1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

……………….

TRƯƠNG THỊ NGỌC CẨM

QUAN HỆ VỀ CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

(KHẢO SÁT TRUYỆN NGẮN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh 2013

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

……………….

TRƯƠNG THỊ NGỌC CẨM

QUAN HỆ VỀ CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

(KHẢO SÁT TRUYỆN NGẮN)

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn:

TS. NGUYỄN VĂN KHA

Thành phố Hồ Chí Minh 2013

3

MỤC LỤC

MỤC LỤC ........................................................................................ 3

LỜI CẢM ƠN .................................................................................. 5

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................ 6

DẪN NHẬP ...................................................................................... 7

1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................7

2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................................8

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................15

4. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................15

5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................15

6. Đóng góp của đề tài .........................................................................................16

7. Bố cục của luận văn ........................................................................................16

CHUƠNG 1: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VÀ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP ................................................................ 18

1.1. Con người trong văn học và thuật ngữ “quan niệm về con người”. .........18

1.2. Vấn đề con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp qua các ý kiến tranh luận .....................................................................................................29

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP LÀ “CON NGƯỜI KHÔNG TOÀN VẸN” ............................................................................................... 40

2.1 Con người với tình yêu và hạnh phúc ..........................................................41

2.2 Con người gắn với nhân phẩm .....................................................................47

2.3. Con người kiếm tìm ......................................................................................55

4

2.4. Con người cô đơn .........................................................................................63

2.5. Sự phong phú phức tạp bên trong con người bình thường ........................74

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP. ......................................... 86

3.1. Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp .....................................................................................................................86

3.2 Cảm hứng huyền thoại ..................................................................................92

3.3. Kết cấu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ........................................... 100

3.4. Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại .................................................. 108

KẾT LUẬN .................................................................................. 120

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................... 122

5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn:

TS Nguyễn Văn Kha, Thầy đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi

trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành bản luận văn này.

Tôi xin cảm ơn chân thành tới thầy cô Phòng Khoa học công nghệ và

Sau đại học, Khoa Ngữ văn và các thầy cô giảng viên – Trường Đại học Sư

phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập

và nghiên cứu

Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Tổ bộ môn Ngữ văn trường

trung học phổ thông Nguyễn Du – Bà Rịa Vũng Tàu, cùng đồng nghiệp đã

giúp tôi hoàn thành khóa học.

Cuối cùng, tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người luôn

động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 9 năm 2013

Học viên kí tên

Trương Thị Ngọc Cẩm

6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn “Quan niệm về con người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” (khảo sát truyện ngắn) là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Kha.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố

trong bất kì công trình nào.

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. Học viên kí tên Trương Thị Ngọc Cẩm

7

DẪN NHẬP

1. Lý do chọn đề tài

Con người là đối tượng trung tâm của văn học. Nhà văn M.Gorki quan

niệm: “Văn học là nhân học”. Nhưng con người được nhìn nhận, đánh giá

trong mỗi nhà văn, từng thời kì, khuynh hướng, trường phái văn học có sự

khác nhau.

Trong giai đoạn văn học trước năm 1975, do tình hình đất nước có

chiến tranh, văn học phải phục vụ công cuộc cách mạng, phục vụ chính trị.

Đó là nhiệm vụ cơ bản của văn học. Con người trong giai đoạn lịch sử này

được nhận thức, phân tích, đánh giá chủ yếu ở góc độ chính trị. Trong giai

đoạn văn học này, chúng ta vẫn bắt gặp hình ảnh con người nhưng đó là con

người tập thể, con người quần chúng, chứ chưa phải là con người cá nhân.

Văn học giai đoạn này phản ánh hiện thực cuộc sống mới, con người mới

trong những biến động lớn lao của đời sống chính trị, xã hội.

Sang giai đoạn sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước độc lập,

thống nhất, văn học lúc này không chỉ miêu tả cuộc sống con người sau chiến

tranh, mà còn đi sâu vào vấn đề con người. Văn học quan tâm đến số phận,

đời sống riêng tư, tình cảm của từng cá nhân trong cuộc đời.

Có cách nhìn, quan niệm khác nhau về con người trong hai giai đoạn

văn học trước và sau năm 1975 như vậy là do sự đổi mới quan niệm về con

người, đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn. Đây là thành quả của sự đổi

mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Trong xu thế đổi mới, không

khí dân chủ tạo điều kiện cho nhà văn phát huy vai trò chủ động sáng tạo,

mạnh dạn tìm tòi khám phá những đề tài mà trước đây bị coi là “vùng cấm”

trong văn học, để có được tiếng nói nghệ thuật mang lại hiệu quả thẩm mỹ

trong độc giả.

8

Nói đến sự cách tân quan niệm về con người trong truyện ngắn đương

đại không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp – người đã góp phần làm

cho đời sống văn học thời kỳ đổi mới trở nên sôi nổi và khởi sắc hơn bao giờ

hết. Trong đó, mảng đề tài lịch sử gây nhiều tranh cãi trong dư luận bởi cách

nhìn và thể hiện nhân vật lịch sử trong tác phẩm của ông có sự khác biệt.

Những ý kiến đánh giá về cách nhìn con người trong tác phẩm của Nguyễn

Huy Thiệp dù khen hay chê, tất cả đều mạnh mẽ quyết liệt.

Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề con

người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng chưa có công trình nào

đề cập đến một cách có hệ thống quan niệm về con người trong truyện ngắn

của Nguyễn Huy Thiệp. Do đó, luận văn: Quan niệm về con người trong sáng

tác của Nguyễn Huy Thiệp (khảo sát góc độ truyện ngắn) trong khuôn khổ

luận văn thạc sĩ góp tiếng nói thẩm định đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp cho

cho sự đổi mới văn học Việt Nam từ sau 1975, ở cấp độ quan niệm nghệ thuật

về con người.

2. Lịch sử vấn đề

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn thuộc thế hệ sau cách mạng, sau chiến

tranh. Chỉ với mấy truyện ngắn đầu tay, tên tuổi của ông đã nổi bật trong và

ngoài nước. Những tác phẩm của ông đã gây nên cuộc tranh luận sôi nổi

những năm tám mươi.

Hoàng Ngọc Hiến – nhà nghiên cứu văn học trong bài viết Tôi không

chúc bạn thuận buồm xuôi gió (1987) đã đề cao quy luật của cái đẹp, của sự

thật và nhân bản trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cho rằng: “Dẫu là kể truyện

cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trước sau viết về cuộc sống ngày hôm nay. Tác giả

đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại” [39, tr.9]. Theo Hoàng Ngọc

Hiến, Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ không quen với cách nhìn “sử thi”. Vì

9

thế những nhân vật trong truyện dù “nhếch nhác, đốn mạt hầu hết cũng là

nhân vật lao động ta thôi” [39, tr.13]. Và theo ông Nguyễn Huy Thiệp đã

“thẳng thắn nêu lên những sự bê tha, hèn kém ở những con người thuộc về

những tầng lớp nhân dân khác nhau, nêu lên để quốc dân thấy rõ hơn thực

trạng của phong hóa xã hội, hiểu rõ hơn nhân tình và thế thái hiện nay. Và đó

cũng là một cách biểu hiện thái độ nghiêm chỉnh đối với nhân dân”. “Nói về

những sự đốn mạt, hèn kém của con người, câu văn của Nguyễn Huy Thiệp

thường man mác cảm giác tê tái. Đằng sau cảm giác này là nỗi đau nhân

tình”. “Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn, vừa xót xa.

Tàn nhẫn nghĩa là “không được thương con người”, đấy là mệnh lệnh của

lương tâm và tác giả đã đi đến cùng phơi bày sự đốn mạt của con người.

Nhưng cuối cùng thì vẫn xót xa, “không thể không thương con người”. Ngay

cả những nhân vật đốn mạt nhất, Nguyễn Huy Thiệp không tuyệt vọng ở họ”

[39, tr.14-15]. Ông nói rằng “những người đàn ông trong tập truyện của

Nguyễn Huy Thiệp hầu hết là đốn mạt….Ngược lại, trong các nhân vật nữ có

những con người ưu tú, nhiều người đáng gọi là liệt nữ. Nó là hiện thân của

nguyên tắc tư tưởng tạo ra cảm hứng của tác giả, có thể gọi đó là nguyên tắc

tính nữ hoặc thiên tính nữ” [39, tr.15-16].

Nhà phê bình Đặng Anh Đào trong bài viết Khi ông Tướng về hưu xuất

hiện (1988) đã thể hiện sự ủng hộ tác giả Tướng về hưu bằng thái độ rất nhiệt

thành: “cái cô đơn của một số nhân vật trong Tướng về hưu vẫn có giá trị

báo hiệu, và chưa chắc chỉ có báo hiệu điều dở. Thật đáng buồn, nếu ở một

môi trường tối tăm và sền sệt nào đó, con người không cảm thấy cô đơn mà

lại cảm thấy cứ như “cá trong nước”! [39, tr.24].

Nhà báo Trần Duy Thanh trong bài Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

(1988) cũng có cùng ý kiến với Hoàng Ngọc Hiến khi nhận xét rằng: “Ngòi

bút lạnh lùng của Nguyễn Huy Thiệp cứ thản nhiên phơi ra trên mặt giấy bao

10

nhiêu điều xấu xa, nhơ nhuốc, bỉ ổi của người đời. Anh không chỉ “lật áo”

nhân vật mà thật sự đã lột tuốt tuột những thứ che đậy để nói ra những điều

“vừa đau đớn, vừa chua xót, nhưng thương lắm” như lời Sinh trong truyện

Không có vua” [39, tr.88].

Dịch giả, tiến sĩ người Úc Greg Lockhart, trong bài viết Tại sao tôi

dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng anh? (1989) cũng đồng tình với

Hoàng Ngọc Hiến. Ông cho rằng, truyện của Nguyễn Huy Thiệp mang tính

chất nhân bản. Truyện Vàng lửa “diễn đạt một vấn đề lớn của nhân loại. Ở

đây bất cứ người đọc nào cũng có thể ghi nhận tính chất lớn khác hướng của

một sự suy nghĩ đa diện, phong phú về mối quan hệ giữa chính trị và nghệ

thuật, giữa cái đẹp và quyền lực lớn trong bất cứ xã hội nào” [39, tr.111].

Ông cũng đề cao cách viết của Nguyễn Huy Thiệp đó là “cách viết của một

nghệ sĩ khách quan đứng ngoài truyện và nhìn vào. Anh ấy không bị vướng

chân vào đời sống của nhân vật. Vừa nói về đời sống vĩ đại của cung Gia

Long, vừa nói về đời sống bình thường của một đồ tể, của một bác sĩ phá thai,

thậm chí vừa nói đến đời sống của một người Tây, thì số phận của con người

tự bộc lộ chỉ qua lời khái quát và hành động của nó” [39, tr.112]. Nhà nghiên

cứu đánh giá cao tính chất dân chủ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp:

“Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn hiện đại. Cách nhìn xã hội Việt Nam và

cả thế giới cùng với cách viết của anh cũng rất bình đẳng, dân chủ. Và cũng

phải nói tính chất dân chủ này là một mặt quan trọng của tính nhân bản trong

tác phẩm của anh” [39, tr.112-113].

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Truyện ngắn Nguyễn

Huy Thiệp vài cảm nghĩ (1992) nhìn thấy biểu hiện hai mặt của con người

trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: “Nguyễn Huy Thiệp có một thế

giới nhân vật độc đáo. Toàn những con người góc cạnh gân guốc. Người nào

dường như cũng sống đến tận cùng cá tính của mình…Ở Nguyễn Huy Thiệp,

11

những nhân vật hơi bụi một chút, thường có cả hai mặt thiện và ác, đúng ra

là chứa đựng cả thú tính lẫn nhân tính, một mặt đầy bản năng thô bỉ, mặt

khác, từ một góc độ nào đó của tâm hồn, thỉnh thoảng vẫn lóe lên ánh sáng

của lương tri, lương tâm” [39, tr.459].

Nguyễn Thanh Sơn trong bài Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp (1995) nhận

xét: “Những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng giống như những viên

ngọc Biện Hòa, những viên ngọc với lớp đá vỏ xù xì, thô ráp bên ngoài, và nó

đẹp nhất chính vì người ta biết trong lớp đá đó tiềm ẩn một viên ngọc” [39,

tr.118]. “Nguyễn Huy Thiệp là một trong số ít người không chấp nhận luật

chơi. Ông lạnh lùng dội những xô nước lạnh toát lên đấu chúng ta. “Đó

không phải là chân lí, không phải là cuộc sống!” những thông điệp truyện

ngắn của ông phẫn uất hét lên. Ông lôi tuột chúng ta xuống khoảng trống lơ

lửng giữa trời và đất, buộc ta phải đối mặt với mình, với một thế giới “không

có vua”, dạy chúng ta “những bài học nông thôn”, bắt chúng ta phải hiểu

rằng, trước khi muốn nhìn lên bầu trời thì phải nhìn mặt đất đã” [39, tr.119].

Theo hướng phê bình nói trên còn có ý kiến của Văn Tâm trong bài

Đọc Nguyễn Huy Thiệp (1988), Trương Hồng Quang trong bài Mười lời bình

về truyện ngắn “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp (1989), ý kiến của Đông

La trong bài viết Về cái ma lực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (1999),

v.v. ..

Những ý kiến phản đối cách nhìn con người trong truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp không phải là ít. Tạ Ngọc Liễn – nhà nghiên cứu lịch sử -

trong bài Về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp (1988) đã thể

hiện thái độ không ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp: “Vàng lửa là một truyện kí

danh nhân lịch sử. Nhân vật Nguyễn Huy Thiệp miêu tả là vua Gia Long và

Nguyễn Du, hai người có tầm vóc lớn lao trong lịch sử chính trị, lịch sử văn

học nước ta hồi đầu thế kỉ XIX. Bên cạnh Gia Long, Nguyễn Du còn có một

12

nhân vật người Pháp tên là Phăng-xoa Pơriê chính là nhân vật Nguyễn Huy

Thiệp xây dựng để nói hộ mình về những suy ngẫm về mọi chuyện, trong đó

có đánh giá Gia Long, Nguyễn Du, quan trọng hơn là đánh giá đặc điểm dân

tộc ta, truyền thống văn hóa, văn minh Việt Nam thời Nguyễn lúc bắt đầu tiếp

xúc với người châu Âu” [39, tr.170-171]. “Theo quan niệm của chúng ta từ

trước tới nay vua Gia Long là nhân vật lịch sử phản diện, vì ông ta dựa vào

Pháp đánh đổ triều đại Tây Sơn, ông ta là người “cõng rắn cắn gà nhà”…

không ai thừa nhận Gia Long là một khối nguyên “vô giá”, là “quốc bảo”

[39, tr.170]. Về đoạn kết thứ hai của Vàng lửa, Tạ Ngọc Liễn nhận xét: “Tôi

sẽ không nói tới cái ý mà người đọc dễ hiểu lầm là ở đây tác giả Vàng lửa

muốn ca ngợi Pháp có công khai hóa văn minh cho đất nước Việt Nam! Tôi

chỉ ngạc nhiên vì nhân vật Phăng của Nguyễn Huy Thiệp sao lại quá kém về

kiến thức lịch sử như vậy khi Phăng bàn chuyện lịch sử?” [39, tr.176]. Như

vậy, ở góc độ là nhà sử học, Tạ Ngọc Liễn cho rằng Nguyễn Huy Thiệp muốn

đánh giá lại lịch sử nhưng lại có một trình độ học vấn chưa đầy đủ, cần kiểm

tra lại vốn tri thức văn hóa.

Đỗ Văn Khang trong bài viết Sự “mơ mộng” và sự “nghiêm khắc”

trong truyện ngắn Phẩm tiết (1988) nhận xét rằng: “Vua Quang Trung là một

vị tướng lên ngôi… Một vị tướng lên ngôi như Quang Trung là người tự lập

nên nghiệp lớn, có bản lĩnh, dễ đâu để người khác coi thường? Vậy mà, vừa

diệt tan hai mươi vạn quân Thanh, khí thế còn đang bừng bừng như lửa cháy,

Nguyễn Huy Thiệp đã dắt cô Vinh Hoa tiếp kiến vua Quang Trung để cô bảo

nghiệp vua chỉ được vài ngày, vua Quang Trung ngồi nghe như “ngậm thóc”

[39, tr.235]. “Khó ai bảo vua Quang Trung không biết trọng dụng người tài.

Việc dùng Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở là một bằng chứng. Khó ai dám bảo

ông là người lỗ mãng… Thế mà trong cái phần “nghiêm khắc” của mình,

Nguyễn Huy Thiệp lại khắc họa nhân cách vua Quang Trung như một kẻ

13

nông nổi, lỗ mãng trước mặt vạn sĩ dân Bắc Hà. Và sự khắc họa này cũng

không có gì đặc sắc về tình tiết, về văn chương, hơn nữa lại rất tầm thường về

lối ám chỉ” [39, tr.236-237]. “Nguyễn Huy Thiệp bảo trước lúc chết vua

Quang Trung về tình chỉ chăm chăm nhìn vào một Vinh Hoa”… Nguyễn Huy

Thiệp muốn từ một Vinh Hoa để đánh đồng vua Quang Trung và Nguyễn Ánh,

nhấn mạnh vua nào cũng muốn làm vua gà, vua vịt cả” [39, tr.241]. “Hành

động vuốt mắt cho vua Quang Trung bằng nón tay. Rồi ngón tay đó bị bẩn

“đen lại như chàm”. Như thế, với hành động này, Nguyễn Huy Thiệp đã đạt

được mục đích cuối cùng là hạ bệ một thần tượng của lịch sử dân tộc, một

lịch sử đã phải viết bằng máu, bằng cả vinh quang và cả đau đớn mới có

được” [39, tr.241]. Ngoài ra trong bài viết Vì sao văn của Nguyễn Huy Thiệp

ngày càng sa sút, Đỗ Văn Khang nhận xét: “Văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày

càng mất bản chất nhân văn. Văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày càng rơi vào

thói vô chính phủ về lịch sử. Anh ta xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn với

thái độ phủ định quyết liệt [39, tr.411]. “Văn của Nguyễn Huy Thiệp không

chỉ dừng lại ở chỗ u ám, độc địa, mà người viết văn còn cố tình xuyên tạc lịch

sử. Một Quang Trung lẫm liệt, anh hùng đánh tan hai mươi vạn quân Thanh

như trở bàn tay, bỗng chốc hóa thành một anh vua hèn. Một Nguyễn Du văn

chương như in, như tạc vào cuộc đời bỗng chốc hóa thành “đứa con hoang

của cô gái đồng trinh” bị “tên đàn ông khốn nạn” là nền văn minh Trung

Hoa “cưỡng hiếp” khiến văn của Nguyễn Du “chứa đầy điển tích” của “tên

đàn ông khốn nạn” kia. Một Nguyễn Trãi văn chương kinh bang tế thế, đủ

sức sửa sang việc đời bỗng chốc hóa thành “nhà duy mĩ khổng lồ” chỉ có ru

với gió, mơ theo trăng” và “thơ thẩn cùng mây”. Một Nguyễn Thị Lộ chỉ đủ

tầm cỡ cho một “nhân vật trái tim” của Nguyễn Trãi bỗng nhiên sừng sững

trở thành một điểm tựa cho tinh thần suy sụp và cô đơn của Ức Trai” [39,

tr.415].

14

Một loạt bài viết theo hướng phản đối cách nhìn con người của Nguyễn

Huy Thiệp trong truyện ngắn đã xuất hiện như: Nguyễn Thanh trong bài viết

Về truyện ngắn Phẩm tiết (1988), Đỗ Trung Lai trong bài Sử - văn, văn - sử

và thái độ người phê bình (1988), v.v…

Một điều đặc biệt là, ngay cả những người từng lên án chỉ trích gay gắt,

ông vẫn không thể không thừa nhận tài năng của Nguyễn Huy Thiệp trong

việc viết truyện ngắn. Nhà Sử học Tạ Ngọc Liễn viết: “mặc dầu mới xuất

hiện, song anh đã sớm chứng tỏ được mình là một nhà văn có bản sắc riêng,

mới mẻ, bạo dạn, súc tích, gây được sự chú ý thực sự của độc giả” [39,

tr.170].

Điểm qua một số ý kiến khen chê được coi là khá tiêu biểu về cách

nhìn con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi nhận

thấy:

1/Mặc dù mỗi bài có phát hiện và cách lý giải riêng, nhưng tựu trung lại đa

số các ý kiến đều thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng văn chương

trong thời kỳ Đổi mới, đáng để chúng ta quan tâm.

2/ Từ lúc Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, vấn đề gây tranh cãi, trở thành yếu tố

nhạy cảm trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp mà chủ yếu là mảng truyện

ngắn, chính là vấn đề con người.

Để hiểu một cách đầy đủ hơn về Nguyễn Huy Thiệp nhằm xác định

đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam thời kì Đổi mới sau 1975, chúng

tôi mạnh dạn đặt vấn đề tìm hiểu quan niệm về con người trong truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp với mong muốn làm rõ hơn tư duy nghệ thuật của Nguyễn

Huy Thiệp. Đó chính là nguyên tắc tư tưởng, chi phối sự sáng tạo nghệ thuật

của nhà văn trong lĩnh vực truyện ngắn.

15

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nguyễn Huy Thiệp viết khá nhiều thể loại: Kịch, truyện ngắn, tiểu

thuyết, tiểu luận phê bình, trong đó, thể loại làm nên tên tuổi của ông là

truyện ngắn. Trong thể loại này, Nguyễn Huy Thiệp có tất cả bốn mươi hai

truyện ngắn. Trong đó bao gồm: Những ngọn gió Hua Tát (gồm mười truyện

nhỏ), Con gái thủy thần (gồm ba truyện), Chút thoáng Xuân Hương (gồm ba

truyện), chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa - Phẩm tiết, v.v…

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu toàn bộ

truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp để thấy được quan niệm về con người

trong sáng tác của ông.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ làm rõ quan niệm về con người trong truyện

ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.

5. Phương pháp nghiên cứu Để triển khai đề tài Quan niệm về con người trong sáng tác của

Nguyễn Huy Thiệp (khảo sát truyện ngắn) chúng tôi đã vận dụng những

phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Phương pháp loại hình: Trên cơ sở vận dụng lí thuyết về loại hình tự

sự (tiểu thuyết), để thấy Nguyễn Huy Thiệp với tư duy nghệ thuật đã xây

dựng tính cách các nhân vật trong truyện ngắn của mình, đưa các ra mô hình

của sự nhận thức, giúp người đọc khám phá hiện thực đời sống phong phú và

đa dạng.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Trên cơ sở của sự hiểu biết hoàn

cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt mốc Đổi mới từ năm

1986 đến nay để nhìn nhận, đánh giá những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

16

phù hợp với sự vận động và phát triển của lịch sử Việt Nam. Từ đó có cái

nhìn xác đáng, toàn diện về vấn đề con người được tác giả đề cập trong tác

phẩm.

Hướng tiếp cận thi pháp học: Trong quá trình tìm hiểu quan niệm về

con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi vận dụng kiến

thức thi pháp học để tìm hiểu nét đặc trưng nghệ thuật trong truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp hiện từ góc độ quan niệm con người của nhà văn.

Ngoài các phương pháp nghiên cứu chính trên đây, trong quá trình thực

hiện luận văn, các thao tác phân tích -tổng hợp, so sánh - đối chiếu cũng được

sử dụng.

6. Đóng góp của đề tài

Từ việc nghiên cứu quan niệm về con người trong truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp, thấy được tầm nhìn, tầm nhận thức, lý giải của nhà văn

về con người gắn với sự vận động nội tại của văn học Việt Nam trong thời kỳ

Đổi mới, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận của độc giả trong hoàn cảnh hiện đại của

xã hội Việt Nam.

7. Bố cục của luận văn

Luận văn gồm có 127 trang. Ngoài phần Dẫn nhập (11 trang), Kết luận

(2 trang), Tài liệu tham khảo (8 trang), Phụ Lục (4 trang) – Phần nội dung

chính của Luận văn gồm có 102 trang và được chia làm ba chương:

Chương 1: Vấn đề con người trong văn học Việt Nam sau 1975 và

trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày vấn đề con người trong

truyện Việt Nam sau 1975 và các ý kiến tranh luận cách viết về con người

trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.

17

Chương 2: Con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là

“con người không toàn vẹn”.

Trong chương này, chúng tôi trình bày quan niệm về con người của

Nguyễn Huy Thiệp được thể hiện trong truyện ngắn của nhà văn ở một số

phương diện.

Chương 3. Một số biện pháp nghệ thuật thể hiện quan niệm về con người

trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.

Trong chương này, chúng tôi trình bày các biện pháp nghệ thuật được

Nguyễn Huy Thiệp sử dụng trong cách viết về con người.

18

CHUƠNG 1: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VÀ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

1.1. Con người trong văn học và thuật ngữ “quan niệm về con người”.

1.1.1. Con người là đối tượng trung tâm của văn học.

Nhà văn M.Gorki khẳng định: “Văn học là nhân học”, tức là một môn

khoa học về con người, “nhưng không phải thứ nhân học trừu tượng mà là

con người ở đây được phản ánh một cách cụ thể sinh động như trong đời

sống thực hằng ngày, với tên tuổi lí lịch, nhân dạng riêng, nó đang đứng

ngồi, đi lại, nói năng, hành động, bộc lộ tâm lí, tình cảm trước mọi người,

người đọc như hình dung thấy được, nghe được những cử chỉ, dáng điệu, nét

mặt, tư thế, lời nói, ý nghĩ của họ” [27, tr.112]. Văn học tìm hiểu và hướng

dẫn con người, từ đối tượng, nội dung đến ý nghĩa, vấn đề sống còn của văn

học là vấn đề con người. Cho nên con người là đối tượng trung tâm của văn

học. “Con người – đối tượng của văn học – được phản ánh một cách tổng

hợp, toàn diện, trong quan hệ mọi mặt, nhưng được tập trung soi rọi trước

hết là từ bên trong, không phải về mặt sinh vật học hay về mặt sinh hoạt

chuyên môn. Chính vì đối tượng của văn học không phải con người “chuyên

môn” mà con người trong đời sống hàng ngày, trong những mối quan tâm

thích thú chung nhất, nên tác phẩm văn học được sự đồng cảm tự nhiên của

người đọc, không cần phải có kiến thức chuyên sâu mới nhập vào đời sống

tinh thần, tình cảm của nhân vật mới dễ dàng nhận ra và tỏ thái độ trước

những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm” [27, tr.9]. Phạm vi và trung tâm

chú ý của văn học là con người với tư cách là một đơn vị sống cá thể, một cá

tính cụ thể, sinh động, không trùng lặp. Con người là tổng hòa các mối quan

hệ xã hội. Văn học phản ánh các quan hệ qua lại của thế giới hiện thực mà

19

trước hết là các quan hệ xã hội của con người. “Đối tượng của văn học nghệ

thuật không phải là các lĩnh vực chuyên môn, là những cái gắn liền với đời

sống xã hội, thiên nhiên và đời sống bên trong của con người” [27, tr.282].

“Từ xa xưa, A- rit-tốt đã khẳng định: văn học nghệ thuật chính là bắt chước

đời sống ngay trong cái bao la muôn màu muôn vẻ, trong sự sinh sôi nảy nở

và biến hóa vô cùng tận của đời sống” [27, tr.5]. Đó là cái thế giới mang giá

trị, ý nghĩa đối với sự sống của con người. Như vậy, văn học miêu tả toàn bộ

hiện thực nhưng ở bình diện các quan hệ đời sống của con người. Việc nhận

thức toàn bộ quan hệ của thế giới con người đã đặt con người vào vị trí chủ

yếu vì nó là trung tâm của các quan hệ. Lấy con người làm đối tượng miêu tả

chủ yếu, văn nghệ có một điểm tựa để nhìn ra toàn thế giới. “Văn nghệ bao

giờ cũng nhìn hiện thực qua cái nhìn con người. Con người trong đời sống và

trong văn nghệ là những trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kết

tinh các kinh nghiệm quan hệ” [32, tr.126]. “Con người, đối tượng của văn

học nghệ thuật là con người trải qua mọi mối quan hệ của nó trong đời sống

hiện thực, không chỉ về mặt sinh lí mà trước hết về mặt xã hội, không chỉ về

mặt hoạt động vật chất cụ thể, không chỉ ở những biểu hiện bên ngoài mà cả

đời sống bên trong, mọi mặt, chủ yếu về mặt tâm lí, tư tưởng tình cảm, về mặt

cá tính hay nhân cách, tóm lại là những biểu hiện khách quan lẫn chủ quan

trong sinh hoạt của con người” [27, tr.96].

Mọi sự vật hiện tượng văn học miêu tả đều được nhìn qua nhân vật –

con người. Nhưng con người trong văn nghệ không chỉ được phản ánh ở góc

độ nhìn nhận đời sống, một chỗ đứng để khám phá hiện thực, mà còn được

phản ánh như những hiện tượng xã hội nhất định. M. Gorki nói rằng: “ở trong

mỗi đơn vị con người được miêu tả, ngoài cái chung phổ biến của giai cấp ra,

cần phải tìm được cái lõi cá tính, nó là nét đặc trưng và xét đến cùng quy

định thái độ của nó” [27, tr.196]. Và Tséc-nư-sep-xki đã từng nói: “Đời sống

20

hiện thực, đương nhiên không chỉ hiểu như là quan hệ giữa con người với các

sự vật tồn tại trong thế giới khách quan, mà còn là đời sống nội tâm của con

người; có khi con người sống bằng ảo mộng, thì những ảo mộng đó đến với y

cũng mang một ý nghĩa khách quan nào đó; thông thường hơn, con người

sống trong thế giới tình cảm của mình, những trạng huống ấy nếu là đặc sắc

thì cũng được nghệ thuật tái hiện” [27, tr.95]. Về mặt này, văn nghệ nhận

thức con người như những tính cách. Đó là những con người sống cá thể

nhưng lại thể hiện rõ những nét phẩm chất có ý nghĩa xã hội, những “kiểu

quan hệ xã hội” [72]. Miêu tả con người, văn học nghệ thuật không thể không

soi rọi vào các điều kiện xã hội bao bọc và chi phối đời sống của con người

khác nhau trong xã hội, đồng thời phản ánh đời sống xã hội. Vì rằng con

người sống trong xã hội, cho nên vấn đề con người cũng là vấn đề chế độ xã

hội. Hồ Chủ tịch nói: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy” [27, tr.17]. Văn học

nghệ thuật là tấm gương của xã hội đã sản sinh ra nó ở một giai đoạn lịch sử

nhất định. Như thế, vấn đề văn học là vấn đề cốt lõi của xã hội, đồng thời

cũng là vấn đề xã hội. Con người làm ăn sinh sống, lo toan, hy vọng, hạnh

phúc là từ trong một xã hội nhất định, từ những quan hệ ràng buộc con người

với nhau và tất cả đều chịu sự chi phối của xã hội. Tình cảm gia đình, khát

vọng hạnh phúc nằm trong phần sâu của tâm hồn con người, từ lâu đã là đối

tượng tìm tòi, thể hiện của văn học. Nhưng những chủ đề như là “muôn thuở”

ấy sẽ mất đi ý nghĩa sâu xa nếu tách khỏi thân phận của con người, nếu tách

những điều kiện xã hội cụ thể bao quanh con người. “Nghệ thuật mà tách rời

với những tình tự hàng ngày, để chỉ quy về đời sống tâm linh, nhà văn tự gặm

nhấm tâm hồn mình hay triền miên trong thế giới siêu hình – nghệ thuật đó

không tránh khỏi cắt lìa với hiện thực sôi động, và dù với danh nghĩa siêu

việt, huyền diệu, chẳng qua là cũng chỉ là rút về tháp ngà, về cái vỏ ốc của

cái tôi, nó chẳng có nghĩa gì so với đời sống bao la, muôn hình vạn trạng, đời

21

sống với những vui, buồn, vinh nhục, thăng trầm của nó, với bao nhiêu vấn đề

cần ưu ái của hàng triệu con người sống trên mặt đất” [27, tr.190]. Trong

văn học con người là thước đo, thông qua con người mà những sự kiện lớn

nhỏ tạo nên con người được khám phá. Vì thế Đốt-tôi-ep-xki đã nói: “Con

người là một điều bí ẩn, cần khám phá con người. Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy

vì tôi muốn trở thành con người” [68, tr.60]. Thạch Lam hơn nửa thế kỉ trước

từng khao khát: “Tôi bằng lòng đánh đổi cả một đời người để được biết

những ý nghĩ gì đã đi qua trên vầng trán phẳng của các thiếu nữ mà hằng

ngày chúng ta gặp cười nói ở ngoài đường” [1, tr.18]. Thế giới bên trong con

người quả là một đối tượng không cùng của văn học. Văn học là một phương

tiện quan trọng giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật

của con người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, hiểu thêm về thế

giới, sự phong phú của thế giới.

Trong văn nghệ, sáng tạo là bằng tưởng tượng. Nhưng tưởng tượng dù

có bay bổng đến đâu cũng bắt nguồn từ hiện thực, từ những yếu tố làm nên

cuộc sống hàng ngày, trong đó con người là trung tâm. Hiện thực đời sống

bao la, muôn màu muôn vẻ, lại không ngừng biến đổi và phát triển, cái nhà

văn hướng vào trước hết chính là con người, là tính cách, là tâm hồn của con

người, là những gì quy tụ vào con người và làm nên số phận, làm nên ý nghĩa

cuộc sống của con người. Vậy làm sao nó có thể bỏ qua những vấn đề của số

phận con người. Đối tượng trung tâm của văn học là con người nên nhà văn

phải tìm hiểu và nhận thức sâu sắc bản chất con người thực tại thì mới có thể

phản ánh đúng, đầy đủ và phục vụ tốt cho người đọc. Vì thế, một nhà thơ Đức

đã nói: “Phương pháp sáng tác đích thực là phương pháp mang tính người

đích thực”. Xét trên quan điểm nghệ thuật, phương pháp ưu việt nhất – cái

đứng trên mọi nguyên tắc, nguyên lý – nội hàm của nó luôn chứa đựng sự

hiểu biết về con người, tình yêu và trách nhiệm đối với con người. Hình

22

tượng nghệ thuật của nhà văn phải mang những giá trị hình thành các chủ thể

của đời sống, tức con người. Nó phải đáp ứng nhu cầu thời đại, phát triển

nhân cách, thanh lọc tâm hồn con người theo chiều hướng thượng. Bằng chất

thẩm mỹ nghệ thuật đặc thù, cá biệt của hình tượng do nhà văn sáng tạo, một

tác phẩm văn chương cần lay động cho bằng được sự phân biệt rạch ròi cái

thiện, cái ác trong tâm thức người, giúp con người nhận thức đúng bản chất

của sự việc, hiện tượng đang hạn chế đà tiến bộ của xã hội.

1.1.2 Quan niệm về con người trong văn học.

1.1.2.1 Giải thích thuật ngữ “Quan niệm về con người trong văn học”

Vấn đề con người bao giờ cũng là vấn đề trung tâm của một nền văn học,

một giai đoạn văn học. Thời đại văn học mới bao giờ cũng bắt đầu bằng việc

đổi mới quan niệm văn học về con người. Vì thế quan niệm con người là một

trong những vấn đề cốt lõi, là “hệ quy chiếu” để xem xét tiến trình vận động,

đổi mới của một nền văn văn học.

Con người là đối tượng trung tâm của văn học nên để tìm hiểu sự sáng

tạo của nhà văn, tầm khái quát sâu rộng của tác phẩm cũng như những thành

công, đóng góp của nhà văn cho một giai đoạn, thời kì văn học không thể

không tìm hiểu quan niệm con người của tác giả, của giai đoạn văn học đó.

Quan niệm về con người là một khái niệm mới, có những cách hiểu

khác nhau. Theo Giáo sư Trần Đình Sử, thuật ngữ quan niệm trong nghệ thuật

“là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải,

tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là

tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó

diễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm

chí có thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả “không chính xác” về đời

sống” [55, tr.8].

23

Hiện thực cuộc sống với mọi biểu hiện phức tạp và sinh động của nó là

nguồn nuôi dưỡng vô tận cho sáng tạo văn học, trong đó, con người luôn luôn

là đối tượng miêu tả và thể hiện. Hiện thực luôn phát triển, biến động và con

người cũng luôn biến đổi – chính điều này tạo nên chân dung và đặc điểm của

mỗi thời đại. Và mỗi thời đại văn học, do nhiều yếu tố chính trị - xã hội, và do

cả tầm vóc nhận thức của chính nó, cũng đưa ra một cách quan niệm, một

kiểu tư duy nghệ thuật về con người nhằm chiếm lĩnh thực tại một cách hiệu

quả.

Mỗi nhà văn có quan niệm khác nhau về con người. Nghiên cứu quan

niệm về con người trong văn học là tìm hiểu cách nhìn, sự khám phá, sự lí

giải, trình độ hiểu biết về con người của nhà văn, tức là xem xét con người đã

được nhà văn nhận thức như thế nào gắn với môi trường sống và hoạt động.

Điều đó thể hiện trình độ tư duy nghệ thuật của nhà văn. Giáo sư Lê Ngọc Trà

trong bài Vấn đề con người trong văn học, khi nói về sự khám phá con người

đã viết: “Thường thì đa số các tác phẩm mới chú ý khắc họa những nét điển

hình xã hội, bước thăng trầm trong cuộc sống hay đường đời của các nhân

vật chứ chưa dựng lên được những số phận tinh thần, chưa diễn tả đời sống

của bản thân ý thức của những khát vọng, tìm kiếm bên trong của con người.

Đây không phải là vấn đề miêu tả tâm lí nhân vật mà cơ bản là vấn đề chủ

nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người” [68, tr.65].

Quan niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng

tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn của người nghệ sĩ. Quan niệm

nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của

nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn

có của văn học. Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, nêu ra những tư

tưởng mới khám phá về con người. Do đó càng đi sâu khám phá nhiều quan

niệm về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh

24

giá đúng những thành tựu của họ trong sáng tạo nghệ thuật. “Quan niệm nghệ

thuật về con người không phải là toàn bộ sáng tạo của nhà văn, cũng không

xác định toàn bộ giá trị và ý nghĩa của tác phẩm, nhưng quan niệm về con

người chi phối mạnh mẽ việc xây dựng tác phẩm để lại những dấu ấn đậm nét

về từng nhà văn, từng trào lưu, thời kì văn học” [24, tr.17] .

1.1.2.2. Vấn đề con người trong văn học Việt Nam sau 1975

Con người trong văn học dù là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, bao

giờ cũng là con đẻ của thời đại. Đặc điểm chung của thời đại có vai trò chi

phối lớn đến quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học của thời đại

đó. Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối khác của nghệ thuật

biểu hiện. Mỗi giai đoạn lịch sử, văn học gắn với một quan niệm nghệ thuật

về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người được xem như là cách tân

quan trọng nhất của văn học nói chung ở mọi thời kỳ. Chỉ có sự thay đổi quan

niệm nghệ thuật về con người mới tạo ra sự đổi mới toàn diện, những phát

triển về tư duy nghệ thuật, đề tài, bút pháp, giọng điệu, … Hiểu như trên,

trong phạm vi hẹp, sự đổi mới của văn xuôi từ 1975 đến nay suy cho cùng

đều bắt nguồn từ sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người.

Thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến những năm 70, đất nước ta phải

sống trong hoàn cảnh chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó lợi ích cộng đồng trở

thành nguyên tắc hàng đầu. Trong chiến tranh, mỗi công dân, dù là công dân

cầm súng, cầm cày, hay cầm bút, khi đã đứng bên này chiến tuyến thì lí tưởng

chung, sự nghiệp chung, vận mệnh chung, trở thành lẽ sống, lẽ tồn tại.

Nguyên tắc này được mọi công dân nhận thức một cách tự giác. Tất cả những

gì thuộc về quyền lợi cá nhân, những gì nằm ngoài mục tiêu cấp thiết của

chiến đấu và chiến thắng, dù rất chính đáng cũng được tự nguyện gác lại hoặc

yêu cầu gác lại. Và văn học giai đoạn này chịu sự chi phối của yêu cầu và quy

25

luật của chiến tranh. Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 tập trung

vào đề tài tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống

nhất đất nước. Văn học nhìn con người bằng cái nhìn sử thi, cái nhìn lý tưởng,

lấy lịch sử làm điểm quy chiếu con người. Con người văn học trong thời kì

này được nhận thức, phân tích, đánh giá ở góc độ chính trị, trong quan hệ ta –

địch. Nhân vật trung tâm của tác phẩm văn học là người chiến sĩ trên mặt trận

vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường như dân quân, du

kích, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Đó là những con người

sống với cộng đồng, con người giai cấp, con người dân tộc, xả thân vì nghĩa

lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự gắn bó với cộng đồng, mang tầm

vóc sử thi, kết tinh những phẩm chất cao quý đại diện cho cả cộng đồng như

các nhân vật Núp trong Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), chị Út Tịch trong

Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), anh Nguyễn Văn Trỗi trong Sống như

anh, chị Sứ trong Hòn đất (Anh Đức) là những con người lí tưởng của thời

đại. Họ sẵn sàng hy sinh thân mình, cống hiến cho tổ quốc. Phải thừa nhận là

giai đoạn cách mạng và kháng chiến kéo dài suốt 30 năm (1945 - 1975) đã tạo

nên một mẫu người phổ biến trong cuộc sống và trong văn chương phù hợp

với yêu cầu cơ bản của lịch sử là chiến thắng, bằng bất kỳ giá nào, kẻ thù của

dân tộc và tiến bộ xã hội. Câu nói của Chủ Tịch Hồ Chí Minh “Dù phải đốt

cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho kì được độc lập” đã trở

thành quyết tâm và sức mạnh của hàng triệu người Việt Nam. Không phải

chúng ta không nhận biết được tính toàn diện của bản chất người, tính đa

dạng và phức tạp của quan hệ người. Con người là sự tổng hòa các mối quan

hệ xã hội nhưng để tồn tại và chiến thắng, một số mặt trong bản chất và quan

hệ ấy, trên thực tế, đã nổi trội hẳn lên. Đó chủ yếu là con người hiện thực, con

người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng

và con người phi thường. Làm sao có thể khác được. Chiến tranh có quy luật

26

riêng của nó. Muốn vượt qua những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh,

con người cần sống một cách thực tế, không nên quá suy tư và đa cảm, phải

giản ước mọi ham muốn, không được mơ hồ về kẻ thù, không được phép nghĩ

nhiều tới lợi ích và nguyện vọng riêng tư, và nhất là cần huy động mọi phẩm

chất cao đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình để chiến thắng kẻ thù.

Từ sau toàn thắng 1975, tình hình đất nước, xã hội, con người Việt

Nam hoàn toàn đổi khác. Dân tộc Việt Nam đã thực sự giành được độc lập,

thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đất nước còn gặp nhiều khó khăn thử thách

mới. Những thử thách khắc nghiệt của thời hậu chiến, từ chiến tranh chuyển

sang hòa bình, từ đấu tranh chuyển sang xây dựng đang diễn ra trên khắp đất

nước. Văn học cũng khép lại một chặng đường văn học Cách mạng, mở ra

thời kì mới của văn học thời hậu chiến với nhiều sự biến chuyển thay đổi.

Văn học lúc này không chỉ miêu tả vấn đề ta – địch mà quan tâm đến nhiều

mặt: vấn đề con người, vấn đề nhân bản, chủ nghĩa nhân văn.

Thật vậy, chỉ một số ít năm sau chiến tranh, người ta nhận ra ngay được

nghịch lí: hóa ra đời sống trong hòa bình phức tạp hơn trong chiến tranh rất

nhiều. Chiến tranh ác liệt nhưng đơn giản. Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã

hội và con người dồn lại vào một quan hệ duy nhất: sống – chết. Người ta

phải sống phi thường, phi thường có thể là cao cả, nhưng phi thường cũng có

thể triệt tiêu đi bao nhiêu quan hệ bình thường mà vô cùng phong phú và

phức tạp của đời sống con người, đẩy tất cả quan hệ ấy về phía sau. Trong

chiến tranh, xác định xong vấn đề sống – chết, thì sẽ có thể sống rất thanh

thản. Ngọn lửa chiến tranh thiêu cháy những nhỏ nhen, nhiêu khê của cuộc

sống thường ngày…Hòa bình thì khác hẳn. Hòa bình tức là trở lại đối mặt với

cái bình thường hằng ngày, cái bình thường mà muôn thuở, tất cả cái nhiêu

khê của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh

con người từng giờ ở khắp mọi nơi. Nếu trong chiến tranh chỉ có một câu hỏi

27

duy nhất: sống hay chết, thì bây giờ vô số câu hỏi dấy lên từ những tầng sâu

của xã hội, tích lũy âm thầm trong những quá trình lịch sử phức tạp và lâu

dài, bày hết ra trước con người.

Giờ đây, với nhà văn, cuộc sống đã mở ra những triển vọng cao hơn

cùng những đòi hỏi lớn hơn. Để đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của

công chúng, văn chương cần trở về với đặc trưng vốn có của mình, cần tuân

thủ những “quy luật muôn đời” của lịch sử văn chương dân tộc và nhân loại.

Trong điều kiện mới này, văn học đòi hỏi nhà văn phải thay đổi cách nhìn con

người. Thay vì cách nhìn đơn giản, rạch ròi thiện - ác, bạn - thù, cao cả - thấp

hèn là cách nhìn con người đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con

người trong những mối quan hệ đời thường đa đoan và phức tạp. Đề tài chiến

tranh và cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề tài thế sự

và đời tư.

Trong thực tiễn sáng tác từ sau năm 1975, cảm hứng sự thật về hiện

thực và con người trở thành cảm hứng chủ đạo bao trùm đối với các nhà văn.

Văn xuôi thế sự, đời tư không chỉ bộc lộ những suy nghĩ, trăn trở mà còn phơi

bày, phanh phui những các sự vật hiện tượng để đi đến tận cùng cốt lõi của

nó. Thời đại đổi mới không cho phép nhà văn thuyết giáo về một mẫu người

chung chung, xa lạ đối với con người cụ thể trong đời sống. Không thể miêu

tả một cách đơn giản cá tính của con người. Con người trong tác phẩm phải

được nhà văn mổ xẻ thấu đáo, tường tận trên bình diện giai cấp và các mối

quan hệ nhân sinh phức tạp khác.

Nhu cầu đổi mới quan niệm về con người trong văn học sau năm 1975

Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), chủ trương

đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã làm chuyển động mạnh

28

mẽ mọi hoạt động của đời sống, con người Việt Nam. Đổi mới tư duy, trong

đó có đổi mới văn học nghệ thuật trên tinh thần: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh

giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Trong hoàn cảnh mới, với yêu cầu đối mới,

nhà văn nhận rõ những non yếu của văn học thời kì trước. Trên tờ báo Văn

nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Minh

Châu cho in bài phát biểu nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn

nghệ minh họa. Bài báo đã nêu lên vấn đề đang xảy ra trong giới cầm bút lúc

bấy giờ “người nghệ sĩ, hễ cầm bút là nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón,

đối phó….Mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc cầm hai

cây bút, một cây bút viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút viết

cho lãnh đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngòi

bút thứ hai này, buồn thay- các nhà văn cầm lâu ngày, để tự bảo vệ mình cho

nên cũng lắm kinh nghiệm mà cũng tài hoa lắm….Trong khi đó, những cây

bút minh họa, những tác phẩm minh họa một chiều thì lại thoải mái, người

viết cầm bút thoải mái chẳng có gì phải luồn lách, lắp đậy, rào đón, chỉ phải

cái nó công thức và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc cảm thấy nó

giả, mỗi ngày người đọc cảm thấy ở tác phẩm minh họa và ca ngợi một sự giả

dối không thể bào chữa, so với cuộc đời thực bên ngoài” [4.1]. Bài báo vừa là

tuyên ngôn, vừa thể hiện tinh thần đổi mới văn học hết sức triệt để của giới

sáng tác. Trong bài viết Vấn đề con người trong văn học, Giáo sư Lê Ngọc

Trà viết: “Cuộc đời rộng hơn chính trị, con người rộng hơn con người giai

cấp, thế giới tinh thần của con người và ý thức giai cấp của anh ta không

phải là một” [68, tr.58].

Trong một xã hội đầy biến động, những cái cũ bị phá vỡ, những tư

tưởng mới, quan niệm mới đang hình thành trong lòng xã hội, văn học Việt

Nam nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói riêng đang vận động không ngừng

để bước vào quỹ đạo mới cùng với văn học thế giới. Những phương diện mới

29

của con người, đặc biệt là những bi kịch của con người cá nhân vốn bị né

tránh trong văn học thời kì trước nay đã được các nhà văn tìm đến khai phá,

phơi bày. “Phải xây dựng, khôi phục lại tất cả những tính cách đã bị những

điều kiện ngặt nghèo, trong chiến tranh làm cho phần nào méo mó đi, chí ít

cũng mất bình thường đi. Như vậy đã đến lúc phải nhìn nhận lại, đánh giá lại

con người cùng sự việc lại cho công bằng, chính xác hơn, khôi phục lại

những nguyên tắc đạo đức, những quy tắc làm người, nhất là con người mới

xã hội chủ nghĩa cho đầy đủ và đúng nghĩa hơn” [53]. Khi hướng tới đối

tượng trung tâm của mình, tác phẩm văn chương không chỉ thể hiện đời sống

và phẩm chất của con người, không chỉ đặt ra và giải quyết những vấn đề nảy

sinh trong quan hệ giữa con người và con người, giữa con người với tự nhiên,

mà quan trọng hơn là tìm hiểu, khám phá và phát hiện ra những bí ẩn nằm

trong chiều sâu, những chiều kích khác nhau của con người. Giáo sư Lê Ngọc

Trà viết: “Văn học, đặc biệt là văn học đã thực sự bước vào giai đoạn trưởng

thành, không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng thương xót con người

mà còn là một lĩnh vực quan sát và khám phá về con người” [68, tr.60]. Và

đó chính là một điểm làm nên nét độc đáo của văn xuôi Việt Nam nói chung,

truyện ngắn Việt Nam nói riêng từ sau 1975 đến nay.

1.2. Vấn đề con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp qua các ý kiến tranh luận

Nói đến sự cách tân quan niệm về con người trong truyện ngắn đương

đại không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp – người đã góp phần làm

cho đời sống văn học thời kỳ Đổi mới trở nên sôi nổi và khởi sắc hơn bao giờ

hết. Trong đó, mảng đề tài lịch sử gây nhiều tranh cãi trong dư luận bởi cách

nhìn và thể hiện nhân vật lịch sử trong tác phẩm của ông có sự khác biệt.

30

Những ý kiến đánh giá về cách nhìn con người trong tác phẩm của Nguyễn

Huy Thiệp dù khen hay chê, tất cả đều mạnh mẽ quyết liệt.

Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề con

người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.

Tháng 1 năm 1987, tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn

Huy Thiệp được khởi đăng, nhưng chưa gây được tiếng vang. Đến khi Tướng

về hưu ra đời trên báo Văn nghệ số 24 ngày 20/6/1987 và đặc biệt từ sau khi

chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết liên tiếp ra mắt bạn đọc từ

tháng 4/1988, Nguyễn Huy Thiệp trở thành một hiện tượng trong văn học thời

kì Đổi mới bấy giờ. Lúc này xuất hiện những phản ứng gay gắt, trái ngược

nhau trong việc đánh giá các sáng tác của nhà văn. Dư luận về tác phẩm của

ông sôi nổi không nhằm khẳng định hay phủ nhận tài năng của Nguyễn Huy

Thiệp mà tập trung vào các vấn đề: văn - sử; hư cấu – phi hư cấu; chính - tà.

Căn cứ vào nội dung các bài tranh luận có thể chia làm hai xu hướng: xu

hướng phản đối, phủ nhận và xu hướng ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp.

1.Ở xu hướng phản đối, phủ nhận, tập trung vào ba truyện Kiếm sắc –

Vàng lửa – Phẩm tiết, đăt biệt là truyện Phẩm tiết. Những người phê phán

Nguyễn Huy Thiệp có cách làm khá giống nhau là: đối chiếu các hiện tượng

hư cấu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp với các nhân vật lịch sử, văn

hóa đã trở thành khá quen thuộc với người Việt Nam, từ đó họ đã đến kết luận

những hiện tượng Quang Trung, Gia Long, Nguyễn Du,… trong tác phẩm của

Nguyễn Huy Thiệp là sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Một trong những người

đầu tiên phê phán Nguyễn Huy Thiệp là nhà sử học Tạ Ngọc Liễn. Ông cảnh

báo: “Chúng ta phải nhắc nhở anh cần định hướng lại một cách chắc chắn

hơn khi ngồi trước trang giấy, đặc biệt cần kiểm tra lại vốn kiến thức văn

hóa, vốn hiểu biết lịch sử trong hành trang anh đang có nếu như anh vẫn tiếp

tục các đề tài lịch sử” [39, tr.170]. Lúc thì ông chỉ trích khá gay gắt, rằng

31

Nguyễn Huy Thiệp là người có nhận thức phiến diện, “trình độ học vấn chưa

đầy đủ, bôi nhọ anh hùng dân tộc” [39, tr.17]. Và từ góc nhìn lịch sử, Tạ

Ngọc Liễn yêu cầu Nguyễn Huy Thiệp “không được xuyên tạc hư cấu một

cách tùy tiện, giống như không ai được phá hoại các di tích lịch sử đã được

xếp hạng” [39, tr.177]. “Tôi không nghĩ tác giả luận điểm này là người mắc

bệnh tâm thần nhưng đó không phải là sự suy tưởng của một đầu óc lành

mạnh khỏe khoắn” [39, tr.173]. Và ông đưa ra kết luận cuối bài viết của mình

là: “Viết lịch sử không chỉ sử gia mà cả nhà văn cũng phải phục tùng sự thật,

đúng bản chất lịch sử, không làm cho diện mạo của nó méo nó đi” [39,

tr.177]. Nhà báo Lê Hà trong bài Các vị tướng nói về phim “Tướng về hưu”

rằng: “Ông tướng (người tiêu biểu cho quân đội) quá xa thực tế, quá xa cuộc

sống và cứng nhắc trong cuộc đời. Để làm gì? Nếu không nói xấu quân đội,

thì cũng là bức tranh sai lệch về quân đội. Chẳng lẽ quân đội không còn gì

hay ho hơn để nói” [39, tr.37]. “Tác giả đã bôi nhọ cuộc đời chiến đấu của

một cán bộ quân đội, lí ra rất đáng ca ngợi” [39, tr.39]. Trong khi đó Đỗ Văn

Khang trong bài viết Vì sao văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày càng sa sút lại

nhận xét: “Ở Tướng về hưu, người ta thấy Nguyễn Huy Thiệp đã bộc lộ một

hạn chế rất nghiêm trọng, là anh đã nhìn đời tàn nhẫn quá, “hung hãn, táo

tợn”, “lạnh lùng, hằn học” quá” [39, tr.410]. “Văn anh còn thóa mạ con

người”. “Anh xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn với một thái độ phủ định

quyết liệt” [39, tr.411]. “Truyện của anh không nâng đỡ con người, mà tìm

cách thóa mạ con người” [39, tr.414].

Ngoài ra, một số nhà phê bình, nhà báo cùng một cách nhìn thiếu thiện

cảm với chùm truyện về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp như Nguyễn

Thúy Ái, Đỗ Văn Khang, v.v…Họ quả quyết rằng Nguyễn Huy Thiệp thiếu

tâm trong sáng tác của người cầm bút. Đặc biệt Nguyến Thúy Ái đã đặt một

cái tên khá ấn tượng cho bài viết về Nguyễn Huy Thiệp của mình “Viết như

32

thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ” [39, tr.203]. Đỗ Văn Khang

đưa ra nhận xét: “Rất đúng rằng không được nhìn lịch sử bằng con mắt sáo

mòn, nhưng có nên dựng một tên cướp nước để hắn dạy cho chúng tôi về lịch

sử Việt Nam không? Có lẽ đơn giản ở đây là: một kẻ vô đạo đức thì không

bao giờ rao giảng đạo lí cho người khác được” [39, tr.194]. Ngoài ra, ông

cũng đồng tình với ý kiến của Tạ Ngọc Liễn và nói “Nguyễn Huy Thiệp viết

truyện “lịch sử - thế sự” mà toàn dựng các nhân vật chủ chốt không thuộc

chính sử (Phăng trong Vàng lửa và cô Vinh Hoa trong Phẩm tiết)” [39,

tr.190]. Nhà văn Bùi Hiển nhận xét: “Nguyễn Huy Thiệp đặt con người trên

bình diện “thực thể” và đó là con người thấp kém” [39, tr.451]. Ngoài ra nhà

văn Hồ Phương nhận định rằng: “Trong “Không có vua” tôi thấy dường như

đã lộ một khuynh hướng của anh với cái nhìn xã hội thiên về đen tối, đỗ vỡ,

mất hết lòng tin của con người trong xã hội hôm nay và những con người

chúng ta một cách tàn quá… Nếu muốn nói gì về xã hội, về con người, người

viết có toàn quyền trong việc hư cấu nhân vật. Nhưng khi đã mượn nhân vật

lịch sử như Quang Trung để chở ý định của mình thì việc hư cấu phải có giới

hạn” [39, tr.451-452]. Trong khi đó nhà văn Bùi Bình Thi cho rằng: “Tác giả

nhìn con người không đúng. Nhìn một cách u uất, lạng lùng đến tàn ác”.

“Viết về những con người trong đau khổ phải gợi được niềm hy vọng, sự

vươn lên. Truyện của Nguyễn Huy Thiệp thiếu những yếu tố ấy” [39, tr.454].

Nguyễn Huy Thiệp bị coi là kẻ đang chạy theo mốt dị dạng và xúc phạm

nghiêm trọng đến lịch sử và người đọc. Thậm chí tài năng văn chương của

Nguyễn Huy Thiệp ít nhiều được công nhận trong chùm truyện Những ngọn

gió Hua Tát và Tướng về hưu cũng bị nghi ngờ. Các ý kiến này cho rằng, điều

quan trọng là người viết truyện cần đạt đến yêu cầu tái tạo trong tiểu thuyết

một sự thật của chính sử, và nếu bước ra ngoài chính sử cần có bằng chứng

hoặc tập thể kiểm nhận.

33

Hầu hết những người phản đối sự hư cấu lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp

đều giữ quan điểm về kiểu tiểu thuyết truyền thống, không cho phép hư cấu một

cách tùy tiện, yêu cầu ở nhà văn phải tra cứu chuyên cần, am tường và chuyên

nghiệp hơn nữa mỗi khi va chạm với lịch sử.

2.Ở xu hướng ủng hộ cho rằng, Nguyễn Huy Thiệp đã cách tân trong kỹ

thuật viết truyện ngắn. Trong các ý kiến khen về Nguyễn Huy Thiệp, Lại

Nguyên Ân là một trong số những người đầu tiên bênh vực Nguyễn Huy

Thiệp. Phản bác lại ý kiến của Tạ Ngọc Liễn, ông viết “đọc văn phải khác với

đọc sử”. Ông đưa ra quan điểm của mình: “qua những Kiếm sắc, Vàng

lửa,…Tôi nghĩ anh có điểm nhấn riêng, theo kiểu văn học” [39, tr.186-187]

và nhấn mạnh “Thuốc đắng giả tật, sự thật mất lòng”, “sự thật mà nghe nói

ra thì người ta xấu hổ”, “chính những người can đảm cảm thấy bổn phận

mình là nói to lên”, “sự thật ấy giống với thuốc đắng” [39, tr.186]. Văn Tâm

cũng phản lại ý kiến của Tạ Ngọc Liễn “Nguyễn Huy Thiệp cần phải kiểm tra

lại vốn hiểu biết lịch sử” rằng “Nguyễn Huy Thiệp đã tốt nghiệp khoa Sử gần

hai mươi năm, dạy Sử hàng chục năm, lẽ nào thầy Thiệp chẳng thuộc lòng

mấy trang sử kí” [39, tr.292]. “Nguyễn Huy Thiệp không mắc tội bôi nhọ lịch

sử” [39, tr.295]. Và Văn Tâm khẳng định rằng “không thể đọc truyện ngắn

của Nguyễn Huy Thiệp bằng con mắt sử kí, giáo khoa như nhà nghiên cứu Tạ

Ngọc Liên đã làm” [39, tr.287]. Nguyễn Văn Bổng đánh giá rằng: “anh

không định qua các nhân vật ấy đánh giá lại lịch sử, đánh giá lại bản thân

các nhân vật. Anh chỉ mượn các nhân vật lịch sử để nói chuyện khác” [39,

tr.148]. Nguyễn Mai Xuân – Trương Hồng Quang nhận xét rằng: “Tạ Ngọc

Liễn không hề chỉ đơn giản là việc “đọc sai” văn bản văn xuôi nghệ thuật”

mà còn bộc lộ “tiếng nói trầm mặc, tự tin, không hề “thái quá” hay “bất

cập”; đằng sau những gì ông phát biểu người ta cảm giác có “một mặt trời

chân lí” đang khiêm nhường tỏa sáng – đó là tiếng nói với ý thức hiển nhiên

34

về tính phổ quát của nó, với tính chất độc thoại chỉ dung nạp một văn cảnh tư

tưởng đã nhất thể hóa, với cái nhu cầu quy tất cả về một mối, mà những gì đi

lệch ra khỏi đó, đều chỉ có thể là “sai lầm, lệch lạc” [39, tr.218-219]. Hoàng

Ngọc Hiến trong bài Tư duy tiểu thuyết và folklore hiện đại đã cho rằng cách

viết của Nguyễn Huy Thiệp là theo lối tư duy tiểu thuyết: “Trong truyện

Phẩm tiết, Nguyễn Huy Thiệp đã tiếp cận nhân vật từ quan điểm tiểu thuyết.

Ở con người Nguyễn Huệ, ngoài những nét hào hoa, lịch thiệp, tác giả còn

làm nổi bật một điểm yếu, đó là tính hiếu sắc, tính mê gái, âu cũng là một thói

“nam nhi thường tình”. “Không ai là anh hùng với người hầu cận của mình”

[39, tr.358]. “Dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, nhân cách của Nguyễn

Huệ được phát hiện ở khía cạnh bất ngờ với những phẩm giá nhân văn cao

quý” [39, tr. 359]. “Nguyễn Ánh là “một nhân vật lịch sử phản diện”. Nhấn

mạnh những nét bất nhân, bất nghĩa của Nguyễn Ánh, Nguyễn Huy Thiệp

không chối từ giả định nhân vật này là một “khối nguyên liệu vô giá”. Tác

giả đã tiếp cận Nguyễn Ánh từ quan điểm tiểu thuyết. Với cách nhìn sử thi,

bất cứ ai ở bên kia chiến tuyến lập tức bị chối từ bất cứ phẩm giá nào. Miêu

tả nhân vật gian hùng, nhà tiểu thuyết chỉ rõ cái gian nhưng không quên

phẩm chất hào hùng của nhân vật, bằng không nhân vật gian hùng chả thấy

hùng chỗ nào, không khác nào đứa ăn cắp vặt ngoài chợ. Người quen với tư

duy sử thi thường không quen với cách nhìn như vậy” [39, tr.360]. “Nhấn

mạnh nhược điểm của Nguyễn Huệ, làm nổi bật phẩm giá của Nguyễn Ánh,

Nguyễn Huy Thiệp không hề đánh đồng nhân cách của hai nhân vật. Nguyễn

Huệ có sự phản tỉnh và đời sống lương tâm, Nguyễn Ánh nói năng xử sự cứ

xưng xưng, rồi lại nhơn nhơn, không hề biết áy náy, hối hận. Nguyễn Huệ

“trọng tinh thần, bỉ thể xác” Nguyễn Ánh cho thế là dại” [39, tr.360]. Ngoài

ra ông còn nhận xét: “Trong truyện Phẩm tiết Ngô Thị Vinh Hoa là nhân vật

trung tâm, mở đầu, kết thúc và xuyên suốt truyện đều là Ngô Thị Vinh Hoa,

35

vua Quang Trung, vua Gia Long đều là phụ, mỗi nhân vật đế vương này chỉ

gắn với một “trường đoạn”. Trong truyện, Quang Trung, Gia Long đều là

vua, người nắm quyền lực cao nhất, cả hai nhân vật đều là hiện thân của

quyền lực. Vinh Hoa là một con người” [39, tr.362]. Nhà phê bình văn học

Hà Nội Nguyễn Thanh Sơn nhận xét: “Đọc các truyện ngắn của Nguyễn Huy

Thiệp cũng như một cuộc vật lộn với chính bản thân mình. Rất khó tìm thấy

nơi để tâm hồn có thể nghĩ ngơi. Nó quá kiệm lời, quá thâm trầm, và cũng

đúng một cách tàn nhẫn. Con người lần lượt bị tước dần mất những tấm màn

ảo tưởng mà chính họ dựng lên và thành tâm tin vào, những thứ vốn giúp họ

sống trong một thế giới buồn chán, không thể sống mà không có ảo tưởng”

[39, tr.118]. “Nhiều nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, méo mó, dị hình cả về

ngoại hình lẫn tâm hồn” [39, tr.120]. “Nguyễn Huy Thiệp có một giọng văn

rất lạnh lùng nhưng ẩn dấu phía sau nó lại là một lòng nhân ái sâu xa, trìu

mến đối với con người. Ông cảnh báo mọi người: “Bản tính người Việt là hay

trông ngóng, nhiều khi quên gốc ngay chính tim óc mình” (Chút thoáng Xuân

Hương) và luôn luôn muốn vun xới cho cái gốc ấy” [39, tr.126].

Các ý kiến khác của Lê Xuân Giang chứng mình rằng “thông qua việc

xây dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp lấy đề tài là nhân vật lịch

sử nhưng không hề bôi đen hay xuyên tạc lịch sử, chỉ mượn lịch sử để bộc lộ

thái độ đối với hiện tại” [39, tr.311], thông qua nhân vật để đối thoại với bạn

đọc. Diệp Minh Tuyền đưa ra nhận xét “anh đã mang đến cho văn xuôi Việt

Nam một cuộc cách tân” [39, tr.396]. Theo xu hướng này, một số ý kiến đề

xuất cần phân biệt một cách rõ ràng “đọc văn phải khác đọc sử”. Một điều dễ

nhận thấy là những người tâm đắc với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp tuy

chưa phân tích, làm rõ các khía cạnh cách tân trong kỹ thuật kể chuyện một

cách có hệ thống, song rất đề cao những cái mới trong nghệ thuật kể chuyện

của tác giả. Hơn nữa họ còn cho rằng, những chi tiết đó không chỉ là dấu hiệu

36

đổi mới trong kỹ thuật mà còn đổi mới trong tư duy. Nó báo hiệu một hoàn

cảnh dân trí đã phát triển: “muốn tôn trọng người đọc với một nhận thức rất

độc lập của họ thì nên để họ tự xác lập lấy các nhận định của họ. Đã thế thì

phải tìm tới những cơ cấu nghệ thuật kiểu khác, sao cho các ý kiến riêng, các

góc nhìn riêng khác hẳn thậm chí đối lập với cách nhìn hợp lí- được quyền

lên tiếng, thậm chí đến mức như chọc tức người đọc” [87].

Trước những sự thật, những xấu xa phơi bày trong tác phẩm của

Nguyễn Huy Thiệp, Đông La thẳng thắn đánh giá: “Nguyễn Huy Thiệp đã xé

toạc cái khách sáo của người ở chốn đông đúc ấy để viết về các lỗi tâm lý, cái

tâm lý thật, cái tôi của con người. Từ cái cao cả đến cái thấp hèn, từ phù du

ảo huyền đến thông tục. Đó là những ao ước khát khao, những toan tính mưu

mô, kể cả những ham muốn bản năng. Nhiều khi anh đẩy đến tận cùng khiến

người đọc phải e ngại” [39, tr.132]. Hoàng Ngọc Hiến đồng cảm với những

trăn trở của nhà văn khi phải đặt bút phơi bày, miêu tả tất cả những phần xấu

xa, phần khuất tối trong con người “nói về sự đốn mạt, hèn kém của con

người, câu văn Nguyễn Huy Thiệp thường man mác, cảm giác tê tái. Đằng

sau cảm giác này là nỗi đau nhân tình. Một nỗi đau âm thầm, lặng lẽ nhưng

sâu sắc... Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa trào phúng, vừa

xót xa” [39, tr.14].

Trong thể loại truyện ngắn lấy cảm hứng từ huyền thoại được công luận

tán thưởng hoàn toàn, Nguyễn Vy Khanh nhận xét “truyện và kịch của

Nguyễn Huy Thiệp huyền thoại mà rất “đời”và “tục”. Ông có tài làm cho

người đọc chìm trong thế giới hoang dã, bịa đặt, đồng thời gây thích thú, tâm

đắc” [39, tr.383].

Năm 2001, trong lời tựa cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (cuốn sách tập

hợp nhiều bài viết về Nguyễn Huy Thiệp), Phạm Xuân Nguyên khẳng định

“…một hướng kết tinh đầy ấn tượng của thời kì đổi mới văn học là sáng tác

37

của Nguyễn Huy Thiệp. Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp – đó là thành quả của

đổi mới” [39, tr.5]. Như vậy, trong sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã

đi đúng hướng với yêu cầu đổi mới con người trong văn học sau năm 1975.

Cùng với các bài viết được công bố rộng rãi trên sách báo mà những

người yêu mến Nguyễn Huy Thiệp biết tới còn một số lượng lớn các bài viết

được đăng lên mạng internet. Trong Quan niệm nhân sinh mang tính triết lí

trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (bienlang.blogtiengviet.net 14.12.2000)

đã đề cập đến quan niệm: cuộc sống, con người, vật chất tinh thần, tự do, nam

giới trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp. Bài viết Lịch sử trong truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại (yume.com),

đã đưa ra những dấu hiệu hậu hiện đại trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.

Trong Đọc lại “Sang sông (Evan ngày 21.01.2005) có đoạn “Mười một con

người, mười một gương mặt mờ nhạt. Theo tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực

truyền thống, đó là những nhân vật không đạt yêu cầu cả khái quát hóa lẫn cá

biệt hóa. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đâu có miêu tả nhân vật. Người trên đò là

một tập hợp đủ các thành phần nam phụ lão ấu, quân tử tiểu nhân, thiện và

ác…. Rõ ràng chuyến đò là sự mã hóa chúng sinh hữu tình trôi lăn theo bánh

xe sinh tử luân hồi…Nói tóm lại, đó là chúng sinh thời mở cửa, thời kinh tế

thị trường”. Trong khi nhiều độc giả khó tính chê Nguyễn Huy Thiệp rằng:

trong truyện ngắn này của ông đã đưa ra một hình mẫu nhân vật tên cướp phi

thực tế thì tác giả bài viết trên lại có cách lí giải khác: Nguyễn Huy Thiệp đã

“phá vỡ mô hình, ném vào thế gian những mảnh vụn của thế giới nhân sinh.

Người đọc mặc tình sắp xếp, lựa chọn, suy ngẫm. Tên cướp là một mảnh vụn

đó. Cho dù hắn là kè xấu, ta sẽ chẳng thể có căn cơ nào để đào thải hắn ra

khỏi thế giới loài người, cái thế giới mà Nho giáo đã dứt khoát khẳng định

“nhân chi sơ tính bản thiện”. Bài viết Ám ảnh hiện sinh trong sáng tác

Nguyễn Huy Thiệp (phongdiep.net ngày 20.06.2005) có đoạn: “con người là

38

một thực thể hiện sinh, nó tự biết mình là ai, đang ở đâu và cần sẽ làm gì. Nỗi

lo âu băn khoăn về tương lai con người và khao khát dấn thân trong hành

trình kiếm tìm bản thể”.

Sự thay đổi trong tư duy và sau đó được biểu hiện ở những cách tân trong

kỹ thuật viết, nói một cách khái quát là đặc trưng hư cấu trong truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp đã thay đổi. Có thể thấy rõ, trong các ý kiến phản đối, việc

đề cập đến các vấn đề hư cấu hay không hư cấu, mối quan hệ giữa tác phẩm và

người đọc, tác giả với tác phẩm đã gây nên sự “rắc rối” trong cách tiếp cận

truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. “Qua hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật, họ

(người đọc) muốn biết nhà văn nói gì, giải quyết vấn đề gì, những cái đó có

phản ánh đúng bản chất lịch sử không, có đem lại cho họ những xúc động sâu

xa không?”... [39, tr.171].

Như thế, vấn đề và là nguyên nhân sâu xa cho những bất đồng gay gắt

không thể dung hoà cùng những nhận định trái ngược nhau về các giá trị văn

chương trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có thể được xác định bắt đầu từ

cách nhìn khác nhau về hướng tiếp cận hiện thực của tư duy khoa học và tư duy

nghệ thuật. Với trường hợp truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là cách tiếp cận

hiện thực của nhà sử học và nhà văn.

Hiện thực phong phú phức tạp, với nhiều chiều kích, cung bậc khác

nhau. Có hiện thực có thể trông thấy và kiểm chứng được nhưng có phần hiện

thực chìm khuất, thậm chí không kiểm chứng được bằng tư duy khoa học.

Trước thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, tiếp cận hiện thực có hai cách.

Một cách theo tư duy khoa học, cách khác theo tư duy nghệ thuật, nhưng cái

chung đều tiếp cận hiện thực. Mỗi cách tiếp cận (tiếp cận của nhà khoa học và

tiếp cận của nhà nghệ sĩ khác nhau nhưng đều hướng về hiện thực). Hiểu như

thế, nhà văn và nhà khoa học đều có một vị thế riêng trong xã hội. Sáng tạo

của nhà văn không chỉ là bản tường trình về cái đẹp mà còn thỏa mãn nhu cầu

39

về “biết” của con người. Trước hiện thực lịch sử, nhà khoa học lịch sử đánh

giá nó như một sự kiện tất yếu. Nhà sử học dựa vào nguồn sử liệu, di tích,

hoặc dựa vào ký ức (của cá nhân, cộng đồng và nhân loại) để làm sáng tỏ lịch

sử - hiện thực, hướng tới một lời giải đáp, thuyết phục người đọc, buộc người

đọc chấp nhận lời giải đáp. Còn nhà văn lấy chất liệu đời sống phải “khả dĩ”

(có hàm ý). Nghĩa là nhà văn vừa mô tả, vừa đánh giá, gắn với sự cảm

nghiệm của nhà văn trước hiện thực, thể hiện quan niệm hiện thực về nhân

sinh của nhà văn. Do vậy, tác phẩm của nhà văn mở ra nhiều giả thuyết, hóa

giải trước những khắc nghiệt, đớn đau, cái phức tạp, cái mong manh, cái bấp

bênh, bất ngờ trong cuộc sống con người. Vì vậy nhà viết tiểu thuyết là người

“vẽ nên bản đồ” của cuộc nhân sinh. Nó tường trình một cách ấn tượng sự

phức tạp của đời sống, thể hiện khả năng thế này hay thế khác của nhân loại.

Đặt vấn đề để người đọc trao đổi.

Cách hiểu về vấn đề con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy

Thiệp từ hướng tiếp cận văn chương, phân biệt với hướng tiếp cận của nhà

khoa học lịch sử như trên là cơ sở lý luận để luận văn tìm hiểu quan niệm về

con người trong truyện ngắn của nhà văn.

40

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP LÀ “CON NGƯỜI KHÔNG TOÀN VẸN”

Trên hành trình cách tân mạnh mẽ của văn học dân tộc, nửa sau thập kỉ

tám mươi của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của một

hiện tượng văn học lạ, độc đáo và gây nhiều tranh cãi: hiện tượng Nguyễn

Huy Thiệp. Không đề ra một tôn chỉ, chưa tạo nên một trường phái hay một

trào lưu nhưng có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam hiện đại bởi một lối

viết, một giọng văn lạ, đó chính là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Người đọc

biết đến ông bởi rất nhiều sáng tác truyện ngắn với sự mở rộng đề tài từ hiện

thực khách quan cho đến địa hạt tâm linh cùng những trăn trở, uẩn khúc đang

diễn ra quyết liệt trong tâm hồn con người, đặc biệt là số phận của những con

người sống ở nơi chật hẹp, tù túng. Những diễn biến tâm linh rất khó nắm bắt,

những hiện tượng con người hiện đại không tự lý giải được đã khơi nguồn

cảm hứng cho nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Tôi thuộc thế hệ nhà

văn sau chiến tranh, sau 75. Trước đó, cá nhân thực tế không được quyền nói

đến trong văn học, chính trị bao trùm tất cả. Nhưng đến thế hệ tôi, vấn đề cá

nhân đã trổi dậy, tạo nên một giai đoạn mới. Điều quan tâm là vấn đề cá

nhân với những niềm vui và nỗi khổ của nó, những đam mê, hy vọng của nó.

Tôi cũng viết về những tình cảm hung bạo, sự hung bạo này có trong mọi

quan hệ nhân sinh” [39, tr. 497].

Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, ta có thể nhìn thấy nhân vật

gân guốc, góc cạnh lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao

thượng và thấp hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống

nội tâm vô cùng bí ẩn. Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn rất thật và sâu

sắc của nhà văn về con người.

41

Con người kế tiếp nhau qua các thế hệ gặp quá nhiều cái Ác, cái Xấu,

cái Giả nên càng khát khao một cái gì toàn Thiện, toàn Mỹ, toàn Chân. Vậy là

nỗi khát khao Chân – Thiện – Mỹ là cái có thật và càng khao khát Chân –

Thiện – Mỹ thì càng chứng tỏ rằng con người còn có mặt không hoàn thiện

của nó (chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo, ngu dốt, v.v…) đang đè nặng lên số

phận con người. Đấy là tấn bi kịch vĩ đại nhất của con người. Sáng tác của

Nguyễn Huy Thiệp chứa đựng những quan niệm nghệ thuật mới mẻ, bất ngờ

về con người. Con người theo quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp đầy những

mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống thường nhật. Có tấn kịch của bản thân,

có tấn kịch của gia đình, có tấn kịch của xã hội. Nhưng tựu trung nổi bật là

niềm khao khát của con người muốn vươn cao và thực tế mà con người phải

chịu đựng. Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp mang sức tải của một quan niệm

sống, quan niệm xử thế với người đời, dù đó là một ông vua, một anh hùng,

một thi nhân, một người bình thường hay một em bé…Những quan niệm khác

nhau va chạm, xung đột, bùng nổ. Quan niệm nghệ thuật ấy bộc lộ thông qua

các kiểu con người trong tác phẩm. Và các kiểu con người ấy trở thành kiểu

loại nhân vật xuyên suốt trong toàn sáng tác của ông. Đó là kiểu “con người

không toàn vẹn”.

2.1 Con người với tình yêu và hạnh phúc

Con người sinh ra trong cuộc đời, ai cũng luôn có khát vọng tình yêu,

hạnh phúc cho riêng bản thân mình. Văn học xem con người là đối tượng để

phản ánh, nên những vấn đề của con người cũng không nằm ngoài sự phản

ánh của văn học. Văn học sau năm 1975 đi sâu vào số phận của đời sống con

người cá nhân nên vấn đề khát vọng tình yêu, hạnh phúc cũng được các nhà

văn đặc biệt quan tâm. Trong những nhà văn đó có thể kể đến là Nguyễn Huy

Thiệp.

42

Ta thường nghĩ tình yêu mang đến cho con người cảm xúc, sự thăng

hoa và sống có tình người hơn. Nhưng dường như trong sáng tác của Nguyễn

Huy Thiệp chỉ có ít truyện thể hiện tình yêu đúng nghĩa, còn lại toàn bộ

những mối tình của con người hiện đại đều vô nghĩa. Ở đó, tình yêu bị biến

thành vô nghĩa bên cạnh thế lực của đồng tiền, người ta chỉ biết có tiền và

hình như không hề biết đến tình yêu.

Trong truyện Cún, mối tình giữa Cún và Diệu không phải là tình yêu.

Cún hàng đêm ngủ nhờ nơi hàng hiên nhà Diệu. Sống ở đó lâu ngày, gặp Diệu

vào những buổi sáng đi bán hàng, Cún đã nhớ thương, ngủ hay mơ đến cô.

Nhưng Diệu chỉ lợi dụng Cún vì tiền. Diệu chỉ coi Cún như một người giúp

mình trong buôn bán đắt hàng. Mỗi sáng trước khi đi chợ bán hàng, Diệu

thường thuê Cún làm người đón đường để mình mua may, bán đắt: “Này

thằng hình nhân mặt đẹp! Cho mày một hào, sáng mai mày ra đón cửa cho

tao….Hôm nào đi chợ gặp mày là người thiên hạ xô vào mua bán như tranh

như cướp”. Khi người chồng bội bạc bỏ cô, lấy hết tiền bạc đi theo nhân tình.

Trong lúc ngồi buồn bã, cô đã thấy lấp lánh trên tay Cún những khâu vàng.

“Cô Diệu bỗng giật mình. Cô thấy lạnh toát sống lưng. Chân tay cô run bần

bật... Một ý nghĩ bất chợt lóe trong óc cô”. Sau khi tìm cách khiểm tra đúng

là vàng thật, cô đã nói với Cún: “Mày hãy cho tao ba cái nhẫn này…. Mày

muốn gì tao cũng nghe mày”. Sau khi ăn nằm với nhau, cô đẩy Cún ra vỉa hè

và nói “Thế là chẳng có nợ nần gì nhé”. Và Cún trở về với cuộc sống của

một người ăn xin vốn có của mình.

Trong truyện Huyền thoại phố phường “mối tình” giữa Hạnh và hai mẹ

con bà Thiều cũng vì tiền. Hạnh là một công chức nhà nước nhưng luôn mơ

làm giàu, mơ trở thành triệu phú bằng sự may mắn của lộc trời. Bởi Hạnh

nghĩ: “Tài năng mà nghèo thì buồn ghê. Nếu đã tài năng thì phải thực giàu”.

Vì thế, khi đến chơi theo sự giới thiệu của em trai bà, Hạnh đã cố tìm cách lấy

43

lòng mẹ con bà Thiều. Dù đây là lần gặp đầu tiên, chưa thân thiết, nhưng

trước bao nhiêu người trong bữa tiệc, Hạnh sẵn sàng mò dưới ống cống có cả

phân người để tìm chiếc nhẫn bị mất của Thoa. Trở về nhà sau khi đi chùa

cùng mẹ con bà Thiều, Hạnh cứ nghĩ rằng tờ vé số mà Thoa giữ đã được khấn

vái, nên sẽ trúng giải. Vì thế, Hạnh đã quay trở lại hiếp cả bà Thiều để đổi lấy

tờ vé số.

Trong truyện Không có vua, Đoài muốn Khảm giới thiệu cô bạn học

cùng lớp cho mình vì nhà cô ấy giàu, là con ông chủ hiệu điện. Và Khảm

nhận lời làm mai mối cho anh cũng chỉ vì tiền, vì được chia phần trăm nếu vụ

mai mối thành công mà Đoài đã ghi cho mình trong tờ giấy giao kèo hẳn hoi.

“Ngủ được với Mỹ Trinh thưởng một cái đồng hồ trị giá ba nghìn. Lấy Mỹ

Trinh, thưởng 5% của hồi môn. Ngày…tháng …năm…Nguyễn Sĩ Đoài.”

Trong truyện Những bài học nông thôn có mẩu đối thoại giữa hai người

đàn bà, bà và mẹ của Lâm. “Bà Lâm bảo: "Ngày xưa có ông Hai Chép lái đò

ham đánh tam cúc ăn tiền, đầu tiên mất tiền, rồi mất ruộng, mất đến nhà, vợ

nó cũng bỏ đi nốt. Thế là đến đêm ra thuyền ngồi khóc. Giận đời, lại muốn

chuộc tội, ông Hai Chép lấy dao cắt phăng hai hòn dái của mình vứt xuống

sông. Vợ nó cũng chẳng quay lại”. Mẹ Lâm bảo: “Đàn bà thế là bạc”. Bà

Lâm bảo: “Bạc gì? Có hai hòn dái là của quý thì mất rồi còn đâu?” Chị Hiền

cười: "Gớm, chuyện của bà cứ rợn rợn là”. Không phải chỉ có Hiền mới thấy

“rợn rợn”. Cả người đọc cũng thấy “rợn rợn”. Mà “rợn rợn” không phải chỉ ở

chi tiết “ông Hai Chép lấy dao cắt phăng hai hòn dái của mình vứt xuống

sông”. Cảm giác “rợn rợn” còn xuất phát từ lời nhận định của bà nội của

Lâm, một người đàn bà tám mươi tuổi, con cháu đầy nhà: “Đàn ông nó chẳng

thương mình đâu. Rượu thì nó ngồi mâm trên. Ngủ thì nó đè lên mình”. Bà

không hề tin vào tình yêu.

44

Trong truyện ngắn Chuyện tình kể trong đêm mưa người ta tưởng là sẽ

bắt gặp một mối tình đẹp. Muôn và Bạc Kỳ Sinh yêu nhau tha thiết. Khi bị bắt

đi tù, Bạc Kỳ Sinh đã trốn về để thăm người yêu và Muôn đã tìm cách cho

anh thoát thân. Khi nghe Muôn hát bài ca tình yêu của hai người và nước mắt

lăn dài trên má, Bạc Kỳ Sinh có vẻ xúc động. Y đưa tay ôm lấy bả vai Muôn

kéo về phía mình. Những tưởng họ sẽ thành vợ chồng nhưng không. Cuối

cùng, Muôn đã bỏ cuộc, bỏ Bạc Kỳ Sinh, người nàng yêu tha thiết để lấy Lò

Văn Ngân, kẻ thù của người yêu cũ nhưng lại là người có tiền và có thế lực đủ

để bảo đảm cho nàng một cuộc sống êm ấm. Bạc Kỳ Sinh ra đi, trôi giạt đến

tận Hoa Kỳ, vẫn thường đau trong ngực khi nghĩ về Muôn. Đối với Sinh

“không ai mang nhiều hạnh phúc và nhiều đau khổ” cho anh như Muôn. Trên

tường nhà Bạc Kỳ Sinh có treo tấm ảnh của Muôn. Nước ảnh đã cũ, đã úa

vàng nhưng trông Muôn rất đẹp. Và hãy nghe Bạc Kỳ Sinh nói về tình yêu:

“Ông đã yêu bao giờ chưa? Tình yêu dạy cho ta bước đi của hổ, của báo, dạy

cho ta sức mạnh của mãnh thú. Nó dạy cho ta sự giảo quyệt của cáo, của rắn

độc. Nó khiến ta nhân đạo hơn, hoặc độc ác hơn. Những kẻ hèn hạ không có

tình yêu”, và: “Tin tôi đi: Đấy là một hung thần” - một tình yêu dữ dội, “tình

yêu to lớn... không trật tự nào dung được nó”, như Nguyễn Huy Thiệp viết.

Cho nên khi hát về tình yêu, Bạc Kỳ Sinh dù “không lấy hơi, không ráng

sức”, nhưng “khi nhấn lời hoặc ngâm nga thì dịu dàng không sao kể xiết:

ngậm ngùi, tê tái mà không mủi lòng, tâm trạng cô đơn lạnh buốt lẫn lộn với

những khát khao nồng nàn. Tiếng hát sóng sánh, đặc như những giọt mật

ong. Mỗi từ là một giọt mật”, làm cho nhân vật tôi “nghe hát mà nước mắt cứ

thế chảy ra dàn dụa, tự nhiên, không sao kìm lại được”.

Trong truyện Trương Chi, Trương Chi đã yêu Mị Nương “rỗng tếch

và tẻ nhạt” chỉ vì “tình yêu của chàng hướng về cái tuyệt đối”, còn nàng là

“cái bẫy của số phận chàng”, nên họ không đến được với nhau. Và thái độ

45

ngờ vực đối với tình yêu của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện rõ rệt nhất có lẽ là

trong truyện này. Ở cuối truyện, Trương Chi ra “đứng ở đầu mũi thuyền.

Chàng trật quần ra đái vọt xuống dòng sông. Phía xa kia là chân trời rực

hồng ráng đỏ. Nhà nàng ở phía ấy. Rồi chàng gào lên: “Cứt!” Một lần.

“Cứt!” Hai lần. “Cứt!” Ba lần. Cứ thế, Trương Chi, một mình trên chiếc

thuyền lênh đênh giữa sông, hết hát lại văng tục “Cứt”! Như thế, một câu

chuyện tình vốn được xem là đẹp và rất đỗi thơ mộng trong truyền thuyết Việt

Nam, dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, bỗng dưng đầy những cay đắng,

những phẫn uất, những tức tối. Nó không còn là tình yêu nữa. Nó là một sự

vỡ mộng về tình yêu.

Lò Văn Pành trong truyện Đất quên đã gặp tình yêu cuối đời mình

trong một cơn giông dữ dội kèm theo mưa như trút nước. Cô gái đẹp làm ông

lóa mắt trong cơn giông, ông già Pành trải qua thời khắc thực sự hạnh phúc:

“Cả cuộc đời từng trải của ông, ông chưa bao giờ có cảm giác ấy. Ông biết

đây là điều ông vẫn hằng khao khát mong tìm. Hơn cả tình yêu, hơn cả những

người phụ nữ ông đã từng gặp. Cảm giác này như là hạnh phúc”. Nhưng ông

đã chết bởi một cơn đau tim khi không vượt qua được thử thách – điều kiện

để được phép cưới cô gái mà ông yêu: chặt đỗ cây gỗ cứng và to nhất trong

vùng.

Có lẽ chính Nguyễn Huy Thiệp cũng không tin vào tình yêu. Trong

truyện của ông, hình như chỉ có hai mối tình đẹp. Đó là truyện Nạn dịch (trích

Những ngọn gió Hua Tát) và truyện Muối của rừng. Trong truyện Nạn dịch,

Lù chỉ vì thói ham mê cờ bạc đã không có mặt ở nhà lúc vợ qua đời vì bị dịch.

Khi trở về, Lù đã rất ân hận, đau đớn điên cuồng, phủ phục trước mộ vợ, kêu

gào thảm thiết: “Tôi sống sao bây giờ khi không có bà? Lấy ai chia sẽ niềm

vui, nỗi buồn?” Ông đau đớn, thấy thương vợ vô cùng. “Ông nhận ra mình

bạc bẽo, vô tình, thấy vợ cao thượng chịu đựng. Càng nghĩ, ông càng ân hận,

46

thương cảm”. Từ những miếng ăn, miếng vải đẹp người vợ cũng nhường nhịn

cho ông, cho con. Ngược lại, ông chưa làm được gì cho vợ. Lù đã tự tay đào

mộ vợ lên - một việc mà cả bản ngăn cản. Tay ông tóe máu mà không cảm

thấy đau. Ông lôi vợ ra khỏi quan tài, đem đến nhà thầy thuốc cầu xin họ

chữa cho Hếch. Nhưng cuối cùng, ông cũng bị chết vì bị lây bệnh dịch. Ngôi

mộ của Lù và vợ được người già trong bản gọi là mộ chung thủy.

Trong truyện Muối của rừng ta thấy được sự chung thủy của con khỉ

cái. Khi con khỉ đực bị ông Diểu bắn thương, “con khỉ cái tuồng như muốn

liều mạng, nó đến gần nâng con khỉ đực nhỏm lên”. Nó đã lẽo đẽo theo ông

suốt từ khi ông vác con khỉ đực xuống núi, làm cho ông cảm thấy bực mình,

nhưng với lòng kiên trì của con khỉ cái, ông nghĩ: “Thôi Diểu ơi…với đôi

chân thấp khớp thế này thì làm sao mày chạy nhanh bằng lòng tận tụy, thủy

chung của khỉ?” Khi ông quyết định phóng sinh cho con khỉ đực, dường như

chỉ chờ có thế, khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến chỗ con khỉ

nằm.

Và bên cạnh nó, có những mối tình thoáng qua, nhẹ như hơi thở, như

làn gió thoảng. Đó là mối tình ở bến Tầm xuân, của cô Hương, trên chuyến đò

sang sông, với một nhà thơ. “Sông nước sao mà đẹp thế. - Dòng sông êm ả

tuyệt vời”, một không khí thơ mộng - Đò cặp bến, nhà thơ lên bờ, bước lên

đê. Anh nghe thấy tiếng gọi vang trên mặt sông, từ rất xa, “Ơi...” Anh chụm

tay lại, hướng xuống dòng sông, nồng nhiệt trả lời: “Ơi... ơi”... Anh vừa thu

được vừa đánh mất buổi chiều rồi. “Có hề gì đâu? Thời gian thật là hào

phóng. Nhưng mà hãy vì sự hào phóng ấy ta phải sống cho nhanh lên, có ích”

cho đời. Truyện chỉ có thế, cấu trúc một bài thơ, như nhiều truyện ngắn hiện

đại trên thế giới.

Viết về tình yêu và hạnh phúc cá nhân là một đòi hỏi chính đáng trong

đời sống con người. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp miêu tả về tình yêu với sự đỗ

47

vỡ bởi vì con người theo ông đã bị tha hóa do nhiều nguyên nhân trong đó có

lối sống thực dụng, sùng bái vật chất và tâm lí vụ lợi vì đồng tiền.

2.2 Con người gắn với nhân phẩm Nguyễn Huy Thiệp nhìn thẳng vào sự thật, viết về cái hôm nay ngổn

ngang bề bộn, màu đỏ với màu đen đầy rẫy những biến động bất ngờ với rất

nhiều những con người bẩn thỉu, ti tiện, cái xấu, cái ác trong một mảnh đất

khô cằn ngột ngạt, tù đọng. Nói như một nhân vật trong truyện ngắn Chảy đi

sông ơi: “Con người ta tăm tối lắm. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm

trên đường”. Con người bị ném vào cuộc đời rồi bị biết bao tai biến, biết bao

“tha nhân” ràng buộc như không một lối thoát. Nhưng con người đã được

đánh thức bởi những bản năng để tự mở đường ra đi và dũng cảm nhận lấy

trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Ở những con người phàm tục ấy bị

tha hóa bởi bao nhiêu lực lượng xã hội xa lạ với mình và dường như không

tránh né được, vẫn le lói một tình thương. Họ thầm lặng đi tới cái tốt và cũng

là cái đẹp.

Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Nhà văn không thể cứu được mọi người,

nhưng có thể giúp họ giảm nhẹ được khổ, dù là ít ỏi”. “Thương người như

thể thương thân, Nguyễn Trải đã nói vậy. Không có tình thương nền tảng xã

hội sẽ tan biến” [39, tr.500]. Khi mà nhà văn thường xuyên suy tư về đời

sống, về sống chết, vinh nhục, ngay thẳng, đểu giả... thì trái tim nhà văn làm

sao có thể là một trái tim thờ ơ? Đúng là Nguyễn Huy Thiệp có lối viết về cái

ác nhưng không phải để hả hê, mà là xót xa. Tự trong thẳm sâu ông hy vọng

vì ông biết tuyệt vọng: “Đến bao giờ, hỏi đến bao giờ, mặt đất này xuất hiện

tiến bộ” (Vàng lửa). Cho nên, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không phải

chỉ có cái ác, cái xấu, cái ti tiện, sự vô nghĩa của cuộc đời, sự bê tha nhếch

nhác của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp, mảnh đời nhiều cay đắng

48

khốn cùng, bệ rạc vì tiền nong, vì mong muốn trục lợi. Bức tranh nhân thế

trong tác phẩm của ông không chỉ toàn màu đen. Nhà văn còn phát hiện ra

những nhân cách rất đẹp, những tâm hồn thánh thiện và sáng trong như suối

tự nguồn. Trong bức màn tối, ông nhìn thấy và chăm chút cho những mầm

thiện nhỏ bé, những đốm lửa kì diệu của thiên lương, những thứ ông tin rằng

sẽ có đủ sức mạnh cần thiết để đương đầu với bóng tối đang ngự trị trên thế

giới, cải tạo và làm trong sáng cuộc sống con người.

Vẻ đẹp của thiên lương con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy

Thiệp hầu như tập trung ở hai kiểu người: nhân vật thiểu năng và nhân vật

nữ. Người thiểu năng là người không bình thường, khuyết tật về thể chất hay

hạn chế về trí tuệ. Người đời xưa nay vẫn nhìn kiểu người này bằng cặp mắt

hoặc thương hại hoặc khinh khi. Nguyễn Huy Thiệp thì khác, đối với

bọn “dốt nát có học” hay “bọn Nho giả tập tọng văn chương” ông tỏ ra coi

thường nhưng lại dành cho những người không may này một sự cảm thông vô

hạn. Quan trọng hơn, ông nhìn thấy ở họ vẻ đẹp sáng ngời của nhân cách con

người.

Cô Lài trong truyện Tướng về hưu dù gàn dở, ngờ nghệch nhưng tình

cảm đối với mọi người, hành động trong cuộc sống lại hết sức trong sáng và

chân thực. Trong thế giới đầy những toan tính lạnh lùng và cô đơn của gia

đình ông tướng Thuấn chỉ có cô là người biết yêu thương người khác đúng

nghĩa vì cô không ranh khôn mà lại cả tin, lúc nào cũng siêng năng làm việc

và cười nói vui vẻ. Sau đám tang của bà cụ Thuần, “đến tối, cô Lài tắm giặt,

mặc quần áo mới ra hương án khóc: “Bà ơi, cháu xin lỗi bà, cháu không đưa

bà ra đồng…Hôm trước bà thèm canh cua, cháu ngại làm, bà chẳng được

ăn…Bây giờ đi chợ, cháu biết mua quà cho ai?”, “Cháu ở nhà thì bà có chết

không bà?” Điều đó đã làm cho Thuần thấy lòng đắng ngắt, ân hận vì mấy

chục năm nay chưa lần nào mua cho mẹ chiếc bánh hay là gói kẹo. Những

49

giọt nước mắt của cô Lài là những giọt nước mắt xót thương tận đáy lòng, nụ

cười, sự bẽn lẽn của cô là thật. Có lẽ vậy mà trong mắt những người trong

truyện, cô là người gàn dở, ngờ nghệch? Xây dựng con người như cô Lài,

Nguyễn Huy Thiệp muốn mở ra niềm tin mãnh liệt rằng cuộc đời dẫu còn

nhiều đắng cay, ngang trái nhưng không phải là không thể cải tạo được.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn để cho ông tướng Thuấn nói với cô Lài

như một lời dặn dò lúc quay lại đơn vị cũ “Con ơi con, con không hiểu rằng

cả tin là sức mạnh để sống hả con?”.

Trong thế giới Không có vua của gia đình lão Kiền, giữa lúc mọi giá trị

bị lật nhào, mọi tôn ti sụp đổ, người ta nhìn thấy ở bé Tốn – đứa trẻ thiểu

năng có một tâm hồn thánh thiện. Tốn “bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị

dạng”. Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn “chân tay

mặt mũi đen nhẻm nhe răng cười” rồi “lết đôi chân què đi lên nhà”, bị coi dị

dạng vô tích sự trong gia đình. Người ta quen với hành động cứ lặp đi lặp lại

từ ngày này sang ngày khác của Tốn là xách xô nước đi lau nhà. Nhưng phải

chăng ở nhân vật này lại tồn tại nguyên sơ tất cả bản năng thiện của loài

người khi loài người chưa được “văn minh hóa”. Tốn “không chịu được

bẩn”, “hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến”. Những

ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú. Nửa đêm, nếu

Sinh buột miệng “có ô mai thì thích” là sẽ có ngay ô mai”, làm cho Sinh an

ủi được phần nào trong gia đình đốn mạt đó. Lúc nào Tốn cũng lau sàn. Khi

bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu hu. Và khi bệnh tình

bố ngày càng nặng hơn, Tốn không lau nhà nữa mà “suốt ngày ngồi thu mình

trong cái buồng vẫn để than củi cạnh nhà xí”. Đặt Tốn cạnh hai ông anh cử

nhân Đoài và Khảm, ta thấy nổi bật lên nhân cách của Tốn. Và nữa, lão Kiền,

một người cha lúc nào cũng cau có, luôn gây chuyện và chửi con những lời

thậm tệ nhưng khi tắt thở, trên môi lão “thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền

50

lành, trung hậu”. Phải chăng, chỉ khi con người chết đi họ lại trở về với bản

tính ban đầu khi sinh ra.

Có thể nói rằng trong hiện thực sẫm màu của cuộc sống, Nguyễn Huy

Thiệp vẫn cố gắng tìm và chăm chút cho những mầm thiện nhỏ bé, những

đốm lửa kì diệu của thiên lương, những thứ ông tin rằng sẽ có đủ sức mạnh

cần thiết để đương đầu với bóng tối đang ngự trị trong cuộc sống, cải tạo và

làm cho cuộc sống trong sạch hơn. Con người thiên tính ấy vẫn luôn xuất hiện

trong hầu hết tác phẩm viết sau Tướng về hưu.

Dường như trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp dành tình

cảm đặc biệt cho những nhân vật nữ. Trừ nhân vật Thủy trong “Tướng về

hưu” còn lại phần lớn những nhân vật nữ khác đều nhân hậu và cao thượng.

Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến gọi đó “nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính

nữ” [39, tr.16]. Nguyên tắc tính nữ là tinh thần của cái đẹp, là tinh thần vị tha

và đức hy sinh. Nó phong phú và bao la như tâm hồn của người phụ nữ. Nó

tỏa một ánh sáng dịu dàng, huyền dịu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp.

Đó là nàng Bua, nàng Sinh, là chị Thắm, con gái Thủy Thần, là Xuân Hương,

là bé Thu, là chị Sinh và người thiếu phụ chèo đò ở bến Tầm Xuân.

Vẻ đẹp của những người phụ nữ này là những con người có tấm lòng

cao thượng. Đó là tấm lòng bao dung sẵn sàng mở ra thông cảm với mọi

người, kể cả kẻ ác. Chị Thắm trong Chảy đi sông ơi làm nghề chèo đò trên

sông là người phụ nữ ít học nhưng đôn hậu, dịu dàng, rất thấu hiểu ý nghĩa

của cuộc đời, có những hành động hết sức cao thượng. Khác hẳn với những

con người ngu muội, bất chấp với tục lệ ở làng chài “không cứu người chết

đuối”, chị đã giành lại sự sống cho những con người mà thuỷ thần muốn cướp

đi, cứu không biết bao nhiêu con người trên khúc sông. Lời nói và việc làm

của chị chứa chan tình yêu thương, xúc động lòng người. Chị cũng đã đưa

linh hồn nhân vật “tôi” thoát ra khỏi sự oán hận với người dân chài ngu muội.

51

Khi nghe chú bé trách bọn đánh cá đêm độc ác, ta nghĩ rằng chị sẽ đồng tình

với nhân vật tôi, thậm chí còn hơn thế, vì chị hiểu rõ con người sống trong

vùng sông nước nghèo khó này. Song người đọc thật bất ngờ trước câu trả lời

của chị: “Đừng trách họ thế…Có ai thương họ đâu...Họ đói và ngu muội

lắm”. Một câu nói giản dị nhưng hé lộ bao nhiêu điều nhân bản. Chị không

trách những người dân chài mà còn hết sức cảm thông với họ bởi chị hiểu: họ

là những con người thiếu tình thương, cái đói, cái ác nảy sinh trong lòng họ từ

cái nghèo, tăm tối. Đó là tấm lòng bao dung hào phóng với tất cả mọi người.

Mẹ Cả trong truyện Con gái thủy thần trở thành biểu tượng cho sự phù hộ bất

ngờ, hiện thân cho sự trong sáng vô tư đến cứu giải con người đang bị nước

đe dọa. Cũng như chị Thắm, Mẹ Cả không chỉ cứu vớt sinh mạng con người.

Mẹ Cả hóa phép thành con rái cá ra sức đào bới cứu hai cha con ông Hội bên

Đoài Hạ đang bị vùi lấp trong cát. Lần khác, Mẹ Cả ngồi trên mặt trống đánh

thùng thùng làm sấm tan, mưa tạnh, rồi ôm trống lặn xuống đáy sông, đã làm

nguôi cơn giận của thần sông với những người muốn mang chiếc trống thiêng

đi. Thế là Mẹ Cả cứu được những người ở Phòng Văn hoá huyện. Mẹ Cả còn

là sức mạnh nâng đỡ linh hồn con người, giúp nó khỏi sa ngã giữa chốn nhân

gian lầm bụi: “Tôi đã sống qua rất nhiều lẽ thường…ánh mắt vô hình vẫn dõi

theo tôi hoài. Nàng vẫn thủ thỉ trong đêm. Nàng nói: Này Chương, vẫn không

phải đường ra biển” (Con gái thủy thần). Nàng Bua trong truyện cùng tên

sống với chín đứa con và nàng không biết đích xác đứa nào là con của ai.

Những đứa con không có bố sinh ra tự nàng lo liệu lấy chúng. Điều đó làm

đám đàn ông trong bản rất hài lòng. Nhưng đám đàn bà không thích, thốt lên

những lời khinh rẻ qua cửa răng và gọi nàng là “đồ quỷ cái”. Thậm chí, họ

họp lại và còn đòi đuổi nàng ra khỏi bản. Nhưng trong một lần cùng các con

vào rừng đào củ mài, nàng được hủ vàng và trở nên giàu có. Lúc này các bà

vợ lại giục chồng đi nhận con. “Tuy nhiên, Bua không thừa nhận trong những

52

người đàn ông ấy là bố của những đứa trẻ. Họ đến và ai cũng được một món

quà tặng làm vui lòng các bà vợ nền nếp của mình”. Đó là thiên tính làm mẹ,

tình cảm hồn nhiên muốn đùm bọc, che chở, cứu giúp của bé Thu trong Tâm

hồn mẹ. Thu chỉ mới bảy tuổi nhưng luôn giải nguy cho người bạn học cùng

lớp – Đăng - như một người mẹ lo lắng cho con. Trong những hoàn cảnh khắc

nghiệt bao giờ bé Thu cũng tìm ra được cái gì cho người bạn mà mình che

chở. Thu đã cứu Đăng ra khỏi đoàn tàu đề rồi cuối cùng chịu tai nạn thảm

khốc. Hành động của Thu tuyệt nhiên theo bản năng không có sự toan tính mà

là do Thu có “tâm hồn mẹ”.

Nhân cách cao đẹp của con người có thể cứu rỗi thế giới. Đọc“Không

có vua” ai không ngán ngẩm cho cái bệ rạc, đen tối của gia đình lão Kiền.

Nhưng một phút nào đó, hãy lắng lòng lại để nghe Sinh nói cảm tưởng về

cảnh ngộ của gia đình nhà chồng: “Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa

chua xót nhưng thương lắm”, đã làm cho con người trở thành người hơn. Ba

chữ “nhưng thương lắm”thổi vào mảnh đất cằn cỗi nhà lão Kiền làn gió mát

rượi của sự yêu thương.

Trong truyện thứ hai và ba của Chút thoáng Xuân Hương, nhân vật

Xuân Hương là một người phụ nữ nhưng vì bà quá mạnh mẽ, sống có dũng

khí, luôn đứng cao hơn cõi đời trần tục, nên cả Tổng Cóc, cả ông Phủ, cả ấm

Huy, cả tri huyện Thặng đều nhìn bà với cái nhìn ngưỡng mộ, nể phục. Đối

với Tổng Cóc, “bà luôn thất bại trong cuộc đời” nhưng “vẫn thăng bằng”,

“vẫn không có cảm giác thua cuộc”. Cho nên Tổng Cóc luôn “ngờ ngợ bà to

lớn hơn ông, mạnh mẽ hơn, sống có dũng hơn”. “Vẻ đẹp nhân tính ở nhân vật

Xuân Hương là hiện thân của những gì quá cao lớn, tác giả không sao diễn

đạt được bèn gọi là CON NGƯỜI (hai chữ con người viết hoa)” [39, tr.17].

Ở truyện thứ ba của Chút thoáng Xuân Hương, người thanh niên trẻ

tuổi đi trên chiếc đò đã có cử chỉ sàm sỡ với một thiếu phụ chèo đò. Trước sự

53

phản ứng giận giữ của chị, anh ta đỏ mặt, lúng túng, “mắt nhìn vào đôi bàn

tay như thể nhận ra ở đấy một vật quái dị ở đâu gắn vào” và xin lỗi. Đến lúc

người thiếu phụ nói với anh: “Thôi đi….đàn ông các anh ai mà chẳng thế!

Anh giúp tôi mấy bao ngô rồi đòi trả ơn….Đàn ông các anh thế hết”. Thì anh

ta “thấy cổ mình đắng ngắt”, “một nỗi tê tái lan truyền cơ thể”. Đó là sự đỏ

mặt, đắng ngắt của nhân phẩm khi nhận biết hành động sai trái của chính

mình.

Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác không hề đơn giản bởi vì mầm

ác nằm ngay trong lòng mỗi người, “ma quỷ nằm ngay trong lòng ta” [39,

tr.124]. Người ta làm điều ác dễ dàng bởi điều ác chính là một phần cuộc

sống của họ. Vấn đề là họ có nhận ra mình đang làm điều ác hay không, bởi

vì như Biêlinski đã nói: “Người cao thượng không phải là người không bao

giờ đê tiện. Người cao thượng là người biết mình có những lúc đê tiện” [39,

tr.124]. Nhận thức được cái ác có nghĩa là chiến thắng được cái ác. Truyện

Muối của rừng, chính là bài ca trữ tình ca ngợi cho sức mạnh kì diệu của

thiên lương. Tâm trạng ông Diểu, từ khi nảy ra ý định vào rừng săn thú cho

tới khi cay đắng hiểu ra rằng “hóa ra ở đời trách nhiệm đè lên từng mỗi sinh

vật quả thật nặng nề” và “buồn tê tái đến tận đáy lòng” đã qua cả một quảng

đường dài trong sự thức tỉnh của lương tâm con người trước cái đẹp. Và khi

đó, ông đã gặp hoa tử huyền, biểu tượng của hạnh phúc của cái Thiện. “Loài

hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ

may mắn. Người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy

là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc”. Con người ra đi với

ý định hủy hoại cuộc sống, hủy hoại thiên nhiên, khi trở về như nhập vào lòng

thiên nhiên, vào lòng cuộc sống: “mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt.

Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi. Chỉ một lát sau, bóng ông

đã nhạt vào màn mưa”.

54

Con người biết kinh hoàng trước cái bất nhân thì trong tâm cũng đã có

lý tưởng nhân từ. Phát hoảng trước hiện tình là phản xạ tất yếu, miễn đừng rối

trí là được.“Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện đẩy lùi nó. Mỗi lần

nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng” [39, tr.409]. Có thể

nói, những tấm lòng cao thượng, những nhân cách cao đẹp trong truyện ngắn

của Nguyễn Huy Thiệp mở ra niềm tin mãnh liệt rằng cuộc đời dẫu còn nhiều

đắng cay ngang trái nhưng có thể cải tạo được. Những gì có thể giúp con

người vượt lên trên cái vô nghĩa của cuộc sống và sự trống rỗng của tâm hồn?

Đối với Nguyễn Huy Thiệp, con người không thể trở nên tốt hơn thánh thiện

hơn nếu họ thiếu quan tâm đến cái “xó tối tăm lương tri ngày đêm khản tiếng

khóc thầm” [39, tr.127] ấy. Viết về cái xấu xa, tàn ác một cách sắc sảo và

nhạy bén, Nguyễn Huy Thiệp chứng tỏ ông biết tin vào con người vì một khi

biết nhìn thẳng và kinh sợ cái ác, người ta sẽ biết vượt lên để giữ lấy thiên

lương. Chính những giây phút day dứt của tâm hồn, những dằn vặt của lương

tâm “tâm càng lớn càng nhục” (Tướng về hưu), “Khổ lắm. Nhục lắm. Vừa

đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm.” (Không có vua), đã làm cho con

người trở thành người hơn. Và con đường mà chúng ta đi trong tương lai chắc

chắn sẽ là con đường sáng. Khi đó có thể ngẩng cao đầu mà nói rằng: “Nghĩa

tình lại chuộc nghĩa tình. Vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống

giữa bùn, chẳng sợ không xứng là người” (Những người thợ xẻ).

Trong đoạn kết truyện Tội ác và trừng phạt nhà văn đưa ra một bài

tụng và nói rằng bài tụng đó là để sám hối cho chính bản thân mình và cho tất

cả bạn đọc. Vấn đề là ở chỗ trong truyện, nhà văn thấy ra nguyên nhân của

những tội ác rùng rợn nhất là do tâm hồn ngu muội của con người. Đời sống

tinh thần cùng với hoàn cảnh quẩn bách vật chất tạo ra tội ác. Vì thế, trước hết

cần phải đấu tranh với chúng, cải tạo đời sống mông muội về vật chất và tinh

thần, luôn đề cao ý thức hướng thiện, đấy chính là con đường, là Đạo.

55

Mỗi người có một số phận khác nhau do xã hội đặt trên vai họ những

trách nhiệm khác nhau, do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau trong đó có

luật nhân quả. Con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Bản

chất con người là lòng nhân từ. Con người có thể bị tha hóa nhưng ngay cả ở

những con người ấy vẫn tìm ẩn lòng nhân ái. Con người luôn vươn tới điều

thiện. Nhưng điều thiện lại hiếm hoi. Trong cuộc hành trình truy tìm điều

thiện, con người thường chịu nhiều đau đớn. Cả nhân cách và điều thiện chỉ

có giá trị khi con người biết vươn lên xây dựng một cuộc sống phồn vinh. Ở

đây, nhà văn muốn ngầm gởi đến người đọc sự mong mỏi con người hãy giữ

gìn bản tính tốt đẹp của mình, hãy giữ lấy nhân phẩm của mình và mọi người

xung quanh trước sức mạnh ghê gớm của đồng tiền và lối sống sùng bái vật

chất đang diễn ra trong xã hội.

2.3. Con người kiếm tìm

Nói cho cùng, mỗi người có suy nghĩ, đều có những hành trình, những

phiêu lưu, luôn luôn day dứt đi tìm... Tìm ai? Đi tìm bản thân mình. Có thể

nói, kiếm tìm là một hoạt động đặc thù của con người. Con người luôn kiếm

tìm những để thỏa mãn khát vọng, hoài bảo cuộc đời mình và để mình ngày

càng hoàn thiện hơn trong cuộc sống. Mỗi con người sống vào mỗi thời kì,

giai đoạn, tùy vào hoàn cảnh sống mà có sự kiếm tìm khác nhau. Có khi, đó là

tình yêu, hạnh phúc, có khi đó là danh vọng tiền bạc, nhưng tựu trung lại là

khát vọng tự do, thỏa mãn mong muốn của bản thân trong cuộc sống thực tại.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta thấy có rất nhiều nhân

vật kiếm tìm giống như vậy.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, những nhân vật kiếm tìm

khá phong phú, đa dạng cả về tuổi tác lẫn địa vị trong xã hội. Họ thường là

những “người ra đi”, ra đi trong cô đơn, tìm kiếm trong cô đơn và trở về trong

56

cô đơn. Họ không tại vị mà bất ổn, luôn di chuyển hướng ra trong một không

gian rộng lớn của thiên nhiên, của xã hội để tìm kiếm tìm tự do, dân chủ, đi

tìm cái đẹp, những khát khao cho riêng mình. Trong hành trình ra đi, họ luôn

mang trong mình một khao khát, một niềm tin. Niềm tin và khát khao đó có

thể mạnh mẽ, mãnh liệt tới mức, đôi khi họ bất chấp tất cả khó khăn gian khổ

để dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đó. Cuối hành trình tìm kiếm ấy cũng

có khi sự tìm kiếm của họ được đáp đền song cũng có khi là con số không vô

nghĩa.

Nhân vật Chương trong Con gái thủy thần cả cuộc đời rong ruổi trong

hành trình kiếm tìm của riêng mình, hành trình kiếm tìm huyền ảo Mẹ Cả

trong một đời thực khốn khó bắt đầu từ tuổi thơ u buồn và bộn bề công việc

cho đến lúc trưởng thành hăm hở và gian nan, khổ sở. Chương đi tìm Mẹ Cả

mải miết và vô vọng. Vô vọng nhưng mải miết dù cho có người nói với anh là

chuyện Mẹ Cả chỉ là chuyện bịa. Anh cũng đã từng lấy chiếc mai trong lều ra

chỗ nấm đất, nơi người ta chỉ cho anh là mộ của Mẹ Cả, đào lên theo kiểu

người ta vẫn đào khi bốc mộ, kết cục chỉ lôi lên được khúc gỗ mục chẳng

hình thù gì. Trên hành trình đi tìm Mẹ Cả, Chương đã gặp không biết bao

nhiêu chuyện xui rủi, bất trắc, thậm chí gặp cả chuyện bạc ác, đểu cáng, dối

trá, ngụy tạo, phàm tục. Có lúc anh “đói như một con hắc tinh tinh”,“đói như

một con lợn rừng”, “đói như một con vật ở địa ngục”,“ đói đã nửa năm

nay”. Nhắm mắt lại thì chỉ thấy “những khuôn mặt trông như thú vật, đầy dục

cảm, không đểu cáng, đối trá thì cũng nhăn nhúm, đau khổ”. Cũng có lúc

Chương gặp được người tốt, người ấy yêu thương Chương thật lòng. Nhưng

tiếc thay, người ấy không phải là người Chương cần tìm! Và rồi cũng giống

như bao người săn đuổi bao đều phù du khác, mãi mãi anh không bao giờ gặp

được người con gái thuỷ thần, dẫu anh đã đi được nửa cuộc đời. Nửa cuộc đời

đủ để cho người ta dừng lại cuộc đuổi theo ảo vọng nhưng Chương thì vẫn

57

mãi cứ đi, đi mãi. Anh đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi: “Con gái thuỷ

thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu

son phấn ra đi…Con gái thuỷ thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì?

Để tôi mượn màu son phấn ra đi”. Giả định rằng không có Mẹ Cả, không

Giana Đoàn Thị Phượng, anh cũng sẽ rời làng quê của mình, vì nếu không thì

cả đời anh vẫn chỉ quẫn quanh trong cuộc sống buồn tẻ ở làng quê với không

khí u uất tù đọng “sáng đi cày, chiều đào đá ong, tối lột giang đan mũ”, sẽ

kéo dài kiếp sống héo mòn của mình giống như thể bố anh, như ông Nhiêu,

ông Hai Thìn, như những người dân hiền lành, lam lũ cuống cuồng để kiếm

miếng ăn ở quê hương anh. Giữa lúc anh cô đơn, đói rét, như gió quất vào

mặt và lạc lõng giữa cuộc đời thường thì nỗi ám ảnh về Mẹ Cả lại thôi thúc

anh, khiến anh vượt lên trên cuộc sống vô vị, nhạt nhẽo.

Nhân vật “tôi” (Chảy đi sông ơi) trong cuộc kiếm tìm truyền thuyết

huyễn hoặc về con trâu đen ở khúc sông, do những người đánh cá ban đêm

quả quyết đã nhìn thấy đã phải trải qua nhiều khó khăn, vất vả. Từ chỗ “mặc

kệ sách vở và lời khuyên của mẹ”, vượt lên tột cùng của nỗi sợ hãi trong

những câu chuyện hoang đường, ghê rợn mà cánh dân chài hay kể khi nhân

vật “tôi” xin đi theo. “Đó là “một cái đầu lâu của người chết! Tóc xõa rũ

rượi vướng những sợi rong dài như giun đũa…Máu bết ở hai lỗ mũi nhơm

nhớp như nước dãi người”. Hễ cứ chập tối là bỏ nhà ra đi, “năn nỉ đến mức

“rả bọt mép” những người đánh cá mòi”, sẵn sàng giúp không công cho họ

để được đi theo những chiếc thuyền đánh cá đêm, để tự kiếm tìm sự thật.

Thậm chí có khi đối mặt với cái chết “nước sặc vào miệng khiến “tôi” ngạt

thở. Một nỗi hoảng hốt lạnh buốt lướt trong tim óc”. Song cái Chương nhận

được ở đây toàn là sự bịp bợm. Huyền thoại là sự bịp bợm trắng trợn, trong

khi ăn cướp, ngoại tình, cờ bạc, giả trá... lại là hiện thực. Niềm tin trẻ thơ bị

lừa phỉnh. Cuộc săn tìm chẳng mang lại điều gì, ngoài sự xót xa. Dòng hồi ức

58

của một cái tôi suy tư, chiêm nghiệm khiến bạn đọc cay đắng nhận ra cái trớ

trêu của cuộc đời. Cái đẹp thực ra không chỉ là thứ tồn tại trong huyền thoại.

Nó có thật trong cuộc đời này, và chỉ có ở lòng bao dung của con người, của

một số rất ít người. Chỉ có điều, nó luôn bị ngược đãi. Đẹp, là cái gì đó luôn

đồng hành với bơ vơ lạc loài, bất hạnh khổ đau. Dù không tìm thấy con trâu

đen huyền thoại, nhưng nhân vật “tôi” đã tìm thấy một trái tim đôn hậu, nhân

ái của một người phụ nữ bình dị làm nghề chèo đò trên bến sông quê, đã thắp

sáng trong tâm hồn những khát khao hướng về cái đẹp.

Cậu bé Đăng (Tâm hồn mẹ) dấn thân vào cuộc kiếm tìm, tìm kiếm một

tâm hồn mẹ để nương tựa tinh thần, để trốn chạy khỏi cảm giác “cô đơn, côi

cút”. Đăng luôn tin rằng con người ai cũng có một tâm hồn, tâm hồn ấy giống

như cây đàn, “có khi ngọn gió đến thì nó rung lên khe khẽ”. Mồ côi cha mẹ từ

tấm bé, Đăng sống với ông bà ngoại – những người chăm sóc, yêu thương

nhưng không hiểu được mong muốn của Đăng. Họ làm những điều cho Đăng

theo ý nghĩ của người lớn. Vì thế, Đăng luôn khát khao đi tìm tâm hồn mẹ.

Với trí óc ngây thơ và non nớt của mình, cậu bé hình dung ra tâm hồn mẹ: mẹ

sẽ tắm gội cho nó thật nhẹ nhàng, âu yếm, sẽ không bắt nó ăn những gì mà nó

không thích như ông bà ngoại…Chỉ có mẹ là người hiểu và yêu nó nhất trên

đời này. Cuối cùng nó đã tìm thấy “thiên chức người mẹ” ở Thu – người bạn

gái nhỏ cùng lớp với mình, nó đã được nghe thấy tiếng vọng từ tâm hồn mẹ.

Nhưng niềm vui của Đăng không được bao lâu, vì Thu rời cõi đời trong một

tai nạn.

Hiếu trong Bài học nông thôn đã về vùng quê của một người bạn cùng

lớp, để được tìm thấy những cảm xúc mới mẻ, một thế giới khác xa chốn thị

thành quen thuộc và nhàm chán. Những ngày sống ở đây, Hiếu đã ngộ ra bao

nhiêu điều đáng quý về cuộc đời, về bản thân. Đó là những điều thiết thực

biết bao với lứa tuổi đầy nhạy cảm và biến đổi của mình: “Tôi nhận ra thế

59

giới bao la, vô cùng vô tận, bản thân tôi, sự sống và cái chết đều là bé nhỏ và

không có nghĩa gì”. Hiếu đã úp mặt xuống bờ cỏ khóc khi nói chuyện với

thầy Triệu. Thầy giáo Triệu là một người sinh ra ở thành phố, bố mẹ là người

trí thức, nhưng khi về sống và dạy học ở nông thôn bao giờ cũng nói rằng:

“Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”. Thầy khuyên Hiếu đừng

khinh người nông thôn. Trong khi đó, bố Hiếu cũng là một thầy giáo nhưng

luôn dạy phải nhớ mình là người thành phố nên không muốn con về chơi ở

nông thôn. Hiếu trở về nhà theo yêu cầu của bố và lòng luôn tự hỏi tại sao bố

lại coi mình là người nhẹ dạ.

Anh diễn viên đóng vai Chiêu Hổ trong truyện thứ ba Chút thoáng

Xuân Hương vốn là người không ưa những vẻ đẹp khuôn sáo, phù phiếm.

Thất vọng trước những thước phim mà ở đó “người ta đắp điếm cho nhiều

nhân vật những tư tưởng cao siêu đáng ngờ”, anh tạm xa ánh đèn sân khấu

thành thị, quyết một chuyến đi thâm nhập thực tế, tìm về sống ở nông thôn để

tìm cảm xúc cho vai diễn sắp tới. Cuộc gặp gỡ với người thiếu phụ trên bến

Tầm Xuân đã giúp cho anh cảm nhận được vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng của

những con người bình dị, giúp anh nhận ra chân lí: “Cuộc sống thật buồn

nhưng nó giản dị và đẹp”. Giúp anh thắp lại niềm tin yêu cuộc đời để “sống

cho nhanh lên có ích” cho đời.

Ngọc trong Những người thợ xẻ là một sinh viên đại học chưa vượt qua

kì thi tốt nghiệp và từng thất bại trong tình yêu, không chịu nổi cảm giác thất

bại, đã từ giã gia đình, từ giã giảng đường đại học “theo chân một toán thợ xẻ

lên miền ngược kiếm ăn” để kiếm tìm một người có thể chia sẻ với anh mọi

điều trong cuộc sống. Nhưng cuối cùng trong hành trình đó, Ngọc vẫn chưa

tìm được điều mình mong muốn, trong lòng Ngọc ám ảnh một câu hỏi lớn:

“Một triệu người tôi gặp trong đời có ai là máu của tôi? Là thịt của tôi? Có

60

ai sẽ sống vì tôi và sẽ chết vì tôi?” Ngọc bị mất đi một ngón chân trong quá

trình cưa gỗ.

Chàng trai Khó (Trái tim hổ) quyết tâm tiêu diệt con hổ dữ, để lấy quả

tim của nó và chế từ đó ra vị thuốc để chữa lành bệnh cho Pua - người chàng

yêu. Cuộc giết hổ cũng không dễ dàng, bởi vì săn hổ vốn là việc khó khăn với

phường săn hổ thạo nghề, đằng này Khó tàn tật, dị dạng lại một mình đi săn.

Tuy nhiên, chàng giết được con hổ, nhưng chính chàng cũng bỏ mạng. Trái

tim con vật bị giết cũng không được dành cho người đẹp – một kẻ khốn nạn

nào đó đã đánh cắp nó và cô gái qua đời một năm sau đó.

Hạnh trong Huyền thoại phố phường khao khát một cuộc sống giàu có,

đã làm đủ điều đê tiện, bất nhân nhưng rốt cuộc phải vào nhà thương điên.

Ông Diểu trong Muối của rừng muốn có một con thú thật đẹp, xứng

đáng với ông thì bị tước hết vũ khí, bị lột trần truồng như một con thú.

Ông Chiểu trong Giọt máu luôn mơ ước con mình được học chữ nghĩa,

văn chương để biết nhân đức, lẽ phải, vậy mà con cháu suy đồi đốn mạt, suýt

nữa tiêu tan cả dòng họ. Để rồi, trước khi chết Phong đã nói: “Mình ơi, thằng

Tâm là giọt máu cuối cùng của dòng họ Phạm đấy. Chỉ mong giọt máu này đỏ

chứ không đen như cha ông nó”.

Nhân vật Sạ trong truyện cùng tên ở phần đầu mơ ước “để lại dấu ấn

nào đó đặc biệt”, “mơ làm nên sự tích phi thường” nhưng càng làm những

điều kì quặc, càng cố gắng tâng mình lên trong mắt những người cùng bản,

anh ta càng gặp được ít sự cảm thông. Họ coi anh là “kẻ điên rồ nhất ở bản”,

như “một con thú lạ sống giữa mọi người”, cản trở họ sống một cách bình

thường. “Người ta không gọi tên chàng. “Thằng Điên”… “Thằng Rồ”… “Kẻ

Khùng”… đấy là tên gọi của chàng”. Nhân vật Sạ không được cảm thông đã

bỏ ra đi sống ở vùng khác. “Năm ba mươi tuổi, nghe theo lời rủ rê của một gã

buôn muối ở dưới xuôi lên, Sạ bỏ Hua Tát ra đi với ý muốn lập nên sự tích

61

phi thường ở vùng đất khác”. Khi Sạ đi rồi “cuộc sống ở bản Hua Tát như

buồn tẻ hơn”. Thời gian trôi đi, càng có nhiều đồn đại khó tin về Sạ, về

những chiến công của anh và càng ngày anh trở nên đáng kể hơn trong mắt

dân bản. Rốt cuộc anh trở thành niềm tự hào của họ và vẫn tiếp tục là thế

ngay cả khi anh bị cuộc đời đánh gục, trở về làng, lấy vợ và lặng lẽ sống nốt

quãng đời còn lại của mình. Trước khi chết, Sạ nói: “Quãng đời bình thường

cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời mới thực chính là sự phi

thường mà ta lập được”. Như vậy sự cố gắng trở thành anh hùng của Sạ ở

thời trai trẻ là bình thường. Sạ chết, ý thức được rằng suốt đời mình đã chạy

theo những giá trị hư ảo. Ông đạt được cái mà ông phấn đấu ban đầu nhưng

lúc lâm chung ông hiểu rằng không phải là như thế.

Lò Văn Pành trong truyện Đất quên, dù đã ngoài tám mươi tuổi và có

một gia đình êm ấm nhưng lại muốn trở về nơi vùng đất đã từng sống thời trai

trẻ, để kiếm tìm hạnh phúc tình yêu. Ông gặp và yêu một cô gái trẻ, muốn

cưới cô về làm vợ. Nhưng cuối cùng, ông đã chết vì một cơn đau tim.

Kề về những con người đi tìm điều kỳ diệu như nhân vật Chương, nhân

vật “tôi”, Hiếu, Ngọc tác giả cho thấy khát vọng của con người tìm đến với tự

do, muốn thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ. Cuộc sống làng quê nuôi dưỡng tuổi

thơ biết bao người nhưng sự chật chội, tù túng, lạc hậu, đố kị, thù hằn, ganh

ghét, những định kiến hẹp hòi và đạo đức giả của làng quê đã làm thui chột

tâm hồn con người. Con người phải biết thích nghi và cải biến nó. Tác phẩm

còn là lời nhắc nhở, thức tỉnh những ai còn mơ mộng, tin tưởng vào những

điều huyễn hoặc hãy biết sống tỉnh áo hơn, lý trí hơn, đừng vì ảo vọng mà

đánh mất một thời tuổi trẻ. Bản chất của tình yêu, của nghệ thuật là luôn

hướng tới cái tuyệt đối, bởi vì chỉ có nó mới vượt cao hơn thời gian, cao hơn

cái chết. Và mặc dù “tất cả mọi sự thanh cao hoang tưởng vẫn chết trong cõi

dung tục tầm thường” (Chút thoáng Xuân Hương), nhưng các nhân vật của

62

ông vẫn luôn luôn tin vào điều kì diệu trong cuộc sống. Họ luôn luôn theo

đuổi cái điều không thể có trong cuộc sống.

Anfrei Arden, một trong những học trò xuất sắc của Freud, nói: “Tất cả

ý nghĩa của cuộc sống chúng ta là ở chỗ chúng ta luôn cảm thấy chúng ta

thiếu mất một cái gì và mong muốn làm tất cả để bù đắp cho sự thiếu thốn

đó” [39, tr.127]. Mỗi một người cảm thấy thiếu thốn một cái riêng, cũng như

họ có cách của riêng mình để thỏa mãn niềm khát khao đi tìm phần cái “tôi”

còn trống vắng của mình. Những con người trong truyện ngắn của Nguyễn

Huy Thiệp chỉ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trên con đường hướng tới tận cùng

tìm kiếm chân lí. Vì bản thân sự hướng tới chân lí, bộc lộ phẩm giá, nhiều khi

cả sự hy sinh, cống hiến cũng thật đáng trân trọng, đáng tôn vinh như chân lí.

Tóm lại, con người còn tồn tại thì còn khát khao chân lí. Trên đường

đời sẽ còn những điều giả dối, bịa đặt hoang đường, những tính toán lường

gạt…Những điều ấy là có thật, và cũng rất thật là những người tốt luôn luôn

tin ở những điều tốt trên cõi đời này. Và Nguyễn Huy Thiệp không thích vẻ

sạch sẽ giả tạo của người đời vì nó trái lẽ tự nhiên, ông muốn người đọc phải

đối diện với những gì vừa tàn nhẫn vừa phi lí, bởi vì như ông nói: “Lẽ đời là

thế” (Trương Chi). Ông muốn gạt bỏ tất cả lớp sơn hào nhoáng và không hào

nhoáng mà người ta không ngừng tô vẽ lên sự thật. Cuộc sống không cần bất

kì sự tô vẽ nào, nó đẹp vì chính nó là cuộc sống, vậy thôi! Điều ấy thật giản dị

và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa. Ông muốn gọi sự vật bằng đúng tên gọi

của nó, không màu mè, không đạo đức giả:

“Tôi biết một thứ ngôn ngữ giản dị như đất

Thứ ngôn ngữ mộc mạc, thẳng băng

Tựa như tiếng tù và

Như tiếng kèn đồng

Như tiếng chuông vọng

63

Có một thứ ngôn ngữ thức tỉnh con người

Buộc họ soi vào lòng mình

Như soi mặt xuống lòng hồ”.

(Mưa Nhã Nam)

2.4. Con người cô đơn

Người ta bảo: “Sự vĩ đại của con người nằm trong sự bình yên của tâm

hồn”, nhưng có lẽ, con đường đạt tới sự vĩ đại quá dài và quá khó khăn đối

với loài người, nên hầu như tất cả thời gian của cuộc sống của chúng ta trôi đi

trong sự dằn xé khôn nguôi của biết bao câu hỏi. Ta là ai? Ta sẽ đi về đâu?

“Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”….Biết khi nào chúng ta mới tìm thấy

được sự bình yên trong tân hồn. Sự bình yên trong tâm hồn giúp con người có

thể chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm bản thân. Nhưng không phải lúc

nào con người cũng hiểu được cuộc sống, hiểu được bản thân mình. Vì vậy,

con người luôn cảm thấy cô đơn trong cuộc sống, trong cuộc đời của chính

mình.

Từ nửa sau thế kỉ XX, sự phát triển rầm rộ của khoa học, kĩ thuật, sự

bùng nổ của các phương tiện thông tin truyền thông… đã làm đảo lộn hoàn

toàn bức tranh về thế giới. Thực tại trở nên hỗn loạn, trống rỗng. Cũng chính

lúc này, Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh và bị cuốn vào vòng xoáy của

thời đại. Mỗi người Việt cũng bước ra khỏi cuộc sống chung của cả dân tộc,

cả cộng đồng trong một thời kì lịch sử kháng chiến lâu dài để trở về với cuộc

sống đời thường của mỗi cá nhân, với bản thể của chính mình. Thế nhưng,

trước cơn bão của thời đại kinh tế thị trường, con người lâm vào tình trạng

“chấn thương hậu hiện đại”. Một trong những “chấn thương” ấy là cảm giác

cô đơn giữa cuộc đời thực tại.

64

Trước đây, cô đơn còn vẫn bị xem là chủ đề kiêng kị trong văn học.

Song trong những năm gần đây với tư duy nghệ thuật mới về con người, các

nhà văn đã quan tâm đến nhu cầu tự ý thức, đến sự thức tỉnh của cá nhân, đến

trạng thái tâm lý cô đơn của con người. Cô đơn trở thành vấn đề thu hút sự

chú ý của nhiều cây bút văn xuôi sau năm 1975, bởi bản chất của tâm trạng cô

đơn là khao khát cái đẹp, cái thiên lương của con người.

Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, cá nhân nhưng nó không hẳn là vấn

đề riêng tư, nhỏ bé. Có thể nói từng cuộc đời riêng tư, nhỏ bé của mỗi cá

nhân, gộp lại vấn đề chung của cộng đồng xã hội, một khía cạnh của chủ đạo

hôm nay. Trong không khí dân chủ hóa của nền văn học các nhà văn đã có

dịp đi sâu khám phá các phương diện và sắc thái khác nhau về trạng thái cô

đơn của con người. Thế giới nội tâm của mỗi cá nhân mang đầy yếu tố bất

ngờ và bí ẩn. Không chỉ khi tồn tại đơn thân, một mình, một bóng con người

mới cảm thấy cô đơn, mà con người mang tâm trạng cô đơn ngay chính ngôi

nhà của mình, trong gia đình mình khi không tìm thấy sự đồng cảm, một tiếng

nói chung….Ngay khi sống giữa cộng đồng, đồng loại, giữa đám đông con

người vẫn có cảm giác cô đơn.

Người cô đơn, lạc lõng xuất hiện trong văn học nhân loại trước

Nguyễn Huy Thiệp rất lâu. Trên thế giới, những thập niên 50, 60 thế kỉ XX,

kiểu người này trở nên phổ biến trong văn học phi lí Tây Âu với những kiệt

tác như : Người xa lạ, Huyền thoại Sisyphe của A.Camus, Hóa thân, Vụ án

của F. Kápka, Buồn nôn của J. Sartre, trong văn học Việt Nam sau năm 1975,

là hình tượng Giang Minh Sài trong tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu,

hình tượng Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hình tượng Hoàng

trong Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà và trong các truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp.

65

Con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không ngừng suy

tư về ý nghĩa của cuộc sống, của tình yêu, của cái chết…Ông không bao giờ

tìm ra lời giải đáp trọn vẹn cho những câu hỏi đó. Và nhà văn như treo trước

người đọc câu hỏi: Con người là ai? Anh ta đang sống trong tình trạng nào?

Có lẽ chính vì vậy nên những nhân vật trong các truyện ngắn của ông luôn

luôn cô đơn “như một hành tinh, như một ngọn gió”. Đó là nhân vật Chương

(Con gái thủy thần), Hiếu (Thương nhớ đồng quê), Ngọc (Những người thợ

xẻ), hoặc những “tôi” (Chảy đi sông ơi,…). Và phải nói là Nguyễn Huy Thiệp

đã gieo vào lòng người một niềm day dứt không nguôi về tình trạng cô đơn,

bé nhỏ cùng sự bơ vơ, thiếu vắng điểm tựa của con người. Họ luôn luôn day

dứt bởi câu hỏi: Liệu con người có hiểu được con người không, có tôn trọng

và yêu mến con người không…Tại sao những người tốt lại thường đau khổ,

bất hạnh? Đôi lúc, họ cũng muốn buông xuôi tất cả, phó mặc tất cả để mong

có một cuộc sống thanh thản, cái thanh thản nhẹ dạ của đời người, bởi vì “day

đi dứt lại mãi mà làm gì”. Nhưng họ không thể biến đổi con người mình, trái

tim mình, tâm hồn mình. Như một số phận, như một lời nguyền…Và những

con người ấy, như những sa mạc cô đơn, cứ suốt đời đi tìm “con gái thủy

thần” của cuộc đời mình. Con người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn

Huy Thiệp cũng đa dạng và phong phú: con người bình thường, con người

lịch sử, con người dị dạng, nhân vật anh hùng, vua chúa,…Họ cô đơn do lạc

thời, hoặc có mối bất hòa với xã hội, do quyền lực, do sự phi lí hay do sự

kiếm tìm điều khao khát, mong muốn cho bản thân,...

Con người bình thường cô đơn được thể hiện qua các truyện Tướng về

hưu, Bài học nông thôn, Sạ, Sống dễ lắm, Cún, Trái tim hổ, Nàng Sinh.

Tướng về hưu khai thác nhiều về kiểu người cô đơn để phản ánh một sự

thật rằng thời kì Đổi mới khi kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp mở ra,

lối sống thực dụng như một cơn gió tràn vào cuộc sống của con người. Con

66

người trở nên bơ vơ, vì không thể thích ứng được với nó. Ông tướng Thuấn

người cha đáng kính của gia đình, vị tướng đáng kính của xã hội nhưng phải

kêu lên “Sao tôi cứ như lạc loài”. Nhập ngũ từ khi còn trẻ, năm bảy mươi

tuổi “về hưu với hàm thiếu tướng”, cả cuộc đời ông “gắn với súng đạn, chiến

tranh”. Tên tuổi của ông được trong làng, trong họ ngưỡng vọng. Trở về gia

đình sau khi cống hiến gần hết cuộc đời cho đất nước, những tưởng ông sẽ

tìm được những năm tháng cuối đời bình yên trong căn biệt thự do chính

mình xây dựng trong lòng thủ đô cùng với gia đình sau bao năm xa cách.

Nhưng tất cả đã không diễn ra như vậy. Lối sống, nếp nghĩ của một người

lính quên mình vì đất nước, quen sống giản dị bằng lương và trợ cấp đã không

thể hòa hợp với hoàn cảnh xã hội mới. Ông lạ lẫm giữa cuộc sống ồn ã, mà vô

cảm đến lạnh lùng của con người. Người vợ hiền hậu, một đời hy sinh cho

chồng con của ông, nay đã lẫn, không còn đủ tỉnh táo để nhận biết ông đã trở

về mà bầu bạn cùng ông. Đứa con trai độc nhất bạc nhược, an phận đến mức

dường như không có khả năng chia sẽ, thấu hiểu. Đứa con dâu thì thực dụng

toan tính đến lạnh lùng. Những đứa cháu nội sống với ông bằng khoảng cách

của nhiều thế hệ và lại bận rộn bài vở. Những người ăn kẻ ở cục mịch, quê

mùa, cả tin, ngờ nghệch…Không ai có thể giúp ông thích nghi với những xô

bồ, phức tạp, nghiệt ngã đầy ắp sự cạnh tranh và toan tính. Cuộc sống đời

thường khác hoàn toàn so với môi trường quân đội, khác xa với lối sống

“quân bình” của ông, nếp quen sinh hoạt vừa được định hình ít lâu của con

người thành thị đã biến ông thành con người cô đơn. Ông luống cuống, khổ

sở trong một đám cưới ngoại ô lố lăng và dung tục. Ông đau xót đến quặn

lòng việc cô con dâu xay nhau thai làm thức ăn cho chó Béc-giê. “Khốn nạn!

Tao không cần sự giàu có này”. Ông nhận ra một sự thật cay đắng rằng:

“Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục… tâm càng lớn càng nhục”. Sự cô đơn,

của ông Thuần xuất phát từ sự mâu thuẫn của lý tưởng cao đẹp một thời và sự

67

thật trần trụi của một thời khác. Một người như ông, từng được đặt

trong “bầu không khí vô trùng” của thời trước chắc chắn không đủ sức đề

kháng để đối chọi với sự thật của thời này. Chính vì khối cô đơn khổng lồ

không ai có thể chia sẻ, và cũng không thể hòa mình vào cuộc sống hiện tại,

ông đã tìm đến cái chết trong môi trường quân ngũ – môi trường đã gắn với

cuộc đời, số phận ông. Không chỉ riêng ông tướng Thuấn, con trai ông – kĩ sư

Thuần – cũng không thoát khỏi cô đơn. Không chỉ vậy, anh còn nhận thấy cô

đơn là thực trạng phổ biến với tất thảy mọi người: “Tôi thấy cô đơn quá. Các

con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa”. Thủy, nhân vật tha

hóa trong tác phẩm cũng là một con người cô đơn. Bởi vì, chồng chị suốt

ngày vùi đầu vào nghiên cứu “công trình điện phân” của anh ta. Người phụ

nữ ấy thành đạt nhưng lại thiếu vắng tình cảm, thiếu vắng sự quan tâm của

người chồng. Sống trong gia đình mà sự lãng mạn trở thành xa xỉ đã khiến chị

ngã lòng trước một người đàn ông tặng chị những bài thơ. Để rồi khi tỉnh ra

chị đã phải khóc và ân hận, vì thấy có lỗi với chồng con. Ngoài ra giữa câu

hỏi của ông Bổng và câu trả lời của bà Thuần lúc lâm chung dường như

không có liên hệ với nhau nhưng lại mang ý nghĩa rất lớn. Ông cũng là một

người cô đơn nên chỉ được làm người dù không mặt mũi, không tên họ cũng

mãn nguyện rồi!

Hiếu và thầy giáo Triệu trong truyện Bài học nông thôn là những người

cô đơn. Hiếu cô đơn trở về nhà một mình khi mọi người trong nhà của Lâm

đều bận việc và dường như không ai chú ý đến. “Mọi người trong nhà đều

như bận việc, có vẻ như không một ai để ý đến tôi…Tôi rời thôn xóm ra đi.

Trời còn tối lắm. Cánh đồng mờ mịt hơi sương”. Hơn nữa Hiếu cô đơn ngay

chính trong gia đình mình vì bố mẹ không hiểu và coi anh là một người nhẹ

dạ, cả tin. Thầy giáo Triệu sống một mình ở vùng quê, không gia đình thân

thích, không vợ con. Khi chết chỉ có những người trong làng tổ chức làm đám

68

tang và đưa ma, vì “bố mẹ anh đã “từ” anh”, vì anh về sống ở nông thôn và

coi mình là nông dân. Cũng như bao người dân nào khác trong làng khi chết,

“người ta chôn anh ở bãi tha ma của làng. Trên mộ có mỗi vòng hoa trắng”.

Nhân vật Sạ trong truyện cùng tên cũng là một con người cô đơn.

Chàng sinh ra trong “một gia đình đông đúc có đến tám người con và gần ba

chục đứa cháu”. Nhưng “chàng như một con thú lạ sống giữa mọi người. Sạ

sống như thế bức rức đau khổ. Chàng ngờ vực trí tuệ của mình. Ở trong đám

hội, chàng vui đấy nhưng chỉ lúc sau chàng im lặng như hóa đá. Chàng ngồi

suốt ngày, suốt tháng chế tạo ra mọi thứ đồ chơi hay thứ vũ khí gì đấy, nhưng

khi làm xong chàng lại vứt đi. Không ai dám đặt lòng tin hay dám giao phó

việc gì cho con người đầy bất trắc đó. Nỗi cô đơn khủng khiếp giày xé tim

chàng”.

Ông giáo Chi trong truyện Sống dễ lắm là một người cô đơn do có cách

sống và phương thức làm việc quá khác biệt với mọi người. Ông làm việc mà

“không có tài liệu. Không có sách vở”. Không có chương trình trong quá

trình giảng dạy. “Mình trần, thân trụi”, không cần đến những thuyết giáo khô

khan, không bằng những vấn đề chuyên môn nghiệp vụ, ông chỉ truyền cho

lớp giáo viên trẻ ở vùng cao một lớp triết lí sống hồn hậu: “tất cả là do tự

nhiên điều chỉnh hết! Mình cứ sống thôi! Sống dễ lắm! Cứ nhìn vào mắt bọn

trẻ con mà sống”. Đồng nghiệp không ai có thể thấu hiểu và chấp nhận cung

cách làm việc của ông. Cuối cùng những ý tưởng và cách làm việc không

giống đồng nghiệp xung quanh khiến ông mất việc. Người đọc cảm thấy se

lòng khi chứng kiến ông giáo “ngậm ngùi xếp đồ đạc vào chiếc ba lô ngày

trước”. Vốn tâm huyết với nghề nên ông đã lên vùng cao để làm việc nhưng

giờ đây ông “thấy lòng mình tan nát, ông đành thôi việc về quê”. Và những

ngày tháng tiếp theo, ông sống trong cô đơn “chỉ loanh quanh vườn nhà” với

69

ước mơ siêu thoát. Ông ước mình “có thể bay lên trời được! Như những ngọn

gió” hoặc bay đến một nơi nào đó “không có một bóng người nào”.

Chàng Khó trong truyện Trái tim hổ cô đơn vì chàng mồ côi cha mẹ.

Chàng “sống như con don. Con don, con dim sống thui thủi, đi con đường

riêng, ăn uống thế nào không ai biết được. Khó chẳng bao giờ tham dự những

cuộc họp mặt, hội hè của bản”, phần vì chàng nghèo, phần vì chàng xấu trai.

“Chàng bị đậu mùa, mặt rỗ chằng chịt người. Khó dị dạng: hai tay dài chấm

đầu gối, đôi chân khẳng khiu, đi lúc nào cũng như chạy.”

Sinh trong truyện Nàng Sinh là một thiếu nữ mồ côi đáng thương.

“Ngày xưa mẹ nàng bị ma chài, đẻ nàng trong rừng. Nàng không bao giờ

được ăn miếng ngon, mặc váy đẹp”. Thân phận nàng là thân phận “côn

hươn” – một đẳng cấp thấp nhất trong bản. “Nàng sống thui thủi như con

chim cút”, nên khi trong bản có vấn đề gì quan trọng người ta cũng chẳng

buồn nhớ đến Sinh.

Có những nỗi cô đơn của con người xuất phát từ chính bản thân nhân

vật gây ra, do họ đơn độc trên đường đời. Trong “Quan âm chỉ lộ” nhân vật

“tôi” cô đơn vì “không có nhiều người thân, nhiều bạn bè. Tôi đã trót rào

quanh tôi bằng hàng rào danh tiếng đấy không phải là do ý thức của tôi chủ

định, rất nhiều thói đời xô đẩy khiến tôi lâm vào tình cảnh trớ trêu thế. Nhiều

khi tôi thấy cô đơn ngay chính ngôi nhà mình. Những bạn bè cũ ngại gặp tôi,

tôi cố gắng phá đi mặc cảm tự ti vì không thành đạt ở trong lòng họ mà không

phá được”. Nhưng đó lại là điều rất thực con người có thể bị đẩy vào nỗi cô

đơn do chính tiếng tăm của chính mình. Nhân vật khách trong truyện Thiên

văn cũng là một nghệ sĩ đơn độc trên chính con thuyền số phận. Người nghệ

sĩ phải qua sông “một mình trên đò giữa mưa bão” vì không người lái, không

mái chèo, nghĩa là không thể dựa vào ai. Người khách ấy phi thường hay khác

thường? Bản chất của vấn đề đó không quan trọng, song cái đáng nói ở đây là

70

chính điều đó đã khiến anh ta cô đơn trên những bước đường trôi dạt, phiêu

lãng của mình.

Ông Diểu trong Muối của rừng chuyến đi săn vào cuối mùa xuân. Ông

ra đi cũng chỉ một mình, trở về cũng chỉ một mình như thế giữa bạt ngàn hoa

tử huyền nhiều không kể xiết. “Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế

mà đi”.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn rất nhiều nhân vật cô

đơn vì họ không bằng lòng với chính mình, luôn khát khao vượt ra ngoài giới

hạn nhỏ bé để đến với chân trời rộng hơn, mải mê đi tìm điều thiện, đi tìm cái

cao đẹp của cuộc đời. Điều thiện ở đâu? Cái đẹp ở phương nào? Sao mong

manh xa vời vậy? Chương trong Con gái Thủy Thần suốt đời bị ám ảnh bởi

huyền thoại về Mẹ Cả - kiểu nhân vật thường cứu nhân độ thế như Đức Mẹ

trong Thiên Chúa giáo hay Phật Bà Quan Âm trong Phật giáo nên đã một

mình đơn thân độc mã trên hành trình tìm kiếm Mẹ Cả, tìm kiếm sự vẫy gọi

của những khát vọng của cái đẹp. Anh cứ mải miết đi tìm Mẹ Cả và chắc rằng

trong hành trình này anh vẫn mãi cô đơn “không có tiền bạc công danh,

không có gia đình để yêu thương lo nghĩ, không có bạn bè” chỉ có “nỗi cô

đơn và sự bất lực nào ai thấy được ngoài mi”. Anh mãi đi để rồi cuối cùng

mãi mãi bơ vơ, lạc lõng: “Trước mắt tôi dòng sông đang thao thiết chảy.

Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết biển mà tôi đã sống nửa

cuộc đời rồi đấy… Tôi đứng lên đi về nhà. Ngày mai tôi đi ra biển. Ngoài

biển không có thủy thần” (Con gái thủy thần).

Nhân vật “tôi” trong Chảy đi sông ơi có tâm trạng cô đơn và như thế

sau bao nhiêu năm anh rời xa quê hương, lãng quên đi những khát khao, mơ

ước tuổi thơ. Trước bến đò xưa, trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của hồi ức xưa,

anh không khỏi thảng thốt, bàng hoàng: “Tôi muốn gào lên chua xót. Tôi

bỗng thấy cuộc sống hiện giờ của tôi vô nghĩa xiết bao. Con trâu đen, con

71

trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi”. Và chị Thắm cũng là một

người cô đơn. Chị sống cô đơn một mình trên con thuyền, bao nhiêu năm

chẳng có ai hỏi thăm. Chị đưa khách qua sông và cứu rất nhiều người chết

đuối, nhưng cuối cùng chị bị chết đuối mà không ai cứu, “làm cho nhân vật

tôi òa lên khóc nức nở. Xung quanh sông nước nhòa đi”.

Nguyễn Huy Thiệp không chỉ miêu tả sự lạc lõng, cô đơn của con

người hiện tại còn trở về với quá khứ tìm về với nỗi cô đơn của con ngườii

trong huyền thoại, sử sách hay trong thế giới của những câu chuyện cổ tích.

Nguyễn Ánh trong Kiếm sắc là một vị vua quyền lực nhưng vẫn rất cô đơn.

Không những vậy, ông còn là một “khối cô đơn khổng lồ”. Chính sứ mệnh

của một đế vương đã buộc ông vào danh dự, nghĩa vụ, bổn phận, “chỉ được

quyền cao cả, không được quyền đê tiện”. Những ràng buộc này khiến ông

không thể sống đúng là mình, là chính mình và sống như bản thân mình mong

muốn. Đó là nỗi cô đơn của bậc đế vương.

Đề Thám vốn được mệnh danh là “Hùm thiên Yên Thế”, trong sử sách,

nhưng trong truyện Mưa Nhã Nam của Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh “một

người anh hùng”, Đề Thám còn là “một người nhu nhược”, người cô đơn.

Trong truyện, ông đã sụt sùi khóc. Không thể khóc trước người thân, ông

khóc trong cái mênh mông hư ảo của núi rừng, khóc cho mình, khóc cho cái

hữu hạn của kiếp người – một hành động tưởng chừng như trái ngược với bản

lĩnh của người anh hùng. Và chính khi ấy, Đề Thám thấm thía nỗi cô đơn, ý

thức được sự bất mình lực của bản thân mình, vì chính ông hiểu mình là

“người nhu nhược nhất đời, một người suốt đời thỏa hiệp, không bao giờ dám

bước qua lằn ranh bổn phận, nghĩa vụ, cương tỏa”. Và sau khi nhận ra điều

đó, ông đã đánh đồn quân Pháp, chấm dứt thời kì hòa hoãn.

Xuân Hương, tri phủ Vĩnh Tường trong cái nhìn của Nguyễn Huy

Thiệp cũng là những con người cô đơn. Trong hai phần đầu của truyện Chút

72

thoáng Xuân Hương, Xuân Hương hoàn toàn vắng bóng với tư cách là hình

tượng nhân vật, Xuân Hương lặng lẽ trong gia đình nhà Tổng Cóc. Bà chỉ

xuất hiện trong suy nghĩ so sánh của Tổng Cóc từ một đối cú khá xa trong văn

bản: “Trong cuộc đời mình ông vất vả nhiều…đã toan tính từng nước cờ đời

nhưng trong lòng vẫn cứ tái tê cảm giác thau cuộc thế nào”. Và “Ông chịu

Xuân Hương ở chỗ bà luôn thất bại trong cuộc đời mà vẫn thăng bằng, mà

vẫn không có cảm giác thua cuộc. Ông ngờ ngợ bà to lớn hơn ông, mạnh mẽ

hơn, sống có dũng hơn”. Phải chăng vì bà quá mạnh mẽ, sống có dũng khí,

luôn đứng cao hơn cõi đời trần tục, nên cả Tổng Cóc, cả ông phủ, cả ấm Huy,

cả tri huyện Thặng đều nhìn bà với cái nhìn ngưỡng mộ, nể phục. Ấm Huy

trọng Xuân Hương vì “bà sáng suốt hơn chồng. Bà gieo ở lòng chàng một

mối kính phục và sợ hãi” và chàng “cũng là nhỏ bé với bà”. Tri huyện Thặng

“khét tiếng đục khoét dân lành” cũng phải thốt ra: “Chị vốn là người công

bằng” và còn phải “nể” trọng bà. Và điều đó, họ đã vô tình làm rộng thêm,

sâu thêm nỗi cô đơn vốn thường trực trong lòng bà. Khi ông tri phủ Vĩnh

Tường qua đời chỉ còn lại một mình trong cuộc đời rộng lớn, ít ai thấu hiểu bà

giờ đây đang lặn sâu vào tột cùng bởi niềm riêng, bà “mặc áo xô gai đang

nức nở khóc, đang khóc nức nở cho nỗi mênh mông của cõi đời”. Phải chăng,

nhà văn muốn gợi đến sự cô đơn khủng khiếp trong của người nghệ sĩ, ở đây

là Xuân Hương. Tổng Cóc thành đạt ở đời nhưng luôn cảm thấy thất

bại…Huyện Thặng không dùng điều nhân nghĩa để giáo huấn mà dân không

loạn, phải theo, ngược lại, tri phủ Vĩnh Tường dùng điều nhân nghĩa giáo hóa

mà khi chết không một người thân đến viếng khóc.

Nguyễn Trãi một nhà tài năng quân sự, chính trị lỗi lạc, giúp Lê Lợi

đánh quân Minh, xây dựng cơ nghiệp nhà Lê. Nhưng trong truyện Nguyễn Thị

Lộ, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng ông là một con người cô đơn, mặc cảm lạc

loài, lạc thời. Ông cô đơn giữa triều đình với chính đồng loại mình. Nguyễn

73

Trãi từ nhỏ đã nhận thấy mình “như khoai giữa ngô, như lạc giữa vừng”, khác

biệt rất lớn đối với mọi người. Đến lúc trưởng thành ông vẫn tiếp tục sống âm

thầm, “gần như không có bạn, không có tri âm tri kỉ. Dưới một bề ngoài bình

thản rụt rè, Nguyễn Trãi dấu mình trong vỏ ốc” (Nguyễn Thị Lộ), chỉ có Thị

Lộ là người thấu hiểu được tâm tư, tình cảm, có thể sẻ chia bầu bạn được với

ông. “Nguyễn Thị Lộ biết rõ giá trị con người Nguyễn (Trãi). Nàng thông

cảm với nỗi giày xé trong tâm hồn ông. Nàng biết ông đang chạy té lên phía

trước trong hệ thống tư tưởng đương thời. Vừa hung hãn, vừa tuyệt vọng”.Và

khi len lỏi ngõ nghách tâm tư của Nguyễn Trãi bà thấy được “ông cô đơn

giữa đời người như một hành tinh, một ngọn gió”.

Ngọc (Những người thợ xẻ) dù sống cùng một toán thợ xẻ, trong đó có

cả anh em họ nhưng luôn cô đơn vì: “chỉ có một mình anh, còn lại là chúng

nó”.

Tú Xương trong Thương cả cho đời bạc cũng là một người cô đơn. Thơ

ông mọi người đều biết, nhưng con người ông phải ai cũng thấu hiểu. Bề

ngoài, ông thường cời cợt nhưng đó là cách ông che dấu con người thật của

mình. Tú Xương với phản ứng duy nhất trước những chuyện thời thế bằng

câu cửa miệng “đa tạ cụ” rồi “thõng tay vào chợ”. Sâu thẳm trong con người

ông là một nỗi cô đơn đến tái tê gan ruột bởi dường như ông cũng ý thức

được rằng mình đã trở thành người xa lạ giữa cuộc đời này. Ông là kẻ “thức”

duy nhất trong thiên hạ, tất cả đều say ngủ: “Thiên hạ dễ thường đang ngủ cả.

Tội gì mà thức một mình ta”. Tú Xương mãi khắc khoải mong chờ một tiếng

vọng tri âm. Đó là điều Nguyễn Huy Thiệp nhận thấy rõ.

Ngoài ra, còn có nhà văn họ Vũ thu mình trong đám đông ồn ào; Trang

Sinh, Hồ Lang, Điệp Lang... đều mang lấy những đau đớn của kẻ lạc thời.

Những vĩ nhân cô đơn, những anh hùng cô đơn và những con người

bình thường cũng có thể cô đơn. Song không chỉ vậy, trong truyện ngắn của

74

Nguyễn Huy Thiệp, người đọc có thể bắt gặp con người cô đơn vì chính hình

hài dị dạng của mình. Nhân vật Cún phải gánh chịu nỗi cô đơn đến cùng cực.

Không chỉ bị ruồng rẫy, bị vứt bỏ ở cống nước từ khi mới chào đời mà còn có

một hình hài dị dạng nên Cún lớn lên trong sự ghẻ lạnh của người đời. Cún

“sống như con giun, con dế, con ong” và trở thành công cụ kiếm tiền của một

ông lão ăn xin. Mọi người cho tiền không phải vì thương hại mà vì muốn

tránh đi ánh mắt của Cún. Khi ông lão ăn xin chết, Cún bơ vơ giữa đời không

người thân thích (Cún).

Viết về những con người cô đơn phải chăng Nguyễn Huy Thiệp muốn

con người xích lại gần nhau, vượt qua mọi thù hằn ngăn cách để được sống

thực sự có ý nghĩa. Sự cô đơn của con người có thể xuất phát từ nhiều nguyên

nhân khác nhau và đó chính là trạng thái tâm hồn của con người.

2.5. Sự phong phú phức tạp bên trong con người bình thường

Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp không xây dựng con

người theo lối phân tuyến địch - ta, đen - trắng, xấu - tốt... mà đặt con người

trong nhiều quan hệ khác nhau, dựng lên một cõi người đa dạng, có người tốt

kẻ xấu, có người cao thượng kẻ đê hèn. Lại có kẻ suốt đời mang trong mình

nỗi cô độc khủng khiếp. Tuy nhiên bản thân mỗi con người không hề đơn

giản một chiều mà sâu kín, rối rắm, nhiều chiều kích. MiLan Kundra

nói: “Con người là hiển minh của lưỡng lự”. Bên trong mỗi bản thể nhỏ nhoi

ấy bao giờ cũng tồn tại hai mặt đối lập: đẹp - xấu, thiện – ác, cao cả - thấp

hèn, trong sáng – tăm tối, hạnh phúc – khổ đau… Con người có lúc là thần

thánh, song cũng có lúc là quỷ dữ. Ai dám bảo một người lương thiện không

có lúc suy nghĩ đê tiện? Ai dám bảo một người độc ác lại không có lúc lấp

lánh trong tâm hồn ánh sáng của thiên lương. Lev Tolxtoi đã nói: “Một trong

những sai lầm vĩ đại nhất khi xét đoán về con người là chúng ta hay gọi và

75

xác định người này thông minh, người kia ngu xuẩn, người này tốt người kia

ác, người thì mạnh mẽ, người thì yếu đuối, trong khi con người là tất cả: tất

cả các khả năng đó, là cá gì luôn luôn biến đổi” [68, tr.62]. Cho nên không

nên chỉ đơn giản phân loại con người theo hai khu vực rạch ròi: tốt và xấu.

Kiểu nhân vật đan xen giữa trắng và đen, thật và giả ấy văn học gọi là nhân

vật lưỡng diện.

Nguyễn Huy Thiệp cũng như bao nhà văn khác trong thời kì Đổi mới

văn học, đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm của con người, xây dựng con

người lưỡng diện. Ông len lỏi vào những nẻo sâu kín nhất trong nội tâm nhân

vật, nhìn thấy những biểu hiện dù nhỏ nhất lóe lên trong tâm hồn họ. Cho nên

kiểu nhân vật lưỡng diện tồn tại hầu hết trong sáng tác của Nguyễn Huy

Thiệp.

Trong truyện Tướng về hưu ông Bổng là một con người lỗ mãng, táo

tợn, làm mọi điều phi nhân bất nghĩa – gây sự với con trai, đuổi con dâu ra

khỏi nhà khi đang mang thai, tưởng như không thể cải tạo được vậy mà cũng

có lúc biết nhục, bật khóc vì được chị dâu – một người lẫn, sắp chết không

gọi được tên ông, chỉ nói được ông là người: “Thế là chị thương em nhất. Cả

làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là

đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người”. Ông vụ lợi một cách khinh bạc,

trắng trợn, tán tận lương tâm. Trong đám tang chị dâu, ông lạng lùng: “Mất

mẹ bộ xa- lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ! Bao giờ bốc mộ

cho chú bộ ván”. Khi ngồi đánh tam cúc ăn tiền với các đô tùy bị thua thì ông

Bổng lại chạy vào vái quan tài: “Lạy chị, chị phù hụ cho em để em vét nhẵn

túi chúng nó”. Trong lúc đưa tang chị dâu, ông Bổng vẫn có thể đùa: “Bao

giờ tôi chết, đô tùy của tôi toàn dân cờ bạc, cỗ không thịt lợn mà thịt chó” và

hối các đô tùy đi nhanh để về còn nhắm. Nhưng cũng có lúc ông rung động

trước thiên nhiên đẹp: “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu

76

vì sao phải yêu đất nước”. Nhân vật hấp dẫn nhất trong truyện là Thủy. Thủy

là con người của cuộc sống hôm nay. Mạnh mẽ, thực dụng, tỉnh táo, đầy lí trí,

sòng phẳng, nhiều khi thực tế đến tàn nhẫn nhưng đồng thời có lúc cũng biết

điều.Thủy là một bác sĩ phụ sản, lẽ ra rất quý con người. Nhưng công việc

chính của Thủy tại bệnh viện là nạo phá thai. “Hằng ngày các rau thai nhi bỏ

đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn” ăn để

kiếm thêm nguồn thu riêng cho gia đình. Khi bị bố chồng phát hiện, Thủy đã

không cảm thấy ghê rợn cho việc làm của mình mà còn thản nhiên bảo ông

Cơ: “Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết”. Mọi công việc chi tiêu

trong nhà, Thủy tính toán rất rành rẽ: “Năm nay nhà mình hụt thu hai bảy

nghìn, lạm chi hai mươi tám nghìn, cộng là bốn mươi lăm nghìn”. Để mẹ

chồng sống và ăn riêng vì bà đã lẫn. Cô dửng dưng trước sự đau khổ của

chồng vì mẹ sắp mất. Trong lúc chồng tìm cách đổ sâm để kéo dài sự sống

cho mẹ, Thủy vẫn có thể lạnh lùng bảo: “Mẹ già rồi”, “đừng đổ sâm”, ngăn

việc cấp cứu, lẳng lặng đi mua vải để may áo tang, kêu thợ mộc về đóng hòm.

Trong đám tang mọi người đau buồn nhưng Thủy lại rất tỉnh táo đối phó

trước sự bon chen, lèo lái của ông Bổng: “Em nghe hết rồi, em tính ba chục

mâm, tám trăm đồng một mâm, ba tám hai mươi tư. Hai nghìn tư, phụ phí sáu

nghìn. Việc mua bán em lo. Cỗ giao cô Lài. Đừng nghe ông Bổng, lão ấy đểu

lắm”. Cô Lài khóc thương cho bà chủ vừa qua đời, Thủy bảo “đừng khóc”,

còn tự hào khoe với chồng: “Ba mươi mâm anh phục em tính sát không?”

Nhưng có lúc, cô tỏ ra hào phóng với mọi người, hầm cho mỗi người con gà

tâm sen trong ngày đầu năm mới, cho thêm tiền để hai cha con ông Bổng về

quê bốc mộ. Nói về ông Bổng: “Thôi, coi như trả công. Lão ấy tốt nhưng

nghèo”. Nói năng đúng mực và kính trọng bố chồng. Biết khóc, ân hận và xin

lỗi chồng sau khi ngoại tình.

77

Lão Kiền trong Không có vua là một người cha nhưng suốt ngày cau

có, chực nhổ toẹt vào con cái những lời độc địa, nhẫn tâm khi đồng lõa cùng

con trai cả nhốt con út bệnh tật vào cạnh buồng nhà xí để giữ thể diện với

khách trong ngày giỗ vợ, lại hoàn toàn thản nhiên trước mâu thuẫn của các

con “Chúng mày giết nhau đi, ông càng mừng”. Đốn mạt hơn khi đứng nhìn

trộm con dâu đang tắm, nhưng khi lão đánh bài ngửa: “Tao chẳng cần. Đàn

ông chẳng nên xấu hổ vì con buồi”. “Làm người nhục lắm”. “Cha mẹ mày!

Chỉ nghĩ cho thân tao thì lũ chúng mày được như thế này à?” thì ta hoàn toàn

có thể thông cảm và thấy lão đáng thương hơn đáng ghét. Và lão trở nên đáng

yêu khi Rằm tháng Chạp, đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm, mua cho Tốn cái áo

sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn. Sáng mồng một

Tết, áo quần chỉnh tề, ông cùng vợ chồng con cả đi chúc Tết hàng xóm.

Đoài là công chức của Bộ Giáo dục nhưng lại là kẻ vô giáo dục: “Lười như

hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!”, “có học mà ăn nói linh

tinh”. Giữa bữa cơm gia đình, hắn có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở

ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ trơ trẽn “Tình ơi tình,

mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ” khiến chị dâu ngượng

chín cả mặt. Đoài ngang nhiên tán tỉnh, sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu (“Thiếu

một tí tình thôi, Sinh cho tôi sinh một tí”), (“Người chị tôi cứ mềm như bún”),

(“Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần”, “Tối nay, tôi

vào buồn Sinh nhé!”); đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu (“Nếu

Sinh yêu tôi, tôi sẽ gây sự tống cổ nó ra ngoài”). Đang khi chặt thịt gà, tay

đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ mẹ vái lia lịa nhưng lại

khấn: “Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub”.

Lạnh lùng biểu quyết để bố chết khi lâm bạo bệnh: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ

cũng thế, cứ để chết là hơn”. Thở phào nhẹ nhỏm khi nghe bố tắt thở “Ông

cụ đi rồi. Thật may quá”, và hăng hái “Bây giờ tôi đi mua quan tài”. Trong

78

bữa tiệc mừng Sinh sinh con có thư báo ông cậu chết, nhưng Đoài bảo: “Cứ

gác lại đã. Các bác già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi.” Nhưng có

lúc Đoài cũng tỏ ra tử tế “Con xin lỗi bố”, vì thông cảm cho con người đàn

ông của bố, và biết ơn sự hy sinh của bố sau khi nghe bố “nói chuyện đàn

ông”. Đoài cũng là người có trách nhiệm, bổn phận: “Ngày kia giỗ mẹ. Anh

Cấn bảo chú Khiêm mai kiếm cho được cân thịt ngon ngon. Em đưa chị Sinh

một trăm rồi đấy”. Đoài tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu khi anh trai sắp giở

trò vũ phu với chị dâu (“Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!”). Đoài

cũng biết giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh về. Trong bữa tiệc mừng thành

viên mới của gia đình, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói: “Cốc rượu này tôi

dâng cuộc sống…Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó”...Một

Khiêm, tay đồ tể, mắt “vằn tia máu đỏ”, một năm “ăn cắp đến nửa tấn thịt”

và “hai trăm sáu mươi bộ lòng” , sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép

nhận tiền công cắt tóc (“Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi

đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi”). Đây là người mà Sinh

thấy ngại khi mới về làm dâu, lúc nào cũng im lặng. Nhưng Khiêm lại rất

thương đứa em tật nguyền là Tốn. Khiêm nổi giận lôi đình, ném gạt tàn thuốc

lá vào mặt, xông vào đấm Cấn túi bụi khi biết anh Cả chỉ vì ích kỉ, muốn giữ

thể diện mà có thể nhẫn tâm nhốt thằng em vào buồng cạnh nhà vệ sinh.

“Khiêm giật khóa, không được. Khiêm cầm xà beng phá cửa. Cửa mở ra. Tốn

chân tay mặt mũi đen nhẽm nhe răng cười. Khiêm quát: “Đi ra”. Khiêm cũng

rất mực tử tế với chị dâu. Trước mâm cỗ đêm giao thừa, Khiêm bảo: “Chị là

bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn”. Khiêm bảo: “Năm mới,

chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để

cho có lộc” khiến Sinh rớm nước mắt. Khiêm đã “tặng” cho Sinh và Tốn một

buổi tối giao thừa vô cùng “cảm động”. Khiêm cũng tử tế rất mực với bố. Bên

giường bệnh của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, “Khiêm vẫn

79

ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người

sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm

Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng”.

Nhân vật Bường trong “Những người thợ xẻ” điêu trá, thủ đoạn đúng

như lời mai mỉa dân gian “kéo cưa lừa xẻ”. Tuyên ngôn sống của Bường:

“Tiền là trên hết”. Hắn đã từng đi tù vì liên quan đến vụ trộm phân ở huyện.

Khi ra tù, hắn mở quán thịt chó, trong làng mất nhiều chó. Họ nghi cho

Bường nhưng vì không có chứng cứ nên hắn vẫn vô can. Hắn hiếp dâm con

gái lão Thuyết, bị Ngọc phát hiện lẽ ra phải ngại ngùng xấu hổ hành vi của

mình, nhưng hắn lại nói: “Con ranh con, mặc quần vào. Có thích xem đánh

nhau thì đứng mà nhìn. Chúng ông đánh nhau vì mày đấy” và còn trơ trẽn mở

miệng triết luận: “Mày chẳng hiểu gì. Ai lại đi tính tuổi bướm bao giờ”. Khi

nhận xẻ gỗ cho ông Thuyết, Bường đã bán bớt số gỗ trong lúc cưa cho người

khác. Bường sẵn sàng giở thói côn đồ, dao búa với người thuê mình xẻ gỗ:

“Bác không trả tiền như tôi thỏa thuận, mời bác xơi nhác dao này. Đùa với ai

thì đùa, đừng đùa với Đặng Xuân Bường”. Vậy mà có lúc, hắn cũng biết

thương người. Khi Ngọc và Biền đánh vật, Ngọc thắng. Nhưng sau Bường

kéo Ngọc ra và nói: “Tao nói cho mày biết, mày bỏ cái trò lưu manh ấy đi.

Mày dụ thằng Biền chơi giả để dụ nó thật…mày bịp con Quy thì được chứ

không bịp được tao đâu…Tởm lắm. Cút mẹ mày đi”. Khi bị chị Thục mắng vì

đã làm cho chân Ngọc bị thương trong lúc cưa mà không chữa chạy, sưng to

và bị hoại tử, Bường đã “cúi mặt thút thít khóc: “Bà chị bảo em làm gì

được?” Khi thấy vợ chồng chị Thục nhiệt tình chữa trị cho Ngọc, Bường đã

bảo Biên và Biền xếp hai hộp gỗ lên xe để biếu anh chị. Và chính hắn lại nói

những câu đầy nhân tính: “Bà chị không coi chúng em là súc vật! Chúng em

phận hèn của cải chẳng có. Chúng em mắc nợ nghĩa tình thì khốn nạn lắm”.

Trong cái nhìn của Ngọc: “cái tay Bường này, tôi biết, khi hắn lý giải về sự

80

sống nói chung, bao giờ hắn cũng minh triết, bao giờ hắn cũng cố gắng để

giữ cốt cách thanh cao về mặt nhân cách. Thế nhưng đời thực của hắn thì như

cứt chó. Không sao ngửi được”.

Trong truyện Sang sông khi nhìn thấy vị khách lên thuyền là một người

cao lớn khoác túi, trong dáng phong trần, thầy giáo lẩm bẩm “người với

ngợm, trông như tướng cướp”. Nhưng đó đúng là tướng cướp thật. Chị lái đò

quanh năm đưa khách qua sông, cũng nhận biết được hắn là tướng cướp nên

đã nói buâng quơ “Giông bão gì đâu mà quạ xuống núi”. Tên cướp vui vẻ:

“Có cỗ cưới, người ta mời, ông lão sáu mươi lấy cô mười bảy”. Mọi người

trên đò lạnh ngắt”. Nhưng khi hai tên cao gầy trên thuyền dí dao vào cổ đứa

bé, làm cho chảy máu để đòi tiền của người mẹ thì hành động của tên cướp lại

hết sức ngạc nhiên. Anh nói: “Thôi đi! Trẻ con là tương lai đấy! Làm gì cũng

phải nhân đức hàng đầu”. Người thanh niên suốt từ đầu buổi có những cử chỉ

khiếm nhã với cô gái, thậm chí có lúc cáu bẩn: “Đàn bà…quỷ sứ…Tất cả đều

chẳng ra gì…Bẩn thỉu”…khi cô gái phản ứng lại hành động của anh ta.

Nhưng khi thấy tên cướp dí dao vào cổ chú bé, anh rời cô gái, tháo chiếc nhẫn

nơi tay đưa cho tên cướp.

Trong truyện Cún, lão Hạ là một người ăn xin, đã cứu Cún từ trong

cống nước. Lão coi Cún như con nhưng đã lợi dụng cho Cún đi ăn xin để

sống qua ngày, để kiếm tiền đánh bạc và uống rượu. Cũng có lúc, “lão Hạ

chẳng hề thấy áy náy vì những lần để Cún đói lả, run người trong những trận

sốt mê man để đi uống rượu hay đi đánh bạc”. Khi Diệu cho Cún đồng tiền,

lão đã lẳng lặng nhặt vào túi mình. Nhưng lão cũng là một người có lòng nhân

từ. Lão hiểu rõ mình già, ốm đau, sẽ không còn trên cõi đời này và Cún sẽ bơ

vơ một mình. Với thân hình dị dạng, không di chuyển được nhiều của Cún thì

thật là đáng thương và khó khăn để kiếm sống. Cho nên chính trong quá trình

lợi dụng Cún để kiếm ăn, lão cũng đã để dành cho Cún ít vàng để phòng thân

81

sau này. Vì vậy, lúc sắp chết “bàn tay lão cố ấn vào tay Cún một cái túi con

nằng nặng”, mà sau này khi mở ra Cún thấy đó là những khâu vàng.

Ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp không chỉ miêu tả sự phong phú, phức tạp

ở những con người bình thường trong cuộc sống đời thường mà còn nhìn thấy

sự phong phú, phức tạp qua việc miêu tả các nhân vật lịch sử. Ông nhìn các vị

vua, các nhân vật lịch sử ở khía cạnh đời tư, đời thường. Nhà văn không nhìn

đối tượng bằng cái nhìn “biết trước”. Nói đơn giản hơn, với Nguyễn Huy

Thiệp, tác phẩm là một kiểu thông báo: Tôi nhìn cuộc sống bằng cái nhìn của

riêng tôi! Chính tại đây, khuôn mặt đích thực của đời sống hiện lên một cách

sắc nét nhất. “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên,

thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh” (Giọt máu). Nghĩa là ông hình

dung lịch sử theo cách riêng của mình chứ không nhìn lịch sử theo kiểu biên

niên, ông cũng không đi theo lối mòn “tô hồng” khi nói về vĩ nhân và “bôi

đen” khi nói về những nhân vật “có vấn đề”. Tất cả các nhân vật trong truyện

của Nguyễn Huy Thiệp được đặt trong cùng một tọa độ soi ngắm và được lột

tả bằng cái nhìn đa diện. Giống như Vũ Trọng Phụng trước đây, Nguyễn Huy

Thiệp nhất quán với quan niệm văn chương là “sự thật ở đời”. Bởi thế, ngay

cả vĩ nhân cũng được hình dung qua khoảng cách thẩm mĩ mà tiểu thuyết hiện

đại vẫn quen dùng: quan hệ suồng sã phi sử thi. Trong nhiều tác phẩm, ông

muốn lôi xuống đời thường, trần tục hóa các vua Gia Long, Quang trung và

các nhân vật lịch sử Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi.. Điều này

được thể hiện trong chùm truyện “lịch sử giả” gồm: Kiếm sắc, Vàng lửa,

Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương.

Quang Trung, Gia Long là những vị vua đứng đầu trong một nước

nhưng đồng thời cũng là một con người nên cũng mang những khuyết tật,

những chỗ không hoàn hảo của một con người. Vì thế, trước mặt quan thần và

dân chúng, lúc Quang Trung, Gia Long là những vị vua có phẩm chất cao

82

quý, nhưng cũng có những đam mê, dục vọng thường tình, những nỗi khác

khoải số phận và những tình cảm ghét, yêu, tức giận thông thường.

Trong truyện Phẩm tiết, người ta nhìn thấy vua Quang Trung ngoài là

một anh hùng áo vải cờ đào cũng có lúc là những con người bình thường.

Quang Trung cũng có lúc giận, mắng kẻ dưới, văng những lời “thô lỗ, cục

cằn” trong cơn tức giận. Đó là sau khi tiến quân ra bắc tiêu diệt Mãn Thanh,

Quang Trung cho mở tiệc mời cơm các nhà danh giá thế phiệt trong thành.

Ngô Khải là bậc đại phú trong thành nên cũng được mời dự tiệc. Khi vua,

Quang Trung hỏi về thức ăn, Khải trả lời rằng: “Ngon thì ngon, nhưng chưa

biết nấu, hơi ghê ghê, có vị lợm”. Phẩm vật Khải đem đến dâng vua lại toàn

là vàng bạc giả, vải bị cắt ra từng mảnh vụn nhỏ. Điều đó làm cho vua Quang

Trung rất giận: “Thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quá chừng. Trời

cho mày sống, cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ, ăn miếng ngon không

biết đậy mồm, còn chê lợm”. Nhà vua xúc động trước sắc đẹp, “thấy Vinh

Hoa, thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay” và cho

rằng: “được Vinh Hoa như được báu vật, một Vinh Hoa bằng ba vạn người”.

Nhà vua xót thương, hối hận trước cái chết của Ngô Khải nên “ đang đêm

xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo cho Vinh Hoa việc Khải

mất”. Ở đây Nguyễn Huy Thiệp đã miêu tả Quang Trung là một con người

chân thật giữa đời thường, dù là vua nhưng cũng không phải là thánh sống. Ở

mọi hoàn cảnh, Quang Trung cũng sống, cũng hành động như một con người:

có yêu, có mê, có giận. Và tất cả điều đó đều rất chân thật, chứ không ngụy

trang, giả tạo. Nhà thơ Tago của Ấn Độ đã viết:

“Trước tình yêu vua cũng như dân

Muốn có tình yêu phải mang đời trả giá.”

Trong Hoàng Lê nhất thống chí, nếu xét cho kỹ, tác giả Ngô gia văn

phái cũng miêu tả Nguyễn Huệ (Bình) với những ngôn ngữ hết sức bình dị,

83

dân dã. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh nói với Quang Trung ý muốn kết tình thông

gia của vua Lê, ông đã từng đùa rằng: “Xưa nay những kẻ chinh phu xa nhà,

tình khuê phòng là rất cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chỗ ấy kia à!”

Thậm chí, vua Quang Trung còn có nói: “Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà

về, bọn trẻ nó cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa

biết con gái Bắc Hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không”. Đó là

thứ ngôn ngữ bình dị, chân thực, không phải là thứ ngôn ngữ kiểu cách, cầu

kỳ. Nó rất gần với ngôn ngữ của Quang Trung trong Phẩm tiết.

Nguyễn Ánh trong truyện Kiếm sắc, Phẩm tiết, Vàng lửa là một vị vua

có đầy quyền lực, “đa mưu túc kế, tính kiên trì, không tin ai, dùng người chỉ

lấy chữ “hiệp”, chữ “lễ” làm trọng, không coi “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “trí”,

“tín” ra gì” (Kiếm sắc), thản nhiên chém chết hầu cận thân tín lâu năm vì

không hoàn thành nhiệm vụ mà Ánh đưa ra, “luôn lo sợ bởi quyền lực nắm

trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người”. Ông hiểu rõ chỗ nào ông đi

qua là cận thần cho “thả thú ra”. Ông nhận ra “vinh quang nào chẳng xây

trên điếm nhục”. “Ông hiểu bản chất đời sống cộng sinh”. Nhưng đồng thời,

Nguyễn Ánh cũng có những hành động như những con người bình thường.

Ánh nghiến răng căm giận, hí hửng khi kẻ thù thất thế. Đó là khi Nguyễn Huệ

chết, con trai là Nguyễn Văn Toản lên ngôi, Tây Sơn chia năm bè bảy mối.

Ánh mừng lắm sai mở tiệc mừng, Lân đứng ra can: “Chúa công đừng làm

thế, dân chúng nhìn vào không cho ta là người đại lượng”. Ánh bảo: “Huệ

coi ta là quốc thù, hịch truyền khắp nơi lời lẽ bẩn thiểu lắm. Ta với Huệ

không đội trời chung. Nó chết ta cười cũng không được ư?. Ánh nghe Lân

nhưng nghiến răng nói: “Khi nào ta thành nghiệp lớn, ta phanh thây nó, ta

chôn ba họ nó” (Kiếm sắc). Lúc tức giận, cũng mắng kẻ hầu cận những câu

như: “Thằng mặt xanh kia! Kề miệng lỗ còn dê ư? Ta cho cắt dái mày! Ta

cho mày ăn cứt” (Phẩm tiết). Đôi khi Ánh cũng mong ước “ta chỉ thích như

84

người thường thôi”. Cũng có lúc trăn trở: “Ta chỉ vỏn vẹn có ba thước đất

chôn thâyi”. Khi gặp và “thấy Vinh Hoa đẹp quá”, dù là một vị vua nhưng

tình cảm thường tình của con người bộc lộ, nên Nguyễn Ánh “bỗng say sẫm

mặt mày nhà vua thở dài ngã quay ra đất, ngất liệm đi” (Phẩm tiết). Vì vậy,

khi đang ngồi nghe Vinh Hoa đàn, nhưng Lân khuyên đi ngủ sớm. Ánh nghe

theo nhưng thở dài, tiếc rẻ “Ta đi mà cứ văng vẳng tiếng hát ca nữ bên tai,

tiếng gió thổi, tiếng gươm dao không át được” (Kiếm sắc). Nhà vua bảo Vinh

Hoa: “Ta muốn sở hữu nàng như nuôi con gà, con vịt trong nhà” (Phẩm tiết).

Ở đây, Nguyễn Huy Thiệp đã miêu tả vua Gia Long là một vị quân vương

đứng trên đỉnh cao quyền lực, đẩy con người vào cuộc binh đao nhân danh

Trời, đồng thời cũng là người đàn ông muốn sở hữu Vinh Hoa như nuôi gà,

nuôi vịt. Cái sứ mạng giữ nước là ở tinh thần, còn ở phương diện trần thế,

nhân sinh lại bộc lộ như một dục vọng bị tước hết mọi thuộc tính nhân bản.

Nhà văn đã để cho vua Gia Long bộc lộ một cảm xúc rất thật: “Sứ mệnh đế

vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền

đê tiện” (Phẩm tiết). Nhà vua cũng mê ăn món gân hổ, khi đang tiếp chuyện

với Phăng, v.v…

Trong lịch sử, Hoàng Hoa Thám (hay còn gọi là Đề Thám) là một anh

hùng nổi tiếng lẫy lừng trong đánh Pháp nhưng ở truyện Mưa Nhã Nam,

Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng là một con người trong đời sống bình

thường. Ông cũng thích gặp gỡ bạn bè, nói chuyện gia đình, con cái, và ông

lại rất thích uống rượu với lòng lợn chấm mắm tôm chanh, kèm với rau húng.

Cách viết, cách nhìn của Nguyễn Huy Thiệp về con người có lúc chịu

sự phê phán gay gắt từ dư luận. Nhưng phải nhận thấy rằng, xây dựng thành

công kiểu người lưỡng diện, Nguyễn Huy Thiệp đã chạm được đến chỗ trung

thực nhất trong bản chất con người, đã khám phá được con người ở chiều sâu

nhân bản nhất. Nguyễn Huy Thiệp vừa nói lên được con người xã hội vừa nói

85

được con người nhân tính. “Nguyễn Huy Thiệp có một thế giới nhân vật độc

đáo. Toàn những con người góc cạnh gân guốc. Người nào dường như cũng

sống đến tận cùng cá tính của mình…Ở Nguyễn Huy Thiệp, những nhân vật

hơi bụi một chút, thường có cả hai mặt thiện và ác, đúng ra là chứa đựng cả

thú tính lẫn nhân tính, một mặt đầy bản năng thô bỉ, mặt khác, từ một góc độ

nào đó của tâm hồn, thỉnh thoảng vẫn lóe lên ánh sáng của lương tri, lương

tâm” [39, tr.459].

Khi viết về con người “Nguyễn Huy Thiệp đã xé toạc cái khách sáo

của con người ở chốn đông đúc ấy để viết về cái lõi tâm lý, cái tâm lý thật, cái

tôi của con người. Từ cái cao cả đến cái thấp hèn, từ phù du ảo huyền đến

thông tục. Đó là những ao ước khát khao, những toan tính mưu mô, kể cả

những ham muốn bản năng” [39, tr.132], nhưng đó còn là những con người

còn có nhân phẩm, lương tri trong cuộc đời.

Nguyễn Huy Thiệp có một giọng văn rất lạnh lùng nhưng ẩn dấu phía

sau nó lại là một lòng nhân ái sâu xa, trìu mến đối với con người. Những trăn

trở của nhà văn về con người, những suy tư của ông về thiện và ác, sáng và

tối, cao thượng và thấp hèn, quỷ và người.., bên trong mỗi con người khiến

chúng ta có thể kết luận rằng Nguyễn Huy Thiệp đã viết những truyện ngắn

giản dị và trung thực về con người, đúng với tinh thần đổi mới văn học lúc

bấy giờ.

86

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP.

Trong văn học, sự thụ cảm cuộc sống bằng tư duy nghệ thuật đã làm

nên hình tượng nghệ thuật sống động, thuyết phục người đọc. Tài năng nghệ

thuật chân chính là người lôi cuốn độc giả vào thế giới nghệ thuật của riêng

mình. Từ đó tạo nên những nhận thức mới, suy nghĩ mới, nói như nhà nghiên

cứu Đặng Anh Đào là “xáo trộn độc giả” [8, tr.78]. Để có sự thành công đó,

nhà văn phải là người thực sự tạo nên sức hấp dẫn trên hai bình diện của tư

duy nghệ thuật đó là nội dung và hình thức. Vì vậy, tìm hiểu sự đổi mới quan

niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Huy Thiệp, song hành với việc tìm

hiểu sự cảm thụ, nhận thức, lý giải của nhà văn về con người ở các bình diện

như đã trình bày ở chương hai là việc khảo sát các biện pháp nghệ thuật mà

nhà văn đã sử dụng để phục vụ cho mục đích nghệ thuật của mình. Trong

truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ

thuật về con người bằng một số biện pháp nghệ thuật sau.

3.1. Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

Không gian và thời gian là một phạm trù triết học chỉ sự tồn tại của thế

giới vật chất. Không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian. Tác phẩm là

một thế giới nghệ thuật. Thế giới đó có con người tồn tại trong một khoảng

không gian và thời gian đặc biệt. Không gian và thời gian trong tác phẩm là

không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Nó không chỉ là không gian và

thời gian vật chất mà là một phương thức biểu hiện thế giới tinh thần, hiện

thực đời sống thông qua tác phẩm văn chương. Nguyễn Huy Thiệp đã sử

dụng không gian, thời gian để thể hiện quan điểm nghệ thuật về con người.

87

3.1.1 Không gian, thời gian hướng vào đời sống cá nhân

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, không gian, thời gian

hướng vào đời sống cá nhân, đa dạng nhiều màu sắc. Nó là không gian, những

tâm trạng của con người, gắn với những tình, những cảnh mà con người đang

sống, đang trải nghiệm.

Đọc Con gái thuỷ thần cũng như nhiều truyện khác của Nguyễn Huy

Thiệp như Giọt máu, Chảy đi sông ơi…chúng ta nhận thấy điểm chung giữa

các tác phẩm chính là bối cảnh được miêu tả trong đó mang đậm vẻ hoang sơ,

tù đọng. Đó là cuộc sống quanh quẩn, “sáng đi cày, chiều đào đá ong, tối lột

giang đang mũ”, cứ thế cho đến hết đời. Hơi thở cuộc sống ở đấy lạnh lẽo và

nặng nề. Nó dễ dàng nuôi dưỡng định kiến bằng những “lời đồn đại”, thêu

dệt những câu chuyện huyễn hoặc. Lời đồn vừa là chiếc nôi nuôi lớn và lưu

giữ những câu chuyện dân gian, là nơi huyền thoại bắt đầu. Cũng nhờ lời đồn

mà nhân vật Chương đã có câu chuyện về Mẹ Cả - câu chuyện về một nhân

vật huyền thoại. Không gian trong truyện Con gái Thủy Thần: “Không khí u

uất, tù đọng làng quê làm tôi tê tái cảm giác chua xót. Mọi người rối rít,

cuống cuồng để kiếm miếng ăn. Những định kiến, tập tục thật nặng nề. Tôi đã

thấy tinh thần gia trưởng hủy hoại bao nhiêu số phận con người. Tôi cũng

thấy những ngộ nhận giới tính và đạo đức giết chết vẻ diễm lệ trên khuôn mặt

thiếu nữ. Rất ít thanh niên, ngoài đồng chỉ có các ông bà già, phụ nữ và trẻ

em thất học làm việc”. Cho nên Chương, không thích làm việc trong nhà mà

thích ở ngoài đồng: “Tôi hay nhận những việc ngoài đồng: cấy, gặt, gieo mạ,

bón phân. Tôi không thích nhận việc trong nhà. Ở ngoài đồng không khí

thoáng đãng hơn, trên đầu tôi là bầu trời tự do. Tôi không vướng mối liên hệ

nào đấy đối với con người”.

Không gian còn là niềm tự hào, gắn kết của con người. Ở đoạn văn mở

đầu truyện ngắn Thương nhớ đồng quê, tác giả viết: “Tôi là Nhâm. Tôi sinh

88

ra ở làng quê, lớn lên ở làng quê. Đi trên đường Năm nhìn về làng tôi chỉ

thấy một vệt xanh nhô trên đồng vàng. Xa mờ là vòng cung Đông Sơn, trông

từ làng tôi đến đấy phải năm mươi cây số. Làng tôi gần biển, mùa hè vẫn có

gió thổi về”.

Hay “Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu trong lòng tôi

Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng

Đứng nên ni đồng mênh mông bát ngát

Đứng bên tê đồng bát ngát mênh mông

Tôi làm sao quên được nơi mẹ tôi sinh ra”.

Đó không chỉ là lời giới thiệu đầy xúc cảm và tự hào về bản thân của,

người đọc còn hình dung được sợi dây gắn bó máu thịt của nhân vật với nơi

chôn nhau cắt rốn xiết bao thân thương của mình.

Không gian hướng vào đời sống cá nhân, thời gian được đo bằng

khoảnh khắc của đời người đang sống. Nhưng những khoảnh khắc đang sống

gắn với hoàn cảnh chung của xã hội. Biệt thự của Thuần (Tướng về hưu) được

tác giả miêu tả gắn với sở thích, thói quen sinh hoạt của cá nhân: “Ngôi nhà

tôi ở ven nội, xây dựng trước khi cha tôi về hưu tám năm. Đấy là một biệt thự

đẹp nhưng khá bất tiện. Tôi đã xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia

kiến trúc trứ danh bạn của cha tôi, ông này đại tá chỉ thạo việc xây dựng

doanh trại”.

Trong truyện Mưa Nhã Nam, Đề Thám thích cưỡi ngựa một mình lang

thang trong rừng nên ông đã quan sát rất kĩ không gian, cảnh vật nơi đây:“đây

là thiên nhiên cành cây xòa trước mặt, tiếng chim hót, những giọt nước mưa

đọng lại trên cây, mùi lá mục ẩm ướt, nhưng con chim xanh, con chim đỏ, con

chim vàng, những cánh mối ướt rụi, những con bọ nhảy, tiếng vượn kêu não

nùng, bông hoa bé xúi. Tất cả hương vị màu sắc của thiên nhiên đều chân

thực, thanh khiết, đều khiến ta cảm động đến tận đáy sâu tâm hồn”. Không

89

gian đó đã làm ông nghĩ về những ngày đã qua “về tuổi ấu thơ đắng cay khổ

nhục, những ngày ông phải đi tận Tiên Lữ”, “nghĩ về sự sống hoặc cái chết”,

ước mong trở lại “hai mươi năm trước”.

Không gian dòng sông – con thuyền tượng trưng cho số phận người

phụ nữ giữa sông nước cuộc đời. Dòng sông con thuyền còn trở lại với số

phận buồn đau, cô đơn của Thắm trong Chảy đi sông ơi. Cả cuộc đời cô gắn

với con thuyền, khi chết đi cũng trên sông nước không ai biết đến. Người phụ

nữ tên Hương trong Chút thoáng Xuân Hương (truyện thứ ba) phải tự mình đi

mua và vác những bao ngô nặng nhọc đưa xuống thuyền về cho trại lợn. Công

việc đó cứ diễn ra hàng ngày trên sông. Chồng chị một người đàn ông không

biết thương vợ, chỉ biết cờ bạc, nghiện ngập, “theo đuổi những người đàn bà

không bằng cái gấu quần của chị”. Truyện Sang sông là hình ảnh cô lái đò.

Vì tính chất công việc, hàng ngày đưa khách sang sông, cô gặp rất nhiều hạng

người khác nhau: có người tốt, có kẻ xấu, có thầy tu, cũng có tướng cướp. Cô

cũng gặp bao nhiêu nguy hiểm, có những nguy hiểm không biết trước được

như hai tên buôn đồ cổ dí dao vào cháu bé mà lúc đầu không ai ngờ tới.

Không gian huyền thoại cũng là một kiểu không gian đặc trưng cho

truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trong việc thể nghiệm nhân tính, cá

tính… Con người trong tác phẩm của nhà văn bộc lộ nhiều góc khuất mà

trong không gian sống thường nhật khó có thể nhận ra. Bản Hua Tát nơi

người Thái đen sinh sống nằm ở Tây bắc Việt Nam trong một thung lũng hẻo

lánh, bốn bề bao bọc bởi núi non và quanh năm chìm đắm trong sương mù

dày đặt, bởi thế toàn bộ không gian ở đây dường như huyền bí và thấm đẫm

các truyền thuyết. “Ở Hua Tát, những truyện cổ giống như những bông hoa

dại màu vàng nhạt, bé như khuy áo, điểm đâu đó quanh hàng rào các ngõ.

Đàn ông ngậm hoa này uống rượu trong miệng không bao giờ say. Nó cũng

giống như những viên cuội trắng có gân trong đỏ, mảnh như sợi chỉ nằm kín

90

đáo trong dòng suối. Phụ nữ thích nhặt những viên sỏi này. Họ nhặt về ủ

trong áo lót đủ một trăm ngày. Khi làm đệm cho chồng, họ giấu viên sỏi vào

trong. Có lời nguyền cho rằng người chồng nằm trên nệm ấy sẽ không bao

giờ mơ tưởng đến phụ nữ khác”.

3.1.2. Không gian, thời gian gắn với thế giới tinh thần của mỗi con người

Con người nhỏ bé giữa rộng lớn không gian, đó là không gian xa lạ. Ở

đó, con người không còn cảm thấy an nhiên tự tại, hoà mình vào vũ trụ theo

kiểu Thiên - Nhân hợp nhất nữa mà là sự nhỏ bé trước sự hùng vĩ, vô biên của

tạo hoá. Con người trong không gian xa lạ ấy mới cảm thấy hết được sự hữu

hạn của cuộc sống, sự cô đơn của kiếp người.

Trong truyện Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng không gian

núi rừng hiểm trở trong cuộc đi săn đã làm cho ông Diểu hiểu ra sự hiểm

nguy của cuộc sống và sự mỏng manh của kiếp người. Một mình trong rừng

sâu núi thẳm, cũng là cơ hội để ông đối diện với chính mình, với vực thẳm tội

ác trong tâm hồn mình, nó cũng hiểm ác chẳng kém gì vực sâu trước mặt ông:

“từ dưới sâu hun hút… sương mù dâng lên cuồn cuộn trông vừa kinh dị, vừa

đầy tử khí. Sương mù len vào từng chân bụi cây và xóa rất nhanh cảnh

vật…Ông chợt nhớ đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực là

cánh thợ săn đặt tên là Hõm chết. Ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào

cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng”. Rồi trong khoảnh

khắc, ông suy nghĩ: “Ta có mê không?...Tất cả như trong mộng mị”. Ông

chợt nhận ra rằng, mọi ham muốn, dục vọng, những nhỏ nhen, ích kỷ đều vô

nghĩa trước cuộc sống chông chênh, hữu hạn này. Ông tự tay băng bó lại cho

con khỉ mà chính ông vừa bắn rồi thả về rừng cũng là giải thoát cho tâm hồn

đang trĩu nặng bởi những toan tính tội lỗi. Thiên nhiên chợt trở nên hiền hoà,

“mưa xuân dịu dàng trên cánh đồng”, và “ông cứ trần truồng như thế, cô

91

đơn như thế mà đi”. Như vậy, không gian có tác động sâu sắc đến tâm trạng

của con người và con người cũng tạo nên sự thay đổi cảm nhận về không

gian.

Truyện ngắn Những người thợ xẻ cũng đặt nhân vật trong không gian

thiên nhiên rộng lớn, hiểm trở để mở ra sự suy nghiệm về thân phận con

người: “Những dãy núi đá vôi trập trùng cao ngất. Chúng tôi đi men ở dưới

chân núi, vừa bé nhỏ, vừa cô đơn, lại liều lĩnh, mà bất lực, thậm chí vô nghĩa.

Bạt ngàn là hoa ban trắng, màu trắng đến là khắc khoải, nao lòng. Này hoa

ban, một nghìn năm trước thì mày có trắng thế không?”... Và ở gần kết thúc

truyện: “Chúng tôi cứ đi trên cái cầu vồng bảy sắc. Bạt ngàn là hoa ban

trắng trên đường, màu trắng đến là khắc khoải, nao lòng. Này hoa ban, một

nghìn năm sau thì mày có trắng thế không?”

Bên cạnh đó, không gian xa lạ, mới mẻ cũng gợi nhiều suy ngẫm.

Trong Những bài học nông thôn, việc Hiếu về quê mẹ nghỉ hè được thể hiện

như một cuộc dấn thân, kiếm tìm cảm giác lạ, giữa những người lạ. Và anh đã

học được rất nhiều những bài học giản dị từ cuộc sống về tình yêu thương,

mở ra những chặng đường nhận thức mới trong tâm hồn chàng trai trẻ trên

con đường thể nghiệm bản thân: “Tôi cứ đi mãi. Tôi băng qua cánh đồng, qua

dòng sông. Mặt trời bao giờ cũng ở phía trước mặt tôi…”

Không gian luân chuyển là không gian kiểu người xê dịch. Trên hành

trình kiếm tìm chân lý, con người phải trải qua nhiều kiểu không gian khác

nhau, nhiều vùng đất khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau buộc họ phải lựa

chọn và hành động. Không gian luân chuyển chính là môi trường thích hợp để

con người tìm kiếm chính mình. Truyện ngắn Con gái thuỷ thần của Nguyễn

Huy Thiệp với kiểu không gian luân chuyển này, đã đẩy nhân vật vào các

cuộc thử thách, lựa chọn và hành động. Nhân vật thường xuyên ở trong trạng

thái ra đi: “Tôi đi, tôi cứ đi, đi mãi… Tôi đi, tôi đang đi, tôi vùng bỏ đi như

92

chạy…”. Những cuộc ra đi nối tiếp nhau thể hiện sự bất an trong tâm hồn và

sự khao khát kiếm tìm một điều gì như kiếm tìm chính bản thân mình.

Hình ảnh con sông chảy về biển cứ trở đi trở lại trong sáng tác của

Nguyễn Huy Thiệp chính là dòng sông lặng lẽ suy tưởng của nhà văn, là nỗi

khao khát cồn cào muốn tận hưởng cuộc sống, muốn đo được đáy sâu của

thời gian.

Trong Chảy đi sông ơi dòng sông trong sự cảm nhận của nhân vật

“tôi”, thật hiền hòa, êm dịu, đầy cảm xúc, ngân nga, có sức lay động lòng

người: “Chiều xuống tiếng chuông nhà thờ ở giữa bến Cốc lan trên mặt sông

mang mang vô tận. Con sông tựa như giật mình phút chốc sau đó lặng im

trôi, giống như một người hiểu biết tất cả nhưng đang mải mê suy nghĩ, chẳng

cần mà cũng chẳng thèm biết xung quanh đang chộn rộn những gì”.

Dòng sông là một trong những biều tượng quan trọng làm nên sức hấp

dẫn của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và cũng chính là dòng chảy sâu kín

của ngôn ngữ biểu tượng. Không gian dòng sông còn mang trong đó sức

mạnh cứu sinh và tôn vinh vẻ đẹp của con người. Đó là chị Thắm (Chảy đi

sông ơi), Mẹ Cả (Con gái thuỷ thần).

Như vậy, ý thức về không gian và thời gian của con người trong truyện

ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rất đa dạng. Không gian, thời gian hướng vào

đời sống cá nhân, hướng vào thế giới tinh thần của mỗi nhân vật.

3.2 Cảm hứng huyền thoại

Sự thâm nhập của huyền thoại vào truyện ngắn Việt Nam từ 1986 là

một hiện tượng lạ, nhất là thời kỳ Đổi mới. Chúng ta chứng kiến sự tái xuất

đầy ấn tượng của huyền thoại trong đời sống văn học nghệ thuật: âm nhạc,

điện ảnh, văn học… Đặc biệt, huyền thoại trở thành một tố chất thể loại vừa

mới mẻ vừa mạnh mẽ trong truyện ngắn giai đoạn này. Đi sâu vào đời sống

93

thể loại, chúng ta sẽ thấy: huyền thoại không phải chỉ trở lại ở một vài hiện

tượng riêng lẻ, ngược lại, những sáng tác huyền thoại đã hình thành một dòng

truyện ngắn: truyện ngắn - huyền thoại. Huyền thoại thực sự đã tạo nên những

hình thể truyện ngắn mới ở Việt Nam. Nhiều cây bút truyện ngắn đương đại

thể hiện yếu tố huyền thoại trong sáng tác như Nguyễn Huy Thiệp, Hòa Vang,

Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo.

Có thể nói một bộ phận không nhỏ các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

mang “cảm hứng huyền thoại mạnh” [39, tr.288]. Theo lời của tác giả Văn

Tâm “Sương mù huyền thoại bao phủ hầu hết trang sách Nguyễn Huy Thiệp,

không những bao phủ dài đặc trong hai truyện huyền thoại (Con gái thuỷ

thần”) và cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát) mà còn bập bềnh mờ mịch giữa

khá nhiều truyện lịch sử (Kiếm sắc, Phẩm tiết) và thế sự (Chảy đi sông ơi)”

[39, tr. 288].

3.2.1 .Yếu tố huyền thoại bao trùm xung quanh nhân vật

Rất nhiều người cho rằng, sương mù huyền thoại bao phủ hầu hết

những trang sách Nguyễn Huy Thiệp, nó hỗ trợ độc giả đọc ra một số tín hiệu

thuộc miền tinh thần tiềm ẩn, siêu thức sâu thẳm. Thật vậy, Nguyễn Huy

Thiệp có tài tạo không khí huyền ảo từ những cái rất thực tế, rất trần trụi,

người đọc luôn trôi trong cảm giác vừa thực vừa hư. Tính hấp dẫn được tăng

lên rất nhiều nhờ được chìm đắm trong không khí đó. Nhiều truyện rất hiện

thực và hiện đại, nhưng nhà văn đã phết lên cho nó màu sơn huyền thoại

nhằm gây hứng thú và tạo cảm giác kiếm tìm, trở về. Trong hầu hết các

truyện, Nguyễn Huy Thiệp đều sử dụng yếu tố huyền thoại như là một thủ

pháp “lạ hóa” tác phẩm một cách cần thiết để thoát khỏi “chất hiện thực” vốn

dễ gây sự nhàm chán nơi người đọc.

94

Nguyễn Huy Thiệp sử dụng yếu tố huyền thoại khi viết về những

nhân vật lịch sử, nhân vật cổ tích, nhân vật đời thường.

Huyền thoại Nguyễn Huy Thiệp luôn là con đường đi về phía sâu thẳm

tâm hồn con người. Ở đó có thể con người sẽ gặp lại chính mình. Khai thác,

sử dụng yếu tố huyền thoại, nhà văn đã làm cho tác phẩm của mình mang

màu sắc huyền hoặc xa xăm. Trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật

là những người chung quanh ta: thiếu phụ lái đò ở bến tầm xuân, cô gái dở

hơi, tên tướng cướp, lão đồ tể, ông tướng. Mỗi người có mỗi nghề khác nhau.

Đời thường như huyền hoặc, các nhân vật có tâm hồn trong sáng, nguyên sơ

lẫn những khôn ngoan chính từ những khốn nhục của cuộc đời.

Huyền thoaị thường mang tính lạc quan, tin ở con người nhân ái, nhân

bản tự tại, không cần đến lí trí, lí luận. Điều này dường như chỉ đúng trong

văn học dân gian, còn đối với Nguyễn Huy thiệp không phải như vậy. Huyền

thoại Chị Thắm (Chảy đi sông ơi) là tiếng hát của thuở nào tê tái: “Chảy đi

sông ơi, Băn khoăn làm gì? Rồi sông đã hết, Anh hùng còn chi?...Con trâu

đen, con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay đâu rồi?”. Không khí huyền

thoại trong Con gái thuỷ thần được mở ra ngay từ đầu tác phẩm, qua hình ảnh

dòng sông với trận bão ở bãi Nổi trên sông Cái: “Chắc nhiều người còn nhớ

trận bão mùa hè năm 1956. Trận bão ấy, ở bãi nổi trên sông Cái, sét đánh cụt

ngọn cây muỗm đại thụ. Không biết ai nói trông thấy có đôi giao long quấn

chặt lấy nhau vẫy vùng làm đục cả một khúc sông. Tạnh mưa, dưới gống cây

muỗm, có một đứa bé mới sinh đang nằm. Đứa bé ấy là con thuỷ thần để lại.

Dân trong vùng gọi đứa bé ấy là Mẹ Cả. Ai nuôi Mẹ Cả tôi không biết, nghe

phong phanh trong từ đền Tía đón về nuôi. Lại đồn thím Mòng trên phố chợ

đón về nuôi. Lại đồn các sơ trong nhà tu kín đón về, đặt tên thánh cho Mẹ Cả

là Giana Đoàn Thị Phượng”. Đó là cuộc hành trình tìm kiếm vô vọng đến

kiệt cùng sức lực của Chương: “Con gái thủy thần. Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ

95

nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi…”. Điệp khúc

đau buồn ấy là niềm tin bị đổ vỡ. Từ cuộc đời của Chương, Nguyễn Huy thiệp

muốn con người hiểu rằng mỗi con người sống trong cuộc đời luôn theo đuổi

những điều phù du, ảo vọng. Ảo vọng chỉ là ảo vọng, trong cuộc đời thực con

người trải qua biết bao nhiêu điều khốn khó, bất trắc. Thế giới ấy không được

nhìn nhận đơn giản như trước nữa mà người ta phải nhìn vào nó bằng tất cả

những nỗi niềm âu lo, trăn trở.

Những ngọn gió Hua Tát với tít phụ “Mười câu chuyện về cuộc sống

của một bản nhỏ” cũng mang những yếu tố huyền thoại. Như chính tác giả đã

nói trong phần dẫn truyện, bản Hua Tát, nơi người Thái đen sinh sống nằm ở

Tây Bắc Việt Nam trong một thung lũng hẻo lánh, bốn bề bao bọc bởi núi non

và quanh năm chìm đắm trong sương mù dày đặc, bởi thế, toàn bộ không khí

ở đây dường như huyền bí và thấm đẫm các yếu tố huyền thoại. “Thung lũng

Hua Tát ít nắng. Ở đây quanh năm cứ lung bung một thứ sương mù bàng bạc

nên nhìn người chỉ thấy những nét nhòa nhòa đại thể mà thôi. Đây là thứ

không khí huyền thoại. Hua Tát là một bản nhỏ cô đơn. Người dân ở đây sống

giản dị, chất phác. Công việc nương rẫy nhọc nhằn, vất vả. Cả việc săn bắt

cũng thế. Tuy nhiên người dân ở đây lại rất rộng lòng mến khách. Đến Hua

Tát, khách sẽ được mời ngồi bên bếp lửa, uống sừng rượu cần với xeo thịt

rừng sấy khô”. Linh hồn người Tây Bắc ngày xưa thấp thoáng bay trong

truyện: “Những người sống trong truyện cổ không còn nữa. Ở Hua Tát, họ đã

biến thành đất bụi và tro than cả. Tuy vậy, linh hồn của họ vẫn thấp thoáng

bay trên các khua cút nhà sàn. Như những ngọn gió”. Đó là con Hổ, chàng

Khó trong Trái tim Hổ; là con Công trong Con thú lớn nhất; là nàng Bua, hũ

vàng trong Nàng Bua; là đức tính trung thực của chàng Hặc trong Tiệc xòe vui

nhất; là cô gái giữa cơn mưa trong Đất quên; là hòn đá nhỏ trong Nàng

Sinh…Tất cả, tất cả đã tạo nên một không khí lung linh huyền ảo, một màu

96

sắc lạ giữa những sắc màu hiện thực. Trong chùm truyện này kể về những con

người đặc biệt và những sự kiện không bình thường còn lưu lại trong kí ức

những người dân địa phương. Sự kiện lạ lùng, hiện tượng bất bình thường là

những yếu tố thú vị, tạo nên tính hấp dẫn của chùm truyện này. Đó là sự xuất

hiện của con hổ ở bìa rừng làm cả bản kinh hãi (Trái tim hổ), cuộc tấn công

của côn trùng màu đen lạ lùng vào rừng làm trụi sạch lá cây (Chiếc tù và bị

bỏ quên), là một trận dịch tả cướp đi gần hết sinh mạng trong bản (Nạn dịch).

Nhân vật nữ trong truyện Nàng Bua bất ngờ tìm thấy trong rừng một chiếc vò

cổ đựng đựng đầy tiền vàng, tiền bạc. Còn Sinh, cô bé mồ côi bé nhỏ nhưng

nhấc được hòn đá mà dân bản coi là linh thiêng trước đó không ai nhấc được.

Ông Pành đã tám mươi tuổi nhưng yêu say đắm và muốn cưới cô gái trẻ về

làm vợ, khi bắt gặp tình yêu bỗng dưng có sức mạnh phi thường: leo lên đỉnh

núi cao để đắn ngã cây cổ thụ. Rõ ràng huyền thoại trong truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp có nguồn gốc từ huyền thoại dân gian nhưng nó hoàn toàn

không phải là huyền thoại dân gian, mà là sự sáng tạo dựa trên cơ sở huyền

thoại dân gian.

Nguyễn Huy Thiệp sử dụng các yếu tố “nhại cổ tích”, “nhại lịch sử” là

một thủ pháp nghệ thuật nhằm phủ lên các mối quan hệ của đời sống một màn

sương, làm lung linh bức tranh nghệ thuật trong tác phẩm, tạo hứng thú cho

người đọc. “Cái màn sương huyền thoại ấy muốn thể hiện rằng, quan hệ giữa

con người với tự nhiên, với xã hội, với chính bản thân nó không dễ gì nắm

bắt. Thế giới con người với những quan hệ vật chất, về tinh thần thật huyền

diệu. Với quá khứ, nó bị lớp bụi thời gian che phủ. Với hiện tại, quan hệ đó

đan xen, khúc xạ với nhiều hình thái, nhiều dáng vẻ” [24, tr. 161].

“Huyền thoại có thể trần tục hóa những thần thánh danh nhân lịch sử,

gỡ bỏ vầng hào quang, giản đơn hóa những ngôi sao có khi đã được chiếu

sáng nhân tạo, đưa các ngài từ đỉnh cao xuống đồng bằng sống với người hai

97

bữa cơm chay gạo. Rồi phải đối phó với những nhức nhối, phải giải quyết

những nát lòng, tục lụy. Nơi không còn cho những chỗ đứng chân lí muôn

đời, khuôn mẫu duy lí, cái phải đi lên, đi thẳng” [39, tr. 370].

Nguyễn Huy Thiệp huyền thoại hóa một số nhân vật và đề tài lịch sử.

Huyền thoại cảm nhận lịch sử khác đi, đương đại hóa cái quá vãng hay được

đặc lên bệ thờ, đúc tượng khắp công viên. Trong truyện ngắn Kiếm sắc,

Nguyễn Huy Thiệp đem Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh ra khỏi sách sử.

Nhiều chi tiết nhuốm màu huyền hoặc như: Nguyễn Ánh đã sai đao phủ dùng

thanh kiếm gia truyền của Lân để chém đầu Lân “khi chém đầu, máu phun ra

không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”. Vua Gia Long vào

sâu trong đất Thuận Quảng, xuất quỷ nhập thần. Người Đàng Trong sợ ánh

hơn là thích Ánh. “Ánh đi đến đâu nghe nói cũng có mây đen cuồn cuồn bay

đằng trước, dân cứ thấy có mưa là biết Ánh đi qua”. Câu chuyện về Đặng

Phú Lân dùng đá ném vịt trời để nhử cá sấu, cứu sống, cứu thuyền chở

Nguyễn Ánh ra khỏi cơn nguy hiểm. Qua nhân vật Đặng Phú Lân, ông viết về

họ như được nghe dân dã nói về họ. Huyền thoại theo nghĩa đồn đại, ghi nhận

bởi tứ phương thiên hạ” [39, tr. 33]. “Phẩm tiết với hình tượng Vinh Hoa

hiện thân của cái đẹp tuyệt đối. “Khi đẻ ra Vinh Hoa, trên nóc nhà bỗng có

đám mây ngữ sắc bay đến, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, khắp nơi hương thơm

ngào ngạt. Trên cổ Vinh Hoa có tràng quấn cổ, xòe lòng bàn tay ra, thấy có

viên ngọc ở trong, trên khắc hai chữ “thiên mệnh”. Khải dựng tóc gáy, lập

bàn thờ tạ trời đất” [39, tr.373].

Cả vua Gia Long và Nguyễn Huệ đều muốn có được Vinh Hoa nhưng

không được. Ở đây phẩm tiết của nàng Vinh Hoa chỉ là huyền thoại. Nguyễn

Huy Thiệp là nhà văn thích khám phá những mặt giả tạo của con người để

con người bớt đạo đức giả, sống thật hơn như Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc

Ánh.

98

Dù gì đi nữa, đọng lại từ những trang văn thấm đẫm huyền thoại là một

tấm lòng tha thiết với đời, một trái tim luôn nóng hổi với con người. Tình yêu

cuộc sống, tình yêu đồng loại và khát khao những điều tốt đẹp cho con người

là tinh thần bao trùm lên tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp.

3.2.2. Xây dựng nhân vật theo hướng dị dạng

Nhân vật dị dạng không phải chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong văn học

sau năm 1975 mà nó đã xuất hiện trước đó ở phương Tây, tiêu biểu là tác

phẩm Hóa thân của Kapka, ra đời năm 1912.

Ở một số truyện của Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy xuất hiện một số nhân

vật không bình thường, bị biến dạng cơ thể hay một phần cơ thể. Đó là: cô gái

dở hơi – Lài trong Tướng về hưu, những con khỉ trong Muối của rừng, chú

em út suốt ngày bò lê và lau nhà trong Không có vua, lão già bại liệt trong

truyện Con gái thủy thần (“Lão già nhổm lên, tôi kinh hoàng thấy lão già

chẳng khác gì ma quỷ, râu tóc lởm chởm, đôi mắt đục ngàu. Tôi đoán lão già

bị liệt, hai chân teo lại. Lông chân trông như lông lợn. Tôi chào lão, ngạc

nhiên thấy lão anh minh lạ thường, nói năng rành rọt”), chàng Khó trong

Trái tim hổ, (“hai tay dài chấm đàu gối, hai chân khẳng khiu, lúc nào đi cũng

như chạy”). Bên cạnh những người bình thường họ bị coi là dị dạng. Nhưng

những nhân vật dị dạng này nhiều khi làm nên điểm sáng nhân hậu, trí tuệ anh

minh của tác phẩm. Hành động của con khỉ trong Muối của rừng làm cho ông

Diểu nhận ra hành động của mình thật vô nghĩa biết bao. Khi đi săn, ông bắn

bị thương con khỉ đực. Ông đang định mang con khỉ về nhà, thì đúng lúc đó

con khỉ cái trở lại – bất chấp mọi nguy hiểm để giải thoát cho con khỉ đực. Nó

“lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực rất nhanh

và khéo, cả hai cùng lăn tròn trên đất”, “hai con khỉ vừa chạy vừa dìu lấy

nhau”. Con khỉ con “túm lấy dây súng của ông kéo lê trên đất”, như thu hút

99

sự chú ý của ông để cho bố mẹ chúng trốn thoát. Nó bị lăn xuống vực, tiếng

rú thê thảm của nó làm cho ông kinh hoàng, bỏ chạy “như ma đuổi”. Khi

bình tâm lại, ông tiếp tục đuổi theo con khỉ đực lúc này đã bị thương nặng ở

vai. Nhưng những gì vừa xảy ra, cùng với ánh mắt “đờ dại nhìn ông cầu

khẩn. Ông bỗng thấy thương hại”. Như một hàng động vô thức, “ông Diểu vơ

lấy một nắm cỏ Lào vò nát. Ông cho vào miệng nhai kĩ. Ông đắp nắm lá vào

miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó”. Khi tránh

ánh mắt “ươn ướt” như biết ơn của con khỉ, cũng là lúc ông đối diện với tội

ác của chính mình, hối hận với việc làm mà mình đã gây ra cho con khỉ (“Thà

mày chống cự thì tốt cho tao”). Ông quyết định thả con khỉ về rừng với lời

tuyên bố: “Thôi tao phóng sinh cho mày” chính là một sự chuộc lỗi. Ông

Diểu dường như không còn gì, khẩu súng mất, trang phục không còn, ông cứ

mình trần thân trụi đi giữa thiên nhiên, giữa trời đất. Nhưng cái ông được lớn

nhất là đã giải phóng ra khỏi những xấu xa, tội lỗi. Hành động đi tìm và giết

hổ của chàng Khó (Trái tim hổ) làm cho mọi người không chỉ ngạc nhiên về

sự gan dạ mà còn hiểu được tình cảm chân thành mà Khó dành cho Pùa –

cũng là một người khuyết tật như chàng.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn có những chi tiết rất kì

lạ. Nhân vật Đặng Phú Lân trong Kiếm sắc khi bị chém đầu, “máu phun ra

không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”. Ngón tay của Ngô

Thị Vinh Hoa trong Phẩm tiết, khi chạm vào mắt của Nguyễn Huệ, ngón tay

hiện lên một vết chàm.

Có ý kiến cho rằng, những nhân vật dị dạng trong truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp như là sự tái hiện hình ảnh tàn phế sau các cuộc chiến:

Cún trong truyện cùng tên, Trùm Thịnh trong Chảy đi sông ơi, một

Hoạt trong Mưa Nhã Nam... Tất cả những nhân vật ấy luôn gợi nhớ kí ức về

cuộc chiến như một chấn thương vĩ đại, sẽ không bao giờ liền miệng của cả

100

một dân tộc. Thậm chí, Ngọc, một nhân vật có cái tên rất đẹp, là một sinh

viên đại học, rất thư sinh, cũng phải mất đi một ngón chân, mà lại bằng dao

của ngững người “kéo cưa lừa xẻ”. Tính chất khốc liệt nằm ngay trong hình

ảnh chiếc búa nện xuống sống dao, và lưỡi dao bập xuống khiến ngón chân

hoại thư văng ra và Ngọc rú lên đau đớn.

Ở Nguyễn Huy Thiệp, “việc đẩy huyền thoại lên thành cảm hứng trùm

phủ giọng điệu văn chương đã mặc nhiên đưa tác giả vào tình thế lưỡng nan

của việc có trong tay một con dao hai lưỡi…Và cũng chính nó, đôi khi làm

tác giả “đứt tay” bởi sự quá đà, bởi cảm hứng huyền thoại nhiều phen bóp

méo nhân vật đến thành dị dạng” [59, tr.88-89].

3.3. Kết cấu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

Mỗi nhà văn khi sáng tạo tác phẩm ngoài việc nhào nặn vốn sống để

tạo dựng nên những sinh mệnh nghệ thuật – tái hiện bức tranh đời sống khái

quát, còn phải lựa chọn cách kết cấu tác phẩm phù hợp. Nguyễn Huy Thiệp

cũng đã lựa chọn những cách kết cấu phù hợp với quan niệm nghệ thuật của

mình.

Cấu trúc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dường như còn rất ít bóng

dáng của cái kết cấu chặt chẽ, khuôn mẫu của truyện ngắn cổ điển. Nhà văn

Sêkhov nói: “Theo tôi, viết truyện ngắn cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và

kết luận” [39, tr.138]. Hoan Bô-sơ: “Truyện ngắn hay như là một thứ quả

nhiều vỏ, luôn luôn làm cho những đứa trẻ háu ăn bị nhỡ tàu” [39, tr.138].

Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không có kết cấu như vậy, nó có kết cấu

như kết cấu của tiểu thuyết, nó lỏng lẻo như chính cái lỏng lẻo của cuộc sống.

Chúng phản ánh được cái không khí của thời hiện đại này: sôi nổi, nhiều

thông tin, đan xen nhau.

101

3.3.1. Kết cấu đan xen

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã đan lồng vào những trang viết về cuộc

sống những nhận xét, đánh giá, những suy ngẫm về cuộc đời để thấy rằng cuộc

sống con người không chỉ sinh động như tự nó vốn có, mà trong tác phẩm nó

muôn màu muôn sắc trong cách nhìn, cách cảm rất riêng của nhà văn. Trong

truyện Chảy đi sông ơi, nhân vật “tôi” khi “cắn chặt răng để khỏi òa khóc” và

ngẫm nghĩ: “Nước chảy rất xiết, tôi bỗng hiểu ra nước chảy bao giờ cũng xiết,

có điều phải cố mà bơi cho đến được bờ”. Trong Nạn dịch (Những ngọn gió

Hua Tát) có đoạn: “Người ta đổ ộc vào miệng những đứa trẻ con đang bú sữa

mẹ hàng bát những thứ nước ấy. Chúng khóc thét lên vì gan ruột cào xé. Có hề

gì, đằng nào thì sống ở đời gan ruột chẳng phải cào xé nhiều lần”.

Cùng với việc để cho nhân vật ngẫm nghĩ, rút ra những bài học cho bản

thân, tác giả đưa ra triết lí về cuộc sống, về đời tư thông qua số phận của nhân

vật. Chẳng hạn như: “Tôi bảo: “Chỉ có nỗi buồn là vĩnh cửu”. Cô Phượng

bảo: “Có thể... nhưng anh đừng khẳng định...” (Con gái thủy thần). Cha tôi

bảo: “Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình”. Tôi bảo:

“Không phải, cuộc đời nhiều trò đùa lắm”. Cha tôi bảo: “Anh cho là trò đùa

à?” Tôi bảo: “Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải là nghiêm trọng”.

“Cô Lài òa khóc: “Cháu xấu xí lắm. Lại cả tin nữa”. Cha tôi nghẹn ngào:

“Con ơi, con không hiểu rằng, cả tin chính là sức mạnh để sống hả con”

(Tướng về hưu). Còn chị Thục, một giáo viên cấp hai: “Nghĩa tình chuộc lại

nghĩa tình. Vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống giữa bùn, chẳng

sợ không xứng là người” (Những người thợ xẻ). Thầy giáo Triệu khi nói

chuyện với Hiếu: “Chú không chống nổi sự ngu dốt của bọn có học đâu. Tôi

đây này, tôi hiểu sâu sắc sự ngu dốt của bọn có học tai hại như thế nào, vừa

phản động, nó vừa nguy hiểm, lại vừa mất dạy”. Hay ở một đoạn khác: “Anh

Triệu cười: Chú có biết hoa này không?” Tôi lắc đầu. Anh Triệu bảo: “Hoa

102

này lạ lắm, (...) Nó có cái lạ là cứ để yên thì chẳng làm sao, nhưng hễ đụng đến

là thơm lựng lên. Người ta đặt tên là hoa cỏ đĩ. Y hệt đàn bà, để yên thì hạnh

kiểm phi thường, đụng vào tan nát như chơi, đầu tiên nát tiền, đến nát tâm hồn,

rồi tan gia đình, tan cơ nghiệp”. Tôi cười: “Anh có vợ chưa?” Anh Triệu bảo:

“Chưa. Vợ người thì đẹp. Vợ mình lại tử tế. Khốn thế!” (Những bài học nông

thôn). Chị Hiên – một cô gái có chồng và sống ở nông thôn nhưng có cũng bộc

lộ suy nghĩ trong cuộc sống: “Sao đàn bà cứ phải lấy chồng. Như tôi đây,

chồng đi xa, lấy chồng cũng như không. Hiếu bảo lấy chồng mà bỏ chồng có

tốt không?” Có lúc chị cũng triết lí: “Nứa trôi sông không dập cũng gãy. Gái

chê chồng không chứng nọ cũng tật kia…Thế là đàn bà không ra gì. Nhưng đàn

ông nhiều người cũng không ra gì. Lấy chồng phải anh nghèo, bất tài mà lại

cao thượng thì hãi lắm. Nó làm tan nát đời người đàn bà như bỡn”. Trong Trái

tim hổ (Những ngọn gió Hua Tát) có đoạn triết lí: “Tin đồn bao giờ cũng thế,

qua miệng những kẻ ngu dốt thì quái lạ thay, thường thú vị hơn qua miệng

những người từng trải”, “Đời người ta, ai đã chẳng từng săn đuổi bao nhiêu

điều phù du?”

3.3.2 Kết cấu mở

Truyện của Nguyễn Huy Thiệp thường có những kết thúc hay, những

kết thúc mang lại cho người đọc một tình cảm bâng khuâng kỳ lạ. Nếu trong

văn xuôi truyền thống, người đọc quen với những kết thúc khép kín, kết thúc

có hậu, giải quyết hoàn tất các vấn đề, nghĩa là ở đó câu chuyện không còn

mở ra hướng khác thì ở truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp điều này hoàn

toàn có thể xảy ra, không tuân thủ theo nguyên tắc kết cấu truyền thống. Ông

đã sáng tạo ra nhiều kiểu kết thúc không khép kín như: kết thúc bỏ lửng, kết

thúc với nhân vật chính tiếp tục ra đi, kết thúc mở ra nhiều kiểu khác nhau

103

trong việc giải quyết xung đột, kết thúc đảo ngược so với cổ tích và thực tế

lịch sử.

Cũng giống như một số nhà văn hiện thực khác của giai đoạn trước

năm 1945 như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Minh Châu…. Nguyễn Huy

Thiệp đã sử dụng kiểu kết thúc bỏ lửng, không có kết thúc rành mạch theo

những giải pháp dễ dãi. Ông đưa ra những giả định có thể như thế này, có thể

như thế kia, để người đọc suy nghĩ tìm ra lối kết thúc của riêng mình. Điều đó

thể hiện qua cá tác phẩm Không có vua, Con gái thủy thần, Sống dễ lắm,

Những người thợ xẻ, Chăn trâu cắt cỏ, Vàng lửa…

Trong truyện Không có vua, kết thúc tác phẩm là hình ảnh ngày

thường. Trong cuộc sống ngày thường với biết bao nhiêu điều xảy ra không ai

biết trước được. Cuộc sống ngày thường của gia đình lão Kiền với bao nỗi

cay đắng xót xa, với những bộ mặt lầm lì cau có, những câu chửi tục tĩu,

những toan tính không khi nào lệch ra khỏi vấn đề tiền bạc của anh em, cha

con trong nhà. Và rốt cuộc, cuộc sống của gia đình họ sẽ như thế nào? Đoài

có buông tha cho Sinh, có còn tán tỉnh, ý định đuổi anh để chiếm chị dâu hay

không? Cuộc đời Khảm, Khiêm và Tốn sẽ như thế nào? Không ai biết trước

được và người đọc băn khoăn với kiểu kết thúc bỏ lửng như vậy của tác

phẩm.

Trong truyện Những người thợ xẻ, kết thúc tác phẩm là câu nói của

Chương: “Sau lần ấy số phận đẩy tôi sang bước ngoặc khác, tôi không đi xẻ

gỗ nữa, chuyển sang làm việc khác”. Người đọc cũng không biết anh có tốt

nghiệp đại học không? Chương chuyển sang làm việc khác là việc gì? Và việc

đó có làm cho Chương không phải gặp những con người thô tục như Bường,

có vơi đi nỗi cô đơn trong con người anh?

Trong Chăn trâu cắt cỏ, kết thúc tác phẩm là điều day dứt trong lòng

của Năng. “Năng thấy lòng mình trống rỗng. Năng dắt trâu ra bãi cỏ ven đê

104

rồi nằm dài xuống vạt cỏ mềm…Nhìn lên trời cao, Năng không biết mình

đang ở đâu? Con trâu gặm cỏ bên cạnh, nhẫn nại bình thản. Nó đang nghĩ

gì? Nó đang ở đâu?”

Đoạn kết trong truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp tạo ra

khoảng trống. Người viết truyện với lí do không biết kết thúc như thế nào mặc

dù đã cố gắng “cất công đi tìm thư tịch cổ và hỏi han nhiều bô lão”, nhưng

đều vô nghĩa nên hiến bạn đọc ba đoạn kết của câu chuyện, “để bạn đọc tùy ý

lựa chọn”:

Đoạn một: Đoàn tìm vàng còn sót lại ba người trong đó có Phăng.

Phăng được cử trông coi việc khai thác này. Vua ban cho Phăng món chim

hầm bát bảo nấu rất công phu. Phăng đã chết khi ăn món đó.

Đoạn hai: Đoàn tìm vàng còn sót lại mỗi mình Phăng. Trở về kinh,

Phăng được vua ban thưởng rất hậu hĩnh. Phăng trở về Pháp mang theo một

người vợ An Nam, lập một ngân hàng và sống sung sướng đến già.

Đoạn ba: Tất cả đoàn tìm vàng đều bị lính triều đình giết chết. Mỏ vàng

sau được giao cho người trong hoàng tộc khai thác, quản lí.

Như vậy với ba đoạn kết thúc, độc giả không chỉ trở thành kẻ đồng

sáng tạo, tìm ra “đường đi nước bước” của nhân vật, mà còn có thể nhìn nhận

về nhân vật, sự kiện ở ba điểm khác nhau, tự giải mã các vấn đề. Trong đoạn

kết một, Phăng bị vua Gia Long đầu độc. Ở đây Phăng là một nhà tư tưởng.

Phăng ghi chép lại: “tất cả những cố gắng của con người hướng về điều thiện

đều là những cố gắng đau đớn, nhọc lòng. Điều thiện hiếm như vàng và sau

đó phải được vàng đảm bảo mới có giá trị thực” (Vàng lửa). Ở đoạn kết hai,

Phăng được vua thưởng hậu hĩnh. Phăng hiện lên là một tên thực dân đi ăn

cắp ở những nước thuộc địa. Đoạn kết ba, Phăng đã sai khi nghĩ rằng mình đã

hiểu về con người An Nam, nhất là vua Gia Long. Thực tế phủ phàng đã dội

105

vào Phăng một đòn chí mạng, tất cả đoàn đào vàng đều bị lính triều đình giết

chết bởi lệnh của vua Gia Long.

Kết thúc tác phẩm, Nguyễn Huy Thiệp có khuynh hướng không khép

kín mạch truyện, ngược lại còn chủ ý mở ra những miền đất bát ngát mơ hồ,

nhân vật chính tiếp tục ra đi (Con gái thủy thần, Chảy đi ông ơi). Con gái

thủy thần là truyện kết thúc không có hậu, hiểu theo nghĩa không có hạnh

phúc và không đóng kín câu chuyện lại. Nhân vật Chương đi tìm con gái thủy

thần nhưng không tìm được, cuộc đời Chương vẫn cứ mãi trôi theo dòng

sông, vẫn cứ đi để tìm con gái thủy thần. “Tôi cứ đi, đi mãi…Trước mặt tôi là

dòng sông thao thiết. Sông chảy ra biển, biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết

biển… Tôi chưa biết biển. Mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đấy. Chỉ vài năm nữa

đến năm hai ngàn”.

Trong truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng kết thúc đảo

ngược so với thực tế lịch sử. Cuộc đời, hình ảnh nhân vật Trương Chi khác

với hình ảnh Trương Chi trong văn học dân gian. Trương Chi trong truyện

của Nguyễn Huy Thiệp lúc nào cũng mang vẻ thách thức với cuộc đời, lúc

nào cũng văng tục “cứt”, theo đuổi những điều cao cả hơn tình yêu. Chàng

Trương Chi cổ tích với giọng hát du dương ngọt ngào, làm say đắm lòng

người. Chàng Trương Chi hiện đại chỉ hát toàn “ấy a” với lại “huầy dô” ca

ngợi công danh tiền bạc một cách thô bỉ. Cách kết thúc của hai câu chuyện

cũng trái ngược nhau. Trong câu chuyện cổ, khi kết thúc là câu hát:

“Kiếp này đã dở dang nhau

Thì xin kiếp khác duyên sau lại thành”

Trương Chi đã trầm mình xuống sông. Hồn chàng nhập vào thân cây

bạch đàn. Người ta lấy gỗ sây bạch đàn làm thành bộ chén dâng vua. Khi rót

nước, Mị Nương thấy hình ảnh Trương Chi trong chén. Giọt nước mắt nàng

lăn xuống, chén bạch đàn vỡ tan”. Ở đây, hai người dù không đến được với

106

nhau nhưng đã có sự đồng cảm. Nguyễn Huy Thiệp lại có kết thúc khác, hai

nhân vật không có mối đồng cảm với nhau. Ông viết: “Tôi - người viết truyện

ngắn này - căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy. Quả thực, cái kết

thúc ấy là tuyệt diệu và cảm động, trí tuệ dân gian đã nhọc lòng làm hết sức

mình. Còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đấy là bí mật của riêng tôi. Tôi biết

giây phút cuối đời Trương Chi cũng sẽ văng tục. Nhưng đấy không phải là lỗi

của chàng. Mị Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc. Điều ấy vừa

tàn nhẫn, vừa phi lí. Lẽ đời là thế”. Nguyễn Huy Thiệp muốn làm thay đổi

cách cảm thụ quen thuộc của người đọc để đưa đến có cách suy nghĩ khác hơn

vể số phận con người.

Trong những câu chuyện được bao phủ bởi một không khí cổ tích –

chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát cách kết thúc tác phẩm cũng rất hiện

đại. Những điểm mốc quan trọng của truyện, của cuộc đời các nhân vật được

gọi là “thời điểm may mắn”. Điều này khá giống với truyện cổ tích. Nhưng

trong truyện cổ tích, thời điểm may mắn luôn đến đúng vào lúc nhân vật bị bế

tắc và nó giúp nhân vật được đổi đời, truyện kết thúc có hậu. Nhưng

trong Những ngọn gió Hua Tát, chỉ có ba truyện có cách kết thúc có hậu. Đó

là Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ quên, Nàng Sinh. Còn lại đều có kết

cục bi thảm.

Trong các truyện Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ quên, Nàng Sinh

thường khởi đầu bằng một sự không bình thường nhưng kết thúc có hậu.

Trong Tiệc xòe vui nhất đó là mô típ thi kén rễ giữa một số người hy vọng lấy

được người đẹp Hà Thị E. Các đoạn mô tả về việc thực hiện lời thử thách của

những người cầu hôn gần giống truyện cổ tích. Hặc - chàng trai mồ côi, người

thợ săn xuất sắc nhất bản - là người trung thực, nên đã được Then giúp đỡ,

cho mưa xuống đúng như yêu cầu của thử thách của bô lão trong bản. Hặc

cưới được con gái trưởng bản. Cả bản mở tiệc vui mừng và say khướt. Trong

107

Nàng Sinh, Sinh là một cô gái thô kệch, dị dạng, mồ côi. Người trong bản

dường như ít ai để ý đến sự có mặt của cô. Nhưng khi cô nhấc được hòn đá

trong miếu, nàng trở nên xinh đẹp và có cuộc sống sung sướng. Trong truyện

Chiếc tù và bị bỏ quên, chiếc tù và cũng bình thường, thậm chí xấu xí, kêu

không được to. Nó bị mọi người bỏ trên gác xép. Nhưng trong lúc mọi người

trong bản dọn nhà đi vì không thể diệt được nạn dịch sâu đen, con trai trưởng

bản đã đem tù và ra thổi, những co sâu biến mất và họ trở lại cuộc sống bình

thường.

Trong tất cả các truyện còn lại, sự may mắn trở thành tai họa đối với

các nhân vật và thường dẫn đến cái chết. Chàng Khó trong Trái tim hổ giết

được con hổ nhưng chính anh cũng bỏ mạng. Anh bị rơi xuống vực sâu cùng

con hổ, bị gãy lưng, mặt mày bị trầy xước. Trái tim con vật đã bị kẻ nào đó

đánh cắp. Nàng Bua trong truyện cùng tên là một người đàn bà nghèo với

chín đứa con không cha. Khi đào được hủ vàng phút chốc, nàng trở nên giàu

có và được mọi người quý mến. Nàng lấy chồng. “Đáng lẽ ra, Bua sẽ sinh

với người chồng được thừa nhận của mình một đứa con nữa, đứa con thứ

mười, nhưng người đàn bà ấy không quen sinh nở trong sự đầy đủ và nề nếp

cổ truyền. Nàng đã chết khi trở dạ, đẻ giữa đống mền chăn ấm áp”. Người

thợ săn già trong Con thú lớn nhất nhầm lẫn vợ mình với con công mà ông

giết chết vợ. Ông đã tự sát, tự giết con thú lớn nhất trong cuộc đời. Lù trong

Nạn dịch đã dùng hết một tay nải bạc hoa xòe để cứu vợ nhưng cuối cùng cả

ông và vợ cùng chết. Lão thợ săn giỏi Hoàng Văn Nhâm là một thợ săn giỏi,

giết được con hổ mẹ, nhưng đứa con lão bị chết thảm thương dưới miệng con

hổ con. Từ đây, Nguyễn Huy Thiệp muốn nói với chúng ta rằng, kết thúc có

hậu chỉ có trong truyện cổ tích. Còn trong cuộc đời thực hiếm hoặc không có

chỗ cho nó. Như vậy, sử dụng yếu tố huyền thoại, nhà văn như muốn khẳng

định hơn tính hiện thực nghiệt ngã của cuộc đời. Ánh mắt lạc quan tin tưởng

108

của người xưa khi nhìn vào thế giới trong cổ tích giờ trở nên bi quan khi nhìn

vào cuộc đời thực tại. Cuộc đời thực tại còn quá nhiều điều bí ẩn, những điều

con người chưa thể biết trước, kể cả những điều bất trắc. Nó là một khả năng

có thể đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc nhưng cũng có khi là nỗi

khổ đau, niềm bất hạnh, thậm chí là những bi kịch.

Nguyễn Huy Thiệp “căm thù sâu sắc những kết thúc truyền thống”

(Trương Chi), hay chính xác hơn, ông căm thù tất cả những bức màn mà thói

đạo đức giả đã căng ra trước mắt con người, không cho họ nhìn thẳng vào sự

thật. Hiếm có nhà văn nào có giọng điệu rẻ rúng văn chương như ông. Nhưng

thật ra đó là sự tức giận cần thiết của người cầm bút có cái tâm. Chính vì vậy,

ông “sợ nhất những kẻ mơ mộng bất tài….bọn nho giả và bọn tập tọng làm

văn chương” cũng như “ông khinh những kẻ không dám sống thực, không

dám lặn sâu xuống đáy cuộc đời. Ông cũng khinh cả những kẻ lặn mình

xuống đáy rồi ngập ở đấy không ra được” (Thoáng chút Xuân Hương).

Như vậy, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng đa dạng các hình thức kết cấu,

mục đích cuối cùng là để phát huy tối đa khả năng khám phá thế giới hiện

thực, khám phá thế giới tâm hồn đầy phức tạp, bí ẩn của con người.

3.4. Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại

Ngôn ngữ, một mặt là sản phẩm của xã hội và lịch sử, mặt khác là

phương diện đầy đủ nhất để từng cá nhân nói lên tâm tư của mình. Trong

truyện của Nguyễn Huy Thiệp một trong những điểm nổi bật là ngôn ngữ đối

thoại và ngôn ngữ độc thoại.

3.4.1. Ngôn ngữ đối thoại

Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta thấy một trong

những điểm gây ấn tượng mạnh là ngôn ngữ đối thoại diễn ra giữa những cặp

109

trao đáp cha - con, anh - em, vợ - chồng, đàn ông - đàn bà, nhà giáo - nhà sư,

nhà giáo - nhà văn, nhà văn - nhà chính trị, người trí thức - người lao động

chân tay, người trưởng thành, từng trải - người trẻ tuổi, ngây thơ. Ngôn ngữ

đối thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp linh hoạt, sắc gọn, nhưng

giàu tính hành động, bộc lộ cá tính. Lời phát ngôn nào cũng thể hiện một đặc

điểm tính cách cụ thể. Nguyễn Huy Thiệp sử dụng khá nhiều ngôn ngữ đối

thoại để bộc lộ cách nhìn của tác giả về nhân vật. Kiểu ngôn ngữ đối thoại

không chỉ có trong tác phẩm Tướng về hưu mà còn có trong những truyện

ngắn về sau của Nguyễn Huy Thiệp như: Không có vua, Con gái thủy thần,

Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ, Giọt máu”…

Thông thường, nhân vật tham gia đối thoại có khoảng cách về mặt tôn

ti, địa vị xã hội, tầng lớp xuất thân. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã xoá bỏ

khoảng cách này khi nhà văn đẩy các nhân vật của ông vào những không gian

chật hẹp trong những khoảnh khắc thời gian ngắn ngủi, gắn liền với những

cảnh huống trớ trêu. Trong bối cảnh ấy, các nhân vật bị tước bỏ vị thế xã hội.

Khoảng cách tôn ti cha – con, vợ - chồng, anh - em, già – trẻ... bị đảo lộn. Câu

văn dài trong truyện rất hiếm. Những câu thoại đều là những câu đơn trong đó

phần nhiều là những câu đơn đặc biệt, thiếu đầu thiếu đuôi, có khi giản lược

đến mức tối đa. “Tôi hỏi: “Chuẩn bị à? Vợ tôi bảo “Không”….Vợ tôi hỏi:

“Mấy cân gạo hả chú?” Ông Bổng bảo: “Mẹ mày, sao hôm nay cứ ngọt xớt

thế? Ba cân”! Vợ tôi bảo tôi: “Họ hàng nhà anh kinh bỏ mẹ” (Tướng về

hưu). Với kiểu nói năng đối đáp như thế, tác giả đã tước sạch mọi ý thức giao

tiếp, vị thế giao tiếp của nhân vật. Người nói không ý thức về vai của mình và

cũng không ý thức vai của người đối thoại. Điều đó, giúp cho nhà văn có thể

phơi bày sự thật trong hiện thực cuộc đời.

Trong văn xuôi, bước đổi thay của ngôn ngữ lúc đầu gắn với nhu cầu

“được nói thật”. Sự cổ vũ của Đảng “nhìn thẳng và nói thật” cho phép nhiều

110

tác phẩm chống tiêu cực ra đời. Ngôn ngữ văn xuôi bắt đầu bớt đi vẻ trang

trọng, ít du dương, ít rào đón mà gần gũi với đời thường, chân thật trong

giọng điệu, thô nhám trong từ ngữ. Đối thoại không chỉ nói lên thông tin mà

còn vẽ nên chính diện mạo tâm lí bên trong nhân vật. Thông qua đối thoại,

tính cách của các nhân vật và bản chất các mối quan hệ được thể hiện....Qua

lời thoại, nhân vật tự lột mặt người khác và tự lột mặt mình. Trong Tướng về

hưu có nhiều nhân vật thực dụng, khéo hoạt, nhưng chưa phải là kẻ ác. Thủy

tính toán, thực tế, rạch ròi nhưng cũng có lúc ngôn ngữ của Thủy trong một

bữa cơm gia đình rất nhẹ nhàng: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả.

Thôi, ăn đi. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm

sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết”. Ông Bổng phu xe, con người thô tục, tưởng

chừng như chai lì, việc bộc lộ những gì ẩn kín bên trong thật không dễ.

Nhưng trước tình cảnh chị dâu đang hấp hối, lão đã bộc lộ con người mình

qua một đoạn đối thoại sau: “Ông nói: “Bà ấy cứ xoay ngang xoay dọc trên

giường thế này là gay go đấy”. Lại hỏi: “Chị ơi, chị nhận ra em không?” Mẹ

tôi bảo: “có”. Lại hỏi: “Thế em là ai? Mẹ tôi bảo: “Là người”… Lần đầu

tiên cái ông chú đánh xe bò lỗ mãng, táo tợn làm đủ mọi điều phi nhân bất

nghĩa hóa thành đứa trẻ trước mắt tôi”. Thuần nhu nhược, yếu hèn lộ rõ

trong những lời thoại. Sự đốn mạt của Đoài, sự khờ khạo ngờ nghệch của

Cấn, sự a dua của Khảm... hiện lên sắc nét: “Đoài bảo: “Tôi nghĩ bố già rồi,

mổ cũng thế, cứ để chết là hơn”. Tốn khóc hu hu. Cấn hỏi: “Ý chú Khảm thế

nào?” Khảm bảo: “Các anh thế nào thì em thế”. Cấn hỏi: “Chú Khiêm sao

im thế”. Khiêm hỏi: “Anh định thế nào?” Cấn bảo: “Tôi đang nghĩ”. Đoài

bảo: “Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”

(Không có vua). Những cô con gái tên Phượng - một mảnh của Mẹ Cả, người

thì xốc nổi, bao dung; người dịu dàng, đằm thắm; người sắc xảo nhưng kẻ cả,

trịch thượng... không thể lẫn qua các diễn ngôn đối thoại (Con gái thủy thần).

111

Hình thức đối thoại này thể hiện nhiều nét quan trọng trong phong cách ngôn

ngữ của Nguyễn Huy Thiệp.

Trong những truyện như Tướng về hưu, Thương cả cho đời bạc, Mưa,

Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, nhà văn tạo ra những đối thoại rất ít ăn nhập

nhau, không tuân thủ một số nguyên tắc hội thoại, có sự phá vỡ tính logic của

cấu trúc lời thoại, với những cặp trao đáp khác thường, nội dung lời thoại và

giọng điệu đối thoại độc đáo và có sức hấp dẫn rất riêng... nhằm hướng tới thể

hiện kiểu con người phàm tục đời thường. Nó khơi động từ vô thức, tính chất

lo âu, bồn chồn, đầy bất an được tái hiện. Nó biểu hiện sâu sắc trạng thái cô

đơn của con người hiện đại. Nguyễn Huy Thiệp xây dựng những đối thoại mà

các tác nhân tham thoại trong khi đối thoại với nhau lại ruổi theo những suy

nghĩ của riêng mình. Càng đối thoại, con người lại càng cô đơn, mặc dù về

mặt hình thức, ta nhầm tưởng họ là tri âm tri kỷ.

Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp khi đối thoại bộc lộ mình một cách

không cần giấu diếm, thậm chí nhiều khi còn sống sượng. Trong đối thoại,

nhân vật của ông chẳng cần phải giữ thể diện hoặc duy trì thiện cảm trước

các nhân vật khác. Bằng những cách thức khác nhau, anh ta cố gắng “chỉnh”

lại hình ảnh của mình trong mắt người khác, định hướng lại cách nghĩ lâu nay

của người xung quanh về nhân cách của mình. Nhân vật không ngần ngại

“vạch áo cho người xem lưng”, không phải để cao ngạo hơn đời mà chỉ để

chứng minh mình là mình. Đoài, bà Lâm, giáo Chi, Phượng, Bường, Ngọc,

Phụng... là như thế. Đoài đốn mạt nhưng anh ta không đạo đức giả, không che

đậy bản chất của mình. Đó cũng là thái độ sống của ông giáo Quỳ. Biết vợ hai

phong tình, vẫn đi lại với nhiều đàn ông trong làng nhưng ông chỉ nói: “Cô

ngủ với ai thì nhớ đòi tiền, không có tiền thì lấy thóc hay lấy gà lợn thế vào

chứ đừng ngủ không” (Thương nhớ đồng quê). Đó là quan điểm sống của bà

Lâm: “Già quá hóa giặc cậu ạ. Sao mà tôi kinh tuổi già đến thế. Sáng nào tôi

112

cũng đi chùa, lạy Phật tổ Như Lai cho chết mà Ngài cứ lắc đầu, Ngài chưa

nhận. Chung quy vì tôi mải lam mải làm, đáng lẽ ngày xưa tôi phải chơi vung

tàn tán thì đâu đến nỗi. Ở làng những đứa con gái cùng lứa tuổi với tôi, đứa

nào hồi trẻ thập thành thì Ngài cho lên tiên sớm, chẳng phải đợi đến tuổi thất

thập, thế là sống cũng sướng mà chết cũng sướng. Còn tôi, cả đời chỉ biết mỗi

con buồi… mang tiếng thủy chung đức hạnh, chẳng biết báu cho ai, chỉ biết

về già sống lâu khổ con khổ cháu” (Bài học nông thôn).

Mặt khác, thông qua đối thoại, nhà văn gián tiếp thể hiện quan điểm

của mình đối với nhiều vấn đề nhức nhối khác đang bày ra ngổn ngang trong

hiện tại. Đó là thực trạng lối sống thực dụng đang lan tràn trong gia đình, xã

hội. Nó có nguy cơ biến những con người hết lòng vì Tổ quốc, vì con cái, vì

nghệ thuật và lý tưởng cao quý trở nên bất lực, lạc lõng, cô đơn. Nguyễn Huy

Thiệp còn góp phần “cảnh tỉnh” những nhận thức phiến diện về con người, về

vấn đề bạo lực, chiến tranh, tình yêu, hạnh phúc, về niềm tin (thần phật,

những lực lượng siêu nhiên)...

Nguyễn Huy Thiệp tạo nên những lịch sử giả, khi thì hướng về đời

sống thị thành qua các “huyền thoại phố phường”, khi thì tìm về “đồng quê”

để tìm hiểu các bài học nhưng đúng ra, Nguyễn Huy Thiệp đang nói đến thì

hiện tại, đến hôm nay. Ngay cả khi trở lại các truyền thuyết xa xưa, nhà văn

vẫn đang nói về thời mình, triết lý về thời mình, từ đó mở rộng đến những giá

trị vĩnh hằng bằng cái nhìn không né tránh hiện thực dù đó là thứ hiện thực

cay đắng nhất. Quan sát đoạn đối thoại sau trong Con gái thuỷ thần sẽ thấy:

“Cô Phượng bảo: “Anh là dân làm thuê, là dân da đen. Phải không nào?”

Tôi bảo: “Phải”. Cô Phượng bảo: “Như thế là anh không có gì cả. Anh là kẻ

yếu”. Tôi bảo: “Xin cô đừng sỉ nhục tôi”. Cô Phượng bảo: “Tôi không sỉ

nhục anh. Tôi chỉ nói ra sự thật. Anh không có của cải, không có sở hữu cá

nhân, anh không có quyền sĩ diện, không nên tự ái, không nên phản kháng”.

113

Nguyễn Huy Thiệp cũng không ít lần thể hiện những cuộc thoại có

sự tương tác trật khớp. Đó là đoạn đối thoại giữa ông Bình Chi và ông Phạm

Ngọc Gia. Ông Bình Chi nói: “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn

chương hành nghề kiếm sống. Có thứ văn chương sửa mình”. Ông Phạm

Ngọc Gia trả lời: “Tôi hiểu rồi. Tôi làm nghề đồ tể, tôi biết. Cũng như có thịt

mông, thịt thủ, thịt sấn, thịt dọi”. Ở đây, người nói và người nghe mặc dù ở

trong những vùng tri thức khác nhau nhưng lại có thể thấu hiểu nhau dựa vào

những lẽ thường của đời sống.

Trong truyện ngắn Tướng về hưu Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng cách

viết: Không tách rời những đoạn đối thoại, không xuống hàng, kéo gạch để

làm nổi bật sự hiện diện của đối tượng, mà viết lời nói lẫn lộn với lời kể:

“Ông thợ mộc quát: “Sợ chúng ông ăn cắp gỗ à?” Ông Bổng hỏi: “Ván mấy

phân?” Tôi bảo: “Bốn phân”. “Cha tôi về, đồ đạc đơn sơ. Cha tôi khỏe. Ông

bảo: “Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo: “Vâng”. Cha tôi

cười”. Lối nói “cộc lốc”, sắc bén và hàm súc, câu văn ngắn gọn, dồn dập, hạn

chế tối đa các liên từ, nén năng lượng làm rung chuyển lối văn mực thước,

trang trọng, không vướng phải hai chấm xuống dòng, gạch ngang đầu dòng.

Ngòi bút tác giả này như không hề biết đến những gửi thưa kiểu cách, những

nghi thức nhiều khi rất nhiều khách sáo, mặc nhiên khẳng định tư thế bình

đẳng, dân chủ giữa con người với con người. Lối văn đó phù hợp với cái hiện

thực đời thường mà nhà văn muốn mô tả.

Lời thoại thường ngắn, có khi chỉ là những mẩu nhỏ và nhiều khi nó

khước từ cả những nguyên tắc của lí thuyết tương tác. Từ những cặp trao đáp

độc đáo này, Nguyễn Huy Thiệp “giải thiêng” một cách đầy trí tuệ đối với

những huyền thoại lâu nay vẫn tồn tại trong tâm thức cộng đồng. Đó là sự giải

thiêng huyền thoại về các vĩ nhân, là sự giải thiêng đối với những quan niệm

một chiều về giao lưu văn hoá, về sức mạnh của nền văn hoá Việt Nam, là sự

114

giải thiêng đối với các quan niệm ấu trĩ nhưng đầy quyền uy về văn học và

nhà văn đang kìm hãm sự phát triển lành mạnh của nền văn học nước nhà.

Bởi vậy, Nguyễn Huy Thiệp đôi khi gắn những phát ngôn tục tĩu vào miệng

những nhân vật không thể phát ngôn tục tĩu, gắn những lời lẽ thanh cao vào

miệng những nhân vật không thể nói những lời lẽ thanh cao, gắn những lời

minh triết vào phát ngôn của những khối óc rất bình thường, gắn những lời bỗ

bã cho những quan hệ tôn ti không thể sỗ sàng, bỗ bã.

3.4.2. Ngôn ngữ độc thoại

Độc thoại nội tâm đóng vai trò quan trọng trong cách thức diễn đạt,

giúp độc giả khám phá mạch ngầm của văn bản. Độc thoại nội tâm góp phần

cơi nới khuôn khổ truyện ngắn, đi sâu vào bản thể con người với những hồi

cố, tự bạch dòng ý thức…giúp con người bộc lộ chính mình ở khía cạnh con

người vô thức, con người tâm linh.

Bằng độc thoại nội tâm, tác giả đã diễn đạt những giằng xé, dằn vặt của

nhân vật trước biến cố cuộc đời, tạo nên giọng điệu thâm trầm sâu lắng.

Trong các tác phẩm độc thoại nội tâm như là sự giải tỏa tâm trạng, nhân vật

thường đặt câu hỏi cho chính bản thân mình: “Sao tôi thấy cô đơn và sợ cuộc

sống thế này” (Những bài học nông thôn).

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, ngoài ngôn ngữ đối thoại.

Ở một số tác phẩm, vẫn có những trang viết tinh tế đi sâu vào khám phá nội

tâm nhân vật bằng ngôn ngữ độc thoại. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu

biểu: Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Huyền thoại phố

phường, Những người thợ xẻ, Giọt máu, Thoáng chút Xuân Hương (truyện

thứ 2).

Trong Thương nhớ đồng quê, những dòng độc thoại nội tâm của nhân

vật “tôi” là những dòng suy tư, cảm xúc, quan sát về người thân trong gia

115

đình, về cuộc sống nghèo khó của làng quê nơi mình sinh ra và lớn lên. Nhâm

mười bảy tuổi, nhưng rất hay mơ mộng. Trong cuộc sống, Nhâm quan sát mọi

người xung quanh, hiểu khá rõ thói quen sinh hoạt của từng người: “mẹ tôi

vẫn hay chan cơm nước mưa với cà muối. Mẹ không ăn được thịt mỡ”. “Dì

Lưu nằm nghiêng tựa lưng vào tường. Lúc nào dì cũng nằm nghiêng như thế

đã sáu năm nay”. “Cái Mị cùng tuổi với cái Minh em tôi nhưng cái Mị trắng

hơn. Nó hay nói, hay làm nũng”. Có những dòng độc thoại nội tâm của nhân

vật xót xa, mặc cảm cho thân phận: “thân phận tôi, ở đâu người ta cũng nhận

là kẻ làm thuê, làm mướn”. Có lúc dòng tâm tư và nỗi lòng của nhân vật rất bí

hiểm, làm cho người đối diện không dễ gì hiểu được: “Tôi cười. Mẹ tôi chẳng

hiểu nụ cười của tôi đâu. Tôi cười như một tên thổ phỉ, cười như một gã nặc

nô, cười như một tên quỷ sứ cười móng tay chân mình sao lại đen dài như

thế”. Nhân vật tôi cũng trải qua đau đớn khi mất một người thân, một nỗi đau

tột bậc, khóc không thành tiếng: “Tôi đưa tay lên miệng để bịt âm thanh thổn

thức trong cổ cứ thế bật ra. Tôi thương em tôi quá. Rất đông những con ruồi

bu quanh hai lỗ mũi cái Minh, cái Mị”. Những khi không làm công việc đồng

áng, thế giới tâm hồn của Nhâm lại xao đồng, biết bao nhiêu suy tư trong tuôn

chảy trong đầu:

“Tôi nghĩ

Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ

Sự bất lực của hình thức biểu đạt

Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất

Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất

Bao tháng ngày trôi đi

Bao kiếp người trôi đi

Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được

Ai nhặt cho tôi buổi sáng mai này

116

Nhặt được ánh mặt hoang vắng trong mắt em gái tôi

Nhặt được niềm hy vọng hão huyền

trong lòng chị dâu tôi

Và nhặt được mùi vị nghèo nàn

Trên cánh đồng quê….”

Ở một chỗ khác, câu trả lời của Nhâm như nói với chính mình, đáp lại

câu trả lời của cô em họ từ thành phố về: “Anh có biết cánh đồng bắt đầu từ

đâu không?

Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu trong lòng tôi

Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng

Đứng nên ni đồng mênh mông bát ngát

Đứng bên tê đồng bát ngát mênh mông

Tôi làm sao quên được nơi mẹ tôi sinh ra”.

Trong truyện Những bài học nông thôn có những đoạn văn xuôi và thơ

dài thể hiện giọng nói bên trong của nhân vật. Cảm xúc của Ngọc về cảnh vật

làng quê khi lần đầu về nông thôn: “Mặt sông nhòa đi, bóng tối bắt đầu phủ

trùm cảnh vật. Tôi đi một mình trên con đường lạ vào thôn. Bóng tối nhập

nhoạng. Không gian tràn ngập một thứ tình cảm dịu dàng mà bí ẩn. Cây lòa

xòa bên đường. Tôi không xác định được thời gian sống hiện tại của mình.

Trong tôi không có hình ảnh nào về thành phố tôi hằng sống, thậm chí tôi

quên mất khuôn mặt thân yêu của bố mẹ tôi. Cả đến những chuyến tàu chở tôi

và Lâm từ thành phố về buổi sang nay nữa, tôi cũng quên biến. Thế mà đây là

lần đầu tiên tôi đi xa nhà… Quên cả chiếc diều”.

Thôi quên đi, quên đi…

Đêm xuống – cái cú xõa vĩ đại của thời gian

Xóa trước hết cái ngẫu nhiên sinh ra tôi

Xóa mối ràng buộc của tôi với đồ vật

117

Xóa tất cả những vô tích sự

và tủi hổ của một ngày trơ trẽn

Hãy xóa…hãy xóa đi

Hãy buộc lại những sợi dây trong tim

Bởi thế nào cũng phải phiêu du trong đêm

Trong giấc ngủ hồn phải lanh thang một mình”.

Hay một chỗ khác:

“Tôi biết từ nay tôi đã trở thành người lớn.

Vĩnh biệt nhé tuổi thơ

Tôi đã trưởng thành

Từ nay tôi phải gánh trách nhiệm với tôi, với mọi người

Tôi bắt đầu một chuỗi sơ suất liên tiếp nhau

Ôi tuổi thơ

Khi trong tôi là một khối nguyên dương

Tiền tài danh vọng luật pháp đều bay qua tôi

Trùm lên tôi là đôi cánh mỏng tang của mẹ”.

Trong truyện ngắn Mưa nhã nam kể về người anh hùng dân tộc Hoàng

Hoa Thám, độc thoại là những dòng suy ngẫm của nhân vật về đời người, về

chuyện “làm người khó lắm”. “Ông cho rằng buổi tiếp tân không quan trọng

gì và sự có mặt hay không có mặt của ông đều chứa những hiểm họa. Ông sẽ

mang tiếng hèn nhát, nếu từ chối. Ông sẽ thành lố bịch nếu ông có mặt. Thế

lố bịch hơn hay hèn nhát hơn? – Đề Thám tự hỏi – Thôi thì lố bịch còn hơn

hèn nhát!”

Trong truyện Con gái thủy thần, Chương bộc lộ những bí mật trong trái

tim anh: “Trái tim tôi thuộc về nàng, thuộc về Mẹ Cả, thuộc về con gái thủy

thần”. Độc thoại nội tâm ghi lại những cảm xúc của nhân vật Chương. Cho

nên anh đã ra đi tìm Mẹ Cả, dù gặp nhiều vất vả.

118

Hạnh trong Huyền thoại phố phường, từ khi tháp tùng mẹ con bà Thiều

đi xin lộc ở chùa, chứng kiến sự tiêu pha hoang phí của bọn nhà giàu, khi về

nhà Hạnh trở nên mất ăn mất ngủ. Hạnh suy nghĩ “Bọn người này coi tiền

như rác”, “riêng tiền xích lô của hai mẹ con bà Thiều cũng đến bạc nghìn.

Chỉ riêng khoản chi phí ấy cũng gấp ba lần số tiền mà Hạnh kiếm được trong

tháng”. Một kẻ luôn muốn trở nên giàu nhưng không phải bằng lao động

chân tay mà nuôi hy vọng bằng lộc trời, cho nên khi nhớ đến tờ vé số đã được

bà Thiều đem đi xin lộc, cầu thánh thần, Hạnh nghĩ: “Bảy trăm nghìn! Trời ơi

cả một số tiền lớn lao kinh khủng. Cả một cơ nghiệp, cả một gia tài. Đấy là sự

nghiệp! Đấy là hạnh phúc mà y mong muốn”. Cho nên sau đó Hạnh quay lại

nhà bà Thiều, tán tỉnh, cợt nhả, thậm chí hiếp dâm người đáng tuổi mẹ mình

để đổi cho được tờ vé số. Từ độc thoại nội tâm, ta hiểu được bản chất xấu xa

đê tiện của nhân vật Hạnh- một kẻ đã bị đồng tiền làm cho bỉ ổi.

Kết thúc truyện Chút thoáng Xuân hương là mấy dòng độc thoại của

ấm Huy: “Chàng hiểu cả tri huyện Thặng, cả chàng, cả ngay ông phủ Vĩnh

Tường cũng sẽ chẳng là gì cả, tất cả chỉ là nhân chứng cho sự tồn tại của một

CON NGƯỜI: Nàng Xuân Hương mặc áo xô gai đang nức nở khóc, đang

khóc nức nở cho nỗi mênh mông của cõi đời”. Ở đây con người không phải là

thánh thần để trở bất tử, nhưng họ hiểu sự không bất tử của chính họ một cách

sâu xa ngay từ những ý thức đầu tiên và như vậy họ đã đứng cao hơn số phận.

Như vậy với việc sử dụng các ngôn ngữ độc thoại, con người được nhà

văn xem xét, đánh giá trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là chủ thể của

đời sống riêng tư, có quan niệm riêng về cuộc đời, có cách nhìn cuộc sống

đang diễn ra và bản thân theo cách riêng của họ.

Một nhà văn hải ngoại từng nói về ông: “Văn chương đến thế thì thôi”.

Đấy là sự bùng vỡ của thi pháp, của quan niệm về con người, về không gian

lịch sử, của quan niệm biểu hiện. Điều này rất hiếm thấy ở một tác giả, ngay

119

trong những khoảng giao thời của nghệ thuật, khi mà vấn đề hiện đại hóa

nghệ thuật trở thành vấn đề sinh tử của nó. Cũng phải, văn chương của

Nguyễn Huy Thiệp có khả năng gây ngạc nhiên. Ngạc nhiên này kéo theo

ngạc nhiên khác. Mỗi lần đọc lại truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là một

lần ta thấy cái khối vuông ru bích ấy chuyển động. Gắn với sự chuyển động

của nó là những độ mở mới, màu sắc mới và những trữ lượng ngữ nghĩa nghệ

thuật mới được khai lộ. Nhưng dường như phía sau "tảng băng trôi" ấy vẫn

còn nhiều bí mật mà không dễ gì nhận biết một cách rạch ròi.

120

KẾT LUẬN

Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn

học Việt Nam giai đoạn sau năm 1975, đặc biệt giai đoạn đổi mới những năm

80 của thế kỉ 20. Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm tất yếu của sự

gặp gỡ giữa tài năng với khát vọng dân chủ và đổi mới mà sự vận động ý thức

xã hội cũng như văn học sau 1975 mang lại. Một hiện tượng như thế khó có

thể xuất hiện sớm hơn và việc nó gây tranh cãi là dễ hiểu. Đó là một dấu hiệu

đáng mừng trong thời điểm Đổi mới với không khí cởi mở, dân chủ và thị

hiếu mới của công chúng lúc bấy giờ. Các ý kiến dù còn tranh cãi, vẫn cho

thấy một điểm chung: Nguyễn Huy Thiệp là một người tài năng độc đáo.

Khác với hệ quy chiếu lịch sử như yêu nước, chống ngoại xâm, đấu

tranh giai cấp, mâu thuẫn tiến bộ lạc hậu, cấp trên cấp dưới, tổ chức và cá

nhân…thường thấy trong văn học cách mạng. Hệ quy chiếu trong truyện của

Nguyễn Huy Thiệp là “con người”, triết lí về con người, bản tính người, cách

làm người, trạng thái ứng xử xã hội lịch sử của con người. Ta biết được điều

này do môtip con người được lặp đi lặp lại trong các truyện của tác giả.

Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đứng ở bình diện nhân cách, trạng thái

nhân cách, lựa chọn nhân cách ở mỗi người.

Nhà văn đã chuyển tải thành công quan niệm về con người trong thời

đại mới. Đi sâu mở rộng quan niệm về con người. Có thể nói với những tìm

tòi sáng tạo trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã dấn thân vào

cuộc thử nghiệm đầy sóng gió. Từ đó, ông mang đến cho người đọc những

day dứt băn khoăn về những vấn đề cuộc sống, về con người trong thời đại

mới.

Văn chương của Nguyễn Huy Thiệp luôn hướng vào tầng cao hơn là

chủ nghĩa nhân đạo. Đó là thân phận của con người trong một thời đại, trong

121

một xã hội mà sức nặng duy lí ở chính trị, ở kinh tế, ở biết bao chuẩn mực đã

định sẵn. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp luôn làm người đọc khắc khoải và

sợ hãi trước những cảm nhận tê buốt về lẽ đời được trình bày một cách trần

trụi. Với tham vọng muốn làm gần lại mối quan hệ người - người, nhà văn

không chỉ biểu hiện nhu cầu dân chủ và khuynh hướng tự do của cá

nhân trong xã hội hiện đại mà còn biểu thị khát vọng truy tìm chân lý và điều

thiện.

Quan niệm, cách nghĩ về con người mà ông đưa đến cho người đọc

thông qua những tác phẩm của mình không phải là những gì màu mè, không

buộc người đọc phải đồng ý với ông mà buộc người đọc phải đối diện với

chính mình. Ngay cả khi ông viết về cái ác, cái xấu xa của con người thì cũng

không phải là để hả hê, sung sướng mà đầy xót xa. Ông buộc mọi người phải

tự nhận thấy điểm yếu kém của chính bản thân mình và biết chế ngự, đẩy lùi

nó. Tận cùng, văn của Nguyễn Huy Thiệp không đi ra ngoài tình yêu thương

và đau đớn về vấn đề con người, về tính cách, số phận của con người.

122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phần 1: Sách, tạp chí, luận án

1. Vũ Tuấn Anh (1945), Đổi mới văn học và sự phát triển, Tạp chí văn

học, (4), tr.14-19.

2. Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hải Hà (1995), Quan niệm nghệ thuật về

người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách Mạng tháng 8 – Chương trình

KHVN cấp nhà nước KX-07.

3. Hoài Chân – Hoài Thanh (1998), Thi nhân Việt Nam (1932-1945), Nxb

Văn học, Hà Nội.

4. Nguyễn Minh Châu (1987):

4.1 “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Báo

văn nghệ (49-50), tr.35–37.

4.2 Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nxb Tác phẩm mới, Hà

Nội.

5. Trần Cương (1995), “Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những

năm 80”, Tạp chí văn học, (4), tr. 34–36.

6. Trần Thanh Đạm (1989), “Bàn thêm về vấn đề con người trong văn

học”, Tạp chí Văn học, (35), tr.3–6.

7. Đặng Anh Đào (1991), “Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện

hiện nay”, Tạp chí Văn học, (6).

8. Đặng Anh Đào (1994), Tài năng và người thưởng thức, Nxb Hội nhà

văn, tr.78.

9. Phan Cư Đệ (1986), “Mấy vấn đề về văn xuôi hiện nay”, Tạp chí văn

học, (5).

123

10. Phan Cự Đệ (1992), “Văn học đổi mới và những bước đi hợp quy

luật”, Báo Văn nghệ (48).

11. Phạm Văn Đồng (1983), “Thư gửi Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ

3”, BáoVăn nghệ, (40).

12. Hà Minh Đức (1988), Văn học Việt Nam hiện đại – Bình giảng và phân

tích tác phẩm, Nxb Thanh Niên.

13. E.M. Meletinky (2004), Thi pháp của Huyền thoại, Trần Nho Thìn và

Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

14. Nguyễn Văn Hạnh (1993), “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự

đổi mới về con người”, Tạp chí văn học, (3), tr.20–23.

15. Nguyễn Văn Hạnh (1999), “Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ”,

Nxb Giáo dục.

16. Nguyễn Văn Hạnh (2005), “Chuyện văn chuyện đời”, Nxb Giáo dục.

17. Võ Thị Hảo (1995), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.

18. Vương Thị Thanh Hiền (2010), Ảnh hưởng của văn học dân gian đối

với truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ – Trường đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

19. Phạm Mạnh Hùng (2001), “Về quan niệm về cấu trúc nghệ thuật của

hoàn cảnh trong văn học”, Tạp chí Văn học, (11), tr.44–51.

20. Lê Thị Hường (1994), “Quan niệm người cô đơn trong truyện ngắn

hôm nay”, Tạp chí văn học, (2), tr.29–31.

21. Phạm Thị Thu Hương (1993), “Quan niệm nghệ thuật về con người

trong truyện ngắn Thạch Lam”, Tạp chí văn học, (số 3), tr.16–19.

22. Lê Thị Hường (1995), “Các kiểu kết thúc truyện ngắn hôm nay”, Tạp

chí văn học, (4), tr.29–33.

23. Tạ Thị Hường (2001), “Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy

Thiệp”, Luận văn Thạc sĩ – Trường đại học Sư phạm Hà Nội.

124

24. Nguyễn Văn Kha (2006), “Đổi mới quan niệm về con người trong

truyện ngắn Việt Nam 1975-2000”, Nxb Đại học quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh.

25. Nguyễn Khải (2002), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Hội Nhà Văn.

26. Phùng Ngọc Kiếm (1995), Con người trong truyện ngắn Việt Nam

1945 – 1975 (Bộ phận văn học cách mạng), Nxb Đại học quốc gia Hà

Nội.

27. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu văn học, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

28. Tôn Phương Lan (1996), “Tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Minh

Châu qua quan niệm nghệ thuật về con người”, Tạp chí văn học, (4),

tr.27–30.

29. Tôn Phương Lan (2001), “Một vài suy nghĩ về con người trong văn

xuôi thời kì đổi mới”, Tạp chí văn học, (9), tr.43–48.

30. Phong Lê (2001), Văn học Việt Nam hiện đại – Những chân dung tiêu

biểu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

31. Nguyễn Văn Long (2006), Nguyễn Văn Thìn (đồng chủ biên), Văn học

Viêt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo

Dục.

32. Phương Lựu (chủ biên) (1997) Lí luận văn học, Nxb Giáo Dục.

33. Trần Nhất Lý, “Tìm hiểu Nguyễn Huy Thiệp từ “Phẩm Tiết”, Theo

Thể thao văn hóa.

34. Nguyễn Đăng Mạnh- Nguyễn Trác- Trần Hữu Tá (1988), Văn học Việt

Nam 1945-1975, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

35. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn – tư tưởng – phong cách, Nxb

Đại Học Quốc gia Hà Nội.

36. M. Bakhtin (1992), Lí luận, thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn

Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.

125

37. M.Gorki, Bàn về văn học (tập 2), Nxb Văn học, Hà Nội.

38. Phạm Xuân Nguyên (1994), “Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay”,

Tạp chí văn học (2), tr.26–28.

39. Phạm Xuân Nguyên (2001), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội.

40. Đào Thủy Nguyên (2001), “Thế giới nhân vật Nguyễn Khải”, Tạp chí

văn học, (11), tr.52–63.

41. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, NxbVăn nghệ Thành phố

Hồ Chí Minh.

42. Vương Trí Nhàn (2006), “Giăng lưới bắt…lí luận”, Báo Thể Thao và

văn hóa.

43. Phùng Qúy Nhâm (1992), Thẩm định văn học, NxbTP.HCM.

44. Trần Thị Mai Nhi (1999), Văn học hiện đại, văn học Việt Nam giao

lưu gặp gỡ, NxbVăn học, Hà Nội.

45. Nhiều tác giả (1989), Nguyễn Huy Thiệp tác phẩm và dư luận, Nxb

Trẻ.

46. Nhiều tác giả (1993), Từ điển văn học, Nxb Khoa học và xã hội Hà

Nội.

47. Nhiều tác giả (1994), Từ điển Văn học bộ mới, Nxb Thế Giới, Hà Nội.

48. Nhiều tác giả (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý

thuyết, Nxb Hội nhà văn, trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.

49. Nhiều tác giả (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Thanh Niên Hà

Nội.

50. Nguyễn Văn Phụng (1989-1993), Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp từ hiệu

quả nghệ thuật đến thủ pháp nghệ thuật, Khóa luận tốt nghiệp, Trường

Đại học Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.

126

51. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn xuôi Viêt Nam những năm 80 và

những vấn đề dân chủ mới của nền văn học”, Tạp chí văn học (4),

tr.10–12.

52. Hùynh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học

Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh.

53. Hồ Phương (1989), “Nhớ tiếc một tài năng văn học”, Báo Nhân dân

(ra ngày 29 tháng 1).

54. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam (1987), Lí luận văn

học, Nxb Giáo dục.

55. Trần Đình Sử (chủ biên) (1991), “Khái niệm quan niệm nghệ thuật

trong nghiên cứu văn học xô viết”, Tạp chí Văn học, (1), tr.8–12.

56. Trần Đình Sử (1996), Môt số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ Giao

dục đào tạo-Vụ Gíao viên, Hà Nội.

57. Trần Đình Sử (chủ biên) (2000), Tự sự học, Một số vấn đề lí luận và

lịch sử, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội.

58. Trần Đình Sử (2001), “Mấy vấn đề trong quan niệm con người của

văn học Việt Nam thế kỉ XX”, Tạp chí Văn học, (8), tr.6–11.

59. Nguyễn Thị Minh Thái (1993), “Truyện ngắn Việt Nam đổi mới”, Thế

giới mới, (64).

60. Đào Thản (1994), “Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong văn

xuôi”, Tạp chí Văn học, (2), tr.13–16.

61. Bùi Việt Thắng (1991), “Văn xuôi hiện nay và quan niệm con người”,

Tạp chí Văn học, (6), tr.12–14.

62. Nguyễn Thành Thi (2010), Văn học thế giới mở, Nxb Trẻ.

63. Nguyễn Huy Thiệp (2006), Tuyển tập truyện ngắn, Đỗ Hồng Hạnh

tuyển chọn và giới thiệu, NxbVăn hóa Sài Gòn.

127

64. Bích Thu (1996), “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975”, Tạp

chí Văn học, (9), tr.32–36.

65. Vương Anh Tuấn (1982), “Vị trí và vai trò tích cực của người đọc

trong đời sống văn học”, Tạp chí Văn học (3).

66. Vương Anh Tuấn (1988), “Lịch sử trong quan niệm của Nguyễn Huy

Thiệp”, Tạp chí Văn học, (3), tr.37–42.

67. Phùng Văn Tửu (1996), “Một vài phương diện của truyện ngắn”, Tạp

chí văn học, (2), tr.15–19.

68. Lê Ngọc Trà (2005), “Lí luận và văn học”, Nxb Trẻ, Tp HCM.

69. Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương, thẩm mỹ và văn hóa, Nxb Giáo dục.

70. Hà Ngọc Trảng (1986 – 1990), Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy

Thiệp, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học khoa học Tổng Hợp Thành

phố Hồ Chí Minh.

71. Lê Thị Nguyệt Trong (2011), Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong

truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ – Trường đại học Sư

phạm thành phố Hồ Chí Minh.

72. Timôfeep (1962), Nguyên lí lí luận văn học, Nxb Văn hóa-Viện Văn

học.

73. Hoàng Thị Văn (2008), Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi nghệ thuật Việt

Nam sau 1975, Đề tài NCKH cấp Bộ, Trường ĐHSP TP.HCM.

74. Đinh Phan Cẩm Vân (2000), “Cái “kỳ”trong tiểu thuyết truyền kỳ”,

Tạp chí Văn học, (10).

Phần 2: Website

75. Thụy Bình, Thiên lương trong “Muối của Rừng”, www.evan.com.vn.

76. Khuê Các, Nhân đọc “Vàng Lửa” của Nguyễn Huy Thiệp,

www.talawas.org.

77. Nguyễn Đình Đăng, Nhà văn Việt Nam của tôi, www.evan.com.vn.

128

78. Phong Điệp, Đánh giá thành tựu Văn học Việt Nam sau 20 năm đổi

mới,wwwvietnamnet.com.vn.

79. La Khắc Hòa, Những dấu hiệu của chủ nghĩa hâu hiện đại trong văn

học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài,

www.vienvanhoc.org.

80. Châu Minh Hùng:

80.1 Hình thức đa thanh mới qua truyện ngắn Nguyễn Huy

Thiệp,www.evan.com.vn.

80.2 Tiếng nói của cái tục trong văn Nguyễn Huy

Thiệp,www.evan.com.vn.

81. Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Huy Thiệp – Những chuyện huyền kì: núi

sông và nước,www.evan.com.vn.

82. Cao Kim Lan, Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết

của hậu hình thi pháp hiện đại,www.vienvanhoc.org.vn.

83. Nguyên Ngọc, Văn xuôi Việt Nam hiện nay, logic quanh co của các

thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển

vọng,www.vietnamnet.com.vn.

84. Trần Thị Mai Nhân, Tìm hiểu phương thức “Huyền thoại hóa” trong

một số tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới,www.vienvanhoc.org.vn.

85. Đặng Văn Sinh, Đọc lại “Tướng về hưu”,www.vietnamnet.com.vn.

86. Nguyễn Thị Minh Thái (2006) Nguyễn Huy Thiệp – Tôi sống trong ảo

mộng, Viettnamnet – 20/7/2007.

87. Lê Ngọc Trà, Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới,

www.vienvanhoc.org.vn.

Văn Trung. Nguồn 88. Nguyễn

http//www/giaodiem.com/doithoaiIII/09_truu_htm.

129

89. Nguyễn Thanh Xuân, Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam,

www.vienvanhoc.org.vn.

90. Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình

thi pháp hậu hiện đại”, yume.com.

91. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp “trong mắt” một nhà báo… 8X”

phongdiep.net.

92. “Có một triết gia Nguyễn Huy Thiệp”, www.baomoi.com.

93. Quan niệm nhân sinh mang tính triết lí trong truyện ngắn Nguyễn Huy

Thiệp”, bienlang.blogtiengviet.net 14.12.2000.

94. Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, www.evan.com.vn.

130

PHỤ LỤC

1. Chân dung Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

131

2. Trang bìa một số tập truyện ngắn của Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

132

Truyện “Tuổi 20 mươi yêu ấu” của Nguyễn Huy Thiệp xuất bản tại Pháp.

3. Một số hình ảnh hoạt động của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.

133

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đọc một bài phú về Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp kí tặng độc giả ở Ngày thơ Việt Nam.

134

Ông Nguyễn Minh Nhựt - giám đốc NXB Trẻ (phải) và Nhà văn

Nguyễn Huy Thiệp trong lễ ký kết ngày 24. 03. 2012.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tại lễ nhận giải Nonino (2008) tại Ý.