BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THU HÀ
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2014
2 BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THU HÀ
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÃ SỐ: 60 31 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐĂNG BỘ
HÀ NỘI - 2014
3
MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG
9
1.1. NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI Quan niệm về khoa học và công nghệ; phát triển khoa
9
1.2. học và công nghệ phục vụ nông nghiệp Quan niệm, sự cần thiết và nội dung phát triển khoa học
và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai 16
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH
32
2.1. ĐỒNG NAI Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội chi phối sự phát triển khoa
32
2.2 học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai Thực trạng phát triển khoa học và công nghệ phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai và những vấn đề đặt ra
hiện nay 39
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP
68
3.1. Ở TỈNH ĐỒNG NAI Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ phục vụ
68
3.2. nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 75 96 97 101
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Về vai trò KHCN, Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI khẳng định “Phát
triển và ứng dụng KHCN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực
quan trọng nhất để phát triển KTXH và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần
được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành,
các cấp”. Vì vậy, phát triển KHCN không chỉ là chủ trương chiến lược của
Đảng, Nhà nước ta, mà còn là sự lựa chọn nhằm mục tiêu phát triển bền vững
của nhiều địa phương, trong đó Đồng Nai không phải là ngoại lệ.
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung
ương Bảy khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhấn mạnh: Phát triển
KHCN phải trở thành khâu đột phá để phát triển nông nghiệp hiện đại và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển nhanh việc ứng dụng công
nghệ sinh học và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; tập trung vào việc phát
triển giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thuỷ
sản. Nâng cao năng lực và đổi mới cơ chế, chính sách quản lý KHCN để nâng
cao hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất.
Đồng Nai là một tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đất đai
rộng, có nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi về tự nhiên, xã hội để thu hút
nguồn lực cho phát triển KTXH, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Sau gần 30
năm đối đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương Bảy khóa X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tình hình nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Đồng Nai liên tục phát triển và đạt được thành tựu khá toàn diện, góp
phần quan trọng ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng
cao đời sống. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng
sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững
chắc an ninh lương thực. Theo đó, đang xuất hiện nhiều thách thức mới trong
5
nông nghiệp, nông thôn và nông dân ảnh hưởng tới CNH,HĐH ở Đồng Nai.
Có nhiều nguyên nhân, trong đó sự phát triển của KHCN chưa đáp ứng yêu
cầu CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Có thể nói, đứng
trước yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay, sự phát
triển KHCN ở tỉnh Đồng Nai còn nhiều bất cập.
Để khắc phục bất cập trên, cần có sự nghiên cứu toàn diện, hệ thống về
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp “làm cho KHCN thực sự là động lực
quan trọng nhất để phát triển LLSX hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[28; tr.66] cũng
như phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng
Nai. Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn “Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trước sự phát triển nhanh, với nhiều đột phá của KHCN đã thu hút
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Cho đến nay, đã có nhiều công trình
nghiên cứu với nhiều cấp độ khác nhau về phát triển KHCN nhằm những mục
đích khác nhau liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận văn.
Ngoài các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật, quy định
của Nhà nước về KHCN còn có nhiều nghiên cứu về phát triển KHCN như:
- Nguyễn Chí Hải (2001), “Một số vấn đề về việc phát triển KHCN
trong quá trình CNH,HĐH nền kinh tế ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Là công trình nghiên cứu tương
đối đầy đủ và có hệ thống về sự phát triển của KHCN ở Việt Nam trong sự
nghiệp CNH,HĐH. Tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của KHCN đối với tăng
trưởng kinh tế, thực hiện CNH,HĐH ở các nước và ở Việt Nam. Sau khi đánh
giá thực trạng, rút ra bài học ở các nước Châu Á, tác giả đã đưa ra định hướng
và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KHCN phục vụ CNH,HĐH.
6
- Phạm Văn Quý (2005), “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
nguồn nhân lực KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH”, Luận án Tiến sĩ kinh
tế, Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội. Đây là một công trình nghiên cứu tiêu
biểu về phát triển KHCN. Trong luận án của mình, tác giả Phạm Văn Quý
đưa ra khái niệm và làm rõ vai trò của nguồn nhân lực KHCN; khảo sát thực
trạng nguồn nhân lực KHCN ở Việt Nam; nêu kinh nghiệm phát triển nguồn
nhân lực KHCN ở một số nước, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển KHCN đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH.
- Vũ Năng Dũng (chủ biên), Đỗ ánh, Chu Hoài Hạnh (2005), KHCN
nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, Nxb CTQG. Đây là
công trình mang tính tổng kết những thành tựu trong việc phát triển KHCN 20
năm đổi mới ở nước ta (1986-2005) trên các lĩnh vực cụ thể như: trồng trọt và
bảo vệ thực vật; chăn nuôi, thú y; đất đai và phân bón; cơ điện nông nghiệp và
công nghệ sau thu hoạch; lâm nghiệp; thủy lợi; chính sách phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Đồng thời các tác giả đề xuất nhiều giải pháp phát triển
nông nghiệp, nông thôn ở các lĩnh vực trên.
- Trần Hồng Lưu (2011), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp
CNH,HĐH ở Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội. Tác giả của cuốn sách
này đề cập nhiều nội dung, trong đó những vấn đề có liên quan trực tiếp đến
luận văn mà tác giả có thể khai thác như: Vai trò của tri thức khoa học kỹ
thuật, công nghệ trong quá trình CNH,HĐH ở nước; nguyên nhân dẫn đến
doanh nghiệp không muốn đầu tư vào phát triển KHCN; quan điểm của Đảng
ta về phát triển KHCN; giải pháp tạo động lực nghiên cứu, phổ biến và ứng
dụng các thành tựu KHCN vào sản xuất và đời sống.
- Phan Xuân Dũng (2008), Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với
tiến trình CNH,HĐH ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội. Ở công trình này, tác
giả đã trình bày xu hướng phát triển KHCN trên thế giới trong thời gian tới;
7
quan điểm và một số giải pháp phát triển, ứng dụng công nghệ tiên tiến và
công nghệ cao với tiến trình CNH,HĐH ở Việt Nam như: Giải pháp về vai trò
chủ đạo của nhà nước trong phát triển công nghệ cao; giải pháp phát huy nhân
tố con người trong quá trình phát triển KHCN; giải pháp về cơ chế quản lý
đối với cơ quan nghiên cứu phát triển KHCN.
Ngoài những công trình trên còn có một số bài viết về phát triển KHCN
đã đăng trên các tạp chí như: Nguyễn Hải Bằng, “Thúc đẩy sự phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí
Nghiên cứu - trao đổi, (số 169/2010); Hoàng Bắc, “Đẩy mạnh ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật để xóa đói giảm nghèo”, Tạp chí Tiêu chuẩn đo lường
chất lượng, (số 13/2011); Xuân Hoài, “Thay đổi công nghệ sản xuất lúa gạo”,
Tạp chí Nông thôn mới, (kỳ 1, số 5/2011); Hải Quỳnh, “Hội nông dân Việt
Nam và Bộ KHCN phối hợp đưa khoa học đến nhà nông”, Tạp chí Nông thôn
mới, (kỳ 2 số 2/2011); Thanh Tùng, “Tập trung xây dựng tiềm lực KHCN vì
một nền nông nghiệp bền vững”, Tạp chí Đông Nam á, (số 12/2005); Vũ
Xuân Chính, “Chính sách sử dụng cán bộ KHCN, trọng dụng nhân tài - Một
vài suy nghĩ”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (số 1/2006); Trần Văn Chử,
“Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường KHCN”, Tạp chí Lý
luận chính trị, (số 6/2006)... Tuy khác nhau về góc độ tiếp cận, nội dung và
phạm vi đề cập nhưng các bài viết đều tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Một là, cơ sở lý luận và thực tiễn chứng minh cho tính tất yếu phải phát
triển KHCN trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Hai là, khuyến nghị liên quan chính sách quản lý đối với KHCN; đào
tạo, sử dụng và đãi ngộ cán bộ KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Ba là, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
vào sản xuất nông nghiệp, coi KHCN là động lực chủ yếu để phát triển nông
nghiệp bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
8
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên tuy công bố gần đây và được
tiếp cận từ nhiều chuyên ngành kinh tế khác nhau, với nhiều phạm trù và
không gian khác nhau, song chưa có đề tài nào về phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, nghiên cứu về “Phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” là nội dung mới, không
trùng lặp với các công trình đã công bố gần đây. Đây là vấn đề mới, có ý
nghĩa thực tiễn, trực tiếp phục vụ nghiệp CNH,HĐH ở tỉnh Đồng Nai hiện
nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích
Luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ
- Luận giải những vấn đề lý luận về phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp chủ yếu là lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi ở tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu sự phát triển của KHCN
phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2008-2013.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận:
9
Cơ sở lý luận là lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng, chủ trương của tỉnh Đồng Nai về phát triển
KHCN phục vụ CNH,HĐH nói chung, phục vụ nông nghiệp nói riêng.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp lôgic kết
hợp lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh; các phương pháp nghiên
cứu của khoa học Kinh tế chính trị, trong đó chủ yếu là phương pháp trìu
tượng hóa khoa học.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển
KHCN, trong đó có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển
KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH trong điều kiện KTTT định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế ở tỉnh Đồng Nai.
- Lý luận và thực tiễn về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là căn
cứ khoa học để cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Đồng Nai đề ra chủ trương,
chính sách phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
- Quan điểm và giải pháp phát triển KHCN sẽ là đóng góp quan trọng
để đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn Đồng Nai thời gian tới.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm có phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI
1.1. Quan niệm về khoa học và công nghệ; phát triển khoa học và
công nghệ phục vụ nông nghiệp
1.1.1. Quan niệm về khoa học và công nghệ
Để đưa ra quan niệm đúng, khách quan về KHCN, trước hết cần tìm
hiểu thế nào là khoa học, công nghệ. Từ khảo sát kết quả một số công trình
khoa học cho thấy, tuy cách tiếp cận khác nhau song đều có chung kết luận:
Thứ nhất, khoa học là khái niệm liên quan đến nhiều lĩnh vực: khoa học
là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ của nhận thức; khoa học là một
hoạt động xã hội của con người; khoa học là hệ thống tri thức của nhân loại
được thể hiện bằng những khái niệm, phạm trù, học thuyết… Ngoài ra, khoa
học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có hệ thống tri
thức về thế giới tự nhiên và xã hội nhằm làm cho con người nắm được bản
chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư
duy, trên cơ sở đó làm chủ điều kiện sống và cải tạo thế giới tự nhiên.
Thứ hai, công nghệ là hệ thống tri thức gắn liền và tương ứng với một
tập hợp kỹ thuật như máy móc, thiết bị… bao gồm hệ thống tri thức về kỹ
năng, bí quyết, kinh nghiệm… được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận
hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản
phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Nếu trước đây công nghệ dùng trong
lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, thì hiện nay khái niệm đó được sử
dụng với nghĩa rộng hơn, không chỉ trong sản xuất, mà được sử dụng ở tất cả
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong nhiều thế kỷ, khoa học phát triển độc
lập, nhưng từ đầu thế kỷ 20 đến nay, mối quan hệ giữa KHCN với đời sống
càng chặt chẽ. Chính sự gắn kết đó đã tạo ra cách mạng khoa học, trong đó
11
cách mạng KHCN đang diễn ra là cuộc cách mạng đột phá, làm cho KHCN
trở thành LLSX trực tiếp, đưa LLSX lên một bước phát triển mới.
Ở nước ta, trong các loại từ điển tiếng Việt hay hệ thống luật và các văn
bản về KHCN, hoặc liên quan đến KHCN đều chưa có khái niệm KHCN.
Ngay cả Luâ ̣t Khoa học và Công nghê ̣ là bộ luâ ̣t luâ ̣t gốc về lĩnh vực KHCN
ban hành năm 2013, cũng chưa có khái niệm KHCN mà chỉ có một số khái
niệm liên quan đến KHCN như: Khoa học; Công nghệ; Hoạt động KHCN...
Theo Luật KHCN năm 2013 thì: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản
chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư
duy”; “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc
không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản
phẩm”; “Hoạt động KHCN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và
triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ
KHCN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển
KHCN”[40]; “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm
hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng
tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”[40]. Ngoài ra còn có một số khái
niệm khác liên quan đến hoạt động khoa học, theo đó hoạt động khoa học
được hiểu là “tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan đến việc sản xuất,
nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học. Nội dung chủ yếu
của hoạt động khoa học bao gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ
khoa học và kỹ thuật”[36; tr.144]. Theo tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn
hóa của LHQ, hoạt động KHCN là hoạt động có liên quan tới sự ra đời, phát
triển, truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ, giải pháp quản lý
để nâng cao hiệu quả phát triển KTXH và chất lượng cuộc sống.
Từ các quan niệm trên cho thấy, dù diễn đạt hay không diễn đạt là một
hoạt động, thì khoa học, công nghệ, hay hoạt động KHCN vừa là hoạt động
12
của xã hội, mà trực tiếp là hoạt động có mục đích của con người, đồng thời là
sản phẩm do con người sáng tạo ra nhằm phát triển KTXH, nâng cao chất
lượng cuộc sống. Với cách tiếp cận này, thì khái niệm hoạt động KHCN trong
Luật KHCN cũng là khái niệm KHCN; theo đó, Khoa học và công nghệ là
hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ,
ứng dụng công nghệ, dịch vụ KHCN, phát huy sáng kiến và hoạt động đổi
mới, sáng tạo khác nhằm nâng cao hiệu quả phát triển KTXH, nâng cao năng
suất, chất lượng và giá trị gia tăng của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
1.1.2. Quan niệm về khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp
Cho đến nay, tuy chưa có quan niệm về KHCN phục vụ nông nghiệp;
song thực tế đang sử dụng một số thuật ngữ phản ánh nội hàm quan niệm này
như: KHCN nông nghiệp, phát triển KHCN nông nghiệp. Vì vậy, để có quan
niệm đúng về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trước hết cần thống nhất
nhận thức về nội hàm thuật ngữ KHCN phục vụ nông nghiệp và thuật ngữ
KHCN nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi đang tồn tại hai thuật ngữ, theo đó
sẽ là hai quan niệm khác nhau nếu không thống nhất sẽ gây hiểu lầm giữa hai
thuật ngữ, đó là: KHCN nông nghiệp; KHCN phục vụ nông nghiệp.
Thuật ngữ KHCN nông nghiệp được sử dụng trong hai văn kiện: Thứ
nhất, Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số
418/QĐ-TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ) trong đó nêu:
“KHCN nông nghiệp”[11]; Thứ hai, Nghị quyết Trung ương Sáu khóa XI về
phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH trong điều kiện KTTT định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế, trong đó nêu: “Tiếp tục phát triển KHCN
nông nghiệp…”[28; tr.91]. Hai văn kiện này tuy đề cập đến thuật ngữ KHCN
nông nghiệp, nhưng chưa đề cập quan niệm KHCN nông nghiệp, hay phát
triển KHCN nông nghiệp, song nội hàm thuật ngữ này đã được làm rõ.
Trong Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 theo Quyết
định số 418/QĐ-TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng có 9 lĩnh vực KHCN,
13
bao gồm: KHCN nông nghiệp; KHCN y, dược; KHCN năng lượng; KHCN
giao thông vận tải; KHCN xây dựng; KHCN biển; KHCN quản lý và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên; KHCN vũ trụ; KHCN ở các vùng, địa phương. Như
vậy, thuật ngữ KHCN nông nghiệp là thuật ngữ phản ánh tính chuyên sâu,
chuyên biệt của KHCN nông nghiệp. Đây là thuật ngữ phân biệt sự khác nhau
giữa KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp với KHCN trong các lĩnh vực khác
như: y, dược; năng lượng; giao thông vận tải; xây dựng; biển; quản lý và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên; vũ trụ; vùng, địa phương. Điều này có nghĩa, vì
tính chuyên sâu mà KHCN nông nghiệp chỉ có thể phục vụ cho lĩnh vực nông
nghiệp, không sử dụng được cho lĩnh vực khác. Ngược lại, thuật ngữ KHCN
phục vụ nông nghiệp mà tác giả luận văn sử dụng sẽ có ý nghĩa rộng hơn; nó
không chỉ có KHCN nông nghiệp, mà còn bao gồm một số lĩnh vực KHCN đa
tác dụng, hay công nghệ lưỡng dụng vừa có thể sử dụng cho các lĩnh vực
khác, vừa phục vụ lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: KHCN biển; KHCN quản lý
và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; công nghệ môi trường; công nghệ sinh
học… là những lĩnh vực KHCN lưỡng dụng có thể sử dụng cả trong lĩnh vực
nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Từ những vấn đề trên có thể đưa ra quan niệm: KHCN phục vụ nông
nghiệp là một bộ phận của KHCN, bao gồm KHCN nông nghiệp và KHCN ở
một số lĩnh vực liên quan có thể sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp.
1.1.3. Quan niệm về phát triển khoa học và công nghệ
Cho đến nay, thuật ngữ phát triển đã trở nên quen thuộc không chỉ ở
nước ta, mà ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế, bởi thuật ngữ
này được sử dụng rất phổ biến ở nhiều lĩnh vực, trong các văn kiện (quốc gia,
quốc tế), các hội nghị (quốc gia, quốc tế), các hoạt động khoa học và đời sống
sinh hoạt đời thường. Mặc dù thuật ngữ phát triển được sử dụng rất phổ biến
như vậy, nhưng chưa có khái niệm phát triển đầy đủ, mà thuật ngữ này được
sử dụng như một tiếp đầu từ. Vì vậy, cũng như khái niệm KHCN, trong hệ
14
thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta về KHCN chưa có
khái niệm phát triển KHCN, mà chỉ có một số khái niệm liên quan như: Phát
triển công nghệ; Dịch vụ KHCN…; trong đó “Phát triển công nghệ là hoạt
động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua
việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ
hiện có, tạo ra công nghệ mới”[40]; “Dịch vụ KHCN là hoạt động phục vụ, hỗ
trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động
liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và
năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ
biến, ứng dụng thành tựu KHCN trong các lĩnh vực KTXH”[40].
Mặt khác, theo tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc, phát
triển công nghệ là tác động vào công nghệ hiện có nhằm làm cho công nghệ
ấy hoàn thiện hơn, trên cơ sở đó ứng dụng vào sản xuất và đời sống xã hội.
Phát triển công nghệ bao gồm hai qúa trình: phát triển công nghệ theo chiều
rộng và phát triển công nghệ theo chiều sâu. Theo đó, quá trình tiếp tục hoàn
thiện công nghệ để ứng dụng rộng rãi trong sản xuất được gọi là phát triển
công nghệ theo chiều rộng; hay còn gọi là phổ biến tri thức công nghệ trong
sản xuất. Quá trình phát triển công nghệ theo chiều sâu là quá trình cải tiến
công nghệ để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Để nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị
quyết Đại hội XI đề ra, cần có quan điểm và tư duy mới về phát triển KHCN
theo hướng ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển KHCN làm động lực phát
triển LLSX hiện đại, đẩy nhanh CNH,HĐH. Với nhận thức đó, trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta có quan điểm đúng về vai trò
của KHCN. Tại Đại hội III, Đảng ta xác định, cách mạng khoa học kỹ thuật là
một cuộc cách mạng then chốt. Các Đại hội IV, V, VI, VII xác định KHCN là
nền tảng và động lực phát triển KTXH. Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII,
15
Đảng ta đã ra Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển KHCN trong
thời kỳ CNH,HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000. Đây là lần đầu tiên trong
văn kiện Đảng, KHCN cùng với giáo dục và đào tạo được xác định là quốc
sách hàng đầu. Kiên trì và nhất quán quan điểm này, Đại hội IX, X, XI đã
xác định, “KHCN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển LLSX hiện đại,
bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả,
tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[27; tr.78]. Vì vậy,
“Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển KHCN là quốc sách
hàng đầu”[27; tr.77] và “Phát triển KHCN nhằm mục tiêu đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình
độ tiên tiến của thế giới”[27; tr.78]. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương Sáu
khóa XI ra Nghị quyết về phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH
trong điều kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, xác định,
“Phát triển và ứng dụng KHCN là quốc sách hàng đầu, là một trong những
động lực quan trọng nhất để phát triển KTXH và bảo vệ Tổ quốc; là một
nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động
của các ngành, các cấp”[28; tr.77-78]. Với nhiều chủ trương đúng, KHCN
nước ta đã có bước phát triển quan trọng trong xây dựng và phát triển tiềm
lực, đạt nhiều thành tựu to lớn, đóng góp thiết thực vào “thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử” thời kỳ đổi mới, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần đưa nước ta từ nước
kém phát triển thành nước có thu nhập trung bình. Cho đến nay, nước ta cơ
bản hoàn thành xây dựng nền tảng pháp lý cho hoạt động KHCN với 8 đạo
luật từ Luật KHCN năm 2000 đến Luật KHCN năm 2013 và “hơn 1.600 tổ
chức KHCN thuộc mọi thành phần kinh tế, hơn 62.000 cán bộ nghiên cứu
chuyên nghiệp, trong đó có hàng chục nghìn người có trình độ tiến sĩ và
thạc sĩ”[38; tr.5]. Như vậy, mặc dù Đảng ta có nhiều chủ trương phát triển
KHCN, song chưa có quan niệm đầy đủ về phát triển KHCN.
16
Từ các khái niệm về KHCN; về phát triển công nghệ và quan điểm của
Đảng ta về phát triển KHCN, có thể đưa ra quan niệm: Phát triển KHCN là
tổng thể cơ chế, chính sách và biện pháp đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển,
phổ biến và ứng dụng thành tựu KHCN vào sản xuất và đời sống nhằm khai
thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực phục vụ cho phát triển KTXH.
Ở phạm vi quốc gia, phát triển KHCN là phát triển đồng bộ các lĩnh
vực khoa học, gồm: khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa
học kỹ thuật và công nghệ với mục tiêu “Đến năm 2020, KHCN Việt Nam đạt
trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có
một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực KHCN đáp ứng các
yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[28; tr.80]
nhằm “Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối,
chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Xây dựng được nền tảng khoa học
tự nhiên hiện đại cho KHCN nói chung; phấn đấu đạt trình độ hàng đầu của
khu vực và thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực; làm chủ, ứng dụng
và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng
tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh
cao”[28; tr.80]; làm cho KHCN thực sự là động lực để phát triển LLSX, tạo
tiền đề phát triển kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng một số sản phẩm thương hiệu Việt
Nam; gắn phát triển KHCN với phát triển KTXH, bảo đảm quốc phòng, an
ninh; làm cơ sở vững chắc cho phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, đáp
ứng yêu cầu phát triển KTXH trong qúa trình CNH,HĐH, hội nhập quốc tế.
Ở phạm vi địa phương, lĩnh vực, phát triển KHCN là nâng cao năng lực
KHCN ở địa phương, lĩnh vực mình để làm chủ công nghệ tiên tiến, công
nghệ cao, công nghệ mới, giải pháp quản lý tiên tiến; đồng thời ứng dụng
thành tựu, giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia
17
tăng của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh
tranh cao, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển KTXH.
1.2. Quan niệm, sự cần thiết và nội dung phát triển khoa học và
công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
1.2.1. Quan niệm về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông
nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
Từ chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp; trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu, nhất là các khái
niệm về KHCN; về KHCN phục vụ nông nghiệp; về phát triển KHCN cũng
như nội dung phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp thì Phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai là tổng thể cơ chế, chính sách và biện
pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phổ
biến và ứng dụng thành tựu KHCN vào nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát
triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Đồng Nai. Với quan niệm này cho thấy:
Một là, chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp ở Đồng Nai là tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan quản lý từ
cấp tỉnh đến cơ sở. Trong đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và tổ chức đảng
các cấp có vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành công của sự
nghiệp phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; chính quyền các cấp có vai trò
quan trọng trong triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của tỉnh về phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp; đồng thời quản lý hoạt động này thông qua
xây dựng các chiến lược, kế hoạch và ban hành các cơ chế, chính sách, tạo cơ
sở pháp lý cho sự thống nhất và liên kết chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành
trong các hoạt động phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Hai là, lực lượng tham gia phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở
Đồng Nai bao gồm các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mỗi lực lượng trong
hệ thống chính trị có vai trò và trách nhiệm khác nhau; trong đó Sở KHCN,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tổ chức KHCN; các chủ thể kinh
18
tế, các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp, nhất là nông dân là các lực lượng
trực tiếp. Đặc biệt, các tổ chức KHCN với nhiệm vụ “nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KHCN”[40]
là cơ quan tiến hành hoạt động phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì
vậy, chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức này quyết định sự phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng nai. Những người nông dân
vừa là chủ thể của sự phát triển, vừa là đối tượng thụ hưởng thành tựu phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp; do đó vai trò của họ rất quan trọng trong
tiếp thu, ứng dụng cũng như sáng tạo KHCN phục vụ nông nghiệp.
Ba là, quy mô phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
tuy phụ thuộc vào yêu cầu phát triển nông nghiệp, nhưng nhìn chung sẽ nhỏ
hơn quy mô phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở phạm vi quốc gia.
1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển khoa học và công nghệ phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
Một là, xuất phát từ tác động của cách mạng KHCN đến lĩnh vực nông
nghiệp và sản xuất nông nghiệp nói chung.
Ngày nay, KHCN là yếu tố quan trọng, không thể thiếu đối với sự phát
triển bền vững ở mọi quốc gia. Theo quan điểm của Đảng ta thì, “KHCN là
nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước”[9]. Thật vậy, thành
tựu của KHCN đang xâm nhập sâu rộng vào quá trình sản xuất ở mọi lĩnh
vực, trở thành LLSX trực tiếp. Có thể nói, cách mạng KHCN tác động toàn
diện đến mọi quốc gia, mọi ngành, mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó
nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tuy bị tác động muộn hơn,
nhưng hiệu quả nhanh hơn, dễ nhận thấy. Điều đó thể hiện ở thời gian chuyển
từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng thành tựu KHCN vào sản xuất nông
nghiệp đã rút ngắn. Nói cách khác, quá trình nhất thể hoá giữa KHCN với sản
xuất nông nghiệp ngày càng rõ hơn, trở thành xu thế tất yếu của sự phát triển.
Vì vậy, để nông nghiệp Đồng Nai phát triển phải phát triển KHCN.
19
Do tác động bởi cách mạng KHCN từ giữa thế kỷ 20, nhất là tác động
từ cơ giới hóa, điện khí hóa nông nghiệp và sự phát triển của công nghệ sinh
học đã tạo ra sự thay đổi trong nông nghiệp. Ngày nay, “nông nghiệp là một
ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ
chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”[1;
tr.984]. Đây là ngành sản xuất vật chất chủ yếu dựa trên cơ sở là trồng trọt và
chăn nuôi, bằng việc sử dụng tài nguyên đất đai và nguồn nước để trồng trọt,
chăn nuôi, khai thác thủy hải sản nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và nhiều
sản phẩm khác phục vụ nhu cầu xã hội. Vì vậy, sản phẩm nông nghiệp ngoài
lương thực, thực phẩm phục vụ cho tiêu dùng của con người và thức ăn chăn
nuôi, còn có một số loại sản phẩm làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp,
xuất khẩu và nhiều ngành sản xuất vật chất khác. Thực tế cho thấy, trong điều
kiện KTTT và toàn cầu hoá, xét ở mọi cấp độ, nền kinh tế quốc dân, hay nền
kinh tế của một địa phương, chỉ có thể tồn tại và phát triển khi các sản phẩm,
hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế đó thường xuyên được đổi mới, có tính
cạnh tranh cao. Những đòi hỏi đó chỉ được đáp ứng khi nền kinh tế có tiềm
lực KHCN mạnh, và tiềm lực đó trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp.
Hai là, xuất phát từ mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nông nghiệp
bền vững với sự lạc hậu của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Thực tiễn khẳng định, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến
tính phát triển bền vững. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày
càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù đạt được sự tăng trưởng cao chưa
thể coi là đã phát triển. Hơn nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn tuy là
ba vấn đề khác nhau, nhưng nếu không đồng thời giải quyết một cách đồng bộ
thì không thể tiến hành thành công sự nghiệp CNH,HĐH.
Thời gian gần đây, tuy tỷ trọng sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
trong sản phẩm quốc nội giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông
20
nghiệp giảm. Thực tế cho thấy, Mỹ và Pháp là hai quốc gia có công nghiệp
phát triển cũng là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Ngược lại,
các nước Đông Á được coi là giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, thì hiện nay
phải nhập khẩu lương thực, vì sản xuất nông nghiệp giảm nghiêm trọng. Điển
hình như Philippin, là nước nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, đô
thị hóa đã dành nhiều diện tích canh tác phát triển đô thị, khu công nghiệp,
khu chế xuất, nhất là sân golf, vì thế thiếu lương thực trầm trọng, đe dọa an
ninh lương thực và phát triển bền vững. Việc các nước phát triển trợ cấp cho
nông nghiệp thông qua các ưu đãi, trong đó trọng tâm là phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp, đã làm cho các nước đang phát triển gặp khó khăn là
cái giá mà các nước này phải trả cho việc không chú trọng phát triển nông
nghiệp, nhất là phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Đây là bài học kinh
nghiệm về giải quyết mâu thuẫn giữa vai trò của nông nghiệp trong phát triển
bền vững với sự lạc hậu của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Một vấn đề khác của nông nghiệp Đồng Nai đang đặt ra cần giải quyết
là chất lượng nông sản thấp, vì chủ yếu xuất khẩu thô, quy mô sản xuất nhỏ
nên giá thành cao, năng suất lao động thấp. Muốn tăng giá trị nông sản hàng
hóa, cần cải tiến chất lượng sản phẩm bằng phát triển sản phẩm có xuất xứ địa
lý, sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm quốc tế và sản
phẩm hữu cơ. Để làm việc này, ngoài thể chế quản lý chất lượng nông sản,
phải tiến hành phát triển công nghiệp chế biến. Như vậy, để phát triển công
nghiệp chế biến, phải phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Tuy nhiên, thể
chế thị trường nông sản trong cả nước cũng như ở Đồng Nai, nếu chỉ dựa vào
quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp sẽ dẫn đến độc quyền doanh nghiệp;
nông dân là người sản xuất vẫn thiệt thòi. Muốn giải quyết tình trạng này,
phải phát triển chế biến, lưu thông. Chính quyền không thể trợ giúp nông dân
thông qua doanh nghiệp nhà nước, vì lợi nhuận là mục tiêu chính của doanh
21
nghiệp, mà phải thực hiện hỗ trợ qua dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ
công phục vụ nông nghiệp yếu, thiếu dịch vụ KHCN do chưa có chiến lược
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trong điều kiện đất ít, người đông, quy
mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp. Ngoài ra, các câu hỏi của nông
nghiệp công nghệ cao ở Đồng Nai như: công nghệ sinh học bảo đảm nguy cơ
đối với sức khỏe con người, môi trường; vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự
báo chiếm lĩnh thị trường nông sản; vấn đề biến đổi khí hậu, rủi ro trong nông
nghiệp gia tăng, mà chưa có biện pháp bảo vệ, chống thiên tai, rủi ro; vấn đề
bảo hiểm trong nông nghiệp… hầu hết vẫn còn bỏ ngỏ. Đó là những vấn đề
cốt lõi liên quan đến phát triển bền vững của nông nghiệp Đồng Nai. Điều đó
cho thấy sự lạc hậu, hay chậm trễ của KHCN trước yêu cầu phát triển nông
nghiệp. Bởi vậy, chỉ có phát triển KHCN mới có thể giải quyết mâu thuẫn
giữa vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển bền vững với sự lạc
hậu của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Ba là, xuất phát từ vai trò của KHCN đối với phát triển nông nghiệp ở
tỉnh Đồng Nai.
Thực tiễn phát triển KTXH cho thấy, ở phạm vi quốc gia, KHCN đã và
đang góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác
có hiệu quả các công nghệ nhập. Nhờ đó trình độ công nghệ trong một số
ngành sản xuất, dịch vụ ở nước ta hiện nay đã được nâng lên đáng kể; nhờ đó
mà nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có sức cạnh tranh cao trên thị trường
trong và ngoài nước. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, KHCN đã tạo ra
nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ nhập khẩu lương
thực trở thành một quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê và
một số nông sản, hải sản khác. Trong đó phải kể đến thành tựu của các
chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về công nghệ sinh học đã góp
22
phần nâng cao năng lực nội sinh của một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến trong
sản xuất nông nghiệp, vì vậy đã nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
của kinh tế nông nghiệp. Ở phạm vi địa phương, nhất là cơ sở, trong đó có
Đồng Nai, KHCN đã đóng góp tích cực vào việc phát triển KTXH, tích cực
góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ
nhân dân, bảo vệ môi trường khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Về bản chất, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp
là tiến hành CNH,HĐH nông nghiệp. Muốn vậy phải phát triển KHCN. Vì
vậy, phát triển KHCN là yếu tố quan trọng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp, nâng cao
năng suất nông nghiệp, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản xuất, tăng
khả năng cạnh tranh của nông sản. Chúng ta đã biết, công nghiệp hoá là sản
phẩm của cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 17, hiện đại hoá là sản phẩm
của cách mạng kỹ thuật giữa thế kỷ 20. Nhờ thành tựu KHCN mà nhiều lĩnh
vực phát triển đột biến. Chẳng hạn, việc sử dụng năng lượng nguyên tử,
năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc vào năng lượng khoáng sản;
sự ra đời của vật liệu tổng hợp đã giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên
nhiên không tái sinh; đồng thời cung cấp vật liệu mới có tính năng ưu việt
hơn, tái sinh được. Vấn đề đặt ra cho Đồng Nai trên con đường CNH,HĐH
nông nghiệp là ở chỗ, cần nắm bắt xu thế phát triển tất yếu, khách quan, khai
thác tối đa thời cơ, thuận lợi và hạn chế thấp nhất nguy cơ, bất lợi để thực
hiện thành công sự nghiệp đó. Muốn vậy, chỉ có thể bằng con đường phát
triển KHCN.
Sự phát triển của KHCN hiện nay đã làm thay đổi căn bản phương
thức sản xuất nông nghiệp, nhờ đó sản xuất nông nghiệp phát triển nhảy vọt,
trong đó có thành tựu bảo đảm an ninh lương thực. Nền nông nghiệp nước ta
cũng trong tình trạng như vậy. Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết Hội nghị
23
Trung ương Bảy khóa X nhấn mạnh, “ứng dụng nhanh các thành tựu khoa
học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân
lực, nâng cao dân trí nông dân”[26; tr.125]. Thực hiện chủ trương này, tháng
10/2008 Thủ tướng ban hành Chương trình hành động, trong đó nêu “Phát
triển khoa học - công nghệ phải trở thành khâu đột phá để phát triển nông
nghiệp hiện đại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển nhanh
việc ứng dụng công nghệ sinh học và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao;
tập trung vào việc phát triển giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, giống
vật nuôi và giống thủy sản. Nâng cao năng lực và đổi mới cơ chế, chính sách
quản lý KHCN để nâng cao nhanh hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao nhanh
tiến bộ KHCN vào sản xuất”[7]. Trong Chiến lược phát triển KHCN giai
đoạn 2011-2020 xác định, “KHCN phải góp phần quan trọng đưa Việt Nam
trở thành một nước mạnh về nông nghiệp, một trung tâm của thế giới về lúa
gạo và sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới”[10]. Tại Hội nghị Trung ương Sáu
khóa XI, Đảng ta chủ trương “Tiếp tục phát triển KHCN nông nghiệp, góp
phần đưa Việt Nam trở thành nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến; sản
xuất và xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo, thủy sản và sản phẩm nông
nghiệp nhiệt đới”[28; tr.91]. Như vậy, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ
trương phát triển KHCN, nhằm làm cho KHCN phát huy vai trò động lực và
là LLSX trực tiếp. Trong điều kiện đó, vấn đề đặt ra đối với Đồng Nai là làm
thế nào để KHCN đảm nhận được vai trò đó, thực sự là LLSX, góp phần hiện
đại hóa kết cấu hạ tầng KTXH, trực tiếp phục vụ nông nghiệp của tỉnh.
Đồng Nai là địa phương có nền kinh tế tiểu nông, lại bị chiến tranh tàn
phá nặng nề trong nhiều năm. Từ thực trạng nền kinh tế như vậy là sản xuất
nhỏ; thói quen của thời kì bao cấp trong sản xuất, kinh doanh vẫn tồn tại, ảnh
hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của tỉnh. Hơn
nữa, ảnh hưởng từ tác động khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế chưa
24
chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, thất nghiệp hoặc
không đủ việc làm gia tăng, tổng sản phẩm bình quân đầu người còn ở mức
thấp. Vì vậy, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là nhiệm vụ cấp thiết
trước thực trạng KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai phát triển chậm,
chưa đi vào cuộc sống mặc dù tiềm năng không nhỏ. Nhận thức được tính
cấp thiết đó, Tỉnh ủy Đồng Nai đã có chủ trương “nâng cao năng lực
KHCN làm nền tảng vững chắc và động lực phát triển KTXH”[3]. Đồng
thời “Xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ phát triển mô hình sản xuất
nông nghiệp (kinh tế trang trại, trang trại ứng dụng công nghệ cao) nhằm
tăng giá trị lớn trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Triển khai thực
hiện cơ chế khuyến khích, hỗ trợ nông dân nhân rộng các mô hình GAP;
thực hiện chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học vào
sản xuất, nhất là áp dụng các quy trình công nghệ sử dụng tiết kiệm vật tư
nông nghiệp, nước tưới, đất và sử dụng hiệu quả về giống, đưa cơ giới hóa
vào sản xuất và thu hoạch… để tăng năng suất, nâng cao chất lượng, giá trị
hàng hóa nông sản và giảm giá thành sản phẩm. Đồng thời hỗ trợ hiệu quả
việc tiêu thụ nông sản hàng hóa, trên cơ sở rà soát các chính sách hiện hành
hoặc kiến nghị Chính phủ và nghiên cứu từ thực tiễn địa phương để có cơ
chế phù hợp, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn,
phát triển sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế
biến nông sản với sự liên kết chặt chẽ, bền vững giữa doanh nghiệp, hợp
tác xã, hộ nông dân và xây dựng thương hiệu hàng hóa nông sản có thế
mạnh của địa phương để hỗ trợ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu”[3]. Để thực
hiện chủ trương này, Đồng Nai đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của KHCN
trong hiện đại hóa kết cấu hạ tầng KTXH phục vụ phát triển nông nghiệp.
Nhờ đó mà nhiều tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nhất là các tiêu chí về
phát triển kết cấu hạ tầng KTXH ở nhiều địa phương trong tỉnh Đồng Nai
đang từng bước hoàn thành, ngày càng đồng bộ và hiện đại.
25
Bốn là , do yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh
Đồng Nai theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với phát triển bền vững.
Lịch sử hình thành và phát triển nông nghiệp ở các nước phát triển cho
thấy, khi KHCN trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi nền
kinh tế, thì con đường phát triển bền vững nông nghiệp hàng hóa không thể
khác ngoài phương thức chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
gắn kết chặt chẽ với phát triển KHCN. Khi KHCN phát triển thì sức lao động
nông nghiệp được giải phóng. Theo đó một bộ phận lao động nông nghiệp sẽ
được chuyển dịch sang làm việc ở các lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ; làm
cho lao động nông nghiệp giảm dần, đáp ứng mục tiêu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng hiệu quả hơn. Thông qua chuyển giao, ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất đã làm thay đổi căn bản cơ
cấu nông nghiệp và phi nông nghiệp, tạo ra sức hút lao động nhất là lao động
đã qua đào tạo để người dân có nhiều cơ hội hơn trong tìm việc làm với mức
thu nhập cao hơn. Hiện nay, ở các nước đang phát triển có dư lượng lao động
nông thôn cao, xu hướng sẽ gia tăng khi KHCN phục vụ nông nghiệp phát
triển. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, dự báo năm 2020, nông nghiệp trong GDP
còn 5%, lao động nông nghiệp còn 35% và lao động nông thôn còn 45%; còn
ở Việt Nam, dự báo năm 2020, tỷ trọng “nông nghiệp trong GDP sẽ còn 10%,
lao động nông nghiệp vẫn còn 23%”[49; tr.50]. Như vậy, khi công nghiệp hóa
thành công, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn rất quan
trọng. Do vậy, chúng ta không thể sao nhãng phát triển nông nghiệp, mà phải
coi phát triển nông nghiệp như một mục tiêu trọng tâm của phát triển KTXH.
Thực tế phát triển KTXH ở nước ta thời kỳ đổi mới cho thấy, nếu thời
kỳ đầu, thành công trong nông nghiệp là dựa trên sự thay đổi cơ chế quản lý,
giải phóng sức lao động; thì thành tựu đổi mới nói chung, phát triển KTXH
nói riêng sau này, trong đó nông nghiệp có nhiều thành tựu sớm nhất, là dựa
26
trên cơ sở phát triển LLSX bằng việc kết hợp có hiệu quả giữa tiềm lực con
người với sức mạnh KHCN. Vì vậy, với một nền nông nghiệp có nhiều tiềm
năng như Đồng Nai, để phát triển sản xuất, nhất thiết phải có tiềm lực KHCN,
do đó phải phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Với ý nghĩa đó, tỉnh Đồng
Nai đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các qui hoạch, đề án,
chương trình thực hiện... Nhờ đó thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp,
hình thành các vùng sản xuất tập trung theo danh mục sản phẩm hàng hóa
nông nghiệp chủ lực xác định theo hướng liên kết với chế biến, tiêu thụ sản
phẩm, các giống có năng suất, chất lượng cao, công nghệ sản xuất mới, tiến
bộ và cơ giới hóa được áp dụng mạnh mẽ vào sản xuất. Từ đó năng suất, chất
lượng sản phẩm, hiệu quả sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng nhanh. Thực
hiện lập qui hoạch sản xuất nông nghiệp và các sản phẩm chủ lực then chốt
theo hướng phát huy lợi thế so sánh của địa phương, hoàn thành qui hoạch
phát triển nông nghiệp chi tiết cho từng xã, thị trấn. Mặt khác, nếu KHCN
phục vụ nông nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy nhanh tính chất xã hội hóa sản
xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai; khi đó tính chất manh mún, nhỏ lẻ, phụ
thuộc vào các điều kiện tự nhiên trong nông nghiệp sẽ được khắc phục.
Dù tác động thế nào, thì sản xuất nông nghiệp luôn gắn với công nghệ
sinh học và sản phẩm công nghệ sinh học. Vì vậy, phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp sẽ là yếu tố nền tảng để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
trong nông nghiệp và môi trường sống ở khu vực nông thôn. Ở tỉnh Đồng Nai
hiện nay, vấn đề gây nhiều bức xúc là tình trạng môi trường sản xuất nông
nghiệp và môi trường sống ở nông thôn bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
Tình trạng ô nhiễm môi trường tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, cụm
tiểu thủ công nghiệp, các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm (hiện tỉnh có
103 trang trại, trong đó 82 trang trại nuôi heo, 21 trang trại nuôi gà). Có nhiều
nguyên nhân gây ra tình trạng này, song nguyên nhân cơ bản là nhiều cơ sở
27
sản xuất đã sử dụng công nghệ cũ, công nghệ lạc hậu, thậm chí công nghệ thải
loại từ nước ngoài; hay nước thải từ sản xuất công nghiệp và sản xuất nông
nghiệp không qua xử lý, hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn đã thải ra môi
trường, dẫn đến tình trạng ô nhiễm, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
và đời sống của nông dân. Điển hình như vụ xả thải của công ty Vedan, công
ty SonadeZi. Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường cần có những giải
pháp đồng bộ, trong đó ưu tiên phát triển KHCN là một trong những giải pháp
hữu hiệu vừa cơ bản, vừa lâu dài. Việc ứng dụng thành tựu KHCN tiên tiến
vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm giảm đáng kể các chất thải độc hại ra môi
trường, bảo đảm cho nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững.
Năm là, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp
đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Không chỉ
ở nước ta, mà ở mọi quốc gia, nguồn nhân lực giữ vai trò là nền tảng và yếu
tố quyết định phát triển bền vững. Vì vậy, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực
đến năm 2020 là đưa nhân lực “trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất
để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng
trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các
nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước
phát triển trên thế giới”[8]. Với cách hiểu như vậy thì nguồn nhân lực nông
nghiệp quyết định thành công sự nghiệp CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Giữa phát triển KHCN với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp
có mối quan hệ hữu cơ: khi KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển sẽ đòi hỏi
trình độ của nguồn nhân lực nông nghiệp phát triển tương ứng. Chính điều
này đòi hỏi các chủ thể phải có các giải pháp để đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực theo kịp yêu cầu phát triển KHCN; nói cách khác trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ của nguồn nhân lực phải tương thích với trình độ phát triển
KHCN. Mặt khác, khi đó mỗi chủ thể sản xuất nông nghiệp cũng như mỗi
28
người nông dân phải tự mình học tập thông qua các hình thức bồi dưỡng, tập
huấn, hay đào tạo khác nhằm nâng cao trình độ để có thể ứng dụng và vươn
lên làm chủ KHCN; nghĩa là họ phải có khả năng tiếp cận với các thành tựu
KHCN nông nghiệp, đặc biệt là tiếp nhận chuyển giao, ứng dụng thành tựu
khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tiến tiến vào sản xuất. Chính mối quan
hệ tác động qua lại giữa KHCN với nguồn nhân lực nông nghiệp đã làm cho
chất lượng của nguồn nhân lực nông nghiệp không ngừng tăng lên; ngược lại,
chỉ khi chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp đã được nâng cao tương ứng,
mới có khả năng khai thác, sử dụng thành tựu KHCN vào sản xuất và đời
sống, đồng thời thúc đẩy KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển.
1.2.3. Nội dung phát triển khoa học và công nghệ phục nông nghiệp
ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
Ở nước ta, để khai thác lợi thế nông nghiệp nhiệt đới nhằm phát triển
sản xuất hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh
cao, Nghị quyết Trung ương bảy khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn nhấn mạnh “Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa
học - công nghệ hiện đại, công nghệ sinh học, thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, thông
tin hoá, thay thế lao động thủ công, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để sử
dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, lao động, nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản”[26; tr.129]. Tiếp tục chủ
trương này, Đại hội XI xác định “Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ KHCN hiện đại
trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để
tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất
lượng và hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên một đơn vị đất canh
tác. Hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao. Đẩy mạnh chăn
nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm chất lượng và
an toàn dịch bệnh… Gắn kết chặt chẽ… giữa việc áp dụng kỹ thuật và công
29
nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông
thôn mới”[27; tr.115]. Với chủ trương này, Hội nghị Trung ương sáu khóa XI
nhấn mạnh “Tiếp tục phát triển KHCN nông nghiệp, góp phần đưa Việt Nam
trở thành nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến; sản xuất và xuất khẩu
hàng đầu thế giới về lúa gạo, thủy sản và sản phẩm nông nghiệp nhiệt
đới”[28; tr.91]; đồng thời “Nghiên cứu và phát triển có trọng điểm các công
nghệ gen, tế bào, vi sinh, enzym-protein, tin sinh học, nano sinh học; ứng
dụng có hiệu quả các công nghệ này vào mô ̣t số lĩnh vực chủ yếu”[28; tr.90],
trong đó có nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến. Có thể nói, chủ
trương xây dựng nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo hướng hiện
đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và
khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả
trước mắt và lâu dài là chủ trương phát triển KHCN nông nghiệp Việt Nam.
Định hướng phát triển KHCN trong Chiến lược phát triển KHCN giai
đoạn 2011-2020 chỉ rõ nội dung phát triển KHCN nông nghiệp bao gồm:
“Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến phục vụ quy
hoạch phát triển nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới.
Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nông nghiệp tập
trung vào các đối tượng cây trồng, vật nuôi có khả năng tạo ra sản lượng hàng
hóa lớn, có tính cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.
Ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học để tạo các giống cây, con mới có
năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với sâu bệnh và có khả năng thích
nghi điều kiện biến đổi khí hậu. Ứng dụng các giải pháp công nghệ sinh học
để xác định và phòng, chống các loại dịch bệnh nguy hiểm mới phát sinh, tạo
các chế phẩm sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững.
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp hữu hiệu về giống, canh tác các
loại cây rừng phù hợp với những điều kiện cụ thể của từng địa bàn; nâng cao
30
tỷ lệ che phủ rừng, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ góp phần phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai.
Nghiên cứu bảo tồn và khai thác hợp lý, có hiệu quả cao các nguồn
gen trong nông nghiệp, đặc biệt là các nguồn gen đặc hữu của Việt Nam
phục vụ cho việc tạo ra các sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao.
Nghiên cứu cơ sở khoa học để phát triển an toàn thực phẩm biến đổi gen.
Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến và giải pháp phù hợp để
chế biến, bảo quản và đa dạng hóa các mặt hàng nông - lâm - thủy sản,
góp phần xây dựng các thương hiệu mạnh cho các sản phẩm xuất khẩu
của Việt Nam; nghiên cứu kết hợp công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm
truyền thống để chế biến, bảo quản một số đặc sản truyền thống ở quy mô
công nghiệp, bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nghiên cứu phát triển công nghệ và công cụ, thiết bị tiên tiến, đồng bộ
cho sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y, thức ăn gia súc.
Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ, thiết bị, vật liệu tiên tiến trong
khảo sát, thiết kế, thi công các công trình thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu
về tưới, tiêu chủ động, phòng tránh thiên tai, phát triển nông nghiệp thích
ứng với biến đổi khí hậu”[10]. Từ chủ trương phát triển KHCN nông
nghiệp cũng như KHCN phục vụ nông nghiệp cho thấy, phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp gồm 09 nội dung sau:
Thứ nhất, nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến
phục vụ quy hoạch phát triển nông nghiệp;
Thứ hai, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, giải
pháp công nghệ sinh học để phát triển bền vững nông, lâm và ngư nghiệp;
Thứ ba, áp dụng quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng;
31
Thư tư, tập trung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tạo
giống cây trồng, vật nuôi có khả năng tạo ra sản lượng lớn, khả năng cạnh
tranh cao, bảo đảm an ninh lương thực;
Thứ năm, nghiên cứu đề xuất giải pháp về giống, canh tác các loại cây
rừng phù hợp, nâng cao tỷ lệ che phủ, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ, góp
phần phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;
Thứ sáu, nghiên cứu bảo tồn, khai thác hợp lý, có hiệu quả các nguồn
gen, đặc biệt là nguồn gen đặc hữu tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao;
Thứ bảy, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, giải pháp phù hợp
kết hợp với kinh nghiệm truyền thống để chế biến, bảo quản sản phẩm nông,
lâm, thủy sản, góp phần xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm xuất khẩu;
Thứ tám, phát triển công nghệ và công cụ, thiết bị tiên tiến, đồng bộ
cho sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn gia súc.
Thứ chín, nghiên cứu ứng dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu tiên tiến
bảo đảm thủy lợi và chủ động, phòng tránh thiên tai, phát triển nông nghiệp
thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai là một bộ phận của nền nông nghiệp Việt
Nam. Vì vậy, về bản chất, những nội dung phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp Việt Nam cũng là nội dung phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở
tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, sự khác nhau là ở chủ thể, lực lượng tham gia tiến
hành hoạt động này. Riêng quy mô nội dung phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp ở tỉnh Đồng Nai sẽ hẹp hơn quy mô nội dung phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp ở phạm vi quốc gia, nhưng phải phù hợp với đặc thù của từng
ngành, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và kinh nghiệm, truyền thống canh tác
của người nông dân trên địa bàn tỉnh. Trong điều kiện KHCN phát triển mạnh
mẽ như hiện nay, quá trình thực hiện các nội dung phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp cần ưu tiên cho một số lĩnh vực KHCN nền tảng có ý quyết định
32
đến năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Trong đó: công nghệ sinh học; công nghệ sau thu hoạch và
chế biến nông sản; công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường nông nghiệp; KHCN
phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH phục vụ phát triển nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Đồng Nai.
*
* *
Trên cơ sở tiếp câ ̣n lý luâ ̣n và thực tiễn, luận văn đưa ra các khái niệm
như: KHCN, phát triển KHCN; KHCN phục vụ nông nghiệp và phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở đó, luận giải sự cần
thiết và nd phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp là một nhiệm vụ cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài
của hệ thống chính trị tỉnh Đồng Nai nhằm nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường trong nước và quốc
tế, tiến tới phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, bền vững. Xét đến cùng, phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp là để Đồng Nai phát huy hơn nữa tiềm năng
đất đai, vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng được đầu tư hiện đại, góp phần rút
ngắn quá trình CNH,HĐH, để năm 2015 Đồng Nai “trở thành một tỉnh công
nghiệp theo hướng hiện đại, đi trước cả nước 5 năm”.
33
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội chi phối sự phát triển khoa học
và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
2.1.1. Thuận lợi
Thứ nhất, Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về kinh tế và xã
hội để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Đồng Nai là tỉnh công nghiệp;
nhiều nhà máy hoạt động tại các KCN, CCN trên địa bàn ((Phụ lục 2.1; 2.2)
với nhiều lĩnh vực có khả năng liên kết thành chuỗi khép kín theo hướng sản
phẩm của nhà máy này được sử dụng làm nguyên liệu cho nhà máy khác.
Lực lượng lao động tỉnh Đồng Nai có ý chí vươn lên, có ý thức kỷ luật,
tác phong công nghiệp, có khả năng làm việc cường độ cao. Dân số Đồng Nai
tăng cao gần đây tuy gây áp lực cho công tác an sinh xã hội, song cũng mở ra
cơ hội phát triển các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống (Biểu 2.1).
3.500
3.000
Biểu 2.1: Dân số Đồng Nai năm 2010 và dự báo đến năm 2020
) i ờ ư g n
2.500
n
0 5 4 . 1
ì
0 5 0 . 1
1 6 8
2.000
5 2 7
+ Thành thị
1.500
h g n ( ố s
+ Nông thôn
0 5 8
1.000
0 7 7
4 1 7
n â D
.
.
.
9 3 5
1
.
1
1
1
500
-
Năm
2005
2010
2015
2020
Nguồn: [6; tr.11]
Dự báo qui mô dân số Đồng Nai năm 2020 từ 3.100.000÷3.200.000
người; năm 2030 từ 3.600.000÷3.700.000 người (Phụ lục 2.3).
34
Thứ hai, vị trí địa lý là điều kiện thuận lợi cho phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Đồng Nai có vị trí chiến lược về kinh tế,
thương mại, quốc phòng, an ninh. Có nhiều tuyến giao thông kết nối Đồng
Nai với Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên; thành phố Hồ Chí
Minh. Với vị thế quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sẽ là
điều kiện thuận lợi không chỉ cho phát triển KTXH, mà còn thuận lợi cho
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Do vị trí thuận lợi, Đồng Nai có điều
kiện thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ sản phẩm có hàm lượng
công nghệ và trình độ kỹ thuật cao; hợp tác phát triển KHCN, đào tạo nguồn
nhân lực có chuyên môn kỹ thuật, trình độ quản lý cao. Trong bối cảnh hội
nhập, với vị trí địa kinh tế khá thuận lợi, có cảng biển, không gian mặt bằng
cho phát triển kinh tế rộng rãi, nguồn lao động dồi dào, Đồng Nai có tiềm
năng, lợi thế nổi bật về phát triển nhiều ngành, lĩnh vực. Vì thế, Đồng Nai
được coi là bản lề chiến lược giữa bốn vùng của các tỉnh phía Nam. Với đặc
điểm địa lý đó Đồng Nai có nhiều lợi thế để phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp.
Thứ ba, Đồng Nai có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển thành trung
tâm giáo dục và đào tạo; KHCN ở Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam. Đồng Nai là tỉnh có diện tích và dân số lớn, tăng trưởng kinh
tế nhanh, có nhiều khu công nghiệp thu hút lao động, có điều kiện liên kết,
hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác để thu hút đầu
tư phát triển các cơ sở đào tạo, dạy nghề, nghiên cứu, triển khai, ứng dụng
KHCN có qui mô, đẳng cấp quốc tế; hình thành và phát triển đô thị khoa học,
các khu làng đại học. Theo Quy hoạch phát triển các khu chuyên ngành đến
năm 2020 (Bảng 2.1) trên địa bàn tỉnh sẽ hình thành: Trung tâm công nghệ
sinh học (Cẩm Mỹ), Khu công nghiệp công nghệ cao (Long Thành), Khu liên
hợp công nông nghiệp (Dofico). Đó là tiềm năng, lợi thế để Đồng Nai phát
35
triển thành trung tâm giáo dục và đào tạo, KHCN, nhất là đào tạo nhân lực
chuyên môn kỹ thuật cao và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học.
Bảng 2.1. Quy hoạch phát triển các khu chuyên ngành đến 2020
Stt
Địa điểm
Khu chuyên ngành
Hiện trạng 2010 (ha)
QH SĐ theo NQ số 69 ngày 30/10/2012 của CP
Rà soát, bổ sung đến năm 2020
-
1
Long Thành
420
410
-
2
2.187
-
Thống Nhất, Xuân Lộc
-
3
Cẩm Mỹ
253
208
Khu công nghiệp công nghệ cao Long Thành Khu liên hợp công nông nghiệp Dofico Trung tâm công nghệ sinh học
Nguồn: [6; tr.85]
Thứ tư, tốc độ tăng trưởng, quy mô nền kinh tế Đồng Nai là những yếu
tố vật chất quan trọng để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp (Biểu 2.2)
20,0
18,0
Tốc độ tăng GDP cả tỉnh
16,0
14,0
Công nghiệp - xây dựng
)
12,0
%
10,0
Dịch vụ
( ệ l ỷ T
8,0
6,0
4,0
Nông lâm nghiệp và thủy sản
2,0
0,0
2001 2002
2003 2004 2005 2006
2007 2008 2009 2010
2011
2012
Năm
Biểu 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Đồng Nai từ năm 2001-2012
36
5 năm gần đây, mặc dù khó khăn, kinh tế phục hồi chậm; thị trường
xuất khẩu thu hẹp, cạnh tranh gay gắt, giá xuất khẩu một số mặt hàng nông
sản giảm. Song với sự nỗ lực, phấn đấu của cả hệ thống chính trị, sự đồng
thuận của nhân dân nên KTXH đạt kết quả khá tốt, “Kinh tế tăng tưởng khá
cao so với bình quân cả nước và đạt mục tiêu nghị quyết đề ra, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch tích cực, đúng định hướng, tạo nguồn lực đảm bảo về an sinh xã
hội và tạo nền tảng tốt cho sự phát triển những năm sau”[4]. Trong đó, GRDP
“tăng 11,5% so năm trước. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng
giữ tỷ trọng GRDP ngành công nghiệp - xây dựng, tăng tỷ trọng GRDP ngành
dịch vụ và giảm ngành nông, lâm, thủy sản”[4]. Từ một số chỉ tiêu KTXH
đạt được cho thấy, kinh tế Đồng Nai phát triển nhanh, có tiềm lực mạnh là
“một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, là một trong
5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có giá trị sản xuất công nghiệp lớn
nhất trong cả nước”[6; tr.1] giai đoạn 2006-2010 (Biểu 2.3).
Biểu 2.3: Cơ cấu các GDP của tỉnh năm 2005 và năm 2010
Năm 2005
Năm 2010
Nông lâm nghiệp và thủy sản; 8,6%
Công nghiệp - xây dựng; 57,2%
Dịch vụ; 34,2%
Công nghiệp - xây dựng; 57,0%
Nông lâm nghiệp và thủy sản; 15,0%
Dịch vụ; 28,0%
Nguồn: [6; tr.17]
Sau gần 30 năm đổi mới, Đồng Nai “phát triển tương đối hài hòa giữa
các mặt, giữa chiều rộng với chiều sâu, giữa công nghiệp, nông nghiệp và
dịch vụ, giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, giữa kinh tế
và xã hội, văn hóa, giữa các vùng, giữa đồng bào các dân tộc... kết hợp được
cả trước mắt và lâu dài”[60] (Bảng 2.2). Được đánh giá, “là một trong số
37
những tỉnh, thành phố trong cả nước đã làm tương đối tốt công tác lãnh đạo
phát triển KTXH…”[60].
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu phát triển KTXH của tỉnh 2006-2010
Chỉ tiêu
Đơn vị
Năm 2005
Năm 2010
Tốc độ tăng Bình quân năm (%)
Tỷ đồng
1. GDP (giá 94)
13,5
19.178,9
36.202,5
- Nông lâm thuỷ sản
4,7
3.022,5
3.804,1
- Công nghiệp - Xây dựng
14,9
11.754,7
23.555
- Dịch vụ
15,0
4.401,7
8.843,3
2. GDP (giá thực tế)
Tỷ đồng
29.999,7
75.899,0
- Nông lâm thuỷ sản
4.497,2
6.526,2
- Công nghiệp - Xây dựng
17.102,6
43.414,4
- Dịch vụ
8.399,9
25.958,4
%
3. Cơ cấu GDP (giá tt)
- Nông lâm thuỷ sản
15,0
8,6
- Công nghiệp - Xây dựng
57,0
57,2
- Dịch vụ
28,0 839
34,2 1.629
USD
4. GDP bình quân người (giá tt) Nguồn: [6; tr.17]
Năm 2012, tỷ trọng GRDP của như sau: công nghiệp - xây dựng 57%;
dịch vụ 36,2%; nông, lâm, thủy sản 6,8%. Sang năm 2013 tỷ trọng đó như
sau: “công nghiệp - xây dựng 56,9%, dịch vụ 36,8%, nông, lâm, thủy sản
6,3%. GRDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 48,7 triệu đồng, tương
đương 2.318 USD”[8], vượt chi tiêu của Tỉnh ủy năm 2013. Sản xuất công
nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,1%.
Mặc dù khó khăn nhưng năm 2013, tỉnh Đồng Nai “đã thu hút trên 1,64 tỷ
USD vốn đầu tư nước ngoài”[8]; thu hút đầu tư trong nước trên 8 ngàn tỷ
đồng và vốn đăng ký kinh doanh trên 9 ngàn tỷ đồng. Đầu tư xây dựng cơ bản
được quan tâm; từng bước khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và
đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tái định cư, giải ngân để đẩy nhanh
tiến độ thi công, nhất là các công trình giao thông quan trọng như: đường
38
tránh Biên Hoà, đường 25A, đường 768, Hương lộ 10, cầu Hóa An, cầu Đồng
Nai...; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương, các chủ
đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí
Minh - Long Thành - Dầu Giây, đường Quốc lộ 51, Quốc lộ 20, cầu vượt ngã
tư Vũng Tàu, tạo điều kiện thúc đẩy KTXH phát triển. Hoạt động dịch vụ
phát triển tích cực, giá trị gia tăng ngành năm 2013 tăng 14,1%; trong đó một
số ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao tiếp tục phát triển như: dịch vụ vận tải
hàng hóa, hành khách; dịch vụ cảng (sản lượng hàng thông qua cảng tăng
5,4%); dịch vụ bưu chính viễn thông (doanh thu tăng 15,3%); dịch vụ du lịch
(lượt khách tham quan tăng 11%, doanh thu tăng 13%). Sản xuất nông nghiệp
năm 2013 tuy có nhiều khó khăn, song “giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản
tăng 3,8%”[8] so năm 2012. Đến năm 2013, Đồng Nai đã có 91,1% ấp, khu
phố đạt danh hiệu ấp phu phố văn hóa; 97,8% hộ gia đình đạt danh hiệu hộ
gia đình văn hóa và 97% cơ quan, đơn vị có đời sống văn hoá tốt; 55,5% xã,
phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020; 96% xã,
phường có bác sĩ; bình quân 1 vạn dân có 6,5 bác sĩ và 23,5 giường bệnh.
Từ các chỉ tiêu đạt được gần đây cho thấy, KTXH tỉnh Đồng Nai có
chuyển biến tích cực, “Đồng Nai phát triển tương đối đều, liên tục, đúng
hướng, theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, CNH,HĐH”[60]. Các hoạt
động văn hóa, y tế, giáo dục có tiến bộ; an sinh xã hội được quan tâm, tập
trung vào đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, bảo trợ xã hội.
Theo Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2050 (Quyết định số 1460/QĐ-UBND, ngày 23/5/2014 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Đồng Nai), Đồng Nai sẽ là: “trung tâm giao thương các vùng
kinh tế động lực của quốc gia…; Cực tăng trưởng kinh tế lớn của vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, Trung tâm CNH,HĐH của cả nước; Đầu mối giao
thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không,
39
trung tâm kho vận, tiếp vận của vùng…; Trung tâm dịch vụ đa ngành, trung
tâm công nghiệp tập trung, công nghiệp công nghệ cao, trung tâm thương mại
- tài chính của quốc gia; Trung tâm phát triển nông lâm, nghiệp chuyên canh,
nông nghiệp công nghệ cao, trung tâm bảo tồn rừng cảnh quan, bảo tồn đa
dạng sinh học và nguồn nước của toàn vùng thành phố Hồ Chí Minh”[54].
2.1.2. Khó khăn
Thứ nhất, qui mô dân số Đồng Nai lớn, tốc độ gia tăng cơ học nhanh,
lao động trong độ tuổi dồi dào, song chất lượng nguồn nhân lực, “nhất là đội
ngũ cán bộ công chức, đặc biệt là ở cấp xã phường còn hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển; thiếu lực lượng lao động có kỹ thuật phục vụ cho
phát triển công nghiệp hỗ trợ, các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật công nghệ
cao”[46], công nghệ sinh học, lĩnh vực đào tạo…
Thứ hai, mức tăng trưởng GRDP của tỉnh giảm dần mấy năm gần đây;
nguồn thu ngân sách khó khăn, ảnh hưởng đến tích lũy từ nội bộ nền kinh tế
tỉnh cho phát triển và đáp ứng nhu cầu đảm bảo an sinh xã hội cũng như tổng
vốn đầu tư xã hội sẽ giảm. Tình trạng này còn kéo dài do ảnh hưởng từ kinh
tế vĩ mô trong nước chưa ổn định; chất lượng tăng trưởng thấp, tái cơ cấu nền
kinh tế chưa đạt yêu cầu, nợ xấu ngân hàng còn cao gây tắc nghẽn nền kinh
tế, sức mua của thị trường còn yếu, thị trường bất động sản chưa phục hồi.
Thứ ba, thách thức ứng phó với biến đổi khí hậu khắc nghiệt hơn, ảnh
hưởng đến sản xuất và đời sống… Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu mà
mực nước sông Đồng Nai vào mùa khô giảm, lượng mưa trung bình hàng
năm ít đi, việc xây dựng các đập thủy điện đã ảnh hưởng đến an ninh lương
thực và cấp nước sinh hoạt. Đây là một thách thức lớn đối với KHCN phục vụ
nông nghiệp trong những năm tiếp theo.
40
Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội trên cho thấy tiềm năng, lợi thế phát
triển của tỉnh Đồng Nai. Đây cũng là các yếu tố quan trọng tác động đến phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
2.2. Thực trạng phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông
nghiệp ở tỉnh Đồng Nai và những vấn đề đặt ra hiện nay
2.2.1. Những kết quả đạt được
Sau gần 30 năm đổi mới, nông nghiệp Đồng Nai tăng trưởng đáng kể
cả về năng suất, sản lượng và giá trị, nông sản và sản phẩm chế biến từ nông
sản xuất khẩu tăng. Sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh, toàn diện, góp
phần bảo đảm an ninh lương thực và một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí
cao trên thị trường quốc tế như cao su, cà phê, hạt tiêu... Kết quả đó có sự
đóng góp quan trọng của KHCN phục vụ nông nghiệp.
Một là, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được
ứng dụng mang lại hiệu quả KTXH, góp phần nâng cao năng suất, chất
lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Đồng Nai
Với đa số dân cư Đồng Nai là nông dân, địa phương có tiềm năng to
lớn để phát triển nông, lâm, thủy sản thì việc áp dụng thành tựu KHCN vào
nông nghiệp càng quan trọng. Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp không
chỉ đáp ứng yêu cầu sản xuất nông sản hàng hóa, cải thiện thu nhập, nâng đời
sống nông dân, mà còn trực tiếp góp phần phục vụ CNH,HĐH nông nghiệp,
nông thôn. Với ý nghĩa đó, hoạt động KHCN thường xuyên đổi mới và phát
huy hiệu quả thông qua nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN
vào nông nghiệp, tạo ra nông sản có chất lượng tốt, năng suất cao, nâng cao
sức cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân.
Mấy năm gần đây, do kinh tế thế giới khó khăn nên nhu cầu nhập
khẩu nông sản ở nhiều thị trường giảm, kéo theo giá một số mặt hàng
nông sản giảm mạnh. Song tỉnh đã chú trọng thực hiện các chính sách tín
41
dụng, hỗ trợ phát triển nông nghiệp; đồng thời, tập trung chỉ đạo chương
trình phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực, chương trình cánh đồng mẫu
lớn gắn với đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng thông qua ứng
dụng thành tựu KHCN tiến tiến, công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi, nhất là nâng cao
năng lực cạnh tranh của nông sản; nhân rộng mô hình sản xuất sạch theo
tiêu chuẩn VietGap. Ngoài ra, các địa phương đã tích cực thực hiện
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ cây lúa năng suất thấp sang cây bắp, rau
sạch và cây ăn trái, nhằm hỗ trợ nông dân nâng cao thu nhập. Nhìn chung
“hoạt động chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới
hóa trong nông nghiệp chuyển biến khá tích cực”[9]. Việc ứng dụng cơ
giới hóa với tỉ lệ cao trong sản xuất nông, lâm, thủy sản ở Đồng Nai đã
góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa.
Nhìn chung mức độ cơ giới hóa nông nghiệp đã được nâng cao, các loại
máy gặt đập liên hợp, máy làm đất đa năng, máy gieo hạt giống phục vụ
cho sản xuất đã được sử dụng phổ biến (Bảng 2.3).
Bảng 2.3: Kết quả cơ giới hóa trong sản xuất nông, lâm, thủy sản
* Cây lúa: Khoảng 68.500 ha (diện tích lúa gieo trồng cả năm)
Tên khâu công việc
Diện tích làm bằng máy
Mức độ cơ giới hóa
STT
1 Khâu làm đất 2 Khâu gieo cấy 3 Khâu thu hoạch 4 Khâu phơi sấy
(ha) 68.500 0 13.700 3.500
(%) 100 0 20 5
STT
Tên khâu công việc
Diện tích làm bằng máy (ha) Mức độ cơ giới hóa (%)
1 Khâu làm đất 2 Khâu gieo trồng 3 Khâu thu hoạch 4 Khâu tách hạt 5 Khâu phơi sấy
49.000 0 0 29.900 0
98 0 0 60 0
* Cây bắp: khoảng 49.800 ha (diện tích bắp cả năm)
42
Tên khâu công việc
Diện tích làm bằng máy (ha) Mức độ cơ giới hóa (%)
15.900 0 0
TT 1 Khâu làm đất 2 Khâu gieo trồng 3 Khâu thu hoạch
100 0 0
* Trang bị các loại máy chủ yếu
* Cây khoai mỳ (sắn): Khoảng 15.900 ha
Nhu cầu tăng thêm
Số lượng
Năm 2015
Năm
STT
Loại máy
(cái)
2020
986 1.250 2.995 32 71 52 593 20 1.472 61 9
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
Máy kéo Máy phát điện Máy bơm nước Máy sấy các loại Máy gặt đập liên hợp Máy tuốt lúa Máy chế biến thức ăn gia súc Tàu thuyền có động cơ Bình phun thuốc có động cơ Máy chế biến thủy sản Máy chế biến gỗ
1.183 1.500 3.594 38 85 62 630 21 1.766 73 15
1.035 1.312 3.144 33 74 54 622 21 1.545 64 12
Nguồn: [9]
Nhờ đó năm 2013 “giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản tăng 3,8%”[8] so
với năm 2012; giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 80 triệu đồng/1 ha
đất canh tác; năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ
năm 2012 từ 1-3%; tỷ lệ cơ giới hóa làm đất đạt 98%, thu hoạch đạt 20-40%.
Hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX,
hoạt động nghiên cứu KHCN phục vụ nông nghiệp đã phát triển vượt bậc:
“nghiên cứu triển khai, ứng dụng KHCN nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng kết
quả nghiên cứu vào thực tiễn đời sống ngày càng được tăng cường, tích cực
nghiên cứu, áp dụng những thành tựu KHCN vào việc chuyển đổi cơ cấu sản
xuất, nâng cao năng suất sản xuất trên các lĩnh vực”[3]; theo dõi, quản lý 91
đề tài, dự án nghiên cứu KHCN cấp tỉnh; tổng kết, nghiệm thu và chuyển giao
ứng dụng vào thực tế sản xuất, đời sống 35 đề tài, dự án, trong đó 2 dự án cấp
Bộ thuộc Chương trình nông thôn miền núi và 33 đề tài, dự án cấp tỉnh. Đặc
43
biệt đã “tổ chức triển khai thực hiện 6 dự án thuộc Chương trình nông thôn
miền núi giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn các huyện”[3].
Năm 2013 tỉnh triển khai 5 dự án thuộc Chương trình nông thôn miền
núi giai đoạn 2010-2015 trên địa bàn các huyện: Tân Phú, Cẩm Mỹ, Vĩnh
Cửu. Điển hình trong số đề tài khoa học được ứng dụng như: Lĩnh vực chăn
nuôi với đề tài Xây dựng Kit phát hiện virut gây hội chứng rối loạn sinh sản -
hô hấp và vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cấp trên heo nuôi bằng phương pháp
PCR do Trung tâm Công nghệ sinh học Đồng Nai thực hiện với việc xây
dựng 4 bộ Kit PCR phát hiện nhanh bệnh rối loạn sinh sản - hô hấp và tiêu
chảy cấp ở heo nuôi, được Hội đồng khoa học đánh giá cao về tính thực tiễn,
ứng dụng và khả năng thương mại hóa. Lĩnh vực trồng trọt có đề tài Nghiên
cứu chế tạo thuốc bảo vệ thực vật trị bệnh nấm hồng trên cây cao su ở tỉnh
Đồng Nai bằng công nghệ Nano (nano bạc và nano kẽm) được ứng dụng tại
Tổng công ty Cao su Đồng Nai. Kết quả sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trị
bệnh nấm hồng trong thực tiễn canh tác cây cao su cho thấy, “thuốc này có
khả năng diệt nấm hồng hoàn toàn sau 3 lần phun”[58]. Như vậy, nghiên cứu
sử dụng công nghệ nano để chế tạo thuốc bảo vệ thực vật trị bệnh nấm hồng
trên cây cao su là một công nghệ mới, nhưng ứng dụng công nghệ từ kết quả
của đề tài này đã mang lại hiệu quả KTXH rất cao, không chỉ thân thiện với
môi trường, mà còn không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Ngoài ra, đề tài “Xây dựng mô hình hợp tác xã trang trại trên địa bàn
tỉnh” đang được triển khai. Việc ứng dụng đề tài này vừa tăng tính chuyên
môn hóa trong sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh, vừa hạn chế rủi ro từ tác động
của kinh tế thị trường đối với sản xuất, bởi hợp tác xã trang trại là loại hình
kinh tế hình thành từ sự liên minh và hợp tác của các chủ trang trại. Không
chỉ vậy, hợp tác xã trang trại còn tạo điều kiện để người sản xuất áp dụng hiệu
quả mô hình sản xuất hiện đại như chuỗi ngành hàng, kiểm soát chất lượng và
44
kế hoạch sản xuất, tiêu thụ. Kết quả ứng dụng đề tài để xây dựng mô hình hợp
tác xã trang trại đặc trưng trong chăn nuôi và trồng trọt cho thấy:
Hợp tác xã chăn nuôi heo Xuân Lập là một trong 3 mô hình mẫu hợp
tác xã trang trại. Chỉ có 11 xã viên, nhưng hợp tác xã đang hoạt động với tổng
đàn heo gồm 6.500, trong đó có 550 heo nái. Đặc biệt, với mô hình hợp tác xã
này, chủ trang trại đã chủ động hơn về vật tư, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y
và kỹ thuật chăn nuôi vì hợp tác xã ký hợp đồng với công ty cung ứng thức ăn
gia súc, thuốc thú y, con giống và bao tiêu sản phẩm cho các trang trại.
Với hợp tác xã xoài Phượng Vỹ ở Xuân Lộc, nhờ áp dụng quy trình sản
xuất tiên tiến và sử dụng giống mới mà năng suất xoài bình quân 40 tấn/ha,
lợi nhuận 195 triệu/ha; trong khi các vườn xoài canh tác truyền thống trên
giống xoài cũ thì năng suất bình quân 18 tấn/ha, lợi nhuận 48 triệu/ha. Kết
quả cho thấy, mô hình áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến trên giống cây xoài
mới tuy năng suất bình quân trên một ha canh tác chỉ gấp 2,2 lần, nhưng lợi
nhuận bình quân lại hơn 4 lần so với canh tác truyền thống. Với mô hình hợp
tác xã trang trại, các chủ trang trại có điều kiện nâng cao thu nhập. Điều đó
khẳng định, kết quả ứng dụng các đề tài, dự án KHCN là minh chứng về phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Để hỗ trợ phát triển nông nghiệp, chương trình giảm tổn thất sau thu
hoạch đã được đầu tư. Năm 2011, Đồng Nai thực hiện đề án Cơ chế, chính
sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản tỉnh Đồng Nai
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Thông qua các mô hình trình diễn
đã chuyển giao nhiều tiến bộ kỹ thuật: sử dụng máy gặt đập liên hợp, lò sấy
lúa; hỗ trợ xây kho, nhà sơ chế trái cây; máy sấy và bảo quản nông sản khác,
đã góp phần giảm thất thoát, nâng cao chất lượng, hạn chế ảnh hưởng của thời
tiết, tiết kiệm chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân.
45
Cùng với chương trình này, việc cơ giới hóa sản xuất được đầu tư thỏa
đáng hơn. Theo đó, các loại máy móc, trang thiết bị phục vụ nông nghiệp
ngày càng đa dạng, phù hợp đặc điểm sản xuất của tỉnh. Đến nay, nhiều loại
cây trồng đã được cơ giới hóa ở mức khá cao, như: cây lúa, khâu làm đất cơ
giới hóa 100% diện tích; thu hoạch đạt 20%; khâu phơi sấy đạt 5% sản lượng;
Cây bắp, khâu làm đất đạt 98%; khâu tách hạt đạt 60%... Việc ứng dụng cơ
giới hóa đã giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản.
Ngoài ra, còn nhiều tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới khác đã
được chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp đạt kết quả tốt như: sử
dụng 100% các loại giống mới được tuyển chọn, lai tạo cho năng suất cao và
phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh; ứng dụng chế phẩm sinh học thay thế chế
phẩm có nguồn gốc hóa học, đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường. Đặc biệt
Đồng Nai là tỉnh đầu tiên nghiên cứu thành công và áp dụng công nghệ tưới
tiết kiệm có bón phân thông qua đường ống tưới và áp dụng cho nhiều loại
cây trên nhiều địa hình. Hiện có 4743 ha cây công nghiệp, cây ăn trái được
lắp đặt công nghệ tưới nước tiết kiệm. Công nghệ này giảm đáng kể lượng
nước tưới, thời gian tưới, nhiên liệu, nhân công. Theo đó, chi phí giảm, năng
suất cao do đáp ứng yêu cầu nước, dinh dưỡng cho cây trồng kịp thời, không
lãng phí, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất. Mặt khác, sử dụng công nghệ này
còn dễ dàng áp dụng các qui trình công nghệ cao, qui trình GAP, hay sử dụng
các chế phẩm sinh học Trichoderma, các chất sinh học để phòng trừ sâu bệnh
và ủ phân hữu cơ. Sử dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm cho thấy, giảm các
loại nấm, sinh vật gây bệnh trên cây trồng, góp phần tăng năng suất cây trồng.
Như vậy, các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được
ứng dụng cũng như các biện pháp kỹ thuật trên cho thấy, KHCN phục vụ
nông nghiệp phát triển đã góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu. Cụ thể:
Xoài đạt 20 tấn/ha (năng suất bình quân đạt 9,5 tấn/ha); Sầu riêng đạt 9-10
tấn/ha (năng suất bình quân đạt 7,5 tấn/ha); Cà phê đạt 2,5-3,0 tấn/ha (năng
46
suất bình quân đạt 1,8 tấn/ha); Tiêu đạt 3,5-4 tấn/ha (năng suất bình quân đạt
2,2 tấn/ha); Cây Bưởi đạt 11,4 tấn/ha (năng suất bình quân đạt 9,8 tấn/ha).
Đặc biệt, sau khi Nghị quyết Trung ương Bảy khóa X về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn; Kế hoạch số 97 của tỉnh ủy Đồng Nai ban hành, thì hoạt
động KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển khá mạnh. Tỉnh “đã triển khai 06
dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2008-2013 và thực
hiện 42 đề tài, dự án nông nghiệp cấp tỉnh”[9]. Trong đó có nhiều đề tài, dự
án đáp ứng tốt yêu cầu nông nghiệp như: Nghiên cứu xây dựng quy trình sản
xuất nhằm ổn định chất lượng và an toàn thực phẩm theo quy chuẩn ASEAN
GAP đối với bưởi và sầu riêng; Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bệnh
chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu...
Hai là, KHCN nói chung, hoạt động chuyển giao, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất nói riêng đã góp phần đưa nông nghiệp Đồng Nai
phát triển với nhiều thành tựu nổi bật
Đối với nông nghiệp Đồng Nai, KHCN góp phần quan trọng trong việc
tiếp thu, làm chủ, ứng dụng và khai thác có hiệu quả tiến bộ kỹ thuật cũng
như thành tựu KHCN. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu KHCN đối với Chương
trình phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực giai đoạn 2006-2010 là một đóng
góp quan trọng. Trong đó đã triển khai nhiều đề tài, dự án phục vụ nông
nghiệp; trong số “đó có 10 đề tài, dự án phục vụ phát triển các loại cây trồng,
vật nuôi chủ lực”[22]. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đổi mới công nghệ sinh
học, chế biến, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp được chú trọng hơn.
Ngoài ra, dịch vụ KHCN được đẩy mạnh, phát triển toàn diện, trong đó
Sở Khoa học - Công nghệ hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa
cho 16 tổ chức, cá nhân (Phụ lục 2.4); trong số này có 14 đơn vị sản xuất
kinh doanh trái cây, nấm, rau và 02 đơn vị nuôi heo. Từ năm 2006 đã có một
số sản phẩm nông nghiệp tham gia xuất khẩu như hạt điều Donafood, xoài
Suối Lớn… Nhờ hoạt động KHCN như vậy không chỉ “mức độ tăng trưởng
qua các năm bình quân 10-15%, góp phần thực hiện sự nghiệp CNH,HĐH,
47
nhất là CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn”[22], mà trình độ phát triển của
một số lĩnh vực sản xuất và dịch vụ nâng lên, nhiều sản phẩm có sức cạnh
tranh cao, mở rộng khả năng chiếm lĩnh thị trường. Nhìn chung, kết quả các
đề tài, dự án phục vụ nông nghiệp đã tạo ra nhân tố tích cực, xây dựng nhiều
mô hình phát triển nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi
có giá trị kinh tế cao thông qua thúc đẩy phát triển chế biến, dịch vụ và sự
chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa gắn với thị trường, tăng thu
nhập cho nông dân và phát triển bền vững. Trong đó, KHCN tạo ra nhiều
giống cây trồng, vật nuôi chất lượng tốt, năng suất cao, phù hợp với điều kiện
khí hậu, thổ nhưỡng, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa
Đồng Nai thành địa phương có nhiều sản phẩm chiếm lĩnh thị trường tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu. Điển hình trong những kết quả đó là:
Thành tựu nổi bật mà KHCN đóng góp cho nông nghiệp Đồng Nai là
chọn lọc và chuyển giao thành công nhiều giống cây trồng mới, năng suất
cao, chất lượng tốt, phù hợp thổ nhưỡng, khí hậu, đang sử dụng đại trà. Trong
số đó: Giống lúa OM 6162, OM 4900, OM 5472, OM 6976 là giống có năng
suất cao, phẩm chất tốt, kháng các loại sâu bệnh, đáp ứng yêu cầu thâm canh,
thích hợp sản xuất tại các cánh đồng chất lượng cao, có diện tích lớn, đáp ứng
yêu cầu thị trường; hay Giống mía K94-200, K95-84, K95-156 năng suất đạt
80-90 tấn/ha, chất lượng cao hơn giống cũ, thích hợp với điều kiện sinh thái
Đồng Nai, đáp ứng yêu cầu của nhà máy đường; hoặc Giống cà phê mới TR4,
TR5, TR9 triển khai ở Cẩm Mỹ, giống này có nhiều đặc điểm tốt hơn giống
cũ: chín tập trung, chất lượng, trọng lượng hạt đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu,
năng suất cao, đáp ứng yêu cầu áp dụng tiến bộ kỹ thuật ghép chồi, cải tạo
nhanh vườn cà phê già cỗi, góp phần quan trọng tăng hiệu quả sản xuất.
Ngoài chuyển giao cho nông dân cây trồng mới, còn chuyển giao kỹ
thuật trồng xen ca cao với cây điều gồm: Quy trình trồng, chăm sóc, thu
hoạch, sơ chế. Việc trồng xen ca cao với cây điều vừa tăng thu nhập, vừa tăng
48
doanh thu (trồng điều thuần đạt 20-25 tr./ha/năm, trồng điều xen ca cao đạt
50-55 tr./ha/năm). Đã triển khai kỹ thuật thâm canh mới với cây lâu năm như:
tưới nước tiết kiệm, kết hợp bón phân qua đường tưới, kỹ thuật ghép cải tạo
giống, sử dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh và ủ phân
hữu cơ. Nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác mà năng suất, hiệu quả ở một
số cây lâu năm tăng rõ rệt: xoài đạt 20 tấn/ha; sầu riêng đạt 9-10 tấn/ha; cà
phê đạt 2,5-3,0 tấn/ha; tiêu đạt 3,5-4 tấn/ha, riêng ở vùng chuyên canh cây
tiêu “năng suất cao nhất so với các tỉnh trong vùng (đạt 7-8 tấn/ha)”[7]. Việc
ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, cây trồng, kỹ thuật canh tác theo tiêu
chuẩn GAP, tưới nước tiết kiệm kết hợp bón phân qua đường ống, cơ giới
hóa, công nghệ thu hoạch... đã giúp cho phần lớn các loại cây trồng tăng năng
suất, chất lượng nông sản, hiệu quả sản xuất từng bước được nâng cao.
Thời gian gần đây, mặc dù ngành chăn nuôi nước ta đang gặp khó khăn
nhưng quy mô đàn gia súc, gia cầm ở Đồng Nai vẫn ổn định, “số lượng đàn
gia súc gia cầm chăn nuôi trang trại đến nay chiếm đến 86% tổng đàn”[8].
Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được thực hiện
tốt, nhiều năm không xảy ra dịch bệnh lớn. Hiện tại Đồng Nai “có 42 cơ sở gà
giống bố mẹ, gà đẻ thương phẩm đã được công nhận cơ sở an toàn dịch bệnh
với bệnh cúm gia cầm và Newcastle; 05 cơ sở chăn nuôi heo được công nhận
cơ sở an toàn dịch bệnh với bệnh lở mồm long móng và dịch tả heo”[21]. Đó
là một thành tựu mà KHCN đã đóng góp cho ngành chăn nuôi Đồng Nai.
Chăn nuôi thủy sản có bước phát triển, năm 2013, tổng diện tích nuôi
trồng thủy sản tăng 4% so với năm 2012. Nhờ áp dụng khoa học, đưa một số
giống cá mới có năng suất cao, chất lượng tốt như cá rô phi đơn tính, cá
chẽm… chuyển giao cho nông dân nuôi thả, mở rộng quy mô, diện tích. Các
kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến như áp dụng các chế phẩm công nghệ sinh học,
GAP, GMP… không chỉ tăng năng suất, mà còn nuôi thuỷ sản an toàn. Với
nhiều kỹ thuật chăn nuôi thủy sản tiên tiến được áp dụng mà giá trị sản phẩm/
49
1 ha diện tích mặt nước đứng thứ 3; diện tích nuôi tôm (1.601,5 ha) đứng thứ
hai; diện tích nuôi cá (31.308,6 ha) đứng thứ nhất; sản lượng các loại tôm, cá
đứng thứ 2 so với các tỉnh Đông Nam Bộ.
Có được như vậy là nhờ sự đóng góp của chuyển giao, áp dụng tiến bộ
kỹ thuật vào chăn nuôi. Trong đó có hoạt động: Chuyển giao mô hình chăn
nuôi theo hình thức bán công nghiệp, công nghiệp nuôi kín trong chuồng
mát, nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi; Công nghệ khí sinh học
(Biogas); Nuôi gà trên nền đệm lót sinh học; Ứng dụng kỹ thuật ELISA để
xét nghiệm bệnh trên gia súc, gia cầm; Ứng dụng phần mềm GIS để định vị
và quản lý trang trại chăn nuôi, cơ sở giết mổ; Cải tiến nâng cao chất lượng
giống bò sữa Việt nam giai đoạn 2006-2010; Cải tiến nâng cao chất lượng
giống bò thịt Đồng Nai giai đoạn 2007-2010. Nhờ các hoạt động như vậy mà
đến nay các trang trại chăn nuôi và cơ sở giết mổ trên địa bàn tỉnh đã xây
dựng 4020 hầm Biogas, 8 mô hình đệm lót sinh học ở 8 huyện, góp phần
giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nguồn nước, hạn chế nguồn phát sinh dịch
bệnh cho người và động vật..; đồng thời tăng số lượng bò lai Zêbu trên 80%.
Nhờ KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển, nhất là kỹ thuật chăn
nuôi đã tạo ra nhiều tiến bộ vượt trội về con giống, kỹ thuật chuồng trại ở
Đồng Nai. Đến nay, Đồng Nai “đã có nhiều tiến bộ về giống vật nuôi, riêng
giống heo, được đánh giá là có chất lượng cao nhất nước”[7]. Về giống
gốc, ngoài việc bổ sung, còn có nhiều trại sản xuất giống chất lượng cao của
các thành phần kinh tế tham gia. Các cơ sở sản xuất giống đã cung ứng đủ
giống tốt, góp phần cho chương trình nạc hóa đàn heo, sin hóa đàn bò. Giống
heo, gà chất lượng cao đã góp phần nâng cao năng suất, hạ giá thành, tăng
cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. Giống heo chủ yếu là heo ngoại như
Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, heo lai 3, 4 dòng từ các giống ngoại,
chiếm tỷ lệ trên 95%. Giống gà gồm: gà trắng thịt (Arbor Acres, Ross, Cobb),
50
chiếm 38,11 %; Gà màu thịt (Tam Hoàng, Lương Phượng) chiếm 25,06 %;
Gà đẻ trứng (Hyline Brown, Lohmann Brown, ISA Brown) chiếm 25,48 %;
Gà ta, gà ta lai chiếm 11,35%. Nhờ đó “quy mô sản lượng đàn vật nuôi và
các sản phẩm chăn nuôi của tỉnh Đồng Nai luôn đứng đầu so với các tỉnh
miền Đồng Nam Bộ.
Về chuồng trại, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học để xử lý chất thải như:
sử dụng công nghệ đệm lót sinh học, hệ thống Biogas, ủ phân compost.
Hiện trên địa bàn tỉnh có 692 trang trại áp dụng, chiếm gần 50 % số trang
trại; 4.379 hộ chăn nuôi áp dụng, chiếm gần 10 % số hộ chăn nuôi. Ngoài
ra, còn áp dụng kỹ thuật chuồng kín. Với tiến bộ kỹ thuật này đã góp phần
giảm tỷ lệ tiêu tốn thức ăn, tăng trọng nhanh, do giảm cường độ hô hấp của
vật nuôi, không chế dịch bệnh và có điều kiện áp dụng qui trình thực hành
chăn nuôi tốt, xây dựng cơ sở an toàn dịch. Hiện đã có 174 trang trại chăn
nuôi heo, gà áp dụng kỹ thuật, chiếm tỷ lệ 10,6% tổng số trang trại trên địa
bàn Đồng Nai.
Ba là , KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển đã góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Đồng Nai theo hướng CNH,HĐH
Đối với nông nghiệp Đồng Nai, nhờ KHCN phục vụ nông nghiệp
phát triển mà KHCN đóng góp 30% giá trị gia tăng, thu nhập của nông dân
tăng đáng kể. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa,
hình thành các vùng sản xuất tập trung, đa dạng và bền vững, nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả và thu nhập cho người dân một phần đóng góp quan
trọng của KHCN phục vụ nông nghiệp. Trong đó có nhiều nông dân sản xuất
giỏi, làm giàu từ trang trại, nuôi trồng thủy sản nhờ áp dụng KHCN.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi diễn ra liên tục, các giống
có chất lượng tốt năng suất cao được triển khai nhận rộng, đã có kết quả. Cơ
cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, số lượng, sản lượng, diện
51
tích các cây trồng, vật nuôi chủ lực tăng; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện
tích và thu nhập bình quân đầu người tăng; đào tạo nghề cho lao động nông
thôn, tạo việc làm được chú trọng. Cụ thể giai đoạn 2009-2013, theo giá thực
tế: tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân trên 29.000 tỷ đồng; Tỷ
trọng GDP ngành nông, lâm, thủy sản so với GDP giảm từ 9,9% năm 2009
còn 6,8% năm 2012; Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 3,66%/năm; Giá
trị sản xuất trên một ha năm 2013 đạt 85,58 triệu đồng/ha; tốc độ tăng bình
quân giai đoạn 2009-2013 là 18,55%/năm (năm 2009 đạt 41,55 triệu
đồng/ha); tốc độ tăng bình quân theo giá cố định năm 1994 giai đoạn 2009-
2013 là 7,7%[9]. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng phát
triển cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao, gắn với thị trường tiêu thụ,
phù hợp với điều kiện khí hậu, kỹ thuật sản xuất. Năm 2008, tỷ trọng giữa
trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp là: 68,59%, 27,37%, 4,04%; năm
2012 là: 57,86%, 39,01%, 3,12%. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch
đúng hướng đã góp phần phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của từng vùng, đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững, cơ cấu lại lao động, sử dụng hiệu quả mọi
nguồn lực. Cụ thể sự chuyển dịch cơ cấu trong các lĩnh vực như sau:
Lĩnh vực trồng trọt chuyển dịch theo hướng gia tăng diện tích cây trồng
có giá trị thu nhập cao; chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mùa vụ phù hợp với
điều kiện tưới trên từng địa bàn; ứng dụng các quy trình canh tác kỹ thuật cao,
đưa giống mới vào sản xuất trên diện rộng, tăng cường thâm canh, phòng trừ
dịch hại tổng hợp (IPM)... Trong đó tập trung phát triển các vùng lúa đặc sản;
vùng lúa chất lượng cao (Vĩnh Cửu, Long Thành, Xuân Lộc, Tân Phú); vùng
rau quả sạch (Thống Nhất, Biên Hòa, Nhơn Trạch); vùng hoa chuyên canh
(Thống Nhất, Biên Hòa); vùng bắp thực phẩm chất lượng cao (Xuân Lộc,
Long Khánh, Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú, Thống Nhất...); vùng mía (Định
Quán, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Xuân Lộc); vùng mì (Xuân Lộc, Vĩnh Cửu,
52
Long Thành). So với Đông Nam bộ, ngoài diện tích trồng bắp đứng thứ nhất,
trồng lúa đứng thứ hai, các cây lương thực khác ở Đồng Nai đều có diện tích
và năng suất cao nhất. Nhờ KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển mà cơ cấu
kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, theo đó năng suất, sản lượng
cây trồng tăng qua các năm, góp phần cung cấp lương thực, thực phẩm cho
tiêu dùng và nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh.
Đối với cây lâu năm, nhất là các cây trồng chủ lực, có thế mạnh như:
cao su, cà phê, tiêu, sầu riêng, điều, chôm chôm... được phát triển theo hướng
hình thành các vùng sản xuất tập trung với diện tích lớn. Đây là tiền đề thuận
lợi để tổ chức lại sản xuất, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng
thương hiệu sản phẩm. Việc triển khai Chương trình phát triển cây trồng, vật
nuôi và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 đã
tác động tích cực đến mở rộng quy mô diện tích, ứng dụng quy trình tưới
nước tiết kiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả các vùng sản xuất nông sản
tập trung; diện tích các cây trồng chủ lực tăng. Trong đó nhiều vùng có giá trị
sản xuất từ 100-250 triệu/ha/năm. Điển hình như: Bưởi Vĩnh Cửu, Tân Phú;
Xoài Định Quán, Xuân Lộc; Sầu riêng Cẩm Mỹ, Tân Phú, Long Khánh; Tiêu
Trảng Bom, Xuân Lộc, Câm Mỹ; cà phê Cẩm Mỹ, Định Quán, Thống Nhất;
Điều Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú. Số liệu thống
kê cho thấy, so với các tỉnh Đông Nam bộ, các loại cây ăn trái của Đồng Nai
đứng thứ nhất về diện tích, năng suất và sản lượng; Ngược lại, các cây công
nghiệp của Đồng Nai (cao su, cà phê, tiêu, điều) có năng suất thấp hơn.
Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại chiếm ưu thế, bao gồm chăn
nuôi công nghiệp và bán công nghiệp. Chăn nuôi có bước tiến bộ nhanh về sử
dụng giống với gần 100% đàn heo, gà sử dụng giống nhập có năng suất cao, ít
tiêu tốn thức ăn. Kỹ thuật chăn nuôi tiến bộ rõ rệt: đa số chuồng trại gia súc,
gia cầm được xây dựng hiện đại, hệ thống điều khiển nhiệt độ, ánh sáng, độ
53
ẩm, cung cấp thức ăn tự động, hoặc bán tự động. So với năm 2008: đến năm
2013 chăn nuôi heo trang trại chiếm 60% (tăng 20%); chăn nuôi gà trang trại
chiếm 88% (tăng 12%). Sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng so với 2008: thịt
heo 47,8%; thịt gà 185%; trứng 148 %. Tổng đàn heo hiện nay 1.394.011 con,
so với chỉ tiêu năm 2015 là 1.800.000 con, đạt 77,45%. Tổng đàn gà hiện nay
11.627.000 con so với chỉ tiêu năm 2015 là 11.000.000 con, vượt 5,7% [9].
Để phát triển chăn nuôi bền vững, ngoài tổ chức, quản lý tốt công tác
tiêm phòng, phát hiện bệnh sớm, làm tốt công tác kiểm dịch động vật, sản
phẩm động vật; từ năm 2008, Đồng Nai đã lập quy hoạch 139 vùng khuyến
khích phát triển chăn nuôi tập trung thuộc 08 huyện, thị xã Long Khánh và 36
cơ sở giết mổ. Đến tháng 8/2013 có gần 400 trang trại chăn nuôi và 03 cơ sở
giết mổ heo tập trung trong vùng quy hoạch. Đến năm 2013 “toàn tỉnh có 726
câu lạc bộ năng suất cao và tổ hợp tác, 261 hợp tác xã và 2 Liên hiệp hợp tác
xã; đa số các hợp tác xã, tổ hợp tác đã chú trọng đầu tư theo chiều sâu, từng
bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động”[8]. Các hình thức tổ chức sản
xuất trong nông nghiệp như tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại trồng trọt... đã
tích cực tham gia thực hiện chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm.
Để nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích, Đồng Nai chủ trương
chuyển dịch cơ cấu diện tích theo hướng gia tăng diện tích cây trồng có giá trị
kinh tế. Cơ cấu diện tích cây trồng chuyển dịch theo hướng giảm cây lương
thực, tăng cây trồng có giá trị kinh tế cao, các loại cây trồng có chuỗi giá trị
tốt. Theo đó diện tích trồng lúa từ 75.000ha năm 2008 còn 68.657 ha năm
2012 (8,45%). Với cây chủ lực, năm 2012: diện tích trồng tiêu tăng 32,41%
(2.177 ha); Diện tích trồng cà phê tăng 14,32% (2.539 ha); Diện tích trồng
xoài tăng 27,34% (2.224 ha); Diện tích trồng điều giảm 13,32% (7.343 ha).
KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển đã giúp chuyển đổi cơ cấu cây
trồng theo hướng ứng dụng giống có năng suất cao, hay theo mùa vụ phù hợp
với điều kiện canh tác; trong đó đã có hơn 90 % diện tích trồng lúa sử dụng
54
giống năng suất cao, chất lượng tốt; phần lớn diện tích trồng mía sử dụng
giống năng suất 80-90 tấn/ha; 20 % diện tích trồng cà phê sử dụng giống mới;
100% giống bắp mới cho năng suất cao, chống sâu bệnh tốt... Đã chuyển diện
tích trồng lúa vụ Đông Xuân sang trồng bắp. Đối với cây ăn trái, hầu hết các
giống cây trồng chất lượng tốt, năng suất cao, phù hợp điều kiện khu vực đã
được ứng dụng tại Đồng Nai như giống xoài cát, chôm chôm rongrieng, bưởi
da xanh, sầu riêng Dona, thanh long ruột đỏ....
KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển đã góp phần tăng sản lượng,
nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa tỉnh
Đồng Nai. Theo đó, năng suất các loại rau, quả, cây lương thực, trong đó: lúa
tăng 5,9 tạ/ha/vụ; bắp tăng 8,9 tạ/ha/vụ; rau tăng 8,59 tạ/ha/vụ; bưởi tăng 4,84
tạ/ha; sầu riêng tăng 3,8 tạ/ha; chôm chôm tăng 3,9 tạ/ha; cà phê tăng 2,0
tạ/ha; tiêu tăng 2,2 tạ/ha so với năm 2008. Giai đoạn 2008-2012, sản lượng
lúa tăng gần 1%; Sản lượng bắp tăng 1.2%; Sản lượng bưởi tăng 2,28%; sản
lượng sầu riêng tăng 2,35%; Sản lượng chôm chôm tăng 2,38%; Sản lượng cà
phê tăng 6,77%; Sản lượng hồ tiêu tăng 6,93%. Không chỉ tăng sản lượng,
nâng cao năng suất mà chất lượng nông sản đã được nâng cao.
Từ kết quả trên cho thấy, nông nghiệp tỉnh Đồng Nai phát triển ổn
định, chuyển dịch theo hướng sản xuất tập trung, nâng hiệu quả sản xuất, tăng
thu nhập, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế là kết quả phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch hợp lý
nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế: tỷ trọng nông nghiệp giảm dần; tỷ
trọng thủy sản, lâm nghiệp tăng; tỷ trọng trồng trọt giảm; tỷ trọng chăn nuôi
tăng. Đặc biệt chăn nuôi đã khẳng định vị trí quan trọng, tăng trưởng kinh tế
cũng như thu nhập của người nông dân tăng. Nhờ đó, năm 2012 giá trị sản
xuất nông nghiệp của tỉnh “đứng đầu các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ”[7].
55
Bốn là, KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển từng bước góp phần
nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp, nhất là nông dân
Chuyển biến cơ bản là nhận thức đúng vai trò của KHCN đối với phát
triển nông nghiệp, từ đó xác định mục tiêu, giải pháp và bước đi phù hợp để
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
kịp thời, có hiệu quả của tổ chức Đảng, chính quyền đối với KHCN phục vụ
nông nghiệp; sự chủ động, tích cực của các cơ quan KHCN, tổ chức khuyến
nông, khuyến lâm, khuyến ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền về tác động
của KHCN đối với nông nghiệp và đời sống, mà trình độ nhận thức, khả năng
tiếp thu, năng lực áp dụng thành tựu KHCN, các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản
xuất nông nghiệp của các chủ thể đã tăng lên rõ rệt. Đối với đa số nông dân,
không chỉ nhận thức, trình độ hiểu biết về KHCN, khả năng tiếp thu, kỹ năng
áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại vào các sản xuất đã
được nâng lên, mà quan trọng hơn là thói quen canh tác của họ đã cơ bản thay
đổi; hơn nữa việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp đã trở thành nhu cầu tất yếu, ngày càng cao của nông dân Đồng Nai.
Từ năm 2010, chương trình nâng cao chất lượng cây ăn trái, rau, quả
VietGap đã được triển khai và chứng nhận trên các đối tượng rau, quả ở tỉnh.
Chương trình này tác động tích cực không chỉ hình thành và phát triển vùng
sản xuất chuyên canh đối với một số cây trồng chủ lực, có thế mạnh theo tiêu
chuẩn VietGAP, mà còn làm thay đổi nhận thức, thói quen canh tác rau, quả
của người dân theo hướng quan tâm nhiều hơn đến lợi ích người tiêu dùng và
bảo vệ môi trường. Từ kết quả thay đổi nhận thức và thói quen canh tác đã
hình thành phương thức canh tác mới, do đó hiệu quả ứng dụng KHCN phục
vụ nông nghiệp ngày càng nâng cao. Ngược lại, từ hiệu quả ứng dụng KHCN
trong sản xuất và đời sống, người nông dân nhận thấy, tự mình phải vươn lên
làm chủ KHCN để nâng cao hơn nữa hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật, hay
56
công nghệ mà họ đã, đang và sẽ áp dụng vào sản xuất. Thực tế cho thấy, đã có
nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại trồng trọt, chăn nuôi tham gia chứng
nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này nói lên rằng, trên cơ sở thay đổi
nhận thức về KHCN và thói quen canh tác, thì ý thức và trách nhiệm xã hội
của người nông dân đã thay đổi. Những thay đổi tích cực này chẳng những
nâng cao hiệu quả KTXH từ việc áp dụng thành tựu và tiến bộ của KHCN,
mà còn góp phần thúc đẩy phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Ngoài ra, đào tạo nghề ở Đồng Nai đã có nhiều tiến bộ, chú trọng đào
tạo theo nhu cầu lao động. Trong đó đã tập trung nâng cao chất lượng đào tạo
nghề cho lao động nông nghiệp. Đến năm 2013 đã đào tạo trên 7.500 lao động
nông thôn, đạt 75% kế hoạch, trong đó 78% lao động sau khi học nghề có
việc làm; đồng thời tỉnh còn tập trung kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh, khắc
phục tồn tại, hạn chế trong dạy nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn. Tỷ
lệ lao động qua đào tạo nghề đến cuối năm 2013 đạt 46,1% [8].
Năm là, tiềm lực KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai đã được
tăng cường đáng kể
Mặc dù tiềm lực kinh tế chưa thật sự mạnh, quy mô nền kinh tế chưa đủ
lớn; vì thế tổng đầu tư xã hội để phát triển KTXH ở mức thấp, đầu tư cho phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp còn khiêm tốn, nhưng tỉnh Đồng Nai đã
xây dựng được nền KHCN cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế,
nhất là phát triển nông nghiệp.
Từ năm 2004, bộ máy quản lý KHCN đã được kiện toàn từ Sở KHCN
đến các huyện, thị xã, thành phố. Nhờ quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước
cũng như cấp ủy, chính quyền tỉnh, Đồng Nai đã đào tạo lực lượng cán bộ
KHCN có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học khá đông đảo. Thực hiện
Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực KHCN, đặc biệt là đào tạo
sau đại học, lũy kế tham gia chương trình đến năm 2011-2012 gồm có 635
57
học viên[6]. Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp cận nhanh, chủ
động, sáng tạo, làm chủ tri thức KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp. Cùng với
sự tăng lên về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực KHCN đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, thì hệ thống các
cơ sở nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục vụ
nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể. Số cơ sở nghiên nghiên cứu, ứng
dụng, chuyển giao, hoạt động dịch vụ KHCN phục vụ nông nghiệp tăng. Từ
không có tổ chức KHCN, đến nay ngoài chi cục tiêu chuẩn đo lường chất
lượng, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN như các tỉnh, thành phố khác của
cả nước, Đồng Nai đã có nhiều tổ chức KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp,
hoặc liên quan đến nông nghiệp, hoạt động như đơn vị sự nghiệp dịch vụ
công ích phục vụ quản lý nhà nước ở tỉnh, bao gồm: Trung tâm ứng dụng
(nông, lâm và thủy sản); các Trung tâm cung cấp dịch vụ KHCN phục vụ
nông nghiệp; Khu nông nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra, tỉnh còn triển khai
một số dự án phát triển tiềm lực KHCN: đầu tư nhà làm việc tại thành phố Hồ
Chí Minh để mở Văn phòng đại diện “vừa sử dụng cho hoạt động KHCN của
tỉnh, vừa thu hút nguồn nhân lực KHCN tại thành phố Hồ Chí Minh làm việc
cho Đồng Nai”[22]; Dự án xây dựng Trung tâm đo kiểm; Dự án xây dựng trụ
sở Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN; Dự án xây dựng và nhân rộng mô
hình cung cấp thông tin KHCN phục vụ phát triển KTXH ở các huyện; Hệ
thống mạng thông tin phục vụ quản lý nhà nước về KHCN từ Sở KHCN đến
Ban tuyên giáo tỉnh ủy và các phòng Kinh tế/Kinh tế hạ tầng các huyện, thị
xã, thành phố; Dự án Trung tâm công nghệ sinh học; Dự án Nhà chứa thiết bị
kiểm tra không phá hủy. Các dự án này đã góp phần phát triển tiềm lực
KHCN của tỉnh. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu; vật chất, trang thiết bị cho
nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và dịch vụ KHCN khác phục vụ nông
nghiệp ở Đồng Nai đã có sự đầu tư phát triển. Các tổ chức KHCN ngày càng
58
được củng cố và lớn mạnh, trong 5 năm gần đây, bình quân mỗi năm tỉnh Đồng
Nai thực hiện hàng trăm nhiệm vụ KHCN; trong đó có nhiều nhiệm vụ trực tiếp
phục vụ sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn 2006-2010, ngoài tổ chức các lớp tập
huấn quản lý và chuyển giao công nghệ; hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng tiên tiến; thẩm định hợp đồng chuyển giao công nghệ; tỉnh Đồng Nai triển
khai 132 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong đó có 4
dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi [6] phục vụ sản xuất nông nghiệp
trên địa bàn các huyện Trảng Bom, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu. Các nhiệm vụ KHCN
phục vụ nông nghiệp đã bám sát nhu cầu thực tiễn, phát huy thế mạnh, tiềm năng
của các vùng miền trên địa bàn tỉnh, đáp ứng thiết thực các mục tiêu phát triển
KTXH, hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời góp phần cải thiện đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội của nhân dân tỉnh Đồng Nai nói chung, nông dân nói riêng.
2.2.2. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh thành tựu đạt được, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
còn tồn tại không ít hạn chế, bất cập. Đó là:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ vào sản
xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, trong khi nhu cầu sử dụng kết quả KHCN vào
sản xuất nông nghiệp lớn. Trong thực tế KHCN phục vụ nông nghiệp đã có
đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển nông nghiệp của tỉnh, song quy
mô còn nhỏ lẻ, cả về lao động và diện tích đất đai sử dụng, chủ yếu quy mô
hộ gia đình và các trang trại sử dụng ít lao động. Hơn nữa, tuy Đồng Nai đã
có mô hình nông nghiệp công nghệ cao, song quy mô còn nhỏ, số lượng chưa
nhiều, trong khi nhu cầu sản xuất nông nghiệp cần ứng dụng KHCN rất cao.
Đây là trở ngại lớn trong việc phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp để phát
triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
59
Thứ hai, hạ tầng KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai còn bất cập
Có thể nói, không chỉ ở Đồng Nai, mà nhiều địa phương khác, hạ tầng
KHCN có nhiều yếu kém, bất cập; hạ tầng KHCN phục vụ nông nghiệp càng
yếu kém hơn. Ngoài lý do tài chính, có nhiều khó khăn khác chi phối. Thực tế
cho thấy, nguồn lực đầu tư cho hạ tầng KHCN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
vốn đầu tư phát triển KHCN. Mặt khác, vì bí quyết công nghệ của mỗi quốc
gia mà phát triển hạ tầng KHCN là một lĩnh vực đầu tư khó thực hiện, do liên
quan đến tính đồng bộ, tính hiện đại của máy móc, thiết bị phòng thí nghiệm
cho hoạt động KHCN, nhất là KHCN phục vụ nông nghiệp (công nghệ sinh
học; công nghệ lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; công nghiệp chế biến nông
sản, sản xuất thức ăn chăn nuôi…), nên không phải cứ có tiềm lực kinh tế
mạnh, hay nhiều tiền là có thể mua sắm được. Đó là khó khăn không dễ vượt
qua để có hệ thống hạ tầng KHCN hiện đại. Tỉnh Đồng Nai cũng vậy, mặc dù
đã ưu tiên, và trên thực tế đã đạt được kết quả nhất định, song “lĩnh vực
KHCN của tỉnh phát triển còn một số hạn chế, cơ sở hạ tầng KHCN đã được
quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn yếu, nhất là trong nghiên cứu, ứng dụng công
nghệ cao. Quá trình đổi mới công nghệ ở nhiều doanh nghiệp còn chậm so với
yêu cầu nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, một số doanh
nghiệp hiện vẫn còn đang sử dụng các công nghệ lạc hậu so với thế giới”[6;
tr.34]. Đó là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Thứ ba, chuyển giao thành tựu KHCN để ứng dụng vào nông nghiệp
còn chậm. Ngoài sự giữ chậm thường xảy ra giữa hoạt động nghiên cứu và
chuyển giao, còn có nguyên nhân khác là sự bất cập của cơ chế quản lý, cơ
chế hoạt động KHCN. Thực tế hoạt động KHCN ở Đồng Nai cho thấy, từ khi
triển khai Nghị quyết Trung ương Bảy khóa X về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn, hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển khá mạnh, bằng
việc triển khai một số dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn
60
2008-2013 và hàng chục đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh phục vụ nông nghiệp;
trong đó, kết quả của nhiều tài, dự án đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên do bất cập của cơ chế và chính sách KHCN, nhất là chính
sách chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp thiếu đồng bộ, thống
nhất nên thời gian chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất và đời
sống kéo dài. Vì thế việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
mới vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai rất chậm.
Thứ tư, nguồn lực đầu tư cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
chưa thỏa đáng. Thực tế phát triển KHCN nói chung, phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp ở Đồng Nai cho thấy, để đầu tư cho KHCN cần phải có tiềm
lực kinh tế mạnh, nhất là tiềm lực tài chính. Đầu tư cho KHCN không chỉ là
đầu tư cho phát triển bền vững, mà còn là lĩnh vực đầu tư có thể thu lợi nhuận
cao; song đầu tư cho lĩnh vực này, nhất là đầu tư phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp luôn chứa dựng nhiều rủi ro khó lường, thu hồi vốn chậm, thậm
chí khó thu hồi vốn; một mặt, bởi nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất phụ
thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nên rủi ro rất cao; mặt khác, tuy nội dung
KHCN phục vụ nông nghiệp rất hẹp, nhưng có yêu cầu cao về cơ sở hạ tầng
khoa học, nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật. Vì lý do này mà các thành phần kinh
tế ngoài nhà nước ít chú trọng đầu tư vào lĩnh vực này. Vì vậy, nhà nước sẽ là
chủ thể chính trong đầu tư phát triển KHCN; nghĩa là vốn đầu tư phát triển
KHCN sẽ chủ yếu từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên nguồn vốn này có hạn
khi trình độ nền kinh tế Đồng Nai thấp, quy mô còn nhỏ, tiềm lực kinh tế
chưa đủ mạnh, nên khả năng đáp ứng nguồn lực phát triển KHCN nói chung,
KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng còn hạn chế. Hơn nữa, chi phí đầu tư
cao, hiệu quả thấp; chưa có cơ chế, chính sách thích hợp để khuyến khích các
tổ chức, cá nhân tham gia; đặc biệt là huy động tiềm năng và nguồn lực, nhất
là nguồn lực đất đai của tỉnh cho phát triển KHCN. Với điều kiện về nguồn
61
lực đầu tư như vậy thì phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai
theo hướng “Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được
ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất”[12] là một việc không dễ
dàng không chỉ hiện nay, mà cả những năm tiếp theo.
2.2.3. Nguyên nhân
Thành tựu và những hạn chế, yếu kém trong phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân
khách quan và nguyên nhân chủ quan. Những nguyên nhân đó là:
* Nguyên nhân thành tựu
Thứ nhất, công tác quản lý KHCN thường xuyên đổi mới, đã góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai
Do thường xuyên đổi mới theo hướng từng bước hoàn thiện và phù hợp
với thực tiễn mà hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp ngày càng hiệu quả.
Trong công tác quản lý, ngoài việc quán triệt chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước về KHCN nói chung, KHCN phục vụ nông nghiệp cũng như
chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển nông nghiệp nói riêng, cấp ủy
và chính quyền các cấp ở Đồng Nai còn triển khai các chương trình KHCN
phục vụ phát triển KTXH, trong đó nhiệm vụ KHCN phục vụ nông nghiệp là
nội dung đầu tư ưu tiên. Nhờ thường xuyên đổi mới, hoàn thiện công tác quản
lý hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ theo hướng tăng
cường ứng dụng thực tế sản xuất nông nghiệp, mà Đồng Nai có nhiều đề tài,
dự án khoa học, phát triển công nghệ được ứng dụng trong nông nghiệp mang
lại hiệu quả cao. Thành tựu phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai cho thấy,
nhờ thường xuyên đổi mới công tác quản lý KHCN phục vụ nông nghiệp mà
việc chuyển giao, áp dụng kết quả các đề tài KHCN thuộc lĩnh vực nông
nghiệp vào thực tế sản xuất nông nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả đầu
tư, nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng thu nhập cho
người lao động ở khu vực nông thôn tỉnh Đồng Nai.
62
Thứ hai, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai là
lĩnh vực trọng tâm, được ưu tiên đầu tư nguồn lực
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là thời kỳ Đồng Nai đẩy nhanh tiến
trình CNH,HĐH so với cả nước, thì phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
luôn đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển, là một trong không ít lĩnh vực ưu
tiên đầu tư trong các chủ trương, chính sách phát triển KT-XH của tỉnh Đồng
Nai. Từ chủ trương, chính sách phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp như
vậy, nên trong chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH ở các cấp độ của tỉnh,
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp luôn được coi trọng như một nội dung
cơ bản. Sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành
ở tỉnh Đồng Nai là cơ sở để thu hút, phân bổ nguồn lực cho đầu tư phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp. Nhờ đó, trong nhiều năm qua, ngân sách nhà
nước được sử dụng một phần đáng kể cho phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp. Tuy tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
không lớn trong tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển KT-XH cũng như một số
lĩnh vực khác, nhưng với mức đầu tư tăng dần hàng năm cho thấy sự quan
tâm ưu tiên đầu tư nguồn lực cho KHCN phục vụ nông nghiệp.
Thứ ba, kinh tế Đồng Nai tăng trưởng cao, liên tục nhiều năm, đã góp
phần nâng cao thực lực và tích lũy của nền kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho
đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
Thực hiện Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Đồng Nai
thời kỳ đến năm 2020, từ năm 2011 đến nay KT-XH của tỉnh đã đã có bước
phát triển cơ bản, khá toàn diện. So với nhiều địa phương trong cả nước, mặc
dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu, song tình hình phát triển KT-XH ở Đồng Nai vẫn duy trì ổn định, tăng
trưởng kinh tế với tốc độ cao, liên tục trong thời gian dài. Năm 2010, qui mô
GDP đạt 75.899 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,6% và đứng thứ 3/6 địa phương ở
Đông Nam Bộ. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng đạt 13,4%; năm 2012 đạt 12%.
63
GDP theo giá thực tế, năm 2011 đạt 98.759 tỷ đồng; năm 2012 đạt 114.853 tỷ
đồng. GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 37,15 triệu đồng (1.849 USD);
năm 2012 đạt 42,2 triệu đồng (2.010 USD). Nếu tính tốc độ tăng trưởng kinh
tế theo giá năm 2010 thì tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 13,05%, năm 2012
đạt 12,05%. Năm 2013, tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) tăng 11,5%; “GRDP
bình quân đầu người năm 2013 đạt 48,7 triệu đồng, tương đương 2.318
USD”[22]. Từ số liệu trên cho thấy, thực lực của nền kinh tế tăng lên không
ngừng. Tuy quy mô nền kinh tế không lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng cao, ổn
định, nên khả năng tiết kiệm và đầu tư từ tiềm lực của kinh tế Đồng Nai đã
tăng lên đáng kể so với nhiều địa phương khác. Đó là điều kiện cơ bản không
chỉ để Đồng Nai bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH toàn diện, hướng đến
trở thành tỉnh cơ bản CNH,HĐH vào năm 2015, mà còn tạo điều kiện thuận
lợi để đẩy mạnh đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp của tỉnh.
* Nguyên nhân hạn chế
Thứ nhất, không ít chủ thể trong hệ thống chính trị chưa nhận thức đầy
đủ về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp
Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Đồng Nai
về vai trò, nhiệm vụ phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp còn hạn chế, bất
cập. Đặc biệt, còn có một số ít cấp ủy, chính quyền các cấp ở Đồng Nai nhận
thức chưa đầy đủ, sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp, chưa coi phát triển KHCN là nhiệm vụ trọng tâm.
Nguyên nhân này có tác động không tốt đối với quá trình phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp, bởi đó là nguyên nhân bắt nguồn từ nhận thức. Hậu quả
là, chẳng những thiếu quan tâm chỉ đạo, điều hành, thâm chí chờ đợi, ỷ lại,
mà phân cấp trách nhiệm quản lý giữa các Sở, Ngành của tỉnh còn chưa rõ
ràng, tách bạch cụ thể. Theo đó, hiện còn tồn tại tư duy, nhận thức cho rằng,
phát triển KHCN là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước
bảo đảm; do đó không chủ động huy động các nguồn lực từ các thành phần
kinh tế và trong nhân dân cùng tham gia phát triển KHCN phục vụ nông
64
nghiệp. Bên cạnh đó, còn tồn tại quan niệm cho rằng, chỉ các sản phẩm của
nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu triển khai mới là sản phẩm nghiên cứu
khoa học; các sản phẩm từ nghiên cứu sản xuất, dù có tính khoa học, phù hợp
thực tiễn nhưng do doanh nghiệp thực hiện (có tính hàng hoá, tính xã hội) là
sáng kiến cải tiến kỹ thuật không phải là sản phẩm nghiên cứu khoa học. Do
vậy, không tạo ra động lực cho các nghiên cứu sản xuất phát triển, ảnh hưởng
đến trình độ phát triển KHCN nói chung, KHCN phục vụ nông nghiệp nói
riêng.
Thứ hai, cơ sở pháp lý, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, chính sách
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp chưa phù hợp, chậm đổi mới
Bắt nguồn từ nguyên nhân tư duy, nhận thức, nên chưa có cơ chế quản
lý cũng như các chính sách phù hợp; hay cơ chế, chính sách hiện hành chưa
đủ sức hấp dẫn để thu hút nhiều nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong và
ngoài tỉnh, hoặc đối tác nước ngoài tham gia đầu tư phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp. Nhìn chung, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động và các chính sách
về phát triển KHCN ở Đồng Nai hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
KHCN nói chung, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng. KHCN
phục vụ nông nghiệp là chuyên ngành khoa học gắn với đặc thù của kinh tế
nông nghiệp nên phạm vi rất hẹp, mang tính chuyên sâu, tính rủi ro cao. Mặc
dù vậy, không chỉ Đồng Nai, mà nhiều địa phương khác của nước ta chưa có
cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì vậy,
chưa tạo được cơ chế và môi trường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư ngoài khu
vực nhà nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực này; theo đó là thị trường KHCN
phục vụ nông nghiệp chậm phát triển, còn sơ khai, chưa đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của thị trường sử dụng, ứng dụng thành tựu KHCN để phát
triển nông nghiệp ở đất nước hiện nay. Đồng Nai chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro
cũng như chính sách phù hợp để tạo môi trường hấp dẫn thu hút các tổ chức
KHCN trong và ngoài nước tham gia phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
65
Cơ chế huy động và phân bổ vốn cho các đề tài, dự án phát triển KHCN còn
bất cập, thường chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng vốn đầu tư xã hội.
Thứ ba, sự phối hợp giữa các Sở, Ngành trong phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp ở Đồng Nai thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ
Có nguyên nhân này một phần do hạn chế của nhận thức mà phân cấp
trách nhiệm quản lý giữa các Sở, Ngành của tỉnh chưa rõ ràng, cụ thể, nhất là
các Sở là cơ quan giúp tỉnh quản lý nhà nước đối với Ngành nông nghiệp,
Ngành KHCN. Mặt khác, do hạn chế về năng lực quản lý và tham mưu của
các cơ quan quản lý các ngành này; trong đó cơ quan quản lý ngành nông
nghiệp Đồng Nai chưa làm tốt vai trò chủ trì phối hợp với các ngành, địa
phương để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp. Sở dĩ đặt vấn đề như vậy là vì Đồng Nai cũng như các địa phương
trong cả nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, dưới tác động của kinh
tế tri thức, KHCN phát triển nhanh với nhiều đột biến. Trong bối cảnh đó,
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp theo hướng không ngừng sáng tạo và
áp dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất là hướng đi tất yếu để
xây dựng nền nông nghiệp có trình độ hiện đại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
lương thực, thực phẩm ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và vệ sinh,
an toàn thực phẩm. Vì vậy, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là việc làm
cấp thiết; đồng thời là động lực phát triển ở Đồng Nai. Tuy nhiên, làm thế nào
để KHCN phục vụ nông nghiệp có thể phát triển lại phụ thuộc vào nỗ lực của
các cơ quan có chức năng quản lý nông nghiệp, KHCN của tỉnh. KHCN phục
vụ nông nghiệp là nhu cầu của ngành nông nghiệp; theo đó cơ quan quản lý
ngành nông nghiệp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, địa
phương, trong đó có Sở Khoa học và Công nghệ, các tổ chức KHCN của tỉnh
xây dựng chương trình, đề tài, dự án cụ thể mang tính khoa học và thực tiễn
để xác định giải pháp cụ thể về quy hoạch, tổ chức lại sản xuất, chuyển giao
công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề cho nông dân,
nguồn vốn đầu tư, lộ trình thực hiện. KHCN phục vụ nông nghiệp chưa nhận
66
được sự quan tâm của ngành nông nghiệp, các địa phương và người nông dân
với tư cách là người đặt hàng để xác định nội dung cần nghiên cứu. Đa số các
đề tài, dự án đều do các cơ quan quản lý đề xuất đã dẫn đến tình trạng các
nghiên cứu không sai nhưng không phù hợp, không sát thực tiễn, do đó nhiều
kết quả nghiên cứu khó ứng dụng vào phát triển sản xuất nông nghiệp.
Thứ tư, quy mô nền kinh tế nhỏ, tiềm lực kinh tế chưa đủ mạnh nên khả
năng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển KHCN rất hạn chế
Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ
được ưu tiên đầu tư, nhưng do quy mô của nền kinh tế Đồng Nai nhỏ, tiềm
lực kinh tế chưa đủ mạnh nên khả năng huy động nguồn lực từ khu vực kinh
tế nhà nước để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển lĩnh vực khoa học này
rất hạn chế, trong khi nhu cầu vốn đầu tư phát triển KHCN cao nên không
hiệu quả. Thực tế phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở nước ta cũng như
ở Đồng Nai cho thấy, chi phí đầu tư phát triển KHCN nói chung, KHCN phục
vụ nông nghiệp nói riêng rất lớn. Mặc dù Đồng Nai là tỉnh có tốc độ tăng
trưởng cao, liên tục trong nhiều năm, song do quy mô nền kinh tế nhỏ, nên
quy mô GDP không lớn, theo đó là khả năng tiết kiệm, tích lũy từ nội bộ nền
kinh tế của tỉnh sẽ không nhiều. Hơn nữa, mấy năm qua do ảnh hưởng khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế mà Đồng Nai có “mức tăng trưởng GRDP
giảm dần qua các năm”[46]; nguồn thu ngân sách rất khó khăn, ảnh hưởng
đến sự tích lũy cho phát triển và đáp ứng nhu cầu bảo đảm tổng vốn đầu tư
phát triển xã hội của tỉnh. Vì tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm, kéo theo
vốn đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp đã ít, lại tiếp tục bị cắt
giảm trong những năm vừa qua. Tình trạng này không chỉ đối với KHCN ở
Đồng Nai, mà tất cả các lĩnh vực ở nước ta.
2.2.4. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển khoa học công
nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
Thứ nhất, nhận thức của các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị
Đồng Nai về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ nông
67
nghiệp còn hạn chế, chưa thống nhất. Đây là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa quyết
định đến sự phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Sớm giải quyết vấn đề
này sẽ góp phần thống nhất nhận thức và hành động của các chủ thể về phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp, theo đó KHCN phục vụ nông nghiệp ở
tỉnh Đồng Nai sẽ phát triển tốt hơn trong thời gian tới.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa tính tất yếu phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp với những bất cập của cơ chế, chính sách hiện hành về phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp. Mâu thuẫn này đang là yếu tố không chỉ cản trở
sự phát triển của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai, mà còn hạn
chế hiệu quả của hoạt động này. Vì vậy, để phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp ở Đồng Nai với ý nghĩa động lực, tạo tiền đề để nông nghiệp phát triển
bền vững cần khắc phục mâu thuẫn này.
Thứ ba, mâu thuẫn giữa khả năng hạn chế của nền kinh tế với nhu cầu
nguồn lực đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Để phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp đòi hỏi tỉnh phải có nguồn lực lớn, trong khi khả
năng đáp ứng vốn từ ngân sách có hạn, vì tiềm lực kinh tế Đồng Nai còn hạn
chế, tổng thu ngân sách không nhiều, nên không đủ nguồn vốn đầu tư phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Hiện tại, nguồn lực đầu tư cho phát triển
KHCN ở tỉnh Đồng Nai nói chung đã ít, thì nguồn lực đầu tư cho phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp càng ít hơn. Chính sự tồn tại của mâu thuẫn này
mà hạ tầng KHCN ở tỉnh Đồng Nai đang rất bất cập.
Thứ tư, thị trường KHCN phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu
tư vấn, chuyển giao công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Mâu thuẫn này nảy sinh như một tất yếu
của sự phát triển ở tỉnh Đồng Nai. Đây là kết quả thay đổi nhận thức của
người nông dân nhờ sự phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Từ mẫu thuẫn
cho thấy, để thỏa mãn nhu cầu tư vấn, chuyển giao công nghệ và ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; một mặt, cần đẩy mạnh xã hội hóa
68
các hoạt động KHCN; mặt khác, đẩy mạnh phát triển thị trường KHCN, hỗ
trợ hoạt động đổi mới công nghệ sản xuất nông nghiệp.
Thứ năm, mâu thuẫn giữa nhu cầu ứng dụng thành tựu KHCN để phát
triển sản xuất nông nghiệp ngày càng cao với trình độ còn hạn chế của nguồn
nhân lực nông nghiệp. Đây là mâu thuẫn không chỉ đối với nguồn nhân lực ở
tỉnh Đồng Nai mà là tình trạng chung của nguồn nhân lực nông nghiệp nước
ta. Chính mâu thuẫn này đã làm hạn chế hiệu quả ứng dụng thành tựu KHCN
vào sản xuất nông nghiệp. Đó là kết quả tất yếu nảy sinh từ yêu cầu phát triển
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai do tác động của KHCN đối với nông nghiệp. Để
giải quyết mẫu thuẫn này cần tiến hành đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
nông nghiệp nhằm nâng cao trình độ nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt
hơn yêu cầu ứng dụng thành tựu KHCN phục vụ nông nghiệp.
* *
*
KHCN phục vụ nông nghiệp đã có nhiều đóng góp vào thành tựu phát
triển nông nghiệp Đồng Nai. Tuy nhiên, so với mục tiêu, KHCN phát triển
chưa đúng với ý nghĩa là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững, chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế và sự đầu tư của tỉnh. Vì thế, KHCN chưa
trở thành động lực phát triển nông nghiệp, nên chưa khắc phục được tình
trạng lạc hậu của nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Tình trạng này do nhiều
nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do các cấp quản lý chậm đổi mới, chưa nhận
thức đúng vai trò KHCN đối với nông nghiệp. Môi trường chưa thuận lợi cho
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; nguồn lực đầu tư còn hạn chế; cơ chế
quản lý chưa theo kịp sự phát triển của KHCN; cơ chế tài chính chưa phù hợp
với đặc thù của KHCN phục vụ nông nghiệp; chưa có chính sách sử dụng và
đãi ngộ thỏa đáng đội ngũ cán bộ KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp. Những
vấn đề trên đã và đang cản trở sự phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở
tỉnh Đồng Nai cần có giải pháp phù hợp.
69
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI
3.1. Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông
nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
3.1.1. Phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực phát
triển bền vững nông nghiệp tỉnh Đồng Nai
Mục tiêu của CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
của nông sản; theo đó từng bước nâng cao thu nhập cho người sản xuất, kinh
doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, thực chất của phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp là thực hiện mục tiêu CNH,HĐH nông nghiệp. Theo đó,
KHCN phải đóng vai trò chủ đạo nhằm tạo cho được bước phát triển đột phá
về LLSX để hiện đại hóa nông nghiệp, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế
nông nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, góp phần đẩy nhanh
CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng như CNH,HĐH tỉnh Đồng Nai. Đặc
biệt, khi Đồng Nai thực hiện chủ trương “phát triển nông nghiệp theo hướng
nâng cao thu nhập cho người nông dân và thực hiện có hiệu quả chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”[46] thì vai trò nền tảng và
động lực then chốt để CNH,HĐH nông nghiệp càng quan trọng. Vì vậy, đây
chính là quan điểm cơ bản, định hướng cho quá trình phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Chỉ
khi quan điểm này được các chủ thể, các lực lượng trong hệ thống chính trị
tỉnh Đồng Nai quán triệt sâu sắc thì vai trò nền tảng và động lực then chốt của
KHCN đối với quá trình CNH,HĐH nông nghiệp sẽ được phát huy; không
như vậy thì kết quả sẽ ngược lại. Với quan điểm này, đẩy mạnh tuyên truyền
nâng cao nhận thức về vai trò của KHCN là khâu then chốt; theo đó đẩy mạnh
70
truyền thông sâu rộng trong xã hội, đặc biệt là trong các doanh nghiệp về chủ
trương, chính sách, pháp luật về KHCN, về vai trò động lực của KHCN đối
với phát triển nông nghiệp nhằm nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, sự đồng
thuận và ủng hộ mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị đối với phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp; tạo không khí sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng KHCN
trong nông nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham
gia phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
3.1.2. Phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích
sáng tạo khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trước hết cần phát triển thị
trường KHCN. Thị trường KHCN cũng như thị trường KHCN phục vụ nông
nghiệp bước đầu đã được hình thành, tuy nhiên chưa có định hướng rõ ràng
và chưa có cơ chế hỗ trợ để thúc đẩy thị trường này phát triển. Các dịch vụ
trao đổi thông tin, liên kết giữa nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất còn lỏng lẻo. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với các kết quả nghiên
cứu, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp chưa có tác dụng, dẫn đến tình
trạng kết quả nghiên cứu chậm hoặc không được ứng dụng. Để phát triển thị
trường KHCN phục vụ nông nghiệp cần thông qua tổ chức các hội chợ, triển
lãm KHCN, thương mại hóa và chuyển giao sản phẩm KHCN, nhất là sản
phẩm công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp. Đẩy mạnh phát triển thị
trường công nghệ và thiết bị; hình thành các tổ chức tư vấn công nghệ, giao
dịch công nghệ, chợ công nghệ và thiết bị tạo điều kiện thuận lợi thực hiện
các giao dịch mua bán công nghệ phục vụ nông nghiệp. Thương mại hóa sản
phẩm KHCN thông qua tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị trên địa bàn
tỉnh, tham gia chợ công nghệ và thiết bị trong nước, khu vực và quốc tế.
Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại, nhằm thu
hút các nhà đầu tư có tiềm năng và theo đúng định hướng ưu tiên thu hút đầu
71
tư của tỉnh; tìm kiếm mở rộng thị trường KHCN phục vụ nông nghiệp. Phối
hợp chặt chẽ với các tổ chức xúc tiến thương mại của các bộ, ngành Trung
ương, các hiệp hội ngành nghề, đặc biệt là Cục xúc tiến thương mại của Bộ
Công thương và các cơ quan thương mại Việt Nam ở nước ngoài để đưa hoạt
động xúc tiến thương mại của tỉnh có trọng tâm, trọng điểm, có chất lượng,
hiệu quả. Trong đó chú trọng dự báo, phân tích thị trường và cung cấp thông
tin KHCN nói chung, thị trường KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng; tổ
chức xúc tiến thương mại KHCN tại các địa bàn trọng điểm, thị trường trọng
điểm, thị tường KHCN tiềm năng nhằm hỗ trợ hiệu quả cho nông dân và
doanh nghiệp nông nghiệp ở Đồng Nai. Đồng thời với việc kiểm soát chặt chẽ
việc nhập khẩu đối với các sản phẩm công nghệ mới, công nghệ tiên tiến và
thiết bị hiện đại phục vụ nông nghiệp; không nhập khẩu các sản phẩm KHCN
trong nước cũng như tỉnh Đồng Nai đã nghiên cứu và sản xuất được.
Các tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án tạo ra sản phẩm KHCN bằng
100% kinh phí từ ngân sách nhà nước hoặc một phần kinh phí từ ngân sách
nhà nước được đăng ký bản quyền tác giả, công bố kết quả theo quy định của
pháp luật; được quyền sử dụng kết quả để chuyển giao, chuyển nhượng, góp
vốn vào sản xuất kinh doanh và được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp
luật. Các sản phẩm KHCN, phát minh, sáng chế phục vụ nông nghiệp do các
tổ chức, cá nhân tạo ra bằng kinh phí ngoài ngân sách nhà nước, nếu có khả
năng ứng dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả, nâng cao năng suất, chất lượng
sản xuất nông nghiệp được nhà nước mua lại để chuyển giao cho sản xuất. Tổ
chức tốt công tác thông tin KHCN.
Chủ động tham gia đề xuất các kiến nghị, góp phần cùng các bộ, ban,
ngành Trung ương hoàn thiện khung pháp lý phát triển thị trường KHCN
nhằm xây dựng đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ các tổ
chức nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN vào nông nghiệp và nâng cao
72
năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nông nghiệp. Xây dựng và đưa vào
thực hiện các chính sách hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp về quản lý công nghệ,
nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp với các
cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Phát triển các dịch vụ tư vấn KHCN cho doanh nghiệp và nông dân
bằng nhiều hình thức như: mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng; phát hành các ấn
phẩm hướng dẫn; thông qua hệ thống thông tin đại chúng. Khuyến khích các
hoạt động liên doanh, liên kết giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong lĩnh
vực nông nghiệp với các tổ chức khoa học, các chuyên gia, các nhà khoa học
thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn. Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ứng
dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp. Tổ chức định kỳ hội
chợ nông nghiệp, hội chợ làng nghề, công nghệ để phổ biến, giới thiệu sản
phẩm KHCN phục vụ nông nghiệp.
Phát huy vai trò của các tổ chức KHCN trong việc nghiên cứu những
vấn đề bức xúc, cấp bách của nông nghiệp Đồng Nai như: vấn đề phát triển
nông nghiệp bền vững, phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với nông
nghiệp sinh thái, các tiêu chí của mô hình xây dựng nông thôn mới, phát triển
doanh nghiệp nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong lĩnh vực nông
nghiệp. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế động viên, tôn vinh tài năng trong nghiên
cứu KHCN; hoàn thiện chính sách bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ và sử
dụng hợp lý nguồn nhân lực KHCN trong nông nghiệp.
3.1.3. Đẩy mạnh phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ
nông nghiệp, trong đó ưu tiên nguồn nhân lực và nghiên cứu ứng dụng
Tiềm lực KHCN là yếu tố quyết định phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp. Để phát huy vai trò then chốt và động lực của KHCN trong lĩnh vực
nông nghiệp, thì KHCN cần phát triển theo hướng “Nâng cao tiềm lực KHCN
gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn [32]. Tập trung đầu tư phát
73
triển cơ sở vật chất của các tổ chức KHCN phục vụ nông nghiệp một cách
đồng bộ phục vụ cho nghiên cứu khoa học, trình diễn và chuyển giao công
nghệ, tiến bộ kỹ thuật cho nông nghiệp. Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho các
tổ chức KHCN nghiên cứu, chuyển giao các sản phẩm chủ lực, sản phẩm có
tiềm năng phát triển, công nghệ cao để tạo ra đột phá trong tăng trưởng kinh
tế. Phấn đấu đến năm 2020, Đồng Nai có “trên 60% tổ chức KHCN công lập
có cơ sở vật chất và nguồn nhân lực ngang tầm khu vực, trong đó một số lĩnh
vực đạt trình độ tiên tiến của thế giới”[14]. Tập trung đầu tư phát triển các tổ
chức KHCN nòng cốt trong nông nghiệp; liên kết các tổ chức KHCN cùng
tính chất, lĩnh vực, hoặc liên ngành ở tỉnh; hình thành các nhóm nghiên cứu
mạnh đủ năng lực giải quyết những nhiệm vụ trọng điểm trong phát triển
nông nghiệp tỉnh. Phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng trong các
trường đại học, cơ quan nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các khu công nghệ cao, khu
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Trung tâm thông tin KHCN, Trung tâm
ứng dụng tiến bộ KHCN, Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng
ở tỉnh Đồng Nai. Phát triển hệ thống các tổ chức dịch vụ chuyển giao công
nghệ, các chợ công nghệ và thiết bị. Tổ chức triển lãm giới thiệu các thành
tựu đổi mới và sáng tạo KHCN phục vụ nông nghiệp.
Trên cơ sở bám sát thực tế sản xuất của nông dân, các doanh nghiệp
nông nghiệp và nhu cầu của thị trường, chiến lược và các chương trình phát
triển KTXH và ngành nông nghiệp tỉnh xác định đúng nhiệm vụ KHCN phục
vụ nông nghiệp. Ưu tiên xác định nhiệm vụ KHCN phục vụ nông nghiệp trên
cơ sở đặt hàng của cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Đồng Nai và các nhiệm vụ
có sự tham gia của doanh nghiệp hoặc liên kết với tổ chức KHCN quốc tế.
Yêu cầu bắt buộc mọi nhiệm vụ KHCN phục vụ nông nghiệp phải có sản
phẩm và địa chỉ ứng dụng cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
74
Tiếp tục tạo bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là kỹ
thuật cao và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ KHCN phục vụ nông nghiệp,
nhất là ở cấp phường xã, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp của tỉnh. Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học
và nhân viên kỹ thuật theo hướng chuyên sâu, đảm bảo mỗi lĩnh vực đều có
cán bộ đầu đàn, có tỷ lệ hợp lý cán bộ có trình độ sau đại học ở các tổ chức
KHCN. Tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật và khuyến nông theo hướng chuyên ngành kết hợp với đa lĩnh
vực, chú trọng tập huấn nghiệp vụ quản lý kinh tế, kỹ năng tổ chức, phương
pháp khuyến nông; bảo đảm 100% cán bộ khuyến nông của tỉnh được đào tạo
về kỹ năng khuyến nông, tập huấn về các công nghệ, tiến bộ kỹ thuật mới.
Ban hành chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KHCN phục vụ
nông nghiệp, trong đó quy định rõ cơ chế tự chủ tài chính đặc thù, chế độ đãi
ngộ thỏa đáng đối với cán bộ KHCN được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ
KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Có chính sách thu hút các nhà
khoa học người Việt Nam ở nước ngoài và nhà khoa học người nước ngoài
tham gia các hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp tỉnh. Xây dựng các
chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ quản lý KHCN
các cấp. Triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo chuyên gia KHCN trong các
định hướng, lĩnh vực KHCN ưu tiên.
3.1.4. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về khoa học và công
nghệ, tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức khoa học và công nghệ
phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
“Hội nhập quốc tế về KHCN là mục tiêu đồng thời là giải pháp quan
trọng để góp phần đưa KHCN Việt Nam sớm đạt trình độ quốc tế. Hội nhập
quốc tế về KHCN phải được thực hiện tích cực, chủ động, sáng tạo, bảo đảm
độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi”[13]. Đối với
75
Đồng Nai, mục đích hội nhập quốc tế về KHCN là nhằm tiếp thu và ứng dụng
có hiệu quả tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của thế giới, khu vực và trong nước
phục vụ nông nghiệp; đồng thời hợp tác chuyển giao các kết quả KHCN phục
vụ nông nghiệp cho các địa phương trong nước và các nước có nhu cầu; tạo
môi trường thuận lợi cho các tổ chức KHCN thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
Chủ động, tích cực ký kết chương trình, kế hoạch hợp tác về KHCN
với các địa phương trong nước, với một số nước và tổ chức quốc tế khu vực
và thế giới, bao gồm: tài trợ không hoàn lại, hỗ trợ phát triển, liên kết nghiên
cứu, ứng dụng KHCN theo hình thức hai bên cùng có lợi, đào tạo nhân lực,
trao đổi thông tin… Đẩy mạnh hợp tác về KHCN với các nước có điều kiện
tiếp thu thành tựu KHCN nông nghiệp mà Đồng Nai có thế mạnh.
Tạo điều kiện cho các tổ chức KHCN, các nhà khoa học nông nghiệp
tỉnh Đồng Nai tìm kiếm đối tác, hợp tác với các tổ chức KHCN trong nước,
các tổ chức KHCN khu vực cũng như tổ chức KHCN quốc tế, tạo điều kiện
phát triển các tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ có vốn đầu tư
nước ngoài hoặc hợp tác công tư. Khuyến khích hợp tác nghiên cứu và phát
triển công nghệ giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, cá nhân
của tỉnh Đồng Nai với các đối tác trong nước và quốc tế. Thu hút nguồn kinh
phí từ nước ngoài thông qua các dự án nghiên cứu tại tỉnh Đồng Nai.
Tăng cường hợp tác KHCN trong nước và quốc tế, nhất là với các nước
trong khu vực nhằm đẩy mạnh hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp trọng
điểm của tỉnh như: hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sản
xuất nông nghiệp; xây dựng tiềm lực KHCN phục vụ nông nghiệp; tìm kiếm
các công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến, các giống cây trồng, vật nuôi mới phục
vụ phát triển nông nghiệp. Khuyến khích hợp tác khoa học và phát triển công
nghệ giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, cá nhân trong nước
với các đối tác nước ngoài. Thu hút nguồn kinh phí từ nước ngoài thông qua
76
các dự án nghiên cứu tại Việt Nam. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các
chuyên gia, các nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước
ngoài tham gia hoạt động KHCN nông nghiệp của tỉnh, nhất là chương trình,
dự án nghiên cứu, đào tạo nhân lực KHCN, hình thành các nhóm nghiên cứu
mạnh, trong đó chú trọng đến các nhóm nghiên cứu khoa học trẻ. Hoặc thực
hiện chế độ thuê chuyên gia nước ngoài ở những lĩnh vực nghiên cứu công
nghệ cao phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
3.2. Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông
nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
3.2.1. Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của các chủ thể trong
hệ thống chính trị tỉnh Đồng Nai về vai trò và sự cần thiết phải phát triển
khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp
Đề xuất giải pháp này là xuất phát từ hạn chế, bất cập trong nhận thức
của các cấp, các ngành về vai trò, tầm quan trọng phải phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp. Thực tiễn cho thấy, kinh tế nông nghiệp của các nước, ngay
cả các nước phát triển, chủ yếu dựa vào tri thức khoa học nhờ áp dụng thành
tựu tiến bộ của KHCN. Với địa phương có truyền thống sản xuất nông nghiệp
như Đồng Nai, để phát triển và “xây dựng Đồng Nai thành tỉnh cơ bản công
nghiệp hóa - hiện đại hóa vào năm 2015”[13], không thể không chú trọng ưu
tiên phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Mặc dù thành tựu của KHCN
đang xâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực, trở thành LLSX trực tiếp. Có thể
nói, KHCN tác động toàn diện đến mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, mọi ngành,
mọi lĩnh vực xã hội, trong đó có nông nghiệp. Và nông nghiệp tỉnh Đồng Nai
đã và đang chịu những tác động như vậy. Tuy nhiên, cho đến nay, không phải
mọi chủ thể, mọi người dân Đồng Nai, nhất là nông dân đều nhận thức đúng
vai trò “nền tảng và động lực cho phát triển bền vững”[12] của KHCN đối với
nông nghiệp; theo đó là chưa thống nhất nhận thức về sự cần thiết phải phát
77
triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì vậy, để phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp cần tiến hành các biện pháp sau:
Trước hết và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận
của các chủ thể, nhất là nông dân cũng như người sản xuất nông nghiệp, về
vai trò và sự cần thiết phải phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Đây sẽ là
biện pháp quan trọng, quyết định thành công việc phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp ở Đồng Nai. Nếu nhâ ̣n thức không đúng sẽ không hoạch định
đúng chủ trương, chính sách phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; theo đó,
các chủ thể có vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ này sẽ không có định hướng
rõ ràng. Mặt khác, vấn đề không chỉ là nâng cao nhâ ̣n thức, mà còn phải tạo
sự chuyển biến về nhâ ̣n thức và trách nhiệm, để trên cơ sở đó tạo ra sự đồng
thuận cao của toàn xã hô ̣i, của mọi chủ thể trong hệ thống chính trị tỉnh đối
với nhiệm vụ phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì vậy, về bản chất,
thực hiện biện pháp này là làm cho các chủ thể trong hệ thống chính trị Đồng
Nai nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì, nhận thức của các chủ thể về phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp vừa bị giới hạn bởi năng lực tư duy vốn có của
con người, vừa bị ràng buộc bởi sự chậm trễ hoặc không phù hợp của các chủ
trương, chính sách phát triển KTXH phục vụ nông nghiệp trong từng thời kỳ
nên nhận thức thường không theo kịp sự phát triển của KHCN. Không tiếp
tục nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của các chủ thể sẽ không có cơ sở
xã hội để phát triển phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới tư duy, trên cơ sở đó không ngừng nâng cao
nhận thức, trách nhiệm và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị về phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Thành tựu phát triển KTXH trong thời kỳ
đổi mới ở Đồng Nai vừa là kết quả đổi mới tư duy, lại vừa đặt ra yêu cầu mới
cho tiếp tục đổi mới tư duy phát triển KTXH; theo đó là đổi mới tư duy phát
78
triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, sự
thống nhất về tư duy, nhận thức là cơ sở, nền tảng của sự thống nhất hành
động. Để đạt được sự thống nhất về tư duy, nhận thức phải tạo cho được nhận
thức đúng về vai trò của phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Kết quả đó
chỉ có được bằng sự đổi mới và nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của
các chủ thể về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Thứ ba, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục nhằm
nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị tỉnh đối với phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp. Biện pháp này mang tính định hướng, tác
động đến toàn bộ nội dung cơ bản và là cơ sở để phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp. Với biện pháp này cần làm cho mọi chủ thể nhận thức
sâu sắc, đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp. Trong đó cần làm cho các chủ thể thấy rõ, phát triển nông
nghiệp tỉnh Đồng Nai thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, muốn tăng trưởng
không chỉ dựa vào khai thác, sử dụng các tài nguyên có giới hạn là: đất,
nước, số lượng lao động mà phải từ KHCN - yếu tố đặc biệt quan trọng
của LLSX, một nguồn lực có thể coi là vô hạn, KHCN là yếu tố quan
trọng của sản xuất nông sản hàng hóa. Đặc biệt, “Phát triển KHCN
ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn là nền tảng và động lực then
chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của
nền nông nghiệp, góp phần hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, bảo
đảm an ninh lương thực, an sinh xã hội và nâng cao thu nhập cho người
sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp”[14]; do đó cần thống nhất từ
nhận thức về tầm quan trọng đến biện pháp hành động ứng dụng KHCN
vào sản xuất nông nghiệp tỉnh nhà phải được coi trọng, xem đây là
nhiệm vụ hàng đầu, thường xuyên đối với cả hệ thống chính trị, nhất là
nông dân và ngành nông nghiệp.
79
3.2.2. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học là khâu
đột phá trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp
Trong các chuyên ngành KHCN phục vụ nông nghiệp, thì công nghệ
sinh học; công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch; công nghệ môi trường
là các lĩnh vực liên quan trực tiếp, có tác động đến năng suất, chất lượng, hiệu
quả sản xuất nông nghiệp và sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản. Đặc biệt,
công nghệ sinh học có tác động trực tiếp cả từ khâu tạo giống cây trồng, vật
nuôi, cả ở khâu sản xuất thức ăn, phân bón đến quá trình chăm sóc, chế biến,
bảo quản nông sản sau thu hoạch. Công nghệ sinh học đã và đang tiếp tục
được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng ở nhiều nước, đem lại thành tựu to
lớn như cây trồng biến đổi gen (đậu tương, ngô, lúa, bông…); hay giống lúa
lai sản lượng 15tấn/ha/vụ. Như vậy, lợi ích mà công nghệ sinh học mang lại
trong sản xuất nông nghiệp rất lớn. Phát triển công nghệ sinh học phục vụ
nông nghiệp đang mở ra hướng sản xuất nông nghiệp xanh, sạch và bền vững.
Vì vậy, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học sẽ là khâu đột
phá trong phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai. Với giải pháp
này cần tiến hành một số biện pháp cơ bản sau:
Một là, ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây
trồng và vật nuôi có năng suất cao, phẩm chất tốt; đồng thời phòng, chống các
loại dịch bệnh nguy hiểm, tạo các chế phẩm sinh học phục vụ phát triển nông
nghiệp bền vững. Theo đó ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học không chỉ để
tạo các giống cây, con mới có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu
của thị trường, chống chịu tốt với sâu bệnh và có khả năng thích nghi điều
kiện biến đổi khí hậu mà còn bảo tồn và khai thác hợp lý, có hiệu quả cao các
nguồn gen nông nghiệp, đặc biệt là nguồn gen đặc hữu của Đồng Nai phục vụ
cho việc tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và cơ sở khoa học để phát
triển an toàn thực phẩm biến đổi gen. Sử dụng các chế phẩm sinh học trong
80
công tác bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu hại cây trồng, hạn chế dịch bệnh, các
loại vắc xin để phòng bệnh cho gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Hai là, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở thực nghiệm giống cây trồng,
vật nuôi và kỹ thuật mới theo hướng đồng bộ, hiện đại. Theo đánh giá hiện
trạng công nghệ của Sở Khoa học và công nghệ Đồng Nai cho thấy: theo
thành phần công nghệ thì thành phần kỹ thuật (T) và thông tin (I) đạt trình độ
khá; thành phần tổ chức (O) đạt trình độ trung bình; thành phần nhân lực (H)
ở mức thấp, do đó Chỉ số công nghệ (TCC) của Đồng Nai ở mức trung bình.
Như vậy, công nghiệp Đồng Nai tuy có công nghệ đa dạng nhưng thiếu công
nghệ có hàm lượng chất xám cao như sản xuất giống mới bằng công nghệ
sinh học; trình độ công nghệ của ngành chế biến thực phẩm chưa đủ sức cạnh
tranh. Từ đó cho thấy, mặc dù là một tỉnh công nghiệp phát triển, nhưng công
nghệ còn lạc hậu, nhất là công nghệ sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, Đồng Nai
cần tập trung đầu tư xây dựng cơ sở thực nghiệm giống cây trồng, vật nuôi và
kỹ thuật mới thuộc Trung tâm Khuyến nông theo hướng đồng bộ, hiện đại.
Ba là, tăng cường công tác khuyến nông nhằm nhân rộng các mô hình
sản xuất cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, vận động xây dựng các vùng sản
xuất nông sản hàng hoá sạch. Cụ thể: Đối với lĩnh vực trồng trọt, mở rộng
diện tích áp dụng mô hình nhà lưới ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất
rau, hoa lan; mô hình vườn cây ăn trái chất lượng cao; sử dụng biện pháp tưới
tiết kiệm, nhỏ giọt; tiếp tục ứng dụng công nghệ nhân giống vô tính trong sản
xuất giống cây điều, cây sầu riêng, cây bưởi, cây cà phê nhằm nhân nhanh
giống mới phục vụ cải tạo vườn cây già cỗi và phát triển vườn cây mới. Đối
với lĩnh vực chăn nuôi, tiếp tục chương trình phát triển mạnh các mô hình ứng
dụng công nghệ cao trong chăn nuôi heo, gà công nghiệp như hệ thống
chuồng kín, mô hình trại gà lạnh, giống cao sản, sử dụng máy phun cao áp
trong công tác bảo vệ thực vật và sát trùng chuồng trại chăn nuôi…; khuyến
81
khích doanh nghiệp đầu tư hình thành chuỗi sản xuất heo, gà chất lượng cao
từ sản xuất con giống, thức ăn chăn nuôi, tổ chức chăn nuôi, giết mổ, chế
biến. Phát triển các mô hình chăn nuôi bán công nghiệp đối với bò, dê, thỏ.
Đối với lĩnh vực thuỷ lợi, ứng dụng rộng mô hình tưới tiết kiệm trong sản
xuất rau an toàn, cây ăn trái, cây công nghiệp, biện pháp tưới tiết kiệm, nhỏ
giọt. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học trong sản
xuất giống cây lâm nghiệp phù hợp địa bàn tỉnh.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển giao và áp dụng tiến bộ KHCN hiện đại vào
sản xuất nông nghiệp theo hướng ưu tiên công nghệ sinh học. Việc ứng dụng
công nghệ sinh học không chỉ ở các khu nông nghiệp công nghệ cao mà cả
ngành nông nghiệp. Công nghệ sinh học phải hướng mục tiêu phát triển nông
nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững gắn với dịch
chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, tăng xuất
khẩu và bảo vệ môi trường. Trong đó tập trung cải tạo các loại cây, con chủ
lực, có thế mạnh của tỉnh; chú trọng công nghệ lúa lai, hướng tới một nền
nông nghiệp sinh thái; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ghép gien tái tổ hợp,
công nghệ vi sinh; sản xuất các loại thuốc phòng trừ dịch bệnh, thức ăn chăn
nuôi và phân bón vi sinh phục vụ phát triển nông nghiệp sinh thái, bền vững
và bảo vệ môi trường; đồng thời đầu tư phát triển công nghệ sau thu hoạch,
công nghệ chế biến, bảo quản nông sản hàng hóa.
Để thực hiện vai trò đột phá của công nghệ sinh học trong phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp cần tiến hành theo định hướng sau:
Thứ nhất, tập trung đầu tư ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất
nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các
loại cây trồng, vật nuôi; xây dựng khu thực nghiệm, sản xuất nông nghiệp
công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Thứ hai, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ
cán bộ kỹ thuật công nghệ sinh học nhằm không ngừng nâng cao trình độ về
82
mọi mặt, làm chủ các quy trình công nghệ để có thể chuyển giao ứng dụng
công nghệ sinh học vào sản xuất, đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở tỉnh Đồng Nai.
Thứ ba, tăng cường phối kết hợp với các doanh nghiệp, các tổ chức
chính trị - xã hội và đoàn thể trong hệ thống chính trị tỉnh Đồng Nai để phát
huy sức mạnh tổng hợp trong việc nghiên cứu ứng dụng các thành tựu công
nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp.
Thứ tư, tăng cường công tác chuyển giao kỹ thuật thâm canh tiên tiến
trong trồng trọt và chăn nuôi, tổ chức bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý
với từng địa phương trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm phát huy tối đa kết quả
quá trình ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp.
Thứ năm, khuyến khích, tạo điều kiện để các chủ thể phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai tiếp xúc với các nhà nghiên cứu công nghệ
sinh học trong và ngoài nước thông qua các hội thảo, chương trình hợp tác.
Thứ sáu, khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ về vốn cho các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp tiến hành các hoạt
động nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để không ngừng nâng cao
trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông sản hàng hóa.
Thứ bảy, huy động các nguồn vốn trong xã hội đẩy mạnh chương trình
ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
3.2.3. Tiếp tục đổi mới đồng bộ từ tổ chức, cơ chế quản lý đến cơ chế
hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
Mặc dù công tác quản lý KHCN đã dược đổi mới, hoàn thiện và những
đổi mới đó đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN phục vụ nông
nghiệp. Tuy nhiên, để KHCN phục vụ nông nghiệp có đủ tiềm lực và trình độ
tạo ra các luận cứ và sản phẩm khoa học giá trị cao, tiếp thu chọn lọc và làm
chủ công nghệ tiên tiến để ứng dụng có hiệu quả, đóng góp vào tăng trưởng
83
và phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần đảm bảo an ninh lương thực,
nâng cao thu nhập cho người sản xuất, kinh doanh nông nghiệp ở tỉnh Đồng
Nai, cần tiến hành đổi mới đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt
động KHCN và chính sách phát huy tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ
KHCN phục vụ nông nghiệp. Bởi thực tế, không chỉ ở Đồng Nai, mà trong
phạm vi cả nước, tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KHCN phục vụ
nông nghiệp còn nhiều bất cập, đang gây trở ngại đến phát triển KHCN. Vì
vậy cần tiếp tục đổi mới đồng bộ từ tổ chức, cơ chế quản lý đến cơ chế hoạt
động KHCN phục vụ nông nghiệp với những nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện và ổn định tổ chức KHCN phục
vụ nông nghiệp; củng cố và phát triển hệ thống tổ chức KHCN trong lĩnh vực
nông nghiệp, bao gồm các Trung tâm nghiên cứu ứng dụng (nông, lâm nghiệp
và thủy sản), Trung tâm cung cấp dịch vụ KHCN, phát triển khu nông nghiệp
công nghệ cao trên địa bàn. Theo đó, tiến hành sắp xếp, hoàn thiện và ổn định
hệ thống tổ chức KHCN phục vụ nông nghiệp công lập theo hướng chuyên
ngành, chuyên sâu theo lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi,
lâm nghiệp…; và theo hướng đa ngành như: chiến lược và chính sách, cơ điện
và công nghệ sau thu hoạch nhằm tập trung nguồn lực giải quyết những vấn
đề trọng tâm, trọng điểm của KHCN phục vụ nông nghiệp. Trong đó, các tổ
chức KHCN chuyên ngành công lập của tỉnh được tổ chức, phân công nghiên
cứu và chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ thuật theo hướng chuyên sâu,
nghiên cứu sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đồng thời tiến hành rà soát các tổ chức
KHCN liên quan đến nông nghiệp để sắp xếp, củng cố, phát triển phục vụ cho
mục tiêu CNH,HĐH nông nghiệp. Các trường Đại học trên địa bàn, tùy theo
điều kiện và nhu cầu có thể thành lập các tổ chức KHCN cứu về nông nghiệp
gắn liền với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp tỉnh Đồng Nai.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức khuyến nông các cấp,
đảm bảo hệ thống khuyến nông phát triển từ tỉnh đến cơ sở. Khuyến khích
84
thành lập các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông cho người sản xuất, kinh
doanh. Khuyến khích các tổ chức KHCN, các trường Đại học thành lập Trung
tâm chuyển giao công nghệ hoặc doanh nghiệp khoa học theo Nghị định số
80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KHCN. Khuyến khích và
tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các cá
nhân thành lập tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, phát triển
doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Thứ ba, đổi mới cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ phục vụ nông nghiệp. Đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ phục vụ nông nghiệp theo các nội dung sau: Xây dựng
cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia thực hiện nhiệm vụ KHCN từ
nguồn kinh phí nhà nước, hoặc hỗ trợ một phần kinh phí cho doanh nghiệp
thực hiện nghiên cứu, phát triển sản phẩm KHCN phục vụ nông nghiệp theo
nhu cầu của doanh nghiệp; Xây dựng cơ chế xét chọn, tuyển chọn, đánh giá
và nghiệm thu nhiệm vụ KHCN một cách thực chất, khách quan, trong đó ứng
dụng phương thức phản biện độc lập của chuyên gia theo hướng gắn trách
nhiệm phản biện từ giai đoạn xét chọn, tuyển chọn đến nghiệm thu.
Thứ tư, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thực hiện cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập về nhân lực, kinh phí hoạt động
theo quy định của pháp luật. Trong đó:
Về cơ chế quản lý: đối với tổ chức KHCN công lập, ngoài cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về nhân lực, kinh phí hoạt động theo quy định, ngày
08/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số
2158/QĐ-UBND về Tiêu chí xác định đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh, cấp cơ
sở; theo đó:
Đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh là đề tài, dự án sử dụng 100% nguồn kinh
phí sự nghiệp KHCN từ ngân sách tỉnh. Các đề tài, dự án phải được Chủ tịch
85
Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản
lý và tổ chức ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Đề tài, dự án KHCN cấp cơ sở là đề tài, dự án sử dụng kinh phí sự
nghiệp KHCN từ ngân sách huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa;
hoặc kinh phí hoạt động KHCN của các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp và
doanh nghiệp; kinh phí do vận động tổ chức và cá nhân đóng góp.
Về Tiêu chí đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh, cấp cơ sở được xác định tại
Quyết định số 2158/QĐ-UBND ngày 08/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Nai về Tiêu chí xác định đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh, cấp cơ sở.
Tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án phải chịu trách nhiệm
trong việc ứng dụng, chuyển giao và nhân rộng kết quả sau khi đề tài, dự án
nghiệm thu ở mức đạt trở lên. Việc quản lý đề tài, dự án thực hiện theo Quy
chế quản lý các đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển KHCN tỉnh Đồng Nai.
Về cơ chế tài chính: Xây dựng cơ chế quản lý tài chính phù hợp với đặc
thù KHCN phục vụ nông nghiệp. Tăng quyền chủ động sử dụng kinh phí cho
tổ chức KHCN chủ trì và cá nhân chủ nhiệm đề tài, dự án; đơn giản thủ tục
thanh quyết toán trong hoạt động KHCN. Thực hiện phân cấp quản lý tài
chính của đề tài, dự án theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho
tổ chức KHCN chủ trì và cá nhân chủ nhiệm đề tài, dự án. Tiến đến thực hiện
cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm KHCN theo kết quả đầu ra.
Thứ năm, đổi mới hoạt động thông tin KHCN phục vụ nông nghiệp.
Hình thành hệ thống mạng lưới dịch vụ thông tin KHCN phục vụ nông nghiệp
từ cấp tỉnh đến địa phương để cập nhật, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông
tin về kết quả của đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm, các giống mới, quy trình
công nghệ mới; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các mô hình áp
dụng tiến bộ kỹ thuật mới, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vừa đáp ứng
nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể, vừa đáp ứng yêu cầu chỉ đạo và
quản lý nông nghiệp. Đồng thời tăng cường phổ biến kiến thức KHCN, các
86
mô hình ứng dụng thành công các tiến bộ kỹ thuật, quy trình công nghệ mới,
ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao cho doanh nghiệp nông nghiệp, trang
trại và nông dân để áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp. Ứng dụng
công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông để phổ biến thông tin
KHCN nông nghiệp, hỗ trợ phát triển các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông
tin để phục vụ nhu cầu của người sản xuất, kinh doanh.
Thứ sáu, đổi mới mô hình hoạt động theo hướng gắn KHCN với thực
tiễn sản xuất. Đồng Nai đã và đang triển khai gắn sản xuất với chế biến và thị
trường; đặc biệt là thực hiện tốt việc gắn kết trên cơ sở giải quyết hài hòa lợi
ích “4 nhà” trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ, trong đó vai trò nòng cốt là
các tổ chức khoa học, các nhà khoa học. Mô hình này là yếu tố quan trọng
góp phần đưa tiến bộ KHCN vào sản xuất nhanh, hiệu quả. Tuy nhiên, mối
quan hệ này vẫn còn bất cập như quan hê ̣ hợp đồng đầu tư hoă ̣c hợp đồng thu
mua sản phẩm giữa nhà nông với cơ sở chế biến chưa thực hiê ̣n triệt để, nên
khi giá bán sản phẩm trên thị trường biến đô ̣ng theo hướng giảm thì thiê ̣t hại
thuô ̣c về nhà nông. Đây là tồn tại cần khắc phục, nhất là khi nhà nhâ ̣p khẩu
hoă ̣c nhà phân phối yêu cầu truy nguyên nguồn gốc xuất xứ nông sản.
3.2.4. Xã hội hóa nguồn vốn, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài
nước tham gia phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp
Đầu tư phát triển KHCN nói chung, đầu tư phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai nói riêng là lĩnh vực đầu tư tốn kém, nhiều rủi
ro, nên ngoài đầu tư của nhà nước và đầu tư của tỉnh theo hướng ưu tiên đầu
tư từ ngân sách nhà nước, cần đa dạng hóa và tăng cường huy động vốn đầu
tư xã hội cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; đặc biệt là các doanh
nghiệp, hỗ trợ phát triển các hình thức hợp tác công - tư, phát triển các dịch
vụ KHCN phục vụ nông nghiệp. Mặt khác, cần thống nhất rằng, phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp là lĩnh vực ưu tiên đầu tư, do đó phải “Tăng đầu
tư từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt
87
động KHCN”[32; tr.36] phục vụ nông nghiệp. Như vậy, tăng nguồn lực đầu
tư từ ngân sách nhà nước và khuyến khích nguồn lực xã hội để thực hiện đồng
bộ các hình thức huy động vốn phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp vừa là
chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai; vừa là giải pháp để phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp. Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 xác
định “Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ KHCN
quốc gia, các sản phẩm quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn
lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển KHCN”[13]. Theo
đó, xây dựng chính sách thúc đẩy xã hội hóa đầu tư phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp; hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp, các thành phần kinh tế
tham gia nghiên cứu, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ mới, mua công
nghệ trong nước hoặc nước ngoài để phục vụ nông nghiệp. Đồng thời tăng
cường quản lý đầu tư, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp như: thực hiện các cơ chế,
chính sách liên quan đến phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, cải cách thủ
tục, phân cấp quản lý đề tài, dự án đầu tư phát triển, lành mạnh hóa thị trường
KHCN, tích cực thu hút vốn đầu tư phát triển KHCN từ các nguồn.
Đổi mới cơ chế tài chính cho hoạt động KHCN; phát triển và sử dụng
có hiệu quả Quỹ phát triển KHCN để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Tăng cường đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ Ngân sách nhà
nước. Tăng chi từ Ngân sách nhà nước cho hoàn thiện hệ thống thể chế, chính
sách pháp luật về phát triển KHCN cũng như KHCN phục vụ nông nghiệp;
xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn ODA, các nguồn đầu tư xã
hội, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp. Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích
các tổ chức tài chính, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, cá nhân
cung cấp tài chính, đầu tư cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Tỉnh
88
cần có cơ chế huy động và tiếp nhận các nguồn vốn, các nguồn tài trợ, đóng
góp, ủy thác của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các dự án, các hoạt động,
các sáng kiến và mô hình phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách cho hoạt động KHCN. Tạo điều
kiện khuyến khích nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KHCN phục vụ
nông nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong nước. Tập trung xây dựng các mô
hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học trong Trung tâm ứng dụng
công nghệ sinh học làm tiền đề cho phát triển sản xuất trên cơ sở công nghệ
cao và có khả năng nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Ngoài ra, cần đổi mới cơ chế sử dụng kinh phí cho KHCN phục vụ
nông nghiệp, trong đó quy định rõ tỷ lệ phân bổ ngân sách nhà nước dành cho
KHCN theo các nhiệm vụ như: tăng cường tiềm lực KHCN; đổi mới cơ bản,
toàn diện, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động; đẩy mạnh ứng
dụng; hội nhập quốc tế về KHCN. Thực hiện cơ chế đặt hàng đối với các
nhiệm vụ KHCN, trước hết đối với sản phẩm chủ lực, sản phẩm công nghệ
cao từ các chủ thể sản xuất nông nghiệp, hay các doanh nghiệp nông nghiệp;
áp dụng các hình thức mua, khoán sản phẩm phù hợp với đặc điểm của từng
loại hình hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Áp dụng chính sách đầu tư cho tổ chức KHCN dựa vào hiệu quả và kết quả
đầu ra. Áp dụng một số cơ chế, chính sách đột phá nhằm thúc đẩy xã hội hóa
đầu tư cho KHCN, đặc biệt là đầu tư của các doanh nghiệp cho hoạt động
nghiên cứu và đổi mới công nghệ phục vụ nông nghiệp. Có chính sách thu hút
các nguồn đầu tư nước ngoài cho hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp.
3.2.5. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước
về nông nghiệp, khoa học và công nghệ với các đoàn thể, tổ chức khoa học,
hiệp hội ngành nghề và các địa phương ở tỉnh Đồng Nai
89
Giải pháp này xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhu cầu tư vấn, chuyển giao
và ứng dụng khoa học của các chủ thể sản xuất nông nghiệp với khả năng đáp
ứng của thị trường KHCN, bởi KHCN phục vụ nông nghiệp chưa nhận được
sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước cũng như các chủ thể khác trong
hệ thống chính trị, nhất là ngành nông nghiệp, các địa phương, người nông
dân và các doanh nghiệp nông nghiệp. Hơn nữa, nâng cao hiệu quả phối hợp
sẽ giúp cho cơ quan quản lý tăng cường hiệu quả quản lý về KHCN; trên cơ
sở đó thúc đẩy phát triển KHCN, ứng dụng KHCN vào sản xuất và đời sống.
Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp thì sự phối hợp của các cơ
quan quản lý giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, sử dụng sản phẩm KHCN
phục vụ nông nghiệp là nhu cầu của ngành nông nghiệp và các chủ thể trong
lĩnh vực nông nghiệp; do đó cơ quan quản lý là Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, địa phương, trong
đó có Sở KHCN, các tổ KHCN triển khai hoạt động KHCN phục vụ nông
nghiệp. Mặt khác, Sở KHCN với chức năng là cơ quan quản lý; đồng thời là
cơ quan tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền tỉnh trong chỉ đạo, kiểm tra
việc triển khai và phối hợp thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp; do đó Sở KHCN phải chủ động phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, với các đoàn thể, các tổ chức KHCN, hiệp hội
ngành nghề và các địa phương để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Để
thực hiện giải pháp này cần tiến hành các nội dung phối hợp sau:
Thứ nhất, phối hợp rà soát, kiến nghị với các cấp sớm điều chỉnh, bổ
sung một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực
hiện như điều chỉnh, bổ sung Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 4/6/2010 về
Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/4/2010 của Chính phủ về Chính sách
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số: 418/QĐ-
90
TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát
triển KHCN giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 3246/QĐ-BNN-KHCN,
ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê
duyệt Chiến lược phát triển KHCN ngành nông nghiệp và phát triển nông
thôn giai đoạn 2013-2020; Quyết định Số 2419/QĐ-UBND, ngày 26/9/2011
của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Chương trình phát triển cây
trồng, vật nuôi chủ lực và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp giai
đoạn 2011-2015 và một số thông tư của các bộ, ngành về phát triển KHCN…
cho phù hợp với từng vùng, từng địa phương trên địa bàn tỉnh nhằm hỗ trợ
nông dân và tăng nguồn lực đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Thứ hai, tăng cường phối hợp với ngành nông nghiệp, các tổ chức
KHCN giúp nông dân ứng dụng kịp thời tiến bộ KHCN vào sản xuất, thực
hiện tốt quy trình kỹ thuật đối với cây trồng, vật nuôi, tích cực sử dụng giống
được các nhà khoa học khuyến cáo để tạo ra nông sản có năng suất, chất
lượng cao, đủ sức cạnh tranh, xây dựng mô hình kinh tế đạt tổng giá trị sản
xuất cao trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Đồng thời với nâng cao trình
độ KHCN, cần phối hợp tìm hiểu tập quán để vận động nông dân xây dựng
các hình thức hợp tác, liên kết từ thấp đến cao nhằm thực hiện cơ giới hóa,
điện khí hóa, thủy lợi hóa, dịch vụ và sơ chế, chế biến nông sản hàng hóa.
Thứ ba, phối hợp nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến
khích, hỗ trợ doanh nghiệp liên kết với nông dân, hay liên kết giữa nông dân
với nông dân như hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ hoặc tổ chức hội nông
dân… để các bên gắn kết lợi ích và trách nhiệm với nhau, tạo ra chuỗi giá trị
hàng hóa lớn, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ. Có cơ chế, chính sách để
nhân rộng các mô hình tổ chức, quản lý sản xuất có hiệu quả như mô hình:
cánh đồng mẫu lớn hay cánh đồng liên kết; mô hình chuỗi sản xuất, thương
mại, chế biến và phân phối sản phẩm khép kín; mô hình nông dân góp cổ
91
phần với doanh nghiệp bằng giá trị quyền sử dụng đất; mô hình hợp tác xã, tổ
hợp tác kiểu mới; mô hình doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; tổ chức
hợp tác theo quy mô cộng đồng làng, xã dưới hình thức hợp tác xã dịch vụ,
công ty cổ phần... Đây là các mô hình được xem là xu thế tất yếu và tương lai
của nông nghiệp Đồng Nai nhằm thúc đẩy phong trào nông dân thi đua xây
dựng nông thôn mới có hiệu quả, là tiền đề cho sự đổi mới phương thức sản
xuất, nâng cao hiệu quả và sự phát triển bền vững nông nghiệp.
Thứ tư, phối hợp tổ chức hoạt động dịch vụ tư vấn KHCN, dịch vụ hỗ
trợ nông dân ứng dụng KHCN như: tổ chức hoạt động khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư; tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật, công nghệ mới;
xây dựng mô hình trình diễn để nông dân áp dụng; cung cấp thông tin thị
trường KHCN, thị trường nông sản; cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp; hỗ
trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm và nhãn hiệu hàng hóa theo hướng ưu tiên
xây dựng nhãn hiệu cho các sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn VietGAP/GAHP và
tạo điều kiện cho các đối tượng sở hữu nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu; tổ
chức hợp tác, liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, nhà khoa học và doanh nghiệp
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nông dân về ứng dụng KHCN,
nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống… giúp nông dân
nâng cao năng lực ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN.
Thứ năm, phối hợp tạo nguồn vốn cho phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp cũng như cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; trong đó cần
phối hợp nghiên cứu xây dựng quy chế phối hợp giữa các tổ chức tín dụng
trên địa bàn với các sở, ngành và các cấp ủy, chính quyền địa phương trong
việc ưu tiên nguồn vốn cho vay đầu tư các dự án phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp; và cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời tổ
chức gắn kết các ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp để đẩy mạnh
nguồn vốn vay cho doanh nghiệp nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông
92
sản, lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp có giá trị gia tăng cao... để thúc đẩy phát
triển KHCN phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Thứ sáu, cùng với cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước, của cấp ủy
và chính quyền tỉnh Đồng Nai, cần phối hợp tiến hành khảo sát về điều kiện
kinh tế và năng lực sản xuất của từng hộ, cụm dân cư để từ đó có cơ sở trang
bị kiến thức và đào tạo nghề, phổ biến chủ trương và tuyên truyền, vận động
nông dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, động viên các hộ hoặc nhóm
hộ có khả năng, điều kiện hoán đổi đất cho những người không thể chuyển
sang ngành nghề khác ngoài sản xuất nông nghiệp để đầu tư vào ngành nghề
thiết thực với cuộc sống và sản xuất của địa phương như sơ chế hoặc chế biến
nông sản, sản xuất phân bón hay thức ăn chăn nuôi, khôi phục làng nghề
truyền thống, phát triển nghề mới, tăng cường các hoạt động dịch vụ ở nông
thôn, nâng dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, tạo công ăn
việc làm cho lao động tại chỗ, nâng cao thu nhập cho từng hộ dân cư.
3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
Xuất phát từ chất lượng nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực
KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng ở tỉnh Đồng, tuy là yếu tố cốt lõi để
phát triển KHCN nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển KHCN. Ở Đồng Nai, “Lao động trong độ tuổi dồi dào,
song chất lượng nguồn nhân lực một phần còn chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển, nhất là lĩnh vực công nghệ sinh họa, công nghệ cao, lĩnh vực đào
tạo”[6]. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông
nghiệp là một giải pháp đột phá để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.
Để KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai phát triển đáp ứng
yêu cầu sản xuất, nhất là phát triển nông nghiệp theo hướng CNH,HĐH, đòi
hỏi phải có sự phát triển tương thích của nguồn nhân lực. Theo đó, phát triển
KHCN phục vụ nông nghiệp một mặt, trực tiếp phụ thuộc chất lượng nguồn
93
nhân lực KHCN; mặt khác, phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực chung.
Nếu nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp là các chủ thể sáng tạo, phổ
biến và truyền bá thành tựu KHCN vào đời sống; thì nguồn nhân lực nông
nghiệp với vai trò là các chủ thể có nhu cầu sử dụng sản phẩm KHCN phục
vụ nông nghiệp. Thực tế cho thấy, do năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực
KHCN mà sản phẩm KHCN được tạo ra dù có tính thực tiễn, phù hợp với sản
xuất nông nghiệp, nhưng các chủ thể có nhu cầu sử dụng sản phẩm KHCN
không có khả năng khai thác, sử dụng sản phẩm KHCN, trong đó phần lớn là
nông dân (gọi chung là nguồn nhân lực nông nghiệp), thì kết quả sáng tạo của
nguồn nhân lực KHCN chỉ tồn tại trong kho bảo quản mà không được ứng
dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp; kể cả những sản phẩm công nghệ
mới, công nghệ hiện đại, hay công nghệ tiến tiến được nhập khẩu cũng không
có nhiều ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp khi trình độ của nguồn nhân lực
nông nghiệp không tương ứng với trình độ công nghệ nhập khẩu; theo đó hiệu
quả ứng dụng sản phẩm KHCN vào thực tiễn đã bị hạn chế bởi trình độ của
nguồn nhân lực nông nghiệp. Ngược lại, khả năng sáng tạo của nguồn nhân
lực KHCN không đáp ứng chu cầu về sản phẩm KHCN phục vụ nông nghiệp,
thì KHCN phục vụ nông nghiệp sẽ khó phát triển. Nói cách khác, đã xuất hiện
mẫu thuẫn trong quan hệ cung - cầu đối với sản phẩm KHCN phục vụ nông
nghiệp. Mâu thuẫn này có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do hạn chế,
bất cập về chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, mà đối tượng chủ yếu là
nông dân và các chủ thể sản xuất nông nghiệp.
Từ những vấn đề trên cho thấy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở
Đồng Nai nói chung, nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng,
không chỉ nâng cao tiềm lực KHCN phục vụ nông nghiệp mà còn góp phần
nâng cao hiệu quả ứng dụng KHCN. Do đó nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp là giải pháp đột phá
94
để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Với nhận thức đó,
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai chủ trương “Tập trung thu hút, đãi ngộ, đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi đầu
ngành đáp ứng yêu cầu phát triển. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động
nông thôn. Nâng cao tiềm lực KHCN gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng
vào thực tiễn”[32; tr.30] nhằm tạo bước đột phá trong phát triển Đồng Nai.
Như vậy, để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai, phải
bắt đầu từ chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực, trong
đó có cả nguồn nhân lực nông nghiệp và nguồn nhân lực KHCN. Trong đó:
* Đối với nguồn nhân lực nông nghiệp, trực tiếp là người sản xuất
nông nghiệp và các chủ thể khác trong lĩnh vực nông nghiệp cần tiến hành
nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng. Trước hết, t ổ chức tiến hành rà
soát, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và dự báo nhu cầu về
trình độ, số lượng nguồn nhân lực nông nghiệp; trên cơ sở đó tập trung
triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
của tỉnh với nhu cầu thực tiễn sử dụng nguồn nhân lực nông nghiệp. Trong
đó, tập trung đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực được xác định là cấp thiết
đối với nông nghiệp như: lao động kỹ thuật cao; dịch vụ nông nghiệp chất
lượng cao; đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cho các tổ chức sản
xuất tập thể, chủ trang trại, hộ nông dân; nâng cao năng lực cho cán bộ
nông nghiệp xã, cộng tác viên nông nghiệp với nhiều hình thức đào tạo như
liên kết đào tạo trong và ngoài nước, hay thông qua các lớp tập huấn, hội
thảo, chuyển giao kỹ thuật, thông tin thị trường cho các chủ thể sản xuất
nông nghiệp. Mặt khác, tổ chức quy hoạch mạng lưới dạy nghề; trên cơ sở
khuyến khích phát triển hệ thống dạy nghề đảm bảo chất lượng, nhất là
chất lượng giáo viên dạy nghề, thiết bị dạy nghề. Đồng thời khuyến khích
sự liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp nông nghiệp; thực
95
hiện tốt công tác hướng nghiệp đối với bậc trung học phổ thông nhằm tạo
điều kiện cho học sinh có thời gian tiếp cận thực tế, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp.
* Đối với nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp, trước hết là đội
ngũ cán bộ quản lý KHCN các cấp, các ngành cần xây dựng đồng bộ chính
sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ KHCN theo nội dung:
Thứ nhất, quy hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KHCN phục vụ
nông nghiệp theo hướng đồng bộ, cân đối trên từng lĩnh vực, chuyên ngành
phục vụ cho nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khuyến nông và
ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp. Đào tạo nâng cao năng lực, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý
KHCN ở các ngành, các cấp. Cần vận dụng linh hoạt các hình thức đào tạo
như: tập trung, dài ngày ở các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu; hoặc
đào tạo không tập trung, đào tạo ngắn thông qua tập huấn, bồi dưỡng kiến
thức KHCN; hợp tác quốc tế để nâng cao trình độ nguồn nhân lực KHCN.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật và khuyến nông theo hướng chuyên ngành, kết hợp với đa lĩnh vực, chú
trọng tập huấn nghiệp vụ quản lý kinh tế, kỹ năng tổ chức, phương pháp
khuyến nông, đảm bảo tỷ lệ hợp lý trình độ học vấn; trong đó 100% cán bộ
khuyến nông được đào tạo về kỹ năng khuyến nông, tập huấn về công nghệ
hiện đại, tiến bộ kỹ thuật mới, tiên tiến.
Thứ ba, ban hành chính sách đào tạo và sử dụng cán bộ KHCN, nhất là
cán bộ trẻ có trình độ cao trong nông nghiệp, trong đó quy định rõ cơ chế tự
chủ tài chính đặc thù, chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với cán bộ KHCN được giao
chủ trì thực hiện nhiệm vụ KHCN trọng điểm. Xây dựng cơ chế giao nhiệm
vụ KHCN tiềm năng cho cán bộ khoa học trẻ, các nhóm sinh viên giỏi ở các
trường đại học, các tổ chức KHCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
96
Thứ tư, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách thu hút nhà
khoa học người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như các nhà khoa học người
nước ngoài tham gia hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp của tỉnh. Đồng
thời nghiên cứu áp dụng cơ chế thuê chuyên gia bằng ngân sách nhà nước
tham gia hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Thứ năm, thực thi nghiêm túc, có hiệu quả quy chế dân chủ trong hoạt
động KHCN nhằm phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của
cán bộ KHCN trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định các chương
trình, dự án, đề tài KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
*
* *
Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp có vai trò ngày càng quan trọng.
Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị Đồng Nai. Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, cần thực hiện tổng
thể các giải pháp. Các giải pháp quan hệ chặt chẽ với nhau trong chỉnh thể
thống nhất; thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần thực hiện tốt giải pháp
khác, và ngược lại. Trên cơ sở quán triệt đầy đủ các quan điểm và thực hiện
đồng bộ các giải pháp trên sẽ thúc đẩy phát triển KHCN phục vụ nông
nghiệp. Các chủ thể, đặc biệt là cấp ủy, chính quyền các cấp ở Đồng Nai triển
khai và tổ chức thực hiện phù hợp, nỗ lực phấn đấu, mang lại hiệu quả cao
nhất.
97
KẾT LUẬN
Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là vấn đề chưa được nghiên cứu
nhiều, việc định hình khái niệm và nội hàm phát triển KHCN cần dựa trên
cách tiếp cận khoa học. Dựa trên phương pháp tiếp câ ̣n lý luâ ̣n và thực tiễn,
luận văn đưa ra khái niệm về phát triển KHCN; về phát triển KHCN phục vụ
nông nghiệp. Trên cơ sở đó, làm rõ sự cần thiết và nội dung phát triển KHCN
phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Phát triển KHCN không phải từ không
đến có mà là quá trình vừa xây dựng mới, tạo ra sản phẩm KHCN mới, vừa
phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động KHCN hiê ̣n có theo yêu cầu mới,
đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH.
Thời gian qua, KHCN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần
phát triển nông nghiệp theo hướng CNH,HĐH, phát triển bền vững. Tuy
nhiên, quá trình phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp còn không ít hạn chế
và bất cập; KHCN chưa đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp Đồng
Nai trong quá trình CNH,HĐH. Thực trạng phát triển KHCN với cả ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân cần phải được nhận thức thấu đáo để xác định chủ
trương và thực hiện các giải pháp phát triển phù hợp, hiệu quả.
Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, cần phải thực hiện tổng thể
các giải pháp vừa cơ bản, toàn diện, vừa cấp thiết. Các giải pháp quan hệ chặt
chẽ, tác động với nhau trong chỉnh thể thống nhất; thực hiện tốt giải pháp này
sẽ góp phần thực hiện tốt giải pháp khác và ngược lại. Phát triển KHCN phục
vụ nông nghiệp là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức phong phú, phức tạp, đòi
hỏi các chủ thể vừa phải nắm vững các quan điểm lý luận, vừa phải chủ động
sáng tạo, với một thái độ nghiêm túc cả trong nhận thức và hoạt động thực
tiễn, để biến những giải pháp, tuy chưa phải là đầy đủ, thành kết quả đích thực
phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
1. Minh Anh, “Thu hút đầu tư vào khu công nghiệp: Nơi chen chúc, chỗ
bỏ không”, Báo Đồng Nai, ngày 20 tháng 04 năm 2014 . 2. Vũ Tuấn Anh, “Một số vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế quốc dân”, Tạp
chí Nghiên cứu Kinh tế, số 2 năm 1992.
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX 02-05 năm
2005, Hà Nội.
4. Nguyễn Sinh Cúc (2005), “Tổng quan chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt
Nam 20 năm đổi mới”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 4.
5. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai (2011), Niên giám thống kê năm 2011,
6. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai (2013), Niên giám thống kê năm 2013
Nxb Đồng Nai, thành phố Biên Hòa, 2012.
Nxb Đồng Nai, thành phố Biên Hòa, tháng 5 năm 2014. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ III, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ V; NXB Sự thật, Hà Nội, 1982.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
16. Lại Ngọc Hải (2004), “Những vấn đề cần giải quyết để đẩy mạnh
99
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp”, Tạp chí Kinh tế và Dự
báo, số 12.
17. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2007), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh.
18. Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, Nghị quyết số 188/2010/NQ-HĐND, Về
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng
- an ninh 05 năm 2011 - 2015.
19. Phạm Hữu Hùng (2012), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa miền núi Thanh Hóa hiện nay, Luận văn thạc
sĩ, Hà Nội.
20. Nguyễn Thị Lan Hương (2007), “Phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
kinh tế, Số 10.
21. Phạm Thị Khanh (Chủ biên) (2010), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng phát triển bền vững ở Việt nam, Nxb CTQG, H, 2010.
22. V.I. Lênin (1921), “Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô
sản”, Lênin toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ M, 1978. 23. V.I. Lênin (1921), Lênin toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ M, 1978. 24. C.Mác (1863), Góp phần phê phán chính trị học, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1964.
25. Phạm Vũ Tuấn Minh (2006), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2020,
Luận văn cao học chuyên ngành kinh tế chính trị, Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
26. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển
những ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, Nxb Khoa học -
xã hội, Hà Nội.
27. Nguyễn Đình Phan (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của Việt
Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 95.
28. Hoàng Ngọc Phong (2010), “Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và đầu tư vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-
2020”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 2.
100
29. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
30. Bùi Tất Thắng (1997), Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Việt Nam,
Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội.
31. Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam,
Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội.
32. Trần Đình Thiên (1996), “Một số giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế
giới, số 4 - 1996.
33. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 73/2008/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6
năm 2008, “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Đồng Nai đến năm 2020”.
34. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 13 tháng 02
năm 2014, “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030”.
35. Tỉnh ủy Đồng Nai (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2005 - 2010), Nxb Đồng Nai.
36. Tỉnh ủy Đồng Nai (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015), Nxb Đồng Nai.
37. Tỉnh ủy Đồng Nai, Báo cáo số 249-BC/TU, ngày 28 tháng 11 năm
2013, Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX
Đảng bộ trong nửa nhiệm kỳ.
38. Bùi Thanh Tuấn (2011), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Điện Biên,
Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
39. Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 40. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Chương trình số: 7012/CTr-UBND,
ngày 12 tháng 10 năm 2011 về “Phát triển dịch vụ trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015”
41. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 2048/QĐ-UBND “Phê
101
duyệt Chương trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015”.
42. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 2361/QĐ-UBND, ngày 21
tháng 9 năm 2011 về việc phê duyệt Chương trình tổng thể đào tạo,
phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015.
43. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 2595/QĐ-UBND “Phê
duyệt Đề án phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai giai đoạn
2011 - 2015, tâm nhìn đến năm 2020”.
44. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 01
tháng 9 năm 2011 ban hành “Chương trình bảo vệ môi trường
tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015”.
45. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 496/QĐ-UBND ngày
20 tháng 02 năm 2012 phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, có tính
đến năm 2025”.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
Qui hoạch phát triển các Khu công nghiệp đến năm 2020
TT
Khu công nghiệp
Địa điểm
Hiện trạng 2010 (ha)
Rà soát, bổ sung các KCN đến năm 2020
QH SĐ theo NQ số 69 ngày 30/10/2012 của CP 11.094
9.223
11.152
Toàn tỉnh
Biên Hòa
335
1 Biên Hòa 1
365
Biên Hòa
365
365
2 Biên Hòa 2
100
Biên Hòa
100
100
3
Loteco
674
Biên Hòa
527
674
4 Amata
43
Biên Hòa
43
43
5 Agtex Long Bình
323
Biên Hòa
323
323
6
Tam Phước
500
500
500
7 Bàu Xéo
529
529
529
8 Giang Điền
Trảng Bom Trảng Bom, Biên Hòa
226
226
Hố Nai (giai đoạn 1)
226
9
271
271
Hố Nai (giai đoạn 2)
271
250
250
Sông Mây (giai đoạn 1)
250
10
224
224
Sông Mây (giai đoạn 2)
224
430
Trảng Bom Trảng Bom, Biên Hòa Trảng Bom Trảng Bom, Vĩnh Cửu Nhơn Trạch
430
11 Nhơn Trạch I
430
347
347 183 70
Nhơn Trạch 12 Nhơn Trạch II 13 Nhơn Trạch II - Nhơn Phú Nhơn Trạch 14 Nhơn Trạch II - Lộc Khang Nhơn Trạch
347 183 70
183 70 337
Nhơn Trạch
337
337
15
351
Nhơn Trạch
351
351
Nhơn Trạch III (giai đoạn 1) Nhơn Trạch III (giai đoạn 2)
184
Nhơn Trạch
184
16 Dệt May Nhơn Trạch
184
302
Nhơn Trạch
302
17 Nhơn Trạch V
302
315
Nhơn Trạch
237
18 Nhơn Trạch VI
315
823
Nhơn Trạch
855
19 Ông Kèo
823
184
Long Thành
344
20 Gò Dầu
184
488
Long Thành
488
21 Long Thành
500
534
Long Thành
283
22 Long Đức (*)
580
201
Long Thành
130
23 An Phước
201
130
Tân Phú
54
24 Tân Phú
130
309
Xuân Lộc
109
25 Xuân Lộc
309
177
Vĩnh Cửu
177
26 Thạnh Phú
177
161
Định Quán
54
27 Định Quán
161
264
Long Khánh
264
28 Long Khánh
264
331
Thống Nhất
331
29 Dầu Giây
331
498
Long Thành
-
30 Lộc An – Bình Sơn
498
300
Cẩm Mỹ
-
31 Cẩm Mỹ
300
190
Long Thành
-
32 Phước Bình
190
150
Long Khánh
-
33 Suối Tre
150
330
Thống Nhất
-
34 Gia Kiệm
330
102
Nguồn: [6; tr.83,84]
103
Phụ lục 2 Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp đến 2020 và sau 2020
Stt
Địa điểm
Tiến độ đầu tư hạ tầng
Tên cụm công nghiệp
QH SDĐ (Nghị quyết số 69/NQ- CP của CP)
Rà soát CCN theo Chỉ thị số 07/CT- TTg của Thủ tướng CP
I
Quy hoạch đến 2015 phát triển 14 CCN (838,1 ha), trong đó có 5 CCN (291,5 ha) đã, đang đầu tư cơ sở hạ tầng, 9 CCN (546,6 ha) đang tìm nhà đầu tư hạ tầng
50
50
1
CCN VLXD Hố Nai
Xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom
54,5
54,5
2
CCN Gốm Tân Hạnh
Xã Tân Hạnh, TP. Biên Hòa
3
94
94
CCN Phú Thạnh – Vĩnh Thanh
Xã Vĩnh Thanh huyện Nhơn Trạch
4
50
50
CCN VLXD Tân An
Xã Tân An huyện Vĩnh Cửu
5
43
Đã hoàn chỉnh hạ tầng và lấp đầy diện tích. Đã hoàn chỉnh hạ tầng và đang bố trí dự án. Đã có dự án đầu tư. Đang đầu tư cơ sở hạ tầng . Đang thỏa thuận bồi thường và xây dựng hạ tầng Đang xây dựng hạ tầng
43
CCN Phú Cường
Xã Phú Cường huyện Định Quán
6 CCN Dốc 47
98
97,6
Xã Tam Phước, TP. Biên Hòa
7
57
57
CCN Tam Phước 1
Xã Tam Phước, TP. Biên Hòa
8
96,5
96,6
CCN Thiện Tân- Thạnh Phú
Xã Thiện Tân – Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu
9
75
75
CCN Thiện Tân
10 CCN Tam An
60
59,9
11 CCN Thanh
49
48,7
Bình
Xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu Xã Tam An huyện Long Thành Xã Thanh Bình huyện Trảng
Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang lập hồ sơ quy hoạch Đang triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ
tầng
40
40
12
Đang thỏa thuận bồi thường
CCN A Hố Nai 3 – Hưng Thuận
42
41,8
13
CCN Hưng Lộc
30
30
14
Bom Xã Hố Nai 3 huyện Trảng Bom Xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất Xã Phú Thanh, huyện Tân Phú
Đang lập hồ sơ thành lập cụm công nghiệp Đang lập hồ sơ quy hoạch
104
II
80
80
15
CCN Quang Trung
Đang thỏa thuận bồi thường
75
75
16
Đang lập hồ sơ quy hoạch
CCN Gia Kiệm - Socklu
50
50
17 CCN Tân An
75
75
18
CCN Long Phước
CCN Phú Thanh Giai đoạn 2016 - 2020: tiếp tục triển khai đầu tư hạ tầng 13 cụm công nghiệp (655,3 ha) bao gồm 12 CCN đã có quy hoạch và bổ sung 01 CCN (CCN Bàu Trâm). Cụ thể bao gồm các cụm công nghiệp sau: Xã Quang Trung, huyện Thống Nhất Xã Socklu, huyện Thống Nhất Xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu Xã Long Phước, huyện Long Thành
57
57
19
CCN Bình Sơn
Xã Bình Sơn, huyện Long Thành
57
57
20
CCN Long Giao
Xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ
48,8
21 CCN Trị An
49
Xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu
75
75
22
CCN VLXD Phước Bình
Xã Phước Bình, huyện Long Thành
35
35
23
CCN Hưng Thịnh
Xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom
19
19
24
CCN Xuân Hưng
Xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc
20,5
20
25
CCN Suối Cát
Xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc
Đang lập hồ sơ quy hoạch Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi
33
26 CCN Phú
Xã Phú Vinh,
33
Vinh
huyện Định Quán
30
30
27
CCN Bàu Trâm
Xã Bàu Trâm, thị xã Long Khánh
đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng
105
III
Giai đoạn sau năm 2020: triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng 10 cụm công nghiệp (449,8 ha). Trong đó có 6 CCN đã có quy hoạch và bổ sung 4 CCN quy hoạch mới
50
28 CCN An Viễn
50
50
29
50
50
30
50
CCN Sông Ray CCN Cọ Dầu 2
50
31
50
CCN Vĩnh An
55
32
54,8
CCN Vĩnh Tân
50
33 CCN Phú Túc
50
-
34
75
CCN Gia Tân 1& 2
-
35
30
CCN Phú Trung
-
36 CCN Phú Lộc
20
-
37 CCN Phú Lập
20
Xã An Viễn, huyện Trảng Bom Xã Sông Ray, huyện Cẩm Mỹ Xã Xuân Đông , huyện Cẩm Mỹ Thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu Xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu Xã Phú Túc, huyện Định Quán Xã Gia Tân, huyện Thống Nhất Xã Phú Trung, huyện Tân Phú Xã Phú Lộc, huyện Tân Phú Xã Phú Lập, huyện Tân Phú
Tổng cộng
1.799
1.943,2
Nguồn: [6; tr.87,88,89,90]
106
Phụ lục 3
DỰ BÁO DÂN SỐ, ĐÔ THỊ TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2030
Dự báo
Hiện trạng năm 2011
2015
2030
2020
TT
Tên đô thị
Tính chất chức năng
Đơn vị hành chính
Loại đô thị
Đất XD đô thị (ha)
Loại đô thị
Loại đô thị
Loại đô thị
Dân số đô thị (người)
Dân số đô thị (người)
Đất XD đô thị (ha)
Dân số đô thị (người)
Dân số đô thị (người)
Đất XD đô thị (ha)
Dân số toàn đô thị (người)
Dân số toàn đô thị (người)
Dân số toàn đô thị (người)
Đất XD đô thị (ha)
Dân số toàn đô thị (người)
TP. Biên Hòa
848.384706.609
II
950.000 800.000
I
12.000 1.100.0001.000.000
I
18.0001.400.0001.400.000
I
21.000
1
TP. Biên Hòa
Đô thị cấp vùng; trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, KHKT của tỉnh
2
135.311 54.357
IV
160.000 100.000
III
1.640 170.860 115.000
III
1.900 240.000 170.000
II
2.805
TX. Long Khánh
TX. Long Khánh
Trung tâm vùng phía Đông
3
29.808
60.000
900
80.000
1.170
235.000
4.140
Huyện Long Thành
29.808
V
60.000
V
900
100.000
80.000
IV 1.170 150.000
90.000
III
1.530
Đô thị Long Thành
Trung tâm vùng phía Tây
95.000
IV
1.710
Đô thị Bình Sơn
Đô thị dịch vụ (sân bay)
50.000
107
V
900
Đô thị Phước Thái
Đô thị dịch vụ (cảng biển)
120.000
2.400 260.000 170.000
5.000 350.000 245.000
7.000
4
Huyê ̣n Nhơn Trạch
Đô thị hành chính,
200.000 120.000
III
2.400 260.000 170.000
II
5.000 350.000 245.000
II
7.000
Đô thị Nhơn Trạch
công nghiệp
5
21.800
60.000
966
80.000
1.280
120.000
1.920
Huyê ̣n Trảng Bom
Đô thị hành chính
21.800
V
60.000
IV
966
80.000
IV 1.280 150.000 120.000
III
1.920
Thị trấn Trảng Bom
6
25.000
450
48.000
900
65.000
1.300
Huyê ̣n Thống Nhất
Đô thị hành chính
25.000
V
450
48.000
V
900
65.000
IV
1.300
Đô thị Dầu Giây
7
14.959
20.000
340
28.000
500
50.000
1.000
Huyê ̣n Xuân Lộc
Đô thị hành chính
14.959
V
20.000
V
340
28.000
V
500
50.000
IV
1.000
Thị trấn Gia Ray
8
20.000
330
30.000
510
65.000
1.300
Huyê ̣n Cẩm Mỹ
20.000
108
V
330
30.000
V
510
65.000
IV
1.300
Đô thị hành chính
Đô thị Long Giao
25.121
26.000
390
26.500
483
120.000
1.920
9
Huyê ̣n Vĩnh Cửu
Đô thị hành chính
25.121
V
26.000
V
390
35.000
26.500
V
483
50.000
40.000
IV
680
Thị trấn Vĩnh An
70.000
1.040
V
Đô thị Thạnh Phú
Đô thị công nghiệp
Đô thị Phú Lý Đô thị du lịch
10.000
200
V
10
21.767
30.000
360
35.000
420
80.000
1.467
Huyê ̣n Định Quán
21.767
V
30.000
V
360
35.000
V
420
50.000
IV
1.000
Thị trấn Định Quán
Trung tâm vùng phía Bắc
Đô thị Phú Túc Đô thị du lịch
10.000
250
V
Đô thị La Ngà
20.000
217
V
Đô thị công nghiệp
11
750
23.170
29.500
336
35.000
420
50.000
Huyê ̣n Tân Phú
Đô thị hành chính
23.170
V
29.500
V
336
35.000
V
420
50.000
IV
750
Thị trấn Tân Phú
Toàn tỉnh
897.591
1.290.500
20.112
1.647.500
30.583
2.600.000
44.602
Số đô thị
109
08
11
11
17
Nguồn: [54]
110
Danh sách các đơn vị được hỗ trợ nhãn hiệu hàng hóa giai đoạn 2006-2010
Tên đơn vị
Nội dung hỗ trợ
Ngành nghề
Năm 2006
TT 1 Công ty CP chăn nuôi Phú
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Chăn nuôi heo
Sơn
2006
2 Cơ sở du lịch sinh thái làng
bưởi Tân Triều
2007
3 HTX NN-DV-TM- DL
suối Lớn
Kinh doanh Bưởi/ Rượu bưởi Trái cây tươi các loại (xoài)
2007
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước và kiểu dáng công nghiệp Nhãn hiệu hàng hóa trong nước/Xây dựng website Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Mãng cầu, mua bán hạt
tiêu, café, điều
4 Hợp tác xã dịch vụ thương mại nông nghiệp thủy sản Xuân Bảo
2007
5 Nhà máy Chế biến Thực
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Gia súc, gia cầm
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Mua bán bưởi
2008 2008 2008
phẩm Đồng Nai 6 Cơ sở Nhân Hòa 7 Trang trại Lâm Thanh Đức Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Gia súc, gia cầm 8 Cơ sở rượu bưởi Hạnh
Bưởi các loại
Duyên
2008
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước và kiểu dáng công nghiệp 9 HTX DVNN Xuân Thanh Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại
(chôm chôm, sầu riêng)
10 HTX Dịch vụ Nông nghiệp
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại
2009
(xoài Lý Lịch)
Lý Lịch
11 HTX Nông nghiệp và Dịch
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại
2009
(bưởi)
vụ Tân Triều 12 Cơ sở Trần Cầu
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại
2010
(xoài)
13 Trang trại Nguyễn Long
2010
Sang
14 HTX SX Nông nghiệp DV-
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại (quýt, sầu riêng, xoài) Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Nấm, rau, các loại trái
2010
TM Toàn Thắng
cây
15 Hộ kinh doanh Đỗ Đăng
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại
2010
Khiết
(chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, mít, ổi)
16 HTX Thanh Long Phước
Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái thanh long
2010
Lộc
Phụ lục 4
Nguồn: [21]