụng
được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Việc vận dụng khéo léo như vậy sẽ làm cho bài
viết thêm chuẩn xác và hấp dẫn.
Có thế thấy bài viết của Nguyễn Đức Dân đã trình bày khá cụ thể cách thức sử
dụng thành ngữ, tục ngữ vào báo chí và xem đây là một trong những kĩ năng quan
trọng. Tuy nhiên, về tình hình, đặc điểm và hiệu quả sử dụng thành ngữ, tục ngữ vẫn
chưa được tác giả bàn đến một cách sâu sắc.
3. Nguyễn Đức Dân còn có công trình Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản [19].
Ở đây, khi trình bày kĩ năng diễn đạt trong báo chí, tác giả có nói đến cách “diễn đạt
bằng thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn”, bên cạnh một số kĩ năng khác như diễn đạt
chính xác và đơn giản, diễn đạt bằng những câu ngắn, diễn đạt không dư thừa,…Tác
giả có đưa ra và phân tích một số ví dụ để đi đến nhận định “sử dụng đúng, vận dụng
khéo và thích hợp tục ngữ, thành ngữ sẽ làm bài viết thêm hấp dẫn”. Vấn đề sử dụng
thành ngữ, tục ngữ vào diễn đạt trong báo chí cũng chỉ mới được Nguyễn Đức Dân
đưa ra những nhận định bước đầu hết sức khái quát. Mặt khác, tác giả cũng không
quan tâm tìm hiểu việc sử dụng quán ngữ trong địa hạt này.
4. Bùi Thanh Lương trong bài Cách sử dụng thành ngữ mới trên một số ấn
phẩm báo chí” [51] đã tiến hành khảo sát việc sử dụng thành ngữ mới trên một số tờ
báo như: Đại đoàn kết, thể thao- văn hóa, Sài Gòn giải phóng, Hà Nội mới. Từ kết
quả khảo sát, tác giả tiến hành phân loại và miêu tả những cách thức cấu tạo thành
ngữ mới như cải biên các thành ngữ quen thuộc bằng cách thêm hoặc lược bớt một
vài từ, thay đổi trật tự từ trong cấu trúc đã có. Việc cải biên này có thể tạo ra những
thành ngữ mới từ đó tạo ra những cách diễn đạt mới mang màu sắc biểu cảm mới mặc
dù nghĩa của thành ngữ hoặc từ trung tâm của thành ngữ về cơ bản không thay đổi;
thành ngữ được sử dụng theo các mô hình đã có, lúc này mô hình được ví như bộ
khung mà người viết dựa vào đó để tạo ra những thành ngữ mới. Theo tác giả, trong
quá trình sử dụng thành ngữ, người viết báo cũng tạo ra những thành ngữ hoàn toàn
mới và xem đây là sự cách tân của họ.
Nhìn chung Bùi Thanh Lương đã mô tả gần như đầy đủ những cách thức sử
dụng thành ngữ sáng tạo, linh hoạt trên báo chí. Đây là một trong những khía cạnh
quan trọng trong việc tìm hiểu vấn đề sử dụng thành ngữ. Tuy nhiên bài viết chỉ tìm
hiểu việc sử dụng thành ngữ và là thành ngữ mới trên báo chí.
Ngoài ra còn có một số bài viết khác liên quan đến vấn đề sử dụng thành ngữ
trên báo chí như:
- Hoàng Anh (1999) Thử phân loại tiêu đề các văn bảo báo chí [1].
- Hoàng Anh (2005), Sự hấp dẫn của ngôn ngữ phóng sự [2].
- Hoàng Anh (2005), Một số thủ pháp nhằm tăng cường tính biểu cảm trong ngôn
ngữ báo chí [3].
- Hoàng Anh-Vũ Thị Ngọc Mai (2009), Các đặc điểm của đầu đề tác phẩm báo chí
thể thao (Qua khỏa sát Báo thể thao hằng ngày, bóng đá) [4].
Tác giả của những bài viết này đều xem thành ngữ là một trong những phương
tiện biểu đạt hiệu quả, làm tăng tính hấp dẫn, biểu cảm cho tiêu đề, cho diễn đạt báo
chí, cho phóng sự.
2.2. Việc nghiên cứu quán ngữ
Trong ngôn ngữ học, quán ngữ được nghiên cứu từ rất lâu. Tuy nhiên, cho đến
nay, sự nhìn nhận và nắm bắt về quán ngữ một cách nhất quán, giúp người dạy, người
học không cảm thấy mơ hồ và nhập nhằng với các khái niệm tương cận vẫn còn là
vấn đề phía trước. Trong khi các hiện tượng khác thuộc ngữ cố định được nghiên cứu
một cách có hệ thống thì quán ngữ chỉ mới được đề cập đến với những nhận định ban
đầu. Chúng tôi tìm thấy một số công trình, bài viết (chủ yếu là từ vựng học) có trình
bày sơ lược về đơn vị quán ngữ trong tiếng Việt như:
1)Từ vựng học tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp [25; 101]
2) Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu [11; 73-74]
3) Lôgic và tiếng Việt của Nguyễn Đức Dân [17; 273-285 ]
4) Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng
Trọng Phiến [15; 161 ]
5) Tiếng Việt (sơ thảo ngữ pháp chức năng) của Cao Xuân Hạo [36; 96-104 ]
6) Nguyễn Thị Thìn (2000) với bài Quán ngữ tiếng Việt [74] đã dựa vào công dụng
thường dùng của quán ngữ chia nó thành bốn loại: quán ngữ dùng chủ yếu trong chức
năng nghĩa học, quán ngữ dùng chủ yếu trong chức năng dụng học, quán ngữ dùng
chủ yếu trong chức năng liên kết văn bản, quán ngữ dùng trong nhiều phong cách.
7) Ngô Hữu Hoàng (2002) đã chỉ ra một số điểm khác biệt giữa thành ngữ và quán
ngữ trong bài “Vài suy nghĩ về cụm từ cố định nói chung và quán ngữ nói riêng”.
Theo đó tác giả đưa ra kết luận thành ngữ “là kết quả của việc vay mượn để đúc kết
ngữ nghĩa từ vựng (định danh) bậc hai nhằm đáp ứng tình trạng nhu cầu phản ánh
“nghĩa” của thế giới khách quan trong giao tiếp” [44; 30], còn quán ngữ “phục vụ
cho các chức năng của lời nói, tạo ra một hành vi giao tiếp sao cho có hiệu
quả…Ngữ nghĩa của nó bị hư hóa nên mất tính thành ngữ và cấu trúc nội tại từ đó
cũng rất lỏng lẻo” [44; 30].
8) Ngũ Thiện Hùng (2003) có bàn về điều kiện sử dụng của một số quán ngữ tình
thái nhận thức dưới gốc độ lý thuyết quan yếu. Tác giả kết luận “việc sử dụng các
quán ngữ tình thái nhận thức không chỉ chịu sự chế định của các yếu tố lôgic- cú
pháp. Các điều kiện như định hướng nội dung hay định hướng quan hệ (động cơ vì
người nói/ người nghe) cũng phải được tính đến” [39; 13].
9) Luận văn “Quán ngữ tình thái tiếng Việt” của Trần Thị Yến Nga đã tiến hình tìm
hiểu đặc điểm ngữ nghĩa-chức năng của quán ngữ tình thái [56].
Các công trình này thực sự là những gợi ý quý báu và là cơ sở lý luận quan
trọng mà chúng tôi tiếp thu để vận dụng trong nghiên cứu về quán ngữ thực hiện chức
năng liên kết trong luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là khảo sát, tìm hiểu và phân tích các đặc điểm về cấu
tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng thành ngữ và quán ngữ .
Thành ngữ, quán ngữ xuất hiện trên báo chí với nhiều dạng thức, ở nhiều vị trí
khác nhau.Với việc mô tả một cách có hệ thống các thành ngữ, quán ngữ, chúng tôi
hy vọng đề tài này có những đóng góp nhất định. Với mục đích làm rõ sức sống của
thành ngữ, cũng như vai trò liên kết của quán ngữ, chúng tôi chỉ nghiên cứu những
thành ngữ, quán ngữ được các nhà báo sử dụng vào diễn đạt, phục vụ cho việc
chuyển tải thông tin đến người đọc.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với một số lượng lớn các loại báo, tạp chí như ngày nay, trong khuôn khổ và
thời gian có hạn, chúng tôi không thể khảo sát đề tài trên tất cả những tờ báo, tạp chí
đang lưu hành trong suốt tiến trình lịch sử của nó. Do vậy chúng tôi chỉ khảo sát, tìm
hiểu sự sử dụng thành ngữ, quán ngữ trên tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần - cơ quan của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong ba năm 2007, 2008, 2009 với tổng cộng 153 số báo.
Sở dĩ chúng tôi chọn tờ báo này là vì chúng có số lượng độc giả tương đối đông đảo,
được phát hành thường xuyên, nội dung đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau
của đời sống như: kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, văn hóa,…Tất cả những yếu tố
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu vấn đề được toàn diện, bao quát.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, trong quá trình tiếp cận và phân tích đối
tượng, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như thu thập
ngữ liệu, khảo sát, phân loại ngữ liệu,... luận văn chủ yếu sử dụng những phương
pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích, khái quát: từ quá trình khảo sát với những số liệu cụ thể,
chúng tôi tiến hành nhận xét, lí giải, phân tích kết quả thống kê.
- Các thủ pháp như so sánh, dẫn chứng,… cũng được sử dụng trong khóa luận này ở
những chỗ cần.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung của luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề mang tính lí thuyết làm cơ sở,
nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài như: thành ngữ, quán ngữ, văn bản (khái niệm,
đặc điểm), phong cách báo chí và sơ lược về lịch sử ra đời và phát triển của báo Tuổi
trẻ nói chung và Tuổi trẻ cuối tuần nói riêng.
Chương 2: Việc sử dụng thành ngữ, quán ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần
Đây là chương mà chúng tôi sẽ đưa ra kết quả khảo sát, thống kê sự sử dụng thành
ngữ trên tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần trong 3 năm 2007, 2008, 2009. Sau đó chúng tôi sẽ
nêu những nhận xét về những số liệu vừa nêu, khái quát và phân tích một số luận
điểm về tình hình, đặc điểm và hiệu quả khi sử dụng thành ngữ vào diễn đạt báo chí
như một kĩ năng quan trọng của người làm báo.
Bên cạnh đơn vị ngôn ngữ thành ngữ thì chúng tôi cũng tiến hành kháo sát,
thống kê việc sử dụng quán ngữ trên tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần. Và cũng tương tự như
thành ngữ, chúng tôi cũng nêu lên những nhận xét về số liệu, khái quát và phân tích
một số đặc điểm về quán ngữ liên kết cũng như chức năng và vai trò của quán ngữ
liên kết trong các văn bản xuất hiện trên mặt báo.
Chương 1: MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.Thành ngữ, quán ngữ
1.1.1. Thành ngữ
1.1.1.1.Khái niệm
Cho đến nay, giới nghiên cứu ngôn ngữ học chưa đưa ra được một khái niệm
cố định thống nhất về thành ngữ. Những quan niệm khác nhau đã đưa ra những câu
trả lời khác nhau về thành ngữ.
Nguyễn Thiện Giáp đưa ra nhận định:“Thành ngữ là những cụm từ cố định
vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm…bên cạnh nội dung trí tuệ, các
thành ngữ bao giờ cũng làm theo sắc thái bình giá, cảm xúc nhận định, hoặc là kính
trọng, tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ; hoặc là ái ngại, xót thương…[25; 77].
Nguyễn Văn Tu đã xác lập:“Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó
đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp thành một khối vững
chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải là nghĩa của các thành tố tạo ra.
Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của
chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học”
[79; 185].
Cùng quan điểm trên, Đái Xuân Ninh trong cuốn “Hoạt động của từ tiếng Việt”
cũng đưa ra định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành
đã mất đi tính độc lập ở cái mức nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối
vững chắc và hoàn chỉnh” [58; 212].
Còn GS Đỗ Hữu Châu (1999) trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã
nêu chung khái niệm thành ngữ (trong loại lớn là ngữ cố định) như sau: “Nói ngữ cố
định là các cụm từ cố định hóa là nói chung…Bởi vậy cái quyết định để xác định các
ngữ cố định tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu. Chúng ta nói ngữ
cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị
trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu” [11; 62].
Tác giả Nguyễn Lân trong cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ đưa ra khái
niệm:“Thành ngữ là cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm.” [48; 5 ].
Giáo sư Hoàng Văn Hành là người đã bỏ công sức và tâm huyết để nghiên cứu,
tìm hiểu thành ngữ tiếng Việt. Năm 2004, tác giả đã cho ra đời chuyên khảo “Thành
ngữ học tiếng Việt”. Có thể nói đây là công trình đầu tiên đã nghiên cứu về thành ngữ
trên một qui mô lớn và ở một bình diện chuyên sâu nhất kể từ trước đến nay. Trước
khi đi vào tìm hiểu về nội dung ngữ nghĩa, cấu tạo và phân loại thành ngữ tác giả đã
đi vào phân biệt thành ngữ với tục ngữ. Theo tác giả thì thành ngữ là “một loại tổ hợp
từ cố định, bền vững về hình thái-cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử
dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [ 30;27]. Từ đó
tác giả đã kết luận rằng thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ như tính
bền vững về cấu tạo, tính bóng bẩy về ý nghĩa…Nhưng lại khác tục ngữ về bản chất,
sự khác biệt ấy thể hiện ở chỗ: “Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị
những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu- ngôn bản đặc biệt,
biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật”[30; 31].
Tác giả đã đưa ra những đặc trưng dùng làm tiêu chí để phân biệt thành ngữ
với tục ngữ:
Đặc trưng về hình thái cấu trúc, có vần điệu, có điệp đối: thành ngữ là tổ hợp
từ cố định; tục ngữ là câu cố định.
- Về chức năng biểu hiện nghĩa định danh:
+Thành ngữ định danh sự vật, hiện tượng, quá trình,…
+Tục ngữ định danh sự kiện, sự tình, trạng huống,…
- Về chức năng biểu hiện hình thái nhận thức:
+ Thành ngữ biểu hiện khái niệm bằng hình ảnh biểu trưng.
+Tục ngữ biểu thị phán đoán bằng hình tượng biểu trưng.
- Về đặc trưng ngữ nghĩa:
+Thành ngữ gồm hai tầng ngữ nghĩa được tạo bằng phương thức so sánh và ẩn dụ
hóa.
+Tục ngữ cũng là hai tầng nghĩa được tạo bằng phương thức so sánh và ẩn dụ hóa.
Như vậy, có thể nói giữa thành ngữ và tục ngữ mặc dù có nhiều điểm tương
đồng nhưng về bản chất lại hoàn toàn khác nhau. Sự so sánh giữa thành ngữ và tục
ngữ đã góp phần làm nổi bật những đặc trưng riêng biệt của thành ngữ tiếng Việt trên
nhiều phương diện.
Nói tóm lại, có rất nhiều cách hiểu về khái niệm thành ngữ nhưng dựa vào các
định nghĩa của những nhà nghiên cứu đi trước và căn cứ trong quá trình khảo nghiệm,
tìm hiểu; theo chúng tôi, thành ngữ là cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có chức
năng định danh và mang ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng tương đương như từ.
Tựu trung lại, dù được phát biểu như thế nào đi chăng nữa,thành ngữ phải được
đề cập đến trên ba phương diện: cấu trúc, chức năng và ý nghĩa.
- Về cấu trúc, thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về hình thức và hoàn chỉnh về nội
dung ngữ nghĩa. Thành ngữ biểu thị một khái niệm tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói.
Thành ngữ có thể được dùng ở nhiều biến dạng khác nhau; nhưng căn cứ vào ý nghĩa
hoàn chỉnh vốn có của nó, người ta vẫn có thể đồng nhất các biến dạng của nó vào
một đơn vị duy nhất, ví dụ: nước sôi lửa bỏng- lửa bỏng nước sôi; chết-nết không
chừa- đánh chết mà nết không chừa,…
- Về chức năng hoạt động, thành ngữ có giá trị tương đương với từ. Ví dụ: Mẹ Lan rất
vất vả. Quanh năm, chị ta cứ đầu tắt mặt tối ở ngoài đồng.
- Về ý nghĩa, thành ngữ có tính biểu trưng. Nghĩa của thành ngữ không phải là con số
cộng đơn giản và trực tiếp ý nghĩa của các thành tố như ngữ tự do mà được hình
thành trên cơ sở khái quát, hòa phối phức hợp ý nghĩa biểu trưng của các thành tố,
luyện thành một khối vững chắc khó bị phá vỡ.
1.1.1.2.Đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt
Về hình thức, thành ngữ tiếng Việt có hai đặc điểm là tính cố định và hài hòa
cân đối.
Một cụm từ được xác định là thành ngữ trước hết ở tính cố định của nó. Sử
dụng thành ngữ là một cách tái hiện một đơn vị diễn đạt có sẵn. Tính cố định của
thành ngữ chi phối toàn bộ cấu trúc hình thức của thành ngữ trên ba phương diện:
ngữ âm, từ vựng và quan hệ tổ chức của các thành tố trong thành ngữ. Về ngữ âm,
giữa các thành tố của các thành ngữ có sự kết hợp chặt chẽ về thanh điệu và số lượng
âm tiết; một số thành ngữ còn có vần lưng làm cho mỗi thành ngữ trở thành một đơn
vị độc lập và khép kín. Các mô hình thanh điệu dần dần trở thành quy tắc cấu tạo ngữ
âm của thành ngữ. Các thành ngữ có số lượng âm tiết chẵn (mặt ủ mày chau; tham đó
bỏ đăng; treo đầu dê, bán thịt chó,…) chia thành hai vế đối xứng. Sự phối hợp thanh
điệu đôi khi do mục đích phát ngôn quy định (nói có sách, mách có chứng; rổ rá cạp
lại;…). Về mặt từ vựng, các thành tố trong thành ngữ rất hạn chế khả năng thay thế.
Mỗi thành ngữ là kết quả của một quá trình lựa chọn. Mặt khác, một bộ phận thành
ngữ sử dụng vốn từ cổ, từ mờ nghĩa (cha căng chú kiết); một số thành ngữ có liên
quan đến các điển cố, điển tích (sư tử Hà Đông) hay các phong tục tập quán cũ (đánh
trống bỏ dùi) làm cho ý nghĩa mỗi thành tố trong thành ngữ càng trở nên mờ nhạt.
Khi đó, sự tồn tại của thành ngữ hoàn toàn phụ thuộc vào tính cố kết giữa các đơn vị
thành tố trong thành ngữ. Về mặt tổ chức, giữa hình thức cấu tạo và nội dung thành
ngữ có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Các thành tố được sắp xếp, lựa chọn
sao cho nội dung tư tưởng nêu bật lên thật sâu sắc nhất. Chẳng hạn kết cấu láy ghép
của thành ngữ (ăn bớt ăn xén) có khả năng làm tăng thêm ý nghĩa của từ, biến nghĩa
thực thành nghĩa bóng. Khi so sánh tính chất của sự vật, thành ngữ làm bật ý hoán dụ
hay ẩn dụ, ngoa dụ,… (chua như dấm, chuột sa chĩnh gạo) để làm phương thức
chuyển nghĩa thực sự sang nghĩa bóng. Cơ cấu này là một trong những đặc điểm quan
trọng cố định hóa thành ngữ.
Tính hài hòa cân đối một mặt làm thành ngữ giữ được tính cố định thành phần
từ vựng và kết cấu ngữ pháp, mặt khác tạo nên hiệu quả thẩm mỹ trong diễn đạt. Tính
hài hòa của thành ngữ tiếng Việt dựa trên đặc điểm đơn lập và có thanh điệu. Đa số
thành ngữ tiếng Việt có số lượng âm tiết chẵn, chia thành hai vế bằng nhau về số
lượng âm tiết, giống nhau về kết cấu, thông thường đối nhau về thanh điệu (mẹ
tròn con vuông; chó tha đi, mèo tha lại;…). Quan hệ đối xứng tạo nên ấn tượng
chung về sự thống nhất hài hòa giữa âm thanh và ý nghĩa các yếu tố bên trong thành
ngữ.
Hai vế thành ngữ có quan hệ đẳng lập, mỗi vế là một kết cấu hoàn chỉnh và có
chức năng như nhau trong cơ cấu ngữ nghĩa của thành ngữ. Do đó, khi vận dụng, hai
vế thành ngữ đối có khả năng hoán chuyển hoặc phân ly (vật đổi sao dời hoặc sao dời
vật đổi; quốc sắc thiên tài; người quốc sắc, kẻ thiên tài).
Về nội dung ngữ nghĩa, thành ngữ có hai đặc điểm là tính chỉnh thể hình tượng
và tính hàm súc.
Mỗi thành ngữ là một đơn vị hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, diễn đạt tương đối
trọn vẹn một khái niệm hay một hiện tượng trong đời sống xã hội. Nghĩa của một
thành ngữ không phải là sự cộng gộp ý nghĩa của các yếu tố trong thành ngữ một
cách máy móc. Chẳng hạn, nghĩa của thành ngữ “treo đầu dê, bán thịt chó” không
phải đề cập đến việc mua bán mà ý nghĩa của nó là nói đến sự không thống nhất giữa
hình thức và nội dung, từ đó nâng lên một bước có thể hiểu đó là một hành động giả
dối, lừa đảo. Trong thành ngữ, các yếu tố tham gia có giá trị như một nét tín hiệu
thẩm mỹ. Nghĩa của thành ngữ rút ra trên cơ sở khái quát hóa, trừu tượng hóa của tín
hiệu này. Bản chất của sự việc đưa ra mới là nghĩa của thành ngữ. Vì vậy, cùng một
nghĩa, có thể có nhiều thành ngữ khác nhau. Ví dụ như các thành ngữ: chó ngáp phải
ruồi; buồn ngủ gặp chiếu manh; chuột sa chĩnh gạo;…cùng có ý nghĩa chỉ sự may
mắn. Đó là lí do vì sao nói thành ngữ có tính chỉnh thể hình tượng. Nhờ tính chỉnh
thể hình tượng mà thành ngữ trở thành một phương tiện diễn đạt độc đáo.
Thành ngữ hình thành, tồn tại và phát triển trong lòng xã hội. Thành ngữ thể
hiện tư duy, lối sống, cách ứng xử, cách nhìn nhận sự vật khách quan của con người.
Vì vậy, thành ngữ có mối liên hệ sâu sắc với nền văn hóa của một cộng đồng. Các
yếu tố từ vựng trong thành ngữ là một trong những biểu hiện của mối liên hệ đó. Một
khối lượng lớn các thành ngữ có sử dụng các yếu tố từ cổ, từ địa phương, từ gốc Hán,
có những thành ngữ có liên quan đến các phong tục tập quán lâu đời, các địa danh
văn hóa,…Và hơn hết thành ngữ chính là những biểu hiện sinh động của cuộc sống
nhân dân trong xã hội cũ. Vì vậy, để hiểu nghĩa thành ngữ cần phải có một kiến thức
sâu rộng về đời sống xã hội, văn hóa cổ kim cũng như những hiểu biết nhất định về
ngôn ngữ.
Nghĩa của thành ngữ có liên quan chặt chẽ đến hình thức biểu đạt. Thành ngữ
được cấu tạo dựa trên những đặc điểm của tiếng Việt về phương thức cấu âm, phương
thức cấu tạo từ và các quy tắc kết hợp. Đặc điểm quan trọng nhất trong cơ cấu nghĩa
của thành ngữ chính là mối tương quan giữa các yếu tố trong thành ngữ mà thông
thường các từ ngữ biểu thị mối quan hệ này đã bị lược bỏ. Ví dụ thành ngữ “ăn mày
đòi xôi gấc” có thể hiểu là ((đã là) “ăn mày” (mà còn) “đòi xôi gấc”). Bên cạnh đó
còn có hiện tượng nói lửng “như bóng với hình, như môi với răng”,…chính chỗ thiếu
này là chỗ để ta tự lựa chọn đối tượng miêu tả và đưa vào cho thích hợp. Ngoài ra,
các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,…được sử dụng rất nhiều trong cấu tạo
thành ngữ cũng làm cho nghĩa thành ngữ trừu tượng hơn: bán như cho, đen như than,
vắt chày ra nước; cá chậu chim lồng; bán mặt cho đất, bán lưng cho trời,…Nhờ
những cơ chế cấu tạo như trên mà thành ngữ luôn có tính cô đọng, hàm súc. Sử dụng
nó vào quá trình tạo lời hay giao tiếp vì vậy cũng sẽ ngắn gọn, hàm súc, cô đọng hơn.
Ngoài ra, bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo các
sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai,
khinh bỉ; hoặc là ái ngại xót thương;…Do vậy, thành ngữ giúp cho người sử dụng
ngôn ngữ bày tỏ tình cảm, thái độ của mình một cách thích hợp, đúng lúc. Đặc biệt sử
dụng đúng lúc, đúng chỗ bao giờ cũng đạt tới sự đắc địa, sâu sắc, thỏa đáng.
Tất cả những đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa trên của thành ngữ đã tạo giá
trị cho thành ngữ, giúp nó trở thành một trong những đơn vị ngôn ngữ được sử dụng
nhiều tạo ra những hiệu quả nhất định, từ đó, giúp nó có chỗ đứng và vị thế vững
chắc trong hệ thống ngôn ngữ.
1.1.1.3. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ đều là những đơn vị có sẵn trong lời nói. Chúng được
sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt của xã hội. Chúng có tính cố định và cũng mang
tính sẵn có chính vì những nét chung đó làm cho nhiều người khó khăn trong việc
nhận diện thành ngữ với tục ngữ. Tuy nhiên, thành ngữ và tục ngữ là hai cấp độ khác
nhau. Cho nên mỗi loại có những đặc điểm riêng cần được xác định rõ ràng.
Sự khác nhau giữa thành ngữ với tục ngữ có thể dựa vào 3 cấp độ sau:
1) Cú pháp: xét về mặt cấu tạo sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở
cấp độ. Thành ngữ nằm ở cấp độ thấp hơn tục ngữ. Bởi vì hầu hết thành ngữ có cấu
tạo là cụm từ, còn tục ngữ hầu hết có cấu tạo là câu. Ví dụ:
Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ:
Anh hùng rơm -
Bạn nối khố -
Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ:
- Chạy long tóc gáy
- Ném đá dấu tay
Thành ngữ có cấu tạo là cụm tính từ:
- Dai như đỉa đói
- Chậm như rùa
Bầm gan tím ruột -
Trong khi đó tục ngữ là câu.
Ví dụ:
- Cái nết đánh chết cái đẹp
Thật thà là cha quỷ sứ -
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây -
Do thành ngữ ở cấp độ thấp hơn tục ngữ nên trong nhiều trường hợp tục ngữ lấy
thành ngữ làm yếu tố cấu tạo nên nó.
Ví dụ:
Mẹ gà con vịt chắt chiu
Mấy đời mẹ ghẻ nâng niu con chồng
(Tục ngữ)
Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon
(Tục ngữ)
Trong nhiều trường hợp, thành ngữ và tục ngữ có sự lồng chéo. Nhiều thành ngữ có
cấu tạo là kết cấu chủ vị (c-v) thậm chí là hai kết cấu c-v, có điều chức năng của nó
vẫn là ngữ, hoạt động trong câu như từ. Ví dụ : ăn nói nên cẩn thận coi chừng nhà có
ngạch vách có tai.
- Nhà có ngạch, vách có tai
- Ông ăn chả, bà ăn nem
Nhưng có khi tục ngữ lại có cấu tạo là cụm từ
Ví dụ:
Lời nói đọi máu -
Như thế nếu chỉ dựa vào cấu tạo, trong nhiều trường hợp ta khó phân biệt đâu
là thành ngữ đâu là tục ngữ. Muốn vậy ta phải phân biệt chúng ở mặt thứ hai là mặt
chức năng ngữ nghĩa.
2) Ngữ nghĩa: Thành ngữ là đơn vị từ vựng mang tính hoàn chỉnh về nghĩa. Nội dung
của thành ngữ là những khái niệm. Do đó chức năng của nó là chức năng định danh.
Tục ngữ là câu với ý nghĩa trọn vẹn và hoàn chỉnh. Nội dung của tục ngữ là những
phán đoán. Do đó nó có chức năng thông báo. Nghĩa của thành ngữ tương đương với
nghĩa của từ, cụm từ; trong khi nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá,
một sự khẳng định về chân lí, lẽ thường, tư tưởng hoàn chỉnh.
Quan hệ nội dung giữa thành ngữ và tục ngữ là quan hệ giữa khái niệm với phán đoán.
3) Hành chức: thành ngữ có nghĩa tương đương một từ, được sử dụng để cấu tạo câu
hoặc phát ngôn. Tục ngữ tạo câu một cách độc lập.
Có thể khẳng định điểm giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở tính cố định,
có sẵn.
Sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ chỉ có tính chất tương đối. Bởi ở những điều
kiện sử dụng cụ thể vẫn xảy ra hiện tượng đơn vị này được dùng như đơn vị kia.
Ví dụ: được voi đòi tiên, già kén kẹn hom,…
1.1.1.4. Phân biệt thành ngữ với từ ghép
Từ ghép là tên gọi thuần túy của sự vật, hiện tượng, khái niệm còn thành ngữ là
tên gọi gợi cảm của chúng. Giá trị gợi cảm của thành ngữ được tạo ra nhờ sự tồn tại
song song của hai phương diện nghĩa: nghĩa từ nguyên và nghĩa thực tại của thành
ngữ.
Ví dụ: thành ngữ “Chở củi về rừng”, nghĩa khi sử dụng thành ngữ này là làm
một việc thừa, vô ích. Ở từ ghép, nghĩa từ nguyên chủ yếu chỉ đóng vai trò cấu tạo ý
nghĩa chung của cả đơn vị. Còn ở thành ngữ nghĩa từ nguyên không chỉ cấu thành ý
nghĩa chung mà còn tạo cho thành ngữ giá trị biểu cảm nữa. Vì vậy, sau khi từ ghép
hình thành thì vai trò của nghĩa từ nguyên sẽ chấm dứt nhường chỗ cho nghĩa thực tại
khi sử dụng. Đối với thành ngữ, nghĩa từ nguyên là nghĩa hoàn toàn độc lập tồn tại
bên cạnh ý nghĩa thực tại. Nghĩa từ nguyên quy định ý nghĩa thực tại và sắc thái biểu
cảm của ý nghĩa đó.
Từ ghép chính phụ thường có khả năng diễn đạt đồng thời quan hệ tổng loại và
tiểu loại. Ví dụ: “bàn nhựa”. Một mặt nó biểu thị tổng loại chung là bàn. Mặt khác lại
biểu thị một loại bàn riêng. Bàn làm bằng chất liệu nhựa.
Trong khi đó ý nghĩa của thành ngữ luôn cụ thể. Ví dụ thành ngữ “Lúng túng như gà
mắc tóc” biểu thị tình trạng lúng túng do rơi vào nhiều sự việc dồn dập mà không có
cách giải quyết.
Thành ngữ chỉ hình thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi sự bình giá
và biểu cảm. Trong phạm vi hoạt động trí tuệ, thành ngữ rất ít xuất hiện. Còn từ ghép,
nó dễ dàng hình thành và xuất hiện ở tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người để
thực hiện một cách mau lẹ và có hiệu quả hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ là giao
tiếp và tư duy.
1.1.2.Quán ngữ
1.1.2.1.Khái niệm
Chúng ta đã biết, quán ngữ là kiểu đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi quan tâm
trước hết là các nhà nghiên cứu từ vựng. Chính vì thế mà khái niệm này thường được
gặp trong các sách từ vựng hơn là các sách ngữ pháp.
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong “Giáo trình ngôn ngữ học”: Quán ngữ là
những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy,
rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong cách chức năng
thường có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ: của đáng tội, nói khí vô
phép, nói bỏ ngoài tai, còn mồ ma,...thường được dùng trong phong cách hội thoại.
Các quán ngữ: như trên đã nói, có người cho rằng, có thể nghĩ rằng,…dùng trong
phong cách sách vở. Về ý nghĩa cũng như về hình thức, các quán ngữ chẳng khác gì
cụm từ tự do nhưng nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải dùng
đến trong suy nghĩ và diễn đạt mà chúng được dùng như những đơn vị có sẵn [ 28;
210].
Cùng với quan điểm này, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ Quán ngữ là những cách
nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn, để nhập đề chứ không
có tác dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật,
hiện tượng, tính chất,...chưa có tên gọi”[11; 73-74].
Ví dụ: chắc chắn là, rõ ràng là, nói tóm lại, ngược lại, một mặt thì, mặt khác
thì, đáng chú ý là, nghĩa là, tức là, trước hết,…
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến định nghĩa:
“Quán ngữ là cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các diễn từ thuộc các phong
cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, nhấn mạnh hoặc liên
kết trong diễn từ”.
Ví dụ: của đáng tội, nói bỏ ngoài tai, nói tóm lại, kết cục là, nói cách khác,…
[ 15; 161].
Mặt khác, theo quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Văn Tu thì
thuộc vào quán ngữ còn có các kết cấu kiểu: đẹp như tiên, đau như cắt, ngang như
cua, nhát như cáy, bạn nối khố, anh hùng rơm, ăn ngon mặc đẹp, làm trâu ngựa, yêu
nước thương nòi, hao binh tổn tướng,…Chúng được gọi là các quán ngữ gợi hình.
Tuy nhiên, không ít nhà từ vựng học tỏ ý bất đồng với quan điểm này. Họ chủ trương
xếp các kiểu đơn vị vừa nêu vào hệ thống thành ngữ.
Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi tìm hiểu loại quán ngữ có chức năng
liên kết (gọi tắt là quán ngữ liên kết) trên các văn bản báo chí.
Trên cơ sở ý kiến của các nhà Từ vựng học về khái niệm quán ngữ liên kết,
chúng tôi có thể tổng kết như sau:
- Quán ngữ liên kết là ngữ cố định (tổ hợp từ), có tính ổn định về kết cấu, có tính
thành ngữ về nghĩa khá thấp, không mang tính biểu trưng, tính hình ảnh như thành
ngữ. Chúng có chức năng chủ yếu là kết nối các câu, các đoạn,...trong văn bản.
- So với hư từ (từ nối), nội hàm nghĩa của phần lớn quán ngữ thường phong phú hơn,
phức tạp hơn, lại giàu sắc thái chủ quan và mang tính khẩu ngữ tự nhiên.
- Sử dụng lặp đi lặp lại thành quen dùng như một cách nói chuyên dụng.
1.1.2.2. Đặc trưng của quán ngữ liên kết
Như chúng ta đã biết, đơn vị làm chất liệu để cấu tạo nên câu không chỉ có từ mà
còn có một đơn vị khác được gọi là cụm từ cố định. Cụm từ cố định là những đơn vị
do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách là một đơn vị sẵn có như từ.
Trong cụm từ cố định, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng
Trọng Phiến chia thành hai loại lớn thành ngữ và ngữ cố định. Ngữ cố định lại chia
thành quán ngữ và ngữ cố định định danh.
cụm từ cố định
ngữ cố định
Thành ngữ Ví dụ: mẹ tròn con vuông…
Quán ngữ Ví dụ: của đáng tội… ngữ cố định định danh Ví dụ: mặt trái xoan…[12,156]
Quán ngữ với tư cách là những cụm từ thường cố định được dùng lặp đi lặp lại
trong các phát ngôn thuộc các phong cách khác nhau. Thứ nhất chức năng của chúng
là đưa đẩy, rào đón, nhấn mạnh hoặc để liên kết trong các phát ngôn. Chính vì vậy ta
thấy tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ. Thứ hai là, dáng
vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Thứ ba là
cách cấu trúc nghĩa giống với cấu trúc nghĩa của cụm từ tự do hơn là thành ngữ.
1.1.2.3. Phân loại quán ngữ liên kết
Chúng tôi phân loại quán ngữ liên kết dựa vào 2 tiêu chí:
a) Dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng có thể chia thành hai loại như
sau:
a1) Các quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ:
Ví dụ: của đáng tội, khí vô phép, khổ một nỗi là, nói bỏ ngoài tai, nói dại đổ đi, còn
mồ ma, nói (…) bỏ quá cho, cắn rơm cắn cỏ, chẳng nước non gì, đùng một cái, nói
trộm bóng vía,…Ví dụ:
- Tôi về đây, mai có việc bận, không thể ở lại được (…) một cô đầu lê bước ra hé cửa.
Tối lắm, phải vạ gì mà đi bây giờ.
(Bài của Tuyển tập Truyện ngắn Thạch Lam, tr.162)
Với những quán ngữ dùng trong phong cách này, chức năng chủ yếu của chúng là
đưa đẩy, rào đón,…còn chức năng liên kết cũng có nhưng rất mờ nhạt.
a2) Các quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận,…) hoặc
diễn giảng:
Ví dụ: nói tóm lại, có thể nghĩ rằng, ngược lại, một mặt thì, mặt khác thì, có nghĩa là,
như trên đã nói, từ đó suy ra, có thể cho rằng, như dưới đây, như đã nêu trên, sự thực
là, vấn đề là ở chỗ, đáng chú ý là, tức là, nghĩa là, một là, hai là, một mặt, mặt
khác,…
Với những quán ngữ loại này, chúng ta gọi là quán ngữ liên kết. Ví dụ:
- Nhìn chung về kinh tế thế giới, hiện nay nhiều quốc gia vẫn còn khó khăn dù có
dấu hiệu phục hồi.
(Bài của PGS. TS Trần Hoàng Ngân, số 33, ngày 23.8.2009, tr.4)
- Nói chung, trình độ chuyên nghiệp ở tất cả các mặt rất cao, làm thật ăn thật.
(Bài của Khổng Loan, số 33, ngày 23.8.2009, tr.31)
Trong quán ngữ loại này, ngoài chức năng liên kết, quán ngữ liên kết cũng biểu
thị chức năng rào đón, đưa đẩy,…nhưng chức năng đó của quán ngữ không nổi rõ
như loại quán ngữ dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ nói trên.
b) Dựa vào vị trí của quán ngữ trong liên kết ta chia làm ba loại như sau:
b1) Quán ngữ liên kết được dùng để mở đầu câu được gọi là khởi ngữ: trước tiên, một
là, hai là, thứ nhất là,…
b2) Quán ngữ đứng ở giữa câu thường mang nhiều chức năng khác nhau như: nhấn
mạnh, giải thích, chuyển ý, minh họa: tức là, nghĩa là, đặc biệt là, đáng chú ý là,
chẳng hạn như,…
b3) Quán ngữ đứng ở cuối câu thường mang chức năng hồi cố, tức là đưa người đọc
trở lại với những vấn đề đã nhắc ở phần trước. Chín những quán ngữ này giúp cho
người viết có thể kết luận nhưng không cần thiết nhắc lại những vấn đề đó lại.
Chúng tôi cũng xin nói rằng sự nhận định này chỉ mang tính tương đối, bởi
thực tế thì vị trí của quán ngữ thực hiện chức năng liên kết trong văn bản là rất linh
hoạt. Cùng một quán ngữ nhưng có khi nó đứng đầu phát ngôn, khi đứng giữa phát
ngôn, khi lại đứng ở cuối phát ngôn. Điều này phụ thuộc vào từng ngữ cảnh và nội
dung văn bản thể hiện.
1.1.2.4. Phân biệt quán ngữ với thành ngữ
“Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của
chúng có tính hình tượng hoặc gợi cảm” [15; 157].
Điểm gặp gỡ giữa quán ngữ và thành ngữ là tính cấu trúc ổn định và được sử
dụng thường xuyên trong nhiều phong cách khác nhau.
Điểm khác biệt là:
1) Thành ngữ luôn mang hàm ý so sánh, nhận xét, nặng về nội dung.
Ví dụ: Ba cọc ba đồng, chó cắn áo rách, lạnh như tiền, dai như đỉa, rẻ như bèo,…
- Quán ngữ chủ yếu dùng để mở ý, chuyển ý, nặng về hình thức.
Ví dụ: nói cách khác, nói tóm lại, như trên đã trình bày, thiết tưởng, phải chăng, như
vừa trình bày, có thể khái quát như sau, thiết nghĩ, ngoài ra,…Chẳng hạn như:
- Như tôi đã nói là có những vấn đề chúng ta chưa có kinh nghiệm, có những hiện
tượng trước đây chưa xuất hiện, do vậy việc nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các quy
định có liên quan là cần thiết.
(Bài của Võ Văn Thành, số 47, ngày 29.11.2009, tr.5)
- Ngoài ra, để tạo ra sự phát triển kinh tế cân bằng hơn, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ rất cần thiết.
(Bài của Hương Giang, số 47, ngày 29.11.2009, tr.13)
2) Thành ngữ mang chức năng định danh. Quán ngữ không có tác dụng định danh.
1.1.2.5. Phân biệt quán ngữ với từ nối
Trong tiếng Việt, từ nối (hay còn gọi là các quan hệ từ) có chức năng nối kết
các thành phần trong câu, nối các câu và các đoạn văn trong văn bản. Đó là các từ
như: tất nhiên, tuy vậy, do đó, vì vậy,…
a) Điểm giống nhau giữa quán ngữ và từ nối là chúng đều là các tổ hợp từ cố định;
đều có chức năng liên kết các câu, các đoạn văn.
b) Điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là:
b1) Quán ngữ vừa có chức năng liên kết vừa có chức năng đưa đẩy, rào đón; còn từ
nối đơn thuần chỉ mang chức năng liên kết. Chẳng hạn ta so sánh ví dụ sau:
- Hơn nữa, xét theo góc độ “người dân được làm những gì pháp luật không cấm”,
thì nguyên tắc “im lặng là đồng ý” phải đương nhiên được áp dụng rộng rãi chứ
không chỉ ở mức khuyến khích.
(Bài của Võ Văn Thành, số 40, ngày 11.10.2009, tr.5)
- Rõ ràng đó là món đồ hay nhất tôi mua được ở đây.
(Bài của Hương Giang, số 40, ngày 11.10.2009, tr.16)
- Dù vậy, đất sống cho ca trù Sài Gòn thật sự không nhiều.
(Bài của Hoàng Mai- Hà Ánh Dương, số 40, ngày 11.10.2009, tr. 33)
Ở đây, ta thấy:
“Hơn nữa” “rõ ràng” là liên kết diễn giải, đệm thêm để hiểu rõ hơn nội dung của
mệnh đề.
“Đương nhiên”, “dù vậy” chỉ đơn thuần liên kết khi thể hiện quan hệ nhân quả.
b2) Quán ngữ có cấu tạo lỏng; từ nối có cấu tạo chặt.
b3) Quán ngữ liên kết thường là những tổ hợp có nhiều yếu tố. Như đã nói ở trên,
quán ngữ được tạo thành là do chúng ta dùng lâm thời rồi cố định hóa thành các quán
ngữ; còn từ nối thường ngắn gọn và cố định được tạo ra cùng với những đơn vị từ
tiếng Việt. So sánh hai ví dụ:
- Như anh đã nói đó thôi, nghề môi giới cầu thủ đòi hỏi mối quan hệ cực tốt với giới
bóng đá và cầu thủ, mà tôi thì chỉ mới tập chập chững vào nghề.
(Bài của Nguyên Khôi, số 40, ngày 11.10.2009, tr.36)
Như vậy, ta thấy rằng với quán ngữ “như đã nói” hoặc “như đã nói trên”,…ta có thể
chêm xen hay tách ghép chúng (ta có thể nói “như anh đã nói đó thôi”, “như tôi đã
nói ở trên”) nhưng với các từ nối “bởi vì”, “sở dĩ”,…thì chúng ta không thể chêm xen
hay tách chúng ra được.
c) Quán ngữ liên kết thường là những tổ hợp có nhiều yếu tố. Như đã nói ở trên, quán
ngữ được tạo thành là do chúng ta dùng lâm thời mà cố định hóa; còn từ nối thường
ngắn gọn và cố định được tạo ra cùng với các đơn vị từ tiếng Việt. Chẳng hạn, quán
ngữ liên kết thường là các tổ hợp như: suy cho cùng, nói tóm lại, có thể nói rằng, cam
đoan rằng, cần phải nói thêm rằng, có thể tóm tắt như sau,…Còn từ nối thường là: do
đó, vì vậy, cho nên, tất nhiên, đương nhiên, bởi vì, sở dĩ, dù vậy,…
Như vậy, ta thấy giữa quán ngữ và từ nối vẫn có những điểm tương đồng và
khác biệt. Do đó trong quá trình sử dụng, ta cần phân biệt sự khác nhau tinh tế giữa
chúng.
Về ý nghĩa cũng như hình thức, quán ngữ chẳng khác gì cụm từ tự do, nhưng
do nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải cần đến trong sự suy
nghĩ và diễn đạt mà chúng được dùng lặp đi lặp lại như một đơn vị sẵn có. Do đặc
điểm trên quán ngữ chiếm vị trí trung gian giữa cụm từ tự do và các kiểu cụm từ cố
định (thành ngữ, ngữ định danh), các quán ngữ gắn liền với phong cách riêng. Ví dụ
nó thường được dùng trong các phong cách hội thoại như: của đáng tội, nói khí vô
phép, nói bỏ ngoài tai,…Các quán ngữ: thiết nghĩ, nói tóm lại, trước hết, ngược lại,
đáng chú ý là,…thuộc phong cách sách vở.
“Trong tiếng Hán cũng có khái niệm “quán ngữ dụng”: quán dụng ngữ là cụm
từ tương đối ổn định, gần gũi với quần chúng và được quần chúng thường xuyên sử
dụng. Quán dụng ngữ được lưu truyền rộng rãi trong quần chúng, dù là già trẻ gái trai,
hay dù trình độ văn hóa cao thấp đều hiểu được ý nghĩa của chúng và đều có thể vận
dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Loại hình thức ngôn ngữ này có sức sống rất
mãnh liệt, nó giúp cho đời sống ngôn ngữ thêm sống động, giúp cho cách diễn đạt
thêm phong phú.
Đặc điểm của quán dụng ngữ là dùng phương thức vận dụng miêu tả, tỉ dụ,
nghĩa bóng để hình tượng hóa, cụ thể hoá nội dung biểu đạt, mang đến cho người ta
những ấn tượng sâu sắc” [38; 51].
Cần nói thêm rằng mọi sự phân chia chỉ có tính chất tương đối, bởi luôn tồn tại
những đơn vị trung gian, đơn vị đa nghĩa, đa chức năng. Nên sự phân biệt từ ghép-
thành ngữ- quán ngữ- ngữ tự do cũng không ngoại lệ.
1.2.Văn bản
1.2.1. Khái niệm
Cũng như các đơn vị khác trong ngôn ngữ, văn bản là một trong những đơn vị
rất phức tạp, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, xuất phát từ những góc
nhìn và quan điểm nghiên cứu không giống nhau. Ta có thể hệ thống hóa một số cách
định nghĩa văn bản theo từng góc độ như sau:
a) Hướng nghiên cứu thiên về nhấn mạnh mặt hình thức:
L.Heelmslev (1953), cho rằng “…Văn bản được xét như một lớp phân chia
được thành các khúc đoạn” .Còn W. Koch, 1966, thì“Văn bản được hiểu ở bậc điển
thể là các phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có liên kết, có tính độc lập và đúng về ngữ
pháp”. R. Harweg, 1968, lại cho rằng Văn bản là một chuỗi nối tiếp của các đơn vị
ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc
diện”. Bên cạnh đó, N. Nunan,1983, lại quan niệm “Văn bản là thuật ngữ để chỉ bất
kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp”(dẫn theo Phan Mậu Cảnh [9;
27]).
b) Hướng thiên về nhấn mạnh mặt nội dung
TheoL.M.Loseva, 1908, “Văn bản là điều thông báo viết có đặc trưng là tính
hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được
thông báo…Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể có nhiều câu (ít khi là
một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng- cú pháp”.
“Văn bản như là một đơn vị ngữ nghĩa: Một đơn vị không phải là của hình
thức mà là của ý nghĩa” [9; 28].
c) Hướng tổng hợp
“Văn bản là: Một quảng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề
tài- chủ đề,…của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ,
một đơn thuốc, một biển chỉ đường,…Lại có quan niệm cho rằng Văn học: trước hết
được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách…Còn trong phân tích diễn
ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dùng cho
ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản.
Từ những nhận định trên, ta có thể đi đến kết luận như sau:
“Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời
viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài,…loại như một truyện kể, một bài thơ,
một đơn thuốc, một biển chỉ đường,…” [9 ; 28-29]
d) Hướng phân biệt văn bản và diễn ngôn
Cook (1989), cho rằng “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt
hình thức, bên ngoài ngữ cảnh. Diễn ngôn là một chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là
trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích”. Còn Hồ Lê (1996), lại quan niệm
“Văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm viết để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn
đề hoặc một hệ thống vấn đề. Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm- nói để diễn
đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề , một hệ thống vấn đề.
Văn bản/ ngôn bản là loại lời lớn nhất”.
Vậy, ta xác định khái niệm văn bản từ các định nghĩa trên như sau:
“Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được tạo lập bởi sự
liên kết các câu, các đoạn văn,…tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình
thức, và có tính độc lập” [6; 29-30].
Với cách hiểu chung như vậy, ta thấy văn bản mang một số đặc điểm cơ bản
sau:
a) Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong khi nói hay viết
hằng ngày của con người.
b) Văn bản (ở đây chúng ta nhắc đến là văn bản thông dụng, bình thường và điển
hình chứ không phải các văn bản đặc biệt) phải có sự liên kết của nhiều câu với nhau,
và thông thường có nhiều đoạn văn gắn kết với nhau cùng hướng về một chủ đề
chung của văn bản.
c) Văn bản có tính hoàn chỉnh về nội dung và hình thức. Đây là đặc điểm nổi bật nhất
của văn bản. Chính yếu tố này quy định sự thống nhất trong mạch lạc của văn bản
thông qua sử dụng các phương tiện liên kết.
d) Văn bản có tính độc lập, tức là việc tồn tại và hiểu văn bản hoàn toàn không phụ
thuộc vào ngữ cảnh sử dụng chúng.
e) Văn bản có tính liên kết. Tính liên kết là đặc trưng quan trọng nhất của văn bản.
1.2.2. Liên kết hình thức trong văn bản
Như đã nói, liên kết là đặc trưng quan trọng nhất của văn bản. Vậy liên kết là
gì? Trên thực tế cách hiểu về liên kết không hoàn toàn đồng nhất giữa các nhà nghiên
cứu ngôn ngữ.
Tác giả Diệp Quang Ban trong công trình nghiên cứu của mình cho rằng “liên
kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong câu (hai mệnh đề) theo
cách giải thích nghĩa cho nhau. Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai
yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì
phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng
liên kết được với nhau” [ 8 ; 347].
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản” quan niệm
rằng “Mạng lưới các mối quan hệ giữa các câu trong một văn bản như thế gọi là liên
kết của nó” [73 ; 22]. Ông cho rằng liên kết nội dung và hình thức có mối quan hệ
biện chứng chặt chẽ với nhau. Liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các
phương thức liên kết hình thức và liên kết hình thức chủ yếu để diễn đạt nội dung.
Đồng thời từ liên kết nội dung tác giả tách thành hai bình diện là liên kết chủ đề và
liên kết logic.
Trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp cũng có đề cập
đến liên kết. Theo đó “Liên kết là dấu hiệu hình thức chỉ ra các kiểu quan hệ giữa
các câu trong diễn ngôn” [28 ; 436].
Tác giả Phan Mậu Cảnh trong công trình “Lý thuyết và thực hành văn bản
tiếng Việt” định nghĩa “Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ về nội dung giữa các
thành tố trong văn bản được thể hiện qua những hình thức liên kết nhất định, đồng
thời là mối quan hệ giữa văn bản và những nhân tố ngoài văn bản được thể hiện qua
những dấu hiệu nhất định” [9 ; 35]. Theo ông, liên kết hình thức trong văn bản: “là
một phương tiện quan trọng của liên kết nhằm thể hiện nội dung, chủ đề của văn bản.
Các đơn vị liên kết trong văn bản là các thành tố tham gia vào trong kết cấu
của văn bản, trong đó có hai thành tố quan trọng, cơ bản và điển hình nhất là câu và
đoạn văn. Để tiện việc trình bày liên kết hình thức, người ta quy ước: trong hai câu
liên kết với nhau, có một câu gốc làm cơ sở gọi là câu chủ ngôn và câu sau liên kết
với câu chủ ngôn gọi là câu kết ngôn. Các phép liên kết (hay còn gọi là các phương
tiện liên kết) bao gồm: phép quy chiếu, phép nối, phép lặp, phép thế, phép tỉnh lược"
[9 ; 44].
Do đó ta có thể định nghĩa phép liên kết là cách thức sử dụng các yếu tố hình
thức để thể hiện liên kết nội dung trong văn bản. Nói cách khác, phép liên kết là sự
thể hiện liên kết nội dung thông qua hệ thống phương tiện hình thức. Phương tiện liên
kết hình thức dùng để thực hiện liên kết các thành tố trong văn bản.
1.1.3.3. Các phương tiện liên kết hình thức trong văn bản
Cùng với sự đa dạng phong phú của các kiểu liên kết trong văn bản, các
phương tiện liên kết dùng để biểu thị tính liên kết cũng vô cùng phong phú đa dạng.
Tuy nhiên nhìn đại thể, các phương tiện sau đây vẫn thường nhất trí xem là các
phương tiện thực hiện chức năng liên kết trong văn bản.
a) Phép nối: “Phép nối là việc dùng các từ ngữ có chức năng liên kết các câu trong
văn bản” [ 9 ; 297]. Phép nối có 2 loại: phép nối lỏng và phép nối chặt.
Phép nối lỏng: “là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong kết ngôn những
phương tiện từ vựng (từ, cụm từ) không làm biến đổi cấu trúc của nó và diễn đạt một
quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi mà ngôi còn lại là chủ ngôn [ 9 ; 297].
a1) Phép nối lỏng được thực hiện theo hai cách :
1) Cách dùng từ và các cụm từ làm thành phần chuyển tiếp. Cụ thể như sau :
* Các từ liên kết: đồng thời, nhìn chung, vả lại, thậm chí, cho nên, cuối cùng, bởi lẽ,
nói chung, bao gồm,…
* Các tổ hợp từ cố định hóa như: thứ nhất, thứ hai, trước tiên, sau cùng, tóm lại, một
là, hai là, ngoài ra, mặt khác, một mặt,…
* Các tổ hợp “từ nối + đại từ” như: trên đây, sau đây, vì vậy, như vậy,… Ví dụ:
- Nói tóm lại, người ta có quyền vứt xuống dòng nước đã nuôi dưỡng bao đời cha
ông mình tất cả những gì uế tạp nhất.
(Bài của Mạc Đại, số 24, ngày 21.6.2009, tr. 42)
- Nhưng trước tiên, mùa hè là mùa “độc quyền” của tuổi học trò.
(Bài của Bùi Diệp, số 24, ngày 21.6.2009, tr.17)
Nhìn chung, “các từ ngữ làm chức năng chuyển tiếp thường đứng ở đầu câu
sau, có liên kết hồi quy với câu trước” [9 ; 297].
2) Cách dùng phụ từ làm chức năng liên kết lâm thời “Phụ từ vốn là những từ đi kèm
với động từ, tính từ. Một số phụ từ trong số đó được dùng như những phương tiện
liên kết câu: cũng, vẫn, chưa, vẫn, còn, đã, đang,…” [9 ; 297]. Một số phụ từ đi kèm
với danh từ, đại từ làm phương tiện liên kết câu như: nói chung, nhìn chung, nói cách
khác, nói riêng,… Ví dụ:
- Nói chung mùa hè là học tuốt.
(Bài của Bùi Diệp, số 24, ngày 21.6.2009, tr.17)
Như vậy, các phương tiện liên kết câu bằng phép nối rất phong phú, đa dạng.
Ta có thể chia chúng thành các nhóm quan hệ:
1) Thứ nhất là quan hệ định vị bao gồm định vị thời gian và không gian
- Nhóm định vị thời gian, gồm :
+ Thời gian kế tiếp: sau đó, vẫn còn, trước hết, trước tiên là, sau là, nhất là,…
+ Thời gian đảo: trước hết, sau khi, như đã nói trên,…
+ Thời gian đồng thời: đồng thời, trong đó, trong khi, cho nên,…
+ Thời gian đột biến, ngắt quãng: bỗng nhiên, tuy nhiên, trái lại,…
- Định vị không gian gồm: hiện nay, bên cạnh, gần đây, mới đây,…
2) Thứ hai là quan hệ logic diễn đạt :
- Trình tự diễn đạt:
+ Mở đầu: trước hết, trước tiên, thoạt tiên, đầu tiên, sau đây, một là,…
+ Diễn biến: trở nên, ở trên, như trên đã nói, bao gồm, rõ ràng là, do vậy, đồng
thời,…
+ Kết thúc: cuối cùng, tóm lại, nhìn chung, kết luận rằng, kết quả là,...
- Thuyết minh, bổ sung:
+ Giải thích: tức là, nghĩa là, nói cách khác, cụ thể là, suy cho cùng, thiết nghĩ,…
+ Minh họa: ví dụ, thí dụ, chẳng hạn,…
+ Bổ sung: ngoài ra, hơn nữa, theo đó, cũng cần nói thêm, còn nữa,…
- Xác minh, nhấn mạnh:
+ Xác nhận: thật vậy, rõ ràng là, quả nhiên, tất nhiên, như vậy, như sau, sau đây,…
+ Chính xác hóa: thật ra, nói đúng ra, sự thật là, cam đoan rằng,…
+ Nhấn mạnh: đặc biệt, nhất là, đáng chú ý là, chính thế, chính là,…
3) Thứ ba là quan hệ logic sự vật :
- Quan hệ nhân quả: thì ra, hóa ra, như vậy, vì vậy, thế là, cho nên,…
- Quan hệ tương phản: tuy nhiên, tuy vậy, thế nhưng, một mặt, mặt khác,…
- Quan hệ đối lập: ngược lại, trái lại,…
a2) Phép nối chặt: là phương thức liên kết của ngữ trực thuộc thể hiện bằng sự có
mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy) hoặc chỗ kết thúc
(liên kết dự báo) của nó, tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ trực
thuộc với chủ ngôn.
Như vậy, nối chặt là một biện pháp mà thông qua từ ngữ liên kết, các câu trong chuỗi
lời nói liên kết chặt chẽ hơn [9 ; 297-298]. Ví dụ :
Tôi thấy khoa học xã hội phải làm cho con người Việt Nam ta tốt đẹp, cao thượng.
Giá trị con người là ở chỗ đó. Như vậy người làm khoa học xã hội phải là người có
những đức tính như thế. Cho nên tôi luôn phải nhấn mạnh với các đồng chí những
điều này. (Phạm Văn Đồng) [8 ; 364].
b) Phép lặp: là việc dùng lại (giữ nguyên) ở các câu kết ngôn các yếu tố đã xuất hiện
trong câu chủ ngôn. Nói cách khác, lặp là việc sử dụng những từ ngữ giống nhau ở
những câu khác nhau trong văn bản. Trong liên kết văn bản, phép lặp được thể hiện
bằng các kiểu:
- Lặp từ vựng: lặp lại các từ ngữ ở câu chủ ngôn và kết ngôn [9 ; 300]. Ví dụ:
Đấy là lập luận trí tuệ và logic của người lớn. Nhưng, ô hay, mùa hè là mùa của các
cháu cơ mà. Nếu quan tâm, chỉ xin giúp các cháu nghỉ hè sao cho có ích, đừng “trầm
trọng hóa” mùa hè.
(Bài của Bùi Diệp, số 24, ngày 21.6.2009, tr.17)
- Lặp ngữ âm: các bộ phận ngữ âm trong tiếng được lặp lại ở những câu khác nhau
trong đoạn hay văn bản. Ví dụ:
“Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên”
- Lặp cú pháp: là lặp lại cấu trúc của câu chủ ngôn ở các câu kế cận trong văn bản. Ví
dụ:
- “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, một dân
tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải
được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.
Nhìn chung, lặp là một biện pháp liên kết có chức năng: ngoài chức năng liên
kết nó còn có tác dụng duy trì chủ đề, đề tài đồng thời có tác dụng nhấn mạnh, khắc
sâu một nội dung, ý nghĩa nào đó [6 ; 301].
c) Phép thế:“là phép dùng những từ ngữ khác nhau ở trong các câu kết ngôn nhưng
có cùng ý nghĩa với yếu tố trong câu chủ ngôn”. Có các loại phép thế sau:
- Thế đại từ: “đây là phép liên kết bằng cách dùng đại từ thay thế cho một yếu tố (từ
ngữ đã được nói trong câu chủ ngôn ” [ 6 ; 302]. Ví dụ:
“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái
đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo
và chính nghĩa”.
Ở đây “bọn thực dân Pháp” được thay bằng “chúng”.
- Thế đồng nghĩa: là việc dùng các từ có cùng nghĩa ở những câu khác nhau trong văn
bản. Ví dụ:
“ Phụ nữ cũng cần phải học. Đây là lúc chị em phải cố gắng theo kịp nam giới”.
(Hồ Chí Minh)
Trong ví dụ này “phụ nữ” cũng nghĩa với “chị em” nên được thay thế cho nhau.
d) Phép tỉnh lược: “phép tỉnh lược được xem như là một phương tiện liên kết văn
bản khi: việc rút gọn một bộ phận nào đó trong câu kết ngôn có thể dễ dàng tìm thấy
trong câu chủ ngôn. Biện pháp tỉnh lược này làm cho câu gắn bó với nhau, phụ thuộc
vào nhau về nội dung, ý nghĩa, cấu tạo”. Có hai loại tỉnh lược:
- Tỉnh lược mạnh: là biện pháp lược bỏ các thành phần nòng cốt đã xuất hiện trong
câu chủ ngôn. Ta có thể tỉnh lược chủ ngữ, vị ngữ; thậm chí ta có thể tỉnh lược cả chủ
ngữ và vị ngữ. Ví dụ:
“ Tinh thần yêu nước cũng giống như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong
tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi được cất giấu kín đáo
trong gươm, trong hòm”.(Hồ Chí Minh)
Câu này tỉnh lược thành phần chủ ngữ đã được nhắc lại ở câu đầu “tinh thần
yêu nước”.
- Phép tỉnh lược yếu: là biện pháp lược bỏ các thành phần ở ngoài nòng cốt trong
những câu kết ngôn. Các thành phần này thường do các động từ, danh từ quy định. Ví
dụ :
- Chị thích nhất khoai lang luộc. Ngày nào má cũng mua về cho chị ăn. (Minh Hồng)
e) Phép liên tưởng: liên tưởng là quan hệ giữa các từ trong đó sự xuất hiện của từ sau
trong tiềm thức. Như vậy các từ phải có chung một nét nghĩa nào đó trong một trường.
Quan hệ liên tưởng theo nghĩa rộng bao gồm: liên tưởng đồng nghĩa và liên
tưởng trái nghĩa.
Quan hệ liên tưởng theo nghĩa hẹp là sự liên tưởng các từ trong cùng một
trường nghĩa.
Phép liên tưởng với tư cách là một phương diện liên kết văn bản chính là việc
sử dụng các từ ngữ ở câu chủ ngôn sẽ làm tiền đề để kéo theo các từ ngữ ở câu kết
ngôn. Ví dụ:
“Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào ta lâm vào hoàn cảnh ấy, vì lũ thực dân
hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào, chưa lập
tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân”.(Hồ
Chí Minh)
Ở đây khi nói đến thực dân hung ác, thú dữ ta liên tưởng ngay đến thực dân
Pháp tàn bạo mặc dù văn bản không hề nhắc tới.
f) Phép tuyến tính: “Các yếu tố trong chuỗi lời nói được thể hiện theo trật tự trước
sau, gọi là trật tự hình tuyến. Trật tự này giúp cho người nói thể hiện rõ ý và người
đọc có thể lĩnh hội nội dung mà người nói phát ra. Các câu, các phần trong văn bản
cũng được tổ chức theo nguyên lý như vậy” [9 ; 311].
Phép liên kết tuyến tính có tác dụng gắn bó, liên hệ chặt chẽ về ngữ nghĩa giữa chúng
mà không cần từ ngữ liên kết khác. Có hai loại liên kết tuyến tính: liên kết tuyến tính
theo thời gian và liên kết tuyến tính phi thời gian. Ví dụ :
- Một chiếc F4 hạ thấp độ cao bổ nhào cắt bom. Hai mươi bốn chùm đạn phóng lên.
Bảy quả bom tung tóe dưới chân đồi. Chiếc máy bay bùng cháy. (Nguyễn Sinh, Vũ kỳ
Lân)
- Chị gái bất hạnh. Anh chồng là người ti tiện. (Triệu Huấn)
1.3. Sơ lược về quá trình hình thành báo Tuổi trẻ và TTCT
Báo Tuổi Trẻ là cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh TP.HCM và gồm bốn ấn bản: nhật báo Tuổi Trẻ, tuần báo, Tuổi Trẻ Cười và
báo điện tử Tuổi Trẻ. Báo phát hành trên Việt Nam với số lượng gần 500.000
bản/ngày, số lượng ấn bản lớn nhất tại đất nước này của một tạp chí (số liệu từ tháng
6-2008). Báo Tuổi Trẻ ra đời chính thức ngày 2 tháng 9 năm 1975. Số báo Tuổi Trẻ
đầu tiên phát hành với số lượng khoảng 5.000 bản/tuần. Trụ sở đầu tiên của báo Tuổi
Trẻ tại 55 Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TPHCM). Tiền thân của tờ báo
này bắt đầu từ những tờ truyền đơn và bản tin in roneo của sinh viên, học sinh Sài
Gòn trong phong trào chống Mỹ những ngày Chiến tranh Việt Nam. Đến tháng 07-
1981, Tuổi Trẻ được phát hành hai kỳ/tuần (thứ tư và thứ bảy) với số lượng 30.000
bản/kỳ. Ngày 10-08-1982, Tuổi Trẻ tăng lên ba kỳ phát hành mỗi tuần (thứ ba, thứ
năm, thứ bảy).
Ngày 16-01-1983, Tuổi Trẻ Chủ nhật ra đời với số lượng khoảng 20.000 tờ
mỗi kỳ. Bảy năm sau, Tuổi Trẻ Chủ nhật đạt kỷ lục 131.000 tờ trong năm 1990. Ngày
01-01-1984, Tuổi Trẻ Cười ra đời, là tờ báo trào phúng duy nhất của Việt Nam lúc đó.
Số lượng phát hành ban đầu khoảng 50.000, sau đó nhanh chóng tăng đến 250.000 tờ
vào cuối năm đó.
Đến 1 tháng 9 năm 2000, số thứ sáu được phát hành. Sau đó, 2 số thứ tư và thứ
hai lần lượt được xuất bản vào các ngày 23 tháng 1 và 7 tháng 10 năm 2002. Báo điện
tử Tuổi Trẻ Online ra mắt chính thức ngày 1 tháng 12 năm 2003. Chưa đầy hai năm
sau, TTO đã vươn lên vị trí thứ ba về số lượt truy cập trong bảng xếp hạng tất cả các
website tiếng Việt trên thế giới.
Từ ngày 2 tháng 4 năm 2006, Tuổi Trẻ chính thức trở thành một tờ nhật báo
khi được phép ra thêm một kỳ vào ngày chủ nhật. Cùng lúc đó, tuần báo Tuổi Trẻ
Chủ Nhật đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối tuần (hiện phát hành 60.000 bản/kỳ).
Ngày 03-08-2008, truyền hình Tuổi Trẻ (TVO) được thành lập, sản xuất những
chương trình truyền hình phát trên Tuổi Trẻ Online và hợp tác phát sóng với các kênh
truyền hình trong nước.
Từ ngày 1 tháng 11 năm 2009, Tuổi Trẻ chủ nhật ra ấn bản 4 màu (in màu toàn bộ 20
trang) phát hành lần đầu tiên. Cũng là tờ báo in màu toàn bộ đầu tiên tại Việt Nam.
Ngày 21-06-2010, Tuổi Trẻ News được thành lập và ngay sau đó là Tuổi Trẻ
Mobile vào tháng 09 năm 2010.
Những sự kiện nổi bật
Tuổi Trẻ (nhật báo): Năm 2007 bắt đầu có 20 trang nội dung. Bao gồm
Chính trị - Xã hội, Thế giới, Kinh tế, Giáo dục, Nhịp sống trẻ, Nhịp sông số, Sức
khỏe,...
Tuổi Trẻ Cuối tuần: (tuần báo) vốn có tên là Tuổi Trẻ Chủ nhật. Có nội dung
phong phú với hầu hết các lĩnh vực, song do không có đầu tư tương xứng nên đến
những năm đầu thế kỷ 21, bị tụt hậu nặng nề.
Tuổi Trẻ Cười: (tạp chí hàng tháng hiện nay là bán nguyệt san) xuất bản dưới
thời Tổng biên tập Vũ Kim Hạnh. Từng là tờ báo trào phúng duy nhất. Tuy nhiên,
cũng giống như Tuổi Trẻ Cuối tuần không có đầu tư xứng đáng nên đến nay cũng tụt
hậu so với trước đó.
Tuổi Trẻ Online: (báo điện tử) Được xuất bản lần đầu dưới thời Tổng biên tập
Lê Hoàng năm 2003. Sau đó, nhanh chóng trở thành ấn phẩm có tốc độ phát triển
nhanh mạnh nhất với thứ hạng khoảng 740 trên thế giới và thứ 10 ở Việt Nam.
Áo trắng: (tạp chí hàng tháng) Là ấn phẩm liên kết với Nhà xuất bản Trẻ. Chủ
yếu là thơ văn cho tuổi mới lớn.
Tuổi Trẻ Mobi: Là phiên bản của Tuổi Trẻ Online cho điện thoại di động.
Tuổi Trẻ Media Online: Ấn phẩm đa phương tiện, phát hành trên mạng.
Đội ngũ:
Nhiều thế hệ phóng viên của Tuổi Trẻ đã tạo dấu ấn trên mặt báo và được bạn đọc tại
Việt Nam yêu thích. Có thể kể đến các tác giả như Hàng Chức Nguyên (cây bút viết
phóng sự về người nghèo trong xã hội), Thủy Cúc (chuyên mục Ký sự pháp đình), Cù
Mai Công (phóng sự Saigon by night), Bình Nguyên (ký sự đường xa), Hoài Lê (thể
thao), Cam Ly (quốc tế - đã định cư tại Mỹ)...
Cơ chế của báo cũng giống như làng báo Việt Nam, khá trì trệ và đã không bắt mạch
được với những tiến bộ của môi trường làm việc xung quanh. Dù là tờ báo thuộc loại
tiên tiến và có tiềm lực mạnh nhất làng báo Việt Nam, bào Tuổi Trẻ vẫn bị "chảy máu
chất xám" nặng nề. Các nhân lực chủ chốt, các cây bút chủ chốt của Tuổi Trẻ đã lần
lượt ra đi.
Tuổi Trẻ được xem như một "lò" đào tạo số một bởi một số phóng viên, biên
tập viên của Tuổi Trẻ rời bỏ báo, lại trở thành lãnh đạo của các báo khác như Người
lao động, Sài Gòn Giải phóng, Pháp luật TP HCM.
1.4. Phong cách chức năng báo chí- công luận
1.4.1. Khái quát về phong cách chức năng báo chí- công luận
Phong cách báo chí- công luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn
bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí- công
luận. Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người
quảng cáo, bạn đọc (phát biểu),…tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin
của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự.
Dựa vào nội dung ý nghĩa sự vật- logic, người ta chia văn bản báo chí- Công
luận ra các kiểu: văn bản cung cấp tin tức, văn bản phản ánh công luận và văn bản
thông tin- quảng cáo. Dựa vào những đặc điểm về kết cấu, tu từ, người ta chia văn
bản báo chí- công luận ra các thể loại như: mẩu tin, tin tổng hợp, điều tra, phỏng vấn,
phóng sự (thuộc kiểu tin tức); ý kiến bạn đọc, trả lời bạn đọc, tiểu phẩm (thuộc kiểu
công luận).
1.4.2.Chức năng của ngôn ngữ trong phong cách báo chí- công luận và đặc trưng
chung của phong cách này
Chức năng của ngôn ngữ trong phong cách báo chí- công luận là chức năng
giao tiếp lí trí và chức năng tác động vào nhu cầu, nguyện vọng của người nghe,
người đọc. Muốn thực hiện được chức năng thông báo- tác động trong công việc
thông tin, tuyên truyền, quảng cáo, phong cách báo chí- công luận phải có những đặc
trưng chung là tính chiến đấu, tính thời sự và tính hấp dẫn.
Phong cách chức năng báo chí - công luận có tính chiến đấu. Bởi ngôn ngữ
được sử dụng trong phong cách này chính là một công cụ đấu tranh của Nhà nước,
một đảng phái, một tổ chức. Đối với chúng ta, chiến đấu, đấu tranh ở đây có nghĩa là
phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội trên đất nước của chúng ta.
Phong cách báo chí - công luận phải đạt tính thời sự. Bởi vì khi đã có nội dung
là sự thật rồi, thông tin còn phải truyền đi kịp thời, nhanh chóng thì mới có tác dụng.
Chỉ có những thông tin mới, những vấn đề cấp thiết của ngày hôm nay mới hấp dẫn
người nghe. Người ta thường đón tin giờ chót, tin cuối cùng trong ngày, tin trong loại
“ báo buổi chiều” là vậy.
Phong cách báo chí- công luận phải hấp dẫn. Tin tức báo chí, đài phải được
trình bày hấp dẫn, khêu gợi được hứng thú của người đọc, người nghe. Bởi vì đối
tượng tiếp thu đông đảo, thời gian tiếp thu thông tin thường diễn ra trong khoảnh
khắc, nội dung thông tin thì rất phong phú đa dạng; nếu ngôn ngữ không ngắn gọn, rõ
ràng, trình bày không nổi bật, không hấp dẫn gây chú ý, không gợi tò mò, không “đập
vào mắt” người ta thì sẽ không ai muốn đọc, muốn nghe cả.
Ba đặc trưng nêu trên đây của phong cách báo chí- công luận được biểu hiện rõ
rệt trong những đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này. Và tất nhiên sự biểu hiện
này có những mức độ khác nhau trong những kiểu và thể loại văn bản khác nhau của
phong cách báo chí- công luận.
1.4.3.Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí- công luận
Về từ ngữ, lối nói báo chí- công luận sử dụng lớp từ ngữ được cấu tạo đặc biệt
có màu sắc biểu cảm- cảm xúc rõ rệt và màu sắc tu từ học chức năng nổi bật, như
thảm họa hạt nhân, chảy máu chất xám, diễn biến hoà bình,…Đặc điểm nổi bật của từ
ngữ trong phong cách báo chí- công luận là mối tương quan giữa những từ ngữ diễn
cảm (có màu sắc tu từ) và những từ ngữ dùng theo khuôn mẫu (đã mất đi màu sắc tu
từ) có tính năng động và linh hoạt: sau khi xuất hiện trong một hoàn cảnh lời nói nhất
định, những từ ngữ diễn cảm được lặp lại nhiều lần trong những hoàn cảnh khác nhau,
sẽ mất dần tính sắc sảo và chuyển sang những từ khuôn mẫu. Phong cách này cũng
dùng nhiều từ có màu sắc trang trọng, như: thiếp lập quan hệ hợp tác toàn diện, xu
thế đối ngoại, tăng cường đoàn kết,…nhiều từ ngữ có thái độ bình giá phủ định: dính
líu, trả đũa, ve vãn, tiếp tay,…nhiều từ ngữ thuộc nghề báo: thông tín viên, đặc phái
viên, đưa tin,…lớp từ ngữ quốc tế: mac xit, sô vanh,…nhiều kiểu viết tắt như: T.W
(Trung ương), CLB (câu lạc bộ),…
Về cú pháp, phong cách báo chí- công luận dùng những khuôn mẫu cú pháp,
như: câu khuyết chủ ngữ nêu sự kiện, thường chỉ dùng ở những phạm vi nhất định
như ở đầu các bản thông báo, bản tin; câu có đề ngữ làm nổi bật thông tin, thường
dùng trong các đầu đề tin tức; câu có nhiều thành phần tách biệt được in thành dòng
riêng, bằng những con chữ khác nhau, để nhấn mạnh nội dung thông tin, thường dùng
trong các đầu đề tin tức; những yếu tố diễn cảm của cú pháp, những cách diễn đạt làm
nổi bật trung tâm thông tin; những câu đơn phát triển kết hợp lời nói trực tiếp với lời
nói gián tiếp để cô đặc thông tin và tăng sức thuyết phục của thông tin. Có thể nói,
đặc điểm nổi bật của cú pháp trong phong cách báo chí-công luận là sử dụng kết hợp
những yếu tố diễn cảm. Đặc điểm này tất nhiên được thể hiện không như nhau trong
các thể loại báo chí- công luận khác nhau.
Về kết cấu của văn bản báo chí-công luận thì đặc điểm nổi bật của phong cách
này là những đầu đề kép (có những đầu đề phụ đi kèm) được diễn đạt ngắn gọn, rõ
ràng, hấp dẫn, có khả năng thâu tóm toàn bộ nội dung cả bài. Bên cạnh đó, các
phương tiện tu từ, các biện pháp tu từ được sử dụng nhiều. Các văn bản thuộc kiểu
cung cấp thông tin thường được kết cấu theo những khuôn mẫu nhất định, để việc
truyền đạt và tiếp thu được dễ dàng nhanh chóng. Thể loại phóng sự điều tra nhằm
mục đích đưa tin nhưng không phải là tin tổng hợp mà là tin miêu tả, trần thuật chi
tiết cụ thể sự việc xảy ra, đồng thời cũng hướng đến một ngôn ngữ sinh động, hóm
hỉnh, tinh tế để hấp dẫn người đọc, để rồi từ đó bộc lộ tình cảm, lập trường của mình.
Thể loại tiểu phẩm thì nhằm mục đích châm biếm hoặc giáo dục một cách nhẹ nhàng,
sâu sắc những thói hư tật xấu trong xã hội. Nó dùng hình thức viết ngắn gọn, những
biện pháp châm biếm, trào phúng rất đa dạng. Quảng cáo là thể loại nhằm truyền đạt
thông tin, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của hàng hóa làm ra, tác động vào nhu cầu,
thị hiếu của mọi người để mọi người mua, tham gia, hưởng ứng.
Trên đây là một số điểm quan yếu về thành ngữ, quán ngữ và phong cách chức
năng báo chí- công luận. Những tri thức này không chỉ nhằm cung cấp cho người đọc
những hiểu biết cơ bản làm nền tảng lí thuyết cho sự tiếp nhận đề tài mà còn là cơ sở
để phân tích, lí giải những hiện tượng, những kết quả mà qua quá trình khảo sát
chúng tôi đã có được.
CHƯƠNG 2: VIỆC SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ TRÊN BÁO TUỔI
TRẺ CUỐI TUẦN NĂM 2007, 2008, 2009
2.1. Về tần số xuất hiện của thành ngữ và quán ngữ
2.1.1.Về báo TTCT năm 2007
Qua quá trình khảo sát, thống kê tờ báo TTCT, chúng tôi đã có những số liệu
cụ thể như sau:
Trong 51 số báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2007 với 2142 trang báo, chúng tôi
nhận thấy thành ngữ được sử dụng 778 lượt. Chúng tôi cũng thống kê được trong
tổng số thành ngữ này có 701 lượt được sử dụng ở dạng thức nguyên dạng, chiếm
90,1%; còn lại 77 lượt thành ngữ được sử dụng sáng tạo, linh hoạt dưới nhiều dạng
thức khác nhau như: lược yếu tố, thay yếu tố, đảo vị trí các yếu tố, tách các yếu
tố,...chiếm 9,9%.
Chúng tôi phân loại và thống kê được có 98 lượt thành ngữ so sánh, chiếm
12,6% ; 412 lượt thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, chiếm 54,1% ; còn lại 268 lượt thành
ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng, chiếm 33,3%. Như vậy ta có thể thấy thành ngữ ẩn dụ
hóa đối xứng có tần số sử dụng cao nhất, kế đến là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
và cuối cùng là thành ngữ so sánh.
2.1.2.Về báo TTCT năm 2008
Trong 51 số báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2008 đã có dụng 408 lượt thành ngữ
được sử dụng. Chúng tôi cũng thống kê được trong tổng số thành ngữ này có 364 lượt
được sử dụng ở dạng thức nguyên dạng, chiếm 89,2%; còn lại 44 lượt được sử dụng
sáng tạo, linh hoạt dưới nhiều dạng thức khác nhau như: lược yếu tố, thay yếu tố, đảo
vị trí các yếu tố, tách các yếu tố,…chiếm 10,8%.
Xét về phương thức cấu tạo, thành ngữ so sánh được sử dụng 46 lượt chiếm
11,27% ; còn thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là 241 lượt, chiếm 59,06% ; thành ngữ ẩn
dụ hóa phi đối xứng là 121 lượt, chiếm 29,67%. Như vậy trong tổng số 408 lượt
thành ngữ được sử dụng năm 2008 thì thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng có tần số xuất
hiện cao nhất, kế đến là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng và cuối cùng là thành ngữ
so sánh có tần số xuất hiện thấp nhất.
2.1.3.Về báo TTCT năm 2009
Trong 51 số báo Tuổi tré cuối tuần năm 2009 đã có 447 lượt thành ngữ được
sử dụng. Chúng tôi cũng thống kê được trong tổng số thành ngữ này có 420 lượt được
sử dụng ở dạng thức nguyên dạng, chiếm 93,95%; còn lại 27 lượt được sử dụng sáng
tạo, linh hoạt dưới nhiều dạng thức khác nhau như: lược yếu tố, thay yếu tố, đảo vị trí
các yếu tố, tách các yếu tố,…chiếm 6,05%.
Thành ngữ so sánh xuất hiện 62 lượt, chiếm 13,87% ; thành ngữ ẩn dụ hóa đói
xứng được sử dụng 258 lượt, chiếm 57,71% ; còn lại là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối
xứng với 127 lượt, chiếm 28,42%. Qua thống kê, chúng tôi thấy rằng thành ngữ ẩn dụ
hóa đối xứng có tần số xuất hiện cao nhất rồi đến thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
và thấp nhất là thành ngữ so sánh.
Như vậy trong tổng 153 số báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2007, 2008, 2009,
chúng tôi nhận thấy năm 2007 là năm có số lượt thành ngữ xuất hiện nhiều nhất với
778 lượt, kế đến là năm 2009, với 447 lượt và thấp nhất là năm 2008, với 408 lượt.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy rằng 1633 lượt dùng thành ngữ được sử dụng
thì số lượt thành ngữ được sử dụng nguyên dạng là 1485 lượt, chiếm 90,93% ; còn lại
là 148 lượt thành ngữ được sử dụng sáng tạo linh hoạt, chiếm 9,07%. Như vậy, ta
thấy rằng số lượt thành ngữ được sử dụng nguyên dạng chiếm tỉ lệ nhiều hơn hẳn so
với số lượt thành ngữ được sử dụng linh hoạt, sáng tạo.
Đồng thời thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là dạng thành ngữ có tần số xuất
hiện cao nhất ở từng năm cũng như ở cả 3 năm, với 911 lượt, chiếm 55,78% ; kế đến
là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng với 516 lượt, chiếm 32 % và cuối cùng là thành
ngữ so sánh chiếm 12,22% với 206 lượt xuất hiện.
2.2. Khảo sát thành ngữ, quán ngữ
2.2.1. Thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2007, 2008, 2009
2.2.1.1. Đặc trưng cấu trúc của thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần
a1) Tính bất biến và khả biến của thành ngữ
a) Khái quát về cấu trúc thành ngữ trên báo tuổi trẻ cuối tuần
Về mặt lý thuyết, thành ngữ là những đơn vị tương đương từ. Do vậy, một trong
những đặc tính nổi bật của nó là tính chặt chẽ, cố định về mặt cấu trúc hình thức. Tuy
nhiên, trên thực tế sử dụng thì hầu hết các đơn vị thành ngữ đều có khả năng biến đổi
ít nhiều về mặt cấu trúc tùy vào mục đích sử dụng và khả năng biến đổi của từng
thành ngữ. Người ta gọi đó là những biến thể thành ngữ.
Chúng ta biết rằng thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai. Nó được hình
thành sau từ và bằng từ. Thoạt đầu, nó cũng là những kết hợp ngôn ngữ bình thường,
sau đó bằng con đường hành chức mà giá trị thực của kết hợp đó bị nhược hóa đi và
thay vào đó bằng một giá trị biểu trưng mới. Do vậy giữa cái biểu đạt và cái được
biểu đạt trên thực tại sử dụng của kết hợp đó đã mang dáng dấp võ đoán của một tín
hiệu ngôn ngữ. Và thế là nó nghiễm nhiên trở thành một đơn vị định danh sẵn có của
ngôn ngữ tương đương từ (đơn vị định danh bậc một). Đến đây, do áp lực là một đơn
vị tương đương từ nên thành ngữ buộc phải tồn tại dưới hình thức của một tín hiệu.
Mang trong mình tư cách của một tín hiệu, lẽ dĩ nhiên hình thức tồn tại và giá trị ngữ
nghĩa của thành ngữ phải là một chỉnh thể bất biến, cố định và trên thực tế, ở dạng từ
điển hóa, mọi thành ngữ đều được cấp cho một hình thức tồn tại và một giá trị ngữ
nghĩa cố định.
Tuy nhiên, thực tế sử dụng lại có vẻ mâu thuẫn với tính bất biến của thành ngữ.
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, thành ngữ được hình thành bằng con đường hành
chức. Hơn nữa, hình thức tồn tại chính của thành ngữ là ở dạng hành chức mà thành
ngữ lại là một đơn vị được dùng rất rộng rãi bởi nhiều đối tượng, cho nhiều phong
cách ngôn ngữ khác nhau. Do vậy khả năng biến đổi của thành ngữ khi hành chức
cũng là một điều dễ hiểu. Tuy vậy cũng cần phải thấy rằng con đường chính để thành
ngữ trở thành một đơn vị từ vựng chính là sự tổng hợp của tất cả các ngữ cảnh sử
dụng chúng ở các dạng thức khác nhau. Như vậy, tính bất biến và khả biến chính là
hai mặt có quan hệ biện chứng của thành ngữ. Về điểm này, GS Hoàng Văn Hành
cũng cho rằng: Tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn và tính uyển
chuyển của nó trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn không hề loại trừ
nhau [ 30 ; 29].
a2) Về phương thức cấu tạo:
Trong Thành ngữ học tiếng Việt , GS.TS Hoàng Văn Hành đưa ra tiêu chí
phân loại thành ngữ dựa vào phương thức cấu tạo. Trên cơ sở đó, ông đã phân thành
ngữ làm ba loại:
- Thành ngữ so sánh:
Loại thành ngữ này khá phổ biến trong thành ngữ tiếng Việt. Thành ngữ so sánh là
một tổ hợp từ bền vững bắt nguồn từ ghép so sánh mang nét nghĩa biểu trưng.
Nếu như cấu trúc của phép so sánh thông thường gồm bốn dạng:
1) At như B: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải dịu hiền như một người chị (Hồ Chí
Minh).
2) A như B: “Thế địch như lửa, thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa”
(Hồ Chí Minh)
3) t như B: “Ấp úng như thùng đứt vành. Trả lời không được phải đành ngậm câm”.
(Ca dao)
4) Như B: “Như cá nằm trong chậu, quân địch chết bị thương và bị bắn chết”.
(Hồ Chí Minh)
Ta thấy rằng cấu trúc của thành ngữ so sánh chỉ tương ứng với dạng thứ ba và dạng
thứ tư của phép so sánh, cụ thể là:
1) t như B: Nợ như chúa chổm, đẹp như tiên, chậm như rùa,…
2) Như B: Như cá với nước, như ong vỡ tổ, như mèo thấy mỡ,…
- Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng:
Đây là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt. Theo Giáo sư Hoàng Văn Hành,
thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng làm nên diện mạo của thành ngữ tiếng Việt, chiếm 2/3
tổng số thành ngữ. Các thành ngữ có cấu trúc đối xứng như: thay lòng đổi dạ, đầu tắt
mặt tối, ăn nên làm ra,…
Chúng có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành
ngữ. Quan hệ đối xứng đó được thiết lập dựa trên hai bình diện: đối ý và đối lời. Đối
ý là đối ở cấp độ vế, còn đối lời là đối ở cấp độ yếu tố. Ví dụ: Thành ngữ “đầu voi
đuôi chuột” ta thấy “đầu voi” đối xứng với “đuôi chuột”. Đây là đối xứng ở cấp độ vế,
nó giúp ta nhận ra nghĩa của thành ngữ này là việc làm không cân đối, khi đề ra thì to
tát qui mô còn khi thực hiện thì thu nhỏ dần, kết quả rất ít. Nhưng quan hệ đối ý này
có được là nhờ vào quan hệ đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của thành ngữ, đó
chính là quan hệ đối lời.
Trong thành ngữ trên, nhờ có quan hệ đối xứng giữa yếu tố “đầu” và “đuôi”,
“chuột” với “voi” mà ta suy ra được ý nghĩa của thành ngữ. Cần nhận thấy, để có
được sự đối lời đó thì nội dung ngữ nghĩa các yếu tố đối xứng nhau trong hai vế ở
phần lớn các thành ngữ phản ánh những đặc trưng thuộc cùng một phạm trù ngữ
nghĩa và chúng phải cùng một phạm trù từ loại.
- Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng:
Bên cạnh thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng còn có một bộ
phận không thuộc vào hai kiểu cấu tạo trên, GS Hoàng Văn Hành gọi đó là thành ngữ
thường hay là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 153 số báo trong ba năm 2007, 2008, 2009 và
thống kê được tần số xuất hiện các loại thành ngữ chia theo phương thức cấu tạo như
sau: trong tổng 16 lượt thành ngữ thì có 911 lượt thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng được
sử dụng, chiếm 54,45% ; thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng là 516 lượt, chiếm 32,9%
và cuối cùng là thành ngữ so sánh với 206 lượt, chiếm 12,65%.
2.2.1.2. Cấu trúc của thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần
a) Xét về tính bất biến và tính khả biến
Qua thực tế khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy trong tổng số 1633 lượt thành ngữ
xuất hiện trong 153 số báo ở ba năm 2007, 2008, 2009 thì có 1485 lượt thành ngữ
được sử dụng nguyên dạng, chiếm tỉ lệ 90,9% ; còn lại là 148 lượt thành ngữ được
thành ngữ được sử dụng ở dạng linh hoạt, sáng tạo, biến đổi, chiếm 9,1%,
Vấn đề đặt ra là trong tồn tại ở dạng biến thể thì cách tồn tại của chúng ở mỗi
một ngữ cảnh là khác nhau. Tuy nhiên sự biến đổi của chúng cũng tuân theo những
quy luật nhất định và nhờ vậy mà tính thành ngữ của chúng vẫn được đảm bảo. Cũng
chính vì thế, chúng tôi mới có cơ sở để khái quát thành một số dạng cấu trúc đặc
trưng của thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần với các tên gọi như sau:
1. Cấu trúc nguyên thể
2. Cấu trúc tỉnh lược
3. Cấu trúc khai triển (thêm)
4. Cấu trúc hoán đổi (đảo)
5. Cấu trúc biến đổi thành tố (thay)
6. Cấu trúc tách
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những khái quát bước đầu nảy sinh đồng thời với quá
trình xử lý tư liệu của chúng tôi. Tùy theo nhãn quan khác nhau và mục đích nghiên
cứu khác nhau có người sẽ chia nhỏ hơn, cụ thể hơn hoặc ít hơn, khái quát hơn. Ở
đây, chúng tôi chỉ chọn những dạng thức mà theo chúng tôi nó làm nên đặc trưng cấu
trúc của thành ngữ trên báo TTCT khi đi vào hành chức trong các ngữ cảnh trên báo
TTCT như một đơn vị cố định.
a1) Cấu trúc nguyên thể:
Dạng cấu trúc này chiếm số lượng rất cao. Điều này cũng dễ hiểu vì thành ngữ
là một đơn vị bền vững của ngôn ngữ, là “khối từ ngữ đúc sẵn”. Tính bền vững đó là
do sự vững chắc về kết cấu, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa quyết định. Ta không
thể tùy tiện phá vỡ kết cấu của thành ngữ. Có khi sự thay đổi một yếu tố nào đó có
thể làm phá vỡ hoàn toàn cấu trúc của thành ngữ và làm cho thành ngữ mang một cấu
trúc và một ý nghĩa hoàn toàn mới. Bởi thành ngữ vốn là một cụm từ tự do nhưng lại
được gọt giũa, trau chuốt, sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành quen thuộc trong
lời nói. Kết cấu cũng như ngữ nghĩa của thành ngữ đã được người bản ngữ ghi nhận
và sử dụng thường xuyên trong lời nói của mình với tính chất là đơn vị hiển nhiên
mang tính qui ước xã hội. Mặt khác, nhân dân ta từ xưa đến nay vốn chuộng lối nói
so sánh, ví von, bóng bẩy vì thế đã tạo ra một kho thành ngữ rất phong phú, đa dạng.
Có những vấn đề mà từ thông thường không thể diễn đạt được hoặc là diễn đạt dài
dòng, rườm rà thì thành ngữ phát huy được tác dụng của mình. Trên các trang báo,
các nhà báo đã đưa thành ngữ nguyên dạng vào các bài viết hết sức tự nhiên và nhuần
nhuyễn. Ví dụ:
- Những giải đấu do chính chúng ta tổ chức hay những chuyến xuất quân “mang
chuông đi đánh xứ người” diễn ra liên tục trong đời sống của thể thao nước nhà.
(Bài của Tấn Phúc- Khương Xuân, số 32, ngày 16.8.2009, tr.34)
- Cũng đừng vội tin rằng Mc đã hoàn toàn tâm phục khẩu phục nhân dân VN.
(Bài của Hà Văn Thịnh, số 27, ngày 12.7.2009, tr.7)
Chúng tôi nhận thấy rằng sự xuất hiện của các thành ngữ đã giúp nhà báo có
thể diễn đạt được nội dung của bài báo một cách khúc chiết và dễ hiểu. Điều này
cũng rất phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của báo chí là ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu.
a2) Cấu trúc tỉnh lược:
Cấu trúc tỉnh lược là dạng cấu trúc mà các thành ngữ tồn tại dưới hình thức rút
gọn trong các ngữ cảnh trong các văn bản của tờ báo TTCT. Theo thống kê của
chúng tôi trong tổng 1633 lượt thành ngữ xuất hiện trên 153 số báo thì có 31 lượt,
chiếm tỉ lệ 1,9%.
Thành ngữ xuất hiện ở dạng tỉnh lược phải rút ngắn về mặt cấu trúc nhưng
nghĩa vẫn không thay đổi. Tuy rằng về mặt tỷ lệ dạng cấu trúc tỉnh lược chỉ chiếm số
lượng nhỏ nhưng đây vẫn là một dạng cấu trúc rất đặc trưng của thành ngữ trên tờ
báo TTCT. Nó chính là bằng chứng sinh động về sự vận dụng tài tình, linh hoạt của
các nhà báo đối với kho tàng thành ngữ. Ví dụ:
- Coi như ông Galbraith thay mặt ông Holbrooke “cắm dùi” ở Kabul.
(Bài của Danh Đức, số 42, ngày 25.10.2009, tr.7)
- Nguyễn Thúy Linh- người phụ nữ từ bàn tay trắng làm nên cơ đồ.
(Bài của Nguyễn Văn Thọ, số 11, ngày 22.3.2009, tr.34)
Thành ngữ “hai bàn tay trắng” đã được Nguyễn Văn Thọ lược bớt một thành tố là
“hai” nhưng vẫn đảm bảo được đầy đủ nội dung ý nghĩa và giúp cho cách diễn đạt
được ngắn gọn, linh hoạt và sáng tạo hơn.
a3) Cấu trúc khai triển:
Ngược lại với dạng cấu trúc tỉnh lược là dạng cấu trúc khai triển. Đây cũng là
dạng cấu trúc đặc trưng của thành ngữ trên báo TTCT mà chúng tôi khảo sát được.
Cấu trúc khai triển là dạng cấu trúc mà khi đi vào ngữ cảnh quan hệ của các yếu tố
trong thành ngữ gốc được khai triển bằng cách ghép thêm những thành tố phụ hoặc
thay bằng các yếu tố tương đương nhưng có kích thước lớn hơn. Có thể nói, cấu trúc
khai triển của thành ngữ trên báo TTCT là một dạng cấu trúc biến thể khá tự do và
hoàn toàn mang tính lâm thời. Có thể xem nó như những tổ hợp từ tự do theo kiểu
diễn xuôi các đơn vị thành ngữ trong các ngữ cảnh. Trong 1633 lượt thành ngữ mà
chúng tôi thống kê được, số lượt thành ngữ có cấu trúc khai triển là 25 lượt chiếm
1,53%. Ví dụ:
Nhân chuyện sao chép, người ta còn đặt vấn đề sinh viên dám làm nhưng không
dám chịu .
(Bài của Cảnh Chánh, số 27, ngày 12.7.2009, tr.38)
Dạng cấu trúc này chỉ có giá trị lâm thời trong một ngữ cảnh nhất định. Nó rất
khó lặp lại trong một ngữ cảnh khác và cũng rất khó có một cấu trúc khai triển lại
được dùng cho nhiều ngữ cảnh khác nhau.
Nếu như dạng tỉnh cấu trúc lược các mối quan hệ ngữ nghĩa của thành ngữ gốc
bị rút gon lại, ẩn kín đi thì ở dạng cấu trúc khai triển các mối quan hệ ngữ nghĩa của
thành ngữ lại được mở rộng ra, diễn giải ra. Đây là hai dạng cấu trúc ngược nhau của
thành ngữ khi đi vào hành chức trong các bài viết trên tờ báo TTCT mà chúng tôi
khảo sát.
a4) Cấu trúc hoán đổi:
Cấu trúc hoán đổi là dạng cấu trúc thường thấy của các thành ngữ đối khi đi
vào hành chức. Ở tờ báo TTCT, thành ngữ có cấu trúc hoán đổi được dùng thường
xuyên hơn và cũng uyển chuyển hơn. Cấu trúc hoán đổi của thành ngữ là dạng cấu
trúc mà các yếu tố của thành ngữ gốc được hoán đổi vị trí cho nhau khi đi vào các
ngữ cảnh cụ thể. Chúng tôi thống kê được 14 lượt thành ngữ có dạng cấu trúc hoán
đổi, chiếm tỉ lệ 0,85%. Ví dụ :
- Quả là một sự hả dạ hả lòng cho các nước châu Phi sau nhiều năm phải chịu đựng
các khoản cho vay của phương Tây luôn kèm theo các điều kiện về quản trị quốc gia,
tôn trọng nhân quyền và việc chi tiêu phải hướng trực tiếp đến xóa đói giảm nghèo.
(Bài của Richard Behar, số 33, ngày 23.8.2009, tr.39)
- Không lâu sau, Tí thấy một ánh sáng lóe lên cũng tiếng sét nhức óc đinh tai.
(Bài của Phương Linh, số 39, ngày 04.10.2009, tr.41)
a5) Cấu trúc biến đổi thành tố:
Cấu trúc biến đổi thành tố là dạng cấu trúc mà một số yếu tố trong cấu trúc
nguyên thể của thành ngữ được lâm thời thay thế bằng các yếu tố mới có giá trị tương
đương trong ngữ cảnh mới. Chúng tôi thống kê được 47 lượt, chiếm 2,87%. Ví dụ:
- Buổi họp về chuyện đóng thuế thu nhập của phòng tôi diễn ra nhanh gọn, trưởng
phòng chốt lại như đinh đóng guốc : Cả phòng chúng ta duy nhất có anh Tư trà
đá là không đủ điều kiện đóng thuế thu nhập cá nhân do phải giảm trừ gia cảnh.
(Bài của Thục Anh, số 44, ngày 11.11.2007, tr.39)
- Tư xe ôm sáng mắt lên như buồn ngủ gặp cà phê đen…
(Bài của Phương Linh, số 45, ngày 18.11.2007, tr.39)
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy cấu trúc biến đổi thành tố là một trong những cấu
trúc có tần số xuất hiện tương đối nhiều so với những dạng cấu trúc biến đổi còn lại
của thành ngữ xét về tính khả biến. Chẳng hạn thành ngữ “như đinh đóng cột” đã
được Thục Anh thay đổi yếu tố “cột” thành “guốc”. Tuy nhiên ta cũng thấy rằng sự
thay đổi này dựa trên sự tương đồng giữa yếu tố bị thay và yếu tố thay. “Cột” và
“guốc” đều thuộc từ loại danh từ, thứ hai là đều thuộc thanh trắc. Chính điều này đã
làm cho cấu trúc thành ngữ không bị phá vỡ chỉ có nội dung ngữ nghĩa là thay đổi ít
nhiều để phù hợp với ngữ cảnh thực tế. Bởi vì đây là chuyên mục “tiểu phẩm” nên
các vấn đề thường được nhìn nhận dưới cái nhìn mỉa mai, chế giễu.
Tương tự như thế, thành ngữ “buồn ngủ gặp chiếu manh” cũng đã được Phương Linh
thay bằng “buồn ngủ gặp cà phê đen”. Nội dung của cả hai thành ngữ đều giống
nhau: “lúc đang cần điều gì lại gặp ngay điều kiện thuận lợi để đạt yêu cầu” [48;
42 ].
a6) Tách: là việc tách thành ngữ thành hai hay nhiều vế cho phù hợp với nhu cầu
diễn đạt và ngữ cảnh.
- Lề đường đã bị biến dạng đến mức kỳ lạ, nhìn không ra, chẳng khác gì một người
có “mày ngài” để còn nhận ra đôi “mắt phượng” thì nay cặp chân mày ấy đã bị
cháy sém mất rồi.
(Bài của Chánh Khải, số 46, ngày 25.11.2007, tr.8)
- Một bên cứ rình rình đưa rađa cảnh giới đến gần dể phòng thủ từ xa, bên kia hì vừa
phát triển tên lửa tấn công “siêu công phá” có một không hai, vừa la làng “bị ức
hiếp”.
(Bài của Hữu Nghị, số 43, ngày 4.11.2007, tr.9)
Thành ngữ “mày ngài mắt phượng” đã được Chánh Khải tách ra một cách thật tài tình,
nhằm phản ánh tình trạng xuống cấp và hư hỏng nặng của lề đường. Theo lẽ, “mày
ngài” phải đi liền với “mắt phượng” nhưng nay đôi chân mày ấy đã bị cháy xém cũng
giống như lề của con đường bị hư hỏng vậy. Thử hỏi dù mắt có đẹp như “mắt
phượng” mà “mày ngài” bị mất, bị hư thì đôi mắt, gương mặt ấy còn đẹp không? Hay
thành ngữ “vừa đánh trống vừa la làng” đã được Hữu Nghị tách ra thành hai vế và sử
dụng vế sau “vừa la làng” để phản ánh và châm biếm tình hình trang bị vũ trang của
cả hai bên. Ấy vậy mà bên kia “vừa phát triển tên lửa tấn công “siêu công phá” có
một không hai, vừa la làng “bị ức hiếp”.Vế tách đã được nhà báo sử dụng một cách
hết sức độc đáo và phù hợp. Chính điều này đã làm tăng thêm tính biểu cảm của
thông tin mà người viết muốn truyền đạt đến bạn đọc.
Bảng 1: Bảng hệ thống các dạng cấu trúc của thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối
tuần
Cấu trúc Số lượt ngữ cảnh Tỉ lệ Ví dụ
Nguyên thể 1485 90,9% Độc nhất vô nhị
Ăn nên làm ra
Tâm phục khẩu phục
Tỉnh lược 31 1,9% Vừa la làng
Ăn chắc
Khai triển 25 1,53% Con hát mẹ đừng vội khen
Mang con bỏ giữa chợ đời
Hoán đổi 14 0,85% Hả dạ hả lòng
Biến đổi thành tố 47 2,87% Đinh đóng guốc
Buồn ngủ gặp cà phê đen
31 1,9% Sinh nghề, tử nghiệp Tách
1633 100% Tổng
* Xét về phương thức cấu tạo:
Như trên đã trình bày, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát và thống kê các dạng
thành ngữ xét theo phương thức cấu tạo. Chúng tôi nhận thấy rằng: trong 1633 lượt
thành ngữ xuất hiện trong 153 số báo, các dạng thành ngữ đều được các nhà báo sử
dụng một cách triệt để, cụ thể thành ngữ so sánh, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng,
thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng. Đồng thời chúng tôi đã thống kê cụ thể về tần số
xuất hiện của chúng trong bảng dưới đây:
Bảng 2: Các dạng thành ngữ xét theo phương thức cấu tạo trên báo Tuổi trẻ cuối
tuần:
Dạng thành Thành ngữ so Thành ngữ ẩn dụ Thành ngữ ẩn dụ Tổng ngữ sánh hóa đối xứng hóa phi đối xứng
Tần số xuất 206 911 516 1633
hiện 12,61% 55,78% 31,61% 100%
Chúng tôi nhận thấy các dạng thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, ẩn dụ hóa phi đối xứng
và so sánh luôn được các nhà báo khai thác, sử dụng trong những bài viết của mình
một cách triệt để. Ví dụ:
- Những người lao động ít học hơn sẽ thấy công ăn việc làm của mình chuyển ra
nước ngoài hoặc lương bị cắt giảm do cạnh tranh.
(Bài của Danh Đức, số 37, ngày 20.9.2009, tr.6)
- Quỹ thời gian eo hẹp, thiếu kinh phí duy trì, kinh nghiệm làm việc còn non nớt…nên
nhiều chuyện “cười ra nước mắt” đã xảy ra.
(Bài của Công Nhật, số 50, ngày 20.12.2009, tr.19)
- Thuê áo cưới, thuê xe hoa là chuyện “xưa như trái đất”, ngày nay người ta còn có
cả dịch vụ thuê…chú rể để làm đám cưới.
(Bài của Thế Anh, số 22, ngày 07.6.2009, tr.14)
2.2.1.3.Thành ngữ Hán Việt và thuần Việt
Đối tượng tiếp nhận mà báo chí nói chung và báo Tuổi trẻ cuối tuần nói riêng
là mọi tầng lớp nhân dân. Do vậy yêu cầu dễ hiểu phải đặt lên hàng đầu. Mặt khác,
tính thời sự của phong cách chức năng báo chí- công luận buộc nhà báo phải cập nhật
thông tin một cách nhanh nhạy, chính xác và đưa đến người đọc bằng con đường
ngắn nhất, nhanh nhất. Điều này buộc họ phải lựa chọn cách diễn đạt ngắn gọn, hàm
súc và đặc biệt là đơn giản, dễ hiểu. Chính vì thế không ngạc nhiên khi thành ngữ
được sử dụng trên báo Tuổi trẻ cuối tuần chủ yếu là thành ngữ thuần Việt. Hơn nữa
“Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta
phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp để phát
triển nó là chính, vay mượn là phụ”. Chính vì vậy không có gì là ngạc nhiên khi số
lượng thành ngữ thuần Việt được sử dụng nhiều hơn thành ngữ Hán-Việt.
Trong quá trình thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng cả thành ngữ thuần Việt và
Hán-Việt đều được các nhà báo sử dụng. Tuy nhiên số lượng thành ngữ Hán-Việt
được sử dụng có tần số thấp hơn nhiều so với thành ngữ thuần Việt. Trong tổng 1633
lượt thành ngữ mà chúng tôi thống kê được có 244 lượt thành ngữ Hán-Việt được sử
dụng chiếm tỉ lệ 14,94%. Điều này hoàn hoàn hợp lí và dễ hiểu. Dù tỉ lệ thành ngữ
Hán-Việt được sử dụng thấp nhưng sự có mặt của các thành ngữ Hán-Việt cũng đã bổ
sung cho thành ngữ tiếng Việt một số lượng đáng kể. Không những thế nó còn có vai
trò quan trọng về mặt chất lượng như góp thêm các đơn vị mang nội dung khái niệm
mới, cùng thành ngữ thuần Việt tạo lập các nhóm đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm
làm đa dạng hóa, sắc thái hóa nội dung biểu đạt.
Những thành ngữ gốc Hán này khi đi vào tiếng Việt trở thành bộ phận của hệ
thống từ vựng tiếng Việt, cũng như các từ Hán-Việt, chúng chịu sức tác động của quy
luật tiếng Việt. Vì vậy mặc dầu là những đơn vị có tính cố định hóa rất cao nhưng
chúng vẫn có những biến đổi nhất định về mặt cấu tạo cũng như ngữ nghĩa để đáp
ứng nhu cầu hành chức trong tiếng Việt. Đặc biệt khi đi vào hoạt động sử dụng thì
chúng lại có những biến đổi vô cùng linh hoạt. Trong 244 lượt thành ngữ mà chúng
tôi khảo sát và thống kê được, chúng tôi thấy rằng theo số chữ (tiếng), thành ngữ
Hán-Việt gồm 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ nhưng thành ngữ 4 chữ nhiều hơn cả.
Chúng tôi thấy tiêu chí “phương thức tạo nghĩa” không chỉ phù hợp với việc
phân loại vốn thành ngữ thuần Việt (như GS. Hoàng Văn Hành đã thực hiện trong
chuyên luận Thành ngữ học tiếng Việt) mà còn có thể áp dụng cho việc phân loại để
khảo sát các thành ngữ Hán-Việt.
Theo tiêu chí này, thành ngữ Hán-Việt gồm 3 loại: thành ngữ so sánh, thành
ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng. Trong bảng dưới đây là
kết quả phân loại 244 lượt thành ngữ Hán-Việt chúng tôi thống kê được.
Bảng 3: Các dạng cấu tạo theo phương thức tạo nghĩa của thành ngữ Hán- Việt
trong tiếng Việt
Dạng cấu tạo Số lượt xuất hiện Tỷ lệ Ví dụ
Thành ngữ so 3 1,23% Lương y như từ mẫu
sánh
Thành ngữ ẩn dụ 116 47,54% Bán tín bán nghi
hóa đối xứng Điều binh khiển tướng
Dãi nắng dầm mưa
Thành ngữ ẩn dụ 125 51,23% Án binh bất động
hóa phi đối xứng Biến hóa vô song
Tổng 244 100%
Nhìn vào bảng 3, ta thấy tuyệt đại đa số thành ngữ Hán- Việt là thành ngữ ẩn dụ hóa
đối xứng và ẩn dụ hoá phi đối xứng chiếm 241 lượt, trong khi thành ngữ so sánh chỉ
có 3 lượt. Hai kiểu thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và ẩn dụ hóa phi đối xứng không
chênh lệch nhau về tần số xuất hiện.
- Về thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng,ví dụ:
- “An cư lạc nghiệp” luôn là niềm mong ước của tất cả các thế hệ người Việt Nam.
(Bài của TS Nguyễn Minh Hòa, số 36, ngày 13.9.2009, tr.4)
1) Lần này các thăm dò cho thấy số phiếu của ông có thể ngang ngửa với phiếu
ủng hộ một nữ ứng viên 33 tuổi “vô danh tiểu tốt”.
(Bài của GS Bùi Chí Trung, số 33, ngày 23.8.2009, tr.7)
Qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy loại thành ngữ này có cấu tạo giống mô hình
cấu tạo của thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng trong tiếng Việt.
1) Dạng cấu tạo theo mô hình [Ax-Ay]
Ví dụ: Nhất cử nhất động, bán tín bán nghi,…
2) Dạng cấu tạo theo mô hình [Ax- By]
Ví dụ: Vô danh tiểu tốt; độc nhất vô nhị,..
Như vậy trong thành ngữ Hán-Việt ẩn dụ hóa đối xứng tính chất đối và điệp là hai
đặc trưng cơ bản để tạo nên sự cân đối, hòa hài của nó.
Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng, ví dụ:
- Ông Mousavi nếu tính “tuổi cách mạng” hầu như ngang ngửa với giáo chủ
Khamenei, còn “khai quốc công thần” hơn cả Tổng thống Ahmadinejah, là một
trong số những nhà cách mạng năm 1979 “cập nhật” thời đại.
(Bài của Hữu Nghị, số 26, ngày 05.7.2009, tr.7)
- Không phải vô cớ mà ngày xưa người ta gọi giới lãnh đạo là “quan chi phụ mẫu”
theo nghĩa đẹp của từ này.
(Bài của TS Nguyễn Minh Hòa, số 36, ngày 13.9.2009, tr.5)
Qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy loại thành ngữ này có cấu tạo giống mô
hình cấu tạo của thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng trong tiếng Việt. Chúng cũng gồm
hai kiểu kết cấu sau:
2) Kiểu kết cấu một trung tâm (kết cấu C-P)
Ví dụ: Ngụy quân tử, bất đắc dĩ,…
3) Kiểu kết cấu hai trung tâm (kết cấu C-V)
Ví dụ: khai quốc công thần, huynh đệ tương tàn,…
- Về thành ngữ so sánh, Kiểu [A như B]. Ví dụ: Lương y như từ mẫu, an như bàn
thạch,...
Như vậy, qua phần khảo sát và phân tích đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Hán-
Việt ở trên, chúng ta có thể nhận thấy về mặt cấu tạo thành ngữ Hán-Việt và thành
ngữ thuần Việt có nhiều điểm tương đồng. Điều đó đã tạo cơ sở cho chúng ta vay
mượn các đơn vị thành ngữ của tiếng Hán cũng như Việt hóa các đơn vị này.
Những thành ngữ này đã được nhân dân ta sử dụng rất nhiều trong lời ăn tiếng
nói hằng ngày. Do đó, khi tiếp xúc với chúng trên mặt báo, độc giả sẽ không cảm
thấy nhiều khó khăn trong việc nắm bắt thông tin mà nhà báo muốn truyền đạt đến
người tiếp nhận thông tin. Đặc biệt việc sử dụng những thành ngữ Hán-Việt đồng
nghĩa với những thành ngữ thuần Việt càng làm cho sự diễn đạt và truyền thông tin
được phong phú, đa dạng, sinh động, tráng việc dùng lặp lại thành ngữ nhiều trong
ngữ cảnh dẫn đến sự nhàm chán. Chẳng hạn chúng tôi nhận thấy thành ngữ “có một
không hai” và “độc nhất vô nhị”, “thầy thuốc như mẹ hiền” và “lương y như từ
mẫu” là hai thành ngữ có ý nghĩa giống nhau và chúng đều được các nhà báo sử dụng
trong các bài viết của mình.
Hiện tượng các lượt thành ngữ Hán-Việt được sử dụng hạn chế như vậy cũng
đồng nghĩa với việc lượt sử dụng thành ngữ thuần Việt chiếm đại đa số. Điều này
cũng là một lẽ tất nhiên. Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ của mỗi dân tộc có vai trò
hết sức quan trọng trong cuộc sống của cộng đồng. Vì thế mà việc giữ gìn cũng như
phát huy vốn từ của dân tộc là việc làm hết sức cần thiết. Hơn thế nữa, thành ngữ có
tính biểu trưng, nghĩa của thành ngữ đa phần đều không phải là dấu cộng đơn thuần
nội dung ngữ nghĩa của các yếu tố cấu thành. Còn thành ngữ thì vốn dĩ thường có hai
nghĩa và nghĩa bóng mới là nội dung mà người sử dụng muốn người tiếp nhận thấu
hiểu. Trong khi đó số lượng thành ngữ thuần Việt của kho tàng văn hóa nước ta là vô
cùng to lớn. Chính vì thế trong quá trình làm báo, các nhà báo luôn cố gắng sử dụng
những thành ngữ thuần Việt mang tính quen thuộc, gần gũi, được đại đa số quần
chúng nhân dân sử dụng. Đó cũng là lí do vì sao thành ngữ thuần Việt được sử dụng
với một tỉ lệ lớn như vậy, áp đảo hơn hẳn thành ngữ Hán-Việt.
Cũng như thành ngữ Hán-Việt, chúng tôi cũng tiến hành thống kê phân loại
thành ngữ thuần Việt theo phương thức tạo nghĩa và nhận thấy trên các số báo của tờ
báo Tuổi trẻ cuối tuần, thành ngữ thuần Việt cũng xuất hiện đầy đủ 3 loại: thành ngữ
so sánh, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng.
Bảng 4: Các dạng cấu tạo theo phương thức tạo nghĩa của thành ngữ thuần Việt
trong tiếng Việt
Dạng cấu tạo Tần số xuất hiện Tỷ lệ % Ví dụ
203 14,61% Bình chân như vại
Thành ngữ so sánh
Rẻ như bèo Vắng như chùa Bà Đanh
795 54,64% Biết thân biết phận
Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
Bia đá bảng vàng Cuốc bẫm cày sâu Của ăn của để
Dãi nắng dầm mưa
388 30,75% Đá ném ao bèo
Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Giậm chân tại chỗ Hòa cả làng
Tổng 1389 100%
Như vậy trong tổng 1389 lượt thành ngữ thuần Việt xuất hiện trên 153 số báo
của tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần thì lượt thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng có tần số xuất
hiện cao nhất là 795 lượt, kế đến là thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng với 388 lượt và
sau cùng là thành ngữ so sánh 203 lượt. Ví dụ:
- Gia đình chị có đến năm đứa con, trước đây cơm không đủ ăn nhưng từ năm 2004
nhờ trồng khoai mà vợ chồng chị đã cất được ngôi nhà hơn 300 triệu đồng, có của
ăn của để.
(Bài của Thái Bá Dũng, số 36, ngày 13.9.2009, tr.14)
- Chuyển từ xã hội “ném vứt” (throw-away society) do kinh tế tăng trưởng cộng thêm
hàng nhập thừa mứa (quần áo, giày dép,…), giá rẻ như bèo từ Trung Quốc, VN, Ấn
Độ, Bangladesh…sang não trạng sống trong suy thoái, mỗi lúc thêm nhiều gia đình
Anh ở North Ireland-Wales-England âm thầm vận dụng sách lược “thắt lưng buộc
bụng”.
(Bài của Mai Kim Đỉnh, số 11, ngày 22.3.2009, tr.39)
- Những chiếc sim “ma” vẫn tiếp tục được mua bán đã xảy ra những tình huống bi
hài, dở khóc dở cười trong thời của điện thoại di động.
(Bài của Sơn Bình, số 45, ngày 15.11.2009, tr.11)
- Chính vì những lí lẽ trên, mong mọi người, nhất là chị em phụ nữ, hiểu được vai trò
của vitamin D, đừng quá lo sợ nắng ăn đen da, đừng bỏ phí “của trời cho” quý giá
này vì chính nó giúp ta sống khỏe hơn.
(Bài của PGS.TS Nguyễn Hữu Đức, số 39, ngày 04.10.2009, tr.20)
Nhìn chung, việc sử dụng đa số thành ngữ thuần Việt gần gũi quen thuộc đã
góp phần làm cho bài báo mang tính bình dân. Đặc điểm này đã góp phần thể hiện
đặc trưng đối tượng của báo chí là hướng đến mọi tầng lớp nhân dân; mặt khác như
chúng ta đã biết, thành ngữ là sản phẩm của tập thể nhân dân ta cho nên bản chất của
thành ngữ mang tính bình dân, dung dị, dễ hiểu.
2.2.1.4. Khả năng hoạt động của thành ngữ
Biểu hiện đầu tiên làm căn cứ cho nhận định này là thành ngữ có thể xuất hiện
trong tất cả các phần của một văn bản.
Qua khảo sát và thống kê, chúng tôi thu được kết quả về việc sử dụng thành
ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần ở phương diện cấu trúc của văn bản như sau:
Phần thân văn Các phần Tiêu đề Phần mở đầu Phần kết luận Tổng bản
Thành ngữ 60 7 1535 31 1633
3,67% 0,43% 94% 1,9% 100%
Như vậy, ở tất cả các phần của một văn bản, thành ngữ đều có khả năng hoạt
động. Nhưng tần số thành ngữ xuất hiện ở phần thân văn bản chiếm tỉ lệ cao nhất với
1535 lượt chiếm 94% trong tổng 1633 lượt thành ngữ mà chúng tôi thống kê được
trong 153 số báo ở ba năm 2007, 2008, 2009 trên tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần. Ví dụ:
1. Tiêu đề:
- Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chịu
(Bài của Hữu Nghị, số 43, ngày 4.11.2007, tr.8)
- Họa vô đơn chí với chi phí cao.
(Bài của Phan Sơn, số 29, ngày 26.7.2009, tr.20)
- Mất ăn mất ngủ
(Bài của Lê Thiết Cương, số 25, ngày 28.6.2009, tr.33)
2. Phần mở đầu:
- Chân ướt chân ráo đến paris độ tháng 9, nỗi sợ hãi với tôi lúc ấy là cái lạnh cắt da
cắt thịt.
(Bài của Thái Hòa, số 36, ngày 13.9.2009, tr36)
3. Phần thân văn bản:
- Kiểu máy ảnh số CVS này bán chạy như tôm tươi nhưng PDT lại…thua lỗ.
(Bài của An Nhiên, số 39, ngày 04.10.2009, tr.36)
- Nhưng cũng có những người “dám làm dám chịu” như giáo sư Kim của một
trường ĐH ở Quảng Châu bị cách chức vì sao chép luận văn vào những năm 1990.
(Bài của Cảnh Chánh, số 27, ngày 12.7.2009, tr.38)
- Mấy anh chị 8X cùng xóm trọ cứ mắt tròn mắt dẹp hỏi dò nhau: “Này, cái H yêu
một lúc hai thằng à?”
(Bài của Thương Vũ, số 27, ngày 12.7.2009, tr.25)
4. Phần kết luận:
- Biết bao giờ mới hết cảnh các em gái bị lừa vì nhẹ dạ cả tin?
(Bài của Trần Thị Quỳnh Như, số 23, ngày 14.6.2009, tr.9)
- Lục bình đã trở thành “cây xóa đói giảm nghèo” ở nông thôn và ngày càng có giá,
không còn bị coi là “rẻ như bèo” nữa.
(Bài của KS Phan Phùng Sanh, số 28, ngày 19.7.2009, tr.22)
- Trong những tiệc nhậu quan trọng với đối tác làm ăn, ông N. oai vệ xuất hiện cùng
một vệ sĩ. Sau tiệc nhậu, hết giờ nhậu cũng là hết giờ dịch vụ thuê vệ sĩ thì thân chủ
và vệ sĩ sẽ đường ai nấy đi.
(Bài của Hoàng Sơn, số 27, ngày 12.7.2009)
- Cuối cùng người cần đất làm ăn không có, người cần nhà để ở cũng bó tay chấm
com.
(Bài của Lý Sinh Sự, số 43, ngày 04.11.2007, tr.38)
Chúng ta có thể thấy tần số xuất hiện của thành ngữ ở phần thân văn bản chiếm
tỉ lệ cao nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì các văn bản trên báo Tuổi trẻ cuối tuần thì
phần thân văn bản thường chiếm dung lượng nhiều nhất. Do đó trong quá trình khảo
sát, chúng tôi đã thấy tần số xuất hiện của thành ngữ ở phần này chiếm tần số lớn
nhất chiếm 94%. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc cho rằng khả năng hoạt
động của thành ngữ ở phần này là mạnh nhất. Vì dung lượng phần thân văn bản của
một văn bản bao giờ cũng lớn nhất. Do vậy tần số thành ngữ xuất hiện ở phần này là
nhiều nhất cũng là điều tất yếu hơn hẳn các phần còn lại như tiêu đề, mở đầu và kết
luận là điều đương nhiên.
Trong báo chí, tiêu đề đóng vai trò rất quan trọng. Trong “Tiêu đề văn bản tiếng
Việt”, Trịnh Sâm cũng đã đề cập đến vấn đề này “Tiêu đề văn bản là cái gốc để kiểm tra
và thẩm định văn bản. Dựa vào nó, có thể xem xét sự tương hợp / bất tương hợp giữa ý
nghĩa của tiêu đề văn bản và nội dung của văn bản, cũng như để xem xét văn bản đã
hoàn chỉnh chưa, đã trọn vẹn chưa,…
Tiêu đề văn bản là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng chi phối quá
trình thụ đắc văn bản” [64; 35 ].
Như vậy ta thấy rằng tiêu đề văn bản đóng vai trò hết sức quan trọng trong
một văn bản. Đặc biệt là trong các tác phẩm báo chí. Bởi theo tâm lí của bạn đọc thì
giữa hàng loạt các bài báo, người đọc có xu hướng lựa chọn bài viết dựa vào tiêu đề.
Họ có thể tìm đến nội dung hoặc bỏ qua bài báo khi tiếp xúc với tiêu đề. Có thể nói
tiêu đề bài báo như là bộ mặt, là linh hồn, là yếu tố quyết định. Bộ mặt được trang trí
đẹp, hấp dẫn sẽ khiến cho du khách muốn vào thưởng ngoạn cảnh vật bên trong, còn
ngược lại, nếu tầm thường, thiếu thẩm mỹ thì rất dễ bị bỏ qua. Thành ngữ đứng ở đầu
văn bản làm nhiệm vụ dẫn thoại để đi đến các mục đích khác nhau trong ý đồ của
người nói như nhận xét, đánh giá, bác bỏ, can ngăn, cầu khiến,… Chính yếu tố biểu
cảm đã giúp tiêu đề bài báo thể hiện một cách công khai, trực diện thái độ, cảm xúc
của người viết đối với những vấn đề được nói đến trong tác phẩm. Nhờ sự xuất hiện
thành ngữ ở đầu văn bản làm dẫn thoại mà vấn đề được người nói đề cập đến trở nên
tự nhiên, có hình ảnh và sâu sắc, dễ đi vào lòng độc giả. Cũng cần nói thêm rằng,
trong quá trình khảo sát và thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng tiêu đề của các bài báo
bao gồm tiêu đề chung của cả bài và tiêu đề riêng (tiêu đề bộ phận). Và thành ngữ
cũng xuất hiện ở cả hai vị trí này.
Thành ngữ đứng ở phần thân văn bản xuất hiện phổ biến nhất. Ở đây, các nhà
báo đã đưa thành ngữ vào các bài viết để tạo ra cách nói năng tự nhiên, làm cho điều
mà người viết muốn diễn đạt trở nên hình ảnh, sinh động, súc tích, thu hút người đọc
vào nội dung của các bài viết.
Thành ngữ đứng ở phần kết luận văn bản thường để nêu một kết luận nào đó.
Khi được đặt ở vị trí này, thành ngữ đã trở thành kết luận của các văn bản, cô đọng,
khái quát nội dung, vấn đề.
Tóm lại, trong cấu trúc của văn bản, thành ngữ xuất hiện ở nhiều vị trí. Điều
này cho thấy khả năng hoạt động của thành ngữ trong một văn bản là khá cao và linh
hoạt.
2.2.1.5. Hiệu quả của việc vận dụng thành ngữ trên báo Tuổi trẻ cuối tuần năm
2007, 2008, 2009
Thành ngữ là đơn vị từ vựng quan trọng của tiếng Việt, nó không chỉ tồn tại
độc lập trong các cuốn từ điển mà còn được vận dụng linh hoạt trong giao tiếp hằng
ngày cũng như trong các phương tiện truyền thông đại chúng mà tiêu biểu là các văn
bản báo chí. Chúng ta tiếp cận và sử dụng thành ngữ ở ý nghĩa hàm ẩn, nghĩa ẩn tàng
sau các từ ngữ hơn là nghĩa thực. Không ai hiểu thành ngữ “bị đè đầu cưỡi cổ” theo
nghĩa đen là bị kẻ mạnh đè đầu xuống và ngồi lên cổ mà hiểu theo nghĩa bóng là bị
áp bức.
Về hình thức cấu tạo, thành ngữ là những nhóm từ cố định, để truyền đạt một ý
nghĩa nào đó mà người viết muốn hướng tới người đọc. Chúng ta nói “dày gió dạn
sương” nhưng cũng có thể nói “gió sương dày dạn”; hoặc chúng ta có thể nói “dãi
nắng dầm mưa” hoặc cũng có thể nói “dãi dầm mưa nắng”. Trật tự của các từ trong
nhóm có thể thay đổi, thậm chí có thể thay thế miễn là nói lên được ý nghĩa, nội dung
cần biểu đạt. Cho nên, “thành ngữ trong hệ thống chuẩn và tính uyển chuyển của nó
trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn” [30; 29 ]. Với sự biến hóa linh hoạt ấy,
thành ngữ đã góp phần làm nên giá trị thành công của các văn bản báo chí.
Thấy được vai trò và những đặc trưng của thành ngữ trong giao tiếp cũng như
trong các văn bản báo chí, chúng tôi đã đi vào khảo sát thành ngữ trên các văn bản
báo chí cụ thể là tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần. Khi đi vào sử dụng, thành ngữ có cấu trúc
đa dạng, ngữ nghĩa phong phú và nó có một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo
nên giá trị nội dung, sự hấp dẫn cho các văn bản báo chí.
a)Tạo màu sắc bình dân, gần gũi và dễ hiểu:
Việc sử dụng thành ngữ trên báo chí thật sự tạo nên màu sắc bình dân cho bài
báo, tăng khả năng tiếp nhận của bạn đọc với thông tin mà người viết muốn đưa tới.
Chính điều này đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa bạn đọc với thông tin và
người viết. Chính lối viết dùng thành ngữ đã làm cho lời văn thấm đượm màu sắc dân
tộc, đưa bài báo đến gần lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân. Lúc này độc giả
thuộc mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, mọi trình độ,…vẫn có thể thấy như được tiếp
xúc với một văn bản chân phương, gần gũi, giúp họ có tâm thế đi hết bài viết và nắm
bắt được nội dung của bài viết. Điều này cũng là một trong những yếu tố làm cho
độc giả có thể gắn bó với tờ báo. Vấn đề này là một trong những vấn đề quan trọng
quyết định sự sống còn của tờ báo. Vì nếu báo viết ra mà không có độc giả thì làm
sao tồn tại và phát triển. Ví dụ:
- Tuy nhiên, trong số ba đứa con còn sống của vợ chồng ông Địu chỉ có Bình là
tương đối bình thường, giờ đã có gia đình nhưng mỗi lúc trái gió trở trời là Bình lên
cơn co giật.
(Bài của Thái Bá Dũng- Thảo Hoàng, số 47, ngày 30.11. 2008, tr. 15)
Việc sử dụng thành ngữ đã thực sự tạo được phong vị dân dã, bình dị, mở rộng
cánh cửa đối với mọi đối tượng độc giả của tờ báo. Qua đó, những vấn đề thiết thân
của mỗi người như vấn đề và sự kiện, cuộc sống muôn màu, văn hóa và giải trí,…sẽ
càng trở nên gần gũi hơn như chính những câu chuyện xung quanh mình; những vấn
đề kinh tế, chính trị vĩ mô, tri thức khoa học, công nghệ khó hiểu, khó nắm bắt sẽ trở
nên dễ tiếp thu và tri nhận hơn. Với mục đích đầu tiên là chuyển tải thông tin tới độc
giả, báo chí phải đặt ra cho mình những nguyên tắc nhất định trong cách viết, cách
đưa tin. Đặc biệt là tiêu chí dễ hiểu. Có thể nói sử dụng thành ngữ vào diễn đạt báo
chí là một trong những biện pháp của người làm báo để đạt được mục đích vừa nêu.
b) Tạo tính hàm súc:
Mỗi thành ngữ có thể ví như là một bức tranh nhỏ về các sự vật, sự việc cụ thể,
riêng lẻ được nâng lên để nói về cái phổ biến, cái khái quát, cái trừu tượng. Chúng là
những ẩn dụ, so sánh, hoán dụ,… Như vậy, nghĩa của thành ngữ mang tính biểu trưng
rất cao. Do có tính biểu trưng cao nên các thành ngữ rất cô đọng, súc tích có tác dụng
thay thế cả một cụm từ tự do, một cách nói, một cách diễn đạt dài dòng, rườm rà nào
đó.
Do đó có thể nói hiệu quả tạo tính hàm súc là kết quả từ đặc điểm của thành
ngữ là đơn vị truyền miệng nên tính hàm súc, ngắn gọn sẽ là điều kiện để chúng được
lưu truyền và tồn tại bền vững. Khi muốn giải thích ngữ nghĩa của thành ngữ hầu hết
đều phải sử dụng một khối lượng câu chữ lớn hơn lượng câu chữ của thành ngữ đó.
Có thể nói thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ tối giản khi đối sánh với đơn vị cùng nghĩa
hay gần nghĩa với nó.
Chính vì thế, thao tác sử dụng thành ngữ vào bài viết cũng góp phần làm cho
bài viết không chỉ dễ hiểu mà còn dễ nhớ và gây ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Ví dụ:
- Cửa ngõ mở toang hoác (có lẽ không có của nả gì mà lo trộm), nhà vắng như chùa
bà Đanh.
(Bài của Lê Đức Dục, số 45, ngày 16.11.2008, tr.16)
-
c) Tạo tính hình ảnh và biểu cảm:
Sử dụng thành ngữ vào diễn đạt trên báo chí trong nhiều trường hợp đã giúp
cho lời văn thêm mềm mại, uyển chuyển và sinh động hơn. Trong lộ trình diễn giải
thông thường sự xuất hiện của một đơn vị thành ngữ ít nhiều tạo nét mới, cách diễn
đạt vì thế cũng đỡ nhàm chán hơn. Đây cũng là một kĩ năng rất quan trọng mà mỗi
nhà báo phải trang bị cho bản thân mình. Ví dụ:
- Hai vợ chồng đều thuộc loại “phá gia chi tử” theo nghĩa kiếm cũng nhiều nhưng
tiêu lại còn nhiều hơn.
(Bài của Ma Kết, số 31, ngày 10.8.2008, tr.33)
- Ông Quang quay lại chợ đòi lại tiền thì chủ hàng xua tay vì đã “tiền trao cháo
múc”.
(Bài của Vũ Bình - Tấn Đức, số 29, ngày 27.7.2008, tr.38)
Không dừng lại ở chỗ tạo những hiệu quả diễn đạt như giúp cho bài viết gần
gũi, hàm súc, uyển chuyển, linh hoạt, hình ảnh,…Việc sử dụng thành ngữ cũng tạo
nên giá trị biểu cảm cho bài báo. Dường như trên báo chí, sự đa diện và đa dạng của
đời sống con người đều được trưng bày. Mọi thông tin về sự vận động của đời sống
đều được chuyển tải đến người đọc. Sự đa dạng về tình huống, trạng thái, tính chất
của sự vật, hiện tượng cũng gần như đồng nghĩa với việc sẽ có ngần ấy sắc thái cảm
xúc, cách đánh giá, thái độ của người tiếp nhận, người chứng kiến đối với chúng. Với
tư cách là phương tiện diễn đạt, thành ngữ sẽ góp phần vào việc thể hiện những sắc
thái ấy một cách hàm súc.
Việc sử dụng thành ngữ, như đã nói, là rất linh hoạt và đầy sáng tạo. Những
khuôn mẫu và công thức truyền thống, cố định có thể bị phá vỡ bởi những kiến tạo
mới như lược yếu tố, thay yếu tố, chêm xen, hoán đổi, tách,…Từ đó nội dung ngữ
nghĩa của chúng có thể bị thay đổi ít nhiều hay hoàn toàn sau khi được biến đổi dưới
óc sáng tạo, linh hoạt của các nhà báo. Chính điều này đã giúp cho khả năng biểu
cảm của thành ngữ được bộc lộ ra trên mặt báo cũng đầy bất ngờ, thú vị. Và một điều
đặc biệt mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần mà chúng tôi
lựa chọn khảo sát có nội dung rất phong phú. Nó đề cập hầu hết những vấn đề của
cuộc sống như thời sự, phóng sự, gặp gỡ và đối thoại, văn hóa- văn nghệ- giải trí, thể
thao, quốc tế, khoa học. Và chúng tôi cũng nhận thấy rằng bên cạnh thành ngữ xuất
hiện trên các văn bản báo chí thì thành ngữ cũng xuất hiện trên các sáng tác văn học
như tạp bút, tiểu phẩm, truyện ngắn. Trong các thể loại này, thành ngữ cũng đã phát
huy được vai trò của nó hết sức linh hoạt. Ví dụ:
- Sáng nay, vừa mở cửa nhìn ra tôi bỗng thấy choáng váng. Vẫn biết vật đổi sao dời
là lẽ bình thường nhưng sự thiếu đồng bộ của nó thật khó chấp nhận.
(Bài của Xuân Giang, tiểu phẩm Đường giây nóng, số 28, ngày 19.7.2009)
- Tức là bất cứ lúc nào, bất kỳ ở đâu, trong mọi hoàn cảnh, 100% dân ở phố tôi cũng
phải cười toe cười toét.
(Bài của Xuân Giang, số 36, ngày 13.9.2009, tr.41)
Trên đây là một số những nhận định của chúng tôi về hiệu quả của việc sử
dụng thành ngữ vào trong diễn đạt báo chí, cũng như trong các sáng văn học. Những
luận điểm này không phải hoàn toàn tách biệt mà đan xen, giao thoa, chứa đựng lẫn
nhau. Tính bình dân, gần gũi, tính hàm súc, tính hình tượng và biểu cảm đều biểu
hiện trong mỗi trường hợp có sử dụng thành ngữ. Tùy trường hợp, sẽ có sự khác nhau
ở mức độ biểu hiện của những tính chất trên. Song nhìn chung, tất cả đều có mặt và
góp phần làm tăng hiệu quả diễn đạt cho bài báo. Có thể thấy, việc sử dụng những
đơn vị này vào diễn đạt đã có những hiệu quả tích cực nhất định. Bên cạnh đó, ở một
góc độ khác, việc sử dụng thành ngữ còn làm cho bài báo có tính chất như là phát
ngôn của nhân dân giúp cho thông tin đến với bạn đọc một cách dễ dàng, nhanh
chóng. Ở đấy, quan điểm của tác giả dễ tìm được sự đồng tình, đồng cảm với đa số
bạn đọc vì nó phù hợp với những truyền thống đạo đức, nguyên tắc ứng xử của dân
tộc.
Tiểu kết
Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ được hình thành, tồn tại và phát triển trong quá
trình giao tiếp của quần chúng nhân dân. Nó là tấm gương phản chiếu lối sống, suy
nghĩ, tư tưởng và tình cảm của họ. Những tính chất như tính cố định, hình tượng, biểu
cảm,…giúp cho thành ngữ có khả năng tham gia vào nhiều tình huống giao tiếp khác
nhau. Nó không chỉ tham gia vào lớp ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày (phong cách sinh
hoạt hằng ngày) mà còn tham gia vào lớp ngôn ngữ nghệ thuật (thuộc phong cách văn
chương), tham gia vào lớp ngôn ngữ chính luận (thuộc phong cách chính luận), tham
gia vào lớp ngôn ngữ báo chí (thuộc phong cách báo chí- công luận),... Ở mỗi địa hạt
mà nó hoạt động, thành ngữ đều giữ gìn và phát huy giá trị của mình. Trong khuôn
khổ của một khóa luận, chúng tôi cố gắng làm rõ và chỉ ra một số nét về tình hình,
đặc điểm và hiệu quả sử dụng thành ngữ vào diễn đạt trên tờ báo Tuổi trẻ cuối tuần
năm 2007, 2008, 2009.
Dựa trên tình hình sử dụng, trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy sự sử
dụng thành ngữ có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán-Việt đều được sử dụng
nhưng tần số xuất hiện của thành ngữ thuần Việt chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với
thành ngữ Hán-Việt. Điều này cho thấy sự phong phú và đa dạng của thành ngữ khi
xuất hiện trên các mặt báo.
Thứ hai thành ngữ có khả năng hoạt động rất cao. Điều này được thể hiện bởi
sự có mặt của thành ngữ ở tất cả các phần trong cấu trúc của văn bản (tiêu đề, phần
mở đầu, phần nội dung và phần kết).
Thứ ba là về cách thức sử dụng thành ngữ. Có thể nói những người làm báo đã
sử dụng thành ngữ hết sức linh hoạt và sáng tạo. Không chỉ sử dụng thành ngữ
nguyên dạng, người viết báo còn biến đổi ít nhiều thành ngữ gốc cho phù hợp với nội
dung của bài báo với những thao tác như lược yếu tố, thay yếu tố, đảo yếu tố, tách,…
Việc sử dụng thành ngữ vào báo chí đã đạt được những hiệu quả nhất định. Nó
đã tạo tính bình dân, gần gũi cho bài báo, rút ngắn khoảng cách giữa bài báo với mọi
đối tượng bạn đọc. Bên cạnh đó, tính ngắn gọn, hàm súc của thành ngữ cũng góp
phần làm cho bài viết thêm cô đọng, súc tích mà vẫn đủ sức biểu đạt nội dung. Và
cuối cùng sử dụng thành ngữ mang đến cho bài viết cách diễn đạt giàu hình ảnh, sinh
động và có sức biểu cảm cao. Những hiệu quả này hi vọng sẽ trở thành động lực thôi
thúc sự quan tâm, lưu ý của người làm báo đối với đơn vị ngôn ngữ này.
2.2.2. Khảo sát, thống kê, phân loại quán ngữ liên kết
2.2.2.1. Dựa vào tần số sử dụng
Như đã nói trên, mặc dù số lượng quán ngữ không nhiều bằng thành ngữ
nhưng khả năng vận dụng quán ngữ trong văn bản thì rất lớn. Trong đó số lượng quán
ngữ thực hiện chức năng liên kết lại càng được sử dụng hết sức linh hoạt và đa dạng
trong văn bản.
Qua khảo sát 153 số báo mà luận văn tiến hành nghiên cứu, chúng tôi thấy một
điều rằng số lượng quán ngữ thực hiện chức năng liên kết được sử dụng trong các văn
bản có số lượng tương đối lớn, tần số sử dụng cao. Trong 153 số báo Tuổi trẻ cuối
tuần có 75 quán ngữ, xuất hiện 7910 lượt trong quá trình sử dụng. Trong đó, ở các số
báo năm 2008, quán ngữ xuất hiện với tần số nhiều nhất là 2912 lượt, kế đến là năm
2007 với 2805 lượt và cuối cùng là năm 2009 với 2193 lượt. Và 75 quán ngữ mà
chúng tôi thống kê được đều xuất hiện trong ba năm 2007, 2008, 2009 của báo Tuổi
trẻ. Trong đó, chúng tôi nhận thấy có một số quán ngữ hay dùng và xuất hiện liên tục
trong các văn bản như:
1) Quán ngữ “nói chung” xuất hiện 312 lượt. Đây là loại quán ngữ liên kết có cấu tạo
chặt chẽ, có vị trí sử dụng rất linh hoạt trong các văn bản. Ví dụ:
- Tăng giá đền bù cũng là một cách để giữ đất trồng lúa, nhưng không nên chỉ
khoanh vùng vào mỗi cây lúa, nên đề cập đến giá đất nông nghiệp nói chung.
(Bài của Võ Văn Thành- Đức Bình, số 29, ngày 26.7.2009, tr.5)
- Ở Việt Nam, việc chiếu xạ nói chung cho các mục đích khoa học (như chiếu xạ cắt
mạch các hợp chất cao phân tử) và việc chiếu xạ trên thực phẩm nói riêng hiện chủ
yếu còn ở dạng thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.
(Bài của Nguyễn Văn Trung, số 9, ngày 8.3.2009, tr.19)
- Nhưng nói chung, các cầu thủ vẫn là người được lợi nhất.
(Bài của Nguyên Khôi, số 40, ngày 11.10.2009, tr.37)
- Nhiều khu vực ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng ven biển Cà Mau nói
riêng đã bước đầu chịu ảnh hưởng do mực nước biển dâng cao.
(Bài của Huỳnh Lâm, số 24, ngày 21.6.2009, tr.18)
Ngoài ra, cùng với việc dùng quán ngữ “nói chung”, ta còn gặp các đơn vị
quán ngữ liên kết tương đương như: nói cho cùng, nói khái quát, nói cách khác, nói
một cách đơn giản, nói gọn lại, nói thẳng ra, nói một cách khác, nói ngắn gọn là,…
được sử dụng nhiều lần trong văn bản. Ví dụ:
- Nói cách khác, chúng ta đang đào tạo theo kiểu mì ăn liền, tận thu vài mùa là hết.
(Bài của P.Tấn, số 28, ngày 19.7.2009, tr.35)
- Điều đáng nói là sự gia tăng số lượng cũng đi kèm việc nâng cao chất lượng.
(Bài của Hiếu Nhi- Trung Nguyễn, số 43, ngày 04.11.2007, tr.26)
- Chính đồng tiền đã giúp những cư dân mới giàu có này được chăm sóc chiều
chuộng, hay nói cách khác, tiếng nói của họ luôn được lắng nghe kỹ lưỡng.
(Bài của Trần Thị Thanh Hương, số 44, ngày 11.11.2007, tr.13)
2) Quán ngữ “rõ ràng là” xuất hiện 283 lượt. Ví dụ:
- Nếu đợi trung ương quyết định thì nhiều khi không giải quyết được vấn đề, trong khi
tiền của Hà Nội rõ ràng là không phải không có.
(Bài của Kiết Hưng- Cầm Văn Kình, số 44, ngày 11.11.2007, tr.5)
- Rõ ràng nền giáo dục như thế chỉ nhắm đến điểm, đến thành tích chứ không nhắm
đến giáo dục con người.
(Bài của Trần Thị Thanh Hương, số 44, ngày 11.11.2007, tr.9)
3) Quán ngữ “thực ra” xuất hiện 273 lượt. Ví dụ:
- Thật ra địa phương nào cũng muốn có quyền riêng nhưng như thế thì phải thể hiện
được sự thống nhất quản lý về mặt ngân sách từ trung ương đến địa phương và vấn
đề đó phải được Quốc hội quyết định.
(Bài của Phùng Quốc Hiển, số 44, ngày 11.11.2007, tr.5)
4) Quán ngữ “tức là” xuất hiện 252 lượt. Ví dụ:
- Người ngần ngại lên đường khi ngồi kể ra những cái thiếu ở trên tức là họ đang
thật sự thiếu những cái khác nữa: thiếu tinh thần ham hiểu biết thế giới mà ta đang
sống, thiếu tinh thần khám phá và thử sức khỏe ở giữa thiên hạ, thiếu khao khát có
được những cảm xúc thật mạnh, thật mới mẻ, thật rộng lớn.
(Bài của Hồ Anh Thái, số 43, ngày 04.11.2007, tr.17)
5) Quán ngữ “nói tóm lại” xuất hiện 250 lượt. Ví dụ:
- Nói tóm lại, người ta có quyền vứt xuống dòng nước đã nuôi dưỡng bao đời cha
ông mình tất cả những gì uế tạp nhất.
(Bài của Mạc Đại, số 24, ngày 21.6.2009, tr.42)
6) Quán ngữ “quả thật” xuất hiện 238 lượt. Ví dụ:
- Quả thật cơ hội cho người nghèo đã mở ra.
(Bài của Phan Sơn, số 29, ngày 26.7.2009, tr.21)
- Quả thật uy tín cá nhân của ông Hồ phổ biến đến mức tẩt cả mọi người, ngay cả
các kẻ thù chính trị của ông, đều thừa nhận là nếu như cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp
định Geneve được tổ chức thì nước VN đã được thống nhất dưới sự lãnh đạo của ông.
(Dẫn theo ALDEN WHITMAN, số 34, ngày 30.8.2009, tr.4)
7) Quán ngữ “nghĩa là” xuất hiện 227 lượt. Ví dụ:
- Hạnh phúc là khi cho đi, nghĩa là bạn đang nhận lại rất nhiều.
(Bài của Nguyễn Lê Minh, số 25, ngày 28.6.2009)
- Nghĩa là khi công dân yêu cầu được tiếp cận thông tin nhưng cơ quan công quyền
từ chối và công dân thấy không thỏa mãn với lập luận của cơ quan công quyền thì có
nơi mà kêu.
(Bài của Lê Thiên Ngân, số 9, ngày 08.3.2009, tr.12)
- Nếu đếm ý cho điểm nghĩa là biến môn Văn thành môn toán 1+1 phải bằng 2.
(Bài của Minh Giảng, số 26, ngày 5.7.2009, tr.14)
- Các mảnh nhựa thay thế phần lớn bột giặt và được thu hồi để tái sử dụng ít ra hơn
100 lần, nghĩa là sáu tháng mới phải nạp nhựa một lần.
(Bài của H.X.P, số 26, ngày 5.7.2009, tr.22)
- Nghĩa là những thông tin trong báo cáo này phản ánh thực trạng của năm 2008
chứ không phải của năm 2009.
(Bài của Thanh Tuấn, số 37, ngày 20.9.2009, tr.16)
- Ở Philippines có một chương trình truyền hình mang tên “Sa mga mata ng bata
(nghĩa là “Trong mắt trẻ, những điều sai trái sẽ trở thành đúng đắn).
(Dẫn theo Mahatma Gandhi, số 43, ngày 4.11.2007, tr.5)
8) Quán ngữ “trái lại” xuất hiện 223 lượt. Ví dụ:
- Trái lại, không ít người chẳng mất công mơ ước, không hoài bão lại nghèo đức kém
tài, vậy mà được gió nên vút lên như diều.
(Bài của Quang Dương, số 42, ngày 25.10.2009, tr.25)
9) Quán ngữ “nói riêng” xuất hiện 217 lượt. Ví dụ:
- Việc UNESCO công nhận Mũi Cà Mau là khu dự trữ sinh quyển thế giới là một sự
kiện đáng tự hào của Việt Nam nói chung và Cà Mau nói riêng.
(Bài của Như Ý, số 22, ngày 07.6.2009, tr.10)
10) Quán ngữ “ngược lại” xuất hiện 205 lượt. Ví dụ:
- Ngược lại bệnh nhân cúm gia cầm đa số ở vùng sâu vùng xa, khi đến bệnh viện đều
trễ (7-8 ngày sau khi khỏi bệnh), tổn thương phổi trầm trọng.
(Bài của Bác sĩ Trần Tịnh Hiền, số 24, ngày 21.6.2009, tr.20)
- Ngược lại giáo viên trung học được đào tạo rộng rãi ở khoảng 350 trường đại học,
yêu cầu đầu vào cũng không khắt khe bằng.
(Bài của Vân Cầm, số 43, ngày 4.11.2007, tr.10)
- Trong khi ngày nay thiên hạ hầu như uống nước đun sôi để nguội, ngược lại tôi ưa
nước sông.
(Bài của Ngô Khắc Tài, số 31, ngày 09.8.2009, tr.42)
10) Quán ngữ “ngoài ra” xuất hiện 105 lượt. Ví dụ:
- Ngoài ra, người nghèo là nhóm không có tiếng nói mạnh mẽ trong xã hội nên Chính
phủ cần chú trọng đến nhu cầu của nhóm người này.
(Bài của Hương Giang, số 24, ngày 21.6.2009, tr.5)
- Ngoài ra, Ấn Độ cũng có kế hoạch thuê các tàu ngầm hạt nhân của Nga và dự kiến
sẽ chi 30 tỉ USD trong năm năm tới để hiện đại hóa các loại súng cho quân đội, xây
dựng các hệ thống vũ khí mới nhằm nâng cấp lực lượng hải quân.
(Bài của TS Nguyễn Ngọc Trường, số 25, ngày 28.6.2009, tr. 38)
- Ngoài ra, trong thời kì khủng hoảng người ta bắt đầu hiểu rằng sức khỏe tốt có ý
nghĩa lớn với cuộc đời.
(Bài của Minh Thư, số 26, ngày 5.7.2009, tr.21)
- Ngoài ra Nhà nước cũng phải hết sức tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ
tư vấn, hướng dẫn cho nông dân , chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dịch vụ vay
vốn, tín chấp với ngân hàng để nông dân được vay vốn sản xuất.
(Bài của Khiết Hưng, số 43, ngày 4.11.2007, tr.7)
- Ngoài ra, khi tham gia tấn công, Clichy có những pha chọc khe, xẻ nách đối
phương rất khó chịu.
(Bài của Quốc Thắng, Tấn Phúc, số 43, ngày 04.11.2007, tr.25)
11) Quán ngữ “cuối cùng” xuất hiện 187 lượt.Ví dụ:
- Cuối cùng, với những học sinh sút kém, Phần Lan có riêng một dạng giáo viên đặc
biệt để hướng dẫn thêm các em này.
(Bài của Vân Cầm, số 43, ngày 4.11.2007, tr.11)
12) Quán ngữ “thậm chí” xuất hiện 179 lượt. Ví dụ:
- Nhưng để truyền máu người với người, một vấn đề lớn là máu không tương hợp,
gây sốt, nôn mửa, nhức đầu, thậm chí tử vong vì bị sốc máu.
(Bài của Trung Lê, số 43, ngày 04.11.2007, tr.21)
13) Quán ngữ “có lẽ” xuất hiện 167 lượt.Ví dụ:
- Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất trong lịch sử về một sự đột phá ý tưởng là chuyện
Archimedes đã nhảy ra khỏi bồn tắm và trần truồng chạy trên đường, khi ông phát
minh định luật về lực đẩy của nước.
(Bài của Nguyễn Đông Triều, số 43, ngày 04.11.2007, tr.23)
- Bây giờ, có lẽ là thời điểm thích hợp nhất để xóa bỏ quan niệm cũ và xây dựng
những quan điểm mới về kinh doanh.
(Bài của PGS TS Nguyễn Hoài Nam, số 44, ngày 11.11.2007, tr.9)
14) Quán ngữ “chẳng hạn như” xuất hiện 176 lượt.Ví dụ:
- Chẳng hạn như Mazarine Pingeot với nghĩa địa búp bê (La cimetiere des poupées)
dựa trên câu chuyện bi thảm có thật từng gây xôn xao dư luận về một bà mẹ giết con.
(Bài của Hiếu Nhi- Trung Nguyễn, số 43, ngày 04.11.2007, tr.26)
- Âm nhạc, hội họa, những hoạt động văn hóa còn thấy cả trong công viên, những
nhà cộng đồng dành cho trẻ em sinh hoạt vào các ngày cuối tuần hay ngày lễ hội của
các tổ chức cộng đồng, như nhóm công tác xã hội của người Philippines chẳng hạn.
(Bài của Trần Thị Thanh Hương, số 44, ngày 11.11.2007, tr.13)
15) Quán ngữ “nhìn chung” xuất hiện 153 lượt. Ví dụ:
- Nhìn chung, các cây bút Pháp bộc lộ nhiều hơn những gì họ thấy và suy ngẫm.
(Bài của Hiếu Nhi- Trung Nguyễn, số 43, ngày 04.11.2007, tr.28)
16) Quán ngữ “đặc biệt là” xuất hiện 143 lượt. Ví dụ:
- Khi bước vào không gian bên trong khu phức hợp này, hầu hết những người yêu
nghệ thuật cũng như những kẻ ngoại đạo sẽ thật sự ngạc nhiên và có ấn tượng rất
mạnh khi chiêm ngưỡng hàng trăm bức hoạ, bức tranh tường, đặc biệt là tranh trần
nhà khổng lồ được chép lại từ những tác phẩm nghệ thuật Ý thời Phục Hưng.
(Bài của T.T.D, số 43, ngày 04.11.2007, tr.34)
17) Quán ngữ “mặt khác” xuất hiện 129 lượt.Ví dụ:
- Với thuế suất thấp, đa số người nộp thuế sẽ không cần thiết phải khai dối mức thu
nhập thật của họ, mặt khác điều này cũng sẽ thu hút những người có thu nhập rất
cao trên thế giới, đặc biệt là Việt kiều đến VN sinh sống, làm ăn, đóng góp phần thuế
TNCN đáng kể cho VN.
(Bài của Nguyễn Viết Thịnh, số 44, ngày 11.11.2007, tr.9)
18) Quán ngữ “chắc chắn là” xuất hiện 127 lượt. Ví dụ:
- Chắc chắn là khả năng phòng thủ của chúng tôi yếu so với phương Tây, nhưng sẽ
là một sai lầm chính trị khi tấn công đất nước chúng tôi.
(Bài của Võ Trung Dung, số 44, ngày 11.11.2007, tr.10)
Tóm lại, ta thấy với hàng loạt các quán ngữ thực hiện chức năng liên kết thì
đây là những quán ngữ rất tiêu biểu, có vai trò quan trọng trong việc chuyển ý và liên
kết các đoạn văn, các ý trong toàn văn bản. Với sự đa dạng này của các quán ngữ liên
kết sẽ giúp cho các câu văn, các đoạn văn trong các văn bản được chặt chẽ và hình
ảnh hơn.
2.2.2.2.Dựa vào vị trí xuất hiện trong văn bản
Căn cứ vào khả năng phân bố vị trí của các quán ngữ trong câu, chúng ta thấy
rằng, quán ngữ thực hiện chức năng liên kết không chỉ đứng ở đầu câu, mà nó còn có
thể đứng giữa câu, cuối câu. Vị trí của chúng trong văn bản rất linh hoạt, dựa vào đây
ta có thể chia làm hai nhóm nhỏ sau:
1) Nhóm quán ngữ thường đứng ở đầu phát ngôn: nhóm này chiếm số lượng lớn
trong các văn bản. Vì ta thấy, với chức năng liên kết thì quán ngữ liên kết cũng như
các từ nối thường đứng ở đầu mỗi phát ngôn để thực hiện chức năng của mình là liên
kết nội dung các ý, các đoạn trong văn bản.
Trong toàn bộ 75 quán ngữ liên kết thống kê được xuất hiện với 7910 lượt thì
có 5083 lượt các quán ngữ này xuất hiện ở đầu câu chiếm 64,3%.
Một số quán ngữ hầu như chỉ xuất hiện ở đầu câu như: trước tiên, trước hết là, nói
tóm lại, thứ nhất là, đáng chú ý là, thiết tưởng, thiết nghĩ, nhìn chung, một là, hai là,
hơn nữa,… Ví dụ:
- Trước tiên phải thấy là nông dân vẫn ở trong trạng thái rất dễ bị tổn thương, cần
được bảo vệ tốt hơn.
(Bài của Cầm Văn Kình, số 26, ngày 5.7.2009, tr.4)
- Thiết nghĩ, để thúc đẩy sự phát triển của khoa học nước nhà, Nhà nước cần phải có
những can thiệp trực tiếp, sâu sát, cần đưa ra những định hướng phát triển nghiên
cứu mang tính chất vĩ mô, cũng như các tiêu chí chính sách để thúc đẩy sự phát triển
của khoa học Việt Nam trong thời gian tới.
(Bài của Đỗ Thông, số 29, ngày 26.7.2009, tr.9)
- Trước hết là tạo cơ chế tốt nhất để các chủ thể giáo dục thực hiện đúng và thực
hiện tốt vai trò của mình trong hệ thống giáo dục và trong quá trình giáo dục.
(Bài của Trần Nguyên, số 29, ngày 26.7.2009, tr.19)
- Tóm lại, từ khi du nhập và trở nên phổ biến tại Việt Nam, yoga đã mang đến cho
mọi người một phương pháp mới luyện thể chất, dưỡng tâm trí và mở ra con đường
“không giới hạn” cho các yogi (người tập yoga) muốn đắc đạo.
(Bài của Bác sĩ Trương Công Dũng, số 32, ngày 16.8.2009, tr.21)
Có thể nói, với một số lượng lớn quán ngữ thực hiện chức năng liên kết đứng ở
đầu câu và đầu đoạn văn, đã giúp cho mạch liên kết của văn bản có sự chặt chẽ, các ý
trình bày rõ ràng và thuyết phục người đọc, người nghe.
2) Nhóm quán ngữ thường đứng ở giữa phát ngôn: nhóm quán ngữ này chiếm số
lượng tương đối nhiều.
Trong toàn bộ 75 quán ngữ liên kết thống kê được xuất hiện với 7910 lượt thì
có 2658 lượt quán ngữ xuất hiện ở giữa phát ngôn chiếm tỉ lệ 33,6%.Ví dụ:
- Tuy nhiên, ở mức độ căn bản, yoga không mang lại những kết quả bất ngờ hay kì
diệu cho một cơ thể bình thường, càng không phải là cách tập vật lý trị liệu để chữa
bệnh, ngược lại còn có thể bị chấn thương mới.
(Bài của Bác sĩ Trương Công Dũng, số 32, ngày 16.8.2009, tr.21)
- Đối với nền kinh tế thế giới nói chung, đặc biệt là các nước nghèo hơn, gia tăng
thương mại giữa các nước trả lương cao và trả
lương thấp là một điều rất tốt, cho phép các nền kinh tế xếp hạng chót này có hi
vọng leo bậc thang thu nhập”.
(Bài của Danh Đức, số 37, ngày 29.9.2009, tr.6)
- Như vậy, một mặt đòi hỏi các trường phải nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất và
trang thiết bị, loại dần việc dạy “chay”, học “chay”, mặt khác cũng phải thay đổi tư
duy và thái độ giảng dạy của những người đứng lớp.
(Bài của Nguyễn Minh Hải, số 37, ngày 20.9.2009, tr.8)
- Cả ba vị giám khảo cùng nhăn mặt, rõ ràng là họ đang cân nhắc vấn đề số điểm
cho một câu trả lời thông minh sẽ hơn số điểm cho một câu trả lời đúng là bao nhiêu.
(Bài của Thục Anh, số 37, ngày 20.9.2009, tr.41)
- Trong khi đó, nhiều gói kích cầu của Chính phủ, đặc biệt là gói kích cầu cho khu
vực nông thôn, đang giải ngân khá chậm, người dân đang khó khăn trong việc tiếp
cận nguồn vốn đó đê vượt qua khó khăn.
(Bài của Cầm Văn Kình, số 23, ngày 14.6.2009, tr.4)
- Sdan, đặc biệt là vấn đề Darfur, chiếm phần lớn lịch trình và thu hút sự chú ý của
cộng đồng thế giới; sáu nghị quyết đã được thông qua.
(Bài của Hữu Nghị, số 01, ngày 06.01.2008, tr.7)
3) Nhóm quán ngữ thường đứng ở cuối phát ngôn: nhóm quán ngữ này chiếm số
lượng ít nhất trong các nhóm quán ngữ đã nêu trên, chỉ có 122 lượt chiếm 1,55%. Ví
dụ:
- Nhà sử học Edward Ranney cho rằng người Inca xây ruộng moray để trồng các loại
cây quý hiếm chỉ sống được ở các đới khí hậu khác như cây coca chẳng hạn.
(Bài của Nguyễn Ngọc Thơ, số 31, ngày 09.8.2009, tr.22)
- Thế nhưng, hầu hết các loại TPCN đều được giới thiệu có khả năng trị những bệnh
mà y học hiện đại đang “mướt mồ hôi” tìm giải pháp cứu chữa mà vẫn chưa ra, như
bệnh ung thư chẳng hạn.
(Bài của BS Trần Hoài Nhân, số 48, ngày 6.12.2009, tr.20)
- Tăng giá đền bù cũng là một cách để giữ đất trồng lúa, nhưng không nên chỉ
khoanh vùng vào mỗi cây lúa, nên đề cập giá đất nông nghiệp nói chung.
(Bài của Võ Văn Thành- Đức Bình, số 29, ngày 26.7.2009, tr.5)
Với những quán ngữ ở cuối phát ngôn, chúng chủ yếu thể hiện chức năng hồi
cố, tức là, đưa người tiếp nhận quay trở lại với những vấn đề đã nhắc ở phần trước.
Lúc này người viết kết luận lại nhưng không cần thiết nhắc lại những vấn đề đó nữa.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nói rằng, sự nhận định này chỉ mang tính chất
tương đối, bởi trong thực tế thì vị trí của quán ngữ thực hiện chức năng liên kết rất
linh hoạt. Cùng một quán ngữ đó nhưng có khi nó đứng đầu phát ngôn, có khi lại
đứng giữa phát ngôn, lại có khi đứng ở cuối phát ngôn, tùy thuộc vào từng ngữ cảnh
và nội dung văn bản thể hiện. Chẳng hạn:
- Những người có hiểu biết ban đầu về kinh tế đều nói rằng doanh nghiệp độc quyền
không được phép quyết định giá. Nghĩa là Nhà nước phải quyết định giá bán- mua
của doanh nghiệp độc quyền.
(Bài của Lê Anh, số 15, ngày 18.4.2008, tr.4)
- Với doanh nghiệp cổ phần, vốn điều lệ hiện nay được tính bằng tổng vốn được phát
hành, nghĩa là cả đã góp và chào bán, dù chưa biết có huy động được hay không.
(Bài của Cầm Văn Kình, số 15, ngày 18.4.2008,tr.7)
- Nói chung là khi tất cả mọi thứ đều minh bạch, không có gì khuất tất thì có thể
dùng điểm số để đánh giá chất lượng giáo dục.
(Bài của Trần Khuê, số 28, ngay 17.7.2009, tr.21)
- Những thập kỉ sau đó, HQ phát triển rất nhanh về kinh tế nhưng hình ảnh về HQ
nói chung vẫn không thật sự tích cực trong mắt những người nước ngoài.
(Bài của Thu Hà, số 42, ngày 25.10.2009, tr.16)
- Thực tế nếu chúng ta tập trung nguồn lực có hạn của Việt Nam vào bảo vệ các loài
độc đáo thì có thể giúp cải thiện khả năng quản lý các khu vực cần bảo vệ nói chung.
(Bài của Khổng Loan, số 44, ngày 6.11.2008, tr.28)
- Thiết nghĩ đây là môn thể thao có cách chơi không quá khó, thậm chí có phần phù
hợp với tố chất của người Việt Nam.
(Bài của Trung Dân, số 34, ngày 29.8.2008, tr.39)
- Mèo chê chuột do được nuôi đủ, có th ể; nhưng mèo mà sợ chuột thì lí giải sao đây
về bản năng, thú vui, sứ mệnh, lẽ sinh tồn,…thiết nghĩ đó có thể là đề tài cho một
luận văn cao học đấy.
(Bài của Dạ Ngân, số 42, ngày 25.10.2009, tr.42)
- Chẳng hạn ở Mỹ có chiến dịch khổng lồ để quảng bá thực phẩm BĐG.
(Bài của Hương Giang, số 28, ngày 17.7.2009, tr.28)
- Muốn làm được điều này, trước tiên bộ phải chuẩn hóa chương trình phổ thông
theo tiêu chí đầu ra, chẳng hạn học sinh tốt nghiệp phải nắm được những dạng bài
tập nào cụ thể.
(Bài của TS Nguyễn Xuân Mai, số 31, ngày 09.8.2009, tr.8)
- Ba yếu tố đó ràng buộc, chi phối lẫn nhau, một mặt chúng tạo nên quan hệ giằng co,
cạnh tranh, nhưng mặt khác chúng cũng có thể hỗ trợ nhau nếu có những chính sách
điều phối hợp lí.
(Bài của Nguyễn Văn Trung, số 47, ngày 29.11.2009, tr.22)
2.2.2.3. Dựa vào cấu tạo
Nhìn chung, quán ngữ nói chung và quán ngữ thực hiện chức năng liên kết nói
riêng chủ yếu là những cụm từ cố định có vai trò tương đương như một đơn vị từ. Xét
từ góc độ hình thức cấu tạo nội tại của bản thân các quán ngữ thực hiện chức năng
liên kết, ta có thể thấy chúng là những tổ hợp có độ dài ngắn khác nhau. Căn cứ vào
số lượng các thành tố tham gia cấu tạo tổ hợp các quán ngữ, ta có thể chia thành hai
nhóm lớn sau:
1) Nhóm các quán ngữ có cấu tạo hai thành tố:
Trong nhóm này, chúng chiếm một số lượng không nhỏ là các tổ hợp từ trước đến
nay theo quan niệm truyền thống nhìn từ góc độ từ loại vẫn quen gọi là phó từ, liên từ,
trợ từ hoặc nhìn từ góc độ cấu trúc câu vẫn quen gọi là thành phần phụ của câu.
Ví dụ như: có lẽ, quả thực, đặc biệt, phải chăng, thiết tưởng, thực ra, chính thế, có
thể, nói chung, nói riêng, ngược lại, trái lại, ngoài ra, nghĩa là, qua đó, thực sự, thực
tình, một là, hai là, ba là,…
1) Trong tổng số 75 quán ngữ liên kết chúng tôi thống kê được thì có 5218 lượt quán
ngữ có cấu tạo hai thành tố, chiếm tỉ lệ 66%. Các tổ hợp này thường được sử dụng
nhiều và linh hoạt trong các văn bản. Bởi chúng là những nhóm từ có tính cố định cao,
ổn định và rất dễ vận dụng trong các phát ngôn và đặc biệt do tính chất ngắn gọn nên
chúng có khả năng thích ứng ở mọi vị trí trong văn bản.
2) Nhóm các quán ngữ có cấu tạo gồm từ ba thành tố trở lên
Nhóm có cấu tạo từ ba thành tố trở lên chiếm 34% với 2692 lượt. Những thành ngữ
loại này ngoài chức năng liên kết thì chúng còn thực hiện chức năng đưa đẩy, rào đón,
nhấn mạnh ý, chuyển tiếp,… Ví dụ như: nói cách khác, nói tóm lại, như trên đã nói,
nói cho cùng, suy cho cùng, rõ ràng là, như đã nói ở đầu, kết quả là, nói cho chính
xác,…
Như vậy, với sự khảo sát và thống kê ở trên một số lượng lớn quán ngữ thực
hiện chức năng liên kết đã được tìm thấy, với những số lượng thống kê được như vậy
sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà ngôn ngữ học đi vào tìm hiểu, nghiên cứu quán ngữ
nói chung và quán ngữ liên kết nói riêng.
2.2.3. Đặc điểm của các quán ngữ liên kết trong văn bản
Như đã nói ở phần trên, quán ngữ nói chung và quán ngữ liên kết nói riêng có
rất nhiều đặc điểm riêng biệt. Ở luận văn này, chúng tôi không đi sâu vào đặc điểm
ngữ pháp hay phong cách chức năng,…của quán ngữ liên kết mà chúng tôi chỉ đi vào
một số đặc điểm sau:
2.2.3.1. Đặc điểm về phân loại
a) Đặc điểm về vị trí xuất hiện của các quán ngữ liên kết
Nhìn từ góc độ vị trí xuất hiện của các quán ngữ thực hiện chức năng liên kết,
chúng tôi thấy một điều là phần lớn các quán ngữ thường đứng ở đầu câu, đầu các
đoạn văn bản để nối kết cho văn bản được mạch lạc, rõ ràng.
Trong phần khảo sát đã thống kê được, quán ngữ thực hiện chức năng liên kết
đứng ở đầu các phát ngôn xuất hiện với tần số lớn, chiếm tỷ lệ 66% trong tổng số các
quán ngữ đã thống kê được, còn lại là các quán ngữ ở giữa và cuối phát ngôn chiếm tỉ
lệ 34%.
Một số quán ngữ liên kết cũng thường xuất hiện ở đầu các phát ngôn như: thứ
nhất là, thứ hai là, một là, hai là, trước tiên, nhìn chung, nói chung, thật ra, thực ra,
hơn nữa,…
Tuy nhiên lại có những quán ngữ thường xuyên có mặt ở giữa phát ngôn. Đó là
những quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy, giải thích, trình bày như: tức là, nghĩa
là, nói cách khác, cụ thể là, rõ ràng là,… Ví dụ như quán ngữ “nghĩa là”, theo thống
kê xuất hiện trong các văn bản mà chúng tôi khảo sát, thì chúng xuất hiện ở đầu phát
ngôn là 118 lượt, còn lại 109 lượt chúng xuất hiện ở giữa. Hay quán ngữ “tức là”
cũng vậy, thống kê xuất hiện 252 lần thì tới 187 lần xuất hiện ở giữa còn 65 lần xuất
hiện ở đầu câu. Có thể thấy, vị trí xuất hiện của quán ngữ liên kết trong câu là dựa
vào vai trò đảm nhận chức năng liên kết của chúng trong các văn bản. Bên cạnh đó có
một số quán ngữ rất linh hoạt nên có thể xuất hiện ở cả đầu, giữa, cuối các mệnh đề.
Ví dụ:
- Có phải vậy không mà những đứa trẻ “hư”, có những hành vi làm phiền lòng cha
mẹ, thầy cô giáo, không hòa đồng được với tập thể, không chấp hành kỉ luật trường
lớp, thường được gọi bằng từ “cá biệt”? Từ này thường được dùng với góc độ tiêu
cực, rõ ràng là một sự “phân loại, đánh giá” không thân thiện, không công bằng về
một con người.
(Bài của Tiến sĩ giáo dục Thụy Anh, số 15, ngày 18.4.2008, tr.14)
b) Đặc điểm về cấu tạo của các quán ngữ liên kết:
Cấu tạo của quán ngữ liên kết thường là những cụm từ có cấu tạo từ hai thành
tố trở lên. Theo khảo sát của chúng tôi, số lượng quán ngữ được cấu tạo hai thành tố
và quán ngữ là cụm từ có từ ba thành tố trở lên là tương đương nhau. Vì như đã nói ở
trên, quán ngữ có cấu tạo lỏng. Sự hình thành quán ngữ là do sử dụng lặp đi lặp lại
thành quen dùng như một cách nói chuyên dụng. Cũng vì thế mà việc chêm xen hay
tách ghép là rất dễ dàng. Việc làm này dẫn đến các cụm từ có nhiều thành tố cũng là
điều đương nhiên. Ví dụ như một số quán ngữ chỉ các cách “nói” ta có: nói chung,
nói cách khác, nói cho cùng, nói một cách đơn giản,…, ví dụ:
- Như đã nói, triệu chứng tại mắt có thể là tiên khởi nhưng cũng có thể là biến chứng
trầm trọng của một căn bệnh.
(Bài của BS Đỗ Minh Tuấn, số 28, ngày 17.7.2009, tr.30)
- Như tôi đã nói ở trên, các trường ĐH này sẽ có cơ chế quản lý riêng, quyền tự chủ
cao nên sẽ có đãi ngộ khác để thu hút đội ngũ giảng viên giỏi trong và ngoài nước,
như mức lương thỏa đáng cùng với các điều kiện làm việc, nghiên cứu tương đương
với các trường ĐH có uy tín trong khu vực.
(Bài của Thanh Hà, số 23, ngày 14.6.2009, tr.15)
- Như đã nói ở trên, chương trình SVVV của VN còn có mục tiêu 1 và 2, nghĩa là còn
có cả mục tiêu chia sẻ chi phí, chuyển bớt gánh nặng tài chính sang cho đối tượng
hưởng lợi là SV và gia đình họ.
(Bài của Phạm Phụ, số 44, ngày 11.11.2007, tr.21)
- Như trình bày trên, mối liên hệ giữa kỹ nghệ dược và y giới địa phương rất cần
thiết cho sự phát triển của y học trong nước.
(Bài của TS Nguyễn Văn Tuấn, số 23, ngày 14.6.2009, tr.21)
Hay các quán ngữ như thiết tưởng, rõ ràng là, suy rộng ra, có thể nói,…đều là những
quán ngữ giàu hình ảnh, mang tính đưa đẩy cao. Ví dụ:
- Có thể nói những năm 1990 là thời hoàng kim của phim truyền hình Hàn Quốc.
(Bài của V.Hiền, số 29, ngày 26.7.2009, tr.30)
- Thiết nghĩ, để thúc đẩy sự phát triển của khoa học nước nhà, Nhà nước cần phải có
những can thiệp trực tiếp, sâu sát, cần đưa ra những định hướng phát triển nghiên
cứu mang tính chất vĩ mô, cũng như các tiêu chí chính sách để thúc đẩy sự phát triển
của khoa học Việt Nam trong thời gian tới.
(Bài của Nguyễn Trường Thi, số 29, ngày 26.7.2009, tr. 9)
Với những quán ngữ liên kết có cấu tạo ngắn (hai thành tố) chúng thường được
sử dụng nhiều và linh hoạt trong các văn bản viết, chúng có cấu trúc chặt chẽ hơn so
với các quán ngữ có cấu tạo nhiều yếu tố. Do vậy, khi sử dụng chúng ta cần phân biệt
với từ nối để tránh hiện tượng nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu và phân tích học
tập.
c) Đặc điểm quán ngữ liên kết xuất hiện thành từng cặp quan hệ
Trong quán ngữ thực hiện chức năng liên kết, qua khảo sát, chúng tôi thấy có
một số quán ngữ xuất hiện thành từng cặp quan hệ. Chúng tạo nên sự gắn bó chặt chẽ
giữa các câu, các đoạn văn trong văn bản với nhau. Đặc biệt hơn là sự xuất hiện của
những cặp này làm cho tính lập luận của văn bản tăng lên rất nhiều, đó chính là cặp
“một mặt.. mặt khác…”, “nói riêng… nói chung…”. Ví dụ:
- Như vậy, một mặt đòi hỏi các trường phải nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất và
trang thiết bị, loại dần việc dạy “chay”, học “chay”, mặt khác cũng phải thay đổi tư
duy và thái độ giảng dạy của những người đứng lớp.
(Bài của Nguyễn Minh Hải, số 37, ngày 20.9.2009, tr.8)
- Trong phát triển xã hội nói chung và phát triển các đô thị nói riêng, “an ninh, an
toàn, an sinh và an dân” bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và quan trọng bậc nhất.
(Bài của TS Nguyễn Minh Hòa, số 36, ngày 13.9.2009, tr.4)
2.2.3.2. Đặc điểm về ý nghĩa- chức năng của quán ngữ liên kết
Với tư cách là những tổ hợp từ liên kết, các quán ngữ thực hiện chức năng liên
kết trong các văn bản cũng có những đặc điểm riêng về chức năng. Mỗi tổ hợp quán
ngữ đó được xem là những đơn vị hoàn chỉnh, hoạt động như một khối sẵn có trong
đó ít nhiều mất đi tính độc lập của từng thành tố. Dựa vào đặc điểm đó, ta có thể chia
thành các nhóm quán ngữ với những đặc điểm về ý nghĩa, chức năng riêng biệt như
sau:
1) Nhóm 1: Các quán ngữ liên kết có đặc điểm là làm thành phần chuyển tiếp trong
văn bản: nhìn chung, ngoài ra, hơn nữa,… Ví dụ:
- Ngoài ra, cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt nên gắn liền với gói kích cầu
của Chính phủ.
(Bài của C.V. Kình, số 32, ngày 16.8.2009, tr.4)
- Ngoài ra, website này còn có một diễn đàn để những người yêu bóng bàn bày tỏ
quan điểm, bàn bạc với nhau.
(Bài của Tấn Phúc-Khương Xuân, số 32, ngày 16.8.2009, tr.35)
- Hơn nữa, phở của bà đâu có quảng cáo hay hội thảo gì.
(Bài của Xuân Giang, số 26, ngày 5.7.2009, tr.41)
2) Nhóm 2: Nhóm các quán ngữ liên kết có đặc điểm là thể hiện sự tin cậy trong văn
bản, khẳng định những điều nói ra là sự thật, là chính xác và đáng tin. Trong nhóm
này có một số tổ hợp như: quả thật, thật vậy, nói đúng ra, rõ ràng là,… Ví dụ:
- Quả thật, đức ông chồng dạo này vẫn thường khư khư giữ máy điện thoại di động
bên mình, có vẻ bối rối, e dè khi vợ cầm đến.
(Bài của Hoàng Việt, số 26, ngày 5.7.2009, tr.10)
3) Nhóm 3: Nhóm các quán ngữ liên kết mang đặc điểm giải thích, cắt nghĩa thêm
cho điều vừa được nêu ra. Giúp cho người đọc hiểu một cách cặn kẽ, thấu đáo và
đúng mực hơn. Một số tổ hợp từ trong nhóm này là: nghĩa là, thật ra, thực ra, tức là,
cần nói thêm rằng, cụ thể là,… Ví dụ:
- Thật ra chúng ta được ban cho thời gian để sử dụng chứ không phải để giết chúng.
(Bài của Cao Huỳnh, số 43, ngày 04.11.2007, tr.36)
- Thật ra thì việc phát triển công nghiệp phụ trợ đã được đặt ra từ lâu.
(Bài của Đinh Tuấn Minh, số 28, ngày 17.7.2009, tr.11)
- Nếu đếm ý cho điểm nghĩa là biến môn văn thành môn toán 1+1 bằng 2.
(Bài của Minh Giang, số 26, ngày 5.7.2009, tr.14)
- Tức là chúng ta luôn có thông tin nóng và nếu sóng thần có khả năng ảnh hưởng
đến bờ biển VN thì trong thông tin cảnh báo của quốc tế người ta cũng cảnh báo rất
rõ.
(Bài của Xuân Long, số 42, ngày 25.10.2009, tr.12)
- Thực ra so với thôn khác, thôn Năm vẫn nghèo sát đất.
(Bài của Ngô Phan Lưu, số 42, ngày 25.10.2009, tr.26)
4) Nhóm 4: Nhóm quán ngữ thể hiện trình tự diễn đạt trước sau trong văn bản. Ở đây
có các tổ hợp từ như trước hết là, trước tiên là, một là, hai là, tóm lại, nói tóm lại,
nhìn chung,… Ví dụ:
- Trước hết là việc đầu tư kết nối hạ tầng bên ngoài KCN rất chậm cạp và không
đồng bộ, làm ảnh hưởng đến vận chuyển hàng hóa từ KCN đến bến cảng và ngược
lại.
(Bài của Lê Minh Nguyên, số 31, ngày 08.8.2009, tr.12)
- Thứ nhất, nhiều người học rất giỏi nhưng lúc ra trường lại làm một nghề rất dở.
(Bài của Quang Dương, số 42, ngày 25.10.2009, tr.24)
Thứ hai là chuyện thủ tục. Nói hoài mà vẫn không sửa được nhiều.
(Bài của Lê Minh Nguyên, số 31, ngày 08.8.2009, tr.13)
Nói tóm lại, khủng hoảng kinh tế thật là tuyệt.
(Bài của Thục Anh, số 42, ngày 25.10.2009, tr.41)
Tóm lại, đây là cuộc đối thoại cần được thực hiện không chỉ với trẻ em mà là ở tất cả
tầng nấc của xã hội.
(Bài của Phan Xuân Loan, số 31, ngày 08.8.2009, tr.21)
5) Nhóm 5: nhóm các quán ngữ liên kết thể hiện mức độ nhấn mạnh, đáng chú ý
trong văn bản: đáng chú ý là, cần phải nói thêm rằng, đặc biệt là, thậm chí,… Ví dụ:
- Vậy nên chuyện tôi muốn bỏ việc để mở nhà hàng, trong tay hầu như không có vốn,
khiến mọi người hoài nghi, sửng sốt, lo lắng, thậm chí thấy ngớ ngẩn.
Cơ sở hạ tầng cần được cải thiện, đặc biệt là phải sớm có hệ thống xe điện ngầm.
(Bài của ERIC, số 17, ngày 02.5.2009, tr.4)
6) Nhóm 6: Nhóm các quán ngữ liên kết thể hiện quan hệ đối lập tương phản: mặt
khác, trái lại, ngược lại,… Ví dụ:
- Cơ chế đó một mặt gây lãng phí tiền của dân, mặt khác làm chùn bước các nhà
khoa học có khả năng.
(Bài của GS Nguyễn Văn Tuấn, số 26, ngày 04.7.2009, tr.33)
Qua việc phân tích trên, chúng tôi thấy rằng quán ngữ có rất nhiều đặc điểm
nổi bật về chức năng và ý nghĩa. Với các chức năng đó, trong văn bản, quán ngữ tuy
không đóng vai trò nòng cốt nhưng chúng đã trở thành một phần nội dung của văn
bản, liên kết với các đơn vị khác trong văn bản để tạo nên nghĩa tổng hợp của câu,
đoạn văn và toàn bộ văn bản.
2.2.4. Chức năng, vai trò của quán ngữ liên kết trong văn bản
Tuy không tham gia vào thành phần câu, không trực tiếp biểu thị ý nghĩa về
mặt nội dung trong cấu trúc văn bản, nhưng quán ngữ liên kết vẫn có chức năng và
vai trò rất quan trọng trong việc nối mạch ý của nội dung. Cũng như các phương tiện
liên kết, quán ngữ liên kết được dùng để trình bày những mối quan hệ giữa các ý,
chúng có thể được sử dụng để nối hai hay nhiều câu, nhiều mệnh đề, nhiều đoạn văn
với nhau, chúng đảm bảo cho mạch văn bản được thống nhất.
Như đã trình bày ở phần trên, mỗi quán ngữ liên kết không chỉ biểu thị một vai
trò, một chức năng nhất định mà bản thân một quán ngữ có thể mang nhiều chức
năng và vai trò khác nhau tùy thuộc vào văn cảnh sử dụng chúng.
2.2.4.1. Chức năng liên kết trong văn bản
Cũng như các phương tiện liên kết trong văn bản, chức năng liên kết trong văn
bản của quán ngữ liên kết giúp cho người tiếp nhận có thể hi ểu đ ư ợc toàn bộ nội
dung của văn bản trong quá trình tri nhận. Chức năng liên kết trong văn bản cũng
được ví như là những chỉ dẫn lập luận để giúp cho người tiếp nhận biết được nội
dung vấn đề, liên kết các mạch, các ý, các vấn đề trong một văn bản mà người viết
không cần phải nhắc lại. Chức năng liên kết trong văn bản có thể chia thành các chức
năng cơ bản sau đây:
a) Chức năng giải thích:
Đây là những quán ngữ có khả năng giải thích, cắt nghĩa thêm cho những vấn đề đã
được nêu lên ở mệnh đề trước mà nội dung của nó còn khó hiểu hoặc chưa được rõ
ràng, tường tận. Những quán ngữ thuộc chức năng này là: nghĩa là, nói cách khác,
nói cho rõ ràng, nói một cách đơn giản, điều này có nghĩa,… Ví dụ:
- Điều này có nghĩa còn rất nhiều giấy khác được thu mua và tái chế không đúng quy
cách cũng là điều đáng lo,...
(Bài của Trần Nguyên, số 27, ngày 12.7.2009, tr.16)
- Nói cách khác, khoa học mà chúng ta thực hành không có giá trị tiên đoán.
(Bài của TS Nguyễn Văn Tuấn, số 27, ngày 12.7.2009, tr.21)
- Tôi dùng từ “cưng” nghĩa là được thầy cô yêu mến, nhưng điều đó không có nghĩa
trên lớp được ưu ái mà có khi ngược lại, còn bị thầy cô “soi” liên tục.
(Bài của Đặng Anh, số 43 ngày 30.10.2008, tr.14)
- Ai cũng biết sử thi (tiếng MNông gọi là OT vốn lưu lại trong trí nhớ của số ít người
già uyên thâm ở buôn làng MNông, nghĩa là truyền miệng, không thành văn.
(Bài của Nguyễn Hàng Tình, số 44, ngày 11.11.2007, tr.30)
Như đã trình bày trên, ta thấy rằng, ngoài việc liên kết trong văn bản thì các
quán ngữ thuộc loại này còn thực hiện một chức năng quan trọng là giải thích cho rõ
ràng, tường minh các mệnh đề trong các câu của văn bản, làm cho vấn đề trở nên dễ
hiểu, dễ nắm bắt.
b) Chức năng phân tích, minh họa:
Đây là những tổ hợp quán ngữ đảm nhận chức năng làm sáng tỏ cho mệnh đề được
nêu ra. Những quán ngữ này thường mang tính chất liệt kê, trình bày nội dung trong
các văn bản, làm cho vấn đề đã trình bày được rõ ràng, dễ hiểu và khi người đọc tiếp
nhận văn bản có thể hiểu được vấn đề đã trình bày ở mệnh đề đầu. Một số tổ hợp
quán ngữ hay dùng vào chức năng này là chẳng hạn, cụ thể là, thứ nhất là, thứ hai là,
một là, hai là, trước tiên,… Ví dụ:
- Câu trả lời có thể liên quan đến rất nhiều vấn đề, chẳng hạn như mức độ phát triển
kinh tế- xã hội, ý thức bảo vệ thiên nhiên, luật pháp liên quan đến bảo vệ động vật
hoang dã…
(Bài của Quỳnh Thư, số 34, ngày 30.8.2009, tr.11)
- Trước hết, cần mua 11 cầu thủ quốc tế thật giỏi nhưng chưa từng khoác áo đội
tuyển quốc gia nào đem về đá giải nội địa rồi sau đó cho họ nhập tịch…
(Bài của Phương Linh, số 23, ngày 13.6.2008, tr.42)
- Thứ nhất, độ chính xác của xét nghiệm PSA không được cao như mong muốn.
(Bài của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, số 43, ngày 30.10.2008, tr 30)
- Thứ ba, kỳ vọng của cấp trên và kỳ vọng của chính bản thân cũng là một áp lực
kinh khủng với cô gái trẻ.
(Bài của Tấn Khôi, số 27, ngày 12.7.2009, tr.24)
- Một là chị gái của cô ấy, học viên mới như mọi người ngồi bên dưới kia.
(Bài của Đoan Chi, số 9, ngày 08.3.2009, tr.32)
Với chức năng phân tích của quán ngữ liên kết vấn đề trở nên dễ nhận thức hơn
và cụ thể hơn.
c) Chức năng cụ thể hóa:
Nhờ chức năng cụ thể hóa, các vấn đề được nêu ra đã được xác minh, xác nhận,
tăng cường tính cụ thể, chính xác, được xác nhận rõ ràng và dường như được nhấn
mạnh hơn trong nội dung muốn trình bày của văn bản. Một số quán ngữ tiêu biểu là:
cụ thể là, thật vậy, quả nhiên, thật ra, thực ra, sự thật là, nói đúng ra, suy cho
cùng,… Ví dụ:
- Thật vậy, việc phun thuốc diệt muỗi chỉ làm giảm mật độ muỗi được vài ngày
nhưng rất tốn kém cho ngân sách, bởi hóa chất rất đắt.
(Bài của BS Trần Hoài Nhân, số 33, ngày 22.8.2009, tr.30)
- Trước câu hỏi ấy, suy cho cùng, trách nhiệm chính trong việc trả lời không phải là
những người làm chuyên môn như ông.
(Bài của Nguyễn Hoài Nam, số 22, ngày 7.6.2009, tr.29)
- Thật ra, chẳng cần ông ta nói ra, ai cũng hiểu TQ đang tạo nên một mối đe dọa
ngày càng tăng cho kinh tế thế giới còn lại.
(Bài của Danh Đức, số 43, ngày 01.11.2009, tr.6)
- Nếu bỏ qua một chút chủ nghĩa cục bộ vùng miền thì quả thật như lời ba nói, con
gái quê tôi như những nụ xương rồng rực rỡ trên vùng cát khô cằn.
(Bài của Quảng Sơn, số 34, ngày 30.8.2009, tr.24)
Trong chức năng cụ thể hóa, các quán ngữ liên kết đã chỉ rõ vấn đề cần bàn
luận, làm cho vấn đề trở nên thật hoàn chỉnh như có hình khối với đầy đủ các mặt và
các quan hệ đa dạng của nó; làm cho người tiếp nhận nhận biết được vấn đề vốn trừu
tượng trở nên rõ ràng, không chung chung, khái quát.
d) Chức năng hồi cố:
Chức năng hồi cố của quán ngữ liên kết làm cho người đọc khi tiếp cận với văn
bản phải có sự liên hệ, hồi tưởng lại nội dung của toàn bộ văn bản trong các phần
trước, tạo ra một mối quan hệ thống nhất trong toàn bộ chiều dọc của văn bản. Các
quán ngữ liên kết thuộc loại này gồm: như trên, như trên đã nói, như đã nói ở đầu,
như đã trình bày,… Ví dụ:
- Như tôi đã nói là có những vấn đề chúng ta chưa có kinh nghiệm, có những hiện
tượng trước đây chưa xuất hiện, do vậy việc nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các quy
định có liên quan là cần thiết.
(Bài của Võ Văn Thành, số 47, ngày 29.11.2009, tr.5)
- Như trình bày trên, mối liên hệ giữa kỹ nghệ dược và y giới địa phương rất cần
thiết cho sự phát triển của y học trong nước.
(Bài của TS Nguyễn Văn Tuấn, số 23, ngày 14.6.2009, tr.21)
e) Chức năng dự báo:
Cùng với chức năng hồi cố, quán ngữ liên kết còn thực hiện chức năng dự báo
trong các văn bản. Đây là chức năng chuẩn bị tâm lí cho người tiếp nhận biết được
vấn đề người viết sẽ trình bày sau đây thuộc vấn đề gì? Có tầm quan trọng như thế
nào? Một số quán ngữ thuộc loại này như: như sau, sau đây, như sẽ nói ở dưới đây,
có thể kết luận rằng, có thể nói thêm,… Ví dụ:
Có thể nói thêm: khi ethrel đi vào trái cây nó sẽ được chuyển hóa thành êtylen,
phôtpho, clorua- những hợp chất khá an toàn.
(Bài của Nguyễn Văn Trung, số 47, ngày 30-11, tr 04)
Nói tóm lại, qua các ví dụ trên, chúng ta thấy rằng quán ngữ liên kết mang
chức năng dự báo có tác dụng báo trước về tình hình có nhiều khả năng xảy ra dựa
trên cơ sở những thông tin đã được trình bày ở trước đó.
f) Chức năng tổng kết, khái quát hóa:
Đây cũng là một chức năng khá quan trọng của quán ngữ liên kết. Bởi vì trong
văn bản ngoài vấn đề lập luận chặt chẽ, rõ ràng, logic thì khi các vấn đề đưa ra được
trình bày đầy đủ, hoàn chỉnh người viết vẫn phải tổng kết lại vấn đề đã trình bày. Với
đặc điểm như vậy, quán ngữ có chức năng này sẽ giúp cho người tiếp nhận thông tin
biết được vấn đề nào là vấn đề chính, vấn đề nào là vấn đề cần tóm tắt trong toàn bộ
văn bản đó, đâu chính là nội dung cơ bản nhất của văn bản. Quán ngữ liên kết thực
hiện chức năng tống kết, khái quát hóa giúp cho người tiếp nhận văn bản dễ dàng
nhận ra được vấn đề đó nhờ hệ thống các cụm từ như: nói tóm lại, kết quả là, tóm lại,
cuối cùng, suy cho cùng, nhìn chung,…Ví dụ:
- Nhìn chung, chừng 10 năm thì phụ nữ giảm được việc nhà gần 6 giờ/tuần, khoảng
20 năm thì nam giới tăng số giờ làm việc nhà lên gấp đôi.
(Bài của Lan Anh, sô 12, ngày 29.3.2009, tr.42)
- Nói tóm lại, mọi người đều phải cam kết không làm điều xấu.
(Bài của Xuân Giang, số 26, ngày 03.7.2009, tr.42)
- Tóm lại, với thực trạng nước đóng chai như hiện nay, người tiêu dùng nên trang bị
cho mình những hiểu biết nhất định về nước đóng chai và thận trọng trước khi quyết
định mua loại nước đóng chai nào.
(Bài của Trung Nguyên, số 11, ngày 22.3.2009, tr.11)
Qua hàng loạt các ví dụ nêu trên, ta thấy rằng quán ngữ liên kết có chức năng
tổng kết, khái quát hóa có vai trò hết sức quan trọng trong việc nhận diện về mặt hình
thức trong văn bản, giúp người tiếp nhận thông tin thấy đâu là vấn đề then chốt, cần
lưu ý.
g) Chức năng nhấn mạnh:
Chúng ta dễ dàng nhận thấy quán ngữ liên kết loại này trong các văn bản vì để
trình bày một vấn đề lớn trong một văn bản gồm nhiều vấn đề nhỏ. Nhưng trong đó
vấn đề nào quan trọng hơn thì quán ngữ liên kết đã chỉ ra cho chúng ta điều đó nhờ
chức năng mà nó đảm nhiệm. Chúng ta có thể bắt gặp một số tổ hợp từ như: đáng
chú ý là, quan trọng nhất là, đặc biệt, đặc biệt là, nhất là, chắc chắn là,… Ví dụ:
- Đa số ý kiến trong ủy ban cho rằng đầu cơ là hiện tượng tồn tại song hành cùng
quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường.
(Bài của Võ Văn Thành, số 45, ngày 15.11.2009, tr.5)
- Nào là brỗ (đàn bầu), đinh năm, dĩng (đàn môi), đing tak tà, buôt chock
(sáo)…nhưng đáng chú ý nhất vẫn là đàn “guitar” bằng ống nứa được phát triển từ
cây đàn goong kram của dân tộc Ê Đê.
(Bài của Trung Tân- Đình Đối, số 45, ngày 15.11.2009, tr.33)
h) Chức năng bổ sung, đính chính:
Đây là những quán ngữ thực hiện chức năng thể hiện tính đính chính, hiệu
chỉnh những vấn đề đưa ra trong phát ngôn để cho người tiếp nhận nhìn lại vấn đề
một cách xác thực hơn, hiểu theo một nghĩa đúng hơn hoặc có thể dẫn dắt người đọc
chuyển sang một vấn đề khác (chuyển ý): đáng lẽ ra, nói đúng ra, thật ra, thực ra,
thêm vào đó, đáng chú ý, đáng chú ý nhất là,… Ví dụ:
- Thêm vào đó không phải tất cả người dân đều hiểu và thông cảm với sự cần thiết
của thói quen thu gom, phân loại và tái chế.
(Bài của Hải Minh, số 10, ngày 15.3.2009, tr.19)
- Tuy vậy, có một nét đáng chú ý và rất lạ về cuộc khủng hoảng lần này.
(Bài của Thanh Tuấn, số 10, ngày 15.3.2009, tr.38)
- Giờ chỉ có vài tờ báo, đáng chú ý nhất là tờ Wall Street Journal, thu tiền trên ấn
phẩm online của mình.
(Bài của Thanh Tuấn, số 10, ngày 15.3.2009, tr.39)
Nhìn chung, ta thấy rằng với chức năng bổ sung, đính chính, chuyển ý của
quán ngữ làm cho người tiếp nhận thấy được rằng đây là vấn đề được hiểu đúng hơn,
đầy đủ hơn so với những gì được trình bày ở vấn đề trước; hoặc chuyển sang một vấn
đề khác.
2.2.4.2 Vai trò của quán ngữ liên kết
Một vấn đề được trình bày khi đưa ra được gọi là văn bản khi chúng đã có một
nội dung hay một chủ đề đầy đủ, được tổ hợp lại thành các phần, các đoạn liên kết
chặt chẽ với nhau và đặc biệt nó phải hoàn chỉnh về mặt hình thức. Vậy tại sao ta nói
quán ngữ liên kết có vai trò làm cho văn bản có tính chất hoàn chỉnh, chặt chẽ?
Một văn bản trình bày thông thường gồm ba phần: mở đầu, phát triển, kết luận.
Vậy để nhận diện đâu là phần mở đầu, đâu là phần phát triển và đâu là phần kết luận
thì ta phải nhờ các phương tiện nhận diện. Một trong những phương tiện nhận diện đó
chính là quán ngữ. Để đưa ra vấn đề cần trình bày ở phần mở đầu người ta thường
dùng các quán ngữ: trước tiên, trước hết, cụ thể, có thể nói,… Ví dụ:
- Trước hết, địa hình cũng như cấu trúc địa chất huyện Châu Khúc đã là yếu tố quan
trọng dẫn đến thảm họa.
(Bài của Danh Đức, số 33, ngày 22.8.2009, tr.8)
- Cụ thể, chủ tịch UBND các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Đắc Nông và
Đồng Tháp vừa bị Thủ tướng Chính phủ phê bình vì đã chậm trễ trong việc công bố
công khai tất cả bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành tại địa
phương.
(Bài của Võ Văn Thành, số 40, ngày 11.10.2009, tr.4)
- Có thể nói hàng hóa Trung Quốc đã khá thành công ở Việt Nam.
(Bài của Cầm Văn Kình, số 9, ngày 08.3.2009, tr.4)
Phần phát triển bao gồm các quán ngữ để nhận diện như: tiếp theo, hai là, ba là,
thứ nhất là, thứ hai là,… Ví dụ:
- Thứ ba, kỳ vọng của cấp trên và kỳ vọng của chính bản thân cũng là một áp lực
kinh khủng với cô gái trẻ.
(Bài của Tấn Khôi, số 27, ngày 12.7.2009)
- Thứ nhất, đối với các công trình đã xây dựng và đi vào hoạt động cần kiểm tra
đánh giá và thống kê chính xác hiệu quả sử dụng, rút kinh nghiệm và xử lý sửa chữa.
(Bài của Phạm Văn Chung, số 31, ngày 10.8.2009, tr.6)
Phần kết luận thường bằng các quán ngữ như: cuối cùng, tóm lại, nói tóm lại, nói
chung,… Ví dụ:
- Nói tóm lại, việc phát hiện protein HUWE-1 có thể xem là một tiến bộ trong y học,
thể hiện bước đầu trên con đường dài để hiểu biết về bệnh ung thư não, nhưng việc
ứng dụng kết quả này vào việc điều trị hay tiên lượng bệnh ung thư não chưa thể xảy
ra nay mai.
(Bài của GS Nguyễn Văn Tuấn, số 36, ngày 13-9-2009)
Chúng ta thấy rằng, trong văn bản, giữa các vấn đề đưa ra mà ta gọi là mệnh đề
phải có sự liên kết với nhau. Nhờ sự liên kết này người đọc mới có thể hiểu người
viết muốn diễn đạt nội dung gì. Chính vì thế người viết phải dùng quán ngữ liên kết
để liên kết các phần, các đoạn trong văn bản lại với nhau thông qua các quán ngữ:
một là, hai là, ba là, thứ nhất là, thứ hai là, thứ ba là,…Tuy nhiên, không phải chỉ
văn bản mới đòi hỏi tính hoàn chỉnh mà một mệnh đề đưa ra bàn luận cũng phải hoàn
chỉnh và liên kết chặt chẽ với nhau. Ví dụ:
Một là, thoát khỏi tình trạng nghèo đói đang tồn tại là điều đáng mơ ước xét theo
quan niệm đạo đức vốn có.
(Bài của KISHORE MBBUBANI, số 31, ngày 10.8.2009, tr.12)
Như đã trình bày trên, ta thấy quán ngữ liên kết có vai trò to lớn trong việc
trình bày một văn bản sao cho chúng hoàn chỉnh về mặt hình thức và liên kết chặt chẽ
về mặt nội dung. Mặc dù không có vai trò thể hiện nội dung văn bản nhưng quán ngữ
liên kết lại có vai trò trong việc nhận diện và gắn kết nội dung trong văn bản hay liên
kết hình thức trong văn bản.
Tiểu kết:
Quán ngữ liên kết là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, nó là một đơn vị từ, được
dùng lặp đi lặp lại nhiều lần. Nhìn chung, khả năng hoạt động và tần số xuất hiện của
quán ngữ liên kết trong văn bản là rất lớn. Quán ngữ có thể xuất hiện ở nhiều vị trí
khác nhau trong văn bản như đầu, giữa, cuối các phát ngôn. Về cấu tạo, quán ngữ là
những tổ hợp từ dài, ngắn khác nhau. Bởi vì quán ngữ có cấu tạo lỏng nên việc chêm
xen, tách ghép diễn ra rất dễ dàng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy có những
quán ngữ xuất hiện thành từng cặp. Chúng có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng cường
tính lập luận cho văn bản. Nó làm cho văn bản chặt chẽ, có tính thuyết phục và độ tin
cậy cao.
Qua phần khảo sát và thống kê mà chúng tôi thu nhận được, chúng tôi thấy
rằng chức năng của quán ngữ là hết sức quan trọng trong việc thực hiện liên kết văn
bản. Đó là các chức năng: giải thích, hồi cố, cụ thể hóa, dự báo, nhấn mạnh, bổ sung,
phân tích, tổng kết.
Tuy không giữ chức năng quan trọng như các đơn vị từ vựng khác trong quá
trình sử dụng, không giàu tầng ý nghĩa như các đơn vị từ hay thành ngữ, nhưng trong
quá trình khảo sát, chúng tôi thấy quán ngữ liên kết không thể thiếu vắng trong quá
trình phân tích, chứng minh và giải thích vốn rất cần trong các văn bản, nhất là văn
bản khoa học. Với các cụm từ nối kết như: trước hết, như đã nói, cụ thể hiện, tức là,
nghĩa là, tóm lại,…không thể thiếu trong văn bản khi muốn trình bày một vấn đề nào
đó.
Cũng như các phương tiện liên kết, các quán ngữ liên kết có vai trò đặc biệt
trong việc nối kết các phần, các đoạn trong văn bản. Nhờ đó văn bản mới có sự gắn
bó chặt chẽ, bảo đảm tính mạch lạc. Quan trọng hơn là nhờ các quán ngữ liên kết mà
văn bản đảm bảo tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, tăng tính lập
luận và tạo cho văn bản thêm uyển chuyển, rõ ràng và dễ hiểu.
KẾT LUẬN
Thành ngữ là một loại đơn vị ngôn ngữ đặc biệt của ngôn ngữ dân tộc. Chính
vì được hình thành từ đời sống lao động, đấu tranh của quần chúng nhân dân nên
thành ngữ mang tính hình ảnh, biểu trưng, ngắn gọn, cô đọng, hàm súc. Hơn thế nữa,
thành ngữ là biểu hiện trí thông minh, óc sáng tạo của quần chúng. Biểu hiện đầu tiên
của trí thông minh, óc sáng tạo ấy chính là ở chỗ người dân lao động đã biết tạo cho
thành ngữ những hình thức đặc biệt.
Nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu trưng. Thường để chuyển tải nghĩa biểu
trưng ấy, người ta phải dùng một tổ hợp từ, thậm chí là một hoặc vài ba câu. Nhưng ở
đây người lao động đã rất khôn khéo và tài tình để diễn đạt nội dung ấy chỉ bằng
những cụm từ hết sức ngắn gọn, súc tích, có vần điệu, dễ nhớ, dễ thuộc,… Chẳng hạn
để diễn đạt ý “khoe tài tầm thường của mình trước những người đáng bậc thầy của
mình, do đó trở thành việc lố lăng buồn cười”; nhân dân đã gói gọn trong một thành
ngữ chỉ gồm năm từ “múa rìu qua mắt thợ”. Hay diễn đạt ý “cả tin, dại dột đem trao
gửi cho kẻ khác những thứ mà bản thân kẻ đó đang thèm khát và tìm cách để chiếm
đoạt”; nhân dân đã gói gọn trong thành ngữ chỉ gồm bốn từ “gửi trứng cho ác”.
Như chúng ta đã biết, sự vật hiện tượng và các thuộc tính của chúng trong thế
giới khách quan và trong nội tâm con người là vô cùng, vô tận. Dĩ nhiên không phải
tất cả đều có nhu cầu được phải ánh bằng ngôn ngữ; song chỉ những cái cần được
biểu hiện bằng ngôn ngữ cũng đã vượt qua khả năng của ngôn ngữ. Bởi vì ngoài nhu
cầu gọi tên thì còn nhu cầu giao tiếp, bộc lộ thái độ, tư tưởng, tình cảm, đánh
giá,…Vì thế, dù số lượng và tính chất của các từ trong từ vựng của một ngôn ngữ có
phong phú, tinh tế đến đâu cũng vẫn là ít ỏi trước gánh nặng ngữ nghĩa mà sự giao
tiếp và nhận thức đặt ra cho ngôn ngữ.
Có thể thấy việc sử dụng thành ngữ vào diễn đạt trên các văn bản báo chí ở tờ
báo TTCT đã đạt được những hiệu quả nhất định. Chúng tạo tính bình dân, gần gũi
cho bài báo; rút ngắn khoảng cách giữa nội dung bài viết với bạn đọc. Hơn thế nữa,
tính cô đọng, hàm súc của thành ngữ cũng góp phần làm cho bài báo ngắn gọn nhưng
vẫn đủ sức biểu đạt nội dung. Đặc biệt là, sự sử dụng thành ngữ đã mang đến cho bài
viết cách diễn đạt thêm hình ảnh, sinh động có sức hấp dẫn, lôi cuốn. Thêm vào đó,
chúng cũng giúp cho người viết thể hiện được sắc thái của mình như: khen, chê,
châm biếm, mỉa mai, hài hước,…
Thành ngữ trong các văn bản trong báo TTCT được sử dụng một cách hết sức
linh hoạt như giữ nguyên dạng và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong những
ngữ cảnh cụ thể như: tỉnh lược, hoán đổi, chêm xen, tách,…nhằm làm tăng sức hấp
dẫn cho sự diễn đạt và giúp cho bạn đọc có thể tiếp nhận thông tin một cách dễ dàng,
nhanh chóng,… đạt được hiểu quả và yêu cầu của báo chí là nhanh chóng, ngắn gọn
và súc tích. Chúng tôi thống kê được có tất cả 1633 lượt thành ngữ được sử dụng.
Trong đó, số lượt thành ngữ sử dụng ở dạng nguyên thể là 1485, chiếm 90,9%; còn
vận dụng linh hoạt, sáng tạo là 148 lượt, chiếm 9,1%.
Chúng tôi cũng nhận thấy rằng cả thành ngữ Hán-Việt và thuần Việt đều các
nhà báo khai thác và vận dụng một cách hết sức sinh động với các dạng thành ngữ so
sánh, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng. Bên cạnh
đó, khả năng hoạt động của thành ngữ cũng rất cao. Thành ngữ có mặt ở tất cả các
phần của văn bản như tiêu đề, phần mở đầu, phần thân văn bản và phần kết luận.
Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, chúng tôi còn nhận thấy rằng các nhà báo đã có
những sáng tạo riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên những mô hình thành ngữ
có sẵn. Chẳng hạn như: học thêm học bớt, buồn như con chuồn chuồn, chán như con
gián,…Và những cụm từ này, chúng tôi nhận thấy cũng được sử dụng phổ biến trong
đời sống hằng ngày. Chúng tôi đang băn khoăn không biết có nên xếp chúng vào
thành ngữ không? Thiết nghĩ đây cũng là một vấn đề cần phải bàn bạc thêm.
Bên cạnh đơn vị thành ngữ, chúng tôi cũng tiến hành thống kê và khảo sát một
loại đơn vị cũng không kém phần quan trọng có vai trò liên kết các câu, các đoạn
trong một văn bản báo chí. Đó chính là quán ngữ.
Các đặc điểm của quán ngữ liên kết là nhân tố quan trọng dùng để phân biệt
quán ngữ với từ nối, với các tổ hợp từ tự do. Mỗi tiểu nhóm quán ngữ liên kết gắn với
những đặc trưng ngữ nghĩa và chức năng tương đối ổn định của nó và qui định vị trí
của quán ngữ trong văn bản.
Quán ngữ liên kết là một phương tiện đặc biệt có vai trò liên kết trong các văn
bản. Chức năng của chúng là thực hiện việc kết nối các câu, các đoạn trong văn bản.
Ngoài ra chúng còn có chức năng đưa đẩy, rào đón, nhấn mạnh, chuyển ý, dẫn
ý,…Tác dụng của chúng là làm cho văn bản thêm chặt chẽ, hoàn chỉnh, lôgic. Có thể
nói quán ngữ là phương tiện bổ trợ đắc lực trong việc làm cho văn bản có tính mạch
lạc và liên kết chặt chẽ với nhau.
Vị trí và chức năng cũng như vai trò của quán ngữ liên kết không phải là bất
biến mà tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể khi sử dụng mà có thể biến đổi. Chính
điều này làm nên tính linh hoạt, uyển chuyển và đa dạng trong hoạt động của các
quán ngữ liên kết.
Vai trò và chức năng của quán ngữ liên kết ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián
tiếp có liên quan đến cách thức truyền đạt thông tin của các nhà báo đến với bạn đọc
trong các tác phẩm báo chí. Do vậy mà với chức năng và vai trò của nó như đã trình
bày ở trên, quán ngữ liên kết thực sự có giá trị sử dụng trong quá trình các nhà báo
trình bày ý kiến của mình. Để thuyết phục đọc giả hiểu được những vấn đề mà các
nhà báo muốn thông tin thì việc sử dụng quán ngữ liên kết là không thể thiếu.
Như đã trình bày trên, quán ngữ và thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ được sử
dụng hết sức phổ biến. Trong quá trình khảo sát, thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng
về mặt số lượng thì thành ngữ chiếm số lượng lớn hơn nhiều so với quán ngữ nhưng
về mặt tần số xuất hiện thì quán ngữ lại chiếm ưu thế hơn hẳn. Điều này cũng là hiển
nhiên vì trong diễn đạt dù là một văn bản ngắn như một câu, một đoạn hay một văn
bản dài như một cuốn tiểu thuyết cũng cần phải có yếu tố liên kết.
Thành ngữ và quán ngữ là một đề tài rộng nên chúng tôi khó có thể bao quát
được đầy đủ mọi khía cạnh của vấn đề. Đặc biệt là vì khả năng và vốn hiểu biết của
người viết có giới hạn nên chúng tôi không thể giải quyết được hết mọi vấn đề có liên
quan đến chúng. Nhưng dù sao, chúng tôi cũng hy vọng luận văn ít nhiều trực tiếp
hoặc gián tiếp cũng giúp ích cho việc nghiên cứu sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Anh (1999), “Thử phân loại tiêu đề các văn bản báo chí”, Ngôn ngữ
và đời sống, (9), tr.19-20.
2. Hoàng Anh (2005), “Sự hấp dẫn của ngôn ngữ phóng sự”, Ngôn ngữ và đời
sống, (8), tr.9-15.
3. Hoàng Anh (2005), “Một số thủ pháp nhằm tăng cường tính biểu cảm trong
ngôn ngữ báo chí”, Ngôn ngữ, (9), tr.24-30.
4. Hoàng Anh-Vũ Thị Ngọc Mai (2009), “Các đặc điểm của đầu đề tác phẩm
báo chí thể thao” (Qua khỏa sát Báo thể thao hằng ngày, bóng đá), Ngôn ngữ,
(10), tr. 29-37.
5. Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000), Từ điển thành ngữ- tục ngữ Việt Nam,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
6. Vũ Thúy Anh (1985), “Về thành ngữ so sánh”, Ngôn ngữ ,(4), tr. 71-72.
7. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1,2), Nxb Giáo dục.
8. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb
Giáo dục.
9. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
10. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng- Từ ghép- Đoản ngữ,
Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
11. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
12. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục.
13. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại Cương ngôn ngữ học- tập hai Ngữ dụng học, Nxb
Giáo dục.
14. Việt Chương (2007), Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam (quyển hạ,
thượng), Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
15. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2007), Cơ sở ngôn ngữ
học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
16. Nguyễn Đức Dân (1986), “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ- sự vận dụng”,
Ngôn ngữ, (3), tr.1-11.
17. Nguyễn Đức Dân (1988), Logic và tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
18. Nguyễn Đức Dân (2004), “Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên
báo chí”, Ngôn ngữ, (10), tr. 1-7.
19. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí- Những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo
dục.
20. Võ Nguyễn Bích Duyên (2008), Khảo sát việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ,
ca dao trên báo chí, Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Ngữ văn, ĐH Sư
Phạm Tp.HCM.
21. Lương Văn Đang, Nguyễn Lực (1978), Thành ngữ tiếng Việt, Nxb KHXH Hà
Nội.
22. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt,
Nxb Văn hóa thông tin.
23. Nguyễn Công Đức (1995), Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành
ngữ tiếng Việt, Luận án Phó tiến sĩ khoa học, Hà Nội.
24. Nguyễn Thiện Giáp (1975), “Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt”, Ngôn ngữ,
(3), tr. 1-5.
25. Nguyễn Thiện Giáp(1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
26. Nguyễn Thiệp Giáp (2005), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục
27. Nguyễn Thiện Giáp (2007), Dụng học Việt ngữ, Nxb ĐHQG Hà Nội.
28. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
29. Hoàng Văn Hành (1994), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb KHXH.
30. Hoàng Văn Hành (2005), Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb KHXH.
31. Vũ Quang Hào (1992), “Về biến thể của thành ngữ, tục ngữ”, Văn hóa dân
gian,(1), tr. 61-62.
32. Vũ Quang Hào (1993), “Thành ngữ, tục ngữ cũ của lớp người mới”, Văn hóa
dân gian, (1), tr. 53-54.
33. Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội.
34. Cao Xuân Hạo- Hoàng Xuân Tâm- Nguyễn Văn Bằng- Bùi Tất Tươm (1991),
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (1), Nxb Giáo dục.
35. Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ.
36. Cao Xuân Hạo (2006), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Giáo
dục.
37. Nguyễn Văn Hằng (1999), Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại,
Nxb KHXH.
38. Phạm Thanh Hằng (2010), Đối chiếu cấu trúc- ngữ nghĩa tục ngữ tiếng Hán
hiện đại và tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, ĐHSP Tp.HCM.
39. Ngũ Thiện Hùng (2003), “Bàn về điều kiện sử dụng của một số quán ngữ tình
thái nhận thức dưới gốc độ lí thuyết quan yếu”, Ngôn ngữ, (9), tr. 1-13.
40. Nguyễn Việt Hùng (2004), Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ
trong ca dao, Luận văn tốt nghiệp đại học khoa Ngữ văn, ĐH Vinh.
41. Kiều Thanh Hương (1997), Khảo sát thành ngữ trong tác phẩm Hồ Chí Minh
toàn tập, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, ĐH KHXH NV.
42. Nguyễn Thị Thanh Hương (2003), “Khai thác chất liệu văn hóa dân gian
trong việc đặt tên bài báo”, Nghề báo, TPHCM.
43. Nguyễn Thái Hòa (1998), Dẫn luận phong cách học, Nxb Giáo dục.
44. Ngô Hữu Hoàng (2002), “Vài suy nghĩ về cụm từ cố định nói chung và quán
ngữ nói riêng”, Ngôn ngữ, (7), tr. 25-30.
45. Hoàng Thị Hồng (2010), Khảo sát hoạt động của các quán ngữ liên kết trong
văn bản chính luận, Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Ngôn ngữ
học, ĐH Vinh.
46. Võ Thị Diệu Hồng (2010), Cấu tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng lớp thành ngữ
Hán- Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt, Luận văn tốt nghiệp đại học khoa
Ngữ văn, Trường ĐH Vinh.
47. Đinh Trọng Lạc (2002), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
48. Nguyễn Lân (2010), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa
thông tin.
49. Trần Thị Loan (2005), Thành ngữ trong Truyện Kiều, Luận văn Thạc sĩ Ngữ
văn,Trường ĐH Vinh, Nghệ An.
50. Đỗ Quang Lưu (1996), “Cần tôn trọng và giữ gìn trong sáng và vẻ đẹp riêng
của tiếng Việt trong việc sử dụng thành ngữ dân gian”, Văn hóa dân gian,
( 3), tr.64-65.
51. Bùi Thanh Lương (2006), “Cách sử dụng thành ngữ mới trên một số ấn phẩm
báo chí”, Ngôn ngữ và đời sống, (9), tr. 8-11.
52. Nguyễn Văn Mệnh (1971), “Về sắc thái tu từ của thành ngữ tiếng Việt”,
Ngôn ngữ, (2), tr.18-23.
53. Nguyễn Văn Mệnh (1986), “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành
ngữ tiếng Việt”, Ngôn ngữ, ( 3), tr.12-18.
54. Nguyễn Văn Mệnh (1986), “Về khái niệm thành ngữ”, Ngôn ngữ, (3), tr.12-
18.
55. Nguyễn Văn Mệnh (1990), “Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, Ngôn
ngữ ,(3), tr.36-37.
56. Trần Thị Yến Nga (2008), Quán ngữ tình thái tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ
Ngôn ngữ học, Trường ĐHSP TPHCM.
57. Triều Nguyên (2006), “Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu
trúc”, Ngôn ngữ, (5), tr.19-32.
58. Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb KHXH Hà Nội.
59. Nguyễn Văn Nở (1998), “Đôi điều mong muốn về tiếng Việt trên báo Văn
Nghệ”, Ngôn ngữ và đời sống, (10), tr.11-14.
60. Hoàng Phê (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH.
61. Trần Quang (2001), Làm báo Lí thuyết và Thực hành, Nxb ĐHQG.
62. Trần Quang (2005), Các thể loại báo chí chính luận, Nxb ĐHQG.
63. Trương Đông San (1974), “Về thành ngữ so sánh”, Ngôn ngữ, (4), tr.1-5.
64. Trịnh Sâm (2000), Tiêu đề văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
65. Trịnh Sâm (2001), Đi tìm bản sắc văn hóa tiếng Việt, Nxb Trẻ, 2001.
66. Nguyễn Trí Sơn (2004), Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ, tục
ngữ Nghệ Tĩnh, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
67. Nguyễn Thị Tân (2003), “Nhận diện thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt”,
Ngôn ngữ, (12), tr.16-25.
68. Nguyễn Thị Tân (2005), “Đặc điểm của thành ngữ gốc Hán xét từ bình diện
hình thái cấu trúc”, Ngôn ngữ, (6), tr.1-12.
69. Nguyễn Thị Tân (2005), “Các dạng thức tồn tại của thành ngữ gốc Hán trong
tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (10), tr.24-33.
70. Nguyễn Thị Tân (2005), “Thành ngữ gốc Hán nhìn từ gốc độ ngữ nghĩa”,
Ngôn ngữ, (12), tr.1-14.
71. Nguyễn Thị Việt Thanh (2001), “Về một số hiện tượng ngôn ngữ đặc trưng
của văn bản tin tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (11), tr.37-41.
72. Phạm Xuân Thành (1990), “Về tính biểu trưng của thành ngữ”, Văn hóa dân
gian, (3), tr.36-37.
73. Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản, Nxb KHXH, Hà Nội.
74. Nguyễn Thị Thìn (2000), “Quán ngữ tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (9), tr 64-68.
75. Phạm Thị Thoan (2011), “Bước đầu tìm hiểu việc sử dụng chất liệu văn học
trong ngôn ngữ báo chí ngành Công an đầu thế kỉ XXI”, Ngôn ngữ, (8), tr.
61-65.
76. Hồ Vi Thống (1999), Đặc điểm thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Tp.HCM.
77. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa- dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy ở người Việt, Nxb ĐHQG.
78. Nguyễn Thị Thu Trang (2010), “Kết tử lập luận vả lại trong tiếng Việt”,
Ngôn ngữ, (4), tr.55-60.
79. Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học và
trung học chuyên nghiệp.
80. Cù Đình Tú (1973), “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Ngôn
ngữ, (1), tr.39-43.
81. Cù Đình Tú (1973), “Hồ Chủ Tịch dùng thành ngữ, tục ngữ”, Ngôn ngữ, (2),
tr.12-16.
82. Cù Đình Tú (2001), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXb Giáo
dục, H.
83. Ông Phan Tùng (1997), Thành ngữ Hán- Việt, Nxb Văn hóa.
84. Trần Anh Tư (2004), Thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa trong
tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐH Vinh.
85. Lê Thị Hải Vân (2006), Khảo sát cấu trúc thành ngữ tiếng Việt, Luận văn tốt
nghiệp đại học Ngữ văn, Trường ĐH Vinh.
86. Bùi Khắc Việt (1981), Thành ngữ đối trong tiếng Việt (T2), Nxb KHXH, Hà
Nội.
87. Hồng Thị Vinh (2007), Đặc điểm cấu tạo- ngữ nghĩa thành ngữ so sánh tiếng
Việt, Luận văn tốt nghiệp đại học, ĐH Vinh.
88. Nguyễn Như Ý (1973), Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
NGUỒN NGỮ LIỆU
1. Báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2007 (51 số)
2. Báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2008 (51 số)
3. Báo Tuổi trẻ cuối tuần năm 2009 (51số)
PHỤ LỤC
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
(1) Vị trí xuất hiện của thành ngữ
Tđ: Tiêu đề
M: Phần mở đầu
T: Thân văn bản
K: Kết văn bản
(2) Trang
(3) Số báo
(4) Ngày- tháng
(5) Cách thức sử dụng
L: Tỉnh lược
T: Tách
Th: Biến đổi thành tố (thay)
Đ: Hoán đổi (đảo)
KT: Khai triển (thêm)
NT: Nguyên thể
(6) Loại thành ngữ
ThV: Thuần Việt
HV: Hán Việt
Phụ lục 1:
THÀNH NGỮ TRONG BÁO TTCT NĂM 2007
1)Thành ngữ so sánh
STT Thn (1) (2) (3) (4) (5) (6)
1 Ăn như trâu T 40 38 30-9 NT ThV
2 Ăn như rồng cuốn T 13 31 12-8 L ThV
3 Bán chạy như tôm tươi T 29 13 08-4 Th ThV
4 Bán chạy như tôm tươi T 08 05 04-02 Th ThV
5 Bán chạy như tôm tươi T 22 47 02-12 Th ThV
6 Bán đắt như tôm tươi T 16 19 20-5 NT ThV
7 Bán như cho T 37 16 29-4 NT ThV
8 Bán như cho T 41 25 01-7 NT ThV
9 Bẩn như giẻ rách T 34 41 21-10 NT ThV
10 Bình chân như vại T 23 10 18-3 NT ThV
11 Bình chân như vại T 39 20 27-5 NT ThV
12 Bình chân như vại T 19 27 15-7 NT ThV
13 Bình chân như vại T 21 15 22-4 NT ThV
14 Bình chân như vại T 19 42 28-10 NT ThV
15 Bé như bàn tay T 08 44 11-11 NT ThV
16 Căng như dây đàn T 15 27 15-7 NT ThV
17 Căng như dây đàn T 41 01 07-01 NT ThV
18 Chửi cha không bằng T 35 08 04-3 NT ThV
pha tiếng
19 Cứng như thép T 22 38 30-9 NT ThV
20 Dễ như ăn cháo T 14 22 10-6 NT ThV
21 Đẹp như mơ T 29 21 03-6 NT ThV
22 Đỏ như gấc T 31 13 08-4 NT ThV
23 Đông như trẩy hội T 05 44 11-11 NT ThV
Đuổi như đuổi tà 24 T 29 21 03-6 NT ThV
Đứng như trời trồng 25 T 30 29 29-7 NT ThV
Đứng như trời trồng 26 T 19 09 11-3 NT ThV
Hiền như cục đất 27 T 30 11 25-3 NT ThV
Hò hát như bò rống 28 T 26 30 05-8 KT ThV
Im lặng như ông phổng K 29 04 12 01-4 KT ThV
Im như thóc 30 T 18 34 02-9 NT ThV
Im như hến 31 Tđ 06 37 23-9 Th ThV
Lạnh như tiền 32 T 28 02 14-01 NT ThV
Lạy như tế sao 33 T 30 06 11-02 NT ThV
Lạy như tế sao 34 T 31 06 11-02 NT ThV
Lăng xăng như con nít T 35 19 10 18-3 NT ThV
Lẩn thẩn như người T 36 20 11 25-3 NT ThV
mất hồn
Lặng như tờ 37 T 20 11 25-3 NT ThV
Lương y như từ mẫu 38 T 08 45 18-11 NT HV
Lương như như từ mẫu T 39 04 40 14-10 NT HV
40 Mặt xám như tro T 20 40 14-10 NT ThV
41 Mặt lạnh như tiền T 28 02 14-01 NT ThV
42 Mặt lạnh như tiền T 39 29 29-7 NT ThV
43 Mặt ổng như đưa đám T 29 21 03-6 KT ThV
44 Mềm như lụa T 37 24 24-6 NT ThV
45 Mọc lên như nấm T 35 10 18-3 NT ThV
46 Mừng như người chết T 14 36 16-9 NT ThV
vớ được cọc
Nắng như đổ lửa 47 T 27 38 30-9 NT ThV
Nắng như đổ lửa 48 M 32 30 05-8 NT ThV
Nặng như chì 49 T 37 36 16-9 NT ThV
Ngác ngơ như chim T 50 28 12 01-4 NT ThV
mới ra ràng
51 Nhanh như cắt T 11 45 18-11 NT ThV
52 Nhanh như gió T 14 35 09-9 NT ThV
53 Nhanh như gió T 33 22 10-6 NT ThV
54 Nhanh như thổi T 21 13 15-4 NT ThV
55 Nhỏ bằng cọng bún Tđ 18 10 18-3 Th ThV
56 Như ăn mày T 18 09 11-T NT ThV
57 Như bầy ong vỡ tổ T 12 33 26-8 NT ThV
58 Như chợ chiều T 08 12 01-4 NT ThV
59 Như con cá mắc cạn T 23 10 18-3 KT ThV
60 Như cơm bữa T 30 34 02-9 NT ThV
61 Như cơm bữa T 20 30 05-8 NT ThV
62 Như cơm bữa T 24 33 26-8 NT ThV
63 Như đánh võng T 10 23 17-6 NT ThV
64 Như đinh đóng cột T 15 33 26-8 NT ThV
65 Như đinh đóng guốc T 39 44 11-11 NT ThV
66 Như đôi đũa lệch T 08 12 01-4 NT ThV
67 Như đưa đám T 29 21 03-6 NT ThV
68 Như hình với bóng T 30 07 25-02 NT ThV
69 Như leo lên lưng cọp Tđ 18 09 11-3 NT ThV
70 Như nằm trên thớt T 22 26 08-7 L ThV
71 Như nấm mọc sau mưa T 41 19 20-5 NT ThV
72 Như ngồi trên lửa T 15 09 11-3 L ThV
73 Như ngồi trên đống lửa T 12 29 29-7 NT ThV
74 Như tôm tươi T 29 13 08-4 NT ThV
75 Như tôm tươi T 16 19 20-5 NT ThV
76 Như tôm tươi T 06 30 05-8 NT ThV
77 Như tôm tươi T 08 05 04-02 NT ThV
78 Nóng như lửa đốt T 25 45 18-11 NT ThV
79 Nói như vẹt T 27 35 09-9 NT ThV
80 Nổi như cồn T 24 37 24-6 NT ThV
81 Nợ nần như chúa chổm T 19 17 06-5 KT ThV
82 Oặt như cọng bún T 28 23 17-6 NT ThV
83 Oặt như cọng bún T 28 23 17-6 NT ThV
84 Quân lệnh như sơn T 21 09 11-3 NT HV
85 Qúi như vàng ngọc T 20 34 02-9 NT ThV
86 Rẻ như cho T 40 46 25-11 NT ThV
87 Tan như bong bóng xà T 07 40 14-10 NT ThV
bông
88 Tỉnh như sáo T 28 02 14-01 NT ThV
89 Thầy thuốc như mẹ T 31 44 11-11 NT ThV
hiền
90 To như voi T 16 35 09-9 NT ThV
91 Tối như mực T 18 04 28-01 NT ThV
92 Tươi như hoa T 41 15 22-4 NT ThV
93 Vắng như chùa bà T 41 01 04-01 NT ThV
Đanh
94 Vắng như chùa bà T 22 10 18-3 NT ThV
Đanh
95 Vờn nhau như mèo với T 06 35 09-9 NT ThV
chuột
96 Vững hơn đá T 28 21 03-6 NT ThV
97 Xoay như chong chóng T 38 38 30-9 NT ThV
98 Xoay như cái chong Tđ 05 45 18-11 KT ThV
chóng
2) Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
STT Thn (1) (M) (3) (4) (5) (6)
27-5 NT HV 1 Ác nhơn ác đức T 29 20
2 Ăn bờ ngủ bụi T 31 29 29-7 NT ThV
3 Ăn chay niệm Phật T 40 01 07-01 NT ThV
4 Ăn chắc mặc bền T 32 48 09-12 NT ThV
5 Ăn cùng ngủ cạnh M 14 35 09-9 NT ThV
6 Ăn dầm nằm dề T 07 11 25-T NT ThV
7 Ăn không ngon, ngủ T 22 08 04-3 NT ThV
không yên
8 Ăn mắm ăn muối T 28 21 03-6 NT ThV
9 Ăn nên làm ra T 19 25 01-7 NT ThV
10 Ăn nên làm ra T 31 23 17-6 NT ThV
11 Ăn nên làm ra T 10 13 08-4 NT ThV
12 Ăn nên làm ra T 31 34 02-9 NT ThV
13 Ăn nên làm ra T 31 16 29-4 NT ThV
14 Ăn nên làm ra T 31 42 28-10 NT ThV
15 Ăn nhờ ở đậu T 36 24 24-6 NT ThV
16 Ba chân bốn cẳng T 22 22 10-6 NT ThV
17 Ba chìm bảy nổi T 29 30 05-8 NT ThV
18 Ba chìm bảy nổi T 29 04 28-01 NT ThV
19 Bán đổ bán tháo T 28 45 18-11 NT ThV
20 Bán đổ bán tháo T 16 28 22-7 NT ThV
21 Bán mặt cho đất bán Tđ 22 20 27-5 NT ThV
lưng cho trời
22 Bán tín bán nghi T 29 17 06-5 NT HV
23 Bán tống bán tháo T 44 26 08-7 NT ThV
24 Bán tống bán tháo T 39 16 29-4 NT ThV
25 Bảo sao nghe vậy T 09 32 19-8 NT ThV
26 Bất thông tất thống T 06 41 21-10 NT HV
27 Bế quan tọa cảng T 19 32 19-8 NT HV
28 Bế quan tọa cảng T 18 15 22-4 NT HV
29 Bia đá bảng vàng T 40 08 04-3 NT ThV
30 Biết thân biết phận T 29 04 28-01 NT ThV
31 Bình mới rượu cũ Tđ 04 27 15-7 NT ThV
32 Bình mới rượu cũ T 08 13 08-4 NT ThV
33 Bỏ của chạy lấy người T 05 34 02-9 NT ThV
34 Bỏ của chạy lấy người T 19 34 02-9 NT ThV
35 Bỏ của chạy lấy người T 40 40 14-10 NT ThV
36 Bỏ của chạy lấy người K 05 16 29-4 NT ThV
37 Bỏ của chạy lấy nhân T 30 41 21-10 Th ThV
cách
38 Bỏ thơ chạy lấy người T 28 37 23-9 Th ThV
39 Bờ xôi ruộng mật T 07 43 04-11 NT ThV
40 Buôn thúng bán mẹt T 15 10 18-3 NT ThV
41 Bữa đực bữa cái T 19 30 05-8 NT ThV
42 Bước thấp bước cao T 29 03 21-01 NT ThV
43 Bươu đầu sứt trán T 15 34 02-9 NT ThV
44 Cà kê dê ngỗng T 31 05 04-02 NT ThV
45 Cá chậu chim lồng T 33 09 11-T NT ThV
48 Cạn tàu ráo máng T 29 17 06-5 NT ThV
49 Cạn tàu ráo máng T 29 42 28-10 NT ThV
50 Cạn tàu ráo máng T 30 07 25-02 NT ThV
51 Cao chạy xa bay T 10 27 15-7 NT ThV
52 Cao chạy xa bay T 21 12 01-4 NT ThV
53 Cao lương mỹ vị T 29 18 13-5 NT HV
54 Cân đong đo đếm T 17 08 04-3 NT ThV
55 Cân đong đo đếm T 11 21 03-6 NT ThV
56 Cầu trời khấn phật T 21 11 25-3 NT HV
57 Cây nhà lá vườn T 25 06 11-02 NT ThV
58 Cây nhà lá vườn T 22 23 17-6 NT ThV
59 Cha truyền con nối T 19 06 11-02 NT ThV
60 Cha truyền con nối T 11 32 19-8 NT ThV
61 Chan tương đổ mè T 29 08 04-3 NT ThV
62 Chạy chức chạy quyền T 04 46 25-11 NT ThV
63 Chạy chức chạy quyền T 07 46 25-11 NT ThV
64 Chạy chức chạy quyền T 07 46 25-11 NT ThV
65 Chạy đôn chạy đáo T 36 37 23-9 NT ThV
66 Chạy đôn chạy đáo T 20 30 05-8 NT ThV
67 Chạy đôn chạy đáo T 28 17 06-5 NT ThV
68 Chẳng nói chẳng rằng T 39 43 04-11 NT ThV
69 Chân lấm tay bùn T 09 14 15-4 NT ThV
70 Chân ướt chân ráo T 28 35 09-9 NT ThV
71 Chân ướt chân ráo T 24 42 28-10 NT ThV
72 Chân yếu tay mềm T 10 15 22-4 NT ThV
73 Chén chú chén anh T 33 16 29-4 NT ThV
74 Chèo xuôi mát mái T 06 49 16-12 Đ ThV
75 Chia năm xẻ bảy T 23 10 18-3 NT ThV
76 Chọn mặt gửi vàng Tđ 13 20 27-5 NT ThV
77 Chôn nhau cắt rốn T 22 30 05-8 NT ThV
78 Chôn nhau cắt rốn T 24 07 25-02 NT ThV
79 Chồng chúa vợ tôi T 06 03 21-01 NT ThV
80 Chui ra chui vào T 41 20 27-5 NT ThV
81 Chui ra chui vô T 18 10 18-3 NT ThV
82 Chuyện này chuyện nọ T 05 17 06-5 NT ThV
83 Chứng nào tật đó T 41 06 11-02 NT ThV
84 Chướng tai gai mắt T 11 45 18-11 NT ThV
85 Có ăn có để T 35 29 29-7 NT ThV
86 Con sâu cái kiến T 30 22 10-6 NT ThV
87 Còn người còn của T 30 06 11-02 NT ThV
88 Công ăn việc làm T 05 35 09-9 NT ThV
89 Công ăn việc làm Tđ 18 30 05-8 NT ThV
T 20 30 05-8 NT ThV 90 Công ăn việc làm
T 06 03 21-01 NT ThV 91 Công ăn việc làm
T 19 44 11-11 NT ThV 92 Công ăn việc làm
T 14 46 25-11 NT ThV 93 Công ăn việc làm
T 42 13 08-4 NT ThV 94 Công ăn việc làm
T 31 32 19-8 22 ThV 95 Công ăn việc làm
T 18 38 30-9 NT ThV 96 Công ăn việc làm
T 41 24 24-6 NT ThV 97 Cơm áo gạo tiền
T 36 44 11-11 NT ThV 98 Cơm cha áo mẹ
T 36 44 11-11 NT ThV 99 Cơm lành canh ngọt
T 41 18 13-5 NT ThV 100 Của ăn của để
T 28 32 19-8 NT ThV 101 Của ăn của để
T 28 32 19-8 NT ThV 102 Của ăn của để
T 16 05 04-02 NT ThV 103 Của đau con xót
T 08 39 07-10 NT ThV 104 Của ít lòng nhiều
T 29 30 05-8 KT ThV 105 Của ít mà lòng nhiều
T 39 26 08-7 Đ ThV 106 Cuốc bẫm cày sâu
T 28 06 11-02 Đ ThV 107 Dãi dầm mưa nắng
T 25 45 18-11 NT ThV 108 Dãi nắng dầm mưa
T 27 42 28-10 NT ThV 109 Dãi nắng dầm mưa
T 19 18 13-5 NT ThV 110 Dãi nắng dầm mưa
T 33 14 15-4 Th ThV 111 Dãi nắng dầm sương
13 47 112 Danh chính thì ngôn K 02-12 KT HV
thuận
T 13 11 25-3 NT HV 113 Danh lam thắng cảnh
T 36 35 09-9 NT ThV 114 Dám chơi dám chịu
115 Dám nghĩ dám làm T 37 05 04-02 NT ThV
116 Dầm mưa dãi nắng T 10 42 28-10 NT ThV
117 Dầu sôi lửa bỏng T 06 47 02-12 NT ThV
118 Dầu sôi lửa bỏng T 06 47 02-12 NT ThV
119 Dầu sôi lửa bỏng T 09 42 28-10 NT ThV
120 Dây mơ rễ má T 39 03 21-01 NT ThV
121 Dâu hiền rể thảo T 15 39 07-10 NT ThV
122 Dở cười dở mếu T 26 30 05-8 Th ThV
123 Dở khóc dở cười T 29 04 28-01 NT ThV
124 Dở khóc dở cười T 26 30 05-8 NT ThV
125 Dở khóc dở cười T 19 21 03-6 NT ThV
126 Dở khóc dở cười T 15 27 15-7 NT ThV
127 Dở không dở dại T 27 30 05-8 NT ThV
128 Dựng vợ gả chồng T 24 39 07-10 NT ThV
129 Đãi cát để nhặt vàng T 37 29 29-7 KT ThV
130 Đãi cát tìm vàng T 05 08 04-3 NT ThV
131 Đãi cát tìm vàng T 34 14 15-4 NT ThV
132 Đãi cát vớt vàng Tđ 31 21 03-6 Th ThV
133 Đãi cát vớt vàng T 31 21 03-6 NT ThV
134 Đánh đâu thắng đó Tđ 12 22 10-6 NT ThV
135 Đánh đâu thắng đó T 12 22 10-6 NT ThV
12 136 Đánh nhanh thắng Tđ 22 10-6 NT ThV
nhanh
137 Đao to búa lớn K 07 16 29-4 NT ThV
138 Đao to búa lớn T 18 38 30-9 NT ThV
139 Đao to búa lớn T 33 30 05-8 NT ThV
140 Đao to búa lớn T 35 33 26-8 NT ThV
141 Đập dập bẻ co T 09 09 11-3 NT ThV
142 Đất khách quê người T 34 22 10-6 NT ThV
143 Đất khách quê người T 12 34 02-9 NT ThV
144 Đất khách quê người T 09 28 22-7 NT ThV
145 Đất khách quê người T 19 44 11-11 NT ThV
146 Đất rộng người thưa T 22 07 25-02 NT ThV
147 Đất rộng người thưa T 16 42 28-10 NT ThV
148 Đầu có xuôi đuôi mới T 40 18 13-5 KT ThV
lọt
149 Đầu đội trời chân đạp T 32 45 18-11 NT ThV
đất
T 12 150 Đầu đường cuối chợ 06 10-02 NT ThV
T 13 151 Đầu đường cuối chợ 06 11-02 NT ThV
T 12 152 Đầu rồng đuôi phụng 48 09-12 NT ThV
T 26 153 Đầu tắt mặt tối 30 05-8 NT ThV
T 11 154 Đầu voi đuôi chuột 21 03-6 NT ThV
T 27 155 Đền ơn đáp nghĩa 28 22-7 NT ThV
T 36 156 Đến nơi đến chốn 07 25-02 NT ThV
29 157 Đi đến nơi về đến chốn T 18 13-5 NT ThV
T 32 158 Đi mây về gió 23 17-6 NT ThV
T 37 159 Đi sớm về tối 35 09-9 Th ThV
T 23 160 Đi tắt đón đầu 11 25-3 NT ThV
T 12 161 Đi tắt đón đầu 17 06-5 NT ThV
T 08 162 Đi trước về sau 28 22-7 NT ThV
14 163 Đi trước về sau Tđ 21 03-6 NT ThV
31 164 Điều binh khiển tướng T 13 08-4 NT ThV
T 29 165 Đoán già đoán non 14 15-4 NT ThV
T 18 166 Đói lên đói xuống 13 08-4 NT ThV
27 167 Đổ mồ hôi sôi nước T 22 10-6 NT ThV
mắt
168 Độc mồm độc miệng T 28 01 07-01 NT ThV
169 Đội nắng dầm mưa T 19 30 05-8 Th ThV
170 Đội nắng dầm mưa T 19 30 05-8 Th ThV
171 Đồng tiền bát gạo T 08 05 04-02 NT ThV
172 Đồng tiền bát gạo T 13 29 29-7 NT ThV
173 Đủ ăn đủ chung T 33 32 19-8 NT ThV
174 Đủ lông đủ cánh T 31 34 02-9 NT ThV
175 Đứng mũi chịu sào T 33 40 14-10 NT ThV
176 Được ăn cả ngã về T 41 27 15-7 NT ThV
không
177 Gãi đầu gãi tai T 17 21 03-6 NT ThV
178 Gạn đục khơi trong T 07 46 25-11 NT ThV
179 Gãy tay sứt trán T 09 22 10-6 NT ThV
180 Gây thù chuốc oán T 27 38 30-9 NT ThV
181 Ghen bóng ghen gió T 25 30 05-8 NT ThV
182 Ghi da khắc cốt T 41 34 02-9 NT ThV
26 08 04-3 NT ThV 183 Già nhân ngãi non vợ T
chồng
184 Già nhân ngãi non vợ T 36 34 02-9 NT ThV
chồng
185 Giật gấu vá vai T 13 39 07-10 NT ThV
186 Giấu đầu lòi đuôi T 19 39 07-10 NT ThV
187 Giấy trắng mực đen T 23 15 22-4 NT ThV
188 Giết gà nhát khỉ T 34 01 07-01 NT ThV
189 Gió rét mưa phùn T 34 35 09-9 NT ThV
190 Gọi dạ bảo vâng T 09 42 28-10 NT ThV
191 Ham công tiếc việc T 31 11 25-3 NT ThV
192 Héo ruột mòn gan T 28 21 03-6 NT ThV
193 Hoa sói hoa nhài T 33 37 23-9 NT ThV
18 37 23-9 NT ThV 194 Hồn Trương Ba da Tđ
hàng thịt
195 Hồn Trương Ba da T 31 34 02-9 NT ThV
hàng thịt
196 Hồn Trương Ba da K 09 27 15-7 NT ThV
hàng thịt
197 Hư bột hư đường Tđ 07 44 11-11 NT ThV
198 Hương đồng gió nội T 14 35 09-9 NT ThV
199 Kẻ nắm cán người nắm T 19 09 04-3 NT ThV
lưỡi
200 Kín cổng cao tường 32 T 38 30-9 NT ThV
201 Kín cổng cao tường 15 T 33 26-8 NT ThV
202 Khoét núi đào vàng 20 T 40 14-10 NT ThV
203 Khổ rách áo ôm 12 T 34 02-9 NT ThV
204 Làm giả ăn thật 10 T 08 04-3 NT ThV
205 Làm mưa làm gió 39 T 16 29-4 NT ThV
206 Làm ơn mắc oán 29 T 21 03-6 NT ThV
207 Lao tâm khổ tứ 13 T 22 10-6 NT ThV
208 Lắm tiền nhiều của 34 T 10 18-3 NT ThV
209 Lén la lén lút 41 T 22 10-6 NT ThV
210 Lên bờ xuống ruộng 16 T 43 04-11 Th ThV
211 Lên bờ xuống ruộng 06 T 24 24-6 Th ThV
212 Lên rừng xuống biển 24 Tđ 12 10-6 NT ThV
213 Long tranh hổ đấu 38 Tđ 24 24-6 NT HV
214 Lời ăn tiếng nói 29 T 32 19-8 NT ThV
215 Mang nặng đẻ đau 33 T 22 10-6 NT ThV
216 Mang nặng đẻ đau 37 T 28 22-7 NT ThV
217 Mày ngài, mắt phượng T 08 46 25-11 T ThV
218 Mắng chó chửi mèo 27 T 48 09-12 NT ThV
219 Mắt thấy tai nghe 25 T 35 09-9 NT ThV
220 Mắt xanh mỏ đỏ T 26 11 25-3 NT ThV
221 Mâm cao cổ đầy T 18 48 09-12 NT ThV
222 Mất ăn mất ngủ T 36 20 27-5 NT ThV
223 Mẹ chồng nàng dâu T 37 43 04-11 NT ThV
224 Mẹ chồng nàng dâu T 36 44 11-11 NT ThV
225 Mẹ ghẻ con chồng T 37 43 04-11 NT ThV
226 Mẹ ghẻ con chồng T 37 45 18-11 NT ThV
227 Mẹ hát con khen hay T 08 03 21-01 NT ThV
228 Mẹ tròn con vuông T 16 39 07-10 NT ThV
229 Miếng cơm manh áo T 39 26 08-7 NT ThV
230 Miếng cơm manh áo T 16 28 27-7 NT ThV
231 Mình làm dân chịu T 38 27 15-7 Th ThV
232 Một công đôi việc T 20 19 20-5 NT ThV
233 Một mất một còn T 30 12 01-4 NT ThV
234 Một mình một chợ T 41 24 24-6 NT ThV
235 Một nách mấy con T 10 45 18-11 NT ThV
236 Một nắng hai sương T 10 20 27-5 NT ThV
237 Một sớm một chiều T 10 11 25-3 NT ThV
238 Một thân một mình T 27 38 30-9 NT ThV
239 Một vốn bốn lời K 18 41 21-10 NT ThV
240 Mua thấp bán cao T 41 24 24-6 NT ThV
241 Năm lần bảy lượt T 17 21 03-6 NT ThV
242 Nâng trứng hứng hoa T 26 37 23-9 NT ThV
243 Ngáp dài ngáp ngắn T 14 16 29-4 NT ThV
244 Nghèo rách nghèo rơ T 15 35 09-9 Th ThV
245 Nghèo xơ nghèo xác T 39 26 08-7 NT ThV
246 Ngoài chồng ngoài vợ T 39 08 04-3 NT ThV
247 Ngồi trước mà ăn trên K 37 16 29-4 KT ThV
248 Ngủ gà ngủ gật T 28 02 14-01 NT ThV
249 Người bán kẻ mua T 34 02 14-01 NT ThV
250 Nhà tranh vách đất T 17 25 01-7 NT ThV
251 Nhảy ra nhảy vào T 13 22 16-6 NT ThV
252 Nhất bên trọng nhất T 12 36 09-9 NT ThV
bên khinh
T 22 06 01-02 NT ThV 253 Nhất cử nhất động
T 23 27 15-7 NT ThV 254 Nhất mẹ nhì con
T 18 27 15-7 NT ThV 255 Nhẹ dạ cả tin
T 29 04 28-01 NT ThV 256 Nhìn xa trông rộng
T 38 30 05-8 NT ThV 257 Nhịn ăn nhịn mặt
T 30 05 04-02 NT ThV 258 Nhớ quay nhớ quắt
T 08 05 04-02 NT ThV 259 No dồn đói góp
T 08 05 04-02 NT ThV 260 No dồn đói góp
T 33 40 14-10 Th ThV 261 Nói sao nghe vậy
T 24 24 24-6 NT ThV 262 Nổi đình nổi đám
T 18 29 29-7 NT ThV 263 Nở mày nở mặt
T 07 04 28-01 NT ThV 264 Nửa đùa nửa thật
T 07 04 28-01 NT ThV 265 Nửa đùa nửa thật
T 23 10 18-3 NT ThV 266 Nửa đùa nửa thật
T 33 28 22-7 NT ThV 267 Nửa đùa nửa thật
T 31 42 28-10 NT ThV 268 Nước chảy đá mòn
T 37 36 16-9 NT ThV 269 Ôm rơm nặng bụng
T 37 36 16-9 NT ThV 270 Ôm rơm nặng bụng
T 07 17 06-5 NT HV 271 Ông đồng bà cốt
T 07 17 06-5 NT HV 272 Ông đồng bà cốt
T 30 18 13-5 NT ThV 271 Ông nói gà bà nói vịt
T 24 39 07-10 NT ThV 273 Quá lứa lỡ thì
T 13 08 04-T NT ThV 274 Quá lứa lỡ thì
T 13 8 04-3 NT ThV 275 Quanh đi quẩn lại
276 Quần vận áo vo T 29 21 03-6 Đ ThV
277 Quê cha đất tổ T 15 38 30-9 NT ThV
278 Quê cha đất tổ T 12 14 15-4 NT ThV
279 Quê cha đất tổ T 22 03 21-01 NT ThV
280 Quê cha đất tổ T 27 17 06-5 NT ThV
281 Quỉ khốc thần sầu T 25 35 09-9 NT HV
282 Quỉ khốc thần sầu T 24 35 09-9 NT HV
283 Quỉ tha ma bắt T 30 18 13-5 NT ThV
284 Quỉ tha ma bắt T 29 10 18-3 NT ThV
285 Quỉ tha ma bắt T 21 38 30-9 NT ThV
286 Quyền sinh quyền sát T 16 34 02-9 NT HV
287 Ranh ma quỉ quyệt T 31 17 06-5 NT ThV
288 Rày đây mai đó T 34 02 14-01 NT ThV
289 Rày đây mai đó T 34 02 14-01 NT ThV
290 Rừng thiêng nước độc T 20 05 04-02 NT ThV
291 Rừng thiêng nước độc T 16 42 28-10 NT ThV
292 Sai đâu đánh đó T 09 32 19-8 NT ThV
293 Sáng say chiều xỉn T 18 09 11-3 NT ThV
294 Sinh con đẻ cái T 25 05 04-02 NT ThV
295 Sinh nghề tử nghiệp Tđ 13 22 10-6 NT HV
296 Sinh nghề tử nghiệp Tđ 13 31 12-8 NT HV
297 Sinh nghề tử nghiệp T 13 22 10-6 NT HV
298 Sinh nghề tử nghiệp T 07 45 18-11 NT HV
299 Sinh nghề tử nghiệp T 12 28 22-7 NT HV
300 Sinh sau đẻ muộn Tđ 12 28 22-7 NT ThV
301 Sống dở chết dở T 37 07 25-02 NT ThV
302 Sống để bụng chết đem T 33 28 22-7 NT ThV
theo
303 Sống để dạ chết mang T 41 34 02-9 NT ThV
theo
304 Sức dài vai rộng T 19 30 05-8 NT ThV
305 Sức dài vai rộng T 19 30 05-8 NT ThV
306 Tác oai tác quái T 06 41 21-10 NT ThV
307 Tai qua nạn khỏi T 19 11 25-3 NT ThV
308 Tai trước tai sau T 29 04 28-01 NT ThV
309 Tán gia bại sản T 29 21 03-6 NT ThV
310 Tay làm hàm nhai T 19 21 03-6 NT ThV
311 Tay xách nách mang T 19 48 09-12 NT ThV
312 Tay xách nách mang T 18 48 09-12 NT ThV
313 Tay xách nách mang T 09 12 01-4 NT ThV
314 Tâm phục khẩu phục T 08 22 10-6 NT HV
315 Tầm chương T 27 35 09-9 L HV
316 Than thân trách phận T 36 40 14-10 NT ThV
317 Thắt lưng buộc bụng T 11 23 17-6 NT ThV
318 Thắt lưng buộc bụng T 05 48 09-12 NT ThV
319 Thắt lưng buộc bụng T 04 48 09-12 NT ThV
320 Thâm sơn cùng cốc T 30 47 02-12 NT HV
321 Thâm sơn cùng cốc T 26 19 20-5 NT HV
322 Thầm yêu trộm nhớ T 33 41 21-10 NT ThV
323 Thậm thà thậm thụt T 39 43 04-11 NT ThV
324 Thân bại danh liệt T 24 41 21-10 NT HV
325 Thấp cổ bé họng T 32 18 13-5 NT ThV
326 Thấp cổ bé họng T 29 37 23-9 NT ThV
327 Thập tử nhất sinh T 38 25 01-7 NT HV
328 Thập tử nhất sinh T 27 10 18-3 NT HV
329 Thất cơ lỡ vận T 41 17 06-5 NT HV
330 Thâu đêm suốt sáng T 26 12 01-4 NT ThV
331 Thấu tình đạt lí T 11 29 29-7 NT ThV
332 Thêm bạn bớt thù T 38 51 30-12 NT ThV
333 Thêm mắm thêm muối T 24 02 14-01 NT ThV
334 Thêm hoa thêm lá T 25 08 04-3 NT ThV
335 Thiên biến vạn hóa T 40 18 13-5 NT HV
336 Thiên hình vạn trạng T 20 30 29-7 NT HV
337 Thiên la địa võng T 39 09 11-T NT HV
338 Thiên thời địa lợi T 14 09 11-3 NT HV
339 Thiếu trước hụt sau T 18 21 03-6 NT ThV
340 Thiếu trước hụt sau T 06 42 28-10 NT ThV
341 Thóc đâu bồ câu đấy T 09 12 01-4 NT ThV
342 Thói hư tật xấu T 31 06 11-02 NT ThV
343 Thù trong giặc ngoài T 07 08 04-3 NT ThV
344 Thua chị kém em T 11 42 28-10 NT ThV
345 Thuần phong mỹ tục T 04 43 04-11 NT HV
346 Thuận mua vừa bán T 21 19 20-5 NT ThV
347 Thức khuya dậy sớm Tđ 12 47 02-12 NT ThV
348 Thức khuya dậy sớm T 30 28 22-7 NT ThV
349 Thương thầm nhớ trộm T 26 48 09-02 NT ThV
350 Thượng vàng hạ cám T 20 19 20-5 NT HV
351 Thượng vàng hạ cám T 13 29 29-7 NT HV
352 Tích cốc phòng cơ T 39 05 04-02 NT HV
353 Tiền mất tật mang T 15 11 25-3 NT ThV
354 Tiền nào của đó T 10 39 07-10 Th ThV
355 Tiền nào của nấy T 39 26 08-7 NT ThV
356 Tiền nào của nấy T 36 10 18-3 NT ThV
357 Tiền nào của nấy T 10 39 07-10 NT ThV
358 Tiền trảm hậu tấu T 08 20 27-5 NT HV
359 Tiền trao cháo múc T 15 23 17-6 NT ThV
360 Tình xưa nghĩa cũ T 36 40 14-10 NT ThV
361 Toàn tâm toàn ý T 16 10 18-3 NT ThV
362 Tối mũi tối mắt T 29 21 03-6 Đ ThV
363 Tới nơi tới chốn T 20 30 05-8 NT ThV
364 Tới nơi tới chốn T 32 40 14-10 NT ThV
365 Trà dư tửu hậu T 12 22 10-6 NT HV
366 Trà dư tửu hậu T 26 03 21-01 NT HV
367 Trai tài gái sắc T 25 46 25-11 NT ThV
368 Trai tài gái sắc T 25 30 05-8 NT ThV
369 Trái gió trở trời T 20 03 21-01 NT ThV
370 Trái gió trở trời T 37 28 22-7 NT ThV
371 Trái gió trở trời T 24 41 21-10 NT ThV
372 Trái tai gai mắt T 28 04 28-01 NT ThV
373 Trái tai gai mắt T 27 05 04-02 NT ThV
374 Trăm công nghìn việc T 08 31 12-8 NT ThV
375 Trăng thanh gió mát T 32 30 05-8 NT ThV
376 Trẻ người non dạ T 38 33 26-8 NT ThV
377 Trên bến dưới thuyền T 06 25 01-7 NT ThV
378 Trên trời dưới đất T 31 21 03-6 NT ThV
379 Trên trời dưới đất T 31 44 11-11 NT ThV
380 Tri âm tri kỉ T 29 03 21-01 NT HV
381 Tri âm tri kỉ T 27 35 09-9 NT HV
382 Trong ấm ngoài êm T 28 06 11-02 NT ThV
383 Trọng nam khinh nữ T 23 09 04-3 NT ThV
384 Trống hoác trống T 39 26 08-7 Th ThV
hoang
385 Trống hươ trống hoác T 31 41 28-10 NT ThV
386 Trống hươ trống hoác T 39 27 15-7 NT ThV
387 Trống trước hở sau T 21 15 22-4 NT ThV
388 Tụm năm tụm bảy T 30 13 08-4 NT ThV
389 Tự cung tự cấp T 18 15 22-4 NT HV
390 Tự tung tự tác T 41 11 25-3 NT HV
391 Tường cao hào sâu K 40 22 10-6 NT ThV
392 U đầu chảy máu T 10 23 17-6 NT ThV
393 Vá chằng vá đụp T 15 35 09-9 NT ThV
394 Vạch lá tìm sâu T 16 51 30-12 NT ThV
395 Vạch lá tìm sâu T 38 19 20-5 NT ThV
396 Vai u thịt bắp T 28 10 18-3 NT ThV
397 Vào tù ra khám T 23 12 01-4 NT ThV
398 Vắng tanh vắng ngắt T 15 35 09-9 NT ThV
399 Vô công rỗi nghề T 41 23 17-6 NT HV
400 Vô thủy vô chung T 35 35 09-9 NT HV
401 Vô thưởng vô phạt T 31 10 18-3 NT HV
402 Vô thưởng vô phạt T 27 22 10-6 NT HV
403 Vu oan giá họa T 29 04 28-01 NT ThV
404 Vừa đá bóng vừa thổi T 17 22 10-6 Th ThV
còi
405 Vừa đá bóng vừa thổi T 12 16 29-4 Th ThV
còi
406 Vừa đá bóng vừa thổi T 11 39 07-10 Th ThV
còi
407 Vừa đá bóng vừa thổi T 08 31 12-8 Th ThV
còi
408 Vừa đánh trống vừa la T 29 04 28-01 NT ThV
làng
409 Vừa la làng M 09 43 04-11 L ThV
410 Vườn không nhà trống T 25 17 06-5 NT ThV
411 Vườn không nhà trống T 09 43 04-11 NT ThV
412 Xôi hỏng bỏng không T 37 25 01-7 NT ThV
3) Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
STT Thn
Ai có phần nấy 1 T 29 11 25-3 NT ThV
Ai lo phần nấy 2 T 31 11 25-3 T ThV
Án binh bất động 3 K 11 23 17-6 NT HV
Án binh bất động 4 T 10 12 01-4 NT HV
Án binh bất động 5 T 41 29 29-7 NT HV
Án binh bất động 6 M 40 31 12-8 NT HV
Áo mặc không qua Tđ 18-11 NT ThV 7 04 45
khỏi đầu
Ao sâu cá mè T 39 48 09-12 NT ThV 8
Ăn cơm nhà làm việc T 23 17 06-5 Th ThV 9
không công
10 Bán cháo lưỡi T 37 32 19-8 NT ThV
11 Bán cháo phổi T 16 36 16-9 NT ThV
12 Bắt cóc bỏ dĩa T 15 27 15-7 NT ThV
13 Bất đắc dĩ T 30 21 03-6 NT HV
14 Bất đắc dĩ T 29 42 28-10 NT HV
15 Bất đắc dĩ T 26 27 15-7 NT HV
16 Bất đắc dĩ T 18 19 20-5 NT HV
17 Bất đắc dĩ T 17 06 11-02 NT HV
18 Bất đắc dĩ T 16 17 06-5 NT HV
19 Bất đắc dĩ T 10 29 29-7 NT HV
20 Bật đèn xanh T 33 09 11-3 NT ThV
21 Bật đèn xanh T 41 30 05-8 NT ThV
22 Bất thành văn T 09 40 14-10 L ThV
23 Bẽ gãy sừng trâu T 33 18 13-5 L ThV
24 Biến hóa vô song T 18 12 01-4 NT HV
25 Binh quí hồ tinh bất T 39 47 02-12 Th HV
quí hồ đa
26 Binh quí hồ tinh bất T 39 04 28-01 Th HV
quí hồ đa
27 Bó tay chấm cơm T 38 43 04-11 NT ThV
28 Bôi mặt đá nhau T 40 25 01-7 NT ThV
29 Bở hơi tai T 10 09 11-3 L ThV
30 Bùa hộ mệnh T 27 09 11-3 NT ThV
31 Buôn dưa lê T 37 30 05-8 NT ThV
32 Buôn dưa lê T 04 51 30-12 NT ThV
33 Buồn ngủ gặp cà phê T 39 45 18-11 Th ThV
đen
34 Buồn ngủ gặp chiếu T 28 17 05-6 NT ThV
manh
35 Cá lớn nuốt cá bé T 04 17 05-6 NT ThV
36 Cá lớn nuốt cá bé T 41 47 02-12 NT ThV
37 Cá lớn nuốt cá bé T 04 18 13-5 NT ThV
38 Cá mắc cạn T 23 10 18-3 NT ThV
39 Cá mè một lứa T 07 03 21-01 NT ThV
40 Cá nằm trên thớt T 21 33 26-8 NT ThV
41 Cài số de T 04 03 21-01 NT ThV
42 Cạp đất mà ăn T 15 43 04-11 NT ThV
T 09 22 10-6 NT ThV 43 Cắn răng chịu đựng
41 18 13-5 NT ThV 44 Cầm đèn chạy trước ô T
tô
45 Cầm đèn chạy trước ô T 38 27 15-7 NT ThV
tô
46 Cầm tay chỉ việc T 21 31 12-8 NT ThV
47 Cầm tiền chạy trước T 13 20 27-5 T ThV
quĩ đầu từ
48 Cha chung không ai Tđ 12 21 03-6 NT ThV
khóc
49 Cha chung không ai K 12 21 03-6 NT ThV
khóc
50 Chảy máu chất xám T 27 25 01-7 NT ThV
51 Chảy máu chất xám T 21 42 28-10 NT ThV
52 Chạy có cờ T 21 05 04-02 NT ThV
53 Chạy nước rút T 11 36 16-9 NT ThV
54 Chạy vắt giò lên cổ T 08 51 30-12 NT ThV
55 Chậm một chút mà K 27 11 25-3 KT ThV
chắc
56 Châu mới về hợp phố T 09 10 18-3 KT ThV
57 Chí tang bồng T 32 39 07-10 L HV
58 Chép miệng cho qua T 19 14 08-4 NT ThV
59 Chim đầu đàn T 23 11 25-3 NT ThV
60 Chùa bà Đanh Tđ 10 05 04-02 L ThV
61 Chúa sơn lâm T 29 11 25-3 NT HV
62 Chúa sơn lâm T 30 11 25-3 NT HV
63 Chui đầu vào chụp T 35 46 25-11 NT ThV
64 Chuyện thường ngày ở T 41 35 09-9 NT ThV
huyện
65 Chuyện thường ngày ở T 39 22 10-6 NT ThV
huyện
66 Có còn hơn không T 31 11 25-3 NT ThV
67 Có một không hai T 08 45 18-11 NT ThV
68 Có một không hai T 08 45 18-11 NT ThV
69 Có một không hai T 04 45 18-11 NT ThV
70 Con nhà nòi T 33 40 14-7 NT ThV
71 Con nhà nòi T 19 06 11-02 NT ThV
72 Công tử Bạc Liêu T 08 40 14-7 NT ThV
73 Cờ tới tay ai nấy phất Tđ 12 20 27-5 L ThV
T 74 Của để dành 24 03 21-01 NT ThV
T 75 Của trời cho 07 13 08-4 NT ThV
T 76 Cười ra nước mắt 25 03 21-01 NT ThV
T 77 Dài đăng đẳng 39 43 04-11 NT ThV
T 78 Dò đá qua sông 04 18 13-5 NT ThV
T 79 Đá ném xuống ao bèo 38 50 23-12 KT ThV
80 Đá ném ao bèo Tđ 13 25 01-7 NT ThV
T 81 Đánh trống hàng tổng 28 38 30-9 NT ThV
T 82 Đất lành chim đậu 31 16 29-4 NT ThV
T 83 Đầu hai thứ tóc 39 44 11-11 NT ThV
84 Đem chuông đi đánh T 09-12 NT 25 48
xứ người
T 85 Đem con bỏ chợ 21 05 04-02 NT ThV
T 86 Đệ tử lưu linh 18 30 05-8 NT ThV
T 87 Đệ tử lưu linh 17 29 20-5 NT ThV
88 Đếm trên đầu ngón tay T 19 44 11-11 NT ThV
89 Đếm trên đầu ngón tay T 18 09 11-3 NT ThV
T 90 Đi ăn mày 18 09 11-3 NT ThV
T 91 Đinh đóng vào cột 34 13 08-4 NT ThV
T 92 Đổ mồ hôi hột 13 14 15-4 NT ThV
T 93 Đổ thêm dầu vào lửa 25 36 16-9 NT ThV
T 94 Độc nhất vô nhị 19 06 11-02 NT HV
T 95 Độc nhất vô nhị 22 06 11-02 NT HV
96 Đồng thanh tương ứng T 28 03 21-01 NT HV
97 Đồng thanh tương ứng T 37 18 13-5 NT HV
đồng khí tương cầu
98 Đứng ngồi không yên Tđ 20 12 01-4 NT ThV
99 Được vạ má đã sưng 40 20 27-5 NT ThV K
100 Gà trống nuôi con 26 41 21-10 NT ThV T
101 Gậy ông đập lưng ông T 13 22 11-6 NT ThV
102 Gậy ông đập lưng ông T 08 05 04-02 NT ThV
103 Giàu nứt vách 08 17 06-5 L ThV T
104 Giậm chân tại chỗ 06 46 25-11 NT ThV T
105 Giậm chân tại chỗ 31 42 28-10 NT ThV T
106 Giậm chân tại chỗ 39 09 11-3 NT ThV T
107 Giấy không gói được T 02 18 13-5 T ThV
than cháy dở
108 Giấy không gói được T 26 18 13-5 T ThV
than cháy dở
109 Giấy không gói được Tđ 26 18 13-5 T ThV
than cháy dở
110 Giấy không gói được T 26 18 13-5 T ThV
than cháy dở
111 Giấy rách lề cũng mất Tđ 08 46 25-11 KT- ThV
T
112 Há hốc mồm 02-4 NT ThV 19 12 T
113 Hạ quyết tâm 06-5 NT ThV 28 17 T
114 Hai thứ tóc trên đầu 11-02 Đ ThV 29 06 T
115 Hay ăn chóng lớn 04-3 NT ThV 27 08 T
116 Hòa cả làng Tđ 02-4 NT ThV 06 12
117 Hòa cả làng 02-4 NT ThV 06 12 T
118 Họa vô đơn chí 05-8 NT HV 22 30 T
119 Hợp cẩn giao bôi 30-9 NT HV 37 38 T
32 24 120 Hùm dữ không ăn thịt T 24-6 NT ThV
con
121 Hùm dữ không ăn thịt T 29 35 09-9 NT ThV
con
122 Hữu xạ tự nhiên hương T 31 10 18-3 NT HV
123 Hữu xạ tự nhiên hương K 05 11 25-3 NT HV
124 Im thin thít 29 08 T 04-3 NT HV
125 Khai quốc công thần 14 36 T 16-9 NT HV
126 Khăn gói quả mướp 11 48 T 09-12 NT ThV
127 Khen phò mã tốt áo 38 13 M 08-4 NT ThV
128 Không chồng mà chữa T 36 31 12-8 NT ThV
129 Không còn đất dụng võ T 10 36 14-9 NT ThV
130 Không đánh mà khai 31 06 T 11-02 NT ThV
131 Không đánh mà khai 27 08 T 04-3 NT ThV
132 Không lo xa ắt có buồn Tđ 08 14 15-4 NT ThV
gần
133 Không lo xa ắt có buồn T 08 14 15-4 NT ThV
gần
10 36 134 Không tấc đất cắm dùi T 16-9 NT ThV
32 06 135 Không thốt được nên T 11-02 NT ThV
lời
136 Kiếm đỏ con mắt 17 21 T 03-6 NT ThV
137 Kính nhi viễn chi 07 10 K 18-3 NT HV
138 Làm dâu xứ người 28 39 T 07-10 Th ThV
139 Làm bữa nào xào bữa T 09 26 08-7 NT ThV
nấy
140 Lạnh cắt da cắt thịt 25 06 T 11-02 NT ThV
141 Lắc đầu quầy quậy 17 44 T 11-11 NT ThV
142 Lắm thầy rầy ma 05 18 T 13-5 NT ThV
143 Leo lên lưng cọp 18 09 T 11-3 NT ThV
144 Liên tu bất tận 31 29 T 29-7 NT HV
145 Lo ngay ngáy T 09 47 02-12 NT ThV
146 Lo sốt vó T 17 36 16-9 NT ThV
147 Lòng tham không đáy T 09 51 30-12 NT ThV
148 Lọt vào mắt xanh T 22 21 03-6 NT ThV
149 Lọt vào mắt xanh T 24 37 23-9 NT ThV
150 Lọt vào mắt xanh T 13 18 13-5 NT ThV
151 Lội ngược dòng T 41 09 11-3 NT ThV
152 Lực bất tòng tâm T 04 28 22-7 NT HV
153 Lực bất tòng tâm T 29 42 28-10 NT HV
154 Lực bất tòng tâm T 06 17 06-5 NT HV
155 Lực bất tòng tâm T 26 29 20-5 NT HV
156 Lực bất tòng tâm T 06 18 13-5 NT HV
157 Mài đũng quần T 25 35 09-9 NT ThV
158 Mang chuông đi đánh T 24 24 24-6 NT ThV
xứ người
159 Máu mủ ruột rà T 36 30 05-8 NT ThV
160 Mệt bở hơi tai T 22 22 10-6 NT ThV
161 Mì ăn liền T 14 11 25-3 NT ThV
162 Mì ăn liền T 41 11 25-3 NT ThV
163 Mò kim đáy biển T 32 44 11-11 NT ThV
164 Mở cờ trong bụng T 39 25 01-7 NT ThV
165 Mưa dầm thấm đất T 12 14 15-4 NT ThV
166 Mưa dầm thấm đất T 12 14 15-4 NT ThV
167 Mưa dầm thấm lâu T 36 44 11-11 NT ThV
168 Mưa lũ dầm dề T 10 46 25-11 NT ThV
169 Nằm mát ăn bát vàng T 09 04 28-01 NT ThV
170 Nằm yên chờ thời T 06 49 16-12 NT ThV
171 Nẫng tay trên T 20 13 08-4 NT ThV
172 Ném đá dấu tay T 35 42 28-10 NT ThV
173 Ném tiền qua cửa sổ K 08 05 04-02 NT ThV
174 Ngàn cân treo sợi tóc T 32 09 11-3 NT ThV
175 Ngậm bồ hòn làm ngọt T 23 10 18-3 NT ThV
176 Nghèo còn mắc cái eo T 18 21 03-6 NT ThV
T 18 09 11-3 NT ThV 177 Nghèo rớt mồng tơi
T 22 17 06-5 NT ThV 178 Nghèo rớt mùng tơi
Tđ 26 13 08-4 NT HV 179 Ngọa hổ tàng long
T 26 13 08-4 NT HV 180 Ngọa hổ tàng long
T 26 43 08-4 NT HV 181 Ngọa hổ tàng long
T 25 35 09-9 NT ThV 182 Ngồi chơi xơi nước
T 18 13 08-4 NT ThV 183 Ngồi mát ăn bát vàng
T 19 42 28-10 NT ThV 184 Ngồi trên đống lửa
T 12 29 29-7 NT ThV 185 Ngồi trên đống lửa
K 36 05 04-02 NT HV 186 Ngư ông đắc lợi
T 22 13 08-4 NT HV 187 Ngư ông đắc lợi
T 09 51 30-12 NT ThV 188 Ngựa quen đường cũ
T 39 44 11-11 NT ThV 189 Nhảy chân sáo
T 18 27 15-7 NT ThV 190 Nhắm mắt đưa chân
T 19 32 19-8 NT ThV 191 Nhìn mặt đặt giá
19 24 24-6 T ThV 192 Nhổ núi nhổ tận gốc Tđ
17 02 11-01 KT- ThV 193 Nhúng tay vào chàm T
Đ
T 41 30 05-8 NT ThV 195 Nồi da xáo thịt
T 38 24 24-6 NT ThV 196 Nồi da xáo thịt
T 26 13 08-4 NT ThV 197 Nồi da xáo thịt
T 38 21 03-6 L ThV 198 Nổi đình đám
T 31 06 11-02 NT ThV 199 Nước chao đầu vịt
T 38 04 28-01 L ThV 200 Nước đôi
T 31 06 11-02 NT ThV 201 Nước đổ lá khoai
202 Nước mắt chảy xuôi T 29 08 04-3 NT ThV
203 Nước mắt chảy xuôi T 29 08 04-3 NT ThV
204 Qua sông dò đá Tđ 07 17 06-5 NT ThV
205 Quá tam ba bận T 32 40 14-10 NT ThV
206 Quân sư quạt mo T 42 32 19-8 NT HV
207 Qui định bất thành văn Tđ 07 44 11-11 T ThV
208 Qui ẩn giang hồ T 25 36 16-9 NT HV
209 Quí hồ tinh bất quí hồ M 12 24 24-6 NT HV
đa
210 Quí hồ tinh bất quí hồ T 39 04 28-01 NT HV
đa
T 18 08 04-3 NT ThV 211 Rét căm căm
T 29 17 06-5 NT ThV 212 Sét đánh ngang tai
T 09 11 25-3 NT ThV 213 Sống chết mặc bay
T 31 23 17-6 NT ThV 214 Sống chết mặc bay
T 15 30 05-8 NT ThV 215 Sống lâu lên lão làng
T 14 45 18-11 NT ThV 216 Sợ khiếp vía
T 29 07 18-02 NT ThV 217 Sợ mất vía
T 21 19 20-5 NT ThV 218 Sơn đông mãi võ
T 32 24 24-6 NT ThV 219 Sởn da gà
T 37 05 04-02 NT ThV 220 Tan tành mây khói
T 28 04 28-01 NT HV 221 Tang bồng hồ thỉ
T 26 08 04-3 NT ThV 222 Tay nhúng chàm
Tđ 23 34 02-9 L ThV 223 Nhúng chàm
T 24 34 02-9 L ThV 224 Nhúng chàm
T 33 45 18-11 NT ThV 225 Té nước theo mưa
K 07 47 02-12 NT ThV 226 Té nước theo mưa
T 16 43 04-11 NT HV 227 Tha phương cầu thực
T 20 25 01-7 NT HV 228 Tha phương cầu thực
229 Tha phương cầu thực T 28 04 28-01 NT HV
230 Tha phương cầu thực T 17 13 08-4 NT HV
231 Tha phương cầu thực T 22 20 27-5 NT HV
232 Tha phương mưu sinh T 22 20 27-5 T HV
233 Thạch Sùng còn thiếu T 11-02 NT ThV 28 06
mẻ kho
T 32 30 05-8 NT ThV 234 Thân gái dặm trường
T 13 21 03-6 NT ThV 235 Thân gái dặm trường
T 19 06 11-02 NT HV 236 Thất thập cổ lai hi
T 39 30 05-8 NT HV 237 Thỏa chí tang bồng
T 33 30 05-8 NT HV 238 Thỏa chí tang bồng
T 06 46 25-11 L ThV 239 Thọc gậy
T 13 22 10-6 NT ThV 240 Thùng rỗng kêu to
T 11 34 02-9 L HV 241 Thương hải tang điền
T 20 03 21-01 NT ThV 242 Tiếc đứt ruột
T 12 46 25-11 NT HV 243 Tiên hạ thủ vi cường
T 41 20 27-5 NT HV 244 Tiến thoái lưỡng nan
T 20 26 08-7 NT HV 245 Tiến thoái lưỡng nan
T 37 26 08-7 NT HV 246 Tiến thoái lưỡng nan
T 41 20 27-5 NT HV 247 Tiến thoái lưỡng nan
T 31 17 06-5 NT ThV 248 Toát mồ hôi hột
T 27 08 04-3 NT ThV 249 Toát mồ hôi hột
03 43 04-11 T ThV 250 Trâu bò hút nhau ruồi T
muỗi chịu
251 Trâu bò hút nhau mà Tđ 38 04 28-01 KT- ThV
còn là ruồi muỗi hứng T
chịu
252 Trên bảo dưới không T 05 03 21-01 NT ThV
nghe
253 Trên bảo dưới không T 38 18 13-5 NT ThV
nghe
38 35 09-9 NT ThV 254 Trông gà hóa cuốc T
26 05 04-02 NT ThV 255 Trơ mắt ếch T
30 13 08-4 NT ThV 256 Trúng độc đắc T
37 20 27-5 NT ThV 257 Trứng chọi đá T
08 40 14-10 NT ThV 258 Trưởng giả học làm T
sang
30 06 11-02 NT HV 259 Tứ cố vô thân T
13 40 14-10 L ThV 260 Tức nhau tiếng gáy T
12 29 29-7 NT ThV 261 Vàng thau lẫn lộn T
13 50 23-12 NT HV 262 Văn võ song toàn T
25 48 09-12 NT ThV 263 Vắt giò lên cổ T
06 39 07-10 NT ThV 264 Vẽ đường cho hươu T
chạy
265 Vỏ quýt dày có móng T 05 09 11-3 NT ThV
tay nhọn
T 266 Vỡ bọng cứt 40 01 04-10 NT ThV
T 267 Vung tay quá trán 13 34 02-9 NT ThV
T 268 Yếu bóng vía 21 38 30-9 NT ThV
Phụ lục 2:
THÀNH NGỮ TRONG BÁO TTCT NĂM 2008
1) Thành ngữ so sánh
STT Thn (1) (2) (3) (4) (5) (6)
1 Ăn xài như nước T 26 34 31-8 NT ThV
2 Bán như cho T 41 49 14-12 NT ThV
3 Bán chạy như tôm hùm T 14 29 27-7 KT ThV
tươi
Căng thẳng như dây đàn T 24-8 KT ThV 4 34 33
5 Chạy như con thoi T 17 32 17-8 Th ThV
6 Chạy như vắt giò lên cổ T 41 27 13-7 NT ThV
7 Chắc như đinh đóng cột T 08 30 03-8 NT ThV
8 Cực như trâu T 19 36 14-9 NT ThV
9 Đi lại như con thoi T 06 34 31-8 NT ThV
10 Giòn như pháo tép T 41 01 04-01 NT ThV
11 Hiền như cục đất T 18 02 11-01 NT ThV
12 Im lặng như ruồi T 28 32 17-8 NT ThV
13 Kiếm tiền như điên T 32 31 10-8 NT ThV
14 Kín như bưng T 08 30 03-8 NT ThV
15 Khóc như mưa T 24 30 03-8 NT ThV
16 Lẻ mẻ như bố thí T 16 31 10-8 NT ThV
17 Lù lù như con chuột T 06 36 14-9 NT ThV
18 Mọc lên như nấm T 40 42 26-10 L ThV
19 Mọc lên như nấm T 38 22 08-6 L ThV
20 Mỏng hơn dao lam T 28 32 17-8 NT ThV
21 Mừng như bắt được vàng T 39 32 17-8 NT ThV
22 Nắm rõ như lòng bàn tay T 34 33 24-8 NT ThV
23 Nhanh như cắt T 37 42 26-10 NT ThV
24 Nhanh như chóp T 10 30 03-8 NT ThV
25 Nhanh như chóp T 11 25 29-6 NT ThV
26 Như cá với nước T 06 01 04-01 NT ThV
27 Như con thoi T 29 44 09-11 NT ThV
28 Như đỉa phải vôi T 29 20 25-5 NT ThV
29 Như mắc cửi T 29 47 31-11 NT ThV
30 Như ong vỡ tổ T 12 42 26-10 NT ThV
31 Ngu như lợn T 27 48 07-12 NT ThV
32 Nóng như lửa T 31 02 11-01 NT ThV
33 Nổi như cồn T 31 02 11-01 NT ThV
34 Nợ như chúa chổm T 04 39 05-10 NT ThV
35 ọ lên như bò rống T 16 30 03-8 NT ThV
36 Rẻ như bèo T 24 37 21-9 NT ThV
37 Rẻ như bèo T 41 09 09-3 NT ThV
38 Run như cầy sấy T 39 10 16-3 NT ThV
39 Thẳng như ruột ngựa T 17 09 09-3 NT ThV
40 Thẳng như ruột ngựa T 17 09 09-3 NT ThV
41 Tối đen như mực T 30 09 09-3 NT ThV
42 Tươi như hoa T 26 04 25-01 NT ThV
43 Vắng như chùa bà Đanh T 16 03 18-01 NT ThV
44 Vắng như chùa bà Đanh T 17 03 18-01 NT ThV
45 Vắng như chùa bà Đanh T 50 21 01-6 NT ThV
46 Vắng như chùa bà Đanh T 16 03 18-01 NT ThV
2) Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
STT Thn (1) (2) (3) (4) (5) (6)
1 An cư lạc nghiệp T 08 04 27-01 NT HV
2 Ăn chắc mặc bền T 07 11 23-T NT ThV
Ăn chắc mặc bền 3 T 11 16 27-4 NT ThV
Ăn chắc 4 T 14 29 27-7 L ThV
Ăn dầm ở dề 5 T 10 02 13-01 T ThV
Ăn dầm ở dề 6 T 10 35 07-9 T ThV
Ăn miếng trả miếng 7 T 40 38 28-9 NT ThV
Ăn nên làm ra Tđ 8 35 01 06-01 NT ThV
9 Ăn nên làm ra T 08 03 20-01 NT ThV
10 Ăn nên làm ra T 37 31 10-8 NT ThV
11 Ăn nên làm ra T 42 31 10-8 NT ThV
12 Ăn nên làm ra T 27 34 31-8 NT ThV
13 Ăn ra làm nên T 30 20 25-5 Đ ThV
14 Ăn theo thưở ở theo T 10 43 02-11 NT ThV
thời
15 Ăn xổi ở thì T 24 42 26-10 NT ThV
16 Ba chân bốn cẳng T 38 46 23-11 NT ThV
17 Ba cọc ba đồng T 17 32 17-8 NT ThV
18 Bám chức bám quyền T 10 13 13-7 Th ThV
19 Bàn ra tán vào T 03 28 20-7 NT ThV
20 Bán diều bán quạ T 15 49 14-12 NT ThV
21 Bán đổ bán tháo T 13 51 28-12 NT ThV
22 Bán đổ bán tháo T 09 33 24-8 NT ThV
23 Bán đổ bán tháo T 13 50 28-12 NT ThV
24 Bán lưng cho trời bán T 16 32 17-8 Đ ThV
mặt cho đất
25 Bán lưng cho trời bán T 19 24 22-6 Đ ThV
mặt cho đất
26 Bán lưng cho trời bán T 18 37 21-9 Đ ThV
mặt cho đất
27 Bán mặt cho đất bán T 16 32 17-8 NT ThV
lưng cho trời
28 Bán mặt cho trời T 29 36 14-9 L ThV
29 Bán mặt cho lũ T 18 37 21-9 L- ThV
T
30 Bán sống bán chết T 22 17 04-5 NT HV
31 Bánh qui qua bánh ít T 27 29 27-7 T ThV
lại
32 Bảy nổi ba chìm T 12 33 24-8 NT ThV
33 Bất di bất dịch T 15 28 20-7 NT HV
34 Bất tài vô tướng T 15 39 05-10 NT HV
35 Bên trọng bên khinh T 14 09 09-T NT ThV
36 Bỏ một lãi mười T 37 29 27-7 NT ThV
37 Bôi tro trát trấu T 27 42 26-10 NT ThV
38 Buôn có bạn bán có T 37 10 16-T NT ThV
phường
39 Bữa đói bữa no T 19 26 06-7 NT ThV
40 Bữa đực bữa cái T 07 24 22-6 NT ThV
41 Cây nhà lá vườn T 32 12 30-T NT ThV
42 Chà đi xát lại T 07 36 14-9 NT ThV
43 Chạy chức chạy T 10 27 13-7 NT ThV
quyền
44 Chạy chức chạy T 11 48 07-12 NT ThV
quyền
45 Chạy ngược- xuôi T 17 32 17-8 L ThV
46 Chẳng nói chẳng rằng T 39 29 27-7 NT ThV
47 Chân ấm nệm êm T 32 34 31-8 NT ThV
48 Chân lấm tay bùn T 19 26 06-7 NT ThV
49 Chân trong chân T 09 35 07-9 NT ThV
ngoài
50 Chân trong chân T 04 06 17-02 NT ThV
ngoài
51 Chân trời gốc bể T 28 38 28-9 NT ThV
52 Chém đinh chặt sắt T 07 22 08-6 NT ThV
53 Chén cơm manh áo T 24 32 17-8 NT ThV
54 Chiêu hiền đãi sĩ T 06 28 10-7 NT HV
55 Chín người mười ý T 15 39 05-10 NT ThV
56 Chó ăn đá gà ăn cát T 18 06 10-7 Th ThV
57 Có da có thịt T 28 49 14-12 NT ThV
58 Có lên có xuống T 10 27 13-7 NT ThV
59 Có nơi có chốn T 37 30 03-8 NT ThV
60 Có ra có vào T 10 27 13-7 NT ThV
61 Con ông con bà T 28 16 27-7 NT ThV
62 Công ăn việc làm T 05 42 26-10 NT ThV
63 Công ăn việc làm T 29 03 20-01 NT ThV
64 Công ăn việc làm T 17 27 13-7 NT ThV
65 Công ăn việc làm T 35 33 24-8 NT ThV
66 Công ăn việc làm T 13 38 28-9 NT ThV
67 Công ăn việc làm T 13 49 14-12 NT ThV
68 Công ăn việc làm T 12 50 28-12 NT ThV
69 Cơm áo gạo tiền T 31 34 31-8 NT ThV
70 Cơm áo gạo tiền T 08 30 03-8 NT ThV
71 Cơm cha áo mẹ chữ T 29 20 25-5 NT ThV
thầy
72 Cơm lành canh ngọt T 35 33 24-8 NT ThV
73 Của ít lòng nhiều T 13 27 13-7 NT ThV
74 Cửa đóng then cài T 37 47 31-11 NT ThV
75 Cửa đóng then cài T 17 03 17-01 NT ThV
76 Danh chính ngôn T 31 18 11-5 NT HV
thuận
77 Dãi nắng dầm mưa T 25 04 27-10 NT ThV
78 Dây mơ rễ má T 42 39 05-10 NT ThV
79 Dở khóc dở cười T 20 32 17-8 NT ThV
80 Dở khóc dở cười T 11 40 12-10 NT ThV
81 Dựng vợ gả chồng T 27 04 27-01 NT ThV
82 Dựng vợ gả chồng T 24 49 14-12 NT ThV
83 Đãi cát tìm vàng Tđ 16 30 03-8 NT ThV
84 Đánh trống bỏ dùi T 09 34 31-8 NT ThV
85 Đào lên lấp xuống T 10 46 23-11 NT ThV
86 Đào non khoét núi T 06 43 02-11 NT ThV
87 Đặc quyền đặc lợi T 38 04 27-01 NT HV
88 Đặc quyền đặc lợi T 13 42 26-10 NT HV
89 Đền ơn đáp nghĩa T 42 51 28-12 NT ThV
90 Đến nơi đến chốn T 13 32 17-8 NT ThV
91 Đầu xuôi đuôi lọt Tđ 34 01 06-01 NT ThV
92 Đầu xuôi đuôi lọt T 23 16 27-4 NT ThV
93 Điều binh khiển T 25 04 27-01 NT HV
tướng
94 Điều hay lẽ phải T 16 34 31-8 NT ThV
95 Đinh tai nhức óc T 16 30 03-8 NT ThV
96 Đinh tai nhức óc T 31 43 02-11 NT ThV
97 Độc mồm độc miệng T 09 28 20-7 NT HV
98 Đồng khô cỏ cháy T 12 33 24-8 NT ThV
99 Đồng rụng đồng rơi T 09 42 26-10 NT ThV
100 Đồng vợ đồng chồng T 13 35 07-9 NT ThV
101 Đủ ăn đủ mặc T 19 26 06-7 NT ThV
102 Đủ nếp đủ tẻ T 15 47 31-11 NT ThV
103 Ghen bóng ghen gió T 35 33 24-8 NT ThV
104 Ghét cay ghét đắng T 31 02 13-01 NT ThV
105 Già đau già đớn Tđ 32 47 31-11 NT ThV
106 Hẹn nay hẹn mai T 05 09 09-T NT ThV
107 Hoa chân múa tay T 27 46 23-11 NT ThV
108 Hồn Trương Ba da Tđ 14 29 27-7 NT ThV
hàng thịt
109 Hồn Trương Ba da T 15 29 27-7 NT ThV
hàng thịt
110 Hữu danh vô thực T 13 51 28-12 NT HV
111 Lạ nước lạ cái T 19 33 24-8 NT ThV
112 Làm mình làm mẩy T 05 43 02-11 NT ThV
113 Làm mưa làm gió T 36 09 09-T NT ThV
114 Làm mưa làm gió T 24 25 29-6 NT ThV
115 Lao tâm khổ tứ T 35 32 17-8 NT HV
116 Lắc đầu lè lưỡi T 07 16 27-4 NT ThV
117 Lập công chuộc tội T 37 40 12-10 NT ThV
118 Lên bờ xuống biển T 13 35 07-9 T ThV
119 Lời ong tiếng ve T 34 26 06-7 NT ThV
120 Kẻ bán người mua T 42 37 21-9 NT ThV
121 Khẩu phật tâm xà T 06 49 14-12 NT HV
122 Khỉ ho cò gáy T 19 01 06-01 NT ThV
123 Khỉ ho cò gáy T 19 01 06-01 NT ThV
124 Khóc dở mếu dở K 13 45 16-11 Đ-T ThV
125 Kinh thiên động địa Tđ 26 44 09-11 NT HV
126 Man di mọi rợ T 39 44 09-11 NT ThV
127 May nhờ rủi chịu T 05 02 13-01 NT ThV
128 Mất ăn mất ngủ T 04 09 09-T NT ThV
129 Mất ăn mất ngủ T 16 43 02-11 NT ThV
130 Mẹ tròn con vuông T 15 04 27-01 NT ThV
131 Miếng cơm manh áo T 38 29 27-7 NT ThV
132 Mò cua bắt ốc T 17 09 09-T NT ThV
133 Mồ yên mã đẹp T 38 36 14-9 NT ThV
134 Mộ hoang mả lạnh T 26 35 07-9 NT ThV
135 Một công đôi chuyện T 24 46 23-11 T ThV
T 136 Một mình một chợ 18 04 27-01 NT ThV
T 137 Một mình một chợ 40 16 27-4 NT ThV
T 138 Một mình một chợ 02 16 27-4 NT ThV
T 139 Một mình một chợ 40 16 27-4 NT ThV
T 140 Một mình một chợ 14 29 27-7 NT ThV
K 141 Một mình một chợ 08 25 29-6 NT ThV
T 142 Một thân một mình 11 23 15-6 NT ThV
T 143 Một vốn bốn lời 36 42 26-10 NT ThV
T 144 Mua gánh bán bưng 13 35 07-9 NT ThV
T 145 Nay đây mai đó 32 32 17-8 T ThV
T 146 Năm châu bốn bể 08 30 03-8 NT ThV
T 147 Nằm bờ ngủ bụi 10 24 22-6 T ThV
148 Ngoài nghiêm trong T 41 23 15-6 NT ThV
lỏng
T 149 Ngọt bùi chia sẻ 11 23 15-6 Đ ThV
T 150 Người mua kẻ bán 11 23 15-6 NT ThV
K 152 Nhất cử lưỡng tiện 32 45 16-11 NT HV
T 153 Nhất cử nhất động 10 24 22-6 NT HV
T 154 Nhất cử nhất động 15 49 14-12 NT HV
T 155 Nổi đình nổi đám 30 31 10-8 NT ThV
T 156 Nổi đình nổi đám 10 25 29-6 NT ThV
157 Nội bất xuất ngoại bất T 19 12 30-T NT HV
nhập
T 158 Nửa đùa nửa thật 33 35 07-9 NT ThV
T 159 Nửa mừng nửa lo 31 02 13-01 NT ThV
T 160 Nửa nạc nửa mỡ 04 06 17-02 NT ThV
T 161 Nửa tỉnh nửa mê 30 02 13-01 NT ThV
162 Sáng nắng chiều mưa T 21 27 13-7 NT ThV
T 163 Sinh nghề tử nghiệp 15 44 09-11 NT HV
T 164 Sóng lặng gió êm 13 09 09-T NT ThV
T 165 Sơn son thiếp vàng 11 26 06-7 NT ThV
T 166 Sơn son thiếp vàng 12 26 06-7 NT ThV
T
167 Sơn son thiếp vàng T 32 22 08-6 NT ThV
168 Sướng một nhưng T 11 25 29-6 KT ThV
khổ mười
T 169 Ôm rơm buộc bụng 13 27 13-7 NT ThV
T 170 Ông tơ bà nguyệt 32 20 25-5 NT ThV
T 171 Quên ăn quên ngủ 13 24 22-6 NT ThV
T 172 Qủi khốc thần sầu 13 22 08-6 NT HV
T 173 Rầy đây mai đó 18 33 24-8 NT ThV
T 175 Tan đàn xẻ nghé 15 26 06-7 NT ThV
T 176 Tan đàn xẻ nghé 35 33 24-8 NT ThV
K 177 Tai qua nạn khỏi 18 02 13-01 NT ThV
T 178 Tay dao tay thớt 27 43 02-11 NT ThV
T 179 Tâm đầu ý hợp 27 35 07-9 NT HV
180 Tâm phục khẩu phục T 09 28 20-7 NT HV
T 181 Tham công tiếc việc 15 36 14-8 NT ThV
T 182 Tham phú phụ bần 33 09 09-T NT HV
183 Than thân trách phận T 40 04 27-01 NT ThV
184 Thanh thiên bạch nhật T 40 40 12-10 NT HV
185 Thay da đổi thịt T 12 04 27-01 NT ThV
186 Thay da đổi thịt T 12 04 27-01 NT ThV
187 Thắt lưng buộc bụng T 09 23 15-6 NT ThV
188 Thắt lưng buộc bụng T 41 25 29-6 NT ThV
189 Thắt lưng buộc bụng T 13 42 26-10 NT ThV
190 Thấp cổ bé họng T 15 36 14-9 NT ThV
191 Thấp cổ bé họng T 15 36 14-9 NT ThV
192 Thập tử nhất sinh T 41 40 12-10 NT HV
193 Thâm sơn cùng cốc T 26 03 20-01 NT HV
194 Thâm sơn cùng côc T 37 35 07-9 NT HV
195 Thâm sơn cùng cốc T 22 17 04-5 NT HV
196 Thân cô thế cô T 19 33 24-8 NT HV
197 Thân tàn ma dại T 20 43 02-11 NT ThV
198 Thần sầu quỉ khốc T 27 44 09-11 NT HV
199 Thề non hẹn biển T 37 22 08-6 NT ThV
200 Thoắt ẩn thoắt hiện T 42 23 15-6 NT ThV
201 Thở lấy thở để T 37 37 21-8 NT ThV
202 Thừa sống thiếu chết T 29 49 14-12 NT ThV
203 Thức khuya dậy sớm T 24 49 14-12 NT ThV
204 Tiền mất tật mang T 12 35 07-9 NT ThV
205 Tiền nào của nấy T 18 32 17-8 NT ThV
206 Tiền trảm hậu tấu T 08 20 27-5 NT HV
207 Tiền trao cháo múc T 09 06 17-02 NT ThV
208 Tiền trao cháo múc T 37 29 27-7 NT ThV
209 Tiền trao cháo múc T 10 24 22-6 NT ThV
210 Tình làng nghĩa xóm T 35 33 24-8 NT ThV
211 Tình làng nghĩa xóm Tđ 40 23 15-6 NT ThV
212 Tình làng nghĩa xóm T 34 33 24-8 NT ThV
213 Toàn tâm toàn ý T 33 38 28-9 ThV
214 Tốt khen xấu che T 06 03 20-01 T ThV
215 Tới nơi tới chốn T 13 51 28-12 NT ThV
216 Tới nơi tới chốn T 13 35 07-9 NT ThV
217 Trà dư tửu hậu T 34 37 21-9 NT HV
218 Trái gió trở trời T 37 28 22-7 NT ThV
219 Trái tính trái nết T 37 09 09-3 NT ThV
220 Tranh hùng xưng bá T 27 44 09-11 NT HV
221 Trèo đèo lội suối T 16 40 12-10 NT ThV
222 Trề môi nhếch mép T 37 33 24-8 NT ThV
223 Trên đe dưới búa T 16 27 13-7 NT ThV
224 Trên trời dưới đất T 38 10 16-3 NT ThV
225 Trong nhà chưa tỏ T 08 30 03-8 NT ThV
ngoài ngõ đã thông
226 Trong nhà chưa tỏ T 08 30 03-8 L ThV
227 Tròn vành rõ chữ T 37 10 16-3 NT ThV
228 Trời xuôi đất khiến T 32 51 28-12 NT ThV
229 Trúng mùa được giá T 11 41 19-10 NT ThV
230 Trước chị sau em T 30 10 16-3 NT ThV
231 Tự cung tự cấp T 37 08 02-3 NT HV
232 Văn hay chữ tốt T 42 04 27-01 NT ThV
233 Vò đầu bứt tai K 36 03 20-01 NT ThV
234 Vò đầu bứt tai T 14 39 05-10 NT ThV
235 Vừa đá bóng vừa thổi Tđ 04 40 12-10 T ThV
còi
236 Vừa đá bóng vừa thổi T 11 44 09-11 T ThV
còi
237 Vườn không nhà T 11 22 08-6 NT ThV
trống
238 Vườn không nhà T 11 22 08-6 NT ThV
trống
239 Xa mặt cách lòng T 30 46 23-11 NT ThV
240 Xa mặt nhưng không T 33 09 09-3 KT ThV
cách lòng
241 Xôi hỏng bổng không T 12 09 09-T NT ThV
3) Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
STT Thn (1) (2) (4) (5) (6) (3)
1 Ăn cháo đá bát T 27 34 31-8 NT ThV
2 Ăn cơm nhà vác tù và T 09 28 20-7 NT ThV
hàng tổng
3 Ăn nói bổ bả T 25 43 02-11 NT ThV
4 Ăn vụng không chùi mép T 37 40 12-10 NT ThV
5 Bán thân bất toại T 21 34 31-8 HV
6 Bạn nối khố T 25 02 13-01 NT ThV
7 Báu vật bất ly thân T 11 22 08-6 KT HV
8 Bặt vô âm tín T 14 04 27-01 NT HV
9 Bặt vô âm tín T 30 24 22-6 NT HV
10 Bất đắc dĩ T 32 03 20-01 NT HV
11 Bất đắc dĩ Tđ 13 45 16-11 NT HV
12 Biệt vô âm tín T 31 02 13-01 NT HV
13 Cá mè một lứa T 41 42 26-10 NT ThV
14 Cái khó ló cái khôn T 31 26 06-7 NT ThV
15 Cắn răng chịu đựng T 28 11 23-3 NT ThV
16 Chảy máu chất xám T 04 06 17-02 NT ThV
17 Chuột sa chĩnh gạo T 27 31 10-8 NT ThV
18 Cò bay thẳng cánh T 15 44 09-11 NT ThV
19 Có tật giật mình T 33 31 10-8 NT ThV
20 Con nhà nòi T 31 45 16-11 NT ThV
21 Con nhà nòi T 33 09 09-3 NT ThV
22 Con nhà vi tính T 38 12 30-3 T ThV
23 Của để dành T 12 40 12-10 NT ThV
24 Dây cà ra dây muống T 07 22 08-6 NT ThV
25 Dĩ hòa vi quý T 09 35 07-9 NT HV
26 Dò đá qua sông T 14 09 09-3 NT ThV
27 Dò đá qua sông T 04 10 16-3 NT ThV
28 Đã nghèo còn mắc cái eo T 17 45 16-11 KT ThV
29 Đánh trống bỏ dùi T 09 34 31-8 NT ThV
30 Đạo đức giả T 09 28 20-7 NT ThV
31 Đem chuông đi đánh xứ T 16 27 13-7 NT ThV
người
32 Đến hẹn lại lên T 09 04 27-01 NT ThV
33 Đến hẹn lại lên T 22 42 26-10 NT ThV
34 Đo ni đóng giầy T 32 28 20-7 NT ThV
35 Đổ dầu vào lửa T 21 29 27-7 NT ThV
36 Độc cô cầu bại T 31 49 14-12 NT HV
37 Đồng tiền đi liền khúc ruột T 04 27 13-7 KT ThV
38 Gầy giơ xương T 19 40 12-10 NT ThV
39 Già néo thì đứt dây T 35 33 24-8 KT ThV
40 Giàu nứt vách T 29 44 09-11 L ThV
41 Giậm chân tại chỗ T 07 25 29-6 NT ThV
42 Giọt nước tràn ly T 08 43 02-11 NT ThV
43 Góp gạo thành bão T 16 50 21-12 T ThV
44 Hóc bà tó T 12 33 24-8 NT ThV
45 Hóc bà tó T 12 33 24-8 NT ThV
46 Hớt tay trên T 38 31 10-8 NT ThV
47 Hớt tay trên T 18 32 17-8 NT ThV
48 Không đội trời chung T 16 09 09-3 NT ThV
49 Kinh cung chi điểu T 28-12 NT HV 37 51
50 Leo cây bắt cá T 13-10 NT ThV 08 40
51 Lo sốt vó T 10-8 NT ThV 38 31
52 Lọt vào mắt xanh T 15-6 NT ThV 07 23
53 Lợi bất cập hại T 16-11 NT HV 13 45
54 Lợi bất cập hại Tđ 29-6 NT HV 06 25
55 Luật bất thành văn T 01-6 NT ThV 13 21
56 Luật bất thành văn T 16-3 NT ThV 30 10
57 Mang chuông đi đánh xứ Tđ 28-9 NT ThV 32 38
người
58 Mảnh đất cắm dùi T 24-8 L ThV 12 33
59 Mạnh thường quân T 13-7 NT ThV 28 27
60 Mạnh ai nấy làm T 28-12 NT ThV 13 51
61 Mèo lại hoàn mèo T 12-10 NT ThV 28 40
62 Móc hết ruột gan T 09-3 NT ThV 17 09
63 Mọt dân hại nước T 06-01 NT ThV 05 01
64 Ngọa hổ tàng long T 11-8 NT HV 42 18
65 Ngồi chơi xơi nước T 27-7 NT ThV 38 29
66 Ngồi trên lưng cọp T 27-4 T ThV 07 16
67 Ngựa quen đường cũ T 25-5 NT ThV 19 20
68 Ngựa quen đường cũ T 22-6 NT ThV 34 24
16-11 NT ThV 17 45 69 Nghèo còn mắc cái eo Tđ
04 45 70 Nhiều sãi không ai đóng T 16-11 NT ThV
cửa chùa
71 Nhiều sãi không ai đóng T 04 45 16-11 NT ThV
cửa chùa
72 Ném một tảng đá xuống ao T 39 44 09-11 KT ThV
bèo
73 Nồi da xáo thịt T 40 34 31-8 NT ThV
74 Nỗi oan Thị Kính T 33 09 09-3 KT ThV
75 Nợ vây tứ phía T 16 31 10-8 NT ThV
76 Nuôi ong tay áo T 27 34 31-8 NT ThV
77 Nước đổ lá môn T 06 28 20-7 NT ThV
78 Nước mắt chan cơm T 12 39 05-10 NT ThV
79 Nước mắt chảy xuôi K 13 47 30-11 NT ThV
80 Phá gia chi tử T 33 31 10-8 NT HV
81 Phá gia chi tử T 32 33 31-8 NT HV
82 Phú quý sinh lễ nghĩa T 19 03 20-01 NT HV
83 Phú quý sinh lễ nghĩa T 08 14 13-4 NT HV
84 Phụ mẫu chi dân T 10 02 13-01 NT HV
85 Quá mù ra mưa T 12 10 16-3 NT ThV
86 Quí hồ tinh bất quí hồ đa T 36 26 06-7 NT HV
87 Quyền huynh thế phụ T 28 39 05-10 NT HV
88 Rét cắt da T 16 32 17-8 NT ThV
89 Rét thấu xương T 14 04 27-01 NT ThV
90 Tam sao thất bản T 09 18 11-5 NT HV
91 Tan thành mây khói T 35 50 21-12 NT ThV
92 Tay trắng T 06 06 17-02 L ThV
93 Tặc lưỡi cho qua T 10 47 31-11 NT ThV
94 Té nước theo mưa T 11 41 19-10 NT ThV
95 Té nước theo mưa T 11 41 19-10 NT ThV
96 Tha phương cầu thực T 04 05 03-02 NT HV
97 Thẳng ruột ngựa T 17 09 09-3 NT ThV
98 Thắt đáy lưng ong T 18 15 20-4 NT ThV
99 Thân bèo bọt T 32 32 17-8 NT ThV
100 Thật giả khó lường Tđ 37 29 27-7 NT ThV
101 Thật giả khó lường K 37 29 27-7 NT ThV
102 Thuốc đắng dã tật T 22 30 03-8 NT ThV
103 Thương hải biến vi tang T 13 45 17-8 NT HV
điền
104 Thượng lộ bình an T 21 34 13-8 NT HV
105 Tỉ muội tương tàn T 24 41 19-10 NT HV
106 Tỉ muội tương tàn T 28 44 09-11 NT HV
107 Tỉ muội tương tàn T 28 44 09-11 NT HV
108 Tiếc đứt ruột T 12 33 24-8 NT ThV
109 Tiên hạ thủ vi cường T 09 49 14-12 NT HV
110 Tiên hạ thủ vi cường T 40 20 25-5 NT HV
111 Tiếng xấu đồn xa T 07 24 22-6 T ThV
112 Tránh voi chẳng xấu mặt T 42 48 07-12 NT ThV
nào
113 Trăm dâu đổ đầu tằm T 30 49 14-12 NT ThV
114 Trên bảo nhưng dưới T 21 01 06-01 KT ThV
không nghe
115 Trượt vỏ chuối T 04 39 05-10 NT ThV
116 Vắt chanh bỏ vỏ T 05 06 17-02 NT ThV
117 Vẹn cả đôi đường T 16 27 13-7 NT ThV
118 Vô tội vạ T 05 27 13-7 NT ThV
119 Vô tội vạ T 05 27 13-7 NT ThV
120 Vung tay quá trán T 08 14 13-4 NT ThV
121 Vơ đũa cả nắm T 04 27 13-7 NT ThV
Phụ lục 3 :
THÀNH NGỮ TRONG BÁO TTCT NĂM 2009
1) Thành ngữ so sánh
STT Thn (1) (2) (3) (4) (5) (6)
Bán chạy như tôm tươi 1 T 36 39 04-10 NT ThV
Bán chạy như tôm tươi 2 T 30 39 04-10 NT ThV
Bé như lòng bàn tay 3 T 26 34 30-8 NT ThV
Bẹp lép như con tép 4 T 23 04 25-01 NT ThV
Buồn như chấu cắn 5 T 27 34 30-8 NT ThV
Căng như cái trống 6 T 25 22 07-6 NT ThV
Chắc như đinh đóng cột 7 T 11 28 19-7 NT ThV
Chậm hơn rùa 8 T 26 42 25-10 NT ThV
9 Chửi như chan mẻ vào mặt T 26 33 23-8 NT ThV
10 Dễ như trở bàn tay T 24 34 30-8 NT ThV
11 Đông như kiến cỏ T 26 34 30-8 NT ThV
12 Đông như rươi T 38 16 26-4 NT ThV
13 Im lặng là vàng T 05 40 11-10 NT ThV
14 Im như chết T 29 27 12-7 NT ThV
15 Khóc như mưa T 27 26 05-7 NT ThV
16 Lạnh như băng T 25 22 07-6 NT ThV
17 Lạnh như tiền T 41 37 20-9 NT ThV
18 Mỏng tựa giấy T 25 22 07-6 NT ThV
19 Mưa như trút nước T 32 34 30-8 NT ThV
20 Mừng như bắt được vàng T 29 08 01-T NT ThV
21 Nát bét như tương T 41 49 13-12 KT ThV
22 Nắng như đổ lửa T 35 50 20-12 NT ThV
23 Nhanh như cắt T 27 34 30-8 NT ThV
24 Nhắc như nhắc đò T 42 48 06-12 NT ThV
25 Nhẹ như gió T 34 09 08-T NT ThV
26 Như cá gặp nước T 35 16 26-4 NT ThV
27 Như cá gặp nước T 25 33 23-8 NT ThV
28 Như con ngựa bất kham T 20 48 06-12 NT ThV
29 Như diều gặp gió T 07 17 03-5 NT ThV
30 Như diều gặp gió T 41 21 31-5 NT ThV
31 Như diều gặp gió T 31 19 17-5 NT ThV
32 Như đinh đóng cột T 12 08 01-T NT ThV
33 Như hổ được thả về rừng T 27 34 30-8 Đ ThV
34 Như mắc cửi T 42 42 25-10 NT ThV
35 Như nấm sau mưa T 41 13 05-4 NT ThV
36 Như nấm sau mưa T 06 17 03-5 NT ThV
37 Như nấm sau mưa T 33 17 03-5 NT ThV
38 Như hình với bóng T 06 32 16-8 NT ThV
39 Nhỏ như cái lỗ mũi T 41 31 09-8 NT ThV
40 Nhỏ như hạt nút T 24 50 20-12 NT ThV
41 Ngu như bò T 08 39 04-10 NT ThV
42 Ngu như bò T 08 39 04-10 NT ThV
43 Ngủ say như chết T 36 47 29-11 NT ThV
44 Nóng như đổ lửa T 16 18 10-5 NT ThV
45 Quấn nhau như sam T 27 51 27-12 NT ThV
46 Quý hơn vàng T 07 08 01-T NT ThV
47 Rẻ như bèo T 22 28 19-7 NT ThV
48 Rẻ như cho T 15 08 01-T NT ThV
49 Rối như canh hẹ T 04 48 06-12 NT ThV
50 Rũ rượi như bọc giẻ rách T 28 27 12-7 T ThV
51 Say như chết T 29 04 25-01 NT ThV
52 Sợ nắng nóng hơn sợ cọp K 12 27 12-7 KT ThV
53 Tham ăn như lợn T 11 06 15-02 NT ThV
54 Thật thà như đếm T 33 10 15-T NT ThV
56 Tối đen như mực T 37 10-5 NT ThV 18
57 Tức như bò đá T 11 19-7 NT ThV 28
58 Uống rượu như hũ chìm T 20 25-10 NT ThV 42
59 Uống rượu như hũ hèm T 41 06-12 NT ThV 48
60 Xưa như trái đất T 14 07-6 NT ThV 22
61 Vắng như chùa bà Đanh T 35 31-5 NT ThV 21
62 Vút lên như diều gặp gió T 25 25-10 KT ThV 42
2) Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
STT Thành ngữ (1) (2) (3) (4) (5) (6)
An cư lạc nghiệp 1 T 04 36 13-9 NT HV
Ăn bụi nằm bờ 2 T 42 17 03-5 T ThV
Ăn bụi ngủ đường 3 T 10 45 15-11 T ThV
Ăn cháo đá bát 4 T 08 02 11-01 NT ThV
Ăn cháo đá bát 5 T 26 33 23-8 NT ThV
Ăn cháo đái bát 6 T 26 33 23-8 NT ThV
Ăn dầm ở dề 7 T 34 35 06-9 T ThV
Ăn gian nói dối 8 T 28 33 23-8 NT ThV
Ăn không nên đọi nói không T 9 33 25 28-6 NT ThV
nên lời
10 Ăn mắm mút mòi T 27 51 27-12 NT ThV
11 Ăn miếng trả miếng T 38 43 01-11 NT ThV
12 Ăn nên làm ra T 32 40 11-10 NT ThV
13 Ăn nên làm ra T 37 06 15-02 NT ThV
14 Ăn nên làm ra T 13 33 23-8 NT ThV
15 Ăn ngon ngủ yên T 20 16 26-4 NT ThV
16 Ăn tươi nuốt sống T 37 07 22-02 NT ThV
17 Ăn trắng mặc trơn T 26 33 23-8 NT ThV
25 47 29-11 NT ThV 18 Ăn trông nòi ngồi trông hướng T
19 Ăn xổi ở thì T 09 04 25-01 NT ThV
20 Ăn xổi ở thì T 10 01 20-11 NT ThV
21 Ăn xổi ở thì Tđ 10 01 20-11 NT ThV
22 Ba mặt một lời T 32 06 15-02 NT ThV
23 Bạc tình bạc nghĩa T 26 33 23-8 NT ThV
24 Bách phát bách trúng K 10 03 18-01 NT HV
25 Bán đổ bán tháo T 37 01 04-01 NT ThV
26 Bán đổ bán tháo T 42 48 06-12 NT ThV
27 Bán mặt cho đất, bán lưng cho T 14 42 25-10 NT ThV
trời
28 Bán mặt cho đất bán lưng cho T 07 47 29-11 NT ThV
trời
29 Bán mặt cho đất bán lưng cho T 07 47 29-11 NT ThV
trời
30 Bán tống bán tháo T 13 50 20-12 NT ThV
31 Bánh ít đi, bánh qui lại T 06 05 08-02 T ThV
32 Bắt tận tay day tận cánh T 21 25 08-6 NT ThV
34 Bất di bất dịch T 17 04 25-01 NT HV
35 Bất di bất dịch T 12 08 01-T NT HV
36 Bế môn tọa cảng T 14 35 06-9 NT HV
37 Bế quan tọa cảng T 26 14 12-4 NT HV
38 Bỏ thì thương vương thì tội T 09 27 12-7 NT ThV
39 Bỏ thì thương vương thì tội T 24 16 26-4 NT ThV
40 Bỏ thì thương vương thì tội T 42 08 01-T NT ThV
41 Bô lô ba la T 27 34 30-8 NT ThV
42 Bô lô ba la T 27 34 30-8 NT ThV
43 Bờ xôi ruộng mật T 05 29 26-7 NT ThV
44 Bớt một thêm hai T 06 37 20-9 NT ThV
45 Bụng mang dạ chửa T 14 22 07-6 NT ThV
46 Cá lặn dưới nước, chim bay T 11 48 06-12 NT ThV
trên trời
47 Cải tà quy chính T 11 26 05-7 NT HV
48 Cạn tàu ráo máng T 26 33 23-8 NT ThV
49 Cao bay xa chạy T 11 47 29-11 NT ThV
50 Cày sâu cuốc bẫm K 33 03 18-01 NT ThV
51 Cầm cân nảy mực T 08 26 05-7 NT ThV
52 Cầm cân nảy mực T 12 46 22-11 NT ThV
53 Cầm kì thi họa T 29 33 23-8 NT HV
54 Cân đong đo đếm T 42 03 18-01 NT ThV
55 Cậu ấm cô chiêu T 12 33 23-8 NT ThV
56 Cây nhà lá vườn T 31 45 15-11 NT ThV
57 Cây nhà lá vườn T 09 44 08-11 NT ThV
58 Cây đa cầy đề T 27 01 04-01 NT ThV
59 Cha truyền con nối T 07 33 23-8 NT ThV
60 Cháo múc tiền trao T 37 09 08-T Đ ThV
61 Chạy ngược chạy xuôi T 14 06 15-02 NT ThV
62 Chạy ra chạy vào T 27 43 01-11 NT ThV
63 Chẳng nói chẳng rằng M 41 24 21-6 NT ThV
64 Chân lấm tay bùn T 10 33 23-8 NT ThV
65 Chân lấm tay bùn T 27 43 01-11 NT ThV
66 Chân lấm tay bùn T 35 07 22-02 NT ThV
67 Chân lấm tay bùn T 42 50 20-12 NT ThV
68 Chân ướt chân ráo T 35 07 22-02 NT ThV
69 Chân ướt chân ráo T 14 18 10-5 NT ThV
70 Chân ướt chân ráo T 17 05 08-02 NT ThV
72 Chén cơm manh áo T 18 26 05-7 NT ThV
73 Chén chú chén anh T 28 33 23-8 NT ThV
74 Chết đi sống lại T 17 49 13-12 NT ThV
75 Chiêu hiền đãi sĩ Tđ 29 01 04-01 NT HV
76 Chiếu trên chiếu dưới 21 23 14-6 NT ThV T
77 Chín người mười ý 16 48 06-12 NT ThV T
78 Chó ăn đá gà ăn sỏi 32 13 05-4 NT ThV T
79 Chọn mặt gửi vàng 22 47 29-11 NT ThV T
80 Chôn nhau cắt rốn 07 34 30-8 NT ThV T
81 Chướng tai gai mắt 30 26 05-7 NT ThV T
82 Có trăng quên đèn 11 26 05-7 NT ThV T
84 Còn nước còn tát Tđ 11 26 05-7 NT ThV
85 Còn nước thì còn tát 11 26 05-7 KT ThV T
86 Công ăn việc làm 06 03 18-01 NT ThV T
87 Công ăn việc làm 06 43 01-11 NT ThV T
88 Công ăn việc làm 15 12 29-T NT ThV T
89 Công ăn việc làm 06 37 20-9 NT ThV T
90 Công ăn việc làm 07 10 15-T NT ThV T
91 Công ăn việc làm 05 33 23-8 NT ThV T
92 Cờ gian bạc lận 38 09 08-T NT ThV T
93 Cơm áo gạo tiền 25 35 06-9 NT ThV T
94 Cơm áo gạo tiền 09 04 25-01 NT ThV T
95 Cơm ăn áo mặc 19 38 27-9 NT ThV T
96 Cũ người mới ta 34 33 23-8 NT ThV T
97 Của ăn của để 27 09 08-T NT ThV T
98 Của ăn của để 27 09 08-T NT ThV T
99 Của ăn của để 27 09 08-T NT ThV T
100 Của ăn của để 14 36 13-9 NT ThV T
101 Của thiên trả địa 08 19 17-5 NT ThV T
102 Dám làm dám chịu 38 27 12-7 NT ThV T
103 Danh chính ngôn thuận 15 46 22-11 NT HV T
104 Dầu sôi lửa bỏng 04 05 08-02 NT ThV T
105 Dây mơ rễ má T 34 25 28-6 NT ThV
106 Dây mơ rễ má T 34 04 25-01 NT ThV
107 Diễu võ giương oai T 07 48 06-12 NT HV
108 Dở khóc dở cười T 13 33 23-8 NT ThV
109 Dở khóc dở cười T 34 04 25-01 NT ThV
110 Dở khóc dở cười T 15 35 06-9 NT ThV
111 Dở khóc dở cười T 31 25 28-6 NT ThV
112 Dở khóc dở cười T 15 35 06-9 NT ThV
113 Du thủ du thực T 42 22 07-6 NT HV
114 Đánh trống bỏ dùi T 15 33 23-8 NT ThV
115 Đầu bạc răng long T 42 14 12-4 NT ThV
116 Đầu cua tai nheo T 26 33 23-8 NT ThV
117 Đầu đường xó chợ T 27 32 16-8 NT ThV
118 Đầu tắt mặt tối T 42 22 07-6 NT ThV
119 Đầu voi đuôi chuột Tđ 09 26 05-7 NT ThV
120 Đầu voi đuôi chuột T 09 26 05-7 NT ThV
121 Đất lành chim đậu T 38 13 05-4 NT ThV
123 Điều hay lẽ phải T 10 26 05-7 NT ThV
124 Đinh tai nhức óc T 41 09 08-T NT ThV
125 Đỏ mặt tía tai T 25 40 11-10 NT ThV
126 Đổ mồ hôi sôi nước mắt T 41 09 08-T NT ThV
127 Đổ mồ hôi sôi nước mắt T 29 08 01-T NT ThV
128 Đồng cam cộng khổ T 34 05 08-02 NT HV
129 Đồng cam cộng khổ T 13 02 11-01 NT HV
130 Đồng cam cộng khổ T 18 02 11-01 NT HV
131 Đồng không mông quạnh T 26 04 25-01 NT ThV
132 Đồng tiền bát gạo T 20 11 22-T NT ThV
133 Đốt sách chôn nho T 41 23 14-6 NT ThV
134 Đơn thân độc mã T 16 48 06-12 NT HV
135 Đủ lông đủ cánh T 20 14 12-4 NT ThV
136 Ganh ăn tức ở T 28 51 27-12 NT ThV
137 Gạo châu củi quế T 27 17 03-5 NT ThV
138 Gạo châu củi quế T 37 32 16-8 NT ThV
139 Gạo châu củi quế T 41 14 12-4 NT ThV
140 Gây thù chuốc oán T 38 21 31-5 NT ThV
141 Giật gấu vá vai T 16 47 29-11 NT ThV
142 Giương đông kích tây T 11 26 05-7 NT HV
143 Gần đất xa trời T 06 34 30-8 NT ThV
144 Gõ mỏ khua chiêng T 31 34 30-8 NT ThV
145 Hả lòng hả dạ T 38 33 23-8 NT ThV
146 Hỉ nộ ái ố T 26 34 30-8 NT HV
147 Khố rách áo ôm T 41 24 21-6 NT ThV
148 Khua chiêng gióng trống T 31 02 11-01 NT ThV
149 Làm màu làm mè T 42 50 20-12 NT ThV
150 Làm mưa làm gió T 40 01 04-01 NT ThV
151 Lắc lia lắc lịa T 41 34 30-8 NT ThV
152 Lắm tài nhiều tật T 08 01 04-01 NT ThV
153 Lập công chuộc tội T 37 40 12-10 NT ThV
154 Lấy công làm lời T 14 11 22-T NT ThV
155 Lên xe xuống ngựa T 41 09 08-T NT ThV
156 Liệu cơm gắp mắm T 27 02 11-01 NT ThV
157 Liệu cơm gắp mắm T 11 08 01-T NT ThV
158 Liệu cơm gắp mắm T 20 18 10-5 NT ThV
159 Liệu cơm gắp mắm T 41 14 12-4 NT ThV
160 Liệu cơm gắp mắm T 35 10 15-T NT ThV
161 Long trời lở đất M 06 42 25-10 NT ThV
162 Lộn gan lộn ruột T 28 42 25-10 NT ThV
163 Lời ăn tiếng nói T 33 25 28-6 NT ThV
164 Lời qua tiếng lại T 39 28 19-7 NT ThV
165 Màn trời chiếu đất T 22 43 01-11 NT ThV
166 Màn trời chiếu đất T 09 40 11-10 NT ThV
167 Mát dạ mát lòng T 07 34 30-8 Đ ThV
168 Mắt la mày lét T 26 30 02-8 NT ThV
169 Mắt thấy tai nghe T 26 14 12-4 NT ThV
170 Mắt tròn mắt dẹp T 24 21 31-5 NT ThV
171 Mất ăn mất ngủ T 20 16 26-4 NT ThV
172 Mất ăn mất ngủ T 12 10 15-T NT ThV
173 Miếng ăn miếng để T 15 12 29-T NT ThV
174 Miếng cơm manh áo T 42 39 04-10 NT ThV
175 Miếng cơm manh áo T 12 48 06-12 NT ThV
176 Mồ hôi nước mắt T 21 28 19-7 NT ThV
177 Một lòng một dạ T 28 51 27-12 NT ThV
178 Một mình một chợ T 07 26 05-7 NT ThV
179 Một mất một còn T 25 15 19-4 NT ThV
180 Một nắng hai sương T 16 15 19-4 NT ThV
181 Một tiền gà lại ba tiền thóc T 09 29 26-7 NT ThV
182 Mua gian bán lận T 09 31 09-8 NT ThV
183 Mua may bán tốt T 27 09 08-T NT ThV
184 Mưa thuận gió hòa T 09 40 11-10 NT ThV
185 Năm ăn năm thua T 31 03 18-01 NT ThV
186 Nếm mật nằm gai T 04 32 16-8 NT ThV
187 Ngậm ngải tìm trầm T 10 33 23-8 NT ThV
188 Ngộ biến tùng quyền T 13 32 16-8 NT HV
189 Người đông của khó T 17 48 06-12 NT ThV
190 Nhà cao cửa rộng T 14 36 13-9 NT ThV
191 Nhắc đi nhắc lại T 38 03 18-01 NT ThV
192 Nhắm mắt nhắm mũi T 08 10 15-T NT ThV
193 Nhắm mắt xuôi tay T 42 43 01-11 NT ThV
194 Nhất cử đa tiện T 07 13 05-4 T HV
195 Nhất thời nhì thế T 25 42 25-10 NT HV
196 Nhẹ dạ cả tin T 09 23 14-6 NT ThV
197 Nhẹ dạ cả tin T 29 08 01-T NT ThV
198 Nhìn trước nhìn sau T 42 28 19-7 NT ThV
199 Nhịn đói nhịn khát T 31 03 18-01 NT ThV
200 Nói có sách mách có chứng T 40 13 05-4 NT ThV
201 Nở mày nở mặt T 10 27 12-7 NT ThV
202 Nuôi quân ba năm đánh giặc T 36 05 08-02 T ThV
một giờ
203 Nửa đùa nửa thật T 08 01 04-01 NT ThV
204 Nửa mê nửa tỉnh T 37 07 22-02 NT ThV
205 Nửa mừng nửa lo T 13 31 09-8 NT ThV
206 Nước mắt nước mũi T 42 39 19-7 NT ThV
207 Nước mắt nước mũi T 42 39 19-7 NT ThV
208 Nước sôi lửa bỏng T 41 14 12-4 NT ThV
209 Ông tơ bà nguyệt T 18 50 20-12 NT ThV
210 Qua sông dìm thuyền T 27 42 25-10 NT ThV
211 Quanh đi quẩn lại T 08 04 25-01 NT ThV
212 Rày đây mai đó T 35 25 28-6 NT ThV
213 Râu ông nọ cắm cằm bà kia T 14 26 05-7 NT ThV
214 Rừng thiêng nước độc T 30 48 06-12 NT HV
215 Sinh con đẻ cái T 40 05 08-02 NT ThV
216 Sinh cơ lập nghiệp T 30 48 06-12 NT HV
217 Sinh nghề tử nghiệp Tđ 11 45 15-11 NT HV
218 Sóng vùi gió dập T 25 26 05-7 NT ThV
219 Sống dở chết dở T 06 06 15-02 NT ThV
220 Sống để trong dạ chết để ngạ T 26 30 02-8 KT ThV
bên mồ
221 Sống nay chết mai T 14 47 29-11 NT ThV
222 Tay xách nách mang T 30 01 04-01 NT ThV
223 Tâm phục khẩu phục T 07 27 12-7 NT HV
224 Tham sống sợ chết T 11 28 19-7 NT ThV
225 Thập tử nhất sinh T 13 23 14-6 NT HV
226 Thức khuya dậy muộn T 42 47 29-11 T ThV
227 Thức khuya dậy sớm T 32 24 21-6 NT ThV
228 Thức khuya dậy sớm T 37 04 25-01 NT ThV
229 Tiền nào của đó T 11 28 21-6 NT ThV
230 Tiền trao cháo múc T 13 24 21-6 NT ThV
231 Tiền vào nhà khó gió vào nhà T 23 37 20-9 NT ThV
trống
232 Tích cốc phòng cơ Tđ 33 03 18-01 NT HV
233 Toàn tâm toàn ý T 32 40 11-10 NT ThV
234 Trà dư tửu hậu T 15 28 19-7 NT HV
235 Trẻ người non dạ T 15 28 19-7 NT ThV
236 Treo đầu dê bán thịt chó T 31 34 30-8 NT ThV
237 Trên trời dưới đất T 32 39 04-10 NT ThV
238 Trông gà hóa cuốc T 06 10 15-3 NT ThV
239 Tụm năm tụm bảy T 09 23 14-6 NT ThV
240 Tự lực tự cường T 36 25 28-6 NT HV
241 Tương thân tương ái T 09 04 25-01 NT HV
242 Vá chằng vá đụp T 28 51 27-12 NT ThV
243 Vạch lá tìm sâu T 27 51 27-12 NT ThV
244 Vật đổi sao dời T 41 28 19-7 NT ThV
245 Vinh thân phì da T 25 42 25-10 NT HV
246 Vò đầu bứt tóc K 16 48 06-12 T ThV
247 Vô thưởng vô phạt T 34 21 31-5 NT HV
248 Vô thưởng vô phạt T 19 50 20-12 NT HV
249 Vô thưởng vô phạt T 17 48 06-12 NT HV
250 Vô thưởng vô phạt T 08 43 01-11 NT HV
251 Vô tiền khoáng hậu T 07 35 06-9 NT HV
252 Vô tiền khoáng hậu T 09 02 11-01 NT HV
253 Vừa ích nước vừa lợi nhà T 13 01 04-01 NT ThV
254 Xấc bấc xang bang T 19 22 07-6 NT ThV
255 Xấu chàng hổ thiếp T 10 26 05-7 NT ThV
256 Xe tơ kết tóc T 27 09 08-3 NT ThV
257 Xuôi chèo mát mái T 26 04 25-01 NT ThV
258 Xuất đầu lộ diện T 24 13 05-4 NT HV
3) Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
STT Thn (1) (2) (3 ) (4) (5) (6)
1 Án binh bất động T 13 10 15-T NT HV
2 Bạn nối khố T 12 45 15-11 NT ThV
T Bạn nối khố T 07 42 25-10 NT ThV
4 Bạn nối khố T 10 28 19-7 NT ThV
5 Bắt cá hai tay T 41 22 07-6 NT ThV
6 Bất đắc kỳ tử T 07 02 11-01 NT HV
7 Bất đắc dĩ T 08 32 16-8 NT HV
8 Bất đắc dĩ T 15 22 07-6 NT HV
9 Bất đắc dĩ T 15 22 07-6 NT HV
10 Bất đắc dĩ Tđ 14 22 07-6 NT HV
11 Bật đèn xanh T 29 10 15-T NT ThV
12 Biệt vô âm tín T 35 25 28-6 NT HV
13 Bủn rủn tay chân T 36 47 29-11 NT ThV
14 Buôn dưa lê T 26 40 11-10 NT ThV
15 Buồn thắt ruột T 28 16 26-4 NT ThV
16 Cá chép vượt vũ môn K 17 24 21-6 NT ThV
17 Cầm đèn chạy trước xe lửa T 06 41 18-10 T ThV
18 Cha chung không ai khóc 06 T 41 18-10 NT ThV
19 Chảy máu chất xám 17 T 02 11-01 NT ThV
20 Chôn chận tại chỗ 42 T 43 01-11 T ThV
21 Chín bỏ làm mười 08 T 44 08-11 NT ThV
22 Chuyện thường ngày ở T 08 49 13-12 NT ThV
huyện
23 Cơm chấm cơm 08 T 26 25-10 NT ThV
24 Của trời cho 20 Tđ 39 04-10 NT ThV
25 Của trời cho 20 K 39 04-10 NT ThV
26 Cười ra nước mắt 42 T 26 05-7 NT ThV
27 Cười ra nước mắt 15 T 26 05-7 NT ThV
28 Cười ra nước mắt 38 T 27 12-7 NT ThV
29 Cười ra nước mắt 19 T 50 20-12 NT ThV
30 Cười ra nước mắt 15 T 22 07-6 NT ThV
31 Đếm trên đầu ngón tay 17 T 47 29-11 NT ThV
32 Đếm trên đầu ngón tay 13 T 24 21-6 NT ThV
33 Điếc không sợ súng 19 T 22 07-6 NT ThV
34 Độc nhất vô nhị 19 T 06 11-02 NT HV
35 Độc nhất vô nhị 22 T 06 11-02 NT HV
36 Độc nhất vô nhị 27 T 40 11-10 NT HV
37 Đục nước béo cò 41 T 32 25-10 NT ThV
38 Đục nước béo cò 09 T 40 11-10 NT ThV
39 Đường ai nấy đi 11 K 27 12-7 NT ThV
40 Gập ghềnh sỏi đá 12 T 10 15-3 NT ThV
41 Gậy ông đập lưng ông 39 T 17 03-5 NT ThV
42 Già néo đứt dây 07 T 05 08-02 NT ThV
43 Giấy rách phải giữ lấy lề 09 T 22 07-6 KT ThV
44 Giọt nước làm tràn ly 07 T 09 08-3 KT ThV
45 Gửi trứng cho ác T 04 40 11-10 NT ThV
46 Hạ quyết tâm T 10 02 11-01 NT ThV
47 Hậu quả nhãn tiền Tđ 12 45 25-11 NT HV
48 Họa vô đơn chí T 36 28 19-7 NT HV
49 Họa vô đơn chí T NT HV
50 Hổ thêm cánh Tđ 36 31 09-8 NT ThV
51 Huynh đệ tương tàn T 07 01 04-01 NT HV
52 Im thin thít T 27 34 30-8 NT ThV
53 Khai quốc công thần T 07 26 05-7 NT HV
54 Không có mảnh đất cắm T 43 34 30-8 T ThV
dùi
55 Không có mảnh đất cắm T 07 02 11-01 T ThV
dùi
56 Lạnh sởn da gà T 16 18 10-5 NT ThV
57 Loạn xà ngầu T 18 07 22-02 NT ThV
58 Lực bất tòng tâm T 24 46 22-11 NT HV
59 Lực bất tòng tâm T 41 17 03-5 NT HV
60 Lực bất tòng tâm T 29 14 12-4 NT HV
61 34 32 Mang chuông đi đánh xứ T 16-8 NT ThV
người
62 Mang chuông đi đánh xứ T 35 34 30-8 NT ThV
người
63 Mạnh ai nấy làm T 07 10 15-3 NT ThV
64 May rủi khó lường T 13 24 21-6 NT ThV
65 Mười bảy bẻ gãy sừng trâu T 12 23 14-6 NT ThV
66 Mười bảy bẻ gãy sừng trâu T 14 11 22-3 NT ThV
67 Mất bò mới lo làm chuồng T 09 26 05-7 NT ThV
68 Mất cả chì lẫn chài T 11 26 05-7 NT ThV
69 Mất cả chì lẫn chài Tđ 34 42 25-10 NT ThV
70 Mật ngọt lắm ruồi T 41 46 22-11 T ThV
71 Mật ngọt hút ruồi T 06 45 15-11 T ThV
72 Mì ăn liền T 35 28 19-7 NT ThV
73 Mì ăn liền Tđ 04 47 29-11 NT ThV
74 Miệng nhai ngấu nghiến T 35 28 19-7 NT ThV
75 Mục sở thị T 09 25 28-6 L HV
76 Mục sở thị T 21 25 28-6 L HV
77 Mưa dầm thấm lâu T 11 26 05-7 NT ThV
78 Ngao du sơn thùy T 28 10 15-3 NT HV
79 Ngậm bồ hòn làm ngọt T 11 28 19-7 NT ThV
80 Ngọc trong đá T 35 16 26-4 NT ThV
81 Ngộ biến tùng quyền T 13 32 16-8 NT HV
82 Ngộ biến tùng quyền T 13 32 16-8 NT HV
83 Ngồi chưa nóng chỗ T 27 33 23-8 NT ThV
84 Ngụy quân tử T 39 01 04-01 NT HV
85 Nghèo rách mồng tơi T 15 09 08-3 NT ThV
86 Nghèo rách mồng tơi T 09 16 26-4 NT ThV
87 Nghèo rớt mồng tơi T 09 16 26-4 NT ThV
88 Nghề dạy nghề T 15 42 25-10 NT ThV
89 Nói toạc móng heo T 42 49 13-12 NT ThV
90 Nửa đời hương phấn T 15 47 29-11 NT ThV
91 Ôm cầm sang thuyền mới T 10 47 29-11 NT ThV
92 Quá cỡ thợ mộc T 07 42 25-10 NT ThV
93 Quan chi phụ mẫu T 05 36 13-9 NT HV
94 Ra ngõ gặp anh hùng T 26 31 09-8 NT ThV
95 Râu quai nón T 39 33 23-8 NT ThV
96 Sét đánh ngang tai T 34 28 19-7 NT ThV
97 Số ai nấy hưởng T 27 12 29-T NT ThV
98 Sợ vãi đái T 26 33 23-8 NT ThV
99 T 26 15 19-K NT ThV Sợ xanh mặt
100 T 15 11 22-T NT ThV Sởn tóc gáy
101 T 05 51 27-12 NT HV Táng tận lương tâm
102 T 35 31 09-8 NT ThV Tay không bắt giặc
103 07 42 25-10 NT ThV Thay ngựa giữa dòng M
104 T 25 25 28-6 NT ThV Thẳng mực tàu
105 T 39 01 04-01 NT HV Thất thập cổ lai hi
106 T 39 01 04-01 NT HV Thất thập cổ lai hi
107 T 32 07 22-02 NT HV Thất thập cổ lai hi
108 T 39 28 19-7 NT HV Thiên địa đồng quy
109 39 28 19-7 NT HV Thiên địa đồng quy Tđ
110 T 08 42 25-10 NT ThV Thoắt ẩn thoắt hiện
111 T 15 26 05-7 NT ThV Thừa giấy vẽ voi
112 T 25 40 11-10 NT ThV Thừa thắng xông lên
113 28 01 04-01 NT HV Thương hải biến vi tang T
điền
114 Thương hải biến vi tang T 27 01 04-01 NT HV
điền
115 41 01 04-01 NT HV Tiền hậu bất nhất Tđ
116 T 17 05 08-02 NT HV Tiến thoái lưỡng nan
117 T 27 10 15-T NT HV Tiến thoái lưỡng nan
118 T 27 36 13-9 NT ThV Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
119 T 35 46 22-11 NT ThV Trăm dâu đổ đầu tằm
120 T 09 24 21-6 NT ThV Trói gà không chặt
121 29 46 22-11 T ThV Trông dáng mà bắt hình T
dong
122 Trông mặt mà bắt hình T 25 18 10-5 NT ThV
dong
123 Tự lực cánh sinh T 29 34 30-8 NT HV
124 Vẹn cả đôi đường T 26 17 03-5 NT ThV
125 Vô danh tiểu tốt T 07 33 23-8 NT HV
126 Vô danh tiểu tốt T 07 33 23-8 NT HV
127 Vơ đũa cả nắm T 24 24 21-6 NT ThV
Phụ lục 4:
QUÁN NGỮ TRONG BÁO TTCT VÀO CÁC NĂM 2007, 2008, 2009
1. Ba là
2. Bên cạnh đó
3. Bốn là
4. Cần nói thêm là
5. Chắc chắc
6. Chắc chắc là
7. Chẳng hạn
8. Chẳng hạn như
9. Có lẽ
10. Có nghĩa là
11. Có thể
12. Có thể nói rằng
13. Cụ thể
14. Cụ thể là
15. Cuối cùng
16. Cuối cùng là
17. Dường như
18. Đáng chú ý
19. Đáng chú ý nhất là
20. Đặc biệt
21. Đặc biệt là
22. Điều đáng nói là
23. Hai là
24. Hệ quả là
25. Hình như
26. Hơn nữa
27. Kết quả là
28. Lẽ ra
29. Mặt khác
30. Mặt khác thì
31. Một là
32. Năm là
33. Nôm na mà nói
34. Nghĩa là
35. Ngược lại
36. Như đã nói
37. Như đã nói trên
38. Như đã trình bày trên
39. Như sau
40. Như sẽ nói sau đây
41. Như đã khái quát ở trên
42. Nhìn chung
43. Nói cách khác
44. Nói cho chính xác
45. Nói cho cùng
46. Nói chung
47. Nói đúng ra
48. Nói một cách đơn giản
49. Nói nôm na
50. Nói riêng
51. Nói tóm tắt
52. Nói tóm tắt là
53. Quả thật
54. Quả vậy
55. Quan trọng nhất là
56. Rõ ràng
57. Rõ ràng là
58. Suy cho cùng
59. Thực ra
60. Thậm chí
61. Thật ra
62. Thêm nữa
63. Thì ra
64. Thiết nghĩ
65. Thiết tưởng
66. Tóm lại
67. Trái lại
68. Thứ nhất là
69. Thứ hai là
70. Thứ ba là
71. Thứ tư là
72. Trước hết
73. Trước tiên
74. Tức là
75. Vả lại

