BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THU HÀ

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014

2 BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THU HÀ

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÃ SỐ: 60 31 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐĂNG BỘ

HÀ NỘI - 2014

3

MỤC LỤC

Trang

3

MỞ ĐẦU Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG

9

1.1. NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI Quan niệm về khoa học và công nghệ; phát triển khoa

9

1.2. học và công nghệ phục vụ nông nghiệp Quan niệm, sự cần thiết và nội dung phát triển khoa học

và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai 16

Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH

32

2.1. ĐỒNG NAI Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội chi phối sự phát triển khoa

32

2.2 học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai Thực trạng phát triển khoa học và công nghệ phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai và những vấn đề đặt ra

hiện nay 39

Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHOA

HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP

68

3.1. Ở TỈNH ĐỒNG NAI Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ phục vụ

68

3.2. nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 75 96 97 101

4

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Về vai trò KHCN, Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI khẳng định “Phát

triển và ứng dụng KHCN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực

quan trọng nhất để phát triển KTXH và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần

được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành,

các cấp”. Vì vậy, phát triển KHCN không chỉ là chủ trương chiến lược của

Đảng, Nhà nước ta, mà còn là sự lựa chọn nhằm mục tiêu phát triển bền vững

của nhiều địa phương, trong đó Đồng Nai không phải là ngoại lệ.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung

ương Bảy khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhấn mạnh: Phát triển

KHCN phải trở thành khâu đột phá để phát triển nông nghiệp hiện đại và

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển nhanh việc ứng dụng công

nghệ sinh học và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; tập trung vào việc phát

triển giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thuỷ

sản. Nâng cao năng lực và đổi mới cơ chế, chính sách quản lý KHCN để nâng

cao hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất.

Đồng Nai là một tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đất đai

rộng, có nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi về tự nhiên, xã hội để thu hút

nguồn lực cho phát triển KTXH, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Sau gần 30

năm đối đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương Bảy khóa X

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tình hình nông nghiệp, nông dân, nông

thôn Đồng Nai liên tục phát triển và đạt được thành tựu khá toàn diện, góp

phần quan trọng ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng

cao đời sống. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng

sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững

chắc an ninh lương thực. Theo đó, đang xuất hiện nhiều thách thức mới trong

5

nông nghiệp, nông thôn và nông dân ảnh hưởng tới CNH,HĐH ở Đồng Nai.

Có nhiều nguyên nhân, trong đó sự phát triển của KHCN chưa đáp ứng yêu

cầu CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Có thể nói, đứng

trước yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay, sự phát

triển KHCN ở tỉnh Đồng Nai còn nhiều bất cập.

Để khắc phục bất cập trên, cần có sự nghiên cứu toàn diện, hệ thống về

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp “làm cho KHCN thực sự là động lực

quan trọng nhất để phát triển LLSX hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng

suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[28; tr.66] cũng

như phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng

Nai. Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn “Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Kinh tế chính trị.

2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trước sự phát triển nhanh, với nhiều đột phá của KHCN đã thu hút

nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Cho đến nay, đã có nhiều công trình

nghiên cứu với nhiều cấp độ khác nhau về phát triển KHCN nhằm những mục

đích khác nhau liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận văn.

Ngoài các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật, quy định

của Nhà nước về KHCN còn có nhiều nghiên cứu về phát triển KHCN như:

- Nguyễn Chí Hải (2001), “Một số vấn đề về việc phát triển KHCN

trong quá trình CNH,HĐH nền kinh tế ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế,

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Là công trình nghiên cứu tương

đối đầy đủ và có hệ thống về sự phát triển của KHCN ở Việt Nam trong sự

nghiệp CNH,HĐH. Tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của KHCN đối với tăng

trưởng kinh tế, thực hiện CNH,HĐH ở các nước và ở Việt Nam. Sau khi đánh

giá thực trạng, rút ra bài học ở các nước Châu Á, tác giả đã đưa ra định hướng

và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KHCN phục vụ CNH,HĐH.

6

- Phạm Văn Quý (2005), “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển

nguồn nhân lực KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH”, Luận án Tiến sĩ kinh

tế, Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội. Đây là một công trình nghiên cứu tiêu

biểu về phát triển KHCN. Trong luận án của mình, tác giả Phạm Văn Quý

đưa ra khái niệm và làm rõ vai trò của nguồn nhân lực KHCN; khảo sát thực

trạng nguồn nhân lực KHCN ở Việt Nam; nêu kinh nghiệm phát triển nguồn

nhân lực KHCN ở một số nước, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải

pháp chủ yếu nhằm phát triển KHCN đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH.

- Vũ Năng Dũng (chủ biên), Đỗ ánh, Chu Hoài Hạnh (2005), KHCN

nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, Nxb CTQG. Đây là

công trình mang tính tổng kết những thành tựu trong việc phát triển KHCN 20

năm đổi mới ở nước ta (1986-2005) trên các lĩnh vực cụ thể như: trồng trọt và

bảo vệ thực vật; chăn nuôi, thú y; đất đai và phân bón; cơ điện nông nghiệp và

công nghệ sau thu hoạch; lâm nghiệp; thủy lợi; chính sách phát triển nông

nghiệp, nông thôn. Đồng thời các tác giả đề xuất nhiều giải pháp phát triển

nông nghiệp, nông thôn ở các lĩnh vực trên.

- Trần Hồng Lưu (2011), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp

CNH,HĐH ở Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội. Tác giả của cuốn sách

này đề cập nhiều nội dung, trong đó những vấn đề có liên quan trực tiếp đến

luận văn mà tác giả có thể khai thác như: Vai trò của tri thức khoa học kỹ

thuật, công nghệ trong quá trình CNH,HĐH ở nước; nguyên nhân dẫn đến

doanh nghiệp không muốn đầu tư vào phát triển KHCN; quan điểm của Đảng

ta về phát triển KHCN; giải pháp tạo động lực nghiên cứu, phổ biến và ứng

dụng các thành tựu KHCN vào sản xuất và đời sống.

- Phan Xuân Dũng (2008), Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với

tiến trình CNH,HĐH ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội. Ở công trình này, tác

giả đã trình bày xu hướng phát triển KHCN trên thế giới trong thời gian tới;

7

quan điểm và một số giải pháp phát triển, ứng dụng công nghệ tiên tiến và

công nghệ cao với tiến trình CNH,HĐH ở Việt Nam như: Giải pháp về vai trò

chủ đạo của nhà nước trong phát triển công nghệ cao; giải pháp phát huy nhân

tố con người trong quá trình phát triển KHCN; giải pháp về cơ chế quản lý

đối với cơ quan nghiên cứu phát triển KHCN.

Ngoài những công trình trên còn có một số bài viết về phát triển KHCN

đã đăng trên các tạp chí như: Nguyễn Hải Bằng, “Thúc đẩy sự phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí

Nghiên cứu - trao đổi, (số 169/2010); Hoàng Bắc, “Đẩy mạnh ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật để xóa đói giảm nghèo”, Tạp chí Tiêu chuẩn đo lường

chất lượng, (số 13/2011); Xuân Hoài, “Thay đổi công nghệ sản xuất lúa gạo”,

Tạp chí Nông thôn mới, (kỳ 1, số 5/2011); Hải Quỳnh, “Hội nông dân Việt

Nam và Bộ KHCN phối hợp đưa khoa học đến nhà nông”, Tạp chí Nông thôn

mới, (kỳ 2 số 2/2011); Thanh Tùng, “Tập trung xây dựng tiềm lực KHCN vì

một nền nông nghiệp bền vững”, Tạp chí Đông Nam á, (số 12/2005); Vũ

Xuân Chính, “Chính sách sử dụng cán bộ KHCN, trọng dụng nhân tài - Một

vài suy nghĩ”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (số 1/2006); Trần Văn Chử,

“Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường KHCN”, Tạp chí Lý

luận chính trị, (số 6/2006)... Tuy khác nhau về góc độ tiếp cận, nội dung và

phạm vi đề cập nhưng các bài viết đều tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Một là, cơ sở lý luận và thực tiễn chứng minh cho tính tất yếu phải phát

triển KHCN trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.

Hai là, khuyến nghị liên quan chính sách quản lý đối với KHCN; đào

tạo, sử dụng và đãi ngộ cán bộ KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Ba là, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ

vào sản xuất nông nghiệp, coi KHCN là động lực chủ yếu để phát triển nông

nghiệp bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

8

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên tuy công bố gần đây và được

tiếp cận từ nhiều chuyên ngành kinh tế khác nhau, với nhiều phạm trù và

không gian khác nhau, song chưa có đề tài nào về phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, nghiên cứu về “Phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” là nội dung mới, không

trùng lặp với các công trình đã công bố gần đây. Đây là vấn đề mới, có ý

nghĩa thực tiễn, trực tiếp phục vụ nghiệp CNH,HĐH ở tỉnh Đồng Nai hiện

nay.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

Luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.

* Nhiệm vụ

- Luận giải những vấn đề lý luận về phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

- Đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

* Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp chủ yếu là lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi ở tỉnh Đồng Nai.

- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu sự phát triển của KHCN

phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2008-2013.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Cơ sở lý luận:

9

Cơ sở lý luận là lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, quan điểm của Đảng, chủ trương của tỉnh Đồng Nai về phát triển

KHCN phục vụ CNH,HĐH nói chung, phục vụ nông nghiệp nói riêng.

* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp lôgic kết

hợp lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh; các phương pháp nghiên

cứu của khoa học Kinh tế chính trị, trong đó chủ yếu là phương pháp trìu

tượng hóa khoa học.

6. Ý nghĩa của đề tài

- Luận văn góp phần cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển

KHCN, trong đó có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển

KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH trong điều kiện KTTT định hướng

XHCN và hội nhập quốc tế ở tỉnh Đồng Nai.

- Lý luận và thực tiễn về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là căn

cứ khoa học để cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Đồng Nai đề ra chủ trương,

chính sách phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

- Quan điểm và giải pháp phát triển KHCN sẽ là đóng góp quan trọng

để đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn Đồng Nai thời gian tới.

7. Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm có phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo và phụ lục.

10

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI

1.1. Quan niệm về khoa học và công nghệ; phát triển khoa học và

công nghệ phục vụ nông nghiệp

1.1.1. Quan niệm về khoa học và công nghệ

Để đưa ra quan niệm đúng, khách quan về KHCN, trước hết cần tìm

hiểu thế nào là khoa học, công nghệ. Từ khảo sát kết quả một số công trình

khoa học cho thấy, tuy cách tiếp cận khác nhau song đều có chung kết luận:

Thứ nhất, khoa học là khái niệm liên quan đến nhiều lĩnh vực: khoa học

là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ của nhận thức; khoa học là một

hoạt động xã hội của con người; khoa học là hệ thống tri thức của nhân loại

được thể hiện bằng những khái niệm, phạm trù, học thuyết… Ngoài ra, khoa

học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có hệ thống tri

thức về thế giới tự nhiên và xã hội nhằm làm cho con người nắm được bản

chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư

duy, trên cơ sở đó làm chủ điều kiện sống và cải tạo thế giới tự nhiên.

Thứ hai, công nghệ là hệ thống tri thức gắn liền và tương ứng với một

tập hợp kỹ thuật như máy móc, thiết bị… bao gồm hệ thống tri thức về kỹ

năng, bí quyết, kinh nghiệm… được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận

hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản

phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Nếu trước đây công nghệ dùng trong

lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, thì hiện nay khái niệm đó được sử

dụng với nghĩa rộng hơn, không chỉ trong sản xuất, mà được sử dụng ở tất cả

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong nhiều thế kỷ, khoa học phát triển độc

lập, nhưng từ đầu thế kỷ 20 đến nay, mối quan hệ giữa KHCN với đời sống

càng chặt chẽ. Chính sự gắn kết đó đã tạo ra cách mạng khoa học, trong đó

11

cách mạng KHCN đang diễn ra là cuộc cách mạng đột phá, làm cho KHCN

trở thành LLSX trực tiếp, đưa LLSX lên một bước phát triển mới.

Ở nước ta, trong các loại từ điển tiếng Việt hay hệ thống luật và các văn

bản về KHCN, hoặc liên quan đến KHCN đều chưa có khái niệm KHCN.

Ngay cả Luâ ̣t Khoa học và Công nghê ̣ là bộ luâ ̣t luâ ̣t gốc về lĩnh vực KHCN

ban hành năm 2013, cũng chưa có khái niệm KHCN mà chỉ có một số khái

niệm liên quan đến KHCN như: Khoa học; Công nghệ; Hoạt động KHCN...

Theo Luật KHCN năm 2013 thì: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản

chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư

duy”; “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc

không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản

phẩm”; “Hoạt động KHCN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và

triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ

KHCN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển

KHCN”[40]; “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm

hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng

tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”[40]. Ngoài ra còn có một số khái

niệm khác liên quan đến hoạt động khoa học, theo đó hoạt động khoa học

được hiểu là “tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan đến việc sản xuất,

nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học. Nội dung chủ yếu

của hoạt động khoa học bao gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ

khoa học và kỹ thuật”[36; tr.144]. Theo tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn

hóa của LHQ, hoạt động KHCN là hoạt động có liên quan tới sự ra đời, phát

triển, truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ, giải pháp quản lý

để nâng cao hiệu quả phát triển KTXH và chất lượng cuộc sống.

Từ các quan niệm trên cho thấy, dù diễn đạt hay không diễn đạt là một

hoạt động, thì khoa học, công nghệ, hay hoạt động KHCN vừa là hoạt động

12

của xã hội, mà trực tiếp là hoạt động có mục đích của con người, đồng thời là

sản phẩm do con người sáng tạo ra nhằm phát triển KTXH, nâng cao chất

lượng cuộc sống. Với cách tiếp cận này, thì khái niệm hoạt động KHCN trong

Luật KHCN cũng là khái niệm KHCN; theo đó, Khoa học và công nghệ là

hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ,

ứng dụng công nghệ, dịch vụ KHCN, phát huy sáng kiến và hoạt động đổi

mới, sáng tạo khác nhằm nâng cao hiệu quả phát triển KTXH, nâng cao năng

suất, chất lượng và giá trị gia tăng của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

1.1.2. Quan niệm về khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp

Cho đến nay, tuy chưa có quan niệm về KHCN phục vụ nông nghiệp;

song thực tế đang sử dụng một số thuật ngữ phản ánh nội hàm quan niệm này

như: KHCN nông nghiệp, phát triển KHCN nông nghiệp. Vì vậy, để có quan

niệm đúng về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trước hết cần thống nhất

nhận thức về nội hàm thuật ngữ KHCN phục vụ nông nghiệp và thuật ngữ

KHCN nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi đang tồn tại hai thuật ngữ, theo đó

sẽ là hai quan niệm khác nhau nếu không thống nhất sẽ gây hiểu lầm giữa hai

thuật ngữ, đó là: KHCN nông nghiệp; KHCN phục vụ nông nghiệp.

Thuật ngữ KHCN nông nghiệp được sử dụng trong hai văn kiện: Thứ

nhất, Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số

418/QĐ-TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ) trong đó nêu:

“KHCN nông nghiệp”[11]; Thứ hai, Nghị quyết Trung ương Sáu khóa XI về

phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH trong điều kiện KTTT định

hướng XHCN và hội nhập quốc tế, trong đó nêu: “Tiếp tục phát triển KHCN

nông nghiệp…”[28; tr.91]. Hai văn kiện này tuy đề cập đến thuật ngữ KHCN

nông nghiệp, nhưng chưa đề cập quan niệm KHCN nông nghiệp, hay phát

triển KHCN nông nghiệp, song nội hàm thuật ngữ này đã được làm rõ.

Trong Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 theo Quyết

định số 418/QĐ-TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng có 9 lĩnh vực KHCN,

13

bao gồm: KHCN nông nghiệp; KHCN y, dược; KHCN năng lượng; KHCN

giao thông vận tải; KHCN xây dựng; KHCN biển; KHCN quản lý và sử dụng

tài nguyên thiên nhiên; KHCN vũ trụ; KHCN ở các vùng, địa phương. Như

vậy, thuật ngữ KHCN nông nghiệp là thuật ngữ phản ánh tính chuyên sâu,

chuyên biệt của KHCN nông nghiệp. Đây là thuật ngữ phân biệt sự khác nhau

giữa KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp với KHCN trong các lĩnh vực khác

như: y, dược; năng lượng; giao thông vận tải; xây dựng; biển; quản lý và sử

dụng tài nguyên thiên nhiên; vũ trụ; vùng, địa phương. Điều này có nghĩa, vì

tính chuyên sâu mà KHCN nông nghiệp chỉ có thể phục vụ cho lĩnh vực nông

nghiệp, không sử dụng được cho lĩnh vực khác. Ngược lại, thuật ngữ KHCN

phục vụ nông nghiệp mà tác giả luận văn sử dụng sẽ có ý nghĩa rộng hơn; nó

không chỉ có KHCN nông nghiệp, mà còn bao gồm một số lĩnh vực KHCN đa

tác dụng, hay công nghệ lưỡng dụng vừa có thể sử dụng cho các lĩnh vực

khác, vừa phục vụ lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: KHCN biển; KHCN quản lý

và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; công nghệ môi trường; công nghệ sinh

học… là những lĩnh vực KHCN lưỡng dụng có thể sử dụng cả trong lĩnh vực

nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Từ những vấn đề trên có thể đưa ra quan niệm: KHCN phục vụ nông

nghiệp là một bộ phận của KHCN, bao gồm KHCN nông nghiệp và KHCN ở

một số lĩnh vực liên quan có thể sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp.

1.1.3. Quan niệm về phát triển khoa học và công nghệ

Cho đến nay, thuật ngữ phát triển đã trở nên quen thuộc không chỉ ở

nước ta, mà ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế, bởi thuật ngữ

này được sử dụng rất phổ biến ở nhiều lĩnh vực, trong các văn kiện (quốc gia,

quốc tế), các hội nghị (quốc gia, quốc tế), các hoạt động khoa học và đời sống

sinh hoạt đời thường. Mặc dù thuật ngữ phát triển được sử dụng rất phổ biến

như vậy, nhưng chưa có khái niệm phát triển đầy đủ, mà thuật ngữ này được

sử dụng như một tiếp đầu từ. Vì vậy, cũng như khái niệm KHCN, trong hệ

14

thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta về KHCN chưa có

khái niệm phát triển KHCN, mà chỉ có một số khái niệm liên quan như: Phát

triển công nghệ; Dịch vụ KHCN…; trong đó “Phát triển công nghệ là hoạt

động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua

việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ

hiện có, tạo ra công nghệ mới”[40]; “Dịch vụ KHCN là hoạt động phục vụ, hỗ

trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động

liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ

thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và

năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ

biến, ứng dụng thành tựu KHCN trong các lĩnh vực KTXH”[40].

Mặt khác, theo tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc, phát

triển công nghệ là tác động vào công nghệ hiện có nhằm làm cho công nghệ

ấy hoàn thiện hơn, trên cơ sở đó ứng dụng vào sản xuất và đời sống xã hội.

Phát triển công nghệ bao gồm hai qúa trình: phát triển công nghệ theo chiều

rộng và phát triển công nghệ theo chiều sâu. Theo đó, quá trình tiếp tục hoàn

thiện công nghệ để ứng dụng rộng rãi trong sản xuất được gọi là phát triển

công nghệ theo chiều rộng; hay còn gọi là phổ biến tri thức công nghệ trong

sản xuất. Quá trình phát triển công nghệ theo chiều sâu là quá trình cải tiến

công nghệ để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Để nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị

quyết Đại hội XI đề ra, cần có quan điểm và tư duy mới về phát triển KHCN

theo hướng ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển KHCN làm động lực phát

triển LLSX hiện đại, đẩy nhanh CNH,HĐH. Với nhận thức đó, trong sự

nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta có quan điểm đúng về vai trò

của KHCN. Tại Đại hội III, Đảng ta xác định, cách mạng khoa học kỹ thuật là

một cuộc cách mạng then chốt. Các Đại hội IV, V, VI, VII xác định KHCN là

nền tảng và động lực phát triển KTXH. Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII,

15

Đảng ta đã ra Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển KHCN trong

thời kỳ CNH,HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000. Đây là lần đầu tiên trong

văn kiện Đảng, KHCN cùng với giáo dục và đào tạo được xác định là quốc

sách hàng đầu. Kiên trì và nhất quán quan điểm này, Đại hội IX, X, XI đã

xác định, “KHCN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển LLSX hiện đại,

bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả,

tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[27; tr.78]. Vì vậy,

“Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển KHCN là quốc sách

hàng đầu”[27; tr.77] và “Phát triển KHCN nhằm mục tiêu đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình

độ tiên tiến của thế giới”[27; tr.78]. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương Sáu

khóa XI ra Nghị quyết về phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH

trong điều kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, xác định,

“Phát triển và ứng dụng KHCN là quốc sách hàng đầu, là một trong những

động lực quan trọng nhất để phát triển KTXH và bảo vệ Tổ quốc; là một

nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động

của các ngành, các cấp”[28; tr.77-78]. Với nhiều chủ trương đúng, KHCN

nước ta đã có bước phát triển quan trọng trong xây dựng và phát triển tiềm

lực, đạt nhiều thành tựu to lớn, đóng góp thiết thực vào “thành tựu to lớn,

có ý nghĩa lịch sử” thời kỳ đổi mới, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần đưa nước ta từ nước

kém phát triển thành nước có thu nhập trung bình. Cho đến nay, nước ta cơ

bản hoàn thành xây dựng nền tảng pháp lý cho hoạt động KHCN với 8 đạo

luật từ Luật KHCN năm 2000 đến Luật KHCN năm 2013 và “hơn 1.600 tổ

chức KHCN thuộc mọi thành phần kinh tế, hơn 62.000 cán bộ nghiên cứu

chuyên nghiệp, trong đó có hàng chục nghìn người có trình độ tiến sĩ và

thạc sĩ”[38; tr.5]. Như vậy, mặc dù Đảng ta có nhiều chủ trương phát triển

KHCN, song chưa có quan niệm đầy đủ về phát triển KHCN.

16

Từ các khái niệm về KHCN; về phát triển công nghệ và quan điểm của

Đảng ta về phát triển KHCN, có thể đưa ra quan niệm: Phát triển KHCN là

tổng thể cơ chế, chính sách và biện pháp đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển,

phổ biến và ứng dụng thành tựu KHCN vào sản xuất và đời sống nhằm khai

thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực phục vụ cho phát triển KTXH.

Ở phạm vi quốc gia, phát triển KHCN là phát triển đồng bộ các lĩnh

vực khoa học, gồm: khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa

học kỹ thuật và công nghệ với mục tiêu “Đến năm 2020, KHCN Việt Nam đạt

trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có

một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực KHCN đáp ứng các

yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[28; tr.80]

nhằm “Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối,

chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Xây dựng được nền tảng khoa học

tự nhiên hiện đại cho KHCN nói chung; phấn đấu đạt trình độ hàng đầu của

khu vực và thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực; làm chủ, ứng dụng

và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng

tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh

cao”[28; tr.80]; làm cho KHCN thực sự là động lực để phát triển LLSX, tạo

tiền đề phát triển kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và

sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng một số sản phẩm thương hiệu Việt

Nam; gắn phát triển KHCN với phát triển KTXH, bảo đảm quốc phòng, an

ninh; làm cơ sở vững chắc cho phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, đáp

ứng yêu cầu phát triển KTXH trong qúa trình CNH,HĐH, hội nhập quốc tế.

Ở phạm vi địa phương, lĩnh vực, phát triển KHCN là nâng cao năng lực

KHCN ở địa phương, lĩnh vực mình để làm chủ công nghệ tiên tiến, công

nghệ cao, công nghệ mới, giải pháp quản lý tiên tiến; đồng thời ứng dụng

thành tựu, giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia

17

tăng của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh

tranh cao, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển KTXH.

1.2. Quan niệm, sự cần thiết và nội dung phát triển khoa học và

công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

1.2.1. Quan niệm về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông

nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

Từ chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp; trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu, nhất là các khái

niệm về KHCN; về KHCN phục vụ nông nghiệp; về phát triển KHCN cũng

như nội dung phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp thì Phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai là tổng thể cơ chế, chính sách và biện

pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phổ

biến và ứng dụng thành tựu KHCN vào nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát

triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Đồng Nai. Với quan niệm này cho thấy:

Một là, chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp ở Đồng Nai là tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan quản lý từ

cấp tỉnh đến cơ sở. Trong đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và tổ chức đảng

các cấp có vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành công của sự

nghiệp phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; chính quyền các cấp có vai trò

quan trọng trong triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của tỉnh về phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp; đồng thời quản lý hoạt động này thông qua

xây dựng các chiến lược, kế hoạch và ban hành các cơ chế, chính sách, tạo cơ

sở pháp lý cho sự thống nhất và liên kết chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành

trong các hoạt động phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Hai là, lực lượng tham gia phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở

Đồng Nai bao gồm các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mỗi lực lượng trong

hệ thống chính trị có vai trò và trách nhiệm khác nhau; trong đó Sở KHCN,

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tổ chức KHCN; các chủ thể kinh

18

tế, các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp, nhất là nông dân là các lực lượng

trực tiếp. Đặc biệt, các tổ chức KHCN với nhiệm vụ “nghiên cứu khoa học,

nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KHCN”[40]

là cơ quan tiến hành hoạt động phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì

vậy, chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức này quyết định sự phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng nai. Những người nông dân

vừa là chủ thể của sự phát triển, vừa là đối tượng thụ hưởng thành tựu phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp; do đó vai trò của họ rất quan trọng trong

tiếp thu, ứng dụng cũng như sáng tạo KHCN phục vụ nông nghiệp.

Ba là, quy mô phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

tuy phụ thuộc vào yêu cầu phát triển nông nghiệp, nhưng nhìn chung sẽ nhỏ

hơn quy mô phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở phạm vi quốc gia.

1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển khoa học và công nghệ phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

Một là, xuất phát từ tác động của cách mạng KHCN đến lĩnh vực nông

nghiệp và sản xuất nông nghiệp nói chung.

Ngày nay, KHCN là yếu tố quan trọng, không thể thiếu đối với sự phát

triển bền vững ở mọi quốc gia. Theo quan điểm của Đảng ta thì, “KHCN là

nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước”[9]. Thật vậy, thành

tựu của KHCN đang xâm nhập sâu rộng vào quá trình sản xuất ở mọi lĩnh

vực, trở thành LLSX trực tiếp. Có thể nói, cách mạng KHCN tác động toàn

diện đến mọi quốc gia, mọi ngành, mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó

nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tuy bị tác động muộn hơn,

nhưng hiệu quả nhanh hơn, dễ nhận thấy. Điều đó thể hiện ở thời gian chuyển

từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng thành tựu KHCN vào sản xuất nông

nghiệp đã rút ngắn. Nói cách khác, quá trình nhất thể hoá giữa KHCN với sản

xuất nông nghiệp ngày càng rõ hơn, trở thành xu thế tất yếu của sự phát triển.

Vì vậy, để nông nghiệp Đồng Nai phát triển phải phát triển KHCN.

19

Do tác động bởi cách mạng KHCN từ giữa thế kỷ 20, nhất là tác động

từ cơ giới hóa, điện khí hóa nông nghiệp và sự phát triển của công nghệ sinh

học đã tạo ra sự thay đổi trong nông nghiệp. Ngày nay, “nông nghiệp là một

ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ

chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”[1;

tr.984]. Đây là ngành sản xuất vật chất chủ yếu dựa trên cơ sở là trồng trọt và

chăn nuôi, bằng việc sử dụng tài nguyên đất đai và nguồn nước để trồng trọt,

chăn nuôi, khai thác thủy hải sản nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và nhiều

sản phẩm khác phục vụ nhu cầu xã hội. Vì vậy, sản phẩm nông nghiệp ngoài

lương thực, thực phẩm phục vụ cho tiêu dùng của con người và thức ăn chăn

nuôi, còn có một số loại sản phẩm làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp,

xuất khẩu và nhiều ngành sản xuất vật chất khác. Thực tế cho thấy, trong điều

kiện KTTT và toàn cầu hoá, xét ở mọi cấp độ, nền kinh tế quốc dân, hay nền

kinh tế của một địa phương, chỉ có thể tồn tại và phát triển khi các sản phẩm,

hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế đó thường xuyên được đổi mới, có tính

cạnh tranh cao. Những đòi hỏi đó chỉ được đáp ứng khi nền kinh tế có tiềm

lực KHCN mạnh, và tiềm lực đó trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp.

Hai là, xuất phát từ mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nông nghiệp

bền vững với sự lạc hậu của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Thực tiễn khẳng định, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến

tính phát triển bền vững. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày

càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù đạt được sự tăng trưởng cao chưa

thể coi là đã phát triển. Hơn nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn tuy là

ba vấn đề khác nhau, nhưng nếu không đồng thời giải quyết một cách đồng bộ

thì không thể tiến hành thành công sự nghiệp CNH,HĐH.

Thời gian gần đây, tuy tỷ trọng sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

trong sản phẩm quốc nội giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông

20

nghiệp giảm. Thực tế cho thấy, Mỹ và Pháp là hai quốc gia có công nghiệp

phát triển cũng là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Ngược lại,

các nước Đông Á được coi là giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, thì hiện nay

phải nhập khẩu lương thực, vì sản xuất nông nghiệp giảm nghiêm trọng. Điển

hình như Philippin, là nước nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, đô

thị hóa đã dành nhiều diện tích canh tác phát triển đô thị, khu công nghiệp,

khu chế xuất, nhất là sân golf, vì thế thiếu lương thực trầm trọng, đe dọa an

ninh lương thực và phát triển bền vững. Việc các nước phát triển trợ cấp cho

nông nghiệp thông qua các ưu đãi, trong đó trọng tâm là phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp, đã làm cho các nước đang phát triển gặp khó khăn là

cái giá mà các nước này phải trả cho việc không chú trọng phát triển nông

nghiệp, nhất là phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Đây là bài học kinh

nghiệm về giải quyết mâu thuẫn giữa vai trò của nông nghiệp trong phát triển

bền vững với sự lạc hậu của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Một vấn đề khác của nông nghiệp Đồng Nai đang đặt ra cần giải quyết

là chất lượng nông sản thấp, vì chủ yếu xuất khẩu thô, quy mô sản xuất nhỏ

nên giá thành cao, năng suất lao động thấp. Muốn tăng giá trị nông sản hàng

hóa, cần cải tiến chất lượng sản phẩm bằng phát triển sản phẩm có xuất xứ địa

lý, sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm quốc tế và sản

phẩm hữu cơ. Để làm việc này, ngoài thể chế quản lý chất lượng nông sản,

phải tiến hành phát triển công nghiệp chế biến. Như vậy, để phát triển công

nghiệp chế biến, phải phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Tuy nhiên, thể

chế thị trường nông sản trong cả nước cũng như ở Đồng Nai, nếu chỉ dựa vào

quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp sẽ dẫn đến độc quyền doanh nghiệp;

nông dân là người sản xuất vẫn thiệt thòi. Muốn giải quyết tình trạng này,

phải phát triển chế biến, lưu thông. Chính quyền không thể trợ giúp nông dân

thông qua doanh nghiệp nhà nước, vì lợi nhuận là mục tiêu chính của doanh

21

nghiệp, mà phải thực hiện hỗ trợ qua dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ

công phục vụ nông nghiệp yếu, thiếu dịch vụ KHCN do chưa có chiến lược

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trong điều kiện đất ít, người đông, quy

mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp. Ngoài ra, các câu hỏi của nông

nghiệp công nghệ cao ở Đồng Nai như: công nghệ sinh học bảo đảm nguy cơ

đối với sức khỏe con người, môi trường; vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự

báo chiếm lĩnh thị trường nông sản; vấn đề biến đổi khí hậu, rủi ro trong nông

nghiệp gia tăng, mà chưa có biện pháp bảo vệ, chống thiên tai, rủi ro; vấn đề

bảo hiểm trong nông nghiệp… hầu hết vẫn còn bỏ ngỏ. Đó là những vấn đề

cốt lõi liên quan đến phát triển bền vững của nông nghiệp Đồng Nai. Điều đó

cho thấy sự lạc hậu, hay chậm trễ của KHCN trước yêu cầu phát triển nông

nghiệp. Bởi vậy, chỉ có phát triển KHCN mới có thể giải quyết mâu thuẫn

giữa vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển bền vững với sự lạc

hậu của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Ba là, xuất phát từ vai trò của KHCN đối với phát triển nông nghiệp ở

tỉnh Đồng Nai.

Thực tiễn phát triển KTXH cho thấy, ở phạm vi quốc gia, KHCN đã và

đang góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác

có hiệu quả các công nghệ nhập. Nhờ đó trình độ công nghệ trong một số

ngành sản xuất, dịch vụ ở nước ta hiện nay đã được nâng lên đáng kể; nhờ đó

mà nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có sức cạnh tranh cao trên thị trường

trong và ngoài nước. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, KHCN đã tạo ra

nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần

chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ nhập khẩu lương

thực trở thành một quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê và

một số nông sản, hải sản khác. Trong đó phải kể đến thành tựu của các

chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về công nghệ sinh học đã góp

22

phần nâng cao năng lực nội sinh của một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến trong

sản xuất nông nghiệp, vì vậy đã nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả

của kinh tế nông nghiệp. Ở phạm vi địa phương, nhất là cơ sở, trong đó có

Đồng Nai, KHCN đã đóng góp tích cực vào việc phát triển KTXH, tích cực

góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ

nhân dân, bảo vệ môi trường khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Về bản chất, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp

là tiến hành CNH,HĐH nông nghiệp. Muốn vậy phải phát triển KHCN. Vì

vậy, phát triển KHCN là yếu tố quan trọng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ

thuật phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp, nâng cao

năng suất nông nghiệp, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản xuất, tăng

khả năng cạnh tranh của nông sản. Chúng ta đã biết, công nghiệp hoá là sản

phẩm của cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 17, hiện đại hoá là sản phẩm

của cách mạng kỹ thuật giữa thế kỷ 20. Nhờ thành tựu KHCN mà nhiều lĩnh

vực phát triển đột biến. Chẳng hạn, việc sử dụng năng lượng nguyên tử,

năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc vào năng lượng khoáng sản;

sự ra đời của vật liệu tổng hợp đã giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên

nhiên không tái sinh; đồng thời cung cấp vật liệu mới có tính năng ưu việt

hơn, tái sinh được. Vấn đề đặt ra cho Đồng Nai trên con đường CNH,HĐH

nông nghiệp là ở chỗ, cần nắm bắt xu thế phát triển tất yếu, khách quan, khai

thác tối đa thời cơ, thuận lợi và hạn chế thấp nhất nguy cơ, bất lợi để thực

hiện thành công sự nghiệp đó. Muốn vậy, chỉ có thể bằng con đường phát

triển KHCN.

Sự phát triển của KHCN hiện nay đã làm thay đổi căn bản phương

thức sản xuất nông nghiệp, nhờ đó sản xuất nông nghiệp phát triển nhảy vọt,

trong đó có thành tựu bảo đảm an ninh lương thực. Nền nông nghiệp nước ta

cũng trong tình trạng như vậy. Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết Hội nghị

23

Trung ương Bảy khóa X nhấn mạnh, “ứng dụng nhanh các thành tựu khoa

học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân

lực, nâng cao dân trí nông dân”[26; tr.125]. Thực hiện chủ trương này, tháng

10/2008 Thủ tướng ban hành Chương trình hành động, trong đó nêu “Phát

triển khoa học - công nghệ phải trở thành khâu đột phá để phát triển nông

nghiệp hiện đại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển nhanh

việc ứng dụng công nghệ sinh học và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao;

tập trung vào việc phát triển giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, giống

vật nuôi và giống thủy sản. Nâng cao năng lực và đổi mới cơ chế, chính sách

quản lý KHCN để nâng cao nhanh hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao nhanh

tiến bộ KHCN vào sản xuất”[7]. Trong Chiến lược phát triển KHCN giai

đoạn 2011-2020 xác định, “KHCN phải góp phần quan trọng đưa Việt Nam

trở thành một nước mạnh về nông nghiệp, một trung tâm của thế giới về lúa

gạo và sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới”[10]. Tại Hội nghị Trung ương Sáu

khóa XI, Đảng ta chủ trương “Tiếp tục phát triển KHCN nông nghiệp, góp

phần đưa Việt Nam trở thành nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến; sản

xuất và xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo, thủy sản và sản phẩm nông

nghiệp nhiệt đới”[28; tr.91]. Như vậy, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ

trương phát triển KHCN, nhằm làm cho KHCN phát huy vai trò động lực và

là LLSX trực tiếp. Trong điều kiện đó, vấn đề đặt ra đối với Đồng Nai là làm

thế nào để KHCN đảm nhận được vai trò đó, thực sự là LLSX, góp phần hiện

đại hóa kết cấu hạ tầng KTXH, trực tiếp phục vụ nông nghiệp của tỉnh.

Đồng Nai là địa phương có nền kinh tế tiểu nông, lại bị chiến tranh tàn

phá nặng nề trong nhiều năm. Từ thực trạng nền kinh tế như vậy là sản xuất

nhỏ; thói quen của thời kì bao cấp trong sản xuất, kinh doanh vẫn tồn tại, ảnh

hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của tỉnh. Hơn

nữa, ảnh hưởng từ tác động khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế chưa

24

chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, thất nghiệp hoặc

không đủ việc làm gia tăng, tổng sản phẩm bình quân đầu người còn ở mức

thấp. Vì vậy, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là nhiệm vụ cấp thiết

trước thực trạng KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai phát triển chậm,

chưa đi vào cuộc sống mặc dù tiềm năng không nhỏ. Nhận thức được tính

cấp thiết đó, Tỉnh ủy Đồng Nai đã có chủ trương “nâng cao năng lực

KHCN làm nền tảng vững chắc và động lực phát triển KTXH”[3]. Đồng

thời “Xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ phát triển mô hình sản xuất

nông nghiệp (kinh tế trang trại, trang trại ứng dụng công nghệ cao) nhằm

tăng giá trị lớn trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Triển khai thực

hiện cơ chế khuyến khích, hỗ trợ nông dân nhân rộng các mô hình GAP;

thực hiện chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học vào

sản xuất, nhất là áp dụng các quy trình công nghệ sử dụng tiết kiệm vật tư

nông nghiệp, nước tưới, đất và sử dụng hiệu quả về giống, đưa cơ giới hóa

vào sản xuất và thu hoạch… để tăng năng suất, nâng cao chất lượng, giá trị

hàng hóa nông sản và giảm giá thành sản phẩm. Đồng thời hỗ trợ hiệu quả

việc tiêu thụ nông sản hàng hóa, trên cơ sở rà soát các chính sách hiện hành

hoặc kiến nghị Chính phủ và nghiên cứu từ thực tiễn địa phương để có cơ

chế phù hợp, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn,

phát triển sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế

biến nông sản với sự liên kết chặt chẽ, bền vững giữa doanh nghiệp, hợp

tác xã, hộ nông dân và xây dựng thương hiệu hàng hóa nông sản có thế

mạnh của địa phương để hỗ trợ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu”[3]. Để thực

hiện chủ trương này, Đồng Nai đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của KHCN

trong hiện đại hóa kết cấu hạ tầng KTXH phục vụ phát triển nông nghiệp.

Nhờ đó mà nhiều tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nhất là các tiêu chí về

phát triển kết cấu hạ tầng KTXH ở nhiều địa phương trong tỉnh Đồng Nai

đang từng bước hoàn thành, ngày càng đồng bộ và hiện đại.

25

Bốn là , do yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh

Đồng Nai theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với phát triển bền vững.

Lịch sử hình thành và phát triển nông nghiệp ở các nước phát triển cho

thấy, khi KHCN trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi nền

kinh tế, thì con đường phát triển bền vững nông nghiệp hàng hóa không thể

khác ngoài phương thức chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng

gắn kết chặt chẽ với phát triển KHCN. Khi KHCN phát triển thì sức lao động

nông nghiệp được giải phóng. Theo đó một bộ phận lao động nông nghiệp sẽ

được chuyển dịch sang làm việc ở các lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ; làm

cho lao động nông nghiệp giảm dần, đáp ứng mục tiêu chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp theo hướng hiệu quả hơn. Thông qua chuyển giao, ứng

dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất đã làm thay đổi căn bản cơ

cấu nông nghiệp và phi nông nghiệp, tạo ra sức hút lao động nhất là lao động

đã qua đào tạo để người dân có nhiều cơ hội hơn trong tìm việc làm với mức

thu nhập cao hơn. Hiện nay, ở các nước đang phát triển có dư lượng lao động

nông thôn cao, xu hướng sẽ gia tăng khi KHCN phục vụ nông nghiệp phát

triển. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, dự báo năm 2020, nông nghiệp trong GDP

còn 5%, lao động nông nghiệp còn 35% và lao động nông thôn còn 45%; còn

ở Việt Nam, dự báo năm 2020, tỷ trọng “nông nghiệp trong GDP sẽ còn 10%,

lao động nông nghiệp vẫn còn 23%”[49; tr.50]. Như vậy, khi công nghiệp hóa

thành công, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn rất quan

trọng. Do vậy, chúng ta không thể sao nhãng phát triển nông nghiệp, mà phải

coi phát triển nông nghiệp như một mục tiêu trọng tâm của phát triển KTXH.

Thực tế phát triển KTXH ở nước ta thời kỳ đổi mới cho thấy, nếu thời

kỳ đầu, thành công trong nông nghiệp là dựa trên sự thay đổi cơ chế quản lý,

giải phóng sức lao động; thì thành tựu đổi mới nói chung, phát triển KTXH

nói riêng sau này, trong đó nông nghiệp có nhiều thành tựu sớm nhất, là dựa

26

trên cơ sở phát triển LLSX bằng việc kết hợp có hiệu quả giữa tiềm lực con

người với sức mạnh KHCN. Vì vậy, với một nền nông nghiệp có nhiều tiềm

năng như Đồng Nai, để phát triển sản xuất, nhất thiết phải có tiềm lực KHCN,

do đó phải phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Với ý nghĩa đó, tỉnh Đồng

Nai đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các qui hoạch, đề án,

chương trình thực hiện... Nhờ đó thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp,

hình thành các vùng sản xuất tập trung theo danh mục sản phẩm hàng hóa

nông nghiệp chủ lực xác định theo hướng liên kết với chế biến, tiêu thụ sản

phẩm, các giống có năng suất, chất lượng cao, công nghệ sản xuất mới, tiến

bộ và cơ giới hóa được áp dụng mạnh mẽ vào sản xuất. Từ đó năng suất, chất

lượng sản phẩm, hiệu quả sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng nhanh. Thực

hiện lập qui hoạch sản xuất nông nghiệp và các sản phẩm chủ lực then chốt

theo hướng phát huy lợi thế so sánh của địa phương, hoàn thành qui hoạch

phát triển nông nghiệp chi tiết cho từng xã, thị trấn. Mặt khác, nếu KHCN

phục vụ nông nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy nhanh tính chất xã hội hóa sản

xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai; khi đó tính chất manh mún, nhỏ lẻ, phụ

thuộc vào các điều kiện tự nhiên trong nông nghiệp sẽ được khắc phục.

Dù tác động thế nào, thì sản xuất nông nghiệp luôn gắn với công nghệ

sinh học và sản phẩm công nghệ sinh học. Vì vậy, phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp sẽ là yếu tố nền tảng để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường

trong nông nghiệp và môi trường sống ở khu vực nông thôn. Ở tỉnh Đồng Nai

hiện nay, vấn đề gây nhiều bức xúc là tình trạng môi trường sản xuất nông

nghiệp và môi trường sống ở nông thôn bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.

Tình trạng ô nhiễm môi trường tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, cụm

tiểu thủ công nghiệp, các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm (hiện tỉnh có

103 trang trại, trong đó 82 trang trại nuôi heo, 21 trang trại nuôi gà). Có nhiều

nguyên nhân gây ra tình trạng này, song nguyên nhân cơ bản là nhiều cơ sở

27

sản xuất đã sử dụng công nghệ cũ, công nghệ lạc hậu, thậm chí công nghệ thải

loại từ nước ngoài; hay nước thải từ sản xuất công nghiệp và sản xuất nông

nghiệp không qua xử lý, hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn đã thải ra môi

trường, dẫn đến tình trạng ô nhiễm, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

và đời sống của nông dân. Điển hình như vụ xả thải của công ty Vedan, công

ty SonadeZi. Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường cần có những giải

pháp đồng bộ, trong đó ưu tiên phát triển KHCN là một trong những giải pháp

hữu hiệu vừa cơ bản, vừa lâu dài. Việc ứng dụng thành tựu KHCN tiên tiến

vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm giảm đáng kể các chất thải độc hại ra môi

trường, bảo đảm cho nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững.

Năm là, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp

đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Không chỉ

ở nước ta, mà ở mọi quốc gia, nguồn nhân lực giữ vai trò là nền tảng và yếu

tố quyết định phát triển bền vững. Vì vậy, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực

đến năm 2020 là đưa nhân lực “trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất

để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng

trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các

nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước

phát triển trên thế giới”[8]. Với cách hiểu như vậy thì nguồn nhân lực nông

nghiệp quyết định thành công sự nghiệp CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Giữa phát triển KHCN với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp

có mối quan hệ hữu cơ: khi KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển sẽ đòi hỏi

trình độ của nguồn nhân lực nông nghiệp phát triển tương ứng. Chính điều

này đòi hỏi các chủ thể phải có các giải pháp để đào tạo, phát triển nguồn

nhân lực theo kịp yêu cầu phát triển KHCN; nói cách khác trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ của nguồn nhân lực phải tương thích với trình độ phát triển

KHCN. Mặt khác, khi đó mỗi chủ thể sản xuất nông nghiệp cũng như mỗi

28

người nông dân phải tự mình học tập thông qua các hình thức bồi dưỡng, tập

huấn, hay đào tạo khác nhằm nâng cao trình độ để có thể ứng dụng và vươn

lên làm chủ KHCN; nghĩa là họ phải có khả năng tiếp cận với các thành tựu

KHCN nông nghiệp, đặc biệt là tiếp nhận chuyển giao, ứng dụng thành tựu

khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tiến tiến vào sản xuất. Chính mối quan

hệ tác động qua lại giữa KHCN với nguồn nhân lực nông nghiệp đã làm cho

chất lượng của nguồn nhân lực nông nghiệp không ngừng tăng lên; ngược lại,

chỉ khi chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp đã được nâng cao tương ứng,

mới có khả năng khai thác, sử dụng thành tựu KHCN vào sản xuất và đời

sống, đồng thời thúc đẩy KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển.

1.2.3. Nội dung phát triển khoa học và công nghệ phục nông nghiệp

ở tỉnh Đồng Nai hiện nay

Ở nước ta, để khai thác lợi thế nông nghiệp nhiệt đới nhằm phát triển

sản xuất hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh

cao, Nghị quyết Trung ương bảy khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông

thôn nhấn mạnh “Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa

học - công nghệ hiện đại, công nghệ sinh học, thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, thông

tin hoá, thay thế lao động thủ công, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để sử

dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, lao động, nâng cao năng suất, chất

lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản”[26; tr.129]. Tiếp tục chủ

trương này, Đại hội XI xác định “Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ KHCN hiện đại

trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để

tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất

lượng và hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên một đơn vị đất canh

tác. Hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao. Đẩy mạnh chăn

nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm chất lượng và

an toàn dịch bệnh… Gắn kết chặt chẽ… giữa việc áp dụng kỹ thuật và công

29

nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông

thôn mới”[27; tr.115]. Với chủ trương này, Hội nghị Trung ương sáu khóa XI

nhấn mạnh “Tiếp tục phát triển KHCN nông nghiệp, góp phần đưa Việt Nam

trở thành nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến; sản xuất và xuất khẩu

hàng đầu thế giới về lúa gạo, thủy sản và sản phẩm nông nghiệp nhiệt

đới”[28; tr.91]; đồng thời “Nghiên cứu và phát triển có trọng điểm các công

nghệ gen, tế bào, vi sinh, enzym-protein, tin sinh học, nano sinh học; ứng

dụng có hiệu quả các công nghệ này vào mô ̣t số lĩnh vực chủ yếu”[28; tr.90],

trong đó có nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến. Có thể nói, chủ

trương xây dựng nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo hướng hiện

đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và

khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả

trước mắt và lâu dài là chủ trương phát triển KHCN nông nghiệp Việt Nam.

Định hướng phát triển KHCN trong Chiến lược phát triển KHCN giai

đoạn 2011-2020 chỉ rõ nội dung phát triển KHCN nông nghiệp bao gồm:

“Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến phục vụ quy

hoạch phát triển nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới.

Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nông nghiệp tập

trung vào các đối tượng cây trồng, vật nuôi có khả năng tạo ra sản lượng hàng

hóa lớn, có tính cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.

Ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học để tạo các giống cây, con mới có

năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với sâu bệnh và có khả năng thích

nghi điều kiện biến đổi khí hậu. Ứng dụng các giải pháp công nghệ sinh học

để xác định và phòng, chống các loại dịch bệnh nguy hiểm mới phát sinh, tạo

các chế phẩm sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững.

Nghiên cứu đề xuất những giải pháp hữu hiệu về giống, canh tác các

loại cây rừng phù hợp với những điều kiện cụ thể của từng địa bàn; nâng cao

30

tỷ lệ che phủ rừng, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ góp phần phòng, chống

và giảm nhẹ thiên tai.

Nghiên cứu bảo tồn và khai thác hợp lý, có hiệu quả cao các nguồn

gen trong nông nghiệp, đặc biệt là các nguồn gen đặc hữu của Việt Nam

phục vụ cho việc tạo ra các sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao.

Nghiên cứu cơ sở khoa học để phát triển an toàn thực phẩm biến đổi gen.

Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến và giải pháp phù hợp để

chế biến, bảo quản và đa dạng hóa các mặt hàng nông - lâm - thủy sản,

góp phần xây dựng các thương hiệu mạnh cho các sản phẩm xuất khẩu

của Việt Nam; nghiên cứu kết hợp công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm

truyền thống để chế biến, bảo quản một số đặc sản truyền thống ở quy mô

công nghiệp, bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Nghiên cứu phát triển công nghệ và công cụ, thiết bị tiên tiến, đồng bộ

cho sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y, thức ăn gia súc.

Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ, thiết bị, vật liệu tiên tiến trong

khảo sát, thiết kế, thi công các công trình thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu

về tưới, tiêu chủ động, phòng tránh thiên tai, phát triển nông nghiệp thích

ứng với biến đổi khí hậu”[10]. Từ chủ trương phát triển KHCN nông

nghiệp cũng như KHCN phục vụ nông nghiệp cho thấy, phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp gồm 09 nội dung sau:

Thứ nhất, nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến

phục vụ quy hoạch phát triển nông nghiệp;

Thứ hai, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, giải

pháp công nghệ sinh học để phát triển bền vững nông, lâm và ngư nghiệp;

Thứ ba, áp dụng quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng và

hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng;

31

Thư tư, tập trung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tạo

giống cây trồng, vật nuôi có khả năng tạo ra sản lượng lớn, khả năng cạnh

tranh cao, bảo đảm an ninh lương thực;

Thứ năm, nghiên cứu đề xuất giải pháp về giống, canh tác các loại cây

rừng phù hợp, nâng cao tỷ lệ che phủ, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ, góp

phần phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;

Thứ sáu, nghiên cứu bảo tồn, khai thác hợp lý, có hiệu quả các nguồn

gen, đặc biệt là nguồn gen đặc hữu tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao;

Thứ bảy, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, giải pháp phù hợp

kết hợp với kinh nghiệm truyền thống để chế biến, bảo quản sản phẩm nông,

lâm, thủy sản, góp phần xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm xuất khẩu;

Thứ tám, phát triển công nghệ và công cụ, thiết bị tiên tiến, đồng bộ

cho sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn gia súc.

Thứ chín, nghiên cứu ứng dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu tiên tiến

bảo đảm thủy lợi và chủ động, phòng tránh thiên tai, phát triển nông nghiệp

thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai là một bộ phận của nền nông nghiệp Việt

Nam. Vì vậy, về bản chất, những nội dung phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp Việt Nam cũng là nội dung phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở

tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, sự khác nhau là ở chủ thể, lực lượng tham gia tiến

hành hoạt động này. Riêng quy mô nội dung phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp ở tỉnh Đồng Nai sẽ hẹp hơn quy mô nội dung phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp ở phạm vi quốc gia, nhưng phải phù hợp với đặc thù của từng

ngành, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và kinh nghiệm, truyền thống canh tác

của người nông dân trên địa bàn tỉnh. Trong điều kiện KHCN phát triển mạnh

mẽ như hiện nay, quá trình thực hiện các nội dung phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp cần ưu tiên cho một số lĩnh vực KHCN nền tảng có ý quyết định

32

đến năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của phát triển nông

nghiệp, nông thôn. Trong đó: công nghệ sinh học; công nghệ sau thu hoạch và

chế biến nông sản; công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường nông nghiệp; KHCN

phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH phục vụ phát triển nông nghiệp,

nông thôn tỉnh Đồng Nai.

*

* *

Trên cơ sở tiếp câ ̣n lý luâ ̣n và thực tiễn, luận văn đưa ra các khái niệm

như: KHCN, phát triển KHCN; KHCN phục vụ nông nghiệp và phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở đó, luận giải sự cần

thiết và nd phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp là một nhiệm vụ cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài

của hệ thống chính trị tỉnh Đồng Nai nhằm nâng cao năng suất, chất lượng,

hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường trong nước và quốc

tế, tiến tới phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, bền vững. Xét đến cùng, phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp là để Đồng Nai phát huy hơn nữa tiềm năng

đất đai, vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng được đầu tư hiện đại, góp phần rút

ngắn quá trình CNH,HĐH, để năm 2015 Đồng Nai “trở thành một tỉnh công

nghiệp theo hướng hiện đại, đi trước cả nước 5 năm”.

33

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội chi phối sự phát triển khoa học

và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

2.1.1. Thuận lợi

Thứ nhất, Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về kinh tế và xã

hội để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Đồng Nai là tỉnh công nghiệp;

nhiều nhà máy hoạt động tại các KCN, CCN trên địa bàn ((Phụ lục 2.1; 2.2)

với nhiều lĩnh vực có khả năng liên kết thành chuỗi khép kín theo hướng sản

phẩm của nhà máy này được sử dụng làm nguyên liệu cho nhà máy khác.

Lực lượng lao động tỉnh Đồng Nai có ý chí vươn lên, có ý thức kỷ luật,

tác phong công nghiệp, có khả năng làm việc cường độ cao. Dân số Đồng Nai

tăng cao gần đây tuy gây áp lực cho công tác an sinh xã hội, song cũng mở ra

cơ hội phát triển các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống (Biểu 2.1).

3.500

3.000

Biểu 2.1: Dân số Đồng Nai năm 2010 và dự báo đến năm 2020

) i ờ ư g n

2.500

n

0 5 4 . 1

ì

0 5 0 . 1

1 6 8

2.000

5 2 7

+ Thành thị

1.500

h g n ( ố s

+ Nông thôn

0 5 8

1.000

0 7 7

4 1 7

n â D

.

.

.

9 3 5

1

.

1

1

1

500

-

Năm

2005

2010

2015

2020

Nguồn: [6; tr.11]

Dự báo qui mô dân số Đồng Nai năm 2020 từ 3.100.000÷3.200.000

người; năm 2030 từ 3.600.000÷3.700.000 người (Phụ lục 2.3).

34

Thứ hai, vị trí địa lý là điều kiện thuận lợi cho phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Đồng Nai có vị trí chiến lược về kinh tế,

thương mại, quốc phòng, an ninh. Có nhiều tuyến giao thông kết nối Đồng

Nai với Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên; thành phố Hồ Chí

Minh. Với vị thế quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sẽ là

điều kiện thuận lợi không chỉ cho phát triển KTXH, mà còn thuận lợi cho

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Do vị trí thuận lợi, Đồng Nai có điều

kiện thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ sản phẩm có hàm lượng

công nghệ và trình độ kỹ thuật cao; hợp tác phát triển KHCN, đào tạo nguồn

nhân lực có chuyên môn kỹ thuật, trình độ quản lý cao. Trong bối cảnh hội

nhập, với vị trí địa kinh tế khá thuận lợi, có cảng biển, không gian mặt bằng

cho phát triển kinh tế rộng rãi, nguồn lao động dồi dào, Đồng Nai có tiềm

năng, lợi thế nổi bật về phát triển nhiều ngành, lĩnh vực. Vì thế, Đồng Nai

được coi là bản lề chiến lược giữa bốn vùng của các tỉnh phía Nam. Với đặc

điểm địa lý đó Đồng Nai có nhiều lợi thế để phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp.

Thứ ba, Đồng Nai có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển thành trung

tâm giáo dục và đào tạo; KHCN ở Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng

điểm phía Nam. Đồng Nai là tỉnh có diện tích và dân số lớn, tăng trưởng kinh

tế nhanh, có nhiều khu công nghiệp thu hút lao động, có điều kiện liên kết,

hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác để thu hút đầu

tư phát triển các cơ sở đào tạo, dạy nghề, nghiên cứu, triển khai, ứng dụng

KHCN có qui mô, đẳng cấp quốc tế; hình thành và phát triển đô thị khoa học,

các khu làng đại học. Theo Quy hoạch phát triển các khu chuyên ngành đến

năm 2020 (Bảng 2.1) trên địa bàn tỉnh sẽ hình thành: Trung tâm công nghệ

sinh học (Cẩm Mỹ), Khu công nghiệp công nghệ cao (Long Thành), Khu liên

hợp công nông nghiệp (Dofico). Đó là tiềm năng, lợi thế để Đồng Nai phát

35

triển thành trung tâm giáo dục và đào tạo, KHCN, nhất là đào tạo nhân lực

chuyên môn kỹ thuật cao và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học.

Bảng 2.1. Quy hoạch phát triển các khu chuyên ngành đến 2020

Stt

Địa điểm

Khu chuyên ngành

Hiện trạng 2010 (ha)

QH SĐ theo NQ số 69 ngày 30/10/2012 của CP

Rà soát, bổ sung đến năm 2020

-

1

Long Thành

420

410

-

2

2.187

-

Thống Nhất, Xuân Lộc

-

3

Cẩm Mỹ

253

208

Khu công nghiệp công nghệ cao Long Thành Khu liên hợp công nông nghiệp Dofico Trung tâm công nghệ sinh học

Nguồn: [6; tr.85]

Thứ tư, tốc độ tăng trưởng, quy mô nền kinh tế Đồng Nai là những yếu

tố vật chất quan trọng để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp (Biểu 2.2)

20,0

18,0

Tốc độ tăng GDP cả tỉnh

16,0

14,0

Công nghiệp - xây dựng

)

12,0

%

10,0

Dịch vụ

( ệ l ỷ T

8,0

6,0

4,0

Nông lâm nghiệp và thủy sản

2,0

0,0

2001 2002

2003 2004 2005 2006

2007 2008 2009 2010

2011

2012

Năm

Biểu 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Đồng Nai từ năm 2001-2012

36

5 năm gần đây, mặc dù khó khăn, kinh tế phục hồi chậm; thị trường

xuất khẩu thu hẹp, cạnh tranh gay gắt, giá xuất khẩu một số mặt hàng nông

sản giảm. Song với sự nỗ lực, phấn đấu của cả hệ thống chính trị, sự đồng

thuận của nhân dân nên KTXH đạt kết quả khá tốt, “Kinh tế tăng tưởng khá

cao so với bình quân cả nước và đạt mục tiêu nghị quyết đề ra, cơ cấu kinh tế

chuyển dịch tích cực, đúng định hướng, tạo nguồn lực đảm bảo về an sinh xã

hội và tạo nền tảng tốt cho sự phát triển những năm sau”[4]. Trong đó, GRDP

“tăng 11,5% so năm trước. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng

giữ tỷ trọng GRDP ngành công nghiệp - xây dựng, tăng tỷ trọng GRDP ngành

dịch vụ và giảm ngành nông, lâm, thủy sản”[4]. Từ một số chỉ tiêu KTXH

đạt được cho thấy, kinh tế Đồng Nai phát triển nhanh, có tiềm lực mạnh là

“một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, là một trong

5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có giá trị sản xuất công nghiệp lớn

nhất trong cả nước”[6; tr.1] giai đoạn 2006-2010 (Biểu 2.3).

Biểu 2.3: Cơ cấu các GDP của tỉnh năm 2005 và năm 2010

Năm 2005

Năm 2010

Nông lâm nghiệp và thủy sản; 8,6%

Công nghiệp - xây dựng; 57,2%

Dịch vụ; 34,2%

Công nghiệp - xây dựng; 57,0%

Nông lâm nghiệp và thủy sản; 15,0%

Dịch vụ; 28,0%

Nguồn: [6; tr.17]

Sau gần 30 năm đổi mới, Đồng Nai “phát triển tương đối hài hòa giữa

các mặt, giữa chiều rộng với chiều sâu, giữa công nghiệp, nông nghiệp và

dịch vụ, giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, giữa kinh tế

và xã hội, văn hóa, giữa các vùng, giữa đồng bào các dân tộc... kết hợp được

cả trước mắt và lâu dài”[60] (Bảng 2.2). Được đánh giá, “là một trong số

37

những tỉnh, thành phố trong cả nước đã làm tương đối tốt công tác lãnh đạo

phát triển KTXH…”[60].

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu phát triển KTXH của tỉnh 2006-2010

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2005

Năm 2010

Tốc độ tăng Bình quân năm (%)

Tỷ đồng

1. GDP (giá 94)

13,5

19.178,9

36.202,5

- Nông lâm thuỷ sản

4,7

3.022,5

3.804,1

- Công nghiệp - Xây dựng

14,9

11.754,7

23.555

- Dịch vụ

15,0

4.401,7

8.843,3

2. GDP (giá thực tế)

Tỷ đồng

29.999,7

75.899,0

- Nông lâm thuỷ sản

4.497,2

6.526,2

- Công nghiệp - Xây dựng

17.102,6

43.414,4

- Dịch vụ

8.399,9

25.958,4

%

3. Cơ cấu GDP (giá tt)

- Nông lâm thuỷ sản

15,0

8,6

- Công nghiệp - Xây dựng

57,0

57,2

- Dịch vụ

28,0 839

34,2 1.629

USD

4. GDP bình quân người (giá tt) Nguồn: [6; tr.17]

Năm 2012, tỷ trọng GRDP của như sau: công nghiệp - xây dựng 57%;

dịch vụ 36,2%; nông, lâm, thủy sản 6,8%. Sang năm 2013 tỷ trọng đó như

sau: “công nghiệp - xây dựng 56,9%, dịch vụ 36,8%, nông, lâm, thủy sản

6,3%. GRDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 48,7 triệu đồng, tương

đương 2.318 USD”[8], vượt chi tiêu của Tỉnh ủy năm 2013. Sản xuất công

nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,1%.

Mặc dù khó khăn nhưng năm 2013, tỉnh Đồng Nai “đã thu hút trên 1,64 tỷ

USD vốn đầu tư nước ngoài”[8]; thu hút đầu tư trong nước trên 8 ngàn tỷ

đồng và vốn đăng ký kinh doanh trên 9 ngàn tỷ đồng. Đầu tư xây dựng cơ bản

được quan tâm; từng bước khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và

đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tái định cư, giải ngân để đẩy nhanh

tiến độ thi công, nhất là các công trình giao thông quan trọng như: đường

38

tránh Biên Hoà, đường 25A, đường 768, Hương lộ 10, cầu Hóa An, cầu Đồng

Nai...; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương, các chủ

đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí

Minh - Long Thành - Dầu Giây, đường Quốc lộ 51, Quốc lộ 20, cầu vượt ngã

tư Vũng Tàu, tạo điều kiện thúc đẩy KTXH phát triển. Hoạt động dịch vụ

phát triển tích cực, giá trị gia tăng ngành năm 2013 tăng 14,1%; trong đó một

số ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao tiếp tục phát triển như: dịch vụ vận tải

hàng hóa, hành khách; dịch vụ cảng (sản lượng hàng thông qua cảng tăng

5,4%); dịch vụ bưu chính viễn thông (doanh thu tăng 15,3%); dịch vụ du lịch

(lượt khách tham quan tăng 11%, doanh thu tăng 13%). Sản xuất nông nghiệp

năm 2013 tuy có nhiều khó khăn, song “giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản

tăng 3,8%”[8] so năm 2012. Đến năm 2013, Đồng Nai đã có 91,1% ấp, khu

phố đạt danh hiệu ấp phu phố văn hóa; 97,8% hộ gia đình đạt danh hiệu hộ

gia đình văn hóa và 97% cơ quan, đơn vị có đời sống văn hoá tốt; 55,5% xã,

phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020; 96% xã,

phường có bác sĩ; bình quân 1 vạn dân có 6,5 bác sĩ và 23,5 giường bệnh.

Từ các chỉ tiêu đạt được gần đây cho thấy, KTXH tỉnh Đồng Nai có

chuyển biến tích cực, “Đồng Nai phát triển tương đối đều, liên tục, đúng

hướng, theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, CNH,HĐH”[60]. Các hoạt

động văn hóa, y tế, giáo dục có tiến bộ; an sinh xã hội được quan tâm, tập

trung vào đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, bảo trợ xã hội.

Theo Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn

đến năm 2050 (Quyết định số 1460/QĐ-UBND, ngày 23/5/2014 của Ủy ban

nhân dân tỉnh Đồng Nai), Đồng Nai sẽ là: “trung tâm giao thương các vùng

kinh tế động lực của quốc gia…; Cực tăng trưởng kinh tế lớn của vùng kinh tế

trọng điểm phía Nam, Trung tâm CNH,HĐH của cả nước; Đầu mối giao

thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không,

39

trung tâm kho vận, tiếp vận của vùng…; Trung tâm dịch vụ đa ngành, trung

tâm công nghiệp tập trung, công nghiệp công nghệ cao, trung tâm thương mại

- tài chính của quốc gia; Trung tâm phát triển nông lâm, nghiệp chuyên canh,

nông nghiệp công nghệ cao, trung tâm bảo tồn rừng cảnh quan, bảo tồn đa

dạng sinh học và nguồn nước của toàn vùng thành phố Hồ Chí Minh”[54].

2.1.2. Khó khăn

Thứ nhất, qui mô dân số Đồng Nai lớn, tốc độ gia tăng cơ học nhanh,

lao động trong độ tuổi dồi dào, song chất lượng nguồn nhân lực, “nhất là đội

ngũ cán bộ công chức, đặc biệt là ở cấp xã phường còn hạn chế, chưa đáp ứng

được yêu cầu phát triển; thiếu lực lượng lao động có kỹ thuật phục vụ cho

phát triển công nghiệp hỗ trợ, các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật công nghệ

cao”[46], công nghệ sinh học, lĩnh vực đào tạo…

Thứ hai, mức tăng trưởng GRDP của tỉnh giảm dần mấy năm gần đây;

nguồn thu ngân sách khó khăn, ảnh hưởng đến tích lũy từ nội bộ nền kinh tế

tỉnh cho phát triển và đáp ứng nhu cầu đảm bảo an sinh xã hội cũng như tổng

vốn đầu tư xã hội sẽ giảm. Tình trạng này còn kéo dài do ảnh hưởng từ kinh

tế vĩ mô trong nước chưa ổn định; chất lượng tăng trưởng thấp, tái cơ cấu nền

kinh tế chưa đạt yêu cầu, nợ xấu ngân hàng còn cao gây tắc nghẽn nền kinh

tế, sức mua của thị trường còn yếu, thị trường bất động sản chưa phục hồi.

Thứ ba, thách thức ứng phó với biến đổi khí hậu khắc nghiệt hơn, ảnh

hưởng đến sản xuất và đời sống… Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu mà

mực nước sông Đồng Nai vào mùa khô giảm, lượng mưa trung bình hàng

năm ít đi, việc xây dựng các đập thủy điện đã ảnh hưởng đến an ninh lương

thực và cấp nước sinh hoạt. Đây là một thách thức lớn đối với KHCN phục vụ

nông nghiệp trong những năm tiếp theo.

40

Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội trên cho thấy tiềm năng, lợi thế phát

triển của tỉnh Đồng Nai. Đây cũng là các yếu tố quan trọng tác động đến phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

2.2. Thực trạng phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông

nghiệp ở tỉnh Đồng Nai và những vấn đề đặt ra hiện nay

2.2.1. Những kết quả đạt được

Sau gần 30 năm đổi mới, nông nghiệp Đồng Nai tăng trưởng đáng kể

cả về năng suất, sản lượng và giá trị, nông sản và sản phẩm chế biến từ nông

sản xuất khẩu tăng. Sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh, toàn diện, góp

phần bảo đảm an ninh lương thực và một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí

cao trên thị trường quốc tế như cao su, cà phê, hạt tiêu... Kết quả đó có sự

đóng góp quan trọng của KHCN phục vụ nông nghiệp.

Một là, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được

ứng dụng mang lại hiệu quả KTXH, góp phần nâng cao năng suất, chất

lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Đồng Nai

Với đa số dân cư Đồng Nai là nông dân, địa phương có tiềm năng to

lớn để phát triển nông, lâm, thủy sản thì việc áp dụng thành tựu KHCN vào

nông nghiệp càng quan trọng. Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp không

chỉ đáp ứng yêu cầu sản xuất nông sản hàng hóa, cải thiện thu nhập, nâng đời

sống nông dân, mà còn trực tiếp góp phần phục vụ CNH,HĐH nông nghiệp,

nông thôn. Với ý nghĩa đó, hoạt động KHCN thường xuyên đổi mới và phát

huy hiệu quả thông qua nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN

vào nông nghiệp, tạo ra nông sản có chất lượng tốt, năng suất cao, nâng cao

sức cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân.

Mấy năm gần đây, do kinh tế thế giới khó khăn nên nhu cầu nhập

khẩu nông sản ở nhiều thị trường giảm, kéo theo giá một số mặt hàng

nông sản giảm mạnh. Song tỉnh đã chú trọng thực hiện các chính sách tín

41

dụng, hỗ trợ phát triển nông nghiệp; đồng thời, tập trung chỉ đạo chương

trình phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực, chương trình cánh đồng mẫu

lớn gắn với đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng thông qua ứng

dụng thành tựu KHCN tiến tiến, công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng

cao năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi, nhất là nâng cao

năng lực cạnh tranh của nông sản; nhân rộng mô hình sản xuất sạch theo

tiêu chuẩn VietGap. Ngoài ra, các địa phương đã tích cực thực hiện

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ cây lúa năng suất thấp sang cây bắp, rau

sạch và cây ăn trái, nhằm hỗ trợ nông dân nâng cao thu nhập. Nhìn chung

“hoạt động chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới

hóa trong nông nghiệp chuyển biến khá tích cực”[9]. Việc ứng dụng cơ

giới hóa với tỉ lệ cao trong sản xuất nông, lâm, thủy sản ở Đồng Nai đã

góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa.

Nhìn chung mức độ cơ giới hóa nông nghiệp đã được nâng cao, các loại

máy gặt đập liên hợp, máy làm đất đa năng, máy gieo hạt giống phục vụ

cho sản xuất đã được sử dụng phổ biến (Bảng 2.3).

Bảng 2.3: Kết quả cơ giới hóa trong sản xuất nông, lâm, thủy sản

* Cây lúa: Khoảng 68.500 ha (diện tích lúa gieo trồng cả năm)

Tên khâu công việc

Diện tích làm bằng máy

Mức độ cơ giới hóa

STT

1 Khâu làm đất 2 Khâu gieo cấy 3 Khâu thu hoạch 4 Khâu phơi sấy

(ha) 68.500 0 13.700 3.500

(%) 100 0 20 5

STT

Tên khâu công việc

Diện tích làm bằng máy (ha) Mức độ cơ giới hóa (%)

1 Khâu làm đất 2 Khâu gieo trồng 3 Khâu thu hoạch 4 Khâu tách hạt 5 Khâu phơi sấy

49.000 0 0 29.900 0

98 0 0 60 0

* Cây bắp: khoảng 49.800 ha (diện tích bắp cả năm)

42

Tên khâu công việc

Diện tích làm bằng máy (ha) Mức độ cơ giới hóa (%)

15.900 0 0

TT 1 Khâu làm đất 2 Khâu gieo trồng 3 Khâu thu hoạch

100 0 0

* Trang bị các loại máy chủ yếu

* Cây khoai mỳ (sắn): Khoảng 15.900 ha

Nhu cầu tăng thêm

Số lượng

Năm 2015

Năm

STT

Loại máy

(cái)

2020

986 1.250 2.995 32 71 52 593 20 1.472 61 9

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

Máy kéo Máy phát điện Máy bơm nước Máy sấy các loại Máy gặt đập liên hợp Máy tuốt lúa Máy chế biến thức ăn gia súc Tàu thuyền có động cơ Bình phun thuốc có động cơ Máy chế biến thủy sản Máy chế biến gỗ

1.183 1.500 3.594 38 85 62 630 21 1.766 73 15

1.035 1.312 3.144 33 74 54 622 21 1.545 64 12

Nguồn: [9]

Nhờ đó năm 2013 “giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản tăng 3,8%”[8] so

với năm 2012; giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 80 triệu đồng/1 ha

đất canh tác; năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ

năm 2012 từ 1-3%; tỷ lệ cơ giới hóa làm đất đạt 98%, thu hoạch đạt 20-40%.

Hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX,

hoạt động nghiên cứu KHCN phục vụ nông nghiệp đã phát triển vượt bậc:

“nghiên cứu triển khai, ứng dụng KHCN nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng kết

quả nghiên cứu vào thực tiễn đời sống ngày càng được tăng cường, tích cực

nghiên cứu, áp dụng những thành tựu KHCN vào việc chuyển đổi cơ cấu sản

xuất, nâng cao năng suất sản xuất trên các lĩnh vực”[3]; theo dõi, quản lý 91

đề tài, dự án nghiên cứu KHCN cấp tỉnh; tổng kết, nghiệm thu và chuyển giao

ứng dụng vào thực tế sản xuất, đời sống 35 đề tài, dự án, trong đó 2 dự án cấp

Bộ thuộc Chương trình nông thôn miền núi và 33 đề tài, dự án cấp tỉnh. Đặc

43

biệt đã “tổ chức triển khai thực hiện 6 dự án thuộc Chương trình nông thôn

miền núi giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn các huyện”[3].

Năm 2013 tỉnh triển khai 5 dự án thuộc Chương trình nông thôn miền

núi giai đoạn 2010-2015 trên địa bàn các huyện: Tân Phú, Cẩm Mỹ, Vĩnh

Cửu. Điển hình trong số đề tài khoa học được ứng dụng như: Lĩnh vực chăn

nuôi với đề tài Xây dựng Kit phát hiện virut gây hội chứng rối loạn sinh sản -

hô hấp và vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cấp trên heo nuôi bằng phương pháp

PCR do Trung tâm Công nghệ sinh học Đồng Nai thực hiện với việc xây

dựng 4 bộ Kit PCR phát hiện nhanh bệnh rối loạn sinh sản - hô hấp và tiêu

chảy cấp ở heo nuôi, được Hội đồng khoa học đánh giá cao về tính thực tiễn,

ứng dụng và khả năng thương mại hóa. Lĩnh vực trồng trọt có đề tài Nghiên

cứu chế tạo thuốc bảo vệ thực vật trị bệnh nấm hồng trên cây cao su ở tỉnh

Đồng Nai bằng công nghệ Nano (nano bạc và nano kẽm) được ứng dụng tại

Tổng công ty Cao su Đồng Nai. Kết quả sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trị

bệnh nấm hồng trong thực tiễn canh tác cây cao su cho thấy, “thuốc này có

khả năng diệt nấm hồng hoàn toàn sau 3 lần phun”[58]. Như vậy, nghiên cứu

sử dụng công nghệ nano để chế tạo thuốc bảo vệ thực vật trị bệnh nấm hồng

trên cây cao su là một công nghệ mới, nhưng ứng dụng công nghệ từ kết quả

của đề tài này đã mang lại hiệu quả KTXH rất cao, không chỉ thân thiện với

môi trường, mà còn không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Ngoài ra, đề tài “Xây dựng mô hình hợp tác xã trang trại trên địa bàn

tỉnh” đang được triển khai. Việc ứng dụng đề tài này vừa tăng tính chuyên

môn hóa trong sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh, vừa hạn chế rủi ro từ tác động

của kinh tế thị trường đối với sản xuất, bởi hợp tác xã trang trại là loại hình

kinh tế hình thành từ sự liên minh và hợp tác của các chủ trang trại. Không

chỉ vậy, hợp tác xã trang trại còn tạo điều kiện để người sản xuất áp dụng hiệu

quả mô hình sản xuất hiện đại như chuỗi ngành hàng, kiểm soát chất lượng và

44

kế hoạch sản xuất, tiêu thụ. Kết quả ứng dụng đề tài để xây dựng mô hình hợp

tác xã trang trại đặc trưng trong chăn nuôi và trồng trọt cho thấy:

Hợp tác xã chăn nuôi heo Xuân Lập là một trong 3 mô hình mẫu hợp

tác xã trang trại. Chỉ có 11 xã viên, nhưng hợp tác xã đang hoạt động với tổng

đàn heo gồm 6.500, trong đó có 550 heo nái. Đặc biệt, với mô hình hợp tác xã

này, chủ trang trại đã chủ động hơn về vật tư, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y

và kỹ thuật chăn nuôi vì hợp tác xã ký hợp đồng với công ty cung ứng thức ăn

gia súc, thuốc thú y, con giống và bao tiêu sản phẩm cho các trang trại.

Với hợp tác xã xoài Phượng Vỹ ở Xuân Lộc, nhờ áp dụng quy trình sản

xuất tiên tiến và sử dụng giống mới mà năng suất xoài bình quân 40 tấn/ha,

lợi nhuận 195 triệu/ha; trong khi các vườn xoài canh tác truyền thống trên

giống xoài cũ thì năng suất bình quân 18 tấn/ha, lợi nhuận 48 triệu/ha. Kết

quả cho thấy, mô hình áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến trên giống cây xoài

mới tuy năng suất bình quân trên một ha canh tác chỉ gấp 2,2 lần, nhưng lợi

nhuận bình quân lại hơn 4 lần so với canh tác truyền thống. Với mô hình hợp

tác xã trang trại, các chủ trang trại có điều kiện nâng cao thu nhập. Điều đó

khẳng định, kết quả ứng dụng các đề tài, dự án KHCN là minh chứng về phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Để hỗ trợ phát triển nông nghiệp, chương trình giảm tổn thất sau thu

hoạch đã được đầu tư. Năm 2011, Đồng Nai thực hiện đề án Cơ chế, chính

sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản tỉnh Đồng Nai

đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Thông qua các mô hình trình diễn

đã chuyển giao nhiều tiến bộ kỹ thuật: sử dụng máy gặt đập liên hợp, lò sấy

lúa; hỗ trợ xây kho, nhà sơ chế trái cây; máy sấy và bảo quản nông sản khác,

đã góp phần giảm thất thoát, nâng cao chất lượng, hạn chế ảnh hưởng của thời

tiết, tiết kiệm chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân.

45

Cùng với chương trình này, việc cơ giới hóa sản xuất được đầu tư thỏa

đáng hơn. Theo đó, các loại máy móc, trang thiết bị phục vụ nông nghiệp

ngày càng đa dạng, phù hợp đặc điểm sản xuất của tỉnh. Đến nay, nhiều loại

cây trồng đã được cơ giới hóa ở mức khá cao, như: cây lúa, khâu làm đất cơ

giới hóa 100% diện tích; thu hoạch đạt 20%; khâu phơi sấy đạt 5% sản lượng;

Cây bắp, khâu làm đất đạt 98%; khâu tách hạt đạt 60%... Việc ứng dụng cơ

giới hóa đã giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản.

Ngoài ra, còn nhiều tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới khác đã

được chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp đạt kết quả tốt như: sử

dụng 100% các loại giống mới được tuyển chọn, lai tạo cho năng suất cao và

phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh; ứng dụng chế phẩm sinh học thay thế chế

phẩm có nguồn gốc hóa học, đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường. Đặc biệt

Đồng Nai là tỉnh đầu tiên nghiên cứu thành công và áp dụng công nghệ tưới

tiết kiệm có bón phân thông qua đường ống tưới và áp dụng cho nhiều loại

cây trên nhiều địa hình. Hiện có 4743 ha cây công nghiệp, cây ăn trái được

lắp đặt công nghệ tưới nước tiết kiệm. Công nghệ này giảm đáng kể lượng

nước tưới, thời gian tưới, nhiên liệu, nhân công. Theo đó, chi phí giảm, năng

suất cao do đáp ứng yêu cầu nước, dinh dưỡng cho cây trồng kịp thời, không

lãng phí, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất. Mặt khác, sử dụng công nghệ này

còn dễ dàng áp dụng các qui trình công nghệ cao, qui trình GAP, hay sử dụng

các chế phẩm sinh học Trichoderma, các chất sinh học để phòng trừ sâu bệnh

và ủ phân hữu cơ. Sử dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm cho thấy, giảm các

loại nấm, sinh vật gây bệnh trên cây trồng, góp phần tăng năng suất cây trồng.

Như vậy, các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được

ứng dụng cũng như các biện pháp kỹ thuật trên cho thấy, KHCN phục vụ

nông nghiệp phát triển đã góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu. Cụ thể:

Xoài đạt 20 tấn/ha (năng suất bình quân đạt 9,5 tấn/ha); Sầu riêng đạt 9-10

tấn/ha (năng suất bình quân đạt 7,5 tấn/ha); Cà phê đạt 2,5-3,0 tấn/ha (năng

46

suất bình quân đạt 1,8 tấn/ha); Tiêu đạt 3,5-4 tấn/ha (năng suất bình quân đạt

2,2 tấn/ha); Cây Bưởi đạt 11,4 tấn/ha (năng suất bình quân đạt 9,8 tấn/ha).

Đặc biệt, sau khi Nghị quyết Trung ương Bảy khóa X về nông nghiệp,

nông dân, nông thôn; Kế hoạch số 97 của tỉnh ủy Đồng Nai ban hành, thì hoạt

động KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển khá mạnh. Tỉnh “đã triển khai 06

dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2008-2013 và thực

hiện 42 đề tài, dự án nông nghiệp cấp tỉnh”[9]. Trong đó có nhiều đề tài, dự

án đáp ứng tốt yêu cầu nông nghiệp như: Nghiên cứu xây dựng quy trình sản

xuất nhằm ổn định chất lượng và an toàn thực phẩm theo quy chuẩn ASEAN

GAP đối với bưởi và sầu riêng; Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bệnh

chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu...

Hai là, KHCN nói chung, hoạt động chuyển giao, áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật vào sản xuất nói riêng đã góp phần đưa nông nghiệp Đồng Nai

phát triển với nhiều thành tựu nổi bật

Đối với nông nghiệp Đồng Nai, KHCN góp phần quan trọng trong việc

tiếp thu, làm chủ, ứng dụng và khai thác có hiệu quả tiến bộ kỹ thuật cũng

như thành tựu KHCN. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu KHCN đối với Chương

trình phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực giai đoạn 2006-2010 là một đóng

góp quan trọng. Trong đó đã triển khai nhiều đề tài, dự án phục vụ nông

nghiệp; trong số “đó có 10 đề tài, dự án phục vụ phát triển các loại cây trồng,

vật nuôi chủ lực”[22]. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đổi mới công nghệ sinh

học, chế biến, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp được chú trọng hơn.

Ngoài ra, dịch vụ KHCN được đẩy mạnh, phát triển toàn diện, trong đó

Sở Khoa học - Công nghệ hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa

cho 16 tổ chức, cá nhân (Phụ lục 2.4); trong số này có 14 đơn vị sản xuất

kinh doanh trái cây, nấm, rau và 02 đơn vị nuôi heo. Từ năm 2006 đã có một

số sản phẩm nông nghiệp tham gia xuất khẩu như hạt điều Donafood, xoài

Suối Lớn… Nhờ hoạt động KHCN như vậy không chỉ “mức độ tăng trưởng

qua các năm bình quân 10-15%, góp phần thực hiện sự nghiệp CNH,HĐH,

47

nhất là CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn”[22], mà trình độ phát triển của

một số lĩnh vực sản xuất và dịch vụ nâng lên, nhiều sản phẩm có sức cạnh

tranh cao, mở rộng khả năng chiếm lĩnh thị trường. Nhìn chung, kết quả các

đề tài, dự án phục vụ nông nghiệp đã tạo ra nhân tố tích cực, xây dựng nhiều

mô hình phát triển nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi

có giá trị kinh tế cao thông qua thúc đẩy phát triển chế biến, dịch vụ và sự

chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa gắn với thị trường, tăng thu

nhập cho nông dân và phát triển bền vững. Trong đó, KHCN tạo ra nhiều

giống cây trồng, vật nuôi chất lượng tốt, năng suất cao, phù hợp với điều kiện

khí hậu, thổ nhưỡng, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa

Đồng Nai thành địa phương có nhiều sản phẩm chiếm lĩnh thị trường tiêu

dùng trong nước và xuất khẩu. Điển hình trong những kết quả đó là:

Thành tựu nổi bật mà KHCN đóng góp cho nông nghiệp Đồng Nai là

chọn lọc và chuyển giao thành công nhiều giống cây trồng mới, năng suất

cao, chất lượng tốt, phù hợp thổ nhưỡng, khí hậu, đang sử dụng đại trà. Trong

số đó: Giống lúa OM 6162, OM 4900, OM 5472, OM 6976 là giống có năng

suất cao, phẩm chất tốt, kháng các loại sâu bệnh, đáp ứng yêu cầu thâm canh,

thích hợp sản xuất tại các cánh đồng chất lượng cao, có diện tích lớn, đáp ứng

yêu cầu thị trường; hay Giống mía K94-200, K95-84, K95-156 năng suất đạt

80-90 tấn/ha, chất lượng cao hơn giống cũ, thích hợp với điều kiện sinh thái

Đồng Nai, đáp ứng yêu cầu của nhà máy đường; hoặc Giống cà phê mới TR4,

TR5, TR9 triển khai ở Cẩm Mỹ, giống này có nhiều đặc điểm tốt hơn giống

cũ: chín tập trung, chất lượng, trọng lượng hạt đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu,

năng suất cao, đáp ứng yêu cầu áp dụng tiến bộ kỹ thuật ghép chồi, cải tạo

nhanh vườn cà phê già cỗi, góp phần quan trọng tăng hiệu quả sản xuất.

Ngoài chuyển giao cho nông dân cây trồng mới, còn chuyển giao kỹ

thuật trồng xen ca cao với cây điều gồm: Quy trình trồng, chăm sóc, thu

hoạch, sơ chế. Việc trồng xen ca cao với cây điều vừa tăng thu nhập, vừa tăng

48

doanh thu (trồng điều thuần đạt 20-25 tr./ha/năm, trồng điều xen ca cao đạt

50-55 tr./ha/năm). Đã triển khai kỹ thuật thâm canh mới với cây lâu năm như:

tưới nước tiết kiệm, kết hợp bón phân qua đường tưới, kỹ thuật ghép cải tạo

giống, sử dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh và ủ phân

hữu cơ. Nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác mà năng suất, hiệu quả ở một

số cây lâu năm tăng rõ rệt: xoài đạt 20 tấn/ha; sầu riêng đạt 9-10 tấn/ha; cà

phê đạt 2,5-3,0 tấn/ha; tiêu đạt 3,5-4 tấn/ha, riêng ở vùng chuyên canh cây

tiêu “năng suất cao nhất so với các tỉnh trong vùng (đạt 7-8 tấn/ha)”[7]. Việc

ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, cây trồng, kỹ thuật canh tác theo tiêu

chuẩn GAP, tưới nước tiết kiệm kết hợp bón phân qua đường ống, cơ giới

hóa, công nghệ thu hoạch... đã giúp cho phần lớn các loại cây trồng tăng năng

suất, chất lượng nông sản, hiệu quả sản xuất từng bước được nâng cao.

Thời gian gần đây, mặc dù ngành chăn nuôi nước ta đang gặp khó khăn

nhưng quy mô đàn gia súc, gia cầm ở Đồng Nai vẫn ổn định, “số lượng đàn

gia súc gia cầm chăn nuôi trang trại đến nay chiếm đến 86% tổng đàn”[8].

Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được thực hiện

tốt, nhiều năm không xảy ra dịch bệnh lớn. Hiện tại Đồng Nai “có 42 cơ sở gà

giống bố mẹ, gà đẻ thương phẩm đã được công nhận cơ sở an toàn dịch bệnh

với bệnh cúm gia cầm và Newcastle; 05 cơ sở chăn nuôi heo được công nhận

cơ sở an toàn dịch bệnh với bệnh lở mồm long móng và dịch tả heo”[21]. Đó

là một thành tựu mà KHCN đã đóng góp cho ngành chăn nuôi Đồng Nai.

Chăn nuôi thủy sản có bước phát triển, năm 2013, tổng diện tích nuôi

trồng thủy sản tăng 4% so với năm 2012. Nhờ áp dụng khoa học, đưa một số

giống cá mới có năng suất cao, chất lượng tốt như cá rô phi đơn tính, cá

chẽm… chuyển giao cho nông dân nuôi thả, mở rộng quy mô, diện tích. Các

kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến như áp dụng các chế phẩm công nghệ sinh học,

GAP, GMP… không chỉ tăng năng suất, mà còn nuôi thuỷ sản an toàn. Với

nhiều kỹ thuật chăn nuôi thủy sản tiên tiến được áp dụng mà giá trị sản phẩm/

49

1 ha diện tích mặt nước đứng thứ 3; diện tích nuôi tôm (1.601,5 ha) đứng thứ

hai; diện tích nuôi cá (31.308,6 ha) đứng thứ nhất; sản lượng các loại tôm, cá

đứng thứ 2 so với các tỉnh Đông Nam Bộ.

Có được như vậy là nhờ sự đóng góp của chuyển giao, áp dụng tiến bộ

kỹ thuật vào chăn nuôi. Trong đó có hoạt động: Chuyển giao mô hình chăn

nuôi theo hình thức bán công nghiệp, công nghiệp nuôi kín trong chuồng

mát, nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi; Công nghệ khí sinh học

(Biogas); Nuôi gà trên nền đệm lót sinh học; Ứng dụng kỹ thuật ELISA để

xét nghiệm bệnh trên gia súc, gia cầm; Ứng dụng phần mềm GIS để định vị

và quản lý trang trại chăn nuôi, cơ sở giết mổ; Cải tiến nâng cao chất lượng

giống bò sữa Việt nam giai đoạn 2006-2010; Cải tiến nâng cao chất lượng

giống bò thịt Đồng Nai giai đoạn 2007-2010. Nhờ các hoạt động như vậy mà

đến nay các trang trại chăn nuôi và cơ sở giết mổ trên địa bàn tỉnh đã xây

dựng 4020 hầm Biogas, 8 mô hình đệm lót sinh học ở 8 huyện, góp phần

giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nguồn nước, hạn chế nguồn phát sinh dịch

bệnh cho người và động vật..; đồng thời tăng số lượng bò lai Zêbu trên 80%.

Nhờ KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển, nhất là kỹ thuật chăn

nuôi đã tạo ra nhiều tiến bộ vượt trội về con giống, kỹ thuật chuồng trại ở

Đồng Nai. Đến nay, Đồng Nai “đã có nhiều tiến bộ về giống vật nuôi, riêng

giống heo, được đánh giá là có chất lượng cao nhất nước”[7]. Về giống

gốc, ngoài việc bổ sung, còn có nhiều trại sản xuất giống chất lượng cao của

các thành phần kinh tế tham gia. Các cơ sở sản xuất giống đã cung ứng đủ

giống tốt, góp phần cho chương trình nạc hóa đàn heo, sin hóa đàn bò. Giống

heo, gà chất lượng cao đã góp phần nâng cao năng suất, hạ giá thành, tăng

cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. Giống heo chủ yếu là heo ngoại như

Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, heo lai 3, 4 dòng từ các giống ngoại,

chiếm tỷ lệ trên 95%. Giống gà gồm: gà trắng thịt (Arbor Acres, Ross, Cobb),

50

chiếm 38,11 %; Gà màu thịt (Tam Hoàng, Lương Phượng) chiếm 25,06 %;

Gà đẻ trứng (Hyline Brown, Lohmann Brown, ISA Brown) chiếm 25,48 %;

Gà ta, gà ta lai chiếm 11,35%. Nhờ đó “quy mô sản lượng đàn vật nuôi và

các sản phẩm chăn nuôi của tỉnh Đồng Nai luôn đứng đầu so với các tỉnh

miền Đồng Nam Bộ.

Về chuồng trại, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học để xử lý chất thải như:

sử dụng công nghệ đệm lót sinh học, hệ thống Biogas, ủ phân compost.

Hiện trên địa bàn tỉnh có 692 trang trại áp dụng, chiếm gần 50 % số trang

trại; 4.379 hộ chăn nuôi áp dụng, chiếm gần 10 % số hộ chăn nuôi. Ngoài

ra, còn áp dụng kỹ thuật chuồng kín. Với tiến bộ kỹ thuật này đã góp phần

giảm tỷ lệ tiêu tốn thức ăn, tăng trọng nhanh, do giảm cường độ hô hấp của

vật nuôi, không chế dịch bệnh và có điều kiện áp dụng qui trình thực hành

chăn nuôi tốt, xây dựng cơ sở an toàn dịch. Hiện đã có 174 trang trại chăn

nuôi heo, gà áp dụng kỹ thuật, chiếm tỷ lệ 10,6% tổng số trang trại trên địa

bàn Đồng Nai.

Ba là , KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển đã góp phần chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Đồng Nai theo hướng CNH,HĐH

Đối với nông nghiệp Đồng Nai, nhờ KHCN phục vụ nông nghiệp

phát triển mà KHCN đóng góp 30% giá trị gia tăng, thu nhập của nông dân

tăng đáng kể. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa,

hình thành các vùng sản xuất tập trung, đa dạng và bền vững, nâng cao năng

suất, chất lượng, hiệu quả và thu nhập cho người dân một phần đóng góp quan

trọng của KHCN phục vụ nông nghiệp. Trong đó có nhiều nông dân sản xuất

giỏi, làm giàu từ trang trại, nuôi trồng thủy sản nhờ áp dụng KHCN.

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi diễn ra liên tục, các giống

có chất lượng tốt năng suất cao được triển khai nhận rộng, đã có kết quả. Cơ

cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, số lượng, sản lượng, diện

51

tích các cây trồng, vật nuôi chủ lực tăng; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện

tích và thu nhập bình quân đầu người tăng; đào tạo nghề cho lao động nông

thôn, tạo việc làm được chú trọng. Cụ thể giai đoạn 2009-2013, theo giá thực

tế: tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân trên 29.000 tỷ đồng; Tỷ

trọng GDP ngành nông, lâm, thủy sản so với GDP giảm từ 9,9% năm 2009

còn 6,8% năm 2012; Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 3,66%/năm; Giá

trị sản xuất trên một ha năm 2013 đạt 85,58 triệu đồng/ha; tốc độ tăng bình

quân giai đoạn 2009-2013 là 18,55%/năm (năm 2009 đạt 41,55 triệu

đồng/ha); tốc độ tăng bình quân theo giá cố định năm 1994 giai đoạn 2009-

2013 là 7,7%[9]. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng phát

triển cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao, gắn với thị trường tiêu thụ,

phù hợp với điều kiện khí hậu, kỹ thuật sản xuất. Năm 2008, tỷ trọng giữa

trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp là: 68,59%, 27,37%, 4,04%; năm

2012 là: 57,86%, 39,01%, 3,12%. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch

đúng hướng đã góp phần phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của từng vùng, đáp

ứng yêu cầu phát triển bền vững, cơ cấu lại lao động, sử dụng hiệu quả mọi

nguồn lực. Cụ thể sự chuyển dịch cơ cấu trong các lĩnh vực như sau:

Lĩnh vực trồng trọt chuyển dịch theo hướng gia tăng diện tích cây trồng

có giá trị thu nhập cao; chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mùa vụ phù hợp với

điều kiện tưới trên từng địa bàn; ứng dụng các quy trình canh tác kỹ thuật cao,

đưa giống mới vào sản xuất trên diện rộng, tăng cường thâm canh, phòng trừ

dịch hại tổng hợp (IPM)... Trong đó tập trung phát triển các vùng lúa đặc sản;

vùng lúa chất lượng cao (Vĩnh Cửu, Long Thành, Xuân Lộc, Tân Phú); vùng

rau quả sạch (Thống Nhất, Biên Hòa, Nhơn Trạch); vùng hoa chuyên canh

(Thống Nhất, Biên Hòa); vùng bắp thực phẩm chất lượng cao (Xuân Lộc,

Long Khánh, Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú, Thống Nhất...); vùng mía (Định

Quán, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Xuân Lộc); vùng mì (Xuân Lộc, Vĩnh Cửu,

52

Long Thành). So với Đông Nam bộ, ngoài diện tích trồng bắp đứng thứ nhất,

trồng lúa đứng thứ hai, các cây lương thực khác ở Đồng Nai đều có diện tích

và năng suất cao nhất. Nhờ KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển mà cơ cấu

kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, theo đó năng suất, sản lượng

cây trồng tăng qua các năm, góp phần cung cấp lương thực, thực phẩm cho

tiêu dùng và nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh.

Đối với cây lâu năm, nhất là các cây trồng chủ lực, có thế mạnh như:

cao su, cà phê, tiêu, sầu riêng, điều, chôm chôm... được phát triển theo hướng

hình thành các vùng sản xuất tập trung với diện tích lớn. Đây là tiền đề thuận

lợi để tổ chức lại sản xuất, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng

thương hiệu sản phẩm. Việc triển khai Chương trình phát triển cây trồng, vật

nuôi và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 đã

tác động tích cực đến mở rộng quy mô diện tích, ứng dụng quy trình tưới

nước tiết kiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả các vùng sản xuất nông sản

tập trung; diện tích các cây trồng chủ lực tăng. Trong đó nhiều vùng có giá trị

sản xuất từ 100-250 triệu/ha/năm. Điển hình như: Bưởi Vĩnh Cửu, Tân Phú;

Xoài Định Quán, Xuân Lộc; Sầu riêng Cẩm Mỹ, Tân Phú, Long Khánh; Tiêu

Trảng Bom, Xuân Lộc, Câm Mỹ; cà phê Cẩm Mỹ, Định Quán, Thống Nhất;

Điều Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú. Số liệu thống

kê cho thấy, so với các tỉnh Đông Nam bộ, các loại cây ăn trái của Đồng Nai

đứng thứ nhất về diện tích, năng suất và sản lượng; Ngược lại, các cây công

nghiệp của Đồng Nai (cao su, cà phê, tiêu, điều) có năng suất thấp hơn.

Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại chiếm ưu thế, bao gồm chăn

nuôi công nghiệp và bán công nghiệp. Chăn nuôi có bước tiến bộ nhanh về sử

dụng giống với gần 100% đàn heo, gà sử dụng giống nhập có năng suất cao, ít

tiêu tốn thức ăn. Kỹ thuật chăn nuôi tiến bộ rõ rệt: đa số chuồng trại gia súc,

gia cầm được xây dựng hiện đại, hệ thống điều khiển nhiệt độ, ánh sáng, độ

53

ẩm, cung cấp thức ăn tự động, hoặc bán tự động. So với năm 2008: đến năm

2013 chăn nuôi heo trang trại chiếm 60% (tăng 20%); chăn nuôi gà trang trại

chiếm 88% (tăng 12%). Sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng so với 2008: thịt

heo 47,8%; thịt gà 185%; trứng 148 %. Tổng đàn heo hiện nay 1.394.011 con,

so với chỉ tiêu năm 2015 là 1.800.000 con, đạt 77,45%. Tổng đàn gà hiện nay

11.627.000 con so với chỉ tiêu năm 2015 là 11.000.000 con, vượt 5,7% [9].

Để phát triển chăn nuôi bền vững, ngoài tổ chức, quản lý tốt công tác

tiêm phòng, phát hiện bệnh sớm, làm tốt công tác kiểm dịch động vật, sản

phẩm động vật; từ năm 2008, Đồng Nai đã lập quy hoạch 139 vùng khuyến

khích phát triển chăn nuôi tập trung thuộc 08 huyện, thị xã Long Khánh và 36

cơ sở giết mổ. Đến tháng 8/2013 có gần 400 trang trại chăn nuôi và 03 cơ sở

giết mổ heo tập trung trong vùng quy hoạch. Đến năm 2013 “toàn tỉnh có 726

câu lạc bộ năng suất cao và tổ hợp tác, 261 hợp tác xã và 2 Liên hiệp hợp tác

xã; đa số các hợp tác xã, tổ hợp tác đã chú trọng đầu tư theo chiều sâu, từng

bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động”[8]. Các hình thức tổ chức sản

xuất trong nông nghiệp như tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại trồng trọt... đã

tích cực tham gia thực hiện chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm.

Để nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích, Đồng Nai chủ trương

chuyển dịch cơ cấu diện tích theo hướng gia tăng diện tích cây trồng có giá trị

kinh tế. Cơ cấu diện tích cây trồng chuyển dịch theo hướng giảm cây lương

thực, tăng cây trồng có giá trị kinh tế cao, các loại cây trồng có chuỗi giá trị

tốt. Theo đó diện tích trồng lúa từ 75.000ha năm 2008 còn 68.657 ha năm

2012 (8,45%). Với cây chủ lực, năm 2012: diện tích trồng tiêu tăng 32,41%

(2.177 ha); Diện tích trồng cà phê tăng 14,32% (2.539 ha); Diện tích trồng

xoài tăng 27,34% (2.224 ha); Diện tích trồng điều giảm 13,32% (7.343 ha).

KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển đã giúp chuyển đổi cơ cấu cây

trồng theo hướng ứng dụng giống có năng suất cao, hay theo mùa vụ phù hợp

với điều kiện canh tác; trong đó đã có hơn 90 % diện tích trồng lúa sử dụng

54

giống năng suất cao, chất lượng tốt; phần lớn diện tích trồng mía sử dụng

giống năng suất 80-90 tấn/ha; 20 % diện tích trồng cà phê sử dụng giống mới;

100% giống bắp mới cho năng suất cao, chống sâu bệnh tốt... Đã chuyển diện

tích trồng lúa vụ Đông Xuân sang trồng bắp. Đối với cây ăn trái, hầu hết các

giống cây trồng chất lượng tốt, năng suất cao, phù hợp điều kiện khu vực đã

được ứng dụng tại Đồng Nai như giống xoài cát, chôm chôm rongrieng, bưởi

da xanh, sầu riêng Dona, thanh long ruột đỏ....

KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển đã góp phần tăng sản lượng,

nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa tỉnh

Đồng Nai. Theo đó, năng suất các loại rau, quả, cây lương thực, trong đó: lúa

tăng 5,9 tạ/ha/vụ; bắp tăng 8,9 tạ/ha/vụ; rau tăng 8,59 tạ/ha/vụ; bưởi tăng 4,84

tạ/ha; sầu riêng tăng 3,8 tạ/ha; chôm chôm tăng 3,9 tạ/ha; cà phê tăng 2,0

tạ/ha; tiêu tăng 2,2 tạ/ha so với năm 2008. Giai đoạn 2008-2012, sản lượng

lúa tăng gần 1%; Sản lượng bắp tăng 1.2%; Sản lượng bưởi tăng 2,28%; sản

lượng sầu riêng tăng 2,35%; Sản lượng chôm chôm tăng 2,38%; Sản lượng cà

phê tăng 6,77%; Sản lượng hồ tiêu tăng 6,93%. Không chỉ tăng sản lượng,

nâng cao năng suất mà chất lượng nông sản đã được nâng cao.

Từ kết quả trên cho thấy, nông nghiệp tỉnh Đồng Nai phát triển ổn

định, chuyển dịch theo hướng sản xuất tập trung, nâng hiệu quả sản xuất, tăng

thu nhập, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế là kết quả phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch hợp lý

nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế: tỷ trọng nông nghiệp giảm dần; tỷ

trọng thủy sản, lâm nghiệp tăng; tỷ trọng trồng trọt giảm; tỷ trọng chăn nuôi

tăng. Đặc biệt chăn nuôi đã khẳng định vị trí quan trọng, tăng trưởng kinh tế

cũng như thu nhập của người nông dân tăng. Nhờ đó, năm 2012 giá trị sản

xuất nông nghiệp của tỉnh “đứng đầu các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ”[7].

55

Bốn là, KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển từng bước góp phần

nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp, nhất là nông dân

Chuyển biến cơ bản là nhận thức đúng vai trò của KHCN đối với phát

triển nông nghiệp, từ đó xác định mục tiêu, giải pháp và bước đi phù hợp để

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

kịp thời, có hiệu quả của tổ chức Đảng, chính quyền đối với KHCN phục vụ

nông nghiệp; sự chủ động, tích cực của các cơ quan KHCN, tổ chức khuyến

nông, khuyến lâm, khuyến ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền về tác động

của KHCN đối với nông nghiệp và đời sống, mà trình độ nhận thức, khả năng

tiếp thu, năng lực áp dụng thành tựu KHCN, các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản

xuất nông nghiệp của các chủ thể đã tăng lên rõ rệt. Đối với đa số nông dân,

không chỉ nhận thức, trình độ hiểu biết về KHCN, khả năng tiếp thu, kỹ năng

áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại vào các sản xuất đã

được nâng lên, mà quan trọng hơn là thói quen canh tác của họ đã cơ bản thay

đổi; hơn nữa việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông

nghiệp đã trở thành nhu cầu tất yếu, ngày càng cao của nông dân Đồng Nai.

Từ năm 2010, chương trình nâng cao chất lượng cây ăn trái, rau, quả

VietGap đã được triển khai và chứng nhận trên các đối tượng rau, quả ở tỉnh.

Chương trình này tác động tích cực không chỉ hình thành và phát triển vùng

sản xuất chuyên canh đối với một số cây trồng chủ lực, có thế mạnh theo tiêu

chuẩn VietGAP, mà còn làm thay đổi nhận thức, thói quen canh tác rau, quả

của người dân theo hướng quan tâm nhiều hơn đến lợi ích người tiêu dùng và

bảo vệ môi trường. Từ kết quả thay đổi nhận thức và thói quen canh tác đã

hình thành phương thức canh tác mới, do đó hiệu quả ứng dụng KHCN phục

vụ nông nghiệp ngày càng nâng cao. Ngược lại, từ hiệu quả ứng dụng KHCN

trong sản xuất và đời sống, người nông dân nhận thấy, tự mình phải vươn lên

làm chủ KHCN để nâng cao hơn nữa hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật, hay

56

công nghệ mà họ đã, đang và sẽ áp dụng vào sản xuất. Thực tế cho thấy, đã có

nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại trồng trọt, chăn nuôi tham gia chứng

nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này nói lên rằng, trên cơ sở thay đổi

nhận thức về KHCN và thói quen canh tác, thì ý thức và trách nhiệm xã hội

của người nông dân đã thay đổi. Những thay đổi tích cực này chẳng những

nâng cao hiệu quả KTXH từ việc áp dụng thành tựu và tiến bộ của KHCN,

mà còn góp phần thúc đẩy phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Ngoài ra, đào tạo nghề ở Đồng Nai đã có nhiều tiến bộ, chú trọng đào

tạo theo nhu cầu lao động. Trong đó đã tập trung nâng cao chất lượng đào tạo

nghề cho lao động nông nghiệp. Đến năm 2013 đã đào tạo trên 7.500 lao động

nông thôn, đạt 75% kế hoạch, trong đó 78% lao động sau khi học nghề có

việc làm; đồng thời tỉnh còn tập trung kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh, khắc

phục tồn tại, hạn chế trong dạy nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn. Tỷ

lệ lao động qua đào tạo nghề đến cuối năm 2013 đạt 46,1% [8].

Năm là, tiềm lực KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai đã được

tăng cường đáng kể

Mặc dù tiềm lực kinh tế chưa thật sự mạnh, quy mô nền kinh tế chưa đủ

lớn; vì thế tổng đầu tư xã hội để phát triển KTXH ở mức thấp, đầu tư cho phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp còn khiêm tốn, nhưng tỉnh Đồng Nai đã

xây dựng được nền KHCN cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế,

nhất là phát triển nông nghiệp.

Từ năm 2004, bộ máy quản lý KHCN đã được kiện toàn từ Sở KHCN

đến các huyện, thị xã, thành phố. Nhờ quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước

cũng như cấp ủy, chính quyền tỉnh, Đồng Nai đã đào tạo lực lượng cán bộ

KHCN có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học khá đông đảo. Thực hiện

Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực KHCN, đặc biệt là đào tạo

sau đại học, lũy kế tham gia chương trình đến năm 2011-2012 gồm có 635

57

học viên[6]. Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp cận nhanh, chủ

động, sáng tạo, làm chủ tri thức KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp. Cùng với

sự tăng lên về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực KHCN đáp ứng ngày

càng tốt hơn yêu cầu phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, thì hệ thống các

cơ sở nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục vụ

nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể. Số cơ sở nghiên nghiên cứu, ứng

dụng, chuyển giao, hoạt động dịch vụ KHCN phục vụ nông nghiệp tăng. Từ

không có tổ chức KHCN, đến nay ngoài chi cục tiêu chuẩn đo lường chất

lượng, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN như các tỉnh, thành phố khác của

cả nước, Đồng Nai đã có nhiều tổ chức KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp,

hoặc liên quan đến nông nghiệp, hoạt động như đơn vị sự nghiệp dịch vụ

công ích phục vụ quản lý nhà nước ở tỉnh, bao gồm: Trung tâm ứng dụng

(nông, lâm và thủy sản); các Trung tâm cung cấp dịch vụ KHCN phục vụ

nông nghiệp; Khu nông nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra, tỉnh còn triển khai

một số dự án phát triển tiềm lực KHCN: đầu tư nhà làm việc tại thành phố Hồ

Chí Minh để mở Văn phòng đại diện “vừa sử dụng cho hoạt động KHCN của

tỉnh, vừa thu hút nguồn nhân lực KHCN tại thành phố Hồ Chí Minh làm việc

cho Đồng Nai”[22]; Dự án xây dựng Trung tâm đo kiểm; Dự án xây dựng trụ

sở Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN; Dự án xây dựng và nhân rộng mô

hình cung cấp thông tin KHCN phục vụ phát triển KTXH ở các huyện; Hệ

thống mạng thông tin phục vụ quản lý nhà nước về KHCN từ Sở KHCN đến

Ban tuyên giáo tỉnh ủy và các phòng Kinh tế/Kinh tế hạ tầng các huyện, thị

xã, thành phố; Dự án Trung tâm công nghệ sinh học; Dự án Nhà chứa thiết bị

kiểm tra không phá hủy. Các dự án này đã góp phần phát triển tiềm lực

KHCN của tỉnh. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu; vật chất, trang thiết bị cho

nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và dịch vụ KHCN khác phục vụ nông

nghiệp ở Đồng Nai đã có sự đầu tư phát triển. Các tổ chức KHCN ngày càng

58

được củng cố và lớn mạnh, trong 5 năm gần đây, bình quân mỗi năm tỉnh Đồng

Nai thực hiện hàng trăm nhiệm vụ KHCN; trong đó có nhiều nhiệm vụ trực tiếp

phục vụ sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn 2006-2010, ngoài tổ chức các lớp tập

huấn quản lý và chuyển giao công nghệ; hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý chất

lượng tiên tiến; thẩm định hợp đồng chuyển giao công nghệ; tỉnh Đồng Nai triển

khai 132 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong đó có 4

dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi [6] phục vụ sản xuất nông nghiệp

trên địa bàn các huyện Trảng Bom, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu. Các nhiệm vụ KHCN

phục vụ nông nghiệp đã bám sát nhu cầu thực tiễn, phát huy thế mạnh, tiềm năng

của các vùng miền trên địa bàn tỉnh, đáp ứng thiết thực các mục tiêu phát triển

KTXH, hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời góp phần cải thiện đời sống kinh tế,

văn hóa, xã hội của nhân dân tỉnh Đồng Nai nói chung, nông dân nói riêng.

2.2.2. Những hạn chế, bất cập

Bên cạnh thành tựu đạt được, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

còn tồn tại không ít hạn chế, bất cập. Đó là:

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ vào sản

xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, trong khi nhu cầu sử dụng kết quả KHCN vào

sản xuất nông nghiệp lớn. Trong thực tế KHCN phục vụ nông nghiệp đã có

đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển nông nghiệp của tỉnh, song quy

mô còn nhỏ lẻ, cả về lao động và diện tích đất đai sử dụng, chủ yếu quy mô

hộ gia đình và các trang trại sử dụng ít lao động. Hơn nữa, tuy Đồng Nai đã

có mô hình nông nghiệp công nghệ cao, song quy mô còn nhỏ, số lượng chưa

nhiều, trong khi nhu cầu sản xuất nông nghiệp cần ứng dụng KHCN rất cao.

Đây là trở ngại lớn trong việc phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp để phát

triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

59

Thứ hai, hạ tầng KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai còn bất cập

Có thể nói, không chỉ ở Đồng Nai, mà nhiều địa phương khác, hạ tầng

KHCN có nhiều yếu kém, bất cập; hạ tầng KHCN phục vụ nông nghiệp càng

yếu kém hơn. Ngoài lý do tài chính, có nhiều khó khăn khác chi phối. Thực tế

cho thấy, nguồn lực đầu tư cho hạ tầng KHCN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

vốn đầu tư phát triển KHCN. Mặt khác, vì bí quyết công nghệ của mỗi quốc

gia mà phát triển hạ tầng KHCN là một lĩnh vực đầu tư khó thực hiện, do liên

quan đến tính đồng bộ, tính hiện đại của máy móc, thiết bị phòng thí nghiệm

cho hoạt động KHCN, nhất là KHCN phục vụ nông nghiệp (công nghệ sinh

học; công nghệ lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; công nghiệp chế biến nông

sản, sản xuất thức ăn chăn nuôi…), nên không phải cứ có tiềm lực kinh tế

mạnh, hay nhiều tiền là có thể mua sắm được. Đó là khó khăn không dễ vượt

qua để có hệ thống hạ tầng KHCN hiện đại. Tỉnh Đồng Nai cũng vậy, mặc dù

đã ưu tiên, và trên thực tế đã đạt được kết quả nhất định, song “lĩnh vực

KHCN của tỉnh phát triển còn một số hạn chế, cơ sở hạ tầng KHCN đã được

quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn yếu, nhất là trong nghiên cứu, ứng dụng công

nghệ cao. Quá trình đổi mới công nghệ ở nhiều doanh nghiệp còn chậm so với

yêu cầu nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, một số doanh

nghiệp hiện vẫn còn đang sử dụng các công nghệ lạc hậu so với thế giới”[6;

tr.34]. Đó là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Thứ ba, chuyển giao thành tựu KHCN để ứng dụng vào nông nghiệp

còn chậm. Ngoài sự giữ chậm thường xảy ra giữa hoạt động nghiên cứu và

chuyển giao, còn có nguyên nhân khác là sự bất cập của cơ chế quản lý, cơ

chế hoạt động KHCN. Thực tế hoạt động KHCN ở Đồng Nai cho thấy, từ khi

triển khai Nghị quyết Trung ương Bảy khóa X về nông nghiệp, nông dân,

nông thôn, hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp phát triển khá mạnh, bằng

việc triển khai một số dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn

60

2008-2013 và hàng chục đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh phục vụ nông nghiệp;

trong đó, kết quả của nhiều tài, dự án đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất nông

nghiệp. Tuy nhiên do bất cập của cơ chế và chính sách KHCN, nhất là chính

sách chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp thiếu đồng bộ, thống

nhất nên thời gian chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất và đời

sống kéo dài. Vì thế việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ

mới vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai rất chậm.

Thứ tư, nguồn lực đầu tư cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

chưa thỏa đáng. Thực tế phát triển KHCN nói chung, phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp ở Đồng Nai cho thấy, để đầu tư cho KHCN cần phải có tiềm

lực kinh tế mạnh, nhất là tiềm lực tài chính. Đầu tư cho KHCN không chỉ là

đầu tư cho phát triển bền vững, mà còn là lĩnh vực đầu tư có thể thu lợi nhuận

cao; song đầu tư cho lĩnh vực này, nhất là đầu tư phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp luôn chứa dựng nhiều rủi ro khó lường, thu hồi vốn chậm, thậm

chí khó thu hồi vốn; một mặt, bởi nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất phụ

thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nên rủi ro rất cao; mặt khác, tuy nội dung

KHCN phục vụ nông nghiệp rất hẹp, nhưng có yêu cầu cao về cơ sở hạ tầng

khoa học, nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật. Vì lý do này mà các thành phần kinh

tế ngoài nhà nước ít chú trọng đầu tư vào lĩnh vực này. Vì vậy, nhà nước sẽ là

chủ thể chính trong đầu tư phát triển KHCN; nghĩa là vốn đầu tư phát triển

KHCN sẽ chủ yếu từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên nguồn vốn này có hạn

khi trình độ nền kinh tế Đồng Nai thấp, quy mô còn nhỏ, tiềm lực kinh tế

chưa đủ mạnh, nên khả năng đáp ứng nguồn lực phát triển KHCN nói chung,

KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng còn hạn chế. Hơn nữa, chi phí đầu tư

cao, hiệu quả thấp; chưa có cơ chế, chính sách thích hợp để khuyến khích các

tổ chức, cá nhân tham gia; đặc biệt là huy động tiềm năng và nguồn lực, nhất

là nguồn lực đất đai của tỉnh cho phát triển KHCN. Với điều kiện về nguồn

61

lực đầu tư như vậy thì phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai

theo hướng “Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được

ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất”[12] là một việc không dễ

dàng không chỉ hiện nay, mà cả những năm tiếp theo.

2.2.3. Nguyên nhân

Thành tựu và những hạn chế, yếu kém trong phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân

khách quan và nguyên nhân chủ quan. Những nguyên nhân đó là:

* Nguyên nhân thành tựu

Thứ nhất, công tác quản lý KHCN thường xuyên đổi mới, đã góp phần

nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai

Do thường xuyên đổi mới theo hướng từng bước hoàn thiện và phù hợp

với thực tiễn mà hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp ngày càng hiệu quả.

Trong công tác quản lý, ngoài việc quán triệt chủ trương, chính sách của

Đảng, Nhà nước về KHCN nói chung, KHCN phục vụ nông nghiệp cũng như

chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển nông nghiệp nói riêng, cấp ủy

và chính quyền các cấp ở Đồng Nai còn triển khai các chương trình KHCN

phục vụ phát triển KTXH, trong đó nhiệm vụ KHCN phục vụ nông nghiệp là

nội dung đầu tư ưu tiên. Nhờ thường xuyên đổi mới, hoàn thiện công tác quản

lý hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ theo hướng tăng

cường ứng dụng thực tế sản xuất nông nghiệp, mà Đồng Nai có nhiều đề tài,

dự án khoa học, phát triển công nghệ được ứng dụng trong nông nghiệp mang

lại hiệu quả cao. Thành tựu phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai cho thấy,

nhờ thường xuyên đổi mới công tác quản lý KHCN phục vụ nông nghiệp mà

việc chuyển giao, áp dụng kết quả các đề tài KHCN thuộc lĩnh vực nông

nghiệp vào thực tế sản xuất nông nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả đầu

tư, nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng thu nhập cho

người lao động ở khu vực nông thôn tỉnh Đồng Nai.

62

Thứ hai, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai là

lĩnh vực trọng tâm, được ưu tiên đầu tư nguồn lực

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là thời kỳ Đồng Nai đẩy nhanh tiến

trình CNH,HĐH so với cả nước, thì phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

luôn đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển, là một trong không ít lĩnh vực ưu

tiên đầu tư trong các chủ trương, chính sách phát triển KT-XH của tỉnh Đồng

Nai. Từ chủ trương, chính sách phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp như

vậy, nên trong chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH ở các cấp độ của tỉnh,

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp luôn được coi trọng như một nội dung

cơ bản. Sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành

ở tỉnh Đồng Nai là cơ sở để thu hút, phân bổ nguồn lực cho đầu tư phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp. Nhờ đó, trong nhiều năm qua, ngân sách nhà

nước được sử dụng một phần đáng kể cho phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp. Tuy tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

không lớn trong tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển KT-XH cũng như một số

lĩnh vực khác, nhưng với mức đầu tư tăng dần hàng năm cho thấy sự quan

tâm ưu tiên đầu tư nguồn lực cho KHCN phục vụ nông nghiệp.

Thứ ba, kinh tế Đồng Nai tăng trưởng cao, liên tục nhiều năm, đã góp

phần nâng cao thực lực và tích lũy của nền kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho

đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

Thực hiện Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Đồng Nai

thời kỳ đến năm 2020, từ năm 2011 đến nay KT-XH của tỉnh đã đã có bước

phát triển cơ bản, khá toàn diện. So với nhiều địa phương trong cả nước, mặc

dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn

cầu, song tình hình phát triển KT-XH ở Đồng Nai vẫn duy trì ổn định, tăng

trưởng kinh tế với tốc độ cao, liên tục trong thời gian dài. Năm 2010, qui mô

GDP đạt 75.899 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,6% và đứng thứ 3/6 địa phương ở

Đông Nam Bộ. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng đạt 13,4%; năm 2012 đạt 12%.

63

GDP theo giá thực tế, năm 2011 đạt 98.759 tỷ đồng; năm 2012 đạt 114.853 tỷ

đồng. GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 37,15 triệu đồng (1.849 USD);

năm 2012 đạt 42,2 triệu đồng (2.010 USD). Nếu tính tốc độ tăng trưởng kinh

tế theo giá năm 2010 thì tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 13,05%, năm 2012

đạt 12,05%. Năm 2013, tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) tăng 11,5%; “GRDP

bình quân đầu người năm 2013 đạt 48,7 triệu đồng, tương đương 2.318

USD”[22]. Từ số liệu trên cho thấy, thực lực của nền kinh tế tăng lên không

ngừng. Tuy quy mô nền kinh tế không lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng cao, ổn

định, nên khả năng tiết kiệm và đầu tư từ tiềm lực của kinh tế Đồng Nai đã

tăng lên đáng kể so với nhiều địa phương khác. Đó là điều kiện cơ bản không

chỉ để Đồng Nai bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH toàn diện, hướng đến

trở thành tỉnh cơ bản CNH,HĐH vào năm 2015, mà còn tạo điều kiện thuận

lợi để đẩy mạnh đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp của tỉnh.

* Nguyên nhân hạn chế

Thứ nhất, không ít chủ thể trong hệ thống chính trị chưa nhận thức đầy

đủ về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp

Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Đồng Nai

về vai trò, nhiệm vụ phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp còn hạn chế, bất

cập. Đặc biệt, còn có một số ít cấp ủy, chính quyền các cấp ở Đồng Nai nhận

thức chưa đầy đủ, sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp, chưa coi phát triển KHCN là nhiệm vụ trọng tâm.

Nguyên nhân này có tác động không tốt đối với quá trình phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp, bởi đó là nguyên nhân bắt nguồn từ nhận thức. Hậu quả

là, chẳng những thiếu quan tâm chỉ đạo, điều hành, thâm chí chờ đợi, ỷ lại,

mà phân cấp trách nhiệm quản lý giữa các Sở, Ngành của tỉnh còn chưa rõ

ràng, tách bạch cụ thể. Theo đó, hiện còn tồn tại tư duy, nhận thức cho rằng,

phát triển KHCN là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước

bảo đảm; do đó không chủ động huy động các nguồn lực từ các thành phần

kinh tế và trong nhân dân cùng tham gia phát triển KHCN phục vụ nông

64

nghiệp. Bên cạnh đó, còn tồn tại quan niệm cho rằng, chỉ các sản phẩm của

nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu triển khai mới là sản phẩm nghiên cứu

khoa học; các sản phẩm từ nghiên cứu sản xuất, dù có tính khoa học, phù hợp

thực tiễn nhưng do doanh nghiệp thực hiện (có tính hàng hoá, tính xã hội) là

sáng kiến cải tiến kỹ thuật không phải là sản phẩm nghiên cứu khoa học. Do

vậy, không tạo ra động lực cho các nghiên cứu sản xuất phát triển, ảnh hưởng

đến trình độ phát triển KHCN nói chung, KHCN phục vụ nông nghiệp nói

riêng.

Thứ hai, cơ sở pháp lý, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, chính sách

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp chưa phù hợp, chậm đổi mới

Bắt nguồn từ nguyên nhân tư duy, nhận thức, nên chưa có cơ chế quản

lý cũng như các chính sách phù hợp; hay cơ chế, chính sách hiện hành chưa

đủ sức hấp dẫn để thu hút nhiều nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong và

ngoài tỉnh, hoặc đối tác nước ngoài tham gia đầu tư phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp. Nhìn chung, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động và các chính sách

về phát triển KHCN ở Đồng Nai hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu phát triển

KHCN nói chung, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng. KHCN

phục vụ nông nghiệp là chuyên ngành khoa học gắn với đặc thù của kinh tế

nông nghiệp nên phạm vi rất hẹp, mang tính chuyên sâu, tính rủi ro cao. Mặc

dù vậy, không chỉ Đồng Nai, mà nhiều địa phương khác của nước ta chưa có

cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì vậy,

chưa tạo được cơ chế và môi trường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư ngoài khu

vực nhà nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực này; theo đó là thị trường KHCN

phục vụ nông nghiệp chậm phát triển, còn sơ khai, chưa đáp ứng nhu cầu

ngày càng tăng của thị trường sử dụng, ứng dụng thành tựu KHCN để phát

triển nông nghiệp ở đất nước hiện nay. Đồng Nai chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro

cũng như chính sách phù hợp để tạo môi trường hấp dẫn thu hút các tổ chức

KHCN trong và ngoài nước tham gia phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

65

Cơ chế huy động và phân bổ vốn cho các đề tài, dự án phát triển KHCN còn

bất cập, thường chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng vốn đầu tư xã hội.

Thứ ba, sự phối hợp giữa các Sở, Ngành trong phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp ở Đồng Nai thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ

Có nguyên nhân này một phần do hạn chế của nhận thức mà phân cấp

trách nhiệm quản lý giữa các Sở, Ngành của tỉnh chưa rõ ràng, cụ thể, nhất là

các Sở là cơ quan giúp tỉnh quản lý nhà nước đối với Ngành nông nghiệp,

Ngành KHCN. Mặt khác, do hạn chế về năng lực quản lý và tham mưu của

các cơ quan quản lý các ngành này; trong đó cơ quan quản lý ngành nông

nghiệp Đồng Nai chưa làm tốt vai trò chủ trì phối hợp với các ngành, địa

phương để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp. Sở dĩ đặt vấn đề như vậy là vì Đồng Nai cũng như các địa phương

trong cả nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, dưới tác động của kinh

tế tri thức, KHCN phát triển nhanh với nhiều đột biến. Trong bối cảnh đó,

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp theo hướng không ngừng sáng tạo và

áp dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất là hướng đi tất yếu để

xây dựng nền nông nghiệp có trình độ hiện đại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

lương thực, thực phẩm ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và vệ sinh,

an toàn thực phẩm. Vì vậy, phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là việc làm

cấp thiết; đồng thời là động lực phát triển ở Đồng Nai. Tuy nhiên, làm thế nào

để KHCN phục vụ nông nghiệp có thể phát triển lại phụ thuộc vào nỗ lực của

các cơ quan có chức năng quản lý nông nghiệp, KHCN của tỉnh. KHCN phục

vụ nông nghiệp là nhu cầu của ngành nông nghiệp; theo đó cơ quan quản lý

ngành nông nghiệp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, địa

phương, trong đó có Sở Khoa học và Công nghệ, các tổ chức KHCN của tỉnh

xây dựng chương trình, đề tài, dự án cụ thể mang tính khoa học và thực tiễn

để xác định giải pháp cụ thể về quy hoạch, tổ chức lại sản xuất, chuyển giao

công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề cho nông dân,

nguồn vốn đầu tư, lộ trình thực hiện. KHCN phục vụ nông nghiệp chưa nhận

66

được sự quan tâm của ngành nông nghiệp, các địa phương và người nông dân

với tư cách là người đặt hàng để xác định nội dung cần nghiên cứu. Đa số các

đề tài, dự án đều do các cơ quan quản lý đề xuất đã dẫn đến tình trạng các

nghiên cứu không sai nhưng không phù hợp, không sát thực tiễn, do đó nhiều

kết quả nghiên cứu khó ứng dụng vào phát triển sản xuất nông nghiệp.

Thứ tư, quy mô nền kinh tế nhỏ, tiềm lực kinh tế chưa đủ mạnh nên khả

năng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển KHCN rất hạn chế

Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ

được ưu tiên đầu tư, nhưng do quy mô của nền kinh tế Đồng Nai nhỏ, tiềm

lực kinh tế chưa đủ mạnh nên khả năng huy động nguồn lực từ khu vực kinh

tế nhà nước để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển lĩnh vực khoa học này

rất hạn chế, trong khi nhu cầu vốn đầu tư phát triển KHCN cao nên không

hiệu quả. Thực tế phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở nước ta cũng như

ở Đồng Nai cho thấy, chi phí đầu tư phát triển KHCN nói chung, KHCN phục

vụ nông nghiệp nói riêng rất lớn. Mặc dù Đồng Nai là tỉnh có tốc độ tăng

trưởng cao, liên tục trong nhiều năm, song do quy mô nền kinh tế nhỏ, nên

quy mô GDP không lớn, theo đó là khả năng tiết kiệm, tích lũy từ nội bộ nền

kinh tế của tỉnh sẽ không nhiều. Hơn nữa, mấy năm qua do ảnh hưởng khủng

hoảng tài chính và suy thoái kinh tế mà Đồng Nai có “mức tăng trưởng GRDP

giảm dần qua các năm”[46]; nguồn thu ngân sách rất khó khăn, ảnh hưởng

đến sự tích lũy cho phát triển và đáp ứng nhu cầu bảo đảm tổng vốn đầu tư

phát triển xã hội của tỉnh. Vì tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm, kéo theo

vốn đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp đã ít, lại tiếp tục bị cắt

giảm trong những năm vừa qua. Tình trạng này không chỉ đối với KHCN ở

Đồng Nai, mà tất cả các lĩnh vực ở nước ta.

2.2.4. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển khoa học công

nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai hiện nay

Thứ nhất, nhận thức của các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị

Đồng Nai về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ nông

67

nghiệp còn hạn chế, chưa thống nhất. Đây là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa quyết

định đến sự phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Sớm giải quyết vấn đề

này sẽ góp phần thống nhất nhận thức và hành động của các chủ thể về phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp, theo đó KHCN phục vụ nông nghiệp ở

tỉnh Đồng Nai sẽ phát triển tốt hơn trong thời gian tới.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa tính tất yếu phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp với những bất cập của cơ chế, chính sách hiện hành về phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp. Mâu thuẫn này đang là yếu tố không chỉ cản trở

sự phát triển của KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai, mà còn hạn

chế hiệu quả của hoạt động này. Vì vậy, để phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp ở Đồng Nai với ý nghĩa động lực, tạo tiền đề để nông nghiệp phát triển

bền vững cần khắc phục mâu thuẫn này.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa khả năng hạn chế của nền kinh tế với nhu cầu

nguồn lực đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Để phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp đòi hỏi tỉnh phải có nguồn lực lớn, trong khi khả

năng đáp ứng vốn từ ngân sách có hạn, vì tiềm lực kinh tế Đồng Nai còn hạn

chế, tổng thu ngân sách không nhiều, nên không đủ nguồn vốn đầu tư phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Hiện tại, nguồn lực đầu tư cho phát triển

KHCN ở tỉnh Đồng Nai nói chung đã ít, thì nguồn lực đầu tư cho phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp càng ít hơn. Chính sự tồn tại của mâu thuẫn này

mà hạ tầng KHCN ở tỉnh Đồng Nai đang rất bất cập.

Thứ tư, thị trường KHCN phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu

tư vấn, chuyển giao công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản

xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Mâu thuẫn này nảy sinh như một tất yếu

của sự phát triển ở tỉnh Đồng Nai. Đây là kết quả thay đổi nhận thức của

người nông dân nhờ sự phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Từ mẫu thuẫn

cho thấy, để thỏa mãn nhu cầu tư vấn, chuyển giao công nghệ và ứng dụng

tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; một mặt, cần đẩy mạnh xã hội hóa

68

các hoạt động KHCN; mặt khác, đẩy mạnh phát triển thị trường KHCN, hỗ

trợ hoạt động đổi mới công nghệ sản xuất nông nghiệp.

Thứ năm, mâu thuẫn giữa nhu cầu ứng dụng thành tựu KHCN để phát

triển sản xuất nông nghiệp ngày càng cao với trình độ còn hạn chế của nguồn

nhân lực nông nghiệp. Đây là mâu thuẫn không chỉ đối với nguồn nhân lực ở

tỉnh Đồng Nai mà là tình trạng chung của nguồn nhân lực nông nghiệp nước

ta. Chính mâu thuẫn này đã làm hạn chế hiệu quả ứng dụng thành tựu KHCN

vào sản xuất nông nghiệp. Đó là kết quả tất yếu nảy sinh từ yêu cầu phát triển

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai do tác động của KHCN đối với nông nghiệp. Để

giải quyết mẫu thuẫn này cần tiến hành đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

nông nghiệp nhằm nâng cao trình độ nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt

hơn yêu cầu ứng dụng thành tựu KHCN phục vụ nông nghiệp.

* *

*

KHCN phục vụ nông nghiệp đã có nhiều đóng góp vào thành tựu phát

triển nông nghiệp Đồng Nai. Tuy nhiên, so với mục tiêu, KHCN phát triển

chưa đúng với ý nghĩa là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững, chưa

tương xứng với tiềm năng, lợi thế và sự đầu tư của tỉnh. Vì thế, KHCN chưa

trở thành động lực phát triển nông nghiệp, nên chưa khắc phục được tình

trạng lạc hậu của nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Tình trạng này do nhiều

nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do các cấp quản lý chậm đổi mới, chưa nhận

thức đúng vai trò KHCN đối với nông nghiệp. Môi trường chưa thuận lợi cho

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; nguồn lực đầu tư còn hạn chế; cơ chế

quản lý chưa theo kịp sự phát triển của KHCN; cơ chế tài chính chưa phù hợp

với đặc thù của KHCN phục vụ nông nghiệp; chưa có chính sách sử dụng và

đãi ngộ thỏa đáng đội ngũ cán bộ KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp. Những

vấn đề trên đã và đang cản trở sự phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở

tỉnh Đồng Nai cần có giải pháp phù hợp.

69

Chương 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI

3.1. Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông

nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

3.1.1. Phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực phát

triển bền vững nông nghiệp tỉnh Đồng Nai

Mục tiêu của CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh

của nông sản; theo đó từng bước nâng cao thu nhập cho người sản xuất, kinh

doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, thực chất của phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp là thực hiện mục tiêu CNH,HĐH nông nghiệp. Theo đó,

KHCN phải đóng vai trò chủ đạo nhằm tạo cho được bước phát triển đột phá

về LLSX để hiện đại hóa nông nghiệp, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế

nông nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, góp phần đẩy nhanh

CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng như CNH,HĐH tỉnh Đồng Nai. Đặc

biệt, khi Đồng Nai thực hiện chủ trương “phát triển nông nghiệp theo hướng

nâng cao thu nhập cho người nông dân và thực hiện có hiệu quả chương trình

mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”[46] thì vai trò nền tảng và

động lực then chốt để CNH,HĐH nông nghiệp càng quan trọng. Vì vậy, đây

chính là quan điểm cơ bản, định hướng cho quá trình phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Chỉ

khi quan điểm này được các chủ thể, các lực lượng trong hệ thống chính trị

tỉnh Đồng Nai quán triệt sâu sắc thì vai trò nền tảng và động lực then chốt của

KHCN đối với quá trình CNH,HĐH nông nghiệp sẽ được phát huy; không

như vậy thì kết quả sẽ ngược lại. Với quan điểm này, đẩy mạnh tuyên truyền

nâng cao nhận thức về vai trò của KHCN là khâu then chốt; theo đó đẩy mạnh

70

truyền thông sâu rộng trong xã hội, đặc biệt là trong các doanh nghiệp về chủ

trương, chính sách, pháp luật về KHCN, về vai trò động lực của KHCN đối

với phát triển nông nghiệp nhằm nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, sự đồng

thuận và ủng hộ mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị đối với phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp; tạo không khí sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng KHCN

trong nông nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham

gia phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

3.1.2. Phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích

sáng tạo khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trước hết cần phát triển thị

trường KHCN. Thị trường KHCN cũng như thị trường KHCN phục vụ nông

nghiệp bước đầu đã được hình thành, tuy nhiên chưa có định hướng rõ ràng

và chưa có cơ chế hỗ trợ để thúc đẩy thị trường này phát triển. Các dịch vụ

trao đổi thông tin, liên kết giữa nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào

sản xuất còn lỏng lẻo. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với các kết quả nghiên

cứu, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp chưa có tác dụng, dẫn đến tình

trạng kết quả nghiên cứu chậm hoặc không được ứng dụng. Để phát triển thị

trường KHCN phục vụ nông nghiệp cần thông qua tổ chức các hội chợ, triển

lãm KHCN, thương mại hóa và chuyển giao sản phẩm KHCN, nhất là sản

phẩm công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp. Đẩy mạnh phát triển thị

trường công nghệ và thiết bị; hình thành các tổ chức tư vấn công nghệ, giao

dịch công nghệ, chợ công nghệ và thiết bị tạo điều kiện thuận lợi thực hiện

các giao dịch mua bán công nghệ phục vụ nông nghiệp. Thương mại hóa sản

phẩm KHCN thông qua tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị trên địa bàn

tỉnh, tham gia chợ công nghệ và thiết bị trong nước, khu vực và quốc tế.

Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại, nhằm thu

hút các nhà đầu tư có tiềm năng và theo đúng định hướng ưu tiên thu hút đầu

71

tư của tỉnh; tìm kiếm mở rộng thị trường KHCN phục vụ nông nghiệp. Phối

hợp chặt chẽ với các tổ chức xúc tiến thương mại của các bộ, ngành Trung

ương, các hiệp hội ngành nghề, đặc biệt là Cục xúc tiến thương mại của Bộ

Công thương và các cơ quan thương mại Việt Nam ở nước ngoài để đưa hoạt

động xúc tiến thương mại của tỉnh có trọng tâm, trọng điểm, có chất lượng,

hiệu quả. Trong đó chú trọng dự báo, phân tích thị trường và cung cấp thông

tin KHCN nói chung, thị trường KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng; tổ

chức xúc tiến thương mại KHCN tại các địa bàn trọng điểm, thị trường trọng

điểm, thị tường KHCN tiềm năng nhằm hỗ trợ hiệu quả cho nông dân và

doanh nghiệp nông nghiệp ở Đồng Nai. Đồng thời với việc kiểm soát chặt chẽ

việc nhập khẩu đối với các sản phẩm công nghệ mới, công nghệ tiên tiến và

thiết bị hiện đại phục vụ nông nghiệp; không nhập khẩu các sản phẩm KHCN

trong nước cũng như tỉnh Đồng Nai đã nghiên cứu và sản xuất được.

Các tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án tạo ra sản phẩm KHCN bằng

100% kinh phí từ ngân sách nhà nước hoặc một phần kinh phí từ ngân sách

nhà nước được đăng ký bản quyền tác giả, công bố kết quả theo quy định của

pháp luật; được quyền sử dụng kết quả để chuyển giao, chuyển nhượng, góp

vốn vào sản xuất kinh doanh và được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp

luật. Các sản phẩm KHCN, phát minh, sáng chế phục vụ nông nghiệp do các

tổ chức, cá nhân tạo ra bằng kinh phí ngoài ngân sách nhà nước, nếu có khả

năng ứng dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả, nâng cao năng suất, chất lượng

sản xuất nông nghiệp được nhà nước mua lại để chuyển giao cho sản xuất. Tổ

chức tốt công tác thông tin KHCN.

Chủ động tham gia đề xuất các kiến nghị, góp phần cùng các bộ, ban,

ngành Trung ương hoàn thiện khung pháp lý phát triển thị trường KHCN

nhằm xây dựng đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ các tổ

chức nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN vào nông nghiệp và nâng cao

72

năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nông nghiệp. Xây dựng và đưa vào

thực hiện các chính sách hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp về quản lý công nghệ,

nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp với các

cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Phát triển các dịch vụ tư vấn KHCN cho doanh nghiệp và nông dân

bằng nhiều hình thức như: mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng; phát hành các ấn

phẩm hướng dẫn; thông qua hệ thống thông tin đại chúng. Khuyến khích các

hoạt động liên doanh, liên kết giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong lĩnh

vực nông nghiệp với các tổ chức khoa học, các chuyên gia, các nhà khoa học

thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn. Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ứng

dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp. Tổ chức định kỳ hội

chợ nông nghiệp, hội chợ làng nghề, công nghệ để phổ biến, giới thiệu sản

phẩm KHCN phục vụ nông nghiệp.

Phát huy vai trò của các tổ chức KHCN trong việc nghiên cứu những

vấn đề bức xúc, cấp bách của nông nghiệp Đồng Nai như: vấn đề phát triển

nông nghiệp bền vững, phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với nông

nghiệp sinh thái, các tiêu chí của mô hình xây dựng nông thôn mới, phát triển

doanh nghiệp nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong lĩnh vực nông

nghiệp. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế động viên, tôn vinh tài năng trong nghiên

cứu KHCN; hoàn thiện chính sách bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ và sử

dụng hợp lý nguồn nhân lực KHCN trong nông nghiệp.

3.1.3. Đẩy mạnh phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ

nông nghiệp, trong đó ưu tiên nguồn nhân lực và nghiên cứu ứng dụng

Tiềm lực KHCN là yếu tố quyết định phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp. Để phát huy vai trò then chốt và động lực của KHCN trong lĩnh vực

nông nghiệp, thì KHCN cần phát triển theo hướng “Nâng cao tiềm lực KHCN

gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn [32]. Tập trung đầu tư phát

73

triển cơ sở vật chất của các tổ chức KHCN phục vụ nông nghiệp một cách

đồng bộ phục vụ cho nghiên cứu khoa học, trình diễn và chuyển giao công

nghệ, tiến bộ kỹ thuật cho nông nghiệp. Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho các

tổ chức KHCN nghiên cứu, chuyển giao các sản phẩm chủ lực, sản phẩm có

tiềm năng phát triển, công nghệ cao để tạo ra đột phá trong tăng trưởng kinh

tế. Phấn đấu đến năm 2020, Đồng Nai có “trên 60% tổ chức KHCN công lập

có cơ sở vật chất và nguồn nhân lực ngang tầm khu vực, trong đó một số lĩnh

vực đạt trình độ tiên tiến của thế giới”[14]. Tập trung đầu tư phát triển các tổ

chức KHCN nòng cốt trong nông nghiệp; liên kết các tổ chức KHCN cùng

tính chất, lĩnh vực, hoặc liên ngành ở tỉnh; hình thành các nhóm nghiên cứu

mạnh đủ năng lực giải quyết những nhiệm vụ trọng điểm trong phát triển

nông nghiệp tỉnh. Phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng trong các

trường đại học, cơ quan nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các khu công nghệ cao, khu

nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Trung tâm thông tin KHCN, Trung tâm

ứng dụng tiến bộ KHCN, Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng

ở tỉnh Đồng Nai. Phát triển hệ thống các tổ chức dịch vụ chuyển giao công

nghệ, các chợ công nghệ và thiết bị. Tổ chức triển lãm giới thiệu các thành

tựu đổi mới và sáng tạo KHCN phục vụ nông nghiệp.

Trên cơ sở bám sát thực tế sản xuất của nông dân, các doanh nghiệp

nông nghiệp và nhu cầu của thị trường, chiến lược và các chương trình phát

triển KTXH và ngành nông nghiệp tỉnh xác định đúng nhiệm vụ KHCN phục

vụ nông nghiệp. Ưu tiên xác định nhiệm vụ KHCN phục vụ nông nghiệp trên

cơ sở đặt hàng của cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Đồng Nai và các nhiệm vụ

có sự tham gia của doanh nghiệp hoặc liên kết với tổ chức KHCN quốc tế.

Yêu cầu bắt buộc mọi nhiệm vụ KHCN phục vụ nông nghiệp phải có sản

phẩm và địa chỉ ứng dụng cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

74

Tiếp tục tạo bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là kỹ

thuật cao và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ KHCN phục vụ nông nghiệp,

nhất là ở cấp phường xã, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp của tỉnh. Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học

và nhân viên kỹ thuật theo hướng chuyên sâu, đảm bảo mỗi lĩnh vực đều có

cán bộ đầu đàn, có tỷ lệ hợp lý cán bộ có trình độ sau đại học ở các tổ chức

KHCN. Tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật và khuyến nông theo hướng chuyên ngành kết hợp với đa lĩnh

vực, chú trọng tập huấn nghiệp vụ quản lý kinh tế, kỹ năng tổ chức, phương

pháp khuyến nông; bảo đảm 100% cán bộ khuyến nông của tỉnh được đào tạo

về kỹ năng khuyến nông, tập huấn về các công nghệ, tiến bộ kỹ thuật mới.

Ban hành chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KHCN phục vụ

nông nghiệp, trong đó quy định rõ cơ chế tự chủ tài chính đặc thù, chế độ đãi

ngộ thỏa đáng đối với cán bộ KHCN được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ

KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Có chính sách thu hút các nhà

khoa học người Việt Nam ở nước ngoài và nhà khoa học người nước ngoài

tham gia các hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp tỉnh. Xây dựng các

chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ quản lý KHCN

các cấp. Triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo chuyên gia KHCN trong các

định hướng, lĩnh vực KHCN ưu tiên.

3.1.4. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về khoa học và công

nghệ, tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức khoa học và công nghệ

phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

“Hội nhập quốc tế về KHCN là mục tiêu đồng thời là giải pháp quan

trọng để góp phần đưa KHCN Việt Nam sớm đạt trình độ quốc tế. Hội nhập

quốc tế về KHCN phải được thực hiện tích cực, chủ động, sáng tạo, bảo đảm

độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi”[13]. Đối với

75

Đồng Nai, mục đích hội nhập quốc tế về KHCN là nhằm tiếp thu và ứng dụng

có hiệu quả tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của thế giới, khu vực và trong nước

phục vụ nông nghiệp; đồng thời hợp tác chuyển giao các kết quả KHCN phục

vụ nông nghiệp cho các địa phương trong nước và các nước có nhu cầu; tạo

môi trường thuận lợi cho các tổ chức KHCN thuộc lĩnh vực nông nghiệp.

Chủ động, tích cực ký kết chương trình, kế hoạch hợp tác về KHCN

với các địa phương trong nước, với một số nước và tổ chức quốc tế khu vực

và thế giới, bao gồm: tài trợ không hoàn lại, hỗ trợ phát triển, liên kết nghiên

cứu, ứng dụng KHCN theo hình thức hai bên cùng có lợi, đào tạo nhân lực,

trao đổi thông tin… Đẩy mạnh hợp tác về KHCN với các nước có điều kiện

tiếp thu thành tựu KHCN nông nghiệp mà Đồng Nai có thế mạnh.

Tạo điều kiện cho các tổ chức KHCN, các nhà khoa học nông nghiệp

tỉnh Đồng Nai tìm kiếm đối tác, hợp tác với các tổ chức KHCN trong nước,

các tổ chức KHCN khu vực cũng như tổ chức KHCN quốc tế, tạo điều kiện

phát triển các tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ có vốn đầu tư

nước ngoài hoặc hợp tác công tư. Khuyến khích hợp tác nghiên cứu và phát

triển công nghệ giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, cá nhân

của tỉnh Đồng Nai với các đối tác trong nước và quốc tế. Thu hút nguồn kinh

phí từ nước ngoài thông qua các dự án nghiên cứu tại tỉnh Đồng Nai.

Tăng cường hợp tác KHCN trong nước và quốc tế, nhất là với các nước

trong khu vực nhằm đẩy mạnh hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp trọng

điểm của tỉnh như: hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sản

xuất nông nghiệp; xây dựng tiềm lực KHCN phục vụ nông nghiệp; tìm kiếm

các công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến, các giống cây trồng, vật nuôi mới phục

vụ phát triển nông nghiệp. Khuyến khích hợp tác khoa học và phát triển công

nghệ giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, cá nhân trong nước

với các đối tác nước ngoài. Thu hút nguồn kinh phí từ nước ngoài thông qua

76

các dự án nghiên cứu tại Việt Nam. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các

chuyên gia, các nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước

ngoài tham gia hoạt động KHCN nông nghiệp của tỉnh, nhất là chương trình,

dự án nghiên cứu, đào tạo nhân lực KHCN, hình thành các nhóm nghiên cứu

mạnh, trong đó chú trọng đến các nhóm nghiên cứu khoa học trẻ. Hoặc thực

hiện chế độ thuê chuyên gia nước ngoài ở những lĩnh vực nghiên cứu công

nghệ cao phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

3.2. Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông

nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

3.2.1. Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của các chủ thể trong

hệ thống chính trị tỉnh Đồng Nai về vai trò và sự cần thiết phải phát triển

khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp

Đề xuất giải pháp này là xuất phát từ hạn chế, bất cập trong nhận thức

của các cấp, các ngành về vai trò, tầm quan trọng phải phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp. Thực tiễn cho thấy, kinh tế nông nghiệp của các nước, ngay

cả các nước phát triển, chủ yếu dựa vào tri thức khoa học nhờ áp dụng thành

tựu tiến bộ của KHCN. Với địa phương có truyền thống sản xuất nông nghiệp

như Đồng Nai, để phát triển và “xây dựng Đồng Nai thành tỉnh cơ bản công

nghiệp hóa - hiện đại hóa vào năm 2015”[13], không thể không chú trọng ưu

tiên phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Mặc dù thành tựu của KHCN

đang xâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực, trở thành LLSX trực tiếp. Có thể

nói, KHCN tác động toàn diện đến mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, mọi ngành,

mọi lĩnh vực xã hội, trong đó có nông nghiệp. Và nông nghiệp tỉnh Đồng Nai

đã và đang chịu những tác động như vậy. Tuy nhiên, cho đến nay, không phải

mọi chủ thể, mọi người dân Đồng Nai, nhất là nông dân đều nhận thức đúng

vai trò “nền tảng và động lực cho phát triển bền vững”[12] của KHCN đối với

nông nghiệp; theo đó là chưa thống nhất nhận thức về sự cần thiết phải phát

77

triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì vậy, để phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp cần tiến hành các biện pháp sau:

Trước hết và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận

của các chủ thể, nhất là nông dân cũng như người sản xuất nông nghiệp, về

vai trò và sự cần thiết phải phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Đây sẽ là

biện pháp quan trọng, quyết định thành công việc phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp ở Đồng Nai. Nếu nhâ ̣n thức không đúng sẽ không hoạch định

đúng chủ trương, chính sách phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; theo đó,

các chủ thể có vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ này sẽ không có định hướng

rõ ràng. Mặt khác, vấn đề không chỉ là nâng cao nhâ ̣n thức, mà còn phải tạo

sự chuyển biến về nhâ ̣n thức và trách nhiệm, để trên cơ sở đó tạo ra sự đồng

thuận cao của toàn xã hô ̣i, của mọi chủ thể trong hệ thống chính trị tỉnh đối

với nhiệm vụ phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Vì vậy, về bản chất,

thực hiện biện pháp này là làm cho các chủ thể trong hệ thống chính trị Đồng

Nai nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì, nhận thức của các chủ thể về phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp vừa bị giới hạn bởi năng lực tư duy vốn có của

con người, vừa bị ràng buộc bởi sự chậm trễ hoặc không phù hợp của các chủ

trương, chính sách phát triển KTXH phục vụ nông nghiệp trong từng thời kỳ

nên nhận thức thường không theo kịp sự phát triển của KHCN. Không tiếp

tục nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của các chủ thể sẽ không có cơ sở

xã hội để phát triển phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới tư duy, trên cơ sở đó không ngừng nâng cao

nhận thức, trách nhiệm và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị về phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Thành tựu phát triển KTXH trong thời kỳ

đổi mới ở Đồng Nai vừa là kết quả đổi mới tư duy, lại vừa đặt ra yêu cầu mới

cho tiếp tục đổi mới tư duy phát triển KTXH; theo đó là đổi mới tư duy phát

78

triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, sự

thống nhất về tư duy, nhận thức là cơ sở, nền tảng của sự thống nhất hành

động. Để đạt được sự thống nhất về tư duy, nhận thức phải tạo cho được nhận

thức đúng về vai trò của phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Kết quả đó

chỉ có được bằng sự đổi mới và nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của

các chủ thể về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Thứ ba, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục nhằm

nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị tỉnh đối với phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp. Biện pháp này mang tính định hướng, tác

động đến toàn bộ nội dung cơ bản và là cơ sở để phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp. Với biện pháp này cần làm cho mọi chủ thể nhận thức

sâu sắc, đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp. Trong đó cần làm cho các chủ thể thấy rõ, phát triển nông

nghiệp tỉnh Đồng Nai thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, muốn tăng trưởng

không chỉ dựa vào khai thác, sử dụng các tài nguyên có giới hạn là: đất,

nước, số lượng lao động mà phải từ KHCN - yếu tố đặc biệt quan trọng

của LLSX, một nguồn lực có thể coi là vô hạn, KHCN là yếu tố quan

trọng của sản xuất nông sản hàng hóa. Đặc biệt, “Phát triển KHCN

ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn là nền tảng và động lực then

chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của

nền nông nghiệp, góp phần hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, bảo

đảm an ninh lương thực, an sinh xã hội và nâng cao thu nhập cho người

sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp”[14]; do đó cần thống nhất từ

nhận thức về tầm quan trọng đến biện pháp hành động ứng dụng KHCN

vào sản xuất nông nghiệp tỉnh nhà phải được coi trọng, xem đây là

nhiệm vụ hàng đầu, thường xuyên đối với cả hệ thống chính trị, nhất là

nông dân và ngành nông nghiệp.

79

3.2.2. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học là khâu

đột phá trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp

Trong các chuyên ngành KHCN phục vụ nông nghiệp, thì công nghệ

sinh học; công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch; công nghệ môi trường

là các lĩnh vực liên quan trực tiếp, có tác động đến năng suất, chất lượng, hiệu

quả sản xuất nông nghiệp và sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản. Đặc biệt,

công nghệ sinh học có tác động trực tiếp cả từ khâu tạo giống cây trồng, vật

nuôi, cả ở khâu sản xuất thức ăn, phân bón đến quá trình chăm sóc, chế biến,

bảo quản nông sản sau thu hoạch. Công nghệ sinh học đã và đang tiếp tục

được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng ở nhiều nước, đem lại thành tựu to

lớn như cây trồng biến đổi gen (đậu tương, ngô, lúa, bông…); hay giống lúa

lai sản lượng 15tấn/ha/vụ. Như vậy, lợi ích mà công nghệ sinh học mang lại

trong sản xuất nông nghiệp rất lớn. Phát triển công nghệ sinh học phục vụ

nông nghiệp đang mở ra hướng sản xuất nông nghiệp xanh, sạch và bền vững.

Vì vậy, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học sẽ là khâu đột

phá trong phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai. Với giải pháp

này cần tiến hành một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây

trồng và vật nuôi có năng suất cao, phẩm chất tốt; đồng thời phòng, chống các

loại dịch bệnh nguy hiểm, tạo các chế phẩm sinh học phục vụ phát triển nông

nghiệp bền vững. Theo đó ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học không chỉ để

tạo các giống cây, con mới có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu

của thị trường, chống chịu tốt với sâu bệnh và có khả năng thích nghi điều

kiện biến đổi khí hậu mà còn bảo tồn và khai thác hợp lý, có hiệu quả cao các

nguồn gen nông nghiệp, đặc biệt là nguồn gen đặc hữu của Đồng Nai phục vụ

cho việc tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và cơ sở khoa học để phát

triển an toàn thực phẩm biến đổi gen. Sử dụng các chế phẩm sinh học trong

80

công tác bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu hại cây trồng, hạn chế dịch bệnh, các

loại vắc xin để phòng bệnh cho gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Hai là, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở thực nghiệm giống cây trồng,

vật nuôi và kỹ thuật mới theo hướng đồng bộ, hiện đại. Theo đánh giá hiện

trạng công nghệ của Sở Khoa học và công nghệ Đồng Nai cho thấy: theo

thành phần công nghệ thì thành phần kỹ thuật (T) và thông tin (I) đạt trình độ

khá; thành phần tổ chức (O) đạt trình độ trung bình; thành phần nhân lực (H)

ở mức thấp, do đó Chỉ số công nghệ (TCC) của Đồng Nai ở mức trung bình.

Như vậy, công nghiệp Đồng Nai tuy có công nghệ đa dạng nhưng thiếu công

nghệ có hàm lượng chất xám cao như sản xuất giống mới bằng công nghệ

sinh học; trình độ công nghệ của ngành chế biến thực phẩm chưa đủ sức cạnh

tranh. Từ đó cho thấy, mặc dù là một tỉnh công nghiệp phát triển, nhưng công

nghệ còn lạc hậu, nhất là công nghệ sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, Đồng Nai

cần tập trung đầu tư xây dựng cơ sở thực nghiệm giống cây trồng, vật nuôi và

kỹ thuật mới thuộc Trung tâm Khuyến nông theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Ba là, tăng cường công tác khuyến nông nhằm nhân rộng các mô hình

sản xuất cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, vận động xây dựng các vùng sản

xuất nông sản hàng hoá sạch. Cụ thể: Đối với lĩnh vực trồng trọt, mở rộng

diện tích áp dụng mô hình nhà lưới ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất

rau, hoa lan; mô hình vườn cây ăn trái chất lượng cao; sử dụng biện pháp tưới

tiết kiệm, nhỏ giọt; tiếp tục ứng dụng công nghệ nhân giống vô tính trong sản

xuất giống cây điều, cây sầu riêng, cây bưởi, cây cà phê nhằm nhân nhanh

giống mới phục vụ cải tạo vườn cây già cỗi và phát triển vườn cây mới. Đối

với lĩnh vực chăn nuôi, tiếp tục chương trình phát triển mạnh các mô hình ứng

dụng công nghệ cao trong chăn nuôi heo, gà công nghiệp như hệ thống

chuồng kín, mô hình trại gà lạnh, giống cao sản, sử dụng máy phun cao áp

trong công tác bảo vệ thực vật và sát trùng chuồng trại chăn nuôi…; khuyến

81

khích doanh nghiệp đầu tư hình thành chuỗi sản xuất heo, gà chất lượng cao

từ sản xuất con giống, thức ăn chăn nuôi, tổ chức chăn nuôi, giết mổ, chế

biến. Phát triển các mô hình chăn nuôi bán công nghiệp đối với bò, dê, thỏ.

Đối với lĩnh vực thuỷ lợi, ứng dụng rộng mô hình tưới tiết kiệm trong sản

xuất rau an toàn, cây ăn trái, cây công nghiệp, biện pháp tưới tiết kiệm, nhỏ

giọt. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học trong sản

xuất giống cây lâm nghiệp phù hợp địa bàn tỉnh.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển giao và áp dụng tiến bộ KHCN hiện đại vào

sản xuất nông nghiệp theo hướng ưu tiên công nghệ sinh học. Việc ứng dụng

công nghệ sinh học không chỉ ở các khu nông nghiệp công nghệ cao mà cả

ngành nông nghiệp. Công nghệ sinh học phải hướng mục tiêu phát triển nông

nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững gắn với dịch

chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, tăng xuất

khẩu và bảo vệ môi trường. Trong đó tập trung cải tạo các loại cây, con chủ

lực, có thế mạnh của tỉnh; chú trọng công nghệ lúa lai, hướng tới một nền

nông nghiệp sinh thái; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ghép gien tái tổ hợp,

công nghệ vi sinh; sản xuất các loại thuốc phòng trừ dịch bệnh, thức ăn chăn

nuôi và phân bón vi sinh phục vụ phát triển nông nghiệp sinh thái, bền vững

và bảo vệ môi trường; đồng thời đầu tư phát triển công nghệ sau thu hoạch,

công nghệ chế biến, bảo quản nông sản hàng hóa.

Để thực hiện vai trò đột phá của công nghệ sinh học trong phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp cần tiến hành theo định hướng sau:

Thứ nhất, tập trung đầu tư ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất

nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các

loại cây trồng, vật nuôi; xây dựng khu thực nghiệm, sản xuất nông nghiệp

công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Thứ hai, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ

cán bộ kỹ thuật công nghệ sinh học nhằm không ngừng nâng cao trình độ về

82

mọi mặt, làm chủ các quy trình công nghệ để có thể chuyển giao ứng dụng

công nghệ sinh học vào sản xuất, đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH nông nghiệp,

nông thôn ở tỉnh Đồng Nai.

Thứ ba, tăng cường phối kết hợp với các doanh nghiệp, các tổ chức

chính trị - xã hội và đoàn thể trong hệ thống chính trị tỉnh Đồng Nai để phát

huy sức mạnh tổng hợp trong việc nghiên cứu ứng dụng các thành tựu công

nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp.

Thứ tư, tăng cường công tác chuyển giao kỹ thuật thâm canh tiên tiến

trong trồng trọt và chăn nuôi, tổ chức bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý

với từng địa phương trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm phát huy tối đa kết quả

quá trình ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp.

Thứ năm, khuyến khích, tạo điều kiện để các chủ thể phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp ở Đồng Nai tiếp xúc với các nhà nghiên cứu công nghệ

sinh học trong và ngoài nước thông qua các hội thảo, chương trình hợp tác.

Thứ sáu, khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ về vốn cho các doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp tiến hành các hoạt

động nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để không ngừng nâng cao

trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông sản hàng hóa.

Thứ bảy, huy động các nguồn vốn trong xã hội đẩy mạnh chương trình

ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

3.2.3. Tiếp tục đổi mới đồng bộ từ tổ chức, cơ chế quản lý đến cơ chế

hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

Mặc dù công tác quản lý KHCN đã dược đổi mới, hoàn thiện và những

đổi mới đó đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN phục vụ nông

nghiệp. Tuy nhiên, để KHCN phục vụ nông nghiệp có đủ tiềm lực và trình độ

tạo ra các luận cứ và sản phẩm khoa học giá trị cao, tiếp thu chọn lọc và làm

chủ công nghệ tiên tiến để ứng dụng có hiệu quả, đóng góp vào tăng trưởng

83

và phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần đảm bảo an ninh lương thực,

nâng cao thu nhập cho người sản xuất, kinh doanh nông nghiệp ở tỉnh Đồng

Nai, cần tiến hành đổi mới đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt

động KHCN và chính sách phát huy tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ

KHCN phục vụ nông nghiệp. Bởi thực tế, không chỉ ở Đồng Nai, mà trong

phạm vi cả nước, tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KHCN phục vụ

nông nghiệp còn nhiều bất cập, đang gây trở ngại đến phát triển KHCN. Vì

vậy cần tiếp tục đổi mới đồng bộ từ tổ chức, cơ chế quản lý đến cơ chế hoạt

động KHCN phục vụ nông nghiệp với những nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện và ổn định tổ chức KHCN phục

vụ nông nghiệp; củng cố và phát triển hệ thống tổ chức KHCN trong lĩnh vực

nông nghiệp, bao gồm các Trung tâm nghiên cứu ứng dụng (nông, lâm nghiệp

và thủy sản), Trung tâm cung cấp dịch vụ KHCN, phát triển khu nông nghiệp

công nghệ cao trên địa bàn. Theo đó, tiến hành sắp xếp, hoàn thiện và ổn định

hệ thống tổ chức KHCN phục vụ nông nghiệp công lập theo hướng chuyên

ngành, chuyên sâu theo lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi,

lâm nghiệp…; và theo hướng đa ngành như: chiến lược và chính sách, cơ điện

và công nghệ sau thu hoạch nhằm tập trung nguồn lực giải quyết những vấn

đề trọng tâm, trọng điểm của KHCN phục vụ nông nghiệp. Trong đó, các tổ

chức KHCN chuyên ngành công lập của tỉnh được tổ chức, phân công nghiên

cứu và chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ thuật theo hướng chuyên sâu,

nghiên cứu sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đồng thời tiến hành rà soát các tổ chức

KHCN liên quan đến nông nghiệp để sắp xếp, củng cố, phát triển phục vụ cho

mục tiêu CNH,HĐH nông nghiệp. Các trường Đại học trên địa bàn, tùy theo

điều kiện và nhu cầu có thể thành lập các tổ chức KHCN cứu về nông nghiệp

gắn liền với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp tỉnh Đồng Nai.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức khuyến nông các cấp,

đảm bảo hệ thống khuyến nông phát triển từ tỉnh đến cơ sở. Khuyến khích

84

thành lập các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông cho người sản xuất, kinh

doanh. Khuyến khích các tổ chức KHCN, các trường Đại học thành lập Trung

tâm chuyển giao công nghệ hoặc doanh nghiệp khoa học theo Nghị định số

80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KHCN. Khuyến khích và

tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các cá

nhân thành lập tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, phát triển

doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Thứ ba, đổi mới cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao

công nghệ phục vụ nông nghiệp. Đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học,

chuyển giao công nghệ phục vụ nông nghiệp theo các nội dung sau: Xây dựng

cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia thực hiện nhiệm vụ KHCN từ

nguồn kinh phí nhà nước, hoặc hỗ trợ một phần kinh phí cho doanh nghiệp

thực hiện nghiên cứu, phát triển sản phẩm KHCN phục vụ nông nghiệp theo

nhu cầu của doanh nghiệp; Xây dựng cơ chế xét chọn, tuyển chọn, đánh giá

và nghiệm thu nhiệm vụ KHCN một cách thực chất, khách quan, trong đó ứng

dụng phương thức phản biện độc lập của chuyên gia theo hướng gắn trách

nhiệm phản biện từ giai đoạn xét chọn, tuyển chọn đến nghiệm thu.

Thứ tư, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thực hiện cơ chế tự chủ, tự

chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập về nhân lực, kinh phí hoạt động

theo quy định của pháp luật. Trong đó:

Về cơ chế quản lý: đối với tổ chức KHCN công lập, ngoài cơ chế tự

chủ, tự chịu trách nhiệm về nhân lực, kinh phí hoạt động theo quy định, ngày

08/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số

2158/QĐ-UBND về Tiêu chí xác định đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh, cấp cơ

sở; theo đó:

Đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh là đề tài, dự án sử dụng 100% nguồn kinh

phí sự nghiệp KHCN từ ngân sách tỉnh. Các đề tài, dự án phải được Chủ tịch

85

Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản

lý và tổ chức ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Đề tài, dự án KHCN cấp cơ sở là đề tài, dự án sử dụng kinh phí sự

nghiệp KHCN từ ngân sách huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa;

hoặc kinh phí hoạt động KHCN của các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp và

doanh nghiệp; kinh phí do vận động tổ chức và cá nhân đóng góp.

Về Tiêu chí đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh, cấp cơ sở được xác định tại

Quyết định số 2158/QĐ-UBND ngày 08/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng

Nai về Tiêu chí xác định đề tài, dự án KHCN cấp tỉnh, cấp cơ sở.

Tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án phải chịu trách nhiệm

trong việc ứng dụng, chuyển giao và nhân rộng kết quả sau khi đề tài, dự án

nghiệm thu ở mức đạt trở lên. Việc quản lý đề tài, dự án thực hiện theo Quy

chế quản lý các đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển KHCN tỉnh Đồng Nai.

Về cơ chế tài chính: Xây dựng cơ chế quản lý tài chính phù hợp với đặc

thù KHCN phục vụ nông nghiệp. Tăng quyền chủ động sử dụng kinh phí cho

tổ chức KHCN chủ trì và cá nhân chủ nhiệm đề tài, dự án; đơn giản thủ tục

thanh quyết toán trong hoạt động KHCN. Thực hiện phân cấp quản lý tài

chính của đề tài, dự án theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho

tổ chức KHCN chủ trì và cá nhân chủ nhiệm đề tài, dự án. Tiến đến thực hiện

cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm KHCN theo kết quả đầu ra.

Thứ năm, đổi mới hoạt động thông tin KHCN phục vụ nông nghiệp.

Hình thành hệ thống mạng lưới dịch vụ thông tin KHCN phục vụ nông nghiệp

từ cấp tỉnh đến địa phương để cập nhật, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông

tin về kết quả của đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm, các giống mới, quy trình

công nghệ mới; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các mô hình áp

dụng tiến bộ kỹ thuật mới, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vừa đáp ứng

nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể, vừa đáp ứng yêu cầu chỉ đạo và

quản lý nông nghiệp. Đồng thời tăng cường phổ biến kiến thức KHCN, các

86

mô hình ứng dụng thành công các tiến bộ kỹ thuật, quy trình công nghệ mới,

ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao cho doanh nghiệp nông nghiệp, trang

trại và nông dân để áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp. Ứng dụng

công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông để phổ biến thông tin

KHCN nông nghiệp, hỗ trợ phát triển các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông

tin để phục vụ nhu cầu của người sản xuất, kinh doanh.

Thứ sáu, đổi mới mô hình hoạt động theo hướng gắn KHCN với thực

tiễn sản xuất. Đồng Nai đã và đang triển khai gắn sản xuất với chế biến và thị

trường; đặc biệt là thực hiện tốt việc gắn kết trên cơ sở giải quyết hài hòa lợi

ích “4 nhà” trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ, trong đó vai trò nòng cốt là

các tổ chức khoa học, các nhà khoa học. Mô hình này là yếu tố quan trọng

góp phần đưa tiến bộ KHCN vào sản xuất nhanh, hiệu quả. Tuy nhiên, mối

quan hệ này vẫn còn bất cập như quan hê ̣ hợp đồng đầu tư hoă ̣c hợp đồng thu

mua sản phẩm giữa nhà nông với cơ sở chế biến chưa thực hiê ̣n triệt để, nên

khi giá bán sản phẩm trên thị trường biến đô ̣ng theo hướng giảm thì thiê ̣t hại

thuô ̣c về nhà nông. Đây là tồn tại cần khắc phục, nhất là khi nhà nhâ ̣p khẩu

hoă ̣c nhà phân phối yêu cầu truy nguyên nguồn gốc xuất xứ nông sản.

3.2.4. Xã hội hóa nguồn vốn, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài

nước tham gia phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp

Đầu tư phát triển KHCN nói chung, đầu tư phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai nói riêng là lĩnh vực đầu tư tốn kém, nhiều rủi

ro, nên ngoài đầu tư của nhà nước và đầu tư của tỉnh theo hướng ưu tiên đầu

tư từ ngân sách nhà nước, cần đa dạng hóa và tăng cường huy động vốn đầu

tư xã hội cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp; đặc biệt là các doanh

nghiệp, hỗ trợ phát triển các hình thức hợp tác công - tư, phát triển các dịch

vụ KHCN phục vụ nông nghiệp. Mặt khác, cần thống nhất rằng, phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp là lĩnh vực ưu tiên đầu tư, do đó phải “Tăng đầu

tư từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt

87

động KHCN”[32; tr.36] phục vụ nông nghiệp. Như vậy, tăng nguồn lực đầu

tư từ ngân sách nhà nước và khuyến khích nguồn lực xã hội để thực hiện đồng

bộ các hình thức huy động vốn phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp vừa là

chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai; vừa là giải pháp để phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp. Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 xác

định “Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ KHCN

quốc gia, các sản phẩm quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn

lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển KHCN”[13]. Theo

đó, xây dựng chính sách thúc đẩy xã hội hóa đầu tư phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp; hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp, các thành phần kinh tế

tham gia nghiên cứu, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ mới, mua công

nghệ trong nước hoặc nước ngoài để phục vụ nông nghiệp. Đồng thời tăng

cường quản lý đầu tư, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà

nước để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp như: thực hiện các cơ chế,

chính sách liên quan đến phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, cải cách thủ

tục, phân cấp quản lý đề tài, dự án đầu tư phát triển, lành mạnh hóa thị trường

KHCN, tích cực thu hút vốn đầu tư phát triển KHCN từ các nguồn.

Đổi mới cơ chế tài chính cho hoạt động KHCN; phát triển và sử dụng

có hiệu quả Quỹ phát triển KHCN để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Tăng cường đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ Ngân sách nhà

nước. Tăng chi từ Ngân sách nhà nước cho hoàn thiện hệ thống thể chế, chính

sách pháp luật về phát triển KHCN cũng như KHCN phục vụ nông nghiệp;

xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn ODA, các nguồn đầu tư xã

hội, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp. Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích

các tổ chức tài chính, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, cá nhân

cung cấp tài chính, đầu tư cho phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Tỉnh

88

cần có cơ chế huy động và tiếp nhận các nguồn vốn, các nguồn tài trợ, đóng

góp, ủy thác của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá

nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các dự án, các hoạt động,

các sáng kiến và mô hình phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách cho hoạt động KHCN. Tạo điều

kiện khuyến khích nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KHCN phục vụ

nông nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong nước. Tập trung xây dựng các mô

hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học trong Trung tâm ứng dụng

công nghệ sinh học làm tiền đề cho phát triển sản xuất trên cơ sở công nghệ

cao và có khả năng nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, cần đổi mới cơ chế sử dụng kinh phí cho KHCN phục vụ

nông nghiệp, trong đó quy định rõ tỷ lệ phân bổ ngân sách nhà nước dành cho

KHCN theo các nhiệm vụ như: tăng cường tiềm lực KHCN; đổi mới cơ bản,

toàn diện, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động; đẩy mạnh ứng

dụng; hội nhập quốc tế về KHCN. Thực hiện cơ chế đặt hàng đối với các

nhiệm vụ KHCN, trước hết đối với sản phẩm chủ lực, sản phẩm công nghệ

cao từ các chủ thể sản xuất nông nghiệp, hay các doanh nghiệp nông nghiệp;

áp dụng các hình thức mua, khoán sản phẩm phù hợp với đặc điểm của từng

loại hình hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng chính sách đầu tư cho tổ chức KHCN dựa vào hiệu quả và kết quả

đầu ra. Áp dụng một số cơ chế, chính sách đột phá nhằm thúc đẩy xã hội hóa

đầu tư cho KHCN, đặc biệt là đầu tư của các doanh nghiệp cho hoạt động

nghiên cứu và đổi mới công nghệ phục vụ nông nghiệp. Có chính sách thu hút

các nguồn đầu tư nước ngoài cho hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp.

3.2.5. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước

về nông nghiệp, khoa học và công nghệ với các đoàn thể, tổ chức khoa học,

hiệp hội ngành nghề và các địa phương ở tỉnh Đồng Nai

89

Giải pháp này xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhu cầu tư vấn, chuyển giao

và ứng dụng khoa học của các chủ thể sản xuất nông nghiệp với khả năng đáp

ứng của thị trường KHCN, bởi KHCN phục vụ nông nghiệp chưa nhận được

sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước cũng như các chủ thể khác trong

hệ thống chính trị, nhất là ngành nông nghiệp, các địa phương, người nông

dân và các doanh nghiệp nông nghiệp. Hơn nữa, nâng cao hiệu quả phối hợp

sẽ giúp cho cơ quan quản lý tăng cường hiệu quả quản lý về KHCN; trên cơ

sở đó thúc đẩy phát triển KHCN, ứng dụng KHCN vào sản xuất và đời sống.

Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp thì sự phối hợp của các cơ

quan quản lý giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, sử dụng sản phẩm KHCN

phục vụ nông nghiệp là nhu cầu của ngành nông nghiệp và các chủ thể trong

lĩnh vực nông nghiệp; do đó cơ quan quản lý là Sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, địa phương, trong

đó có Sở KHCN, các tổ KHCN triển khai hoạt động KHCN phục vụ nông

nghiệp. Mặt khác, Sở KHCN với chức năng là cơ quan quản lý; đồng thời là

cơ quan tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền tỉnh trong chỉ đạo, kiểm tra

việc triển khai và phối hợp thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp; do đó Sở KHCN phải chủ động phối hợp với Sở Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn, với các đoàn thể, các tổ chức KHCN, hiệp hội

ngành nghề và các địa phương để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp. Để

thực hiện giải pháp này cần tiến hành các nội dung phối hợp sau:

Thứ nhất, phối hợp rà soát, kiến nghị với các cấp sớm điều chỉnh, bổ

sung một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực

hiện như điều chỉnh, bổ sung Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 4/6/2010 về

Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;

Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/4/2010 của Chính phủ về Chính sách

tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số: 418/QĐ-

90

TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát

triển KHCN giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 3246/QĐ-BNN-KHCN,

ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê

duyệt Chiến lược phát triển KHCN ngành nông nghiệp và phát triển nông

thôn giai đoạn 2013-2020; Quyết định Số 2419/QĐ-UBND, ngày 26/9/2011

của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Chương trình phát triển cây

trồng, vật nuôi chủ lực và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp giai

đoạn 2011-2015 và một số thông tư của các bộ, ngành về phát triển KHCN…

cho phù hợp với từng vùng, từng địa phương trên địa bàn tỉnh nhằm hỗ trợ

nông dân và tăng nguồn lực đầu tư phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Thứ hai, tăng cường phối hợp với ngành nông nghiệp, các tổ chức

KHCN giúp nông dân ứng dụng kịp thời tiến bộ KHCN vào sản xuất, thực

hiện tốt quy trình kỹ thuật đối với cây trồng, vật nuôi, tích cực sử dụng giống

được các nhà khoa học khuyến cáo để tạo ra nông sản có năng suất, chất

lượng cao, đủ sức cạnh tranh, xây dựng mô hình kinh tế đạt tổng giá trị sản

xuất cao trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Đồng thời với nâng cao trình

độ KHCN, cần phối hợp tìm hiểu tập quán để vận động nông dân xây dựng

các hình thức hợp tác, liên kết từ thấp đến cao nhằm thực hiện cơ giới hóa,

điện khí hóa, thủy lợi hóa, dịch vụ và sơ chế, chế biến nông sản hàng hóa.

Thứ ba, phối hợp nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến

khích, hỗ trợ doanh nghiệp liên kết với nông dân, hay liên kết giữa nông dân

với nông dân như hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ hoặc tổ chức hội nông

dân… để các bên gắn kết lợi ích và trách nhiệm với nhau, tạo ra chuỗi giá trị

hàng hóa lớn, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ. Có cơ chế, chính sách để

nhân rộng các mô hình tổ chức, quản lý sản xuất có hiệu quả như mô hình:

cánh đồng mẫu lớn hay cánh đồng liên kết; mô hình chuỗi sản xuất, thương

mại, chế biến và phân phối sản phẩm khép kín; mô hình nông dân góp cổ

91

phần với doanh nghiệp bằng giá trị quyền sử dụng đất; mô hình hợp tác xã, tổ

hợp tác kiểu mới; mô hình doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; tổ chức

hợp tác theo quy mô cộng đồng làng, xã dưới hình thức hợp tác xã dịch vụ,

công ty cổ phần... Đây là các mô hình được xem là xu thế tất yếu và tương lai

của nông nghiệp Đồng Nai nhằm thúc đẩy phong trào nông dân thi đua xây

dựng nông thôn mới có hiệu quả, là tiền đề cho sự đổi mới phương thức sản

xuất, nâng cao hiệu quả và sự phát triển bền vững nông nghiệp.

Thứ tư, phối hợp tổ chức hoạt động dịch vụ tư vấn KHCN, dịch vụ hỗ

trợ nông dân ứng dụng KHCN như: tổ chức hoạt động khuyến nông, khuyến

lâm, khuyến ngư; tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật, công nghệ mới;

xây dựng mô hình trình diễn để nông dân áp dụng; cung cấp thông tin thị

trường KHCN, thị trường nông sản; cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp; hỗ

trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm và nhãn hiệu hàng hóa theo hướng ưu tiên

xây dựng nhãn hiệu cho các sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn VietGAP/GAHP và

tạo điều kiện cho các đối tượng sở hữu nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu; tổ

chức hợp tác, liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, nhà khoa học và doanh nghiệp

nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nông dân về ứng dụng KHCN,

nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống… giúp nông dân

nâng cao năng lực ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN.

Thứ năm, phối hợp tạo nguồn vốn cho phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp cũng như cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; trong đó cần

phối hợp nghiên cứu xây dựng quy chế phối hợp giữa các tổ chức tín dụng

trên địa bàn với các sở, ngành và các cấp ủy, chính quyền địa phương trong

việc ưu tiên nguồn vốn cho vay đầu tư các dự án phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp; và cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời tổ

chức gắn kết các ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp để đẩy mạnh

nguồn vốn vay cho doanh nghiệp nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông

92

sản, lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp có giá trị gia tăng cao... để thúc đẩy phát

triển KHCN phục vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Thứ sáu, cùng với cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước, của cấp ủy

và chính quyền tỉnh Đồng Nai, cần phối hợp tiến hành khảo sát về điều kiện

kinh tế và năng lực sản xuất của từng hộ, cụm dân cư để từ đó có cơ sở trang

bị kiến thức và đào tạo nghề, phổ biến chủ trương và tuyên truyền, vận động

nông dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, động viên các hộ hoặc nhóm

hộ có khả năng, điều kiện hoán đổi đất cho những người không thể chuyển

sang ngành nghề khác ngoài sản xuất nông nghiệp để đầu tư vào ngành nghề

thiết thực với cuộc sống và sản xuất của địa phương như sơ chế hoặc chế biến

nông sản, sản xuất phân bón hay thức ăn chăn nuôi, khôi phục làng nghề

truyền thống, phát triển nghề mới, tăng cường các hoạt động dịch vụ ở nông

thôn, nâng dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, tạo công ăn

việc làm cho lao động tại chỗ, nâng cao thu nhập cho từng hộ dân cư.

3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

Xuất phát từ chất lượng nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực

KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng ở tỉnh Đồng, tuy là yếu tố cốt lõi để

phát triển KHCN nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đáp

ứng yêu cầu phát triển KHCN. Ở Đồng Nai, “Lao động trong độ tuổi dồi dào,

song chất lượng nguồn nhân lực một phần còn chưa đáp ứng yêu cầu phát

triển, nhất là lĩnh vực công nghệ sinh họa, công nghệ cao, lĩnh vực đào

tạo”[6]. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông

nghiệp là một giải pháp đột phá để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp.

Để KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai phát triển đáp ứng

yêu cầu sản xuất, nhất là phát triển nông nghiệp theo hướng CNH,HĐH, đòi

hỏi phải có sự phát triển tương thích của nguồn nhân lực. Theo đó, phát triển

KHCN phục vụ nông nghiệp một mặt, trực tiếp phụ thuộc chất lượng nguồn

93

nhân lực KHCN; mặt khác, phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực chung.

Nếu nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp là các chủ thể sáng tạo, phổ

biến và truyền bá thành tựu KHCN vào đời sống; thì nguồn nhân lực nông

nghiệp với vai trò là các chủ thể có nhu cầu sử dụng sản phẩm KHCN phục

vụ nông nghiệp. Thực tế cho thấy, do năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực

KHCN mà sản phẩm KHCN được tạo ra dù có tính thực tiễn, phù hợp với sản

xuất nông nghiệp, nhưng các chủ thể có nhu cầu sử dụng sản phẩm KHCN

không có khả năng khai thác, sử dụng sản phẩm KHCN, trong đó phần lớn là

nông dân (gọi chung là nguồn nhân lực nông nghiệp), thì kết quả sáng tạo của

nguồn nhân lực KHCN chỉ tồn tại trong kho bảo quản mà không được ứng

dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp; kể cả những sản phẩm công nghệ

mới, công nghệ hiện đại, hay công nghệ tiến tiến được nhập khẩu cũng không

có nhiều ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp khi trình độ của nguồn nhân lực

nông nghiệp không tương ứng với trình độ công nghệ nhập khẩu; theo đó hiệu

quả ứng dụng sản phẩm KHCN vào thực tiễn đã bị hạn chế bởi trình độ của

nguồn nhân lực nông nghiệp. Ngược lại, khả năng sáng tạo của nguồn nhân

lực KHCN không đáp ứng chu cầu về sản phẩm KHCN phục vụ nông nghiệp,

thì KHCN phục vụ nông nghiệp sẽ khó phát triển. Nói cách khác, đã xuất hiện

mẫu thuẫn trong quan hệ cung - cầu đối với sản phẩm KHCN phục vụ nông

nghiệp. Mâu thuẫn này có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do hạn chế,

bất cập về chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, mà đối tượng chủ yếu là

nông dân và các chủ thể sản xuất nông nghiệp.

Từ những vấn đề trên cho thấy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở

Đồng Nai nói chung, nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp nói riêng,

không chỉ nâng cao tiềm lực KHCN phục vụ nông nghiệp mà còn góp phần

nâng cao hiệu quả ứng dụng KHCN. Do đó nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực, nhất là nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp là giải pháp đột phá

94

để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Với nhận thức đó,

Đảng bộ tỉnh Đồng Nai chủ trương “Tập trung thu hút, đãi ngộ, đào tạo, phát

triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi đầu

ngành đáp ứng yêu cầu phát triển. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động

nông thôn. Nâng cao tiềm lực KHCN gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng

vào thực tiễn”[32; tr.30] nhằm tạo bước đột phá trong phát triển Đồng Nai.

Như vậy, để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai, phải

bắt đầu từ chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực, trong

đó có cả nguồn nhân lực nông nghiệp và nguồn nhân lực KHCN. Trong đó:

* Đối với nguồn nhân lực nông nghiệp, trực tiếp là người sản xuất

nông nghiệp và các chủ thể khác trong lĩnh vực nông nghiệp cần tiến hành

nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng. Trước hết, t ổ chức tiến hành rà

soát, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và dự báo nhu cầu về

trình độ, số lượng nguồn nhân lực nông nghiệp; trên cơ sở đó tập trung

triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

của tỉnh với nhu cầu thực tiễn sử dụng nguồn nhân lực nông nghiệp. Trong

đó, tập trung đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực được xác định là cấp thiết

đối với nông nghiệp như: lao động kỹ thuật cao; dịch vụ nông nghiệp chất

lượng cao; đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cho các tổ chức sản

xuất tập thể, chủ trang trại, hộ nông dân; nâng cao năng lực cho cán bộ

nông nghiệp xã, cộng tác viên nông nghiệp với nhiều hình thức đào tạo như

liên kết đào tạo trong và ngoài nước, hay thông qua các lớp tập huấn, hội

thảo, chuyển giao kỹ thuật, thông tin thị trường cho các chủ thể sản xuất

nông nghiệp. Mặt khác, tổ chức quy hoạch mạng lưới dạy nghề; trên cơ sở

khuyến khích phát triển hệ thống dạy nghề đảm bảo chất lượng, nhất là

chất lượng giáo viên dạy nghề, thiết bị dạy nghề. Đồng thời khuyến khích

sự liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp nông nghiệp; thực

95

hiện tốt công tác hướng nghiệp đối với bậc trung học phổ thông nhằm tạo

điều kiện cho học sinh có thời gian tiếp cận thực tế, nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp.

* Đối với nguồn nhân lực KHCN phục vụ nông nghiệp, trước hết là đội

ngũ cán bộ quản lý KHCN các cấp, các ngành cần xây dựng đồng bộ chính

sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ KHCN theo nội dung:

Thứ nhất, quy hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KHCN phục vụ

nông nghiệp theo hướng đồng bộ, cân đối trên từng lĩnh vực, chuyên ngành

phục vụ cho nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khuyến nông và

ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp. Đào tạo nâng cao năng lực, trình độ

chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý

KHCN ở các ngành, các cấp. Cần vận dụng linh hoạt các hình thức đào tạo

như: tập trung, dài ngày ở các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu; hoặc

đào tạo không tập trung, đào tạo ngắn thông qua tập huấn, bồi dưỡng kiến

thức KHCN; hợp tác quốc tế để nâng cao trình độ nguồn nhân lực KHCN.

Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho chuyển giao tiến bộ kỹ

thuật và khuyến nông theo hướng chuyên ngành, kết hợp với đa lĩnh vực, chú

trọng tập huấn nghiệp vụ quản lý kinh tế, kỹ năng tổ chức, phương pháp

khuyến nông, đảm bảo tỷ lệ hợp lý trình độ học vấn; trong đó 100% cán bộ

khuyến nông được đào tạo về kỹ năng khuyến nông, tập huấn về công nghệ

hiện đại, tiến bộ kỹ thuật mới, tiên tiến.

Thứ ba, ban hành chính sách đào tạo và sử dụng cán bộ KHCN, nhất là

cán bộ trẻ có trình độ cao trong nông nghiệp, trong đó quy định rõ cơ chế tự

chủ tài chính đặc thù, chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với cán bộ KHCN được giao

chủ trì thực hiện nhiệm vụ KHCN trọng điểm. Xây dựng cơ chế giao nhiệm

vụ KHCN tiềm năng cho cán bộ khoa học trẻ, các nhóm sinh viên giỏi ở các

trường đại học, các tổ chức KHCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

96

Thứ tư, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách thu hút nhà

khoa học người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như các nhà khoa học người

nước ngoài tham gia hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp của tỉnh. Đồng

thời nghiên cứu áp dụng cơ chế thuê chuyên gia bằng ngân sách nhà nước

tham gia hoạt động KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

Thứ năm, thực thi nghiêm túc, có hiệu quả quy chế dân chủ trong hoạt

động KHCN nhằm phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của

cán bộ KHCN trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định các chương

trình, dự án, đề tài KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

*

* *

Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp có vai trò ngày càng quan trọng.

Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là trách nhiệm của cả hệ thống chính

trị Đồng Nai. Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, cần thực hiện tổng

thể các giải pháp. Các giải pháp quan hệ chặt chẽ với nhau trong chỉnh thể

thống nhất; thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần thực hiện tốt giải pháp

khác, và ngược lại. Trên cơ sở quán triệt đầy đủ các quan điểm và thực hiện

đồng bộ các giải pháp trên sẽ thúc đẩy phát triển KHCN phục vụ nông

nghiệp. Các chủ thể, đặc biệt là cấp ủy, chính quyền các cấp ở Đồng Nai triển

khai và tổ chức thực hiện phù hợp, nỗ lực phấn đấu, mang lại hiệu quả cao

nhất.

97

KẾT LUẬN

Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp là vấn đề chưa được nghiên cứu

nhiều, việc định hình khái niệm và nội hàm phát triển KHCN cần dựa trên

cách tiếp cận khoa học. Dựa trên phương pháp tiếp câ ̣n lý luâ ̣n và thực tiễn,

luận văn đưa ra khái niệm về phát triển KHCN; về phát triển KHCN phục vụ

nông nghiệp. Trên cơ sở đó, làm rõ sự cần thiết và nội dung phát triển KHCN

phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai. Phát triển KHCN không phải từ không

đến có mà là quá trình vừa xây dựng mới, tạo ra sản phẩm KHCN mới, vừa

phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động KHCN hiê ̣n có theo yêu cầu mới,

đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH.

Thời gian qua, KHCN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần

phát triển nông nghiệp theo hướng CNH,HĐH, phát triển bền vững. Tuy

nhiên, quá trình phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp còn không ít hạn chế

và bất cập; KHCN chưa đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp Đồng

Nai trong quá trình CNH,HĐH. Thực trạng phát triển KHCN với cả ưu điểm,

hạn chế và nguyên nhân cần phải được nhận thức thấu đáo để xác định chủ

trương và thực hiện các giải pháp phát triển phù hợp, hiệu quả.

Để phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, cần phải thực hiện tổng thể

các giải pháp vừa cơ bản, toàn diện, vừa cấp thiết. Các giải pháp quan hệ chặt

chẽ, tác động với nhau trong chỉnh thể thống nhất; thực hiện tốt giải pháp này

sẽ góp phần thực hiện tốt giải pháp khác và ngược lại. Phát triển KHCN phục

vụ nông nghiệp là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức phong phú, phức tạp, đòi

hỏi các chủ thể vừa phải nắm vững các quan điểm lý luận, vừa phải chủ động

sáng tạo, với một thái độ nghiêm túc cả trong nhận thức và hoạt động thực

tiễn, để biến những giải pháp, tuy chưa phải là đầy đủ, thành kết quả đích thực

phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

98

1. Minh Anh, “Thu hút đầu tư vào khu công nghiệp: Nơi chen chúc, chỗ

bỏ không”, Báo Đồng Nai, ngày 20 tháng 04 năm 2014 . 2. Vũ Tuấn Anh, “Một số vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế quốc dân”, Tạp

chí Nghiên cứu Kinh tế, số 2 năm 1992.

3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX 02-05 năm

2005, Hà Nội.

4. Nguyễn Sinh Cúc (2005), “Tổng quan chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt

Nam 20 năm đổi mới”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 4.

5. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai (2011), Niên giám thống kê năm 2011,

6. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai (2013), Niên giám thống kê năm 2013

Nxb Đồng Nai, thành phố Biên Hòa, 2012.

Nxb Đồng Nai, thành phố Biên Hòa, tháng 5 năm 2014. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ III, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ V; NXB Sự thật, Hà Nội, 1982.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

16. Lại Ngọc Hải (2004), “Những vấn đề cần giải quyết để đẩy mạnh

99

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp”, Tạp chí Kinh tế và Dự

báo, số 12.

17. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2007), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Kinh tế thành

phố Hồ Chí Minh.

18. Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, Nghị quyết số 188/2010/NQ-HĐND, Về

mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng

- an ninh 05 năm 2011 - 2015.

19. Phạm Hữu Hùng (2012), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công

nghiệp hóa, hiện đại hóa miền núi Thanh Hóa hiện nay, Luận văn thạc

sĩ, Hà Nội.

20. Nguyễn Thị Lan Hương (2007), “Phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ngành tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu

kinh tế, Số 10.

21. Phạm Thị Khanh (Chủ biên) (2010), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng phát triển bền vững ở Việt nam, Nxb CTQG, H, 2010.

22. V.I. Lênin (1921), “Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô

sản”, Lênin toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ M, 1978. 23. V.I. Lênin (1921), Lênin toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ M, 1978. 24. C.Mác (1863), Góp phần phê phán chính trị học, Nxb Sự thật, Hà

Nội, 1964.

25. Phạm Vũ Tuấn Minh (2006), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2020,

Luận văn cao học chuyên ngành kinh tế chính trị, Đại học Kinh

tế thành phố Hồ Chí Minh, 2006.

26. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển

những ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, Nxb Khoa học -

xã hội, Hà Nội.

27. Nguyễn Đình Phan (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của Việt

Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 95.

28. Hoàng Ngọc Phong (2010), “Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

kinh tế và đầu tư vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-

2020”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 2.

100

29. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

30. Bùi Tất Thắng (1997), Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Việt Nam,

Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội.

31. Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam,

Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội.

32. Trần Đình Thiên (1996), “Một số giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế

giới, số 4 - 1996.

33. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 73/2008/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6

năm 2008, “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã

hội tỉnh Đồng Nai đến năm 2020”.

34. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 13 tháng 02

năm 2014, “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã

hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng

đến năm 2030”.

35. Tỉnh ủy Đồng Nai (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

Đồng Nai lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2005 - 2010), Nxb Đồng Nai.

36. Tỉnh ủy Đồng Nai (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

Đồng Nai lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015), Nxb Đồng Nai.

37. Tỉnh ủy Đồng Nai, Báo cáo số 249-BC/TU, ngày 28 tháng 11 năm

2013, Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX

Đảng bộ trong nửa nhiệm kỳ.

38. Bùi Thanh Tuấn (2011), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Điện Biên,

Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

39. Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 40. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Chương trình số: 7012/CTr-UBND,

ngày 12 tháng 10 năm 2011 về “Phát triển dịch vụ trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015”

41. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 2048/QĐ-UBND “Phê

101

duyệt Chương trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên

địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015”.

42. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 2361/QĐ-UBND, ngày 21

tháng 9 năm 2011 về việc phê duyệt Chương trình tổng thể đào tạo,

phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015.

43. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 2595/QĐ-UBND “Phê

duyệt Đề án phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai giai đoạn

2011 - 2015, tâm nhìn đến năm 2020”.

44. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 01

tháng 9 năm 2011 ban hành “Chương trình bảo vệ môi trường

tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015”.

45. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định số 496/QĐ-UBND ngày

20 tháng 02 năm 2012 phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành

công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, có tính

đến năm 2025”.

PHỤ LỤC

Phụ lục 1

Qui hoạch phát triển các Khu công nghiệp đến năm 2020

TT

Khu công nghiệp

Địa điểm

Hiện trạng 2010 (ha)

Rà soát, bổ sung các KCN đến năm 2020

QH SĐ theo NQ số 69 ngày 30/10/2012 của CP 11.094

9.223

11.152

Toàn tỉnh

Biên Hòa

335

1 Biên Hòa 1

365

Biên Hòa

365

365

2 Biên Hòa 2

100

Biên Hòa

100

100

3

Loteco

674

Biên Hòa

527

674

4 Amata

43

Biên Hòa

43

43

5 Agtex Long Bình

323

Biên Hòa

323

323

6

Tam Phước

500

500

500

7 Bàu Xéo

529

529

529

8 Giang Điền

Trảng Bom Trảng Bom, Biên Hòa

226

226

Hố Nai (giai đoạn 1)

226

9

271

271

Hố Nai (giai đoạn 2)

271

250

250

Sông Mây (giai đoạn 1)

250

10

224

224

Sông Mây (giai đoạn 2)

224

430

Trảng Bom Trảng Bom, Biên Hòa Trảng Bom Trảng Bom, Vĩnh Cửu Nhơn Trạch

430

11 Nhơn Trạch I

430

347

347 183 70

Nhơn Trạch 12 Nhơn Trạch II 13 Nhơn Trạch II - Nhơn Phú Nhơn Trạch 14 Nhơn Trạch II - Lộc Khang Nhơn Trạch

347 183 70

183 70 337

Nhơn Trạch

337

337

15

351

Nhơn Trạch

351

351

Nhơn Trạch III (giai đoạn 1) Nhơn Trạch III (giai đoạn 2)

184

Nhơn Trạch

184

16 Dệt May Nhơn Trạch

184

302

Nhơn Trạch

302

17 Nhơn Trạch V

302

315

Nhơn Trạch

237

18 Nhơn Trạch VI

315

823

Nhơn Trạch

855

19 Ông Kèo

823

184

Long Thành

344

20 Gò Dầu

184

488

Long Thành

488

21 Long Thành

500

534

Long Thành

283

22 Long Đức (*)

580

201

Long Thành

130

23 An Phước

201

130

Tân Phú

54

24 Tân Phú

130

309

Xuân Lộc

109

25 Xuân Lộc

309

177

Vĩnh Cửu

177

26 Thạnh Phú

177

161

Định Quán

54

27 Định Quán

161

264

Long Khánh

264

28 Long Khánh

264

331

Thống Nhất

331

29 Dầu Giây

331

498

Long Thành

-

30 Lộc An – Bình Sơn

498

300

Cẩm Mỹ

-

31 Cẩm Mỹ

300

190

Long Thành

-

32 Phước Bình

190

150

Long Khánh

-

33 Suối Tre

150

330

Thống Nhất

-

34 Gia Kiệm

330

102

Nguồn: [6; tr.83,84]

103

Phụ lục 2 Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp đến 2020 và sau 2020

Stt

Địa điểm

Tiến độ đầu tư hạ tầng

Tên cụm công nghiệp

QH SDĐ (Nghị quyết số 69/NQ- CP của CP)

Rà soát CCN theo Chỉ thị số 07/CT- TTg của Thủ tướng CP

I

Quy hoạch đến 2015 phát triển 14 CCN (838,1 ha), trong đó có 5 CCN (291,5 ha) đã, đang đầu tư cơ sở hạ tầng, 9 CCN (546,6 ha) đang tìm nhà đầu tư hạ tầng

50

50

1

CCN VLXD Hố Nai

Xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom

54,5

54,5

2

CCN Gốm Tân Hạnh

Xã Tân Hạnh, TP. Biên Hòa

3

94

94

CCN Phú Thạnh – Vĩnh Thanh

Xã Vĩnh Thanh huyện Nhơn Trạch

4

50

50

CCN VLXD Tân An

Xã Tân An huyện Vĩnh Cửu

5

43

Đã hoàn chỉnh hạ tầng và lấp đầy diện tích. Đã hoàn chỉnh hạ tầng và đang bố trí dự án. Đã có dự án đầu tư. Đang đầu tư cơ sở hạ tầng . Đang thỏa thuận bồi thường và xây dựng hạ tầng Đang xây dựng hạ tầng

43

CCN Phú Cường

Xã Phú Cường huyện Định Quán

6 CCN Dốc 47

98

97,6

Xã Tam Phước, TP. Biên Hòa

7

57

57

CCN Tam Phước 1

Xã Tam Phước, TP. Biên Hòa

8

96,5

96,6

CCN Thiện Tân- Thạnh Phú

Xã Thiện Tân – Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu

9

75

75

CCN Thiện Tân

10 CCN Tam An

60

59,9

11 CCN Thanh

49

48,7

Bình

Xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu Xã Tam An huyện Long Thành Xã Thanh Bình huyện Trảng

Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang lập hồ sơ quy hoạch Đang triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ

tầng

40

40

12

Đang thỏa thuận bồi thường

CCN A Hố Nai 3 – Hưng Thuận

42

41,8

13

CCN Hưng Lộc

30

30

14

Bom Xã Hố Nai 3 huyện Trảng Bom Xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất Xã Phú Thanh, huyện Tân Phú

Đang lập hồ sơ thành lập cụm công nghiệp Đang lập hồ sơ quy hoạch

104

II

80

80

15

CCN Quang Trung

Đang thỏa thuận bồi thường

75

75

16

Đang lập hồ sơ quy hoạch

CCN Gia Kiệm - Socklu

50

50

17 CCN Tân An

75

75

18

CCN Long Phước

CCN Phú Thanh Giai đoạn 2016 - 2020: tiếp tục triển khai đầu tư hạ tầng 13 cụm công nghiệp (655,3 ha) bao gồm 12 CCN đã có quy hoạch và bổ sung 01 CCN (CCN Bàu Trâm). Cụ thể bao gồm các cụm công nghiệp sau: Xã Quang Trung, huyện Thống Nhất Xã Socklu, huyện Thống Nhất Xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu Xã Long Phước, huyện Long Thành

57

57

19

CCN Bình Sơn

Xã Bình Sơn, huyện Long Thành

57

57

20

CCN Long Giao

Xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ

48,8

21 CCN Trị An

49

Xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu

75

75

22

CCN VLXD Phước Bình

Xã Phước Bình, huyện Long Thành

35

35

23

CCN Hưng Thịnh

Xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom

19

19

24

CCN Xuân Hưng

Xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc

20,5

20

25

CCN Suối Cát

Xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc

Đang lập hồ sơ quy hoạch Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đã có dự án đầu tư. Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi

33

26 CCN Phú

Xã Phú Vinh,

33

Vinh

huyện Định Quán

30

30

27

CCN Bàu Trâm

Xã Bàu Trâm, thị xã Long Khánh

đơn vị đầu tư hạ tầng Đang mời gọi đơn vị đầu tư hạ tầng

105

III

Giai đoạn sau năm 2020: triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng 10 cụm công nghiệp (449,8 ha). Trong đó có 6 CCN đã có quy hoạch và bổ sung 4 CCN quy hoạch mới

50

28 CCN An Viễn

50

50

29

50

50

30

50

CCN Sông Ray CCN Cọ Dầu 2

50

31

50

CCN Vĩnh An

55

32

54,8

CCN Vĩnh Tân

50

33 CCN Phú Túc

50

-

34

75

CCN Gia Tân 1& 2

-

35

30

CCN Phú Trung

-

36 CCN Phú Lộc

20

-

37 CCN Phú Lập

20

Xã An Viễn, huyện Trảng Bom Xã Sông Ray, huyện Cẩm Mỹ Xã Xuân Đông , huyện Cẩm Mỹ Thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu Xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu Xã Phú Túc, huyện Định Quán Xã Gia Tân, huyện Thống Nhất Xã Phú Trung, huyện Tân Phú Xã Phú Lộc, huyện Tân Phú Xã Phú Lập, huyện Tân Phú

Tổng cộng

1.799

1.943,2

Nguồn: [6; tr.87,88,89,90]

106

Phụ lục 3

DỰ BÁO DÂN SỐ, ĐÔ THỊ TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2030

Dự báo

Hiện trạng năm 2011

2015

2030

2020

TT

Tên đô thị

Tính chất chức năng

Đơn vị hành chính

Loại đô thị

Đất XD đô thị (ha)

Loại đô thị

Loại đô thị

Loại đô thị

Dân số đô thị (người)

Dân số đô thị (người)

Đất XD đô thị (ha)

Dân số đô thị (người)

Dân số đô thị (người)

Đất XD đô thị (ha)

Dân số toàn đô thị (người)

Dân số toàn đô thị (người)

Dân số toàn đô thị (người)

Đất XD đô thị (ha)

Dân số toàn đô thị (người)

TP. Biên Hòa

848.384706.609

II

950.000 800.000

I

12.000 1.100.0001.000.000

I

18.0001.400.0001.400.000

I

21.000

1

TP. Biên Hòa

Đô thị cấp vùng; trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, KHKT của tỉnh

2

135.311 54.357

IV

160.000 100.000

III

1.640 170.860 115.000

III

1.900 240.000 170.000

II

2.805

TX. Long Khánh

TX. Long Khánh

Trung tâm vùng phía Đông

3

29.808

60.000

900

80.000

1.170

235.000

4.140

Huyện Long Thành

29.808

V

60.000

V

900

100.000

80.000

IV 1.170 150.000

90.000

III

1.530

Đô thị Long Thành

Trung tâm vùng phía Tây

95.000

IV

1.710

Đô thị Bình Sơn

Đô thị dịch vụ (sân bay)

50.000

107

V

900

Đô thị Phước Thái

Đô thị dịch vụ (cảng biển)

120.000

2.400 260.000 170.000

5.000 350.000 245.000

7.000

4

Huyê ̣n Nhơn Trạch

Đô thị hành chính,

200.000 120.000

III

2.400 260.000 170.000

II

5.000 350.000 245.000

II

7.000

Đô thị Nhơn Trạch

công nghiệp

5

21.800

60.000

966

80.000

1.280

120.000

1.920

Huyê ̣n Trảng Bom

Đô thị hành chính

21.800

V

60.000

IV

966

80.000

IV 1.280 150.000 120.000

III

1.920

Thị trấn Trảng Bom

6

25.000

450

48.000

900

65.000

1.300

Huyê ̣n Thống Nhất

Đô thị hành chính

25.000

V

450

48.000

V

900

65.000

IV

1.300

Đô thị Dầu Giây

7

14.959

20.000

340

28.000

500

50.000

1.000

Huyê ̣n Xuân Lộc

Đô thị hành chính

14.959

V

20.000

V

340

28.000

V

500

50.000

IV

1.000

Thị trấn Gia Ray

8

20.000

330

30.000

510

65.000

1.300

Huyê ̣n Cẩm Mỹ

20.000

108

V

330

30.000

V

510

65.000

IV

1.300

Đô thị hành chính

Đô thị Long Giao

25.121

26.000

390

26.500

483

120.000

1.920

9

Huyê ̣n Vĩnh Cửu

Đô thị hành chính

25.121

V

26.000

V

390

35.000

26.500

V

483

50.000

40.000

IV

680

Thị trấn Vĩnh An

70.000

1.040

V

Đô thị Thạnh Phú

Đô thị công nghiệp

Đô thị Phú Lý Đô thị du lịch

10.000

200

V

10

21.767

30.000

360

35.000

420

80.000

1.467

Huyê ̣n Định Quán

21.767

V

30.000

V

360

35.000

V

420

50.000

IV

1.000

Thị trấn Định Quán

Trung tâm vùng phía Bắc

Đô thị Phú Túc Đô thị du lịch

10.000

250

V

Đô thị La Ngà

20.000

217

V

Đô thị công nghiệp

11

750

23.170

29.500

336

35.000

420

50.000

Huyê ̣n Tân Phú

Đô thị hành chính

23.170

V

29.500

V

336

35.000

V

420

50.000

IV

750

Thị trấn Tân Phú

Toàn tỉnh

897.591

1.290.500

20.112

1.647.500

30.583

2.600.000

44.602

Số đô thị

109

08

11

11

17

Nguồn: [54]

110

Danh sách các đơn vị được hỗ trợ nhãn hiệu hàng hóa giai đoạn 2006-2010

Tên đơn vị

Nội dung hỗ trợ

Ngành nghề

Năm 2006

TT 1 Công ty CP chăn nuôi Phú

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Chăn nuôi heo

Sơn

2006

2 Cơ sở du lịch sinh thái làng

bưởi Tân Triều

2007

3 HTX NN-DV-TM- DL

suối Lớn

Kinh doanh Bưởi/ Rượu bưởi Trái cây tươi các loại (xoài)

2007

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước và kiểu dáng công nghiệp Nhãn hiệu hàng hóa trong nước/Xây dựng website Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Mãng cầu, mua bán hạt

tiêu, café, điều

4 Hợp tác xã dịch vụ thương mại nông nghiệp thủy sản Xuân Bảo

2007

5 Nhà máy Chế biến Thực

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Gia súc, gia cầm

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Mua bán bưởi

2008 2008 2008

phẩm Đồng Nai 6 Cơ sở Nhân Hòa 7 Trang trại Lâm Thanh Đức Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Gia súc, gia cầm 8 Cơ sở rượu bưởi Hạnh

Bưởi các loại

Duyên

2008

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước và kiểu dáng công nghiệp 9 HTX DVNN Xuân Thanh Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại

(chôm chôm, sầu riêng)

10 HTX Dịch vụ Nông nghiệp

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại

2009

(xoài Lý Lịch)

Lý Lịch

11 HTX Nông nghiệp và Dịch

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại

2009

(bưởi)

vụ Tân Triều 12 Cơ sở Trần Cầu

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại

2010

(xoài)

13 Trang trại Nguyễn Long

2010

Sang

14 HTX SX Nông nghiệp DV-

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại (quýt, sầu riêng, xoài) Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Nấm, rau, các loại trái

2010

TM Toàn Thắng

cây

15 Hộ kinh doanh Đỗ Đăng

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái cây tươi các loại

2010

Khiết

(chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, mít, ổi)

16 HTX Thanh Long Phước

Nhãn hiệu hàng hóa trong nước Trái thanh long

2010

Lộc

Phụ lục 4

Nguồn: [21]