1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
……………….
TRƯƠNG THỊ NGỌC CẨM
QUAN HỆ VỀ CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
(KHẢO SÁT TRUYỆN NGẮN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
……………….
TRƯƠNG THỊ NGỌC CẨM
QUAN HỆ VỀ CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
(KHẢO SÁT TRUYỆN NGẮN)
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn:
TS. NGUYỄN VĂN KHA
Thành phố Hồ Chí Minh 2013
3
MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................ 3
LỜI CẢM ƠN .................................................................................. 5
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................ 6
DẪN NHẬP ...................................................................................... 7
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................7
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................................8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................15
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................15
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................15
6. Đóng góp của đề tài .........................................................................................16
7. Bố cục của luận văn ........................................................................................16
CHUƠNG 1: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VÀ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP ................................................................ 18
1.1. Con người trong văn học và thuật ngữ “quan niệm về con người”. .........18
1.2. Vấn đề con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp qua các ý kiến tranh luận .....................................................................................................29
CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP LÀ “CON NGƯỜI KHÔNG TOÀN VẸN” ............................................................................................... 40
2.1 Con người với tình yêu và hạnh phúc ..........................................................41
2.2 Con người gắn với nhân phẩm .....................................................................47
2.3. Con người kiếm tìm ......................................................................................55
4
2.4. Con người cô đơn .........................................................................................63
2.5. Sự phong phú phức tạp bên trong con người bình thường ........................74
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP. ......................................... 86
3.1. Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp .....................................................................................................................86
3.2 Cảm hứng huyền thoại ..................................................................................92
3.3. Kết cấu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ........................................... 100
3.4. Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại .................................................. 108
KẾT LUẬN .................................................................................. 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................... 122
5
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn:
TS Nguyễn Văn Kha, Thầy đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin cảm ơn chân thành tới thầy cô Phòng Khoa học công nghệ và
Sau đại học, Khoa Ngữ văn và các thầy cô giảng viên – Trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập
và nghiên cứu
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Tổ bộ môn Ngữ văn trường
trung học phổ thông Nguyễn Du – Bà Rịa Vũng Tàu, cùng đồng nghiệp đã
giúp tôi hoàn thành khóa học.
Cuối cùng, tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người luôn
động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 9 năm 2013
Học viên kí tên
Trương Thị Ngọc Cẩm
6
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn “Quan niệm về con người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” (khảo sát truyện ngắn) là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Kha.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
trong bất kì công trình nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. Học viên kí tên Trương Thị Ngọc Cẩm
7
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Con người là đối tượng trung tâm của văn học. Nhà văn M.Gorki quan
niệm: “Văn học là nhân học”. Nhưng con người được nhìn nhận, đánh giá
trong mỗi nhà văn, từng thời kì, khuynh hướng, trường phái văn học có sự
khác nhau.
Trong giai đoạn văn học trước năm 1975, do tình hình đất nước có
chiến tranh, văn học phải phục vụ công cuộc cách mạng, phục vụ chính trị.
Đó là nhiệm vụ cơ bản của văn học. Con người trong giai đoạn lịch sử này
được nhận thức, phân tích, đánh giá chủ yếu ở góc độ chính trị. Trong giai
đoạn văn học này, chúng ta vẫn bắt gặp hình ảnh con người nhưng đó là con
người tập thể, con người quần chúng, chứ chưa phải là con người cá nhân.
Văn học giai đoạn này phản ánh hiện thực cuộc sống mới, con người mới
trong những biến động lớn lao của đời sống chính trị, xã hội.
Sang giai đoạn sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước độc lập,
thống nhất, văn học lúc này không chỉ miêu tả cuộc sống con người sau chiến
tranh, mà còn đi sâu vào vấn đề con người. Văn học quan tâm đến số phận,
đời sống riêng tư, tình cảm của từng cá nhân trong cuộc đời.
Có cách nhìn, quan niệm khác nhau về con người trong hai giai đoạn
văn học trước và sau năm 1975 như vậy là do sự đổi mới quan niệm về con
người, đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn. Đây là thành quả của sự đổi
mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Trong xu thế đổi mới, không
khí dân chủ tạo điều kiện cho nhà văn phát huy vai trò chủ động sáng tạo,
mạnh dạn tìm tòi khám phá những đề tài mà trước đây bị coi là “vùng cấm”
trong văn học, để có được tiếng nói nghệ thuật mang lại hiệu quả thẩm mỹ
trong độc giả.
8
Nói đến sự cách tân quan niệm về con người trong truyện ngắn đương
đại không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp – người đã góp phần làm
cho đời sống văn học thời kỳ đổi mới trở nên sôi nổi và khởi sắc hơn bao giờ
hết. Trong đó, mảng đề tài lịch sử gây nhiều tranh cãi trong dư luận bởi cách
nhìn và thể hiện nhân vật lịch sử trong tác phẩm của ông có sự khác biệt.
Những ý kiến đánh giá về cách nhìn con người trong tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp dù khen hay chê, tất cả đều mạnh mẽ quyết liệt.
Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề con
người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng chưa có công trình nào
đề cập đến một cách có hệ thống quan niệm về con người trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp. Do đó, luận văn: Quan niệm về con người trong sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp (khảo sát góc độ truyện ngắn) trong khuôn khổ
luận văn thạc sĩ góp tiếng nói thẩm định đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp cho
cho sự đổi mới văn học Việt Nam từ sau 1975, ở cấp độ quan niệm nghệ thuật
về con người.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn thuộc thế hệ sau cách mạng, sau chiến
tranh. Chỉ với mấy truyện ngắn đầu tay, tên tuổi của ông đã nổi bật trong và
ngoài nước. Những tác phẩm của ông đã gây nên cuộc tranh luận sôi nổi
những năm tám mươi.
Hoàng Ngọc Hiến – nhà nghiên cứu văn học trong bài viết Tôi không
chúc bạn thuận buồm xuôi gió (1987) đã đề cao quy luật của cái đẹp, của sự
thật và nhân bản trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cho rằng: “Dẫu là kể truyện
cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trước sau viết về cuộc sống ngày hôm nay. Tác giả
đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại” [39, tr.9]. Theo Hoàng Ngọc
Hiến, Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ không quen với cách nhìn “sử thi”. Vì
9
thế những nhân vật trong truyện dù “nhếch nhác, đốn mạt hầu hết cũng là
nhân vật lao động ta thôi” [39, tr.13]. Và theo ông Nguyễn Huy Thiệp đã
“thẳng thắn nêu lên những sự bê tha, hèn kém ở những con người thuộc về
những tầng lớp nhân dân khác nhau, nêu lên để quốc dân thấy rõ hơn thực
trạng của phong hóa xã hội, hiểu rõ hơn nhân tình và thế thái hiện nay. Và đó
cũng là một cách biểu hiện thái độ nghiêm chỉnh đối với nhân dân”. “Nói về
những sự đốn mạt, hèn kém của con người, câu văn của Nguyễn Huy Thiệp
thường man mác cảm giác tê tái. Đằng sau cảm giác này là nỗi đau nhân
tình”. “Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn, vừa xót xa.
Tàn nhẫn nghĩa là “không được thương con người”, đấy là mệnh lệnh của
lương tâm và tác giả đã đi đến cùng phơi bày sự đốn mạt của con người.
Nhưng cuối cùng thì vẫn xót xa, “không thể không thương con người”. Ngay
cả những nhân vật đốn mạt nhất, Nguyễn Huy Thiệp không tuyệt vọng ở họ”
[39, tr.14-15]. Ông nói rằng “những người đàn ông trong tập truyện của
Nguyễn Huy Thiệp hầu hết là đốn mạt….Ngược lại, trong các nhân vật nữ có
những con người ưu tú, nhiều người đáng gọi là liệt nữ. Nó là hiện thân của
nguyên tắc tư tưởng tạo ra cảm hứng của tác giả, có thể gọi đó là nguyên tắc
tính nữ hoặc thiên tính nữ” [39, tr.15-16].
Nhà phê bình Đặng Anh Đào trong bài viết Khi ông Tướng về hưu xuất
hiện (1988) đã thể hiện sự ủng hộ tác giả Tướng về hưu bằng thái độ rất nhiệt
thành: “cái cô đơn của một số nhân vật trong Tướng về hưu vẫn có giá trị
báo hiệu, và chưa chắc chỉ có báo hiệu điều dở. Thật đáng buồn, nếu ở một
môi trường tối tăm và sền sệt nào đó, con người không cảm thấy cô đơn mà
lại cảm thấy cứ như “cá trong nước”! [39, tr.24].
Nhà báo Trần Duy Thanh trong bài Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
(1988) cũng có cùng ý kiến với Hoàng Ngọc Hiến khi nhận xét rằng: “Ngòi
bút lạnh lùng của Nguyễn Huy Thiệp cứ thản nhiên phơi ra trên mặt giấy bao
10
nhiêu điều xấu xa, nhơ nhuốc, bỉ ổi của người đời. Anh không chỉ “lật áo”
nhân vật mà thật sự đã lột tuốt tuột những thứ che đậy để nói ra những điều
“vừa đau đớn, vừa chua xót, nhưng thương lắm” như lời Sinh trong truyện
Không có vua” [39, tr.88].
Dịch giả, tiến sĩ người Úc Greg Lockhart, trong bài viết Tại sao tôi
dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng anh? (1989) cũng đồng tình với
Hoàng Ngọc Hiến. Ông cho rằng, truyện của Nguyễn Huy Thiệp mang tính
chất nhân bản. Truyện Vàng lửa “diễn đạt một vấn đề lớn của nhân loại. Ở
đây bất cứ người đọc nào cũng có thể ghi nhận tính chất lớn khác hướng của
một sự suy nghĩ đa diện, phong phú về mối quan hệ giữa chính trị và nghệ
thuật, giữa cái đẹp và quyền lực lớn trong bất cứ xã hội nào” [39, tr.111].
Ông cũng đề cao cách viết của Nguyễn Huy Thiệp đó là “cách viết của một
nghệ sĩ khách quan đứng ngoài truyện và nhìn vào. Anh ấy không bị vướng
chân vào đời sống của nhân vật. Vừa nói về đời sống vĩ đại của cung Gia
Long, vừa nói về đời sống bình thường của một đồ tể, của một bác sĩ phá thai,
thậm chí vừa nói đến đời sống của một người Tây, thì số phận của con người
tự bộc lộ chỉ qua lời khái quát và hành động của nó” [39, tr.112]. Nhà nghiên
cứu đánh giá cao tính chất dân chủ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp:
“Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn hiện đại. Cách nhìn xã hội Việt Nam và
cả thế giới cùng với cách viết của anh cũng rất bình đẳng, dân chủ. Và cũng
phải nói tính chất dân chủ này là một mặt quan trọng của tính nhân bản trong
tác phẩm của anh” [39, tr.112-113].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp vài cảm nghĩ (1992) nhìn thấy biểu hiện hai mặt của con người
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: “Nguyễn Huy Thiệp có một thế
giới nhân vật độc đáo. Toàn những con người góc cạnh gân guốc. Người nào
dường như cũng sống đến tận cùng cá tính của mình…Ở Nguyễn Huy Thiệp,
11
những nhân vật hơi bụi một chút, thường có cả hai mặt thiện và ác, đúng ra
là chứa đựng cả thú tính lẫn nhân tính, một mặt đầy bản năng thô bỉ, mặt
khác, từ một góc độ nào đó của tâm hồn, thỉnh thoảng vẫn lóe lên ánh sáng
của lương tri, lương tâm” [39, tr.459].
Nguyễn Thanh Sơn trong bài Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp (1995) nhận
xét: “Những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng giống như những viên
ngọc Biện Hòa, những viên ngọc với lớp đá vỏ xù xì, thô ráp bên ngoài, và nó
đẹp nhất chính vì người ta biết trong lớp đá đó tiềm ẩn một viên ngọc” [39,
tr.118]. “Nguyễn Huy Thiệp là một trong số ít người không chấp nhận luật
chơi. Ông lạnh lùng dội những xô nước lạnh toát lên đấu chúng ta. “Đó
không phải là chân lí, không phải là cuộc sống!” những thông điệp truyện
ngắn của ông phẫn uất hét lên. Ông lôi tuột chúng ta xuống khoảng trống lơ
lửng giữa trời và đất, buộc ta phải đối mặt với mình, với một thế giới “không
có vua”, dạy chúng ta “những bài học nông thôn”, bắt chúng ta phải hiểu
rằng, trước khi muốn nhìn lên bầu trời thì phải nhìn mặt đất đã” [39, tr.119].
Theo hướng phê bình nói trên còn có ý kiến của Văn Tâm trong bài
Đọc Nguyễn Huy Thiệp (1988), Trương Hồng Quang trong bài Mười lời bình
về truyện ngắn “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp (1989), ý kiến của Đông
La trong bài viết Về cái ma lực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (1999),
v.v. ..
Những ý kiến phản đối cách nhìn con người trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp không phải là ít. Tạ Ngọc Liễn – nhà nghiên cứu lịch sử -
trong bài Về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp (1988) đã thể
hiện thái độ không ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp: “Vàng lửa là một truyện kí
danh nhân lịch sử. Nhân vật Nguyễn Huy Thiệp miêu tả là vua Gia Long và
Nguyễn Du, hai người có tầm vóc lớn lao trong lịch sử chính trị, lịch sử văn
học nước ta hồi đầu thế kỉ XIX. Bên cạnh Gia Long, Nguyễn Du còn có một
12
nhân vật người Pháp tên là Phăng-xoa Pơriê chính là nhân vật Nguyễn Huy
Thiệp xây dựng để nói hộ mình về những suy ngẫm về mọi chuyện, trong đó
có đánh giá Gia Long, Nguyễn Du, quan trọng hơn là đánh giá đặc điểm dân
tộc ta, truyền thống văn hóa, văn minh Việt Nam thời Nguyễn lúc bắt đầu tiếp
xúc với người châu Âu” [39, tr.170-171]. “Theo quan niệm của chúng ta từ
trước tới nay vua Gia Long là nhân vật lịch sử phản diện, vì ông ta dựa vào
Pháp đánh đổ triều đại Tây Sơn, ông ta là người “cõng rắn cắn gà nhà”…
không ai thừa nhận Gia Long là một khối nguyên “vô giá”, là “quốc bảo”
[39, tr.170]. Về đoạn kết thứ hai của Vàng lửa, Tạ Ngọc Liễn nhận xét: “Tôi
sẽ không nói tới cái ý mà người đọc dễ hiểu lầm là ở đây tác giả Vàng lửa
muốn ca ngợi Pháp có công khai hóa văn minh cho đất nước Việt Nam! Tôi
chỉ ngạc nhiên vì nhân vật Phăng của Nguyễn Huy Thiệp sao lại quá kém về
kiến thức lịch sử như vậy khi Phăng bàn chuyện lịch sử?” [39, tr.176]. Như
vậy, ở góc độ là nhà sử học, Tạ Ngọc Liễn cho rằng Nguyễn Huy Thiệp muốn
đánh giá lại lịch sử nhưng lại có một trình độ học vấn chưa đầy đủ, cần kiểm
tra lại vốn tri thức văn hóa.
Đỗ Văn Khang trong bài viết Sự “mơ mộng” và sự “nghiêm khắc”
trong truyện ngắn Phẩm tiết (1988) nhận xét rằng: “Vua Quang Trung là một
vị tướng lên ngôi… Một vị tướng lên ngôi như Quang Trung là người tự lập
nên nghiệp lớn, có bản lĩnh, dễ đâu để người khác coi thường? Vậy mà, vừa
diệt tan hai mươi vạn quân Thanh, khí thế còn đang bừng bừng như lửa cháy,
Nguyễn Huy Thiệp đã dắt cô Vinh Hoa tiếp kiến vua Quang Trung để cô bảo
nghiệp vua chỉ được vài ngày, vua Quang Trung ngồi nghe như “ngậm thóc”
[39, tr.235]. “Khó ai bảo vua Quang Trung không biết trọng dụng người tài.
Việc dùng Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở là một bằng chứng. Khó ai dám bảo
ông là người lỗ mãng… Thế mà trong cái phần “nghiêm khắc” của mình,
Nguyễn Huy Thiệp lại khắc họa nhân cách vua Quang Trung như một kẻ
13
nông nổi, lỗ mãng trước mặt vạn sĩ dân Bắc Hà. Và sự khắc họa này cũng
không có gì đặc sắc về tình tiết, về văn chương, hơn nữa lại rất tầm thường về
lối ám chỉ” [39, tr.236-237]. “Nguyễn Huy Thiệp bảo trước lúc chết vua
Quang Trung về tình chỉ chăm chăm nhìn vào một Vinh Hoa”… Nguyễn Huy
Thiệp muốn từ một Vinh Hoa để đánh đồng vua Quang Trung và Nguyễn Ánh,
nhấn mạnh vua nào cũng muốn làm vua gà, vua vịt cả” [39, tr.241]. “Hành
động vuốt mắt cho vua Quang Trung bằng nón tay. Rồi ngón tay đó bị bẩn
“đen lại như chàm”. Như thế, với hành động này, Nguyễn Huy Thiệp đã đạt
được mục đích cuối cùng là hạ bệ một thần tượng của lịch sử dân tộc, một
lịch sử đã phải viết bằng máu, bằng cả vinh quang và cả đau đớn mới có
được” [39, tr.241]. Ngoài ra trong bài viết Vì sao văn của Nguyễn Huy Thiệp
ngày càng sa sút, Đỗ Văn Khang nhận xét: “Văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày
càng mất bản chất nhân văn. Văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày càng rơi vào
thói vô chính phủ về lịch sử. Anh ta xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn với
thái độ phủ định quyết liệt [39, tr.411]. “Văn của Nguyễn Huy Thiệp không
chỉ dừng lại ở chỗ u ám, độc địa, mà người viết văn còn cố tình xuyên tạc lịch
sử. Một Quang Trung lẫm liệt, anh hùng đánh tan hai mươi vạn quân Thanh
như trở bàn tay, bỗng chốc hóa thành một anh vua hèn. Một Nguyễn Du văn
chương như in, như tạc vào cuộc đời bỗng chốc hóa thành “đứa con hoang
của cô gái đồng trinh” bị “tên đàn ông khốn nạn” là nền văn minh Trung
Hoa “cưỡng hiếp” khiến văn của Nguyễn Du “chứa đầy điển tích” của “tên
đàn ông khốn nạn” kia. Một Nguyễn Trãi văn chương kinh bang tế thế, đủ
sức sửa sang việc đời bỗng chốc hóa thành “nhà duy mĩ khổng lồ” chỉ có ru
với gió, mơ theo trăng” và “thơ thẩn cùng mây”. Một Nguyễn Thị Lộ chỉ đủ
tầm cỡ cho một “nhân vật trái tim” của Nguyễn Trãi bỗng nhiên sừng sững
trở thành một điểm tựa cho tinh thần suy sụp và cô đơn của Ức Trai” [39,
tr.415].
14
Một loạt bài viết theo hướng phản đối cách nhìn con người của Nguyễn
Huy Thiệp trong truyện ngắn đã xuất hiện như: Nguyễn Thanh trong bài viết
Về truyện ngắn Phẩm tiết (1988), Đỗ Trung Lai trong bài Sử - văn, văn - sử
và thái độ người phê bình (1988), v.v…
Một điều đặc biệt là, ngay cả những người từng lên án chỉ trích gay gắt,
ông vẫn không thể không thừa nhận tài năng của Nguyễn Huy Thiệp trong
việc viết truyện ngắn. Nhà Sử học Tạ Ngọc Liễn viết: “mặc dầu mới xuất
hiện, song anh đã sớm chứng tỏ được mình là một nhà văn có bản sắc riêng,
mới mẻ, bạo dạn, súc tích, gây được sự chú ý thực sự của độc giả” [39,
tr.170].
Điểm qua một số ý kiến khen chê được coi là khá tiêu biểu về cách
nhìn con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi nhận
thấy:
1/Mặc dù mỗi bài có phát hiện và cách lý giải riêng, nhưng tựu trung lại đa
số các ý kiến đều thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng văn chương
trong thời kỳ Đổi mới, đáng để chúng ta quan tâm.
2/ Từ lúc Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, vấn đề gây tranh cãi, trở thành yếu tố
nhạy cảm trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp mà chủ yếu là mảng truyện
ngắn, chính là vấn đề con người.
Để hiểu một cách đầy đủ hơn về Nguyễn Huy Thiệp nhằm xác định
đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam thời kì Đổi mới sau 1975, chúng
tôi mạnh dạn đặt vấn đề tìm hiểu quan niệm về con người trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp với mong muốn làm rõ hơn tư duy nghệ thuật của Nguyễn
Huy Thiệp. Đó chính là nguyên tắc tư tưởng, chi phối sự sáng tạo nghệ thuật
của nhà văn trong lĩnh vực truyện ngắn.
15
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Huy Thiệp viết khá nhiều thể loại: Kịch, truyện ngắn, tiểu
thuyết, tiểu luận phê bình, trong đó, thể loại làm nên tên tuổi của ông là
truyện ngắn. Trong thể loại này, Nguyễn Huy Thiệp có tất cả bốn mươi hai
truyện ngắn. Trong đó bao gồm: Những ngọn gió Hua Tát (gồm mười truyện
nhỏ), Con gái thủy thần (gồm ba truyện), Chút thoáng Xuân Hương (gồm ba
truyện), chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa - Phẩm tiết, v.v…
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu toàn bộ
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp để thấy được quan niệm về con người
trong sáng tác của ông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ làm rõ quan niệm về con người trong truyện
ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
5. Phương pháp nghiên cứu Để triển khai đề tài Quan niệm về con người trong sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp (khảo sát truyện ngắn) chúng tôi đã vận dụng những
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp loại hình: Trên cơ sở vận dụng lí thuyết về loại hình tự
sự (tiểu thuyết), để thấy Nguyễn Huy Thiệp với tư duy nghệ thuật đã xây
dựng tính cách các nhân vật trong truyện ngắn của mình, đưa các ra mô hình
của sự nhận thức, giúp người đọc khám phá hiện thực đời sống phong phú và
đa dạng.
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Trên cơ sở của sự hiểu biết hoàn
cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt mốc Đổi mới từ năm
1986 đến nay để nhìn nhận, đánh giá những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
16
phù hợp với sự vận động và phát triển của lịch sử Việt Nam. Từ đó có cái
nhìn xác đáng, toàn diện về vấn đề con người được tác giả đề cập trong tác
phẩm.
Hướng tiếp cận thi pháp học: Trong quá trình tìm hiểu quan niệm về
con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi vận dụng kiến
thức thi pháp học để tìm hiểu nét đặc trưng nghệ thuật trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp hiện từ góc độ quan niệm con người của nhà văn.
Ngoài các phương pháp nghiên cứu chính trên đây, trong quá trình thực
hiện luận văn, các thao tác phân tích -tổng hợp, so sánh - đối chiếu cũng được
sử dụng.
6. Đóng góp của đề tài
Từ việc nghiên cứu quan niệm về con người trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp, thấy được tầm nhìn, tầm nhận thức, lý giải của nhà văn
về con người gắn với sự vận động nội tại của văn học Việt Nam trong thời kỳ
Đổi mới, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận của độc giả trong hoàn cảnh hiện đại của
xã hội Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm có 127 trang. Ngoài phần Dẫn nhập (11 trang), Kết luận
(2 trang), Tài liệu tham khảo (8 trang), Phụ Lục (4 trang) – Phần nội dung
chính của Luận văn gồm có 102 trang và được chia làm ba chương:
Chương 1: Vấn đề con người trong văn học Việt Nam sau 1975 và
trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày vấn đề con người trong
truyện Việt Nam sau 1975 và các ý kiến tranh luận cách viết về con người
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
17
Chương 2: Con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là
“con người không toàn vẹn”.
Trong chương này, chúng tôi trình bày quan niệm về con người của
Nguyễn Huy Thiệp được thể hiện trong truyện ngắn của nhà văn ở một số
phương diện.
Chương 3. Một số biện pháp nghệ thuật thể hiện quan niệm về con người
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
Trong chương này, chúng tôi trình bày các biện pháp nghệ thuật được
Nguyễn Huy Thiệp sử dụng trong cách viết về con người.
18
CHUƠNG 1: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VÀ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
1.1. Con người trong văn học và thuật ngữ “quan niệm về con người”.
1.1.1. Con người là đối tượng trung tâm của văn học.
Nhà văn M.Gorki khẳng định: “Văn học là nhân học”, tức là một môn
khoa học về con người, “nhưng không phải thứ nhân học trừu tượng mà là
con người ở đây được phản ánh một cách cụ thể sinh động như trong đời
sống thực hằng ngày, với tên tuổi lí lịch, nhân dạng riêng, nó đang đứng
ngồi, đi lại, nói năng, hành động, bộc lộ tâm lí, tình cảm trước mọi người,
người đọc như hình dung thấy được, nghe được những cử chỉ, dáng điệu, nét
mặt, tư thế, lời nói, ý nghĩ của họ” [27, tr.112]. Văn học tìm hiểu và hướng
dẫn con người, từ đối tượng, nội dung đến ý nghĩa, vấn đề sống còn của văn
học là vấn đề con người. Cho nên con người là đối tượng trung tâm của văn
học. “Con người – đối tượng của văn học – được phản ánh một cách tổng
hợp, toàn diện, trong quan hệ mọi mặt, nhưng được tập trung soi rọi trước
hết là từ bên trong, không phải về mặt sinh vật học hay về mặt sinh hoạt
chuyên môn. Chính vì đối tượng của văn học không phải con người “chuyên
môn” mà con người trong đời sống hàng ngày, trong những mối quan tâm
thích thú chung nhất, nên tác phẩm văn học được sự đồng cảm tự nhiên của
người đọc, không cần phải có kiến thức chuyên sâu mới nhập vào đời sống
tinh thần, tình cảm của nhân vật mới dễ dàng nhận ra và tỏ thái độ trước
những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm” [27, tr.9]. Phạm vi và trung tâm
chú ý của văn học là con người với tư cách là một đơn vị sống cá thể, một cá
tính cụ thể, sinh động, không trùng lặp. Con người là tổng hòa các mối quan
hệ xã hội. Văn học phản ánh các quan hệ qua lại của thế giới hiện thực mà
19
trước hết là các quan hệ xã hội của con người. “Đối tượng của văn học nghệ
thuật không phải là các lĩnh vực chuyên môn, là những cái gắn liền với đời
sống xã hội, thiên nhiên và đời sống bên trong của con người” [27, tr.282].
“Từ xa xưa, A- rit-tốt đã khẳng định: văn học nghệ thuật chính là bắt chước
đời sống ngay trong cái bao la muôn màu muôn vẻ, trong sự sinh sôi nảy nở
và biến hóa vô cùng tận của đời sống” [27, tr.5]. Đó là cái thế giới mang giá
trị, ý nghĩa đối với sự sống của con người. Như vậy, văn học miêu tả toàn bộ
hiện thực nhưng ở bình diện các quan hệ đời sống của con người. Việc nhận
thức toàn bộ quan hệ của thế giới con người đã đặt con người vào vị trí chủ
yếu vì nó là trung tâm của các quan hệ. Lấy con người làm đối tượng miêu tả
chủ yếu, văn nghệ có một điểm tựa để nhìn ra toàn thế giới. “Văn nghệ bao
giờ cũng nhìn hiện thực qua cái nhìn con người. Con người trong đời sống và
trong văn nghệ là những trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kết
tinh các kinh nghiệm quan hệ” [32, tr.126]. “Con người, đối tượng của văn
học nghệ thuật là con người trải qua mọi mối quan hệ của nó trong đời sống
hiện thực, không chỉ về mặt sinh lí mà trước hết về mặt xã hội, không chỉ về
mặt hoạt động vật chất cụ thể, không chỉ ở những biểu hiện bên ngoài mà cả
đời sống bên trong, mọi mặt, chủ yếu về mặt tâm lí, tư tưởng tình cảm, về mặt
cá tính hay nhân cách, tóm lại là những biểu hiện khách quan lẫn chủ quan
trong sinh hoạt của con người” [27, tr.96].
Mọi sự vật hiện tượng văn học miêu tả đều được nhìn qua nhân vật –
con người. Nhưng con người trong văn nghệ không chỉ được phản ánh ở góc
độ nhìn nhận đời sống, một chỗ đứng để khám phá hiện thực, mà còn được
phản ánh như những hiện tượng xã hội nhất định. M. Gorki nói rằng: “ở trong
mỗi đơn vị con người được miêu tả, ngoài cái chung phổ biến của giai cấp ra,
cần phải tìm được cái lõi cá tính, nó là nét đặc trưng và xét đến cùng quy
định thái độ của nó” [27, tr.196]. Và Tséc-nư-sep-xki đã từng nói: “Đời sống
20
hiện thực, đương nhiên không chỉ hiểu như là quan hệ giữa con người với các
sự vật tồn tại trong thế giới khách quan, mà còn là đời sống nội tâm của con
người; có khi con người sống bằng ảo mộng, thì những ảo mộng đó đến với y
cũng mang một ý nghĩa khách quan nào đó; thông thường hơn, con người
sống trong thế giới tình cảm của mình, những trạng huống ấy nếu là đặc sắc
thì cũng được nghệ thuật tái hiện” [27, tr.95]. Về mặt này, văn nghệ nhận
thức con người như những tính cách. Đó là những con người sống cá thể
nhưng lại thể hiện rõ những nét phẩm chất có ý nghĩa xã hội, những “kiểu
quan hệ xã hội” [72]. Miêu tả con người, văn học nghệ thuật không thể không
soi rọi vào các điều kiện xã hội bao bọc và chi phối đời sống của con người
khác nhau trong xã hội, đồng thời phản ánh đời sống xã hội. Vì rằng con
người sống trong xã hội, cho nên vấn đề con người cũng là vấn đề chế độ xã
hội. Hồ Chủ tịch nói: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy” [27, tr.17]. Văn học
nghệ thuật là tấm gương của xã hội đã sản sinh ra nó ở một giai đoạn lịch sử
nhất định. Như thế, vấn đề văn học là vấn đề cốt lõi của xã hội, đồng thời
cũng là vấn đề xã hội. Con người làm ăn sinh sống, lo toan, hy vọng, hạnh
phúc là từ trong một xã hội nhất định, từ những quan hệ ràng buộc con người
với nhau và tất cả đều chịu sự chi phối của xã hội. Tình cảm gia đình, khát
vọng hạnh phúc nằm trong phần sâu của tâm hồn con người, từ lâu đã là đối
tượng tìm tòi, thể hiện của văn học. Nhưng những chủ đề như là “muôn thuở”
ấy sẽ mất đi ý nghĩa sâu xa nếu tách khỏi thân phận của con người, nếu tách
những điều kiện xã hội cụ thể bao quanh con người. “Nghệ thuật mà tách rời
với những tình tự hàng ngày, để chỉ quy về đời sống tâm linh, nhà văn tự gặm
nhấm tâm hồn mình hay triền miên trong thế giới siêu hình – nghệ thuật đó
không tránh khỏi cắt lìa với hiện thực sôi động, và dù với danh nghĩa siêu
việt, huyền diệu, chẳng qua là cũng chỉ là rút về tháp ngà, về cái vỏ ốc của
cái tôi, nó chẳng có nghĩa gì so với đời sống bao la, muôn hình vạn trạng, đời
21
sống với những vui, buồn, vinh nhục, thăng trầm của nó, với bao nhiêu vấn đề
cần ưu ái của hàng triệu con người sống trên mặt đất” [27, tr.190]. Trong
văn học con người là thước đo, thông qua con người mà những sự kiện lớn
nhỏ tạo nên con người được khám phá. Vì thế Đốt-tôi-ep-xki đã nói: “Con
người là một điều bí ẩn, cần khám phá con người. Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy
vì tôi muốn trở thành con người” [68, tr.60]. Thạch Lam hơn nửa thế kỉ trước
từng khao khát: “Tôi bằng lòng đánh đổi cả một đời người để được biết
những ý nghĩ gì đã đi qua trên vầng trán phẳng của các thiếu nữ mà hằng
ngày chúng ta gặp cười nói ở ngoài đường” [1, tr.18]. Thế giới bên trong con
người quả là một đối tượng không cùng của văn học. Văn học là một phương
tiện quan trọng giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật
của con người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, hiểu thêm về thế
giới, sự phong phú của thế giới.
Trong văn nghệ, sáng tạo là bằng tưởng tượng. Nhưng tưởng tượng dù
có bay bổng đến đâu cũng bắt nguồn từ hiện thực, từ những yếu tố làm nên
cuộc sống hàng ngày, trong đó con người là trung tâm. Hiện thực đời sống
bao la, muôn màu muôn vẻ, lại không ngừng biến đổi và phát triển, cái nhà
văn hướng vào trước hết chính là con người, là tính cách, là tâm hồn của con
người, là những gì quy tụ vào con người và làm nên số phận, làm nên ý nghĩa
cuộc sống của con người. Vậy làm sao nó có thể bỏ qua những vấn đề của số
phận con người. Đối tượng trung tâm của văn học là con người nên nhà văn
phải tìm hiểu và nhận thức sâu sắc bản chất con người thực tại thì mới có thể
phản ánh đúng, đầy đủ và phục vụ tốt cho người đọc. Vì thế, một nhà thơ Đức
đã nói: “Phương pháp sáng tác đích thực là phương pháp mang tính người
đích thực”. Xét trên quan điểm nghệ thuật, phương pháp ưu việt nhất – cái
đứng trên mọi nguyên tắc, nguyên lý – nội hàm của nó luôn chứa đựng sự
hiểu biết về con người, tình yêu và trách nhiệm đối với con người. Hình
22
tượng nghệ thuật của nhà văn phải mang những giá trị hình thành các chủ thể
của đời sống, tức con người. Nó phải đáp ứng nhu cầu thời đại, phát triển
nhân cách, thanh lọc tâm hồn con người theo chiều hướng thượng. Bằng chất
thẩm mỹ nghệ thuật đặc thù, cá biệt của hình tượng do nhà văn sáng tạo, một
tác phẩm văn chương cần lay động cho bằng được sự phân biệt rạch ròi cái
thiện, cái ác trong tâm thức người, giúp con người nhận thức đúng bản chất
của sự việc, hiện tượng đang hạn chế đà tiến bộ của xã hội.
1.1.2 Quan niệm về con người trong văn học.
1.1.2.1 Giải thích thuật ngữ “Quan niệm về con người trong văn học”
Vấn đề con người bao giờ cũng là vấn đề trung tâm của một nền văn học,
một giai đoạn văn học. Thời đại văn học mới bao giờ cũng bắt đầu bằng việc
đổi mới quan niệm văn học về con người. Vì thế quan niệm con người là một
trong những vấn đề cốt lõi, là “hệ quy chiếu” để xem xét tiến trình vận động,
đổi mới của một nền văn văn học.
Con người là đối tượng trung tâm của văn học nên để tìm hiểu sự sáng
tạo của nhà văn, tầm khái quát sâu rộng của tác phẩm cũng như những thành
công, đóng góp của nhà văn cho một giai đoạn, thời kì văn học không thể
không tìm hiểu quan niệm con người của tác giả, của giai đoạn văn học đó.
Quan niệm về con người là một khái niệm mới, có những cách hiểu
khác nhau. Theo Giáo sư Trần Đình Sử, thuật ngữ quan niệm trong nghệ thuật
“là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải,
tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là
tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó
diễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm
chí có thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả “không chính xác” về đời
sống” [55, tr.8].
23
Hiện thực cuộc sống với mọi biểu hiện phức tạp và sinh động của nó là
nguồn nuôi dưỡng vô tận cho sáng tạo văn học, trong đó, con người luôn luôn
là đối tượng miêu tả và thể hiện. Hiện thực luôn phát triển, biến động và con
người cũng luôn biến đổi – chính điều này tạo nên chân dung và đặc điểm của
mỗi thời đại. Và mỗi thời đại văn học, do nhiều yếu tố chính trị - xã hội, và do
cả tầm vóc nhận thức của chính nó, cũng đưa ra một cách quan niệm, một
kiểu tư duy nghệ thuật về con người nhằm chiếm lĩnh thực tại một cách hiệu
quả.
Mỗi nhà văn có quan niệm khác nhau về con người. Nghiên cứu quan
niệm về con người trong văn học là tìm hiểu cách nhìn, sự khám phá, sự lí
giải, trình độ hiểu biết về con người của nhà văn, tức là xem xét con người đã
được nhà văn nhận thức như thế nào gắn với môi trường sống và hoạt động.
Điều đó thể hiện trình độ tư duy nghệ thuật của nhà văn. Giáo sư Lê Ngọc Trà
trong bài Vấn đề con người trong văn học, khi nói về sự khám phá con người
đã viết: “Thường thì đa số các tác phẩm mới chú ý khắc họa những nét điển
hình xã hội, bước thăng trầm trong cuộc sống hay đường đời của các nhân
vật chứ chưa dựng lên được những số phận tinh thần, chưa diễn tả đời sống
của bản thân ý thức của những khát vọng, tìm kiếm bên trong của con người.
Đây không phải là vấn đề miêu tả tâm lí nhân vật mà cơ bản là vấn đề chủ
nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người” [68, tr.65].
Quan niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng
tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn của người nghệ sĩ. Quan niệm
nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của
nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn
có của văn học. Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, nêu ra những tư
tưởng mới khám phá về con người. Do đó càng đi sâu khám phá nhiều quan
niệm về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh
24
giá đúng những thành tựu của họ trong sáng tạo nghệ thuật. “Quan niệm nghệ
thuật về con người không phải là toàn bộ sáng tạo của nhà văn, cũng không
xác định toàn bộ giá trị và ý nghĩa của tác phẩm, nhưng quan niệm về con
người chi phối mạnh mẽ việc xây dựng tác phẩm để lại những dấu ấn đậm nét
về từng nhà văn, từng trào lưu, thời kì văn học” [24, tr.17] .
1.1.2.2. Vấn đề con người trong văn học Việt Nam sau 1975
Con người trong văn học dù là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, bao
giờ cũng là con đẻ của thời đại. Đặc điểm chung của thời đại có vai trò chi
phối lớn đến quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học của thời đại
đó. Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối khác của nghệ thuật
biểu hiện. Mỗi giai đoạn lịch sử, văn học gắn với một quan niệm nghệ thuật
về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người được xem như là cách tân
quan trọng nhất của văn học nói chung ở mọi thời kỳ. Chỉ có sự thay đổi quan
niệm nghệ thuật về con người mới tạo ra sự đổi mới toàn diện, những phát
triển về tư duy nghệ thuật, đề tài, bút pháp, giọng điệu, … Hiểu như trên,
trong phạm vi hẹp, sự đổi mới của văn xuôi từ 1975 đến nay suy cho cùng
đều bắt nguồn từ sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người.
Thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến những năm 70, đất nước ta phải
sống trong hoàn cảnh chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó lợi ích cộng đồng trở
thành nguyên tắc hàng đầu. Trong chiến tranh, mỗi công dân, dù là công dân
cầm súng, cầm cày, hay cầm bút, khi đã đứng bên này chiến tuyến thì lí tưởng
chung, sự nghiệp chung, vận mệnh chung, trở thành lẽ sống, lẽ tồn tại.
Nguyên tắc này được mọi công dân nhận thức một cách tự giác. Tất cả những
gì thuộc về quyền lợi cá nhân, những gì nằm ngoài mục tiêu cấp thiết của
chiến đấu và chiến thắng, dù rất chính đáng cũng được tự nguyện gác lại hoặc
yêu cầu gác lại. Và văn học giai đoạn này chịu sự chi phối của yêu cầu và quy
25
luật của chiến tranh. Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 tập trung
vào đề tài tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Văn học nhìn con người bằng cái nhìn sử thi, cái nhìn lý tưởng,
lấy lịch sử làm điểm quy chiếu con người. Con người văn học trong thời kì
này được nhận thức, phân tích, đánh giá ở góc độ chính trị, trong quan hệ ta –
địch. Nhân vật trung tâm của tác phẩm văn học là người chiến sĩ trên mặt trận
vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường như dân quân, du
kích, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Đó là những con người
sống với cộng đồng, con người giai cấp, con người dân tộc, xả thân vì nghĩa
lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự gắn bó với cộng đồng, mang tầm
vóc sử thi, kết tinh những phẩm chất cao quý đại diện cho cả cộng đồng như
các nhân vật Núp trong Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), chị Út Tịch trong
Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), anh Nguyễn Văn Trỗi trong Sống như
anh, chị Sứ trong Hòn đất (Anh Đức) là những con người lí tưởng của thời
đại. Họ sẵn sàng hy sinh thân mình, cống hiến cho tổ quốc. Phải thừa nhận là
giai đoạn cách mạng và kháng chiến kéo dài suốt 30 năm (1945 - 1975) đã tạo
nên một mẫu người phổ biến trong cuộc sống và trong văn chương phù hợp
với yêu cầu cơ bản của lịch sử là chiến thắng, bằng bất kỳ giá nào, kẻ thù của
dân tộc và tiến bộ xã hội. Câu nói của Chủ Tịch Hồ Chí Minh “Dù phải đốt
cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho kì được độc lập” đã trở
thành quyết tâm và sức mạnh của hàng triệu người Việt Nam. Không phải
chúng ta không nhận biết được tính toàn diện của bản chất người, tính đa
dạng và phức tạp của quan hệ người. Con người là sự tổng hòa các mối quan
hệ xã hội nhưng để tồn tại và chiến thắng, một số mặt trong bản chất và quan
hệ ấy, trên thực tế, đã nổi trội hẳn lên. Đó chủ yếu là con người hiện thực, con
người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng
và con người phi thường. Làm sao có thể khác được. Chiến tranh có quy luật
26
riêng của nó. Muốn vượt qua những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh,
con người cần sống một cách thực tế, không nên quá suy tư và đa cảm, phải
giản ước mọi ham muốn, không được mơ hồ về kẻ thù, không được phép nghĩ
nhiều tới lợi ích và nguyện vọng riêng tư, và nhất là cần huy động mọi phẩm
chất cao đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình để chiến thắng kẻ thù.
Từ sau toàn thắng 1975, tình hình đất nước, xã hội, con người Việt
Nam hoàn toàn đổi khác. Dân tộc Việt Nam đã thực sự giành được độc lập,
thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đất nước còn gặp nhiều khó khăn thử thách
mới. Những thử thách khắc nghiệt của thời hậu chiến, từ chiến tranh chuyển
sang hòa bình, từ đấu tranh chuyển sang xây dựng đang diễn ra trên khắp đất
nước. Văn học cũng khép lại một chặng đường văn học Cách mạng, mở ra
thời kì mới của văn học thời hậu chiến với nhiều sự biến chuyển thay đổi.
Văn học lúc này không chỉ miêu tả vấn đề ta – địch mà quan tâm đến nhiều
mặt: vấn đề con người, vấn đề nhân bản, chủ nghĩa nhân văn.
Thật vậy, chỉ một số ít năm sau chiến tranh, người ta nhận ra ngay được
nghịch lí: hóa ra đời sống trong hòa bình phức tạp hơn trong chiến tranh rất
nhiều. Chiến tranh ác liệt nhưng đơn giản. Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã
hội và con người dồn lại vào một quan hệ duy nhất: sống – chết. Người ta
phải sống phi thường, phi thường có thể là cao cả, nhưng phi thường cũng có
thể triệt tiêu đi bao nhiêu quan hệ bình thường mà vô cùng phong phú và
phức tạp của đời sống con người, đẩy tất cả quan hệ ấy về phía sau. Trong
chiến tranh, xác định xong vấn đề sống – chết, thì sẽ có thể sống rất thanh
thản. Ngọn lửa chiến tranh thiêu cháy những nhỏ nhen, nhiêu khê của cuộc
sống thường ngày…Hòa bình thì khác hẳn. Hòa bình tức là trở lại đối mặt với
cái bình thường hằng ngày, cái bình thường mà muôn thuở, tất cả cái nhiêu
khê của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh
con người từng giờ ở khắp mọi nơi. Nếu trong chiến tranh chỉ có một câu hỏi
27
duy nhất: sống hay chết, thì bây giờ vô số câu hỏi dấy lên từ những tầng sâu
của xã hội, tích lũy âm thầm trong những quá trình lịch sử phức tạp và lâu
dài, bày hết ra trước con người.
Giờ đây, với nhà văn, cuộc sống đã mở ra những triển vọng cao hơn
cùng những đòi hỏi lớn hơn. Để đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của
công chúng, văn chương cần trở về với đặc trưng vốn có của mình, cần tuân
thủ những “quy luật muôn đời” của lịch sử văn chương dân tộc và nhân loại.
Trong điều kiện mới này, văn học đòi hỏi nhà văn phải thay đổi cách nhìn con
người. Thay vì cách nhìn đơn giản, rạch ròi thiện - ác, bạn - thù, cao cả - thấp
hèn là cách nhìn con người đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con
người trong những mối quan hệ đời thường đa đoan và phức tạp. Đề tài chiến
tranh và cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề tài thế sự
và đời tư.
Trong thực tiễn sáng tác từ sau năm 1975, cảm hứng sự thật về hiện
thực và con người trở thành cảm hứng chủ đạo bao trùm đối với các nhà văn.
Văn xuôi thế sự, đời tư không chỉ bộc lộ những suy nghĩ, trăn trở mà còn phơi
bày, phanh phui những các sự vật hiện tượng để đi đến tận cùng cốt lõi của
nó. Thời đại đổi mới không cho phép nhà văn thuyết giáo về một mẫu người
chung chung, xa lạ đối với con người cụ thể trong đời sống. Không thể miêu
tả một cách đơn giản cá tính của con người. Con người trong tác phẩm phải
được nhà văn mổ xẻ thấu đáo, tường tận trên bình diện giai cấp và các mối
quan hệ nhân sinh phức tạp khác.
Nhu cầu đổi mới quan niệm về con người trong văn học sau năm 1975
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), chủ trương
đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã làm chuyển động mạnh
28
mẽ mọi hoạt động của đời sống, con người Việt Nam. Đổi mới tư duy, trong
đó có đổi mới văn học nghệ thuật trên tinh thần: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh
giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Trong hoàn cảnh mới, với yêu cầu đối mới,
nhà văn nhận rõ những non yếu của văn học thời kì trước. Trên tờ báo Văn
nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Minh
Châu cho in bài phát biểu nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa. Bài báo đã nêu lên vấn đề đang xảy ra trong giới cầm bút lúc
bấy giờ “người nghệ sĩ, hễ cầm bút là nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón,
đối phó….Mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc cầm hai
cây bút, một cây bút viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút viết
cho lãnh đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngòi
bút thứ hai này, buồn thay- các nhà văn cầm lâu ngày, để tự bảo vệ mình cho
nên cũng lắm kinh nghiệm mà cũng tài hoa lắm….Trong khi đó, những cây
bút minh họa, những tác phẩm minh họa một chiều thì lại thoải mái, người
viết cầm bút thoải mái chẳng có gì phải luồn lách, lắp đậy, rào đón, chỉ phải
cái nó công thức và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc cảm thấy nó
giả, mỗi ngày người đọc cảm thấy ở tác phẩm minh họa và ca ngợi một sự giả
dối không thể bào chữa, so với cuộc đời thực bên ngoài” [4.1]. Bài báo vừa là
tuyên ngôn, vừa thể hiện tinh thần đổi mới văn học hết sức triệt để của giới
sáng tác. Trong bài viết Vấn đề con người trong văn học, Giáo sư Lê Ngọc
Trà viết: “Cuộc đời rộng hơn chính trị, con người rộng hơn con người giai
cấp, thế giới tinh thần của con người và ý thức giai cấp của anh ta không
phải là một” [68, tr.58].
Trong một xã hội đầy biến động, những cái cũ bị phá vỡ, những tư
tưởng mới, quan niệm mới đang hình thành trong lòng xã hội, văn học Việt
Nam nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói riêng đang vận động không ngừng
để bước vào quỹ đạo mới cùng với văn học thế giới. Những phương diện mới
29
của con người, đặc biệt là những bi kịch của con người cá nhân vốn bị né
tránh trong văn học thời kì trước nay đã được các nhà văn tìm đến khai phá,
phơi bày. “Phải xây dựng, khôi phục lại tất cả những tính cách đã bị những
điều kiện ngặt nghèo, trong chiến tranh làm cho phần nào méo mó đi, chí ít
cũng mất bình thường đi. Như vậy đã đến lúc phải nhìn nhận lại, đánh giá lại
con người cùng sự việc lại cho công bằng, chính xác hơn, khôi phục lại
những nguyên tắc đạo đức, những quy tắc làm người, nhất là con người mới
xã hội chủ nghĩa cho đầy đủ và đúng nghĩa hơn” [53]. Khi hướng tới đối
tượng trung tâm của mình, tác phẩm văn chương không chỉ thể hiện đời sống
và phẩm chất của con người, không chỉ đặt ra và giải quyết những vấn đề nảy
sinh trong quan hệ giữa con người và con người, giữa con người với tự nhiên,
mà quan trọng hơn là tìm hiểu, khám phá và phát hiện ra những bí ẩn nằm
trong chiều sâu, những chiều kích khác nhau của con người. Giáo sư Lê Ngọc
Trà viết: “Văn học, đặc biệt là văn học đã thực sự bước vào giai đoạn trưởng
thành, không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng thương xót con người
mà còn là một lĩnh vực quan sát và khám phá về con người” [68, tr.60]. Và
đó chính là một điểm làm nên nét độc đáo của văn xuôi Việt Nam nói chung,
truyện ngắn Việt Nam nói riêng từ sau 1975 đến nay.
1.2. Vấn đề con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp qua các ý kiến tranh luận
Nói đến sự cách tân quan niệm về con người trong truyện ngắn đương
đại không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp – người đã góp phần làm
cho đời sống văn học thời kỳ Đổi mới trở nên sôi nổi và khởi sắc hơn bao giờ
hết. Trong đó, mảng đề tài lịch sử gây nhiều tranh cãi trong dư luận bởi cách
nhìn và thể hiện nhân vật lịch sử trong tác phẩm của ông có sự khác biệt.
30
Những ý kiến đánh giá về cách nhìn con người trong tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp dù khen hay chê, tất cả đều mạnh mẽ quyết liệt.
Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề con
người trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Tháng 1 năm 1987, tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn
Huy Thiệp được khởi đăng, nhưng chưa gây được tiếng vang. Đến khi Tướng
về hưu ra đời trên báo Văn nghệ số 24 ngày 20/6/1987 và đặc biệt từ sau khi
chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết liên tiếp ra mắt bạn đọc từ
tháng 4/1988, Nguyễn Huy Thiệp trở thành một hiện tượng trong văn học thời
kì Đổi mới bấy giờ. Lúc này xuất hiện những phản ứng gay gắt, trái ngược
nhau trong việc đánh giá các sáng tác của nhà văn. Dư luận về tác phẩm của
ông sôi nổi không nhằm khẳng định hay phủ nhận tài năng của Nguyễn Huy
Thiệp mà tập trung vào các vấn đề: văn - sử; hư cấu – phi hư cấu; chính - tà.
Căn cứ vào nội dung các bài tranh luận có thể chia làm hai xu hướng: xu
hướng phản đối, phủ nhận và xu hướng ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp.
1.Ở xu hướng phản đối, phủ nhận, tập trung vào ba truyện Kiếm sắc –
Vàng lửa – Phẩm tiết, đăt biệt là truyện Phẩm tiết. Những người phê phán
Nguyễn Huy Thiệp có cách làm khá giống nhau là: đối chiếu các hiện tượng
hư cấu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp với các nhân vật lịch sử, văn
hóa đã trở thành khá quen thuộc với người Việt Nam, từ đó họ đã đến kết luận
những hiện tượng Quang Trung, Gia Long, Nguyễn Du,… trong tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp là sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Một trong những người
đầu tiên phê phán Nguyễn Huy Thiệp là nhà sử học Tạ Ngọc Liễn. Ông cảnh
báo: “Chúng ta phải nhắc nhở anh cần định hướng lại một cách chắc chắn
hơn khi ngồi trước trang giấy, đặc biệt cần kiểm tra lại vốn kiến thức văn
hóa, vốn hiểu biết lịch sử trong hành trang anh đang có nếu như anh vẫn tiếp
tục các đề tài lịch sử” [39, tr.170]. Lúc thì ông chỉ trích khá gay gắt, rằng
31
Nguyễn Huy Thiệp là người có nhận thức phiến diện, “trình độ học vấn chưa
đầy đủ, bôi nhọ anh hùng dân tộc” [39, tr.17]. Và từ góc nhìn lịch sử, Tạ
Ngọc Liễn yêu cầu Nguyễn Huy Thiệp “không được xuyên tạc hư cấu một
cách tùy tiện, giống như không ai được phá hoại các di tích lịch sử đã được
xếp hạng” [39, tr.177]. “Tôi không nghĩ tác giả luận điểm này là người mắc
bệnh tâm thần nhưng đó không phải là sự suy tưởng của một đầu óc lành
mạnh khỏe khoắn” [39, tr.173]. Và ông đưa ra kết luận cuối bài viết của mình
là: “Viết lịch sử không chỉ sử gia mà cả nhà văn cũng phải phục tùng sự thật,
đúng bản chất lịch sử, không làm cho diện mạo của nó méo nó đi” [39,
tr.177]. Nhà báo Lê Hà trong bài Các vị tướng nói về phim “Tướng về hưu”
rằng: “Ông tướng (người tiêu biểu cho quân đội) quá xa thực tế, quá xa cuộc
sống và cứng nhắc trong cuộc đời. Để làm gì? Nếu không nói xấu quân đội,
thì cũng là bức tranh sai lệch về quân đội. Chẳng lẽ quân đội không còn gì
hay ho hơn để nói” [39, tr.37]. “Tác giả đã bôi nhọ cuộc đời chiến đấu của
một cán bộ quân đội, lí ra rất đáng ca ngợi” [39, tr.39]. Trong khi đó Đỗ Văn
Khang trong bài viết Vì sao văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày càng sa sút lại
nhận xét: “Ở Tướng về hưu, người ta thấy Nguyễn Huy Thiệp đã bộc lộ một
hạn chế rất nghiêm trọng, là anh đã nhìn đời tàn nhẫn quá, “hung hãn, táo
tợn”, “lạnh lùng, hằn học” quá” [39, tr.410]. “Văn anh còn thóa mạ con
người”. “Anh xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn với một thái độ phủ định
quyết liệt” [39, tr.411]. “Truyện của anh không nâng đỡ con người, mà tìm
cách thóa mạ con người” [39, tr.414].
Ngoài ra, một số nhà phê bình, nhà báo cùng một cách nhìn thiếu thiện
cảm với chùm truyện về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp như Nguyễn
Thúy Ái, Đỗ Văn Khang, v.v…Họ quả quyết rằng Nguyễn Huy Thiệp thiếu
tâm trong sáng tác của người cầm bút. Đặc biệt Nguyến Thúy Ái đã đặt một
cái tên khá ấn tượng cho bài viết về Nguyễn Huy Thiệp của mình “Viết như
32
thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ” [39, tr.203]. Đỗ Văn Khang
đưa ra nhận xét: “Rất đúng rằng không được nhìn lịch sử bằng con mắt sáo
mòn, nhưng có nên dựng một tên cướp nước để hắn dạy cho chúng tôi về lịch
sử Việt Nam không? Có lẽ đơn giản ở đây là: một kẻ vô đạo đức thì không
bao giờ rao giảng đạo lí cho người khác được” [39, tr.194]. Ngoài ra, ông
cũng đồng tình với ý kiến của Tạ Ngọc Liễn và nói “Nguyễn Huy Thiệp viết
truyện “lịch sử - thế sự” mà toàn dựng các nhân vật chủ chốt không thuộc
chính sử (Phăng trong Vàng lửa và cô Vinh Hoa trong Phẩm tiết)” [39,
tr.190]. Nhà văn Bùi Hiển nhận xét: “Nguyễn Huy Thiệp đặt con người trên
bình diện “thực thể” và đó là con người thấp kém” [39, tr.451]. Ngoài ra nhà
văn Hồ Phương nhận định rằng: “Trong “Không có vua” tôi thấy dường như
đã lộ một khuynh hướng của anh với cái nhìn xã hội thiên về đen tối, đỗ vỡ,
mất hết lòng tin của con người trong xã hội hôm nay và những con người
chúng ta một cách tàn quá… Nếu muốn nói gì về xã hội, về con người, người
viết có toàn quyền trong việc hư cấu nhân vật. Nhưng khi đã mượn nhân vật
lịch sử như Quang Trung để chở ý định của mình thì việc hư cấu phải có giới
hạn” [39, tr.451-452]. Trong khi đó nhà văn Bùi Bình Thi cho rằng: “Tác giả
nhìn con người không đúng. Nhìn một cách u uất, lạng lùng đến tàn ác”.
“Viết về những con người trong đau khổ phải gợi được niềm hy vọng, sự
vươn lên. Truyện của Nguyễn Huy Thiệp thiếu những yếu tố ấy” [39, tr.454].
Nguyễn Huy Thiệp bị coi là kẻ đang chạy theo mốt dị dạng và xúc phạm
nghiêm trọng đến lịch sử và người đọc. Thậm chí tài năng văn chương của
Nguyễn Huy Thiệp ít nhiều được công nhận trong chùm truyện Những ngọn
gió Hua Tát và Tướng về hưu cũng bị nghi ngờ. Các ý kiến này cho rằng, điều
quan trọng là người viết truyện cần đạt đến yêu cầu tái tạo trong tiểu thuyết
một sự thật của chính sử, và nếu bước ra ngoài chính sử cần có bằng chứng
hoặc tập thể kiểm nhận.
33
Hầu hết những người phản đối sự hư cấu lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp
đều giữ quan điểm về kiểu tiểu thuyết truyền thống, không cho phép hư cấu một
cách tùy tiện, yêu cầu ở nhà văn phải tra cứu chuyên cần, am tường và chuyên
nghiệp hơn nữa mỗi khi va chạm với lịch sử.
2.Ở xu hướng ủng hộ cho rằng, Nguyễn Huy Thiệp đã cách tân trong kỹ
thuật viết truyện ngắn. Trong các ý kiến khen về Nguyễn Huy Thiệp, Lại
Nguyên Ân là một trong số những người đầu tiên bênh vực Nguyễn Huy
Thiệp. Phản bác lại ý kiến của Tạ Ngọc Liễn, ông viết “đọc văn phải khác với
đọc sử”. Ông đưa ra quan điểm của mình: “qua những Kiếm sắc, Vàng
lửa,…Tôi nghĩ anh có điểm nhấn riêng, theo kiểu văn học” [39, tr.186-187]
và nhấn mạnh “Thuốc đắng giả tật, sự thật mất lòng”, “sự thật mà nghe nói
ra thì người ta xấu hổ”, “chính những người can đảm cảm thấy bổn phận
mình là nói to lên”, “sự thật ấy giống với thuốc đắng” [39, tr.186]. Văn Tâm
cũng phản lại ý kiến của Tạ Ngọc Liễn “Nguyễn Huy Thiệp cần phải kiểm tra
lại vốn hiểu biết lịch sử” rằng “Nguyễn Huy Thiệp đã tốt nghiệp khoa Sử gần
hai mươi năm, dạy Sử hàng chục năm, lẽ nào thầy Thiệp chẳng thuộc lòng
mấy trang sử kí” [39, tr.292]. “Nguyễn Huy Thiệp không mắc tội bôi nhọ lịch
sử” [39, tr.295]. Và Văn Tâm khẳng định rằng “không thể đọc truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp bằng con mắt sử kí, giáo khoa như nhà nghiên cứu Tạ
Ngọc Liên đã làm” [39, tr.287]. Nguyễn Văn Bổng đánh giá rằng: “anh
không định qua các nhân vật ấy đánh giá lại lịch sử, đánh giá lại bản thân
các nhân vật. Anh chỉ mượn các nhân vật lịch sử để nói chuyện khác” [39,
tr.148]. Nguyễn Mai Xuân – Trương Hồng Quang nhận xét rằng: “Tạ Ngọc
Liễn không hề chỉ đơn giản là việc “đọc sai” văn bản văn xuôi nghệ thuật”
mà còn bộc lộ “tiếng nói trầm mặc, tự tin, không hề “thái quá” hay “bất
cập”; đằng sau những gì ông phát biểu người ta cảm giác có “một mặt trời
chân lí” đang khiêm nhường tỏa sáng – đó là tiếng nói với ý thức hiển nhiên
34
về tính phổ quát của nó, với tính chất độc thoại chỉ dung nạp một văn cảnh tư
tưởng đã nhất thể hóa, với cái nhu cầu quy tất cả về một mối, mà những gì đi
lệch ra khỏi đó, đều chỉ có thể là “sai lầm, lệch lạc” [39, tr.218-219]. Hoàng
Ngọc Hiến trong bài Tư duy tiểu thuyết và folklore hiện đại đã cho rằng cách
viết của Nguyễn Huy Thiệp là theo lối tư duy tiểu thuyết: “Trong truyện
Phẩm tiết, Nguyễn Huy Thiệp đã tiếp cận nhân vật từ quan điểm tiểu thuyết.
Ở con người Nguyễn Huệ, ngoài những nét hào hoa, lịch thiệp, tác giả còn
làm nổi bật một điểm yếu, đó là tính hiếu sắc, tính mê gái, âu cũng là một thói
“nam nhi thường tình”. “Không ai là anh hùng với người hầu cận của mình”
[39, tr.358]. “Dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, nhân cách của Nguyễn
Huệ được phát hiện ở khía cạnh bất ngờ với những phẩm giá nhân văn cao
quý” [39, tr. 359]. “Nguyễn Ánh là “một nhân vật lịch sử phản diện”. Nhấn
mạnh những nét bất nhân, bất nghĩa của Nguyễn Ánh, Nguyễn Huy Thiệp
không chối từ giả định nhân vật này là một “khối nguyên liệu vô giá”. Tác
giả đã tiếp cận Nguyễn Ánh từ quan điểm tiểu thuyết. Với cách nhìn sử thi,
bất cứ ai ở bên kia chiến tuyến lập tức bị chối từ bất cứ phẩm giá nào. Miêu
tả nhân vật gian hùng, nhà tiểu thuyết chỉ rõ cái gian nhưng không quên
phẩm chất hào hùng của nhân vật, bằng không nhân vật gian hùng chả thấy
hùng chỗ nào, không khác nào đứa ăn cắp vặt ngoài chợ. Người quen với tư
duy sử thi thường không quen với cách nhìn như vậy” [39, tr.360]. “Nhấn
mạnh nhược điểm của Nguyễn Huệ, làm nổi bật phẩm giá của Nguyễn Ánh,
Nguyễn Huy Thiệp không hề đánh đồng nhân cách của hai nhân vật. Nguyễn
Huệ có sự phản tỉnh và đời sống lương tâm, Nguyễn Ánh nói năng xử sự cứ
xưng xưng, rồi lại nhơn nhơn, không hề biết áy náy, hối hận. Nguyễn Huệ
“trọng tinh thần, bỉ thể xác” Nguyễn Ánh cho thế là dại” [39, tr.360]. Ngoài
ra ông còn nhận xét: “Trong truyện Phẩm tiết Ngô Thị Vinh Hoa là nhân vật
trung tâm, mở đầu, kết thúc và xuyên suốt truyện đều là Ngô Thị Vinh Hoa,
35
vua Quang Trung, vua Gia Long đều là phụ, mỗi nhân vật đế vương này chỉ
gắn với một “trường đoạn”. Trong truyện, Quang Trung, Gia Long đều là
vua, người nắm quyền lực cao nhất, cả hai nhân vật đều là hiện thân của
quyền lực. Vinh Hoa là một con người” [39, tr.362]. Nhà phê bình văn học
Hà Nội Nguyễn Thanh Sơn nhận xét: “Đọc các truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp cũng như một cuộc vật lộn với chính bản thân mình. Rất khó tìm thấy
nơi để tâm hồn có thể nghĩ ngơi. Nó quá kiệm lời, quá thâm trầm, và cũng
đúng một cách tàn nhẫn. Con người lần lượt bị tước dần mất những tấm màn
ảo tưởng mà chính họ dựng lên và thành tâm tin vào, những thứ vốn giúp họ
sống trong một thế giới buồn chán, không thể sống mà không có ảo tưởng”
[39, tr.118]. “Nhiều nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, méo mó, dị hình cả về
ngoại hình lẫn tâm hồn” [39, tr.120]. “Nguyễn Huy Thiệp có một giọng văn
rất lạnh lùng nhưng ẩn dấu phía sau nó lại là một lòng nhân ái sâu xa, trìu
mến đối với con người. Ông cảnh báo mọi người: “Bản tính người Việt là hay
trông ngóng, nhiều khi quên gốc ngay chính tim óc mình” (Chút thoáng Xuân
Hương) và luôn luôn muốn vun xới cho cái gốc ấy” [39, tr.126].
Các ý kiến khác của Lê Xuân Giang chứng mình rằng “thông qua việc
xây dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp lấy đề tài là nhân vật lịch
sử nhưng không hề bôi đen hay xuyên tạc lịch sử, chỉ mượn lịch sử để bộc lộ
thái độ đối với hiện tại” [39, tr.311], thông qua nhân vật để đối thoại với bạn
đọc. Diệp Minh Tuyền đưa ra nhận xét “anh đã mang đến cho văn xuôi Việt
Nam một cuộc cách tân” [39, tr.396]. Theo xu hướng này, một số ý kiến đề
xuất cần phân biệt một cách rõ ràng “đọc văn phải khác đọc sử”. Một điều dễ
nhận thấy là những người tâm đắc với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp tuy
chưa phân tích, làm rõ các khía cạnh cách tân trong kỹ thuật kể chuyện một
cách có hệ thống, song rất đề cao những cái mới trong nghệ thuật kể chuyện
của tác giả. Hơn nữa họ còn cho rằng, những chi tiết đó không chỉ là dấu hiệu
36
đổi mới trong kỹ thuật mà còn đổi mới trong tư duy. Nó báo hiệu một hoàn
cảnh dân trí đã phát triển: “muốn tôn trọng người đọc với một nhận thức rất
độc lập của họ thì nên để họ tự xác lập lấy các nhận định của họ. Đã thế thì
phải tìm tới những cơ cấu nghệ thuật kiểu khác, sao cho các ý kiến riêng, các
góc nhìn riêng khác hẳn thậm chí đối lập với cách nhìn hợp lí- được quyền
lên tiếng, thậm chí đến mức như chọc tức người đọc” [87].
Trước những sự thật, những xấu xa phơi bày trong tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp, Đông La thẳng thắn đánh giá: “Nguyễn Huy Thiệp đã xé
toạc cái khách sáo của người ở chốn đông đúc ấy để viết về các lỗi tâm lý, cái
tâm lý thật, cái tôi của con người. Từ cái cao cả đến cái thấp hèn, từ phù du
ảo huyền đến thông tục. Đó là những ao ước khát khao, những toan tính mưu
mô, kể cả những ham muốn bản năng. Nhiều khi anh đẩy đến tận cùng khiến
người đọc phải e ngại” [39, tr.132]. Hoàng Ngọc Hiến đồng cảm với những
trăn trở của nhà văn khi phải đặt bút phơi bày, miêu tả tất cả những phần xấu
xa, phần khuất tối trong con người “nói về sự đốn mạt, hèn kém của con
người, câu văn Nguyễn Huy Thiệp thường man mác, cảm giác tê tái. Đằng
sau cảm giác này là nỗi đau nhân tình. Một nỗi đau âm thầm, lặng lẽ nhưng
sâu sắc... Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa trào phúng, vừa
xót xa” [39, tr.14].
Trong thể loại truyện ngắn lấy cảm hứng từ huyền thoại được công luận
tán thưởng hoàn toàn, Nguyễn Vy Khanh nhận xét “truyện và kịch của
Nguyễn Huy Thiệp huyền thoại mà rất “đời”và “tục”. Ông có tài làm cho
người đọc chìm trong thế giới hoang dã, bịa đặt, đồng thời gây thích thú, tâm
đắc” [39, tr.383].
Năm 2001, trong lời tựa cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (cuốn sách tập
hợp nhiều bài viết về Nguyễn Huy Thiệp), Phạm Xuân Nguyên khẳng định
“…một hướng kết tinh đầy ấn tượng của thời kì đổi mới văn học là sáng tác
37
của Nguyễn Huy Thiệp. Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp – đó là thành quả của
đổi mới” [39, tr.5]. Như vậy, trong sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã
đi đúng hướng với yêu cầu đổi mới con người trong văn học sau năm 1975.
Cùng với các bài viết được công bố rộng rãi trên sách báo mà những
người yêu mến Nguyễn Huy Thiệp biết tới còn một số lượng lớn các bài viết
được đăng lên mạng internet. Trong Quan niệm nhân sinh mang tính triết lí
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (bienlang.blogtiengviet.net 14.12.2000)
đã đề cập đến quan niệm: cuộc sống, con người, vật chất tinh thần, tự do, nam
giới trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp. Bài viết Lịch sử trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại (yume.com),
đã đưa ra những dấu hiệu hậu hiện đại trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Trong Đọc lại “Sang sông (Evan ngày 21.01.2005) có đoạn “Mười một con
người, mười một gương mặt mờ nhạt. Theo tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực
truyền thống, đó là những nhân vật không đạt yêu cầu cả khái quát hóa lẫn cá
biệt hóa. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đâu có miêu tả nhân vật. Người trên đò là
một tập hợp đủ các thành phần nam phụ lão ấu, quân tử tiểu nhân, thiện và
ác…. Rõ ràng chuyến đò là sự mã hóa chúng sinh hữu tình trôi lăn theo bánh
xe sinh tử luân hồi…Nói tóm lại, đó là chúng sinh thời mở cửa, thời kinh tế
thị trường”. Trong khi nhiều độc giả khó tính chê Nguyễn Huy Thiệp rằng:
trong truyện ngắn này của ông đã đưa ra một hình mẫu nhân vật tên cướp phi
thực tế thì tác giả bài viết trên lại có cách lí giải khác: Nguyễn Huy Thiệp đã
“phá vỡ mô hình, ném vào thế gian những mảnh vụn của thế giới nhân sinh.
Người đọc mặc tình sắp xếp, lựa chọn, suy ngẫm. Tên cướp là một mảnh vụn
đó. Cho dù hắn là kè xấu, ta sẽ chẳng thể có căn cơ nào để đào thải hắn ra
khỏi thế giới loài người, cái thế giới mà Nho giáo đã dứt khoát khẳng định
“nhân chi sơ tính bản thiện”. Bài viết Ám ảnh hiện sinh trong sáng tác
Nguyễn Huy Thiệp (phongdiep.net ngày 20.06.2005) có đoạn: “con người là
38
một thực thể hiện sinh, nó tự biết mình là ai, đang ở đâu và cần sẽ làm gì. Nỗi
lo âu băn khoăn về tương lai con người và khao khát dấn thân trong hành
trình kiếm tìm bản thể”.
Sự thay đổi trong tư duy và sau đó được biểu hiện ở những cách tân trong
kỹ thuật viết, nói một cách khái quát là đặc trưng hư cấu trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp đã thay đổi. Có thể thấy rõ, trong các ý kiến phản đối, việc
đề cập đến các vấn đề hư cấu hay không hư cấu, mối quan hệ giữa tác phẩm và
người đọc, tác giả với tác phẩm đã gây nên sự “rắc rối” trong cách tiếp cận
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. “Qua hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật, họ
(người đọc) muốn biết nhà văn nói gì, giải quyết vấn đề gì, những cái đó có
phản ánh đúng bản chất lịch sử không, có đem lại cho họ những xúc động sâu
xa không?”... [39, tr.171].
Như thế, vấn đề và là nguyên nhân sâu xa cho những bất đồng gay gắt
không thể dung hoà cùng những nhận định trái ngược nhau về các giá trị văn
chương trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có thể được xác định bắt đầu từ
cách nhìn khác nhau về hướng tiếp cận hiện thực của tư duy khoa học và tư duy
nghệ thuật. Với trường hợp truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là cách tiếp cận
hiện thực của nhà sử học và nhà văn.
Hiện thực phong phú phức tạp, với nhiều chiều kích, cung bậc khác
nhau. Có hiện thực có thể trông thấy và kiểm chứng được nhưng có phần hiện
thực chìm khuất, thậm chí không kiểm chứng được bằng tư duy khoa học.
Trước thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, tiếp cận hiện thực có hai cách.
Một cách theo tư duy khoa học, cách khác theo tư duy nghệ thuật, nhưng cái
chung đều tiếp cận hiện thực. Mỗi cách tiếp cận (tiếp cận của nhà khoa học và
tiếp cận của nhà nghệ sĩ khác nhau nhưng đều hướng về hiện thực). Hiểu như
thế, nhà văn và nhà khoa học đều có một vị thế riêng trong xã hội. Sáng tạo
của nhà văn không chỉ là bản tường trình về cái đẹp mà còn thỏa mãn nhu cầu
39
về “biết” của con người. Trước hiện thực lịch sử, nhà khoa học lịch sử đánh
giá nó như một sự kiện tất yếu. Nhà sử học dựa vào nguồn sử liệu, di tích,
hoặc dựa vào ký ức (của cá nhân, cộng đồng và nhân loại) để làm sáng tỏ lịch
sử - hiện thực, hướng tới một lời giải đáp, thuyết phục người đọc, buộc người
đọc chấp nhận lời giải đáp. Còn nhà văn lấy chất liệu đời sống phải “khả dĩ”
(có hàm ý). Nghĩa là nhà văn vừa mô tả, vừa đánh giá, gắn với sự cảm
nghiệm của nhà văn trước hiện thực, thể hiện quan niệm hiện thực về nhân
sinh của nhà văn. Do vậy, tác phẩm của nhà văn mở ra nhiều giả thuyết, hóa
giải trước những khắc nghiệt, đớn đau, cái phức tạp, cái mong manh, cái bấp
bênh, bất ngờ trong cuộc sống con người. Vì vậy nhà viết tiểu thuyết là người
“vẽ nên bản đồ” của cuộc nhân sinh. Nó tường trình một cách ấn tượng sự
phức tạp của đời sống, thể hiện khả năng thế này hay thế khác của nhân loại.
Đặt vấn đề để người đọc trao đổi.
Cách hiểu về vấn đề con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp từ hướng tiếp cận văn chương, phân biệt với hướng tiếp cận của nhà
khoa học lịch sử như trên là cơ sở lý luận để luận văn tìm hiểu quan niệm về
con người trong truyện ngắn của nhà văn.
40
CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP LÀ “CON NGƯỜI KHÔNG TOÀN VẸN”
Trên hành trình cách tân mạnh mẽ của văn học dân tộc, nửa sau thập kỉ
tám mươi của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của một
hiện tượng văn học lạ, độc đáo và gây nhiều tranh cãi: hiện tượng Nguyễn
Huy Thiệp. Không đề ra một tôn chỉ, chưa tạo nên một trường phái hay một
trào lưu nhưng có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam hiện đại bởi một lối
viết, một giọng văn lạ, đó chính là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Người đọc
biết đến ông bởi rất nhiều sáng tác truyện ngắn với sự mở rộng đề tài từ hiện
thực khách quan cho đến địa hạt tâm linh cùng những trăn trở, uẩn khúc đang
diễn ra quyết liệt trong tâm hồn con người, đặc biệt là số phận của những con
người sống ở nơi chật hẹp, tù túng. Những diễn biến tâm linh rất khó nắm bắt,
những hiện tượng con người hiện đại không tự lý giải được đã khơi nguồn
cảm hứng cho nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Tôi thuộc thế hệ nhà
văn sau chiến tranh, sau 75. Trước đó, cá nhân thực tế không được quyền nói
đến trong văn học, chính trị bao trùm tất cả. Nhưng đến thế hệ tôi, vấn đề cá
nhân đã trổi dậy, tạo nên một giai đoạn mới. Điều quan tâm là vấn đề cá
nhân với những niềm vui và nỗi khổ của nó, những đam mê, hy vọng của nó.
Tôi cũng viết về những tình cảm hung bạo, sự hung bạo này có trong mọi
quan hệ nhân sinh” [39, tr. 497].
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, ta có thể nhìn thấy nhân vật
gân guốc, góc cạnh lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao
thượng và thấp hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống
nội tâm vô cùng bí ẩn. Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn rất thật và sâu
sắc của nhà văn về con người.
41
Con người kế tiếp nhau qua các thế hệ gặp quá nhiều cái Ác, cái Xấu,
cái Giả nên càng khát khao một cái gì toàn Thiện, toàn Mỹ, toàn Chân. Vậy là
nỗi khát khao Chân – Thiện – Mỹ là cái có thật và càng khao khát Chân –
Thiện – Mỹ thì càng chứng tỏ rằng con người còn có mặt không hoàn thiện
của nó (chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo, ngu dốt, v.v…) đang đè nặng lên số
phận con người. Đấy là tấn bi kịch vĩ đại nhất của con người. Sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp chứa đựng những quan niệm nghệ thuật mới mẻ, bất ngờ
về con người. Con người theo quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp đầy những
mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống thường nhật. Có tấn kịch của bản thân,
có tấn kịch của gia đình, có tấn kịch của xã hội. Nhưng tựu trung nổi bật là
niềm khao khát của con người muốn vươn cao và thực tế mà con người phải
chịu đựng. Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp mang sức tải của một quan niệm
sống, quan niệm xử thế với người đời, dù đó là một ông vua, một anh hùng,
một thi nhân, một người bình thường hay một em bé…Những quan niệm khác
nhau va chạm, xung đột, bùng nổ. Quan niệm nghệ thuật ấy bộc lộ thông qua
các kiểu con người trong tác phẩm. Và các kiểu con người ấy trở thành kiểu
loại nhân vật xuyên suốt trong toàn sáng tác của ông. Đó là kiểu “con người
không toàn vẹn”.
2.1 Con người với tình yêu và hạnh phúc
Con người sinh ra trong cuộc đời, ai cũng luôn có khát vọng tình yêu,
hạnh phúc cho riêng bản thân mình. Văn học xem con người là đối tượng để
phản ánh, nên những vấn đề của con người cũng không nằm ngoài sự phản
ánh của văn học. Văn học sau năm 1975 đi sâu vào số phận của đời sống con
người cá nhân nên vấn đề khát vọng tình yêu, hạnh phúc cũng được các nhà
văn đặc biệt quan tâm. Trong những nhà văn đó có thể kể đến là Nguyễn Huy
Thiệp.
42
Ta thường nghĩ tình yêu mang đến cho con người cảm xúc, sự thăng
hoa và sống có tình người hơn. Nhưng dường như trong sáng tác của Nguyễn
Huy Thiệp chỉ có ít truyện thể hiện tình yêu đúng nghĩa, còn lại toàn bộ
những mối tình của con người hiện đại đều vô nghĩa. Ở đó, tình yêu bị biến
thành vô nghĩa bên cạnh thế lực của đồng tiền, người ta chỉ biết có tiền và
hình như không hề biết đến tình yêu.
Trong truyện Cún, mối tình giữa Cún và Diệu không phải là tình yêu.
Cún hàng đêm ngủ nhờ nơi hàng hiên nhà Diệu. Sống ở đó lâu ngày, gặp Diệu
vào những buổi sáng đi bán hàng, Cún đã nhớ thương, ngủ hay mơ đến cô.
Nhưng Diệu chỉ lợi dụng Cún vì tiền. Diệu chỉ coi Cún như một người giúp
mình trong buôn bán đắt hàng. Mỗi sáng trước khi đi chợ bán hàng, Diệu
thường thuê Cún làm người đón đường để mình mua may, bán đắt: “Này
thằng hình nhân mặt đẹp! Cho mày một hào, sáng mai mày ra đón cửa cho
tao….Hôm nào đi chợ gặp mày là người thiên hạ xô vào mua bán như tranh
như cướp”. Khi người chồng bội bạc bỏ cô, lấy hết tiền bạc đi theo nhân tình.
Trong lúc ngồi buồn bã, cô đã thấy lấp lánh trên tay Cún những khâu vàng.
“Cô Diệu bỗng giật mình. Cô thấy lạnh toát sống lưng. Chân tay cô run bần
bật... Một ý nghĩ bất chợt lóe trong óc cô”. Sau khi tìm cách khiểm tra đúng
là vàng thật, cô đã nói với Cún: “Mày hãy cho tao ba cái nhẫn này…. Mày
muốn gì tao cũng nghe mày”. Sau khi ăn nằm với nhau, cô đẩy Cún ra vỉa hè
và nói “Thế là chẳng có nợ nần gì nhé”. Và Cún trở về với cuộc sống của
một người ăn xin vốn có của mình.
Trong truyện Huyền thoại phố phường “mối tình” giữa Hạnh và hai mẹ
con bà Thiều cũng vì tiền. Hạnh là một công chức nhà nước nhưng luôn mơ
làm giàu, mơ trở thành triệu phú bằng sự may mắn của lộc trời. Bởi Hạnh
nghĩ: “Tài năng mà nghèo thì buồn ghê. Nếu đã tài năng thì phải thực giàu”.
Vì thế, khi đến chơi theo sự giới thiệu của em trai bà, Hạnh đã cố tìm cách lấy
43
lòng mẹ con bà Thiều. Dù đây là lần gặp đầu tiên, chưa thân thiết, nhưng
trước bao nhiêu người trong bữa tiệc, Hạnh sẵn sàng mò dưới ống cống có cả
phân người để tìm chiếc nhẫn bị mất của Thoa. Trở về nhà sau khi đi chùa
cùng mẹ con bà Thiều, Hạnh cứ nghĩ rằng tờ vé số mà Thoa giữ đã được khấn
vái, nên sẽ trúng giải. Vì thế, Hạnh đã quay trở lại hiếp cả bà Thiều để đổi lấy
tờ vé số.
Trong truyện Không có vua, Đoài muốn Khảm giới thiệu cô bạn học
cùng lớp cho mình vì nhà cô ấy giàu, là con ông chủ hiệu điện. Và Khảm
nhận lời làm mai mối cho anh cũng chỉ vì tiền, vì được chia phần trăm nếu vụ
mai mối thành công mà Đoài đã ghi cho mình trong tờ giấy giao kèo hẳn hoi.
“Ngủ được với Mỹ Trinh thưởng một cái đồng hồ trị giá ba nghìn. Lấy Mỹ
Trinh, thưởng 5% của hồi môn. Ngày…tháng …năm…Nguyễn Sĩ Đoài.”
Trong truyện Những bài học nông thôn có mẩu đối thoại giữa hai người
đàn bà, bà và mẹ của Lâm. “Bà Lâm bảo: "Ngày xưa có ông Hai Chép lái đò
ham đánh tam cúc ăn tiền, đầu tiên mất tiền, rồi mất ruộng, mất đến nhà, vợ
nó cũng bỏ đi nốt. Thế là đến đêm ra thuyền ngồi khóc. Giận đời, lại muốn
chuộc tội, ông Hai Chép lấy dao cắt phăng hai hòn dái của mình vứt xuống
sông. Vợ nó cũng chẳng quay lại”. Mẹ Lâm bảo: “Đàn bà thế là bạc”. Bà
Lâm bảo: “Bạc gì? Có hai hòn dái là của quý thì mất rồi còn đâu?” Chị Hiền
cười: "Gớm, chuyện của bà cứ rợn rợn là”. Không phải chỉ có Hiền mới thấy
“rợn rợn”. Cả người đọc cũng thấy “rợn rợn”. Mà “rợn rợn” không phải chỉ ở
chi tiết “ông Hai Chép lấy dao cắt phăng hai hòn dái của mình vứt xuống
sông”. Cảm giác “rợn rợn” còn xuất phát từ lời nhận định của bà nội của
Lâm, một người đàn bà tám mươi tuổi, con cháu đầy nhà: “Đàn ông nó chẳng
thương mình đâu. Rượu thì nó ngồi mâm trên. Ngủ thì nó đè lên mình”. Bà
không hề tin vào tình yêu.
44
Trong truyện ngắn Chuyện tình kể trong đêm mưa người ta tưởng là sẽ
bắt gặp một mối tình đẹp. Muôn và Bạc Kỳ Sinh yêu nhau tha thiết. Khi bị bắt
đi tù, Bạc Kỳ Sinh đã trốn về để thăm người yêu và Muôn đã tìm cách cho
anh thoát thân. Khi nghe Muôn hát bài ca tình yêu của hai người và nước mắt
lăn dài trên má, Bạc Kỳ Sinh có vẻ xúc động. Y đưa tay ôm lấy bả vai Muôn
kéo về phía mình. Những tưởng họ sẽ thành vợ chồng nhưng không. Cuối
cùng, Muôn đã bỏ cuộc, bỏ Bạc Kỳ Sinh, người nàng yêu tha thiết để lấy Lò
Văn Ngân, kẻ thù của người yêu cũ nhưng lại là người có tiền và có thế lực đủ
để bảo đảm cho nàng một cuộc sống êm ấm. Bạc Kỳ Sinh ra đi, trôi giạt đến
tận Hoa Kỳ, vẫn thường đau trong ngực khi nghĩ về Muôn. Đối với Sinh
“không ai mang nhiều hạnh phúc và nhiều đau khổ” cho anh như Muôn. Trên
tường nhà Bạc Kỳ Sinh có treo tấm ảnh của Muôn. Nước ảnh đã cũ, đã úa
vàng nhưng trông Muôn rất đẹp. Và hãy nghe Bạc Kỳ Sinh nói về tình yêu:
“Ông đã yêu bao giờ chưa? Tình yêu dạy cho ta bước đi của hổ, của báo, dạy
cho ta sức mạnh của mãnh thú. Nó dạy cho ta sự giảo quyệt của cáo, của rắn
độc. Nó khiến ta nhân đạo hơn, hoặc độc ác hơn. Những kẻ hèn hạ không có
tình yêu”, và: “Tin tôi đi: Đấy là một hung thần” - một tình yêu dữ dội, “tình
yêu to lớn... không trật tự nào dung được nó”, như Nguyễn Huy Thiệp viết.
Cho nên khi hát về tình yêu, Bạc Kỳ Sinh dù “không lấy hơi, không ráng
sức”, nhưng “khi nhấn lời hoặc ngâm nga thì dịu dàng không sao kể xiết:
ngậm ngùi, tê tái mà không mủi lòng, tâm trạng cô đơn lạnh buốt lẫn lộn với
những khát khao nồng nàn. Tiếng hát sóng sánh, đặc như những giọt mật
ong. Mỗi từ là một giọt mật”, làm cho nhân vật tôi “nghe hát mà nước mắt cứ
thế chảy ra dàn dụa, tự nhiên, không sao kìm lại được”.
Trong truyện Trương Chi, Trương Chi đã yêu Mị Nương “rỗng tếch
và tẻ nhạt” chỉ vì “tình yêu của chàng hướng về cái tuyệt đối”, còn nàng là
“cái bẫy của số phận chàng”, nên họ không đến được với nhau. Và thái độ
45
ngờ vực đối với tình yêu của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện rõ rệt nhất có lẽ là
trong truyện này. Ở cuối truyện, Trương Chi ra “đứng ở đầu mũi thuyền.
Chàng trật quần ra đái vọt xuống dòng sông. Phía xa kia là chân trời rực
hồng ráng đỏ. Nhà nàng ở phía ấy. Rồi chàng gào lên: “Cứt!” Một lần.
“Cứt!” Hai lần. “Cứt!” Ba lần. Cứ thế, Trương Chi, một mình trên chiếc
thuyền lênh đênh giữa sông, hết hát lại văng tục “Cứt”! Như thế, một câu
chuyện tình vốn được xem là đẹp và rất đỗi thơ mộng trong truyền thuyết Việt
Nam, dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, bỗng dưng đầy những cay đắng,
những phẫn uất, những tức tối. Nó không còn là tình yêu nữa. Nó là một sự
vỡ mộng về tình yêu.
Lò Văn Pành trong truyện Đất quên đã gặp tình yêu cuối đời mình
trong một cơn giông dữ dội kèm theo mưa như trút nước. Cô gái đẹp làm ông
lóa mắt trong cơn giông, ông già Pành trải qua thời khắc thực sự hạnh phúc:
“Cả cuộc đời từng trải của ông, ông chưa bao giờ có cảm giác ấy. Ông biết
đây là điều ông vẫn hằng khao khát mong tìm. Hơn cả tình yêu, hơn cả những
người phụ nữ ông đã từng gặp. Cảm giác này như là hạnh phúc”. Nhưng ông
đã chết bởi một cơn đau tim khi không vượt qua được thử thách – điều kiện
để được phép cưới cô gái mà ông yêu: chặt đỗ cây gỗ cứng và to nhất trong
vùng.
Có lẽ chính Nguyễn Huy Thiệp cũng không tin vào tình yêu. Trong
truyện của ông, hình như chỉ có hai mối tình đẹp. Đó là truyện Nạn dịch (trích
Những ngọn gió Hua Tát) và truyện Muối của rừng. Trong truyện Nạn dịch,
Lù chỉ vì thói ham mê cờ bạc đã không có mặt ở nhà lúc vợ qua đời vì bị dịch.
Khi trở về, Lù đã rất ân hận, đau đớn điên cuồng, phủ phục trước mộ vợ, kêu
gào thảm thiết: “Tôi sống sao bây giờ khi không có bà? Lấy ai chia sẽ niềm
vui, nỗi buồn?” Ông đau đớn, thấy thương vợ vô cùng. “Ông nhận ra mình
bạc bẽo, vô tình, thấy vợ cao thượng chịu đựng. Càng nghĩ, ông càng ân hận,
46
thương cảm”. Từ những miếng ăn, miếng vải đẹp người vợ cũng nhường nhịn
cho ông, cho con. Ngược lại, ông chưa làm được gì cho vợ. Lù đã tự tay đào
mộ vợ lên - một việc mà cả bản ngăn cản. Tay ông tóe máu mà không cảm
thấy đau. Ông lôi vợ ra khỏi quan tài, đem đến nhà thầy thuốc cầu xin họ
chữa cho Hếch. Nhưng cuối cùng, ông cũng bị chết vì bị lây bệnh dịch. Ngôi
mộ của Lù và vợ được người già trong bản gọi là mộ chung thủy.
Trong truyện Muối của rừng ta thấy được sự chung thủy của con khỉ
cái. Khi con khỉ đực bị ông Diểu bắn thương, “con khỉ cái tuồng như muốn
liều mạng, nó đến gần nâng con khỉ đực nhỏm lên”. Nó đã lẽo đẽo theo ông
suốt từ khi ông vác con khỉ đực xuống núi, làm cho ông cảm thấy bực mình,
nhưng với lòng kiên trì của con khỉ cái, ông nghĩ: “Thôi Diểu ơi…với đôi
chân thấp khớp thế này thì làm sao mày chạy nhanh bằng lòng tận tụy, thủy
chung của khỉ?” Khi ông quyết định phóng sinh cho con khỉ đực, dường như
chỉ chờ có thế, khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến chỗ con khỉ
nằm.
Và bên cạnh nó, có những mối tình thoáng qua, nhẹ như hơi thở, như
làn gió thoảng. Đó là mối tình ở bến Tầm xuân, của cô Hương, trên chuyến đò
sang sông, với một nhà thơ. “Sông nước sao mà đẹp thế. - Dòng sông êm ả
tuyệt vời”, một không khí thơ mộng - Đò cặp bến, nhà thơ lên bờ, bước lên
đê. Anh nghe thấy tiếng gọi vang trên mặt sông, từ rất xa, “Ơi...” Anh chụm
tay lại, hướng xuống dòng sông, nồng nhiệt trả lời: “Ơi... ơi”... Anh vừa thu
được vừa đánh mất buổi chiều rồi. “Có hề gì đâu? Thời gian thật là hào
phóng. Nhưng mà hãy vì sự hào phóng ấy ta phải sống cho nhanh lên, có ích”
cho đời. Truyện chỉ có thế, cấu trúc một bài thơ, như nhiều truyện ngắn hiện
đại trên thế giới.
Viết về tình yêu và hạnh phúc cá nhân là một đòi hỏi chính đáng trong
đời sống con người. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp miêu tả về tình yêu với sự đỗ
47
vỡ bởi vì con người theo ông đã bị tha hóa do nhiều nguyên nhân trong đó có
lối sống thực dụng, sùng bái vật chất và tâm lí vụ lợi vì đồng tiền.
2.2 Con người gắn với nhân phẩm Nguyễn Huy Thiệp nhìn thẳng vào sự thật, viết về cái hôm nay ngổn
ngang bề bộn, màu đỏ với màu đen đầy rẫy những biến động bất ngờ với rất
nhiều những con người bẩn thỉu, ti tiện, cái xấu, cái ác trong một mảnh đất
khô cằn ngột ngạt, tù đọng. Nói như một nhân vật trong truyện ngắn Chảy đi
sông ơi: “Con người ta tăm tối lắm. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm
trên đường”. Con người bị ném vào cuộc đời rồi bị biết bao tai biến, biết bao
“tha nhân” ràng buộc như không một lối thoát. Nhưng con người đã được
đánh thức bởi những bản năng để tự mở đường ra đi và dũng cảm nhận lấy
trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Ở những con người phàm tục ấy bị
tha hóa bởi bao nhiêu lực lượng xã hội xa lạ với mình và dường như không
tránh né được, vẫn le lói một tình thương. Họ thầm lặng đi tới cái tốt và cũng
là cái đẹp.
Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Nhà văn không thể cứu được mọi người,
nhưng có thể giúp họ giảm nhẹ được khổ, dù là ít ỏi”. “Thương người như
thể thương thân, Nguyễn Trải đã nói vậy. Không có tình thương nền tảng xã
hội sẽ tan biến” [39, tr.500]. Khi mà nhà văn thường xuyên suy tư về đời
sống, về sống chết, vinh nhục, ngay thẳng, đểu giả... thì trái tim nhà văn làm
sao có thể là một trái tim thờ ơ? Đúng là Nguyễn Huy Thiệp có lối viết về cái
ác nhưng không phải để hả hê, mà là xót xa. Tự trong thẳm sâu ông hy vọng
vì ông biết tuyệt vọng: “Đến bao giờ, hỏi đến bao giờ, mặt đất này xuất hiện
tiến bộ” (Vàng lửa). Cho nên, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không phải
chỉ có cái ác, cái xấu, cái ti tiện, sự vô nghĩa của cuộc đời, sự bê tha nhếch
nhác của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp, mảnh đời nhiều cay đắng
48
khốn cùng, bệ rạc vì tiền nong, vì mong muốn trục lợi. Bức tranh nhân thế
trong tác phẩm của ông không chỉ toàn màu đen. Nhà văn còn phát hiện ra
những nhân cách rất đẹp, những tâm hồn thánh thiện và sáng trong như suối
tự nguồn. Trong bức màn tối, ông nhìn thấy và chăm chút cho những mầm
thiện nhỏ bé, những đốm lửa kì diệu của thiên lương, những thứ ông tin rằng
sẽ có đủ sức mạnh cần thiết để đương đầu với bóng tối đang ngự trị trên thế
giới, cải tạo và làm trong sáng cuộc sống con người.
Vẻ đẹp của thiên lương con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp hầu như tập trung ở hai kiểu người: nhân vật thiểu năng và nhân vật
nữ. Người thiểu năng là người không bình thường, khuyết tật về thể chất hay
hạn chế về trí tuệ. Người đời xưa nay vẫn nhìn kiểu người này bằng cặp mắt
hoặc thương hại hoặc khinh khi. Nguyễn Huy Thiệp thì khác, đối với
bọn “dốt nát có học” hay “bọn Nho giả tập tọng văn chương” ông tỏ ra coi
thường nhưng lại dành cho những người không may này một sự cảm thông vô
hạn. Quan trọng hơn, ông nhìn thấy ở họ vẻ đẹp sáng ngời của nhân cách con
người.
Cô Lài trong truyện Tướng về hưu dù gàn dở, ngờ nghệch nhưng tình
cảm đối với mọi người, hành động trong cuộc sống lại hết sức trong sáng và
chân thực. Trong thế giới đầy những toan tính lạnh lùng và cô đơn của gia
đình ông tướng Thuấn chỉ có cô là người biết yêu thương người khác đúng
nghĩa vì cô không ranh khôn mà lại cả tin, lúc nào cũng siêng năng làm việc
và cười nói vui vẻ. Sau đám tang của bà cụ Thuần, “đến tối, cô Lài tắm giặt,
mặc quần áo mới ra hương án khóc: “Bà ơi, cháu xin lỗi bà, cháu không đưa
bà ra đồng…Hôm trước bà thèm canh cua, cháu ngại làm, bà chẳng được
ăn…Bây giờ đi chợ, cháu biết mua quà cho ai?”, “Cháu ở nhà thì bà có chết
không bà?” Điều đó đã làm cho Thuần thấy lòng đắng ngắt, ân hận vì mấy
chục năm nay chưa lần nào mua cho mẹ chiếc bánh hay là gói kẹo. Những
49
giọt nước mắt của cô Lài là những giọt nước mắt xót thương tận đáy lòng, nụ
cười, sự bẽn lẽn của cô là thật. Có lẽ vậy mà trong mắt những người trong
truyện, cô là người gàn dở, ngờ nghệch? Xây dựng con người như cô Lài,
Nguyễn Huy Thiệp muốn mở ra niềm tin mãnh liệt rằng cuộc đời dẫu còn
nhiều đắng cay, ngang trái nhưng không phải là không thể cải tạo được.
Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn để cho ông tướng Thuấn nói với cô Lài
như một lời dặn dò lúc quay lại đơn vị cũ “Con ơi con, con không hiểu rằng
cả tin là sức mạnh để sống hả con?”.
Trong thế giới Không có vua của gia đình lão Kiền, giữa lúc mọi giá trị
bị lật nhào, mọi tôn ti sụp đổ, người ta nhìn thấy ở bé Tốn – đứa trẻ thiểu
năng có một tâm hồn thánh thiện. Tốn “bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị
dạng”. Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn “chân tay
mặt mũi đen nhẻm nhe răng cười” rồi “lết đôi chân què đi lên nhà”, bị coi dị
dạng vô tích sự trong gia đình. Người ta quen với hành động cứ lặp đi lặp lại
từ ngày này sang ngày khác của Tốn là xách xô nước đi lau nhà. Nhưng phải
chăng ở nhân vật này lại tồn tại nguyên sơ tất cả bản năng thiện của loài
người khi loài người chưa được “văn minh hóa”. Tốn “không chịu được
bẩn”, “hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến”. Những
ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú. Nửa đêm, nếu
Sinh buột miệng “có ô mai thì thích” là sẽ có ngay ô mai”, làm cho Sinh an
ủi được phần nào trong gia đình đốn mạt đó. Lúc nào Tốn cũng lau sàn. Khi
bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu hu. Và khi bệnh tình
bố ngày càng nặng hơn, Tốn không lau nhà nữa mà “suốt ngày ngồi thu mình
trong cái buồng vẫn để than củi cạnh nhà xí”. Đặt Tốn cạnh hai ông anh cử
nhân Đoài và Khảm, ta thấy nổi bật lên nhân cách của Tốn. Và nữa, lão Kiền,
một người cha lúc nào cũng cau có, luôn gây chuyện và chửi con những lời
thậm tệ nhưng khi tắt thở, trên môi lão “thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền
50
lành, trung hậu”. Phải chăng, chỉ khi con người chết đi họ lại trở về với bản
tính ban đầu khi sinh ra.
Có thể nói rằng trong hiện thực sẫm màu của cuộc sống, Nguyễn Huy
Thiệp vẫn cố gắng tìm và chăm chút cho những mầm thiện nhỏ bé, những
đốm lửa kì diệu của thiên lương, những thứ ông tin rằng sẽ có đủ sức mạnh
cần thiết để đương đầu với bóng tối đang ngự trị trong cuộc sống, cải tạo và
làm cho cuộc sống trong sạch hơn. Con người thiên tính ấy vẫn luôn xuất hiện
trong hầu hết tác phẩm viết sau Tướng về hưu.
Dường như trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp dành tình
cảm đặc biệt cho những nhân vật nữ. Trừ nhân vật Thủy trong “Tướng về
hưu” còn lại phần lớn những nhân vật nữ khác đều nhân hậu và cao thượng.
Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến gọi đó “nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính
nữ” [39, tr.16]. Nguyên tắc tính nữ là tinh thần của cái đẹp, là tinh thần vị tha
và đức hy sinh. Nó phong phú và bao la như tâm hồn của người phụ nữ. Nó
tỏa một ánh sáng dịu dàng, huyền dịu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp.
Đó là nàng Bua, nàng Sinh, là chị Thắm, con gái Thủy Thần, là Xuân Hương,
là bé Thu, là chị Sinh và người thiếu phụ chèo đò ở bến Tầm Xuân.
Vẻ đẹp của những người phụ nữ này là những con người có tấm lòng
cao thượng. Đó là tấm lòng bao dung sẵn sàng mở ra thông cảm với mọi
người, kể cả kẻ ác. Chị Thắm trong Chảy đi sông ơi làm nghề chèo đò trên
sông là người phụ nữ ít học nhưng đôn hậu, dịu dàng, rất thấu hiểu ý nghĩa
của cuộc đời, có những hành động hết sức cao thượng. Khác hẳn với những
con người ngu muội, bất chấp với tục lệ ở làng chài “không cứu người chết
đuối”, chị đã giành lại sự sống cho những con người mà thuỷ thần muốn cướp
đi, cứu không biết bao nhiêu con người trên khúc sông. Lời nói và việc làm
của chị chứa chan tình yêu thương, xúc động lòng người. Chị cũng đã đưa
linh hồn nhân vật “tôi” thoát ra khỏi sự oán hận với người dân chài ngu muội.
51
Khi nghe chú bé trách bọn đánh cá đêm độc ác, ta nghĩ rằng chị sẽ đồng tình
với nhân vật tôi, thậm chí còn hơn thế, vì chị hiểu rõ con người sống trong
vùng sông nước nghèo khó này. Song người đọc thật bất ngờ trước câu trả lời
của chị: “Đừng trách họ thế…Có ai thương họ đâu...Họ đói và ngu muội
lắm”. Một câu nói giản dị nhưng hé lộ bao nhiêu điều nhân bản. Chị không
trách những người dân chài mà còn hết sức cảm thông với họ bởi chị hiểu: họ
là những con người thiếu tình thương, cái đói, cái ác nảy sinh trong lòng họ từ
cái nghèo, tăm tối. Đó là tấm lòng bao dung hào phóng với tất cả mọi người.
Mẹ Cả trong truyện Con gái thủy thần trở thành biểu tượng cho sự phù hộ bất
ngờ, hiện thân cho sự trong sáng vô tư đến cứu giải con người đang bị nước
đe dọa. Cũng như chị Thắm, Mẹ Cả không chỉ cứu vớt sinh mạng con người.
Mẹ Cả hóa phép thành con rái cá ra sức đào bới cứu hai cha con ông Hội bên
Đoài Hạ đang bị vùi lấp trong cát. Lần khác, Mẹ Cả ngồi trên mặt trống đánh
thùng thùng làm sấm tan, mưa tạnh, rồi ôm trống lặn xuống đáy sông, đã làm
nguôi cơn giận của thần sông với những người muốn mang chiếc trống thiêng
đi. Thế là Mẹ Cả cứu được những người ở Phòng Văn hoá huyện. Mẹ Cả còn
là sức mạnh nâng đỡ linh hồn con người, giúp nó khỏi sa ngã giữa chốn nhân
gian lầm bụi: “Tôi đã sống qua rất nhiều lẽ thường…ánh mắt vô hình vẫn dõi
theo tôi hoài. Nàng vẫn thủ thỉ trong đêm. Nàng nói: Này Chương, vẫn không
phải đường ra biển” (Con gái thủy thần). Nàng Bua trong truyện cùng tên
sống với chín đứa con và nàng không biết đích xác đứa nào là con của ai.
Những đứa con không có bố sinh ra tự nàng lo liệu lấy chúng. Điều đó làm
đám đàn ông trong bản rất hài lòng. Nhưng đám đàn bà không thích, thốt lên
những lời khinh rẻ qua cửa răng và gọi nàng là “đồ quỷ cái”. Thậm chí, họ
họp lại và còn đòi đuổi nàng ra khỏi bản. Nhưng trong một lần cùng các con
vào rừng đào củ mài, nàng được hủ vàng và trở nên giàu có. Lúc này các bà
vợ lại giục chồng đi nhận con. “Tuy nhiên, Bua không thừa nhận trong những
52
người đàn ông ấy là bố của những đứa trẻ. Họ đến và ai cũng được một món
quà tặng làm vui lòng các bà vợ nền nếp của mình”. Đó là thiên tính làm mẹ,
tình cảm hồn nhiên muốn đùm bọc, che chở, cứu giúp của bé Thu trong Tâm
hồn mẹ. Thu chỉ mới bảy tuổi nhưng luôn giải nguy cho người bạn học cùng
lớp – Đăng - như một người mẹ lo lắng cho con. Trong những hoàn cảnh khắc
nghiệt bao giờ bé Thu cũng tìm ra được cái gì cho người bạn mà mình che
chở. Thu đã cứu Đăng ra khỏi đoàn tàu đề rồi cuối cùng chịu tai nạn thảm
khốc. Hành động của Thu tuyệt nhiên theo bản năng không có sự toan tính mà
là do Thu có “tâm hồn mẹ”.
Nhân cách cao đẹp của con người có thể cứu rỗi thế giới. Đọc“Không
có vua” ai không ngán ngẩm cho cái bệ rạc, đen tối của gia đình lão Kiền.
Nhưng một phút nào đó, hãy lắng lòng lại để nghe Sinh nói cảm tưởng về
cảnh ngộ của gia đình nhà chồng: “Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa
chua xót nhưng thương lắm”, đã làm cho con người trở thành người hơn. Ba
chữ “nhưng thương lắm”thổi vào mảnh đất cằn cỗi nhà lão Kiền làn gió mát
rượi của sự yêu thương.
Trong truyện thứ hai và ba của Chút thoáng Xuân Hương, nhân vật
Xuân Hương là một người phụ nữ nhưng vì bà quá mạnh mẽ, sống có dũng
khí, luôn đứng cao hơn cõi đời trần tục, nên cả Tổng Cóc, cả ông Phủ, cả ấm
Huy, cả tri huyện Thặng đều nhìn bà với cái nhìn ngưỡng mộ, nể phục. Đối
với Tổng Cóc, “bà luôn thất bại trong cuộc đời” nhưng “vẫn thăng bằng”,
“vẫn không có cảm giác thua cuộc”. Cho nên Tổng Cóc luôn “ngờ ngợ bà to
lớn hơn ông, mạnh mẽ hơn, sống có dũng hơn”. “Vẻ đẹp nhân tính ở nhân vật
Xuân Hương là hiện thân của những gì quá cao lớn, tác giả không sao diễn
đạt được bèn gọi là CON NGƯỜI (hai chữ con người viết hoa)” [39, tr.17].
Ở truyện thứ ba của Chút thoáng Xuân Hương, người thanh niên trẻ
tuổi đi trên chiếc đò đã có cử chỉ sàm sỡ với một thiếu phụ chèo đò. Trước sự
53
phản ứng giận giữ của chị, anh ta đỏ mặt, lúng túng, “mắt nhìn vào đôi bàn
tay như thể nhận ra ở đấy một vật quái dị ở đâu gắn vào” và xin lỗi. Đến lúc
người thiếu phụ nói với anh: “Thôi đi….đàn ông các anh ai mà chẳng thế!
Anh giúp tôi mấy bao ngô rồi đòi trả ơn….Đàn ông các anh thế hết”. Thì anh
ta “thấy cổ mình đắng ngắt”, “một nỗi tê tái lan truyền cơ thể”. Đó là sự đỏ
mặt, đắng ngắt của nhân phẩm khi nhận biết hành động sai trái của chính
mình.
Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác không hề đơn giản bởi vì mầm
ác nằm ngay trong lòng mỗi người, “ma quỷ nằm ngay trong lòng ta” [39,
tr.124]. Người ta làm điều ác dễ dàng bởi điều ác chính là một phần cuộc
sống của họ. Vấn đề là họ có nhận ra mình đang làm điều ác hay không, bởi
vì như Biêlinski đã nói: “Người cao thượng không phải là người không bao
giờ đê tiện. Người cao thượng là người biết mình có những lúc đê tiện” [39,
tr.124]. Nhận thức được cái ác có nghĩa là chiến thắng được cái ác. Truyện
Muối của rừng, chính là bài ca trữ tình ca ngợi cho sức mạnh kì diệu của
thiên lương. Tâm trạng ông Diểu, từ khi nảy ra ý định vào rừng săn thú cho
tới khi cay đắng hiểu ra rằng “hóa ra ở đời trách nhiệm đè lên từng mỗi sinh
vật quả thật nặng nề” và “buồn tê tái đến tận đáy lòng” đã qua cả một quảng
đường dài trong sự thức tỉnh của lương tâm con người trước cái đẹp. Và khi
đó, ông đã gặp hoa tử huyền, biểu tượng của hạnh phúc của cái Thiện. “Loài
hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ
may mắn. Người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy
là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc”. Con người ra đi với
ý định hủy hoại cuộc sống, hủy hoại thiên nhiên, khi trở về như nhập vào lòng
thiên nhiên, vào lòng cuộc sống: “mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt.
Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi. Chỉ một lát sau, bóng ông
đã nhạt vào màn mưa”.
54
Con người biết kinh hoàng trước cái bất nhân thì trong tâm cũng đã có
lý tưởng nhân từ. Phát hoảng trước hiện tình là phản xạ tất yếu, miễn đừng rối
trí là được.“Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện đẩy lùi nó. Mỗi lần
nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng” [39, tr.409]. Có thể
nói, những tấm lòng cao thượng, những nhân cách cao đẹp trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp mở ra niềm tin mãnh liệt rằng cuộc đời dẫu còn nhiều
đắng cay ngang trái nhưng có thể cải tạo được. Những gì có thể giúp con
người vượt lên trên cái vô nghĩa của cuộc sống và sự trống rỗng của tâm hồn?
Đối với Nguyễn Huy Thiệp, con người không thể trở nên tốt hơn thánh thiện
hơn nếu họ thiếu quan tâm đến cái “xó tối tăm lương tri ngày đêm khản tiếng
khóc thầm” [39, tr.127] ấy. Viết về cái xấu xa, tàn ác một cách sắc sảo và
nhạy bén, Nguyễn Huy Thiệp chứng tỏ ông biết tin vào con người vì một khi
biết nhìn thẳng và kinh sợ cái ác, người ta sẽ biết vượt lên để giữ lấy thiên
lương. Chính những giây phút day dứt của tâm hồn, những dằn vặt của lương
tâm “tâm càng lớn càng nhục” (Tướng về hưu), “Khổ lắm. Nhục lắm. Vừa
đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm.” (Không có vua), đã làm cho con
người trở thành người hơn. Và con đường mà chúng ta đi trong tương lai chắc
chắn sẽ là con đường sáng. Khi đó có thể ngẩng cao đầu mà nói rằng: “Nghĩa
tình lại chuộc nghĩa tình. Vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống
giữa bùn, chẳng sợ không xứng là người” (Những người thợ xẻ).
Trong đoạn kết truyện Tội ác và trừng phạt nhà văn đưa ra một bài
tụng và nói rằng bài tụng đó là để sám hối cho chính bản thân mình và cho tất
cả bạn đọc. Vấn đề là ở chỗ trong truyện, nhà văn thấy ra nguyên nhân của
những tội ác rùng rợn nhất là do tâm hồn ngu muội của con người. Đời sống
tinh thần cùng với hoàn cảnh quẩn bách vật chất tạo ra tội ác. Vì thế, trước hết
cần phải đấu tranh với chúng, cải tạo đời sống mông muội về vật chất và tinh
thần, luôn đề cao ý thức hướng thiện, đấy chính là con đường, là Đạo.
55
Mỗi người có một số phận khác nhau do xã hội đặt trên vai họ những
trách nhiệm khác nhau, do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau trong đó có
luật nhân quả. Con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Bản
chất con người là lòng nhân từ. Con người có thể bị tha hóa nhưng ngay cả ở
những con người ấy vẫn tìm ẩn lòng nhân ái. Con người luôn vươn tới điều
thiện. Nhưng điều thiện lại hiếm hoi. Trong cuộc hành trình truy tìm điều
thiện, con người thường chịu nhiều đau đớn. Cả nhân cách và điều thiện chỉ
có giá trị khi con người biết vươn lên xây dựng một cuộc sống phồn vinh. Ở
đây, nhà văn muốn ngầm gởi đến người đọc sự mong mỏi con người hãy giữ
gìn bản tính tốt đẹp của mình, hãy giữ lấy nhân phẩm của mình và mọi người
xung quanh trước sức mạnh ghê gớm của đồng tiền và lối sống sùng bái vật
chất đang diễn ra trong xã hội.
2.3. Con người kiếm tìm
Nói cho cùng, mỗi người có suy nghĩ, đều có những hành trình, những
phiêu lưu, luôn luôn day dứt đi tìm... Tìm ai? Đi tìm bản thân mình. Có thể
nói, kiếm tìm là một hoạt động đặc thù của con người. Con người luôn kiếm
tìm những để thỏa mãn khát vọng, hoài bảo cuộc đời mình và để mình ngày
càng hoàn thiện hơn trong cuộc sống. Mỗi con người sống vào mỗi thời kì,
giai đoạn, tùy vào hoàn cảnh sống mà có sự kiếm tìm khác nhau. Có khi, đó là
tình yêu, hạnh phúc, có khi đó là danh vọng tiền bạc, nhưng tựu trung lại là
khát vọng tự do, thỏa mãn mong muốn của bản thân trong cuộc sống thực tại.
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta thấy có rất nhiều nhân
vật kiếm tìm giống như vậy.
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, những nhân vật kiếm tìm
khá phong phú, đa dạng cả về tuổi tác lẫn địa vị trong xã hội. Họ thường là
những “người ra đi”, ra đi trong cô đơn, tìm kiếm trong cô đơn và trở về trong
56
cô đơn. Họ không tại vị mà bất ổn, luôn di chuyển hướng ra trong một không
gian rộng lớn của thiên nhiên, của xã hội để tìm kiếm tìm tự do, dân chủ, đi
tìm cái đẹp, những khát khao cho riêng mình. Trong hành trình ra đi, họ luôn
mang trong mình một khao khát, một niềm tin. Niềm tin và khát khao đó có
thể mạnh mẽ, mãnh liệt tới mức, đôi khi họ bất chấp tất cả khó khăn gian khổ
để dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đó. Cuối hành trình tìm kiếm ấy cũng
có khi sự tìm kiếm của họ được đáp đền song cũng có khi là con số không vô
nghĩa.
Nhân vật Chương trong Con gái thủy thần cả cuộc đời rong ruổi trong
hành trình kiếm tìm của riêng mình, hành trình kiếm tìm huyền ảo Mẹ Cả
trong một đời thực khốn khó bắt đầu từ tuổi thơ u buồn và bộn bề công việc
cho đến lúc trưởng thành hăm hở và gian nan, khổ sở. Chương đi tìm Mẹ Cả
mải miết và vô vọng. Vô vọng nhưng mải miết dù cho có người nói với anh là
chuyện Mẹ Cả chỉ là chuyện bịa. Anh cũng đã từng lấy chiếc mai trong lều ra
chỗ nấm đất, nơi người ta chỉ cho anh là mộ của Mẹ Cả, đào lên theo kiểu
người ta vẫn đào khi bốc mộ, kết cục chỉ lôi lên được khúc gỗ mục chẳng
hình thù gì. Trên hành trình đi tìm Mẹ Cả, Chương đã gặp không biết bao
nhiêu chuyện xui rủi, bất trắc, thậm chí gặp cả chuyện bạc ác, đểu cáng, dối
trá, ngụy tạo, phàm tục. Có lúc anh “đói như một con hắc tinh tinh”,“đói như
một con lợn rừng”, “đói như một con vật ở địa ngục”,“ đói đã nửa năm
nay”. Nhắm mắt lại thì chỉ thấy “những khuôn mặt trông như thú vật, đầy dục
cảm, không đểu cáng, đối trá thì cũng nhăn nhúm, đau khổ”. Cũng có lúc
Chương gặp được người tốt, người ấy yêu thương Chương thật lòng. Nhưng
tiếc thay, người ấy không phải là người Chương cần tìm! Và rồi cũng giống
như bao người săn đuổi bao đều phù du khác, mãi mãi anh không bao giờ gặp
được người con gái thuỷ thần, dẫu anh đã đi được nửa cuộc đời. Nửa cuộc đời
đủ để cho người ta dừng lại cuộc đuổi theo ảo vọng nhưng Chương thì vẫn
57
mãi cứ đi, đi mãi. Anh đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi: “Con gái thuỷ
thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu
son phấn ra đi…Con gái thuỷ thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì?
Để tôi mượn màu son phấn ra đi”. Giả định rằng không có Mẹ Cả, không
Giana Đoàn Thị Phượng, anh cũng sẽ rời làng quê của mình, vì nếu không thì
cả đời anh vẫn chỉ quẫn quanh trong cuộc sống buồn tẻ ở làng quê với không
khí u uất tù đọng “sáng đi cày, chiều đào đá ong, tối lột giang đan mũ”, sẽ
kéo dài kiếp sống héo mòn của mình giống như thể bố anh, như ông Nhiêu,
ông Hai Thìn, như những người dân hiền lành, lam lũ cuống cuồng để kiếm
miếng ăn ở quê hương anh. Giữa lúc anh cô đơn, đói rét, như gió quất vào
mặt và lạc lõng giữa cuộc đời thường thì nỗi ám ảnh về Mẹ Cả lại thôi thúc
anh, khiến anh vượt lên trên cuộc sống vô vị, nhạt nhẽo.
Nhân vật “tôi” (Chảy đi sông ơi) trong cuộc kiếm tìm truyền thuyết
huyễn hoặc về con trâu đen ở khúc sông, do những người đánh cá ban đêm
quả quyết đã nhìn thấy đã phải trải qua nhiều khó khăn, vất vả. Từ chỗ “mặc
kệ sách vở và lời khuyên của mẹ”, vượt lên tột cùng của nỗi sợ hãi trong
những câu chuyện hoang đường, ghê rợn mà cánh dân chài hay kể khi nhân
vật “tôi” xin đi theo. “Đó là “một cái đầu lâu của người chết! Tóc xõa rũ
rượi vướng những sợi rong dài như giun đũa…Máu bết ở hai lỗ mũi nhơm
nhớp như nước dãi người”. Hễ cứ chập tối là bỏ nhà ra đi, “năn nỉ đến mức
“rả bọt mép” những người đánh cá mòi”, sẵn sàng giúp không công cho họ
để được đi theo những chiếc thuyền đánh cá đêm, để tự kiếm tìm sự thật.
Thậm chí có khi đối mặt với cái chết “nước sặc vào miệng khiến “tôi” ngạt
thở. Một nỗi hoảng hốt lạnh buốt lướt trong tim óc”. Song cái Chương nhận
được ở đây toàn là sự bịp bợm. Huyền thoại là sự bịp bợm trắng trợn, trong
khi ăn cướp, ngoại tình, cờ bạc, giả trá... lại là hiện thực. Niềm tin trẻ thơ bị
lừa phỉnh. Cuộc săn tìm chẳng mang lại điều gì, ngoài sự xót xa. Dòng hồi ức
58
của một cái tôi suy tư, chiêm nghiệm khiến bạn đọc cay đắng nhận ra cái trớ
trêu của cuộc đời. Cái đẹp thực ra không chỉ là thứ tồn tại trong huyền thoại.
Nó có thật trong cuộc đời này, và chỉ có ở lòng bao dung của con người, của
một số rất ít người. Chỉ có điều, nó luôn bị ngược đãi. Đẹp, là cái gì đó luôn
đồng hành với bơ vơ lạc loài, bất hạnh khổ đau. Dù không tìm thấy con trâu
đen huyền thoại, nhưng nhân vật “tôi” đã tìm thấy một trái tim đôn hậu, nhân
ái của một người phụ nữ bình dị làm nghề chèo đò trên bến sông quê, đã thắp
sáng trong tâm hồn những khát khao hướng về cái đẹp.
Cậu bé Đăng (Tâm hồn mẹ) dấn thân vào cuộc kiếm tìm, tìm kiếm một
tâm hồn mẹ để nương tựa tinh thần, để trốn chạy khỏi cảm giác “cô đơn, côi
cút”. Đăng luôn tin rằng con người ai cũng có một tâm hồn, tâm hồn ấy giống
như cây đàn, “có khi ngọn gió đến thì nó rung lên khe khẽ”. Mồ côi cha mẹ từ
tấm bé, Đăng sống với ông bà ngoại – những người chăm sóc, yêu thương
nhưng không hiểu được mong muốn của Đăng. Họ làm những điều cho Đăng
theo ý nghĩ của người lớn. Vì thế, Đăng luôn khát khao đi tìm tâm hồn mẹ.
Với trí óc ngây thơ và non nớt của mình, cậu bé hình dung ra tâm hồn mẹ: mẹ
sẽ tắm gội cho nó thật nhẹ nhàng, âu yếm, sẽ không bắt nó ăn những gì mà nó
không thích như ông bà ngoại…Chỉ có mẹ là người hiểu và yêu nó nhất trên
đời này. Cuối cùng nó đã tìm thấy “thiên chức người mẹ” ở Thu – người bạn
gái nhỏ cùng lớp với mình, nó đã được nghe thấy tiếng vọng từ tâm hồn mẹ.
Nhưng niềm vui của Đăng không được bao lâu, vì Thu rời cõi đời trong một
tai nạn.
Hiếu trong Bài học nông thôn đã về vùng quê của một người bạn cùng
lớp, để được tìm thấy những cảm xúc mới mẻ, một thế giới khác xa chốn thị
thành quen thuộc và nhàm chán. Những ngày sống ở đây, Hiếu đã ngộ ra bao
nhiêu điều đáng quý về cuộc đời, về bản thân. Đó là những điều thiết thực
biết bao với lứa tuổi đầy nhạy cảm và biến đổi của mình: “Tôi nhận ra thế
59
giới bao la, vô cùng vô tận, bản thân tôi, sự sống và cái chết đều là bé nhỏ và
không có nghĩa gì”. Hiếu đã úp mặt xuống bờ cỏ khóc khi nói chuyện với
thầy Triệu. Thầy giáo Triệu là một người sinh ra ở thành phố, bố mẹ là người
trí thức, nhưng khi về sống và dạy học ở nông thôn bao giờ cũng nói rằng:
“Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”. Thầy khuyên Hiếu đừng
khinh người nông thôn. Trong khi đó, bố Hiếu cũng là một thầy giáo nhưng
luôn dạy phải nhớ mình là người thành phố nên không muốn con về chơi ở
nông thôn. Hiếu trở về nhà theo yêu cầu của bố và lòng luôn tự hỏi tại sao bố
lại coi mình là người nhẹ dạ.
Anh diễn viên đóng vai Chiêu Hổ trong truyện thứ ba Chút thoáng
Xuân Hương vốn là người không ưa những vẻ đẹp khuôn sáo, phù phiếm.
Thất vọng trước những thước phim mà ở đó “người ta đắp điếm cho nhiều
nhân vật những tư tưởng cao siêu đáng ngờ”, anh tạm xa ánh đèn sân khấu
thành thị, quyết một chuyến đi thâm nhập thực tế, tìm về sống ở nông thôn để
tìm cảm xúc cho vai diễn sắp tới. Cuộc gặp gỡ với người thiếu phụ trên bến
Tầm Xuân đã giúp cho anh cảm nhận được vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng của
những con người bình dị, giúp anh nhận ra chân lí: “Cuộc sống thật buồn
nhưng nó giản dị và đẹp”. Giúp anh thắp lại niềm tin yêu cuộc đời để “sống
cho nhanh lên có ích” cho đời.
Ngọc trong Những người thợ xẻ là một sinh viên đại học chưa vượt qua
kì thi tốt nghiệp và từng thất bại trong tình yêu, không chịu nổi cảm giác thất
bại, đã từ giã gia đình, từ giã giảng đường đại học “theo chân một toán thợ xẻ
lên miền ngược kiếm ăn” để kiếm tìm một người có thể chia sẻ với anh mọi
điều trong cuộc sống. Nhưng cuối cùng trong hành trình đó, Ngọc vẫn chưa
tìm được điều mình mong muốn, trong lòng Ngọc ám ảnh một câu hỏi lớn:
“Một triệu người tôi gặp trong đời có ai là máu của tôi? Là thịt của tôi? Có
60
ai sẽ sống vì tôi và sẽ chết vì tôi?” Ngọc bị mất đi một ngón chân trong quá
trình cưa gỗ.
Chàng trai Khó (Trái tim hổ) quyết tâm tiêu diệt con hổ dữ, để lấy quả
tim của nó và chế từ đó ra vị thuốc để chữa lành bệnh cho Pua - người chàng
yêu. Cuộc giết hổ cũng không dễ dàng, bởi vì săn hổ vốn là việc khó khăn với
phường săn hổ thạo nghề, đằng này Khó tàn tật, dị dạng lại một mình đi săn.
Tuy nhiên, chàng giết được con hổ, nhưng chính chàng cũng bỏ mạng. Trái
tim con vật bị giết cũng không được dành cho người đẹp – một kẻ khốn nạn
nào đó đã đánh cắp nó và cô gái qua đời một năm sau đó.
Hạnh trong Huyền thoại phố phường khao khát một cuộc sống giàu có,
đã làm đủ điều đê tiện, bất nhân nhưng rốt cuộc phải vào nhà thương điên.
Ông Diểu trong Muối của rừng muốn có một con thú thật đẹp, xứng
đáng với ông thì bị tước hết vũ khí, bị lột trần truồng như một con thú.
Ông Chiểu trong Giọt máu luôn mơ ước con mình được học chữ nghĩa,
văn chương để biết nhân đức, lẽ phải, vậy mà con cháu suy đồi đốn mạt, suýt
nữa tiêu tan cả dòng họ. Để rồi, trước khi chết Phong đã nói: “Mình ơi, thằng
Tâm là giọt máu cuối cùng của dòng họ Phạm đấy. Chỉ mong giọt máu này đỏ
chứ không đen như cha ông nó”.
Nhân vật Sạ trong truyện cùng tên ở phần đầu mơ ước “để lại dấu ấn
nào đó đặc biệt”, “mơ làm nên sự tích phi thường” nhưng càng làm những
điều kì quặc, càng cố gắng tâng mình lên trong mắt những người cùng bản,
anh ta càng gặp được ít sự cảm thông. Họ coi anh là “kẻ điên rồ nhất ở bản”,
như “một con thú lạ sống giữa mọi người”, cản trở họ sống một cách bình
thường. “Người ta không gọi tên chàng. “Thằng Điên”… “Thằng Rồ”… “Kẻ
Khùng”… đấy là tên gọi của chàng”. Nhân vật Sạ không được cảm thông đã
bỏ ra đi sống ở vùng khác. “Năm ba mươi tuổi, nghe theo lời rủ rê của một gã
buôn muối ở dưới xuôi lên, Sạ bỏ Hua Tát ra đi với ý muốn lập nên sự tích
61
phi thường ở vùng đất khác”. Khi Sạ đi rồi “cuộc sống ở bản Hua Tát như
buồn tẻ hơn”. Thời gian trôi đi, càng có nhiều đồn đại khó tin về Sạ, về
những chiến công của anh và càng ngày anh trở nên đáng kể hơn trong mắt
dân bản. Rốt cuộc anh trở thành niềm tự hào của họ và vẫn tiếp tục là thế
ngay cả khi anh bị cuộc đời đánh gục, trở về làng, lấy vợ và lặng lẽ sống nốt
quãng đời còn lại của mình. Trước khi chết, Sạ nói: “Quãng đời bình thường
cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời mới thực chính là sự phi
thường mà ta lập được”. Như vậy sự cố gắng trở thành anh hùng của Sạ ở
thời trai trẻ là bình thường. Sạ chết, ý thức được rằng suốt đời mình đã chạy
theo những giá trị hư ảo. Ông đạt được cái mà ông phấn đấu ban đầu nhưng
lúc lâm chung ông hiểu rằng không phải là như thế.
Lò Văn Pành trong truyện Đất quên, dù đã ngoài tám mươi tuổi và có
một gia đình êm ấm nhưng lại muốn trở về nơi vùng đất đã từng sống thời trai
trẻ, để kiếm tìm hạnh phúc tình yêu. Ông gặp và yêu một cô gái trẻ, muốn
cưới cô về làm vợ. Nhưng cuối cùng, ông đã chết vì một cơn đau tim.
Kề về những con người đi tìm điều kỳ diệu như nhân vật Chương, nhân
vật “tôi”, Hiếu, Ngọc tác giả cho thấy khát vọng của con người tìm đến với tự
do, muốn thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ. Cuộc sống làng quê nuôi dưỡng tuổi
thơ biết bao người nhưng sự chật chội, tù túng, lạc hậu, đố kị, thù hằn, ganh
ghét, những định kiến hẹp hòi và đạo đức giả của làng quê đã làm thui chột
tâm hồn con người. Con người phải biết thích nghi và cải biến nó. Tác phẩm
còn là lời nhắc nhở, thức tỉnh những ai còn mơ mộng, tin tưởng vào những
điều huyễn hoặc hãy biết sống tỉnh áo hơn, lý trí hơn, đừng vì ảo vọng mà
đánh mất một thời tuổi trẻ. Bản chất của tình yêu, của nghệ thuật là luôn
hướng tới cái tuyệt đối, bởi vì chỉ có nó mới vượt cao hơn thời gian, cao hơn
cái chết. Và mặc dù “tất cả mọi sự thanh cao hoang tưởng vẫn chết trong cõi
dung tục tầm thường” (Chút thoáng Xuân Hương), nhưng các nhân vật của
62
ông vẫn luôn luôn tin vào điều kì diệu trong cuộc sống. Họ luôn luôn theo
đuổi cái điều không thể có trong cuộc sống.
Anfrei Arden, một trong những học trò xuất sắc của Freud, nói: “Tất cả
ý nghĩa của cuộc sống chúng ta là ở chỗ chúng ta luôn cảm thấy chúng ta
thiếu mất một cái gì và mong muốn làm tất cả để bù đắp cho sự thiếu thốn
đó” [39, tr.127]. Mỗi một người cảm thấy thiếu thốn một cái riêng, cũng như
họ có cách của riêng mình để thỏa mãn niềm khát khao đi tìm phần cái “tôi”
còn trống vắng của mình. Những con người trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp chỉ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trên con đường hướng tới tận cùng
tìm kiếm chân lí. Vì bản thân sự hướng tới chân lí, bộc lộ phẩm giá, nhiều khi
cả sự hy sinh, cống hiến cũng thật đáng trân trọng, đáng tôn vinh như chân lí.
Tóm lại, con người còn tồn tại thì còn khát khao chân lí. Trên đường
đời sẽ còn những điều giả dối, bịa đặt hoang đường, những tính toán lường
gạt…Những điều ấy là có thật, và cũng rất thật là những người tốt luôn luôn
tin ở những điều tốt trên cõi đời này. Và Nguyễn Huy Thiệp không thích vẻ
sạch sẽ giả tạo của người đời vì nó trái lẽ tự nhiên, ông muốn người đọc phải
đối diện với những gì vừa tàn nhẫn vừa phi lí, bởi vì như ông nói: “Lẽ đời là
thế” (Trương Chi). Ông muốn gạt bỏ tất cả lớp sơn hào nhoáng và không hào
nhoáng mà người ta không ngừng tô vẽ lên sự thật. Cuộc sống không cần bất
kì sự tô vẽ nào, nó đẹp vì chính nó là cuộc sống, vậy thôi! Điều ấy thật giản dị
và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa. Ông muốn gọi sự vật bằng đúng tên gọi
của nó, không màu mè, không đạo đức giả:
“Tôi biết một thứ ngôn ngữ giản dị như đất
Thứ ngôn ngữ mộc mạc, thẳng băng
Tựa như tiếng tù và
Như tiếng kèn đồng
Như tiếng chuông vọng
63
Có một thứ ngôn ngữ thức tỉnh con người
Buộc họ soi vào lòng mình
Như soi mặt xuống lòng hồ”.
(Mưa Nhã Nam)
2.4. Con người cô đơn
Người ta bảo: “Sự vĩ đại của con người nằm trong sự bình yên của tâm
hồn”, nhưng có lẽ, con đường đạt tới sự vĩ đại quá dài và quá khó khăn đối
với loài người, nên hầu như tất cả thời gian của cuộc sống của chúng ta trôi đi
trong sự dằn xé khôn nguôi của biết bao câu hỏi. Ta là ai? Ta sẽ đi về đâu?
“Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”….Biết khi nào chúng ta mới tìm thấy
được sự bình yên trong tân hồn. Sự bình yên trong tâm hồn giúp con người có
thể chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm bản thân. Nhưng không phải lúc
nào con người cũng hiểu được cuộc sống, hiểu được bản thân mình. Vì vậy,
con người luôn cảm thấy cô đơn trong cuộc sống, trong cuộc đời của chính
mình.
Từ nửa sau thế kỉ XX, sự phát triển rầm rộ của khoa học, kĩ thuật, sự
bùng nổ của các phương tiện thông tin truyền thông… đã làm đảo lộn hoàn
toàn bức tranh về thế giới. Thực tại trở nên hỗn loạn, trống rỗng. Cũng chính
lúc này, Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh và bị cuốn vào vòng xoáy của
thời đại. Mỗi người Việt cũng bước ra khỏi cuộc sống chung của cả dân tộc,
cả cộng đồng trong một thời kì lịch sử kháng chiến lâu dài để trở về với cuộc
sống đời thường của mỗi cá nhân, với bản thể của chính mình. Thế nhưng,
trước cơn bão của thời đại kinh tế thị trường, con người lâm vào tình trạng
“chấn thương hậu hiện đại”. Một trong những “chấn thương” ấy là cảm giác
cô đơn giữa cuộc đời thực tại.
64
Trước đây, cô đơn còn vẫn bị xem là chủ đề kiêng kị trong văn học.
Song trong những năm gần đây với tư duy nghệ thuật mới về con người, các
nhà văn đã quan tâm đến nhu cầu tự ý thức, đến sự thức tỉnh của cá nhân, đến
trạng thái tâm lý cô đơn của con người. Cô đơn trở thành vấn đề thu hút sự
chú ý của nhiều cây bút văn xuôi sau năm 1975, bởi bản chất của tâm trạng cô
đơn là khao khát cái đẹp, cái thiên lương của con người.
Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, cá nhân nhưng nó không hẳn là vấn
đề riêng tư, nhỏ bé. Có thể nói từng cuộc đời riêng tư, nhỏ bé của mỗi cá
nhân, gộp lại vấn đề chung của cộng đồng xã hội, một khía cạnh của chủ đạo
hôm nay. Trong không khí dân chủ hóa của nền văn học các nhà văn đã có
dịp đi sâu khám phá các phương diện và sắc thái khác nhau về trạng thái cô
đơn của con người. Thế giới nội tâm của mỗi cá nhân mang đầy yếu tố bất
ngờ và bí ẩn. Không chỉ khi tồn tại đơn thân, một mình, một bóng con người
mới cảm thấy cô đơn, mà con người mang tâm trạng cô đơn ngay chính ngôi
nhà của mình, trong gia đình mình khi không tìm thấy sự đồng cảm, một tiếng
nói chung….Ngay khi sống giữa cộng đồng, đồng loại, giữa đám đông con
người vẫn có cảm giác cô đơn.
Người cô đơn, lạc lõng xuất hiện trong văn học nhân loại trước
Nguyễn Huy Thiệp rất lâu. Trên thế giới, những thập niên 50, 60 thế kỉ XX,
kiểu người này trở nên phổ biến trong văn học phi lí Tây Âu với những kiệt
tác như : Người xa lạ, Huyền thoại Sisyphe của A.Camus, Hóa thân, Vụ án
của F. Kápka, Buồn nôn của J. Sartre, trong văn học Việt Nam sau năm 1975,
là hình tượng Giang Minh Sài trong tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu,
hình tượng Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hình tượng Hoàng
trong Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà và trong các truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp.
65
Con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không ngừng suy
tư về ý nghĩa của cuộc sống, của tình yêu, của cái chết…Ông không bao giờ
tìm ra lời giải đáp trọn vẹn cho những câu hỏi đó. Và nhà văn như treo trước
người đọc câu hỏi: Con người là ai? Anh ta đang sống trong tình trạng nào?
Có lẽ chính vì vậy nên những nhân vật trong các truyện ngắn của ông luôn
luôn cô đơn “như một hành tinh, như một ngọn gió”. Đó là nhân vật Chương
(Con gái thủy thần), Hiếu (Thương nhớ đồng quê), Ngọc (Những người thợ
xẻ), hoặc những “tôi” (Chảy đi sông ơi,…). Và phải nói là Nguyễn Huy Thiệp
đã gieo vào lòng người một niềm day dứt không nguôi về tình trạng cô đơn,
bé nhỏ cùng sự bơ vơ, thiếu vắng điểm tựa của con người. Họ luôn luôn day
dứt bởi câu hỏi: Liệu con người có hiểu được con người không, có tôn trọng
và yêu mến con người không…Tại sao những người tốt lại thường đau khổ,
bất hạnh? Đôi lúc, họ cũng muốn buông xuôi tất cả, phó mặc tất cả để mong
có một cuộc sống thanh thản, cái thanh thản nhẹ dạ của đời người, bởi vì “day
đi dứt lại mãi mà làm gì”. Nhưng họ không thể biến đổi con người mình, trái
tim mình, tâm hồn mình. Như một số phận, như một lời nguyền…Và những
con người ấy, như những sa mạc cô đơn, cứ suốt đời đi tìm “con gái thủy
thần” của cuộc đời mình. Con người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp cũng đa dạng và phong phú: con người bình thường, con người
lịch sử, con người dị dạng, nhân vật anh hùng, vua chúa,…Họ cô đơn do lạc
thời, hoặc có mối bất hòa với xã hội, do quyền lực, do sự phi lí hay do sự
kiếm tìm điều khao khát, mong muốn cho bản thân,...
Con người bình thường cô đơn được thể hiện qua các truyện Tướng về
hưu, Bài học nông thôn, Sạ, Sống dễ lắm, Cún, Trái tim hổ, Nàng Sinh.
Tướng về hưu khai thác nhiều về kiểu người cô đơn để phản ánh một sự
thật rằng thời kì Đổi mới khi kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp mở ra,
lối sống thực dụng như một cơn gió tràn vào cuộc sống của con người. Con
66
người trở nên bơ vơ, vì không thể thích ứng được với nó. Ông tướng Thuấn
người cha đáng kính của gia đình, vị tướng đáng kính của xã hội nhưng phải
kêu lên “Sao tôi cứ như lạc loài”. Nhập ngũ từ khi còn trẻ, năm bảy mươi
tuổi “về hưu với hàm thiếu tướng”, cả cuộc đời ông “gắn với súng đạn, chiến
tranh”. Tên tuổi của ông được trong làng, trong họ ngưỡng vọng. Trở về gia
đình sau khi cống hiến gần hết cuộc đời cho đất nước, những tưởng ông sẽ
tìm được những năm tháng cuối đời bình yên trong căn biệt thự do chính
mình xây dựng trong lòng thủ đô cùng với gia đình sau bao năm xa cách.
Nhưng tất cả đã không diễn ra như vậy. Lối sống, nếp nghĩ của một người
lính quên mình vì đất nước, quen sống giản dị bằng lương và trợ cấp đã không
thể hòa hợp với hoàn cảnh xã hội mới. Ông lạ lẫm giữa cuộc sống ồn ã, mà vô
cảm đến lạnh lùng của con người. Người vợ hiền hậu, một đời hy sinh cho
chồng con của ông, nay đã lẫn, không còn đủ tỉnh táo để nhận biết ông đã trở
về mà bầu bạn cùng ông. Đứa con trai độc nhất bạc nhược, an phận đến mức
dường như không có khả năng chia sẽ, thấu hiểu. Đứa con dâu thì thực dụng
toan tính đến lạnh lùng. Những đứa cháu nội sống với ông bằng khoảng cách
của nhiều thế hệ và lại bận rộn bài vở. Những người ăn kẻ ở cục mịch, quê
mùa, cả tin, ngờ nghệch…Không ai có thể giúp ông thích nghi với những xô
bồ, phức tạp, nghiệt ngã đầy ắp sự cạnh tranh và toan tính. Cuộc sống đời
thường khác hoàn toàn so với môi trường quân đội, khác xa với lối sống
“quân bình” của ông, nếp quen sinh hoạt vừa được định hình ít lâu của con
người thành thị đã biến ông thành con người cô đơn. Ông luống cuống, khổ
sở trong một đám cưới ngoại ô lố lăng và dung tục. Ông đau xót đến quặn
lòng việc cô con dâu xay nhau thai làm thức ăn cho chó Béc-giê. “Khốn nạn!
Tao không cần sự giàu có này”. Ông nhận ra một sự thật cay đắng rằng:
“Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục… tâm càng lớn càng nhục”. Sự cô đơn,
của ông Thuần xuất phát từ sự mâu thuẫn của lý tưởng cao đẹp một thời và sự
67
thật trần trụi của một thời khác. Một người như ông, từng được đặt
trong “bầu không khí vô trùng” của thời trước chắc chắn không đủ sức đề
kháng để đối chọi với sự thật của thời này. Chính vì khối cô đơn khổng lồ
không ai có thể chia sẻ, và cũng không thể hòa mình vào cuộc sống hiện tại,
ông đã tìm đến cái chết trong môi trường quân ngũ – môi trường đã gắn với
cuộc đời, số phận ông. Không chỉ riêng ông tướng Thuấn, con trai ông – kĩ sư
Thuần – cũng không thoát khỏi cô đơn. Không chỉ vậy, anh còn nhận thấy cô
đơn là thực trạng phổ biến với tất thảy mọi người: “Tôi thấy cô đơn quá. Các
con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa”. Thủy, nhân vật tha
hóa trong tác phẩm cũng là một con người cô đơn. Bởi vì, chồng chị suốt
ngày vùi đầu vào nghiên cứu “công trình điện phân” của anh ta. Người phụ
nữ ấy thành đạt nhưng lại thiếu vắng tình cảm, thiếu vắng sự quan tâm của
người chồng. Sống trong gia đình mà sự lãng mạn trở thành xa xỉ đã khiến chị
ngã lòng trước một người đàn ông tặng chị những bài thơ. Để rồi khi tỉnh ra
chị đã phải khóc và ân hận, vì thấy có lỗi với chồng con. Ngoài ra giữa câu
hỏi của ông Bổng và câu trả lời của bà Thuần lúc lâm chung dường như
không có liên hệ với nhau nhưng lại mang ý nghĩa rất lớn. Ông cũng là một
người cô đơn nên chỉ được làm người dù không mặt mũi, không tên họ cũng
mãn nguyện rồi!
Hiếu và thầy giáo Triệu trong truyện Bài học nông thôn là những người
cô đơn. Hiếu cô đơn trở về nhà một mình khi mọi người trong nhà của Lâm
đều bận việc và dường như không ai chú ý đến. “Mọi người trong nhà đều
như bận việc, có vẻ như không một ai để ý đến tôi…Tôi rời thôn xóm ra đi.
Trời còn tối lắm. Cánh đồng mờ mịt hơi sương”. Hơn nữa Hiếu cô đơn ngay
chính trong gia đình mình vì bố mẹ không hiểu và coi anh là một người nhẹ
dạ, cả tin. Thầy giáo Triệu sống một mình ở vùng quê, không gia đình thân
thích, không vợ con. Khi chết chỉ có những người trong làng tổ chức làm đám
68
tang và đưa ma, vì “bố mẹ anh đã “từ” anh”, vì anh về sống ở nông thôn và
coi mình là nông dân. Cũng như bao người dân nào khác trong làng khi chết,
“người ta chôn anh ở bãi tha ma của làng. Trên mộ có mỗi vòng hoa trắng”.
Nhân vật Sạ trong truyện cùng tên cũng là một con người cô đơn.
Chàng sinh ra trong “một gia đình đông đúc có đến tám người con và gần ba
chục đứa cháu”. Nhưng “chàng như một con thú lạ sống giữa mọi người. Sạ
sống như thế bức rức đau khổ. Chàng ngờ vực trí tuệ của mình. Ở trong đám
hội, chàng vui đấy nhưng chỉ lúc sau chàng im lặng như hóa đá. Chàng ngồi
suốt ngày, suốt tháng chế tạo ra mọi thứ đồ chơi hay thứ vũ khí gì đấy, nhưng
khi làm xong chàng lại vứt đi. Không ai dám đặt lòng tin hay dám giao phó
việc gì cho con người đầy bất trắc đó. Nỗi cô đơn khủng khiếp giày xé tim
chàng”.
Ông giáo Chi trong truyện Sống dễ lắm là một người cô đơn do có cách
sống và phương thức làm việc quá khác biệt với mọi người. Ông làm việc mà
“không có tài liệu. Không có sách vở”. Không có chương trình trong quá
trình giảng dạy. “Mình trần, thân trụi”, không cần đến những thuyết giáo khô
khan, không bằng những vấn đề chuyên môn nghiệp vụ, ông chỉ truyền cho
lớp giáo viên trẻ ở vùng cao một lớp triết lí sống hồn hậu: “tất cả là do tự
nhiên điều chỉnh hết! Mình cứ sống thôi! Sống dễ lắm! Cứ nhìn vào mắt bọn
trẻ con mà sống”. Đồng nghiệp không ai có thể thấu hiểu và chấp nhận cung
cách làm việc của ông. Cuối cùng những ý tưởng và cách làm việc không
giống đồng nghiệp xung quanh khiến ông mất việc. Người đọc cảm thấy se
lòng khi chứng kiến ông giáo “ngậm ngùi xếp đồ đạc vào chiếc ba lô ngày
trước”. Vốn tâm huyết với nghề nên ông đã lên vùng cao để làm việc nhưng
giờ đây ông “thấy lòng mình tan nát, ông đành thôi việc về quê”. Và những
ngày tháng tiếp theo, ông sống trong cô đơn “chỉ loanh quanh vườn nhà” với
69
ước mơ siêu thoát. Ông ước mình “có thể bay lên trời được! Như những ngọn
gió” hoặc bay đến một nơi nào đó “không có một bóng người nào”.
Chàng Khó trong truyện Trái tim hổ cô đơn vì chàng mồ côi cha mẹ.
Chàng “sống như con don. Con don, con dim sống thui thủi, đi con đường
riêng, ăn uống thế nào không ai biết được. Khó chẳng bao giờ tham dự những
cuộc họp mặt, hội hè của bản”, phần vì chàng nghèo, phần vì chàng xấu trai.
“Chàng bị đậu mùa, mặt rỗ chằng chịt người. Khó dị dạng: hai tay dài chấm
đầu gối, đôi chân khẳng khiu, đi lúc nào cũng như chạy.”
Sinh trong truyện Nàng Sinh là một thiếu nữ mồ côi đáng thương.
“Ngày xưa mẹ nàng bị ma chài, đẻ nàng trong rừng. Nàng không bao giờ
được ăn miếng ngon, mặc váy đẹp”. Thân phận nàng là thân phận “côn
hươn” – một đẳng cấp thấp nhất trong bản. “Nàng sống thui thủi như con
chim cút”, nên khi trong bản có vấn đề gì quan trọng người ta cũng chẳng
buồn nhớ đến Sinh.
Có những nỗi cô đơn của con người xuất phát từ chính bản thân nhân
vật gây ra, do họ đơn độc trên đường đời. Trong “Quan âm chỉ lộ” nhân vật
“tôi” cô đơn vì “không có nhiều người thân, nhiều bạn bè. Tôi đã trót rào
quanh tôi bằng hàng rào danh tiếng đấy không phải là do ý thức của tôi chủ
định, rất nhiều thói đời xô đẩy khiến tôi lâm vào tình cảnh trớ trêu thế. Nhiều
khi tôi thấy cô đơn ngay chính ngôi nhà mình. Những bạn bè cũ ngại gặp tôi,
tôi cố gắng phá đi mặc cảm tự ti vì không thành đạt ở trong lòng họ mà không
phá được”. Nhưng đó lại là điều rất thực con người có thể bị đẩy vào nỗi cô
đơn do chính tiếng tăm của chính mình. Nhân vật khách trong truyện Thiên
văn cũng là một nghệ sĩ đơn độc trên chính con thuyền số phận. Người nghệ
sĩ phải qua sông “một mình trên đò giữa mưa bão” vì không người lái, không
mái chèo, nghĩa là không thể dựa vào ai. Người khách ấy phi thường hay khác
thường? Bản chất của vấn đề đó không quan trọng, song cái đáng nói ở đây là
70
chính điều đó đã khiến anh ta cô đơn trên những bước đường trôi dạt, phiêu
lãng của mình.
Ông Diểu trong Muối của rừng chuyến đi săn vào cuối mùa xuân. Ông
ra đi cũng chỉ một mình, trở về cũng chỉ một mình như thế giữa bạt ngàn hoa
tử huyền nhiều không kể xiết. “Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế
mà đi”.
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn rất nhiều nhân vật cô
đơn vì họ không bằng lòng với chính mình, luôn khát khao vượt ra ngoài giới
hạn nhỏ bé để đến với chân trời rộng hơn, mải mê đi tìm điều thiện, đi tìm cái
cao đẹp của cuộc đời. Điều thiện ở đâu? Cái đẹp ở phương nào? Sao mong
manh xa vời vậy? Chương trong Con gái Thủy Thần suốt đời bị ám ảnh bởi
huyền thoại về Mẹ Cả - kiểu nhân vật thường cứu nhân độ thế như Đức Mẹ
trong Thiên Chúa giáo hay Phật Bà Quan Âm trong Phật giáo nên đã một
mình đơn thân độc mã trên hành trình tìm kiếm Mẹ Cả, tìm kiếm sự vẫy gọi
của những khát vọng của cái đẹp. Anh cứ mải miết đi tìm Mẹ Cả và chắc rằng
trong hành trình này anh vẫn mãi cô đơn “không có tiền bạc công danh,
không có gia đình để yêu thương lo nghĩ, không có bạn bè” chỉ có “nỗi cô
đơn và sự bất lực nào ai thấy được ngoài mi”. Anh mãi đi để rồi cuối cùng
mãi mãi bơ vơ, lạc lõng: “Trước mắt tôi dòng sông đang thao thiết chảy.
Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết biển mà tôi đã sống nửa
cuộc đời rồi đấy… Tôi đứng lên đi về nhà. Ngày mai tôi đi ra biển. Ngoài
biển không có thủy thần” (Con gái thủy thần).
Nhân vật “tôi” trong Chảy đi sông ơi có tâm trạng cô đơn và như thế
sau bao nhiêu năm anh rời xa quê hương, lãng quên đi những khát khao, mơ
ước tuổi thơ. Trước bến đò xưa, trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của hồi ức xưa,
anh không khỏi thảng thốt, bàng hoàng: “Tôi muốn gào lên chua xót. Tôi
bỗng thấy cuộc sống hiện giờ của tôi vô nghĩa xiết bao. Con trâu đen, con
71
trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi”. Và chị Thắm cũng là một
người cô đơn. Chị sống cô đơn một mình trên con thuyền, bao nhiêu năm
chẳng có ai hỏi thăm. Chị đưa khách qua sông và cứu rất nhiều người chết
đuối, nhưng cuối cùng chị bị chết đuối mà không ai cứu, “làm cho nhân vật
tôi òa lên khóc nức nở. Xung quanh sông nước nhòa đi”.
Nguyễn Huy Thiệp không chỉ miêu tả sự lạc lõng, cô đơn của con
người hiện tại còn trở về với quá khứ tìm về với nỗi cô đơn của con ngườii
trong huyền thoại, sử sách hay trong thế giới của những câu chuyện cổ tích.
Nguyễn Ánh trong Kiếm sắc là một vị vua quyền lực nhưng vẫn rất cô đơn.
Không những vậy, ông còn là một “khối cô đơn khổng lồ”. Chính sứ mệnh
của một đế vương đã buộc ông vào danh dự, nghĩa vụ, bổn phận, “chỉ được
quyền cao cả, không được quyền đê tiện”. Những ràng buộc này khiến ông
không thể sống đúng là mình, là chính mình và sống như bản thân mình mong
muốn. Đó là nỗi cô đơn của bậc đế vương.
Đề Thám vốn được mệnh danh là “Hùm thiên Yên Thế”, trong sử sách,
nhưng trong truyện Mưa Nhã Nam của Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh “một
người anh hùng”, Đề Thám còn là “một người nhu nhược”, người cô đơn.
Trong truyện, ông đã sụt sùi khóc. Không thể khóc trước người thân, ông
khóc trong cái mênh mông hư ảo của núi rừng, khóc cho mình, khóc cho cái
hữu hạn của kiếp người – một hành động tưởng chừng như trái ngược với bản
lĩnh của người anh hùng. Và chính khi ấy, Đề Thám thấm thía nỗi cô đơn, ý
thức được sự bất mình lực của bản thân mình, vì chính ông hiểu mình là
“người nhu nhược nhất đời, một người suốt đời thỏa hiệp, không bao giờ dám
bước qua lằn ranh bổn phận, nghĩa vụ, cương tỏa”. Và sau khi nhận ra điều
đó, ông đã đánh đồn quân Pháp, chấm dứt thời kì hòa hoãn.
Xuân Hương, tri phủ Vĩnh Tường trong cái nhìn của Nguyễn Huy
Thiệp cũng là những con người cô đơn. Trong hai phần đầu của truyện Chút
72
thoáng Xuân Hương, Xuân Hương hoàn toàn vắng bóng với tư cách là hình
tượng nhân vật, Xuân Hương lặng lẽ trong gia đình nhà Tổng Cóc. Bà chỉ
xuất hiện trong suy nghĩ so sánh của Tổng Cóc từ một đối cú khá xa trong văn
bản: “Trong cuộc đời mình ông vất vả nhiều…đã toan tính từng nước cờ đời
nhưng trong lòng vẫn cứ tái tê cảm giác thau cuộc thế nào”. Và “Ông chịu
Xuân Hương ở chỗ bà luôn thất bại trong cuộc đời mà vẫn thăng bằng, mà
vẫn không có cảm giác thua cuộc. Ông ngờ ngợ bà to lớn hơn ông, mạnh mẽ
hơn, sống có dũng hơn”. Phải chăng vì bà quá mạnh mẽ, sống có dũng khí,
luôn đứng cao hơn cõi đời trần tục, nên cả Tổng Cóc, cả ông phủ, cả ấm Huy,
cả tri huyện Thặng đều nhìn bà với cái nhìn ngưỡng mộ, nể phục. Ấm Huy
trọng Xuân Hương vì “bà sáng suốt hơn chồng. Bà gieo ở lòng chàng một
mối kính phục và sợ hãi” và chàng “cũng là nhỏ bé với bà”. Tri huyện Thặng
“khét tiếng đục khoét dân lành” cũng phải thốt ra: “Chị vốn là người công
bằng” và còn phải “nể” trọng bà. Và điều đó, họ đã vô tình làm rộng thêm,
sâu thêm nỗi cô đơn vốn thường trực trong lòng bà. Khi ông tri phủ Vĩnh
Tường qua đời chỉ còn lại một mình trong cuộc đời rộng lớn, ít ai thấu hiểu bà
giờ đây đang lặn sâu vào tột cùng bởi niềm riêng, bà “mặc áo xô gai đang
nức nở khóc, đang khóc nức nở cho nỗi mênh mông của cõi đời”. Phải chăng,
nhà văn muốn gợi đến sự cô đơn khủng khiếp trong của người nghệ sĩ, ở đây
là Xuân Hương. Tổng Cóc thành đạt ở đời nhưng luôn cảm thấy thất
bại…Huyện Thặng không dùng điều nhân nghĩa để giáo huấn mà dân không
loạn, phải theo, ngược lại, tri phủ Vĩnh Tường dùng điều nhân nghĩa giáo hóa
mà khi chết không một người thân đến viếng khóc.
Nguyễn Trãi một nhà tài năng quân sự, chính trị lỗi lạc, giúp Lê Lợi
đánh quân Minh, xây dựng cơ nghiệp nhà Lê. Nhưng trong truyện Nguyễn Thị
Lộ, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng ông là một con người cô đơn, mặc cảm lạc
loài, lạc thời. Ông cô đơn giữa triều đình với chính đồng loại mình. Nguyễn
73
Trãi từ nhỏ đã nhận thấy mình “như khoai giữa ngô, như lạc giữa vừng”, khác
biệt rất lớn đối với mọi người. Đến lúc trưởng thành ông vẫn tiếp tục sống âm
thầm, “gần như không có bạn, không có tri âm tri kỉ. Dưới một bề ngoài bình
thản rụt rè, Nguyễn Trãi dấu mình trong vỏ ốc” (Nguyễn Thị Lộ), chỉ có Thị
Lộ là người thấu hiểu được tâm tư, tình cảm, có thể sẻ chia bầu bạn được với
ông. “Nguyễn Thị Lộ biết rõ giá trị con người Nguyễn (Trãi). Nàng thông
cảm với nỗi giày xé trong tâm hồn ông. Nàng biết ông đang chạy té lên phía
trước trong hệ thống tư tưởng đương thời. Vừa hung hãn, vừa tuyệt vọng”.Và
khi len lỏi ngõ nghách tâm tư của Nguyễn Trãi bà thấy được “ông cô đơn
giữa đời người như một hành tinh, một ngọn gió”.
Ngọc (Những người thợ xẻ) dù sống cùng một toán thợ xẻ, trong đó có
cả anh em họ nhưng luôn cô đơn vì: “chỉ có một mình anh, còn lại là chúng
nó”.
Tú Xương trong Thương cả cho đời bạc cũng là một người cô đơn. Thơ
ông mọi người đều biết, nhưng con người ông phải ai cũng thấu hiểu. Bề
ngoài, ông thường cời cợt nhưng đó là cách ông che dấu con người thật của
mình. Tú Xương với phản ứng duy nhất trước những chuyện thời thế bằng
câu cửa miệng “đa tạ cụ” rồi “thõng tay vào chợ”. Sâu thẳm trong con người
ông là một nỗi cô đơn đến tái tê gan ruột bởi dường như ông cũng ý thức
được rằng mình đã trở thành người xa lạ giữa cuộc đời này. Ông là kẻ “thức”
duy nhất trong thiên hạ, tất cả đều say ngủ: “Thiên hạ dễ thường đang ngủ cả.
Tội gì mà thức một mình ta”. Tú Xương mãi khắc khoải mong chờ một tiếng
vọng tri âm. Đó là điều Nguyễn Huy Thiệp nhận thấy rõ.
Ngoài ra, còn có nhà văn họ Vũ thu mình trong đám đông ồn ào; Trang
Sinh, Hồ Lang, Điệp Lang... đều mang lấy những đau đớn của kẻ lạc thời.
Những vĩ nhân cô đơn, những anh hùng cô đơn và những con người
bình thường cũng có thể cô đơn. Song không chỉ vậy, trong truyện ngắn của
74
Nguyễn Huy Thiệp, người đọc có thể bắt gặp con người cô đơn vì chính hình
hài dị dạng của mình. Nhân vật Cún phải gánh chịu nỗi cô đơn đến cùng cực.
Không chỉ bị ruồng rẫy, bị vứt bỏ ở cống nước từ khi mới chào đời mà còn có
một hình hài dị dạng nên Cún lớn lên trong sự ghẻ lạnh của người đời. Cún
“sống như con giun, con dế, con ong” và trở thành công cụ kiếm tiền của một
ông lão ăn xin. Mọi người cho tiền không phải vì thương hại mà vì muốn
tránh đi ánh mắt của Cún. Khi ông lão ăn xin chết, Cún bơ vơ giữa đời không
người thân thích (Cún).
Viết về những con người cô đơn phải chăng Nguyễn Huy Thiệp muốn
con người xích lại gần nhau, vượt qua mọi thù hằn ngăn cách để được sống
thực sự có ý nghĩa. Sự cô đơn của con người có thể xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau và đó chính là trạng thái tâm hồn của con người.
2.5. Sự phong phú phức tạp bên trong con người bình thường
Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp không xây dựng con
người theo lối phân tuyến địch - ta, đen - trắng, xấu - tốt... mà đặt con người
trong nhiều quan hệ khác nhau, dựng lên một cõi người đa dạng, có người tốt
kẻ xấu, có người cao thượng kẻ đê hèn. Lại có kẻ suốt đời mang trong mình
nỗi cô độc khủng khiếp. Tuy nhiên bản thân mỗi con người không hề đơn
giản một chiều mà sâu kín, rối rắm, nhiều chiều kích. MiLan Kundra
nói: “Con người là hiển minh của lưỡng lự”. Bên trong mỗi bản thể nhỏ nhoi
ấy bao giờ cũng tồn tại hai mặt đối lập: đẹp - xấu, thiện – ác, cao cả - thấp
hèn, trong sáng – tăm tối, hạnh phúc – khổ đau… Con người có lúc là thần
thánh, song cũng có lúc là quỷ dữ. Ai dám bảo một người lương thiện không
có lúc suy nghĩ đê tiện? Ai dám bảo một người độc ác lại không có lúc lấp
lánh trong tâm hồn ánh sáng của thiên lương. Lev Tolxtoi đã nói: “Một trong
những sai lầm vĩ đại nhất khi xét đoán về con người là chúng ta hay gọi và
75
xác định người này thông minh, người kia ngu xuẩn, người này tốt người kia
ác, người thì mạnh mẽ, người thì yếu đuối, trong khi con người là tất cả: tất
cả các khả năng đó, là cá gì luôn luôn biến đổi” [68, tr.62]. Cho nên không
nên chỉ đơn giản phân loại con người theo hai khu vực rạch ròi: tốt và xấu.
Kiểu nhân vật đan xen giữa trắng và đen, thật và giả ấy văn học gọi là nhân
vật lưỡng diện.
Nguyễn Huy Thiệp cũng như bao nhà văn khác trong thời kì Đổi mới
văn học, đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm của con người, xây dựng con
người lưỡng diện. Ông len lỏi vào những nẻo sâu kín nhất trong nội tâm nhân
vật, nhìn thấy những biểu hiện dù nhỏ nhất lóe lên trong tâm hồn họ. Cho nên
kiểu nhân vật lưỡng diện tồn tại hầu hết trong sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp.
Trong truyện Tướng về hưu ông Bổng là một con người lỗ mãng, táo
tợn, làm mọi điều phi nhân bất nghĩa – gây sự với con trai, đuổi con dâu ra
khỏi nhà khi đang mang thai, tưởng như không thể cải tạo được vậy mà cũng
có lúc biết nhục, bật khóc vì được chị dâu – một người lẫn, sắp chết không
gọi được tên ông, chỉ nói được ông là người: “Thế là chị thương em nhất. Cả
làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là
đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người”. Ông vụ lợi một cách khinh bạc,
trắng trợn, tán tận lương tâm. Trong đám tang chị dâu, ông lạng lùng: “Mất
mẹ bộ xa- lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ! Bao giờ bốc mộ
cho chú bộ ván”. Khi ngồi đánh tam cúc ăn tiền với các đô tùy bị thua thì ông
Bổng lại chạy vào vái quan tài: “Lạy chị, chị phù hụ cho em để em vét nhẵn
túi chúng nó”. Trong lúc đưa tang chị dâu, ông Bổng vẫn có thể đùa: “Bao
giờ tôi chết, đô tùy của tôi toàn dân cờ bạc, cỗ không thịt lợn mà thịt chó” và
hối các đô tùy đi nhanh để về còn nhắm. Nhưng cũng có lúc ông rung động
trước thiên nhiên đẹp: “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu
76
vì sao phải yêu đất nước”. Nhân vật hấp dẫn nhất trong truyện là Thủy. Thủy
là con người của cuộc sống hôm nay. Mạnh mẽ, thực dụng, tỉnh táo, đầy lí trí,
sòng phẳng, nhiều khi thực tế đến tàn nhẫn nhưng đồng thời có lúc cũng biết
điều.Thủy là một bác sĩ phụ sản, lẽ ra rất quý con người. Nhưng công việc
chính của Thủy tại bệnh viện là nạo phá thai. “Hằng ngày các rau thai nhi bỏ
đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn” ăn để
kiếm thêm nguồn thu riêng cho gia đình. Khi bị bố chồng phát hiện, Thủy đã
không cảm thấy ghê rợn cho việc làm của mình mà còn thản nhiên bảo ông
Cơ: “Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết”. Mọi công việc chi tiêu
trong nhà, Thủy tính toán rất rành rẽ: “Năm nay nhà mình hụt thu hai bảy
nghìn, lạm chi hai mươi tám nghìn, cộng là bốn mươi lăm nghìn”. Để mẹ
chồng sống và ăn riêng vì bà đã lẫn. Cô dửng dưng trước sự đau khổ của
chồng vì mẹ sắp mất. Trong lúc chồng tìm cách đổ sâm để kéo dài sự sống
cho mẹ, Thủy vẫn có thể lạnh lùng bảo: “Mẹ già rồi”, “đừng đổ sâm”, ngăn
việc cấp cứu, lẳng lặng đi mua vải để may áo tang, kêu thợ mộc về đóng hòm.
Trong đám tang mọi người đau buồn nhưng Thủy lại rất tỉnh táo đối phó
trước sự bon chen, lèo lái của ông Bổng: “Em nghe hết rồi, em tính ba chục
mâm, tám trăm đồng một mâm, ba tám hai mươi tư. Hai nghìn tư, phụ phí sáu
nghìn. Việc mua bán em lo. Cỗ giao cô Lài. Đừng nghe ông Bổng, lão ấy đểu
lắm”. Cô Lài khóc thương cho bà chủ vừa qua đời, Thủy bảo “đừng khóc”,
còn tự hào khoe với chồng: “Ba mươi mâm anh phục em tính sát không?”
Nhưng có lúc, cô tỏ ra hào phóng với mọi người, hầm cho mỗi người con gà
tâm sen trong ngày đầu năm mới, cho thêm tiền để hai cha con ông Bổng về
quê bốc mộ. Nói về ông Bổng: “Thôi, coi như trả công. Lão ấy tốt nhưng
nghèo”. Nói năng đúng mực và kính trọng bố chồng. Biết khóc, ân hận và xin
lỗi chồng sau khi ngoại tình.
77
Lão Kiền trong Không có vua là một người cha nhưng suốt ngày cau
có, chực nhổ toẹt vào con cái những lời độc địa, nhẫn tâm khi đồng lõa cùng
con trai cả nhốt con út bệnh tật vào cạnh buồng nhà xí để giữ thể diện với
khách trong ngày giỗ vợ, lại hoàn toàn thản nhiên trước mâu thuẫn của các
con “Chúng mày giết nhau đi, ông càng mừng”. Đốn mạt hơn khi đứng nhìn
trộm con dâu đang tắm, nhưng khi lão đánh bài ngửa: “Tao chẳng cần. Đàn
ông chẳng nên xấu hổ vì con buồi”. “Làm người nhục lắm”. “Cha mẹ mày!
Chỉ nghĩ cho thân tao thì lũ chúng mày được như thế này à?” thì ta hoàn toàn
có thể thông cảm và thấy lão đáng thương hơn đáng ghét. Và lão trở nên đáng
yêu khi Rằm tháng Chạp, đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm, mua cho Tốn cái áo
sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn. Sáng mồng một
Tết, áo quần chỉnh tề, ông cùng vợ chồng con cả đi chúc Tết hàng xóm.
Đoài là công chức của Bộ Giáo dục nhưng lại là kẻ vô giáo dục: “Lười như
hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!”, “có học mà ăn nói linh
tinh”. Giữa bữa cơm gia đình, hắn có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở
ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ trơ trẽn “Tình ơi tình,
mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ” khiến chị dâu ngượng
chín cả mặt. Đoài ngang nhiên tán tỉnh, sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu (“Thiếu
một tí tình thôi, Sinh cho tôi sinh một tí”), (“Người chị tôi cứ mềm như bún”),
(“Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần”, “Tối nay, tôi
vào buồn Sinh nhé!”); đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu (“Nếu
Sinh yêu tôi, tôi sẽ gây sự tống cổ nó ra ngoài”). Đang khi chặt thịt gà, tay
đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ mẹ vái lia lịa nhưng lại
khấn: “Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub”.
Lạnh lùng biểu quyết để bố chết khi lâm bạo bệnh: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ
cũng thế, cứ để chết là hơn”. Thở phào nhẹ nhỏm khi nghe bố tắt thở “Ông
cụ đi rồi. Thật may quá”, và hăng hái “Bây giờ tôi đi mua quan tài”. Trong
78
bữa tiệc mừng Sinh sinh con có thư báo ông cậu chết, nhưng Đoài bảo: “Cứ
gác lại đã. Các bác già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi.” Nhưng có
lúc Đoài cũng tỏ ra tử tế “Con xin lỗi bố”, vì thông cảm cho con người đàn
ông của bố, và biết ơn sự hy sinh của bố sau khi nghe bố “nói chuyện đàn
ông”. Đoài cũng là người có trách nhiệm, bổn phận: “Ngày kia giỗ mẹ. Anh
Cấn bảo chú Khiêm mai kiếm cho được cân thịt ngon ngon. Em đưa chị Sinh
một trăm rồi đấy”. Đoài tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu khi anh trai sắp giở
trò vũ phu với chị dâu (“Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!”). Đoài
cũng biết giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh về. Trong bữa tiệc mừng thành
viên mới của gia đình, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói: “Cốc rượu này tôi
dâng cuộc sống…Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó”...Một
Khiêm, tay đồ tể, mắt “vằn tia máu đỏ”, một năm “ăn cắp đến nửa tấn thịt”
và “hai trăm sáu mươi bộ lòng” , sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép
nhận tiền công cắt tóc (“Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi
đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi”). Đây là người mà Sinh
thấy ngại khi mới về làm dâu, lúc nào cũng im lặng. Nhưng Khiêm lại rất
thương đứa em tật nguyền là Tốn. Khiêm nổi giận lôi đình, ném gạt tàn thuốc
lá vào mặt, xông vào đấm Cấn túi bụi khi biết anh Cả chỉ vì ích kỉ, muốn giữ
thể diện mà có thể nhẫn tâm nhốt thằng em vào buồng cạnh nhà vệ sinh.
“Khiêm giật khóa, không được. Khiêm cầm xà beng phá cửa. Cửa mở ra. Tốn
chân tay mặt mũi đen nhẽm nhe răng cười. Khiêm quát: “Đi ra”. Khiêm cũng
rất mực tử tế với chị dâu. Trước mâm cỗ đêm giao thừa, Khiêm bảo: “Chị là
bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn”. Khiêm bảo: “Năm mới,
chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để
cho có lộc” khiến Sinh rớm nước mắt. Khiêm đã “tặng” cho Sinh và Tốn một
buổi tối giao thừa vô cùng “cảm động”. Khiêm cũng tử tế rất mực với bố. Bên
giường bệnh của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, “Khiêm vẫn
79
ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người
sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm
Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng”.
Nhân vật Bường trong “Những người thợ xẻ” điêu trá, thủ đoạn đúng
như lời mai mỉa dân gian “kéo cưa lừa xẻ”. Tuyên ngôn sống của Bường:
“Tiền là trên hết”. Hắn đã từng đi tù vì liên quan đến vụ trộm phân ở huyện.
Khi ra tù, hắn mở quán thịt chó, trong làng mất nhiều chó. Họ nghi cho
Bường nhưng vì không có chứng cứ nên hắn vẫn vô can. Hắn hiếp dâm con
gái lão Thuyết, bị Ngọc phát hiện lẽ ra phải ngại ngùng xấu hổ hành vi của
mình, nhưng hắn lại nói: “Con ranh con, mặc quần vào. Có thích xem đánh
nhau thì đứng mà nhìn. Chúng ông đánh nhau vì mày đấy” và còn trơ trẽn mở
miệng triết luận: “Mày chẳng hiểu gì. Ai lại đi tính tuổi bướm bao giờ”. Khi
nhận xẻ gỗ cho ông Thuyết, Bường đã bán bớt số gỗ trong lúc cưa cho người
khác. Bường sẵn sàng giở thói côn đồ, dao búa với người thuê mình xẻ gỗ:
“Bác không trả tiền như tôi thỏa thuận, mời bác xơi nhác dao này. Đùa với ai
thì đùa, đừng đùa với Đặng Xuân Bường”. Vậy mà có lúc, hắn cũng biết
thương người. Khi Ngọc và Biền đánh vật, Ngọc thắng. Nhưng sau Bường
kéo Ngọc ra và nói: “Tao nói cho mày biết, mày bỏ cái trò lưu manh ấy đi.
Mày dụ thằng Biền chơi giả để dụ nó thật…mày bịp con Quy thì được chứ
không bịp được tao đâu…Tởm lắm. Cút mẹ mày đi”. Khi bị chị Thục mắng vì
đã làm cho chân Ngọc bị thương trong lúc cưa mà không chữa chạy, sưng to
và bị hoại tử, Bường đã “cúi mặt thút thít khóc: “Bà chị bảo em làm gì
được?” Khi thấy vợ chồng chị Thục nhiệt tình chữa trị cho Ngọc, Bường đã
bảo Biên và Biền xếp hai hộp gỗ lên xe để biếu anh chị. Và chính hắn lại nói
những câu đầy nhân tính: “Bà chị không coi chúng em là súc vật! Chúng em
phận hèn của cải chẳng có. Chúng em mắc nợ nghĩa tình thì khốn nạn lắm”.
Trong cái nhìn của Ngọc: “cái tay Bường này, tôi biết, khi hắn lý giải về sự
80
sống nói chung, bao giờ hắn cũng minh triết, bao giờ hắn cũng cố gắng để
giữ cốt cách thanh cao về mặt nhân cách. Thế nhưng đời thực của hắn thì như
cứt chó. Không sao ngửi được”.
Trong truyện Sang sông khi nhìn thấy vị khách lên thuyền là một người
cao lớn khoác túi, trong dáng phong trần, thầy giáo lẩm bẩm “người với
ngợm, trông như tướng cướp”. Nhưng đó đúng là tướng cướp thật. Chị lái đò
quanh năm đưa khách qua sông, cũng nhận biết được hắn là tướng cướp nên
đã nói buâng quơ “Giông bão gì đâu mà quạ xuống núi”. Tên cướp vui vẻ:
“Có cỗ cưới, người ta mời, ông lão sáu mươi lấy cô mười bảy”. Mọi người
trên đò lạnh ngắt”. Nhưng khi hai tên cao gầy trên thuyền dí dao vào cổ đứa
bé, làm cho chảy máu để đòi tiền của người mẹ thì hành động của tên cướp lại
hết sức ngạc nhiên. Anh nói: “Thôi đi! Trẻ con là tương lai đấy! Làm gì cũng
phải nhân đức hàng đầu”. Người thanh niên suốt từ đầu buổi có những cử chỉ
khiếm nhã với cô gái, thậm chí có lúc cáu bẩn: “Đàn bà…quỷ sứ…Tất cả đều
chẳng ra gì…Bẩn thỉu”…khi cô gái phản ứng lại hành động của anh ta.
Nhưng khi thấy tên cướp dí dao vào cổ chú bé, anh rời cô gái, tháo chiếc nhẫn
nơi tay đưa cho tên cướp.
Trong truyện Cún, lão Hạ là một người ăn xin, đã cứu Cún từ trong
cống nước. Lão coi Cún như con nhưng đã lợi dụng cho Cún đi ăn xin để
sống qua ngày, để kiếm tiền đánh bạc và uống rượu. Cũng có lúc, “lão Hạ
chẳng hề thấy áy náy vì những lần để Cún đói lả, run người trong những trận
sốt mê man để đi uống rượu hay đi đánh bạc”. Khi Diệu cho Cún đồng tiền,
lão đã lẳng lặng nhặt vào túi mình. Nhưng lão cũng là một người có lòng nhân
từ. Lão hiểu rõ mình già, ốm đau, sẽ không còn trên cõi đời này và Cún sẽ bơ
vơ một mình. Với thân hình dị dạng, không di chuyển được nhiều của Cún thì
thật là đáng thương và khó khăn để kiếm sống. Cho nên chính trong quá trình
lợi dụng Cún để kiếm ăn, lão cũng đã để dành cho Cún ít vàng để phòng thân
81
sau này. Vì vậy, lúc sắp chết “bàn tay lão cố ấn vào tay Cún một cái túi con
nằng nặng”, mà sau này khi mở ra Cún thấy đó là những khâu vàng.
Ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp không chỉ miêu tả sự phong phú, phức tạp
ở những con người bình thường trong cuộc sống đời thường mà còn nhìn thấy
sự phong phú, phức tạp qua việc miêu tả các nhân vật lịch sử. Ông nhìn các vị
vua, các nhân vật lịch sử ở khía cạnh đời tư, đời thường. Nhà văn không nhìn
đối tượng bằng cái nhìn “biết trước”. Nói đơn giản hơn, với Nguyễn Huy
Thiệp, tác phẩm là một kiểu thông báo: Tôi nhìn cuộc sống bằng cái nhìn của
riêng tôi! Chính tại đây, khuôn mặt đích thực của đời sống hiện lên một cách
sắc nét nhất. “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên,
thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh” (Giọt máu). Nghĩa là ông hình
dung lịch sử theo cách riêng của mình chứ không nhìn lịch sử theo kiểu biên
niên, ông cũng không đi theo lối mòn “tô hồng” khi nói về vĩ nhân và “bôi
đen” khi nói về những nhân vật “có vấn đề”. Tất cả các nhân vật trong truyện
của Nguyễn Huy Thiệp được đặt trong cùng một tọa độ soi ngắm và được lột
tả bằng cái nhìn đa diện. Giống như Vũ Trọng Phụng trước đây, Nguyễn Huy
Thiệp nhất quán với quan niệm văn chương là “sự thật ở đời”. Bởi thế, ngay
cả vĩ nhân cũng được hình dung qua khoảng cách thẩm mĩ mà tiểu thuyết hiện
đại vẫn quen dùng: quan hệ suồng sã phi sử thi. Trong nhiều tác phẩm, ông
muốn lôi xuống đời thường, trần tục hóa các vua Gia Long, Quang trung và
các nhân vật lịch sử Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi.. Điều này
được thể hiện trong chùm truyện “lịch sử giả” gồm: Kiếm sắc, Vàng lửa,
Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương.
Quang Trung, Gia Long là những vị vua đứng đầu trong một nước
nhưng đồng thời cũng là một con người nên cũng mang những khuyết tật,
những chỗ không hoàn hảo của một con người. Vì thế, trước mặt quan thần và
dân chúng, lúc Quang Trung, Gia Long là những vị vua có phẩm chất cao
82
quý, nhưng cũng có những đam mê, dục vọng thường tình, những nỗi khác
khoải số phận và những tình cảm ghét, yêu, tức giận thông thường.
Trong truyện Phẩm tiết, người ta nhìn thấy vua Quang Trung ngoài là
một anh hùng áo vải cờ đào cũng có lúc là những con người bình thường.
Quang Trung cũng có lúc giận, mắng kẻ dưới, văng những lời “thô lỗ, cục
cằn” trong cơn tức giận. Đó là sau khi tiến quân ra bắc tiêu diệt Mãn Thanh,
Quang Trung cho mở tiệc mời cơm các nhà danh giá thế phiệt trong thành.
Ngô Khải là bậc đại phú trong thành nên cũng được mời dự tiệc. Khi vua,
Quang Trung hỏi về thức ăn, Khải trả lời rằng: “Ngon thì ngon, nhưng chưa
biết nấu, hơi ghê ghê, có vị lợm”. Phẩm vật Khải đem đến dâng vua lại toàn
là vàng bạc giả, vải bị cắt ra từng mảnh vụn nhỏ. Điều đó làm cho vua Quang
Trung rất giận: “Thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quá chừng. Trời
cho mày sống, cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ, ăn miếng ngon không
biết đậy mồm, còn chê lợm”. Nhà vua xúc động trước sắc đẹp, “thấy Vinh
Hoa, thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay” và cho
rằng: “được Vinh Hoa như được báu vật, một Vinh Hoa bằng ba vạn người”.
Nhà vua xót thương, hối hận trước cái chết của Ngô Khải nên “ đang đêm
xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo cho Vinh Hoa việc Khải
mất”. Ở đây Nguyễn Huy Thiệp đã miêu tả Quang Trung là một con người
chân thật giữa đời thường, dù là vua nhưng cũng không phải là thánh sống. Ở
mọi hoàn cảnh, Quang Trung cũng sống, cũng hành động như một con người:
có yêu, có mê, có giận. Và tất cả điều đó đều rất chân thật, chứ không ngụy
trang, giả tạo. Nhà thơ Tago của Ấn Độ đã viết:
“Trước tình yêu vua cũng như dân
Muốn có tình yêu phải mang đời trả giá.”
Trong Hoàng Lê nhất thống chí, nếu xét cho kỹ, tác giả Ngô gia văn
phái cũng miêu tả Nguyễn Huệ (Bình) với những ngôn ngữ hết sức bình dị,
83
dân dã. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh nói với Quang Trung ý muốn kết tình thông
gia của vua Lê, ông đã từng đùa rằng: “Xưa nay những kẻ chinh phu xa nhà,
tình khuê phòng là rất cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chỗ ấy kia à!”
Thậm chí, vua Quang Trung còn có nói: “Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà
về, bọn trẻ nó cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa
biết con gái Bắc Hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không”. Đó là
thứ ngôn ngữ bình dị, chân thực, không phải là thứ ngôn ngữ kiểu cách, cầu
kỳ. Nó rất gần với ngôn ngữ của Quang Trung trong Phẩm tiết.
Nguyễn Ánh trong truyện Kiếm sắc, Phẩm tiết, Vàng lửa là một vị vua
có đầy quyền lực, “đa mưu túc kế, tính kiên trì, không tin ai, dùng người chỉ
lấy chữ “hiệp”, chữ “lễ” làm trọng, không coi “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “trí”,
“tín” ra gì” (Kiếm sắc), thản nhiên chém chết hầu cận thân tín lâu năm vì
không hoàn thành nhiệm vụ mà Ánh đưa ra, “luôn lo sợ bởi quyền lực nắm
trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người”. Ông hiểu rõ chỗ nào ông đi
qua là cận thần cho “thả thú ra”. Ông nhận ra “vinh quang nào chẳng xây
trên điếm nhục”. “Ông hiểu bản chất đời sống cộng sinh”. Nhưng đồng thời,
Nguyễn Ánh cũng có những hành động như những con người bình thường.
Ánh nghiến răng căm giận, hí hửng khi kẻ thù thất thế. Đó là khi Nguyễn Huệ
chết, con trai là Nguyễn Văn Toản lên ngôi, Tây Sơn chia năm bè bảy mối.
Ánh mừng lắm sai mở tiệc mừng, Lân đứng ra can: “Chúa công đừng làm
thế, dân chúng nhìn vào không cho ta là người đại lượng”. Ánh bảo: “Huệ
coi ta là quốc thù, hịch truyền khắp nơi lời lẽ bẩn thiểu lắm. Ta với Huệ
không đội trời chung. Nó chết ta cười cũng không được ư?. Ánh nghe Lân
nhưng nghiến răng nói: “Khi nào ta thành nghiệp lớn, ta phanh thây nó, ta
chôn ba họ nó” (Kiếm sắc). Lúc tức giận, cũng mắng kẻ hầu cận những câu
như: “Thằng mặt xanh kia! Kề miệng lỗ còn dê ư? Ta cho cắt dái mày! Ta
cho mày ăn cứt” (Phẩm tiết). Đôi khi Ánh cũng mong ước “ta chỉ thích như
84
người thường thôi”. Cũng có lúc trăn trở: “Ta chỉ vỏn vẹn có ba thước đất
chôn thâyi”. Khi gặp và “thấy Vinh Hoa đẹp quá”, dù là một vị vua nhưng
tình cảm thường tình của con người bộc lộ, nên Nguyễn Ánh “bỗng say sẫm
mặt mày nhà vua thở dài ngã quay ra đất, ngất liệm đi” (Phẩm tiết). Vì vậy,
khi đang ngồi nghe Vinh Hoa đàn, nhưng Lân khuyên đi ngủ sớm. Ánh nghe
theo nhưng thở dài, tiếc rẻ “Ta đi mà cứ văng vẳng tiếng hát ca nữ bên tai,
tiếng gió thổi, tiếng gươm dao không át được” (Kiếm sắc). Nhà vua bảo Vinh
Hoa: “Ta muốn sở hữu nàng như nuôi con gà, con vịt trong nhà” (Phẩm tiết).
Ở đây, Nguyễn Huy Thiệp đã miêu tả vua Gia Long là một vị quân vương
đứng trên đỉnh cao quyền lực, đẩy con người vào cuộc binh đao nhân danh
Trời, đồng thời cũng là người đàn ông muốn sở hữu Vinh Hoa như nuôi gà,
nuôi vịt. Cái sứ mạng giữ nước là ở tinh thần, còn ở phương diện trần thế,
nhân sinh lại bộc lộ như một dục vọng bị tước hết mọi thuộc tính nhân bản.
Nhà văn đã để cho vua Gia Long bộc lộ một cảm xúc rất thật: “Sứ mệnh đế
vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền
đê tiện” (Phẩm tiết). Nhà vua cũng mê ăn món gân hổ, khi đang tiếp chuyện
với Phăng, v.v…
Trong lịch sử, Hoàng Hoa Thám (hay còn gọi là Đề Thám) là một anh
hùng nổi tiếng lẫy lừng trong đánh Pháp nhưng ở truyện Mưa Nhã Nam,
Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng là một con người trong đời sống bình
thường. Ông cũng thích gặp gỡ bạn bè, nói chuyện gia đình, con cái, và ông
lại rất thích uống rượu với lòng lợn chấm mắm tôm chanh, kèm với rau húng.
Cách viết, cách nhìn của Nguyễn Huy Thiệp về con người có lúc chịu
sự phê phán gay gắt từ dư luận. Nhưng phải nhận thấy rằng, xây dựng thành
công kiểu người lưỡng diện, Nguyễn Huy Thiệp đã chạm được đến chỗ trung
thực nhất trong bản chất con người, đã khám phá được con người ở chiều sâu
nhân bản nhất. Nguyễn Huy Thiệp vừa nói lên được con người xã hội vừa nói
85
được con người nhân tính. “Nguyễn Huy Thiệp có một thế giới nhân vật độc
đáo. Toàn những con người góc cạnh gân guốc. Người nào dường như cũng
sống đến tận cùng cá tính của mình…Ở Nguyễn Huy Thiệp, những nhân vật
hơi bụi một chút, thường có cả hai mặt thiện và ác, đúng ra là chứa đựng cả
thú tính lẫn nhân tính, một mặt đầy bản năng thô bỉ, mặt khác, từ một góc độ
nào đó của tâm hồn, thỉnh thoảng vẫn lóe lên ánh sáng của lương tri, lương
tâm” [39, tr.459].
Khi viết về con người “Nguyễn Huy Thiệp đã xé toạc cái khách sáo
của con người ở chốn đông đúc ấy để viết về cái lõi tâm lý, cái tâm lý thật, cái
tôi của con người. Từ cái cao cả đến cái thấp hèn, từ phù du ảo huyền đến
thông tục. Đó là những ao ước khát khao, những toan tính mưu mô, kể cả
những ham muốn bản năng” [39, tr.132], nhưng đó còn là những con người
còn có nhân phẩm, lương tri trong cuộc đời.
Nguyễn Huy Thiệp có một giọng văn rất lạnh lùng nhưng ẩn dấu phía
sau nó lại là một lòng nhân ái sâu xa, trìu mến đối với con người. Những trăn
trở của nhà văn về con người, những suy tư của ông về thiện và ác, sáng và
tối, cao thượng và thấp hèn, quỷ và người.., bên trong mỗi con người khiến
chúng ta có thể kết luận rằng Nguyễn Huy Thiệp đã viết những truyện ngắn
giản dị và trung thực về con người, đúng với tinh thần đổi mới văn học lúc
bấy giờ.
86
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP.
Trong văn học, sự thụ cảm cuộc sống bằng tư duy nghệ thuật đã làm
nên hình tượng nghệ thuật sống động, thuyết phục người đọc. Tài năng nghệ
thuật chân chính là người lôi cuốn độc giả vào thế giới nghệ thuật của riêng
mình. Từ đó tạo nên những nhận thức mới, suy nghĩ mới, nói như nhà nghiên
cứu Đặng Anh Đào là “xáo trộn độc giả” [8, tr.78]. Để có sự thành công đó,
nhà văn phải là người thực sự tạo nên sức hấp dẫn trên hai bình diện của tư
duy nghệ thuật đó là nội dung và hình thức. Vì vậy, tìm hiểu sự đổi mới quan
niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Huy Thiệp, song hành với việc tìm
hiểu sự cảm thụ, nhận thức, lý giải của nhà văn về con người ở các bình diện
như đã trình bày ở chương hai là việc khảo sát các biện pháp nghệ thuật mà
nhà văn đã sử dụng để phục vụ cho mục đích nghệ thuật của mình. Trong
truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ
thuật về con người bằng một số biện pháp nghệ thuật sau.
3.1. Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Không gian và thời gian là một phạm trù triết học chỉ sự tồn tại của thế
giới vật chất. Không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian. Tác phẩm là
một thế giới nghệ thuật. Thế giới đó có con người tồn tại trong một khoảng
không gian và thời gian đặc biệt. Không gian và thời gian trong tác phẩm là
không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Nó không chỉ là không gian và
thời gian vật chất mà là một phương thức biểu hiện thế giới tinh thần, hiện
thực đời sống thông qua tác phẩm văn chương. Nguyễn Huy Thiệp đã sử
dụng không gian, thời gian để thể hiện quan điểm nghệ thuật về con người.
87
3.1.1 Không gian, thời gian hướng vào đời sống cá nhân
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, không gian, thời gian
hướng vào đời sống cá nhân, đa dạng nhiều màu sắc. Nó là không gian, những
tâm trạng của con người, gắn với những tình, những cảnh mà con người đang
sống, đang trải nghiệm.
Đọc Con gái thuỷ thần cũng như nhiều truyện khác của Nguyễn Huy
Thiệp như Giọt máu, Chảy đi sông ơi…chúng ta nhận thấy điểm chung giữa
các tác phẩm chính là bối cảnh được miêu tả trong đó mang đậm vẻ hoang sơ,
tù đọng. Đó là cuộc sống quanh quẩn, “sáng đi cày, chiều đào đá ong, tối lột
giang đang mũ”, cứ thế cho đến hết đời. Hơi thở cuộc sống ở đấy lạnh lẽo và
nặng nề. Nó dễ dàng nuôi dưỡng định kiến bằng những “lời đồn đại”, thêu
dệt những câu chuyện huyễn hoặc. Lời đồn vừa là chiếc nôi nuôi lớn và lưu
giữ những câu chuyện dân gian, là nơi huyền thoại bắt đầu. Cũng nhờ lời đồn
mà nhân vật Chương đã có câu chuyện về Mẹ Cả - câu chuyện về một nhân
vật huyền thoại. Không gian trong truyện Con gái Thủy Thần: “Không khí u
uất, tù đọng làng quê làm tôi tê tái cảm giác chua xót. Mọi người rối rít,
cuống cuồng để kiếm miếng ăn. Những định kiến, tập tục thật nặng nề. Tôi đã
thấy tinh thần gia trưởng hủy hoại bao nhiêu số phận con người. Tôi cũng
thấy những ngộ nhận giới tính và đạo đức giết chết vẻ diễm lệ trên khuôn mặt
thiếu nữ. Rất ít thanh niên, ngoài đồng chỉ có các ông bà già, phụ nữ và trẻ
em thất học làm việc”. Cho nên Chương, không thích làm việc trong nhà mà
thích ở ngoài đồng: “Tôi hay nhận những việc ngoài đồng: cấy, gặt, gieo mạ,
bón phân. Tôi không thích nhận việc trong nhà. Ở ngoài đồng không khí
thoáng đãng hơn, trên đầu tôi là bầu trời tự do. Tôi không vướng mối liên hệ
nào đấy đối với con người”.
Không gian còn là niềm tự hào, gắn kết của con người. Ở đoạn văn mở
đầu truyện ngắn Thương nhớ đồng quê, tác giả viết: “Tôi là Nhâm. Tôi sinh
88
ra ở làng quê, lớn lên ở làng quê. Đi trên đường Năm nhìn về làng tôi chỉ
thấy một vệt xanh nhô trên đồng vàng. Xa mờ là vòng cung Đông Sơn, trông
từ làng tôi đến đấy phải năm mươi cây số. Làng tôi gần biển, mùa hè vẫn có
gió thổi về”.
Hay “Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu trong lòng tôi
Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng
Đứng nên ni đồng mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng bát ngát mênh mông
Tôi làm sao quên được nơi mẹ tôi sinh ra”.
Đó không chỉ là lời giới thiệu đầy xúc cảm và tự hào về bản thân của,
người đọc còn hình dung được sợi dây gắn bó máu thịt của nhân vật với nơi
chôn nhau cắt rốn xiết bao thân thương của mình.
Không gian hướng vào đời sống cá nhân, thời gian được đo bằng
khoảnh khắc của đời người đang sống. Nhưng những khoảnh khắc đang sống
gắn với hoàn cảnh chung của xã hội. Biệt thự của Thuần (Tướng về hưu) được
tác giả miêu tả gắn với sở thích, thói quen sinh hoạt của cá nhân: “Ngôi nhà
tôi ở ven nội, xây dựng trước khi cha tôi về hưu tám năm. Đấy là một biệt thự
đẹp nhưng khá bất tiện. Tôi đã xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia
kiến trúc trứ danh bạn của cha tôi, ông này đại tá chỉ thạo việc xây dựng
doanh trại”.
Trong truyện Mưa Nhã Nam, Đề Thám thích cưỡi ngựa một mình lang
thang trong rừng nên ông đã quan sát rất kĩ không gian, cảnh vật nơi đây:“đây
là thiên nhiên cành cây xòa trước mặt, tiếng chim hót, những giọt nước mưa
đọng lại trên cây, mùi lá mục ẩm ướt, nhưng con chim xanh, con chim đỏ, con
chim vàng, những cánh mối ướt rụi, những con bọ nhảy, tiếng vượn kêu não
nùng, bông hoa bé xúi. Tất cả hương vị màu sắc của thiên nhiên đều chân
thực, thanh khiết, đều khiến ta cảm động đến tận đáy sâu tâm hồn”. Không
89
gian đó đã làm ông nghĩ về những ngày đã qua “về tuổi ấu thơ đắng cay khổ
nhục, những ngày ông phải đi tận Tiên Lữ”, “nghĩ về sự sống hoặc cái chết”,
ước mong trở lại “hai mươi năm trước”.
Không gian dòng sông – con thuyền tượng trưng cho số phận người
phụ nữ giữa sông nước cuộc đời. Dòng sông con thuyền còn trở lại với số
phận buồn đau, cô đơn của Thắm trong Chảy đi sông ơi. Cả cuộc đời cô gắn
với con thuyền, khi chết đi cũng trên sông nước không ai biết đến. Người phụ
nữ tên Hương trong Chút thoáng Xuân Hương (truyện thứ ba) phải tự mình đi
mua và vác những bao ngô nặng nhọc đưa xuống thuyền về cho trại lợn. Công
việc đó cứ diễn ra hàng ngày trên sông. Chồng chị một người đàn ông không
biết thương vợ, chỉ biết cờ bạc, nghiện ngập, “theo đuổi những người đàn bà
không bằng cái gấu quần của chị”. Truyện Sang sông là hình ảnh cô lái đò.
Vì tính chất công việc, hàng ngày đưa khách sang sông, cô gặp rất nhiều hạng
người khác nhau: có người tốt, có kẻ xấu, có thầy tu, cũng có tướng cướp. Cô
cũng gặp bao nhiêu nguy hiểm, có những nguy hiểm không biết trước được
như hai tên buôn đồ cổ dí dao vào cháu bé mà lúc đầu không ai ngờ tới.
Không gian huyền thoại cũng là một kiểu không gian đặc trưng cho
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trong việc thể nghiệm nhân tính, cá
tính… Con người trong tác phẩm của nhà văn bộc lộ nhiều góc khuất mà
trong không gian sống thường nhật khó có thể nhận ra. Bản Hua Tát nơi
người Thái đen sinh sống nằm ở Tây bắc Việt Nam trong một thung lũng hẻo
lánh, bốn bề bao bọc bởi núi non và quanh năm chìm đắm trong sương mù
dày đặt, bởi thế toàn bộ không gian ở đây dường như huyền bí và thấm đẫm
các truyền thuyết. “Ở Hua Tát, những truyện cổ giống như những bông hoa
dại màu vàng nhạt, bé như khuy áo, điểm đâu đó quanh hàng rào các ngõ.
Đàn ông ngậm hoa này uống rượu trong miệng không bao giờ say. Nó cũng
giống như những viên cuội trắng có gân trong đỏ, mảnh như sợi chỉ nằm kín
90
đáo trong dòng suối. Phụ nữ thích nhặt những viên sỏi này. Họ nhặt về ủ
trong áo lót đủ một trăm ngày. Khi làm đệm cho chồng, họ giấu viên sỏi vào
trong. Có lời nguyền cho rằng người chồng nằm trên nệm ấy sẽ không bao
giờ mơ tưởng đến phụ nữ khác”.
3.1.2. Không gian, thời gian gắn với thế giới tinh thần của mỗi con người
Con người nhỏ bé giữa rộng lớn không gian, đó là không gian xa lạ. Ở
đó, con người không còn cảm thấy an nhiên tự tại, hoà mình vào vũ trụ theo
kiểu Thiên - Nhân hợp nhất nữa mà là sự nhỏ bé trước sự hùng vĩ, vô biên của
tạo hoá. Con người trong không gian xa lạ ấy mới cảm thấy hết được sự hữu
hạn của cuộc sống, sự cô đơn của kiếp người.
Trong truyện Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng không gian
núi rừng hiểm trở trong cuộc đi săn đã làm cho ông Diểu hiểu ra sự hiểm
nguy của cuộc sống và sự mỏng manh của kiếp người. Một mình trong rừng
sâu núi thẳm, cũng là cơ hội để ông đối diện với chính mình, với vực thẳm tội
ác trong tâm hồn mình, nó cũng hiểm ác chẳng kém gì vực sâu trước mặt ông:
“từ dưới sâu hun hút… sương mù dâng lên cuồn cuộn trông vừa kinh dị, vừa
đầy tử khí. Sương mù len vào từng chân bụi cây và xóa rất nhanh cảnh
vật…Ông chợt nhớ đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực là
cánh thợ săn đặt tên là Hõm chết. Ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào
cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng”. Rồi trong khoảnh
khắc, ông suy nghĩ: “Ta có mê không?...Tất cả như trong mộng mị”. Ông
chợt nhận ra rằng, mọi ham muốn, dục vọng, những nhỏ nhen, ích kỷ đều vô
nghĩa trước cuộc sống chông chênh, hữu hạn này. Ông tự tay băng bó lại cho
con khỉ mà chính ông vừa bắn rồi thả về rừng cũng là giải thoát cho tâm hồn
đang trĩu nặng bởi những toan tính tội lỗi. Thiên nhiên chợt trở nên hiền hoà,
“mưa xuân dịu dàng trên cánh đồng”, và “ông cứ trần truồng như thế, cô
91
đơn như thế mà đi”. Như vậy, không gian có tác động sâu sắc đến tâm trạng
của con người và con người cũng tạo nên sự thay đổi cảm nhận về không
gian.
Truyện ngắn Những người thợ xẻ cũng đặt nhân vật trong không gian
thiên nhiên rộng lớn, hiểm trở để mở ra sự suy nghiệm về thân phận con
người: “Những dãy núi đá vôi trập trùng cao ngất. Chúng tôi đi men ở dưới
chân núi, vừa bé nhỏ, vừa cô đơn, lại liều lĩnh, mà bất lực, thậm chí vô nghĩa.
Bạt ngàn là hoa ban trắng, màu trắng đến là khắc khoải, nao lòng. Này hoa
ban, một nghìn năm trước thì mày có trắng thế không?”... Và ở gần kết thúc
truyện: “Chúng tôi cứ đi trên cái cầu vồng bảy sắc. Bạt ngàn là hoa ban
trắng trên đường, màu trắng đến là khắc khoải, nao lòng. Này hoa ban, một
nghìn năm sau thì mày có trắng thế không?”
Bên cạnh đó, không gian xa lạ, mới mẻ cũng gợi nhiều suy ngẫm.
Trong Những bài học nông thôn, việc Hiếu về quê mẹ nghỉ hè được thể hiện
như một cuộc dấn thân, kiếm tìm cảm giác lạ, giữa những người lạ. Và anh đã
học được rất nhiều những bài học giản dị từ cuộc sống về tình yêu thương,
mở ra những chặng đường nhận thức mới trong tâm hồn chàng trai trẻ trên
con đường thể nghiệm bản thân: “Tôi cứ đi mãi. Tôi băng qua cánh đồng, qua
dòng sông. Mặt trời bao giờ cũng ở phía trước mặt tôi…”
Không gian luân chuyển là không gian kiểu người xê dịch. Trên hành
trình kiếm tìm chân lý, con người phải trải qua nhiều kiểu không gian khác
nhau, nhiều vùng đất khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau buộc họ phải lựa
chọn và hành động. Không gian luân chuyển chính là môi trường thích hợp để
con người tìm kiếm chính mình. Truyện ngắn Con gái thuỷ thần của Nguyễn
Huy Thiệp với kiểu không gian luân chuyển này, đã đẩy nhân vật vào các
cuộc thử thách, lựa chọn và hành động. Nhân vật thường xuyên ở trong trạng
thái ra đi: “Tôi đi, tôi cứ đi, đi mãi… Tôi đi, tôi đang đi, tôi vùng bỏ đi như
92
chạy…”. Những cuộc ra đi nối tiếp nhau thể hiện sự bất an trong tâm hồn và
sự khao khát kiếm tìm một điều gì như kiếm tìm chính bản thân mình.
Hình ảnh con sông chảy về biển cứ trở đi trở lại trong sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp chính là dòng sông lặng lẽ suy tưởng của nhà văn, là nỗi
khao khát cồn cào muốn tận hưởng cuộc sống, muốn đo được đáy sâu của
thời gian.
Trong Chảy đi sông ơi dòng sông trong sự cảm nhận của nhân vật
“tôi”, thật hiền hòa, êm dịu, đầy cảm xúc, ngân nga, có sức lay động lòng
người: “Chiều xuống tiếng chuông nhà thờ ở giữa bến Cốc lan trên mặt sông
mang mang vô tận. Con sông tựa như giật mình phút chốc sau đó lặng im
trôi, giống như một người hiểu biết tất cả nhưng đang mải mê suy nghĩ, chẳng
cần mà cũng chẳng thèm biết xung quanh đang chộn rộn những gì”.
Dòng sông là một trong những biều tượng quan trọng làm nên sức hấp
dẫn của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và cũng chính là dòng chảy sâu kín
của ngôn ngữ biểu tượng. Không gian dòng sông còn mang trong đó sức
mạnh cứu sinh và tôn vinh vẻ đẹp của con người. Đó là chị Thắm (Chảy đi
sông ơi), Mẹ Cả (Con gái thuỷ thần).
Như vậy, ý thức về không gian và thời gian của con người trong truyện
ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rất đa dạng. Không gian, thời gian hướng vào
đời sống cá nhân, hướng vào thế giới tinh thần của mỗi nhân vật.
3.2 Cảm hứng huyền thoại
Sự thâm nhập của huyền thoại vào truyện ngắn Việt Nam từ 1986 là
một hiện tượng lạ, nhất là thời kỳ Đổi mới. Chúng ta chứng kiến sự tái xuất
đầy ấn tượng của huyền thoại trong đời sống văn học nghệ thuật: âm nhạc,
điện ảnh, văn học… Đặc biệt, huyền thoại trở thành một tố chất thể loại vừa
mới mẻ vừa mạnh mẽ trong truyện ngắn giai đoạn này. Đi sâu vào đời sống
93
thể loại, chúng ta sẽ thấy: huyền thoại không phải chỉ trở lại ở một vài hiện
tượng riêng lẻ, ngược lại, những sáng tác huyền thoại đã hình thành một dòng
truyện ngắn: truyện ngắn - huyền thoại. Huyền thoại thực sự đã tạo nên những
hình thể truyện ngắn mới ở Việt Nam. Nhiều cây bút truyện ngắn đương đại
thể hiện yếu tố huyền thoại trong sáng tác như Nguyễn Huy Thiệp, Hòa Vang,
Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo.
Có thể nói một bộ phận không nhỏ các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
mang “cảm hứng huyền thoại mạnh” [39, tr.288]. Theo lời của tác giả Văn
Tâm “Sương mù huyền thoại bao phủ hầu hết trang sách Nguyễn Huy Thiệp,
không những bao phủ dài đặc trong hai truyện huyền thoại (Con gái thuỷ
thần”) và cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát) mà còn bập bềnh mờ mịch giữa
khá nhiều truyện lịch sử (Kiếm sắc, Phẩm tiết) và thế sự (Chảy đi sông ơi)”
[39, tr. 288].
3.2.1 .Yếu tố huyền thoại bao trùm xung quanh nhân vật
Rất nhiều người cho rằng, sương mù huyền thoại bao phủ hầu hết
những trang sách Nguyễn Huy Thiệp, nó hỗ trợ độc giả đọc ra một số tín hiệu
thuộc miền tinh thần tiềm ẩn, siêu thức sâu thẳm. Thật vậy, Nguyễn Huy
Thiệp có tài tạo không khí huyền ảo từ những cái rất thực tế, rất trần trụi,
người đọc luôn trôi trong cảm giác vừa thực vừa hư. Tính hấp dẫn được tăng
lên rất nhiều nhờ được chìm đắm trong không khí đó. Nhiều truyện rất hiện
thực và hiện đại, nhưng nhà văn đã phết lên cho nó màu sơn huyền thoại
nhằm gây hứng thú và tạo cảm giác kiếm tìm, trở về. Trong hầu hết các
truyện, Nguyễn Huy Thiệp đều sử dụng yếu tố huyền thoại như là một thủ
pháp “lạ hóa” tác phẩm một cách cần thiết để thoát khỏi “chất hiện thực” vốn
dễ gây sự nhàm chán nơi người đọc.
94
Nguyễn Huy Thiệp sử dụng yếu tố huyền thoại khi viết về những
nhân vật lịch sử, nhân vật cổ tích, nhân vật đời thường.
Huyền thoại Nguyễn Huy Thiệp luôn là con đường đi về phía sâu thẳm
tâm hồn con người. Ở đó có thể con người sẽ gặp lại chính mình. Khai thác,
sử dụng yếu tố huyền thoại, nhà văn đã làm cho tác phẩm của mình mang
màu sắc huyền hoặc xa xăm. Trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật
là những người chung quanh ta: thiếu phụ lái đò ở bến tầm xuân, cô gái dở
hơi, tên tướng cướp, lão đồ tể, ông tướng. Mỗi người có mỗi nghề khác nhau.
Đời thường như huyền hoặc, các nhân vật có tâm hồn trong sáng, nguyên sơ
lẫn những khôn ngoan chính từ những khốn nhục của cuộc đời.
Huyền thoaị thường mang tính lạc quan, tin ở con người nhân ái, nhân
bản tự tại, không cần đến lí trí, lí luận. Điều này dường như chỉ đúng trong
văn học dân gian, còn đối với Nguyễn Huy thiệp không phải như vậy. Huyền
thoại Chị Thắm (Chảy đi sông ơi) là tiếng hát của thuở nào tê tái: “Chảy đi
sông ơi, Băn khoăn làm gì? Rồi sông đã hết, Anh hùng còn chi?...Con trâu
đen, con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay đâu rồi?”. Không khí huyền
thoại trong Con gái thuỷ thần được mở ra ngay từ đầu tác phẩm, qua hình ảnh
dòng sông với trận bão ở bãi Nổi trên sông Cái: “Chắc nhiều người còn nhớ
trận bão mùa hè năm 1956. Trận bão ấy, ở bãi nổi trên sông Cái, sét đánh cụt
ngọn cây muỗm đại thụ. Không biết ai nói trông thấy có đôi giao long quấn
chặt lấy nhau vẫy vùng làm đục cả một khúc sông. Tạnh mưa, dưới gống cây
muỗm, có một đứa bé mới sinh đang nằm. Đứa bé ấy là con thuỷ thần để lại.
Dân trong vùng gọi đứa bé ấy là Mẹ Cả. Ai nuôi Mẹ Cả tôi không biết, nghe
phong phanh trong từ đền Tía đón về nuôi. Lại đồn thím Mòng trên phố chợ
đón về nuôi. Lại đồn các sơ trong nhà tu kín đón về, đặt tên thánh cho Mẹ Cả
là Giana Đoàn Thị Phượng”. Đó là cuộc hành trình tìm kiếm vô vọng đến
kiệt cùng sức lực của Chương: “Con gái thủy thần. Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ
95
nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi…”. Điệp khúc
đau buồn ấy là niềm tin bị đổ vỡ. Từ cuộc đời của Chương, Nguyễn Huy thiệp
muốn con người hiểu rằng mỗi con người sống trong cuộc đời luôn theo đuổi
những điều phù du, ảo vọng. Ảo vọng chỉ là ảo vọng, trong cuộc đời thực con
người trải qua biết bao nhiêu điều khốn khó, bất trắc. Thế giới ấy không được
nhìn nhận đơn giản như trước nữa mà người ta phải nhìn vào nó bằng tất cả
những nỗi niềm âu lo, trăn trở.
Những ngọn gió Hua Tát với tít phụ “Mười câu chuyện về cuộc sống
của một bản nhỏ” cũng mang những yếu tố huyền thoại. Như chính tác giả đã
nói trong phần dẫn truyện, bản Hua Tát, nơi người Thái đen sinh sống nằm ở
Tây Bắc Việt Nam trong một thung lũng hẻo lánh, bốn bề bao bọc bởi núi non
và quanh năm chìm đắm trong sương mù dày đặc, bởi thế, toàn bộ không khí
ở đây dường như huyền bí và thấm đẫm các yếu tố huyền thoại. “Thung lũng
Hua Tát ít nắng. Ở đây quanh năm cứ lung bung một thứ sương mù bàng bạc
nên nhìn người chỉ thấy những nét nhòa nhòa đại thể mà thôi. Đây là thứ
không khí huyền thoại. Hua Tát là một bản nhỏ cô đơn. Người dân ở đây sống
giản dị, chất phác. Công việc nương rẫy nhọc nhằn, vất vả. Cả việc săn bắt
cũng thế. Tuy nhiên người dân ở đây lại rất rộng lòng mến khách. Đến Hua
Tát, khách sẽ được mời ngồi bên bếp lửa, uống sừng rượu cần với xeo thịt
rừng sấy khô”. Linh hồn người Tây Bắc ngày xưa thấp thoáng bay trong
truyện: “Những người sống trong truyện cổ không còn nữa. Ở Hua Tát, họ đã
biến thành đất bụi và tro than cả. Tuy vậy, linh hồn của họ vẫn thấp thoáng
bay trên các khua cút nhà sàn. Như những ngọn gió”. Đó là con Hổ, chàng
Khó trong Trái tim Hổ; là con Công trong Con thú lớn nhất; là nàng Bua, hũ
vàng trong Nàng Bua; là đức tính trung thực của chàng Hặc trong Tiệc xòe vui
nhất; là cô gái giữa cơn mưa trong Đất quên; là hòn đá nhỏ trong Nàng
Sinh…Tất cả, tất cả đã tạo nên một không khí lung linh huyền ảo, một màu
96
sắc lạ giữa những sắc màu hiện thực. Trong chùm truyện này kể về những con
người đặc biệt và những sự kiện không bình thường còn lưu lại trong kí ức
những người dân địa phương. Sự kiện lạ lùng, hiện tượng bất bình thường là
những yếu tố thú vị, tạo nên tính hấp dẫn của chùm truyện này. Đó là sự xuất
hiện của con hổ ở bìa rừng làm cả bản kinh hãi (Trái tim hổ), cuộc tấn công
của côn trùng màu đen lạ lùng vào rừng làm trụi sạch lá cây (Chiếc tù và bị
bỏ quên), là một trận dịch tả cướp đi gần hết sinh mạng trong bản (Nạn dịch).
Nhân vật nữ trong truyện Nàng Bua bất ngờ tìm thấy trong rừng một chiếc vò
cổ đựng đựng đầy tiền vàng, tiền bạc. Còn Sinh, cô bé mồ côi bé nhỏ nhưng
nhấc được hòn đá mà dân bản coi là linh thiêng trước đó không ai nhấc được.
Ông Pành đã tám mươi tuổi nhưng yêu say đắm và muốn cưới cô gái trẻ về
làm vợ, khi bắt gặp tình yêu bỗng dưng có sức mạnh phi thường: leo lên đỉnh
núi cao để đắn ngã cây cổ thụ. Rõ ràng huyền thoại trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp có nguồn gốc từ huyền thoại dân gian nhưng nó hoàn toàn
không phải là huyền thoại dân gian, mà là sự sáng tạo dựa trên cơ sở huyền
thoại dân gian.
Nguyễn Huy Thiệp sử dụng các yếu tố “nhại cổ tích”, “nhại lịch sử” là
một thủ pháp nghệ thuật nhằm phủ lên các mối quan hệ của đời sống một màn
sương, làm lung linh bức tranh nghệ thuật trong tác phẩm, tạo hứng thú cho
người đọc. “Cái màn sương huyền thoại ấy muốn thể hiện rằng, quan hệ giữa
con người với tự nhiên, với xã hội, với chính bản thân nó không dễ gì nắm
bắt. Thế giới con người với những quan hệ vật chất, về tinh thần thật huyền
diệu. Với quá khứ, nó bị lớp bụi thời gian che phủ. Với hiện tại, quan hệ đó
đan xen, khúc xạ với nhiều hình thái, nhiều dáng vẻ” [24, tr. 161].
“Huyền thoại có thể trần tục hóa những thần thánh danh nhân lịch sử,
gỡ bỏ vầng hào quang, giản đơn hóa những ngôi sao có khi đã được chiếu
sáng nhân tạo, đưa các ngài từ đỉnh cao xuống đồng bằng sống với người hai
97
bữa cơm chay gạo. Rồi phải đối phó với những nhức nhối, phải giải quyết
những nát lòng, tục lụy. Nơi không còn cho những chỗ đứng chân lí muôn
đời, khuôn mẫu duy lí, cái phải đi lên, đi thẳng” [39, tr. 370].
Nguyễn Huy Thiệp huyền thoại hóa một số nhân vật và đề tài lịch sử.
Huyền thoại cảm nhận lịch sử khác đi, đương đại hóa cái quá vãng hay được
đặc lên bệ thờ, đúc tượng khắp công viên. Trong truyện ngắn Kiếm sắc,
Nguyễn Huy Thiệp đem Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh ra khỏi sách sử.
Nhiều chi tiết nhuốm màu huyền hoặc như: Nguyễn Ánh đã sai đao phủ dùng
thanh kiếm gia truyền của Lân để chém đầu Lân “khi chém đầu, máu phun ra
không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”. Vua Gia Long vào
sâu trong đất Thuận Quảng, xuất quỷ nhập thần. Người Đàng Trong sợ ánh
hơn là thích Ánh. “Ánh đi đến đâu nghe nói cũng có mây đen cuồn cuồn bay
đằng trước, dân cứ thấy có mưa là biết Ánh đi qua”. Câu chuyện về Đặng
Phú Lân dùng đá ném vịt trời để nhử cá sấu, cứu sống, cứu thuyền chở
Nguyễn Ánh ra khỏi cơn nguy hiểm. Qua nhân vật Đặng Phú Lân, ông viết về
họ như được nghe dân dã nói về họ. Huyền thoại theo nghĩa đồn đại, ghi nhận
bởi tứ phương thiên hạ” [39, tr. 33]. “Phẩm tiết với hình tượng Vinh Hoa
hiện thân của cái đẹp tuyệt đối. “Khi đẻ ra Vinh Hoa, trên nóc nhà bỗng có
đám mây ngữ sắc bay đến, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, khắp nơi hương thơm
ngào ngạt. Trên cổ Vinh Hoa có tràng quấn cổ, xòe lòng bàn tay ra, thấy có
viên ngọc ở trong, trên khắc hai chữ “thiên mệnh”. Khải dựng tóc gáy, lập
bàn thờ tạ trời đất” [39, tr.373].
Cả vua Gia Long và Nguyễn Huệ đều muốn có được Vinh Hoa nhưng
không được. Ở đây phẩm tiết của nàng Vinh Hoa chỉ là huyền thoại. Nguyễn
Huy Thiệp là nhà văn thích khám phá những mặt giả tạo của con người để
con người bớt đạo đức giả, sống thật hơn như Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc
Ánh.
98
Dù gì đi nữa, đọng lại từ những trang văn thấm đẫm huyền thoại là một
tấm lòng tha thiết với đời, một trái tim luôn nóng hổi với con người. Tình yêu
cuộc sống, tình yêu đồng loại và khát khao những điều tốt đẹp cho con người
là tinh thần bao trùm lên tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp.
3.2.2. Xây dựng nhân vật theo hướng dị dạng
Nhân vật dị dạng không phải chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong văn học
sau năm 1975 mà nó đã xuất hiện trước đó ở phương Tây, tiêu biểu là tác
phẩm Hóa thân của Kapka, ra đời năm 1912.
Ở một số truyện của Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy xuất hiện một số nhân
vật không bình thường, bị biến dạng cơ thể hay một phần cơ thể. Đó là: cô gái
dở hơi – Lài trong Tướng về hưu, những con khỉ trong Muối của rừng, chú
em út suốt ngày bò lê và lau nhà trong Không có vua, lão già bại liệt trong
truyện Con gái thủy thần (“Lão già nhổm lên, tôi kinh hoàng thấy lão già
chẳng khác gì ma quỷ, râu tóc lởm chởm, đôi mắt đục ngàu. Tôi đoán lão già
bị liệt, hai chân teo lại. Lông chân trông như lông lợn. Tôi chào lão, ngạc
nhiên thấy lão anh minh lạ thường, nói năng rành rọt”), chàng Khó trong
Trái tim hổ, (“hai tay dài chấm đàu gối, hai chân khẳng khiu, lúc nào đi cũng
như chạy”). Bên cạnh những người bình thường họ bị coi là dị dạng. Nhưng
những nhân vật dị dạng này nhiều khi làm nên điểm sáng nhân hậu, trí tuệ anh
minh của tác phẩm. Hành động của con khỉ trong Muối của rừng làm cho ông
Diểu nhận ra hành động của mình thật vô nghĩa biết bao. Khi đi săn, ông bắn
bị thương con khỉ đực. Ông đang định mang con khỉ về nhà, thì đúng lúc đó
con khỉ cái trở lại – bất chấp mọi nguy hiểm để giải thoát cho con khỉ đực. Nó
“lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực rất nhanh
và khéo, cả hai cùng lăn tròn trên đất”, “hai con khỉ vừa chạy vừa dìu lấy
nhau”. Con khỉ con “túm lấy dây súng của ông kéo lê trên đất”, như thu hút
99
sự chú ý của ông để cho bố mẹ chúng trốn thoát. Nó bị lăn xuống vực, tiếng
rú thê thảm của nó làm cho ông kinh hoàng, bỏ chạy “như ma đuổi”. Khi
bình tâm lại, ông tiếp tục đuổi theo con khỉ đực lúc này đã bị thương nặng ở
vai. Nhưng những gì vừa xảy ra, cùng với ánh mắt “đờ dại nhìn ông cầu
khẩn. Ông bỗng thấy thương hại”. Như một hàng động vô thức, “ông Diểu vơ
lấy một nắm cỏ Lào vò nát. Ông cho vào miệng nhai kĩ. Ông đắp nắm lá vào
miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó”. Khi tránh
ánh mắt “ươn ướt” như biết ơn của con khỉ, cũng là lúc ông đối diện với tội
ác của chính mình, hối hận với việc làm mà mình đã gây ra cho con khỉ (“Thà
mày chống cự thì tốt cho tao”). Ông quyết định thả con khỉ về rừng với lời
tuyên bố: “Thôi tao phóng sinh cho mày” chính là một sự chuộc lỗi. Ông
Diểu dường như không còn gì, khẩu súng mất, trang phục không còn, ông cứ
mình trần thân trụi đi giữa thiên nhiên, giữa trời đất. Nhưng cái ông được lớn
nhất là đã giải phóng ra khỏi những xấu xa, tội lỗi. Hành động đi tìm và giết
hổ của chàng Khó (Trái tim hổ) làm cho mọi người không chỉ ngạc nhiên về
sự gan dạ mà còn hiểu được tình cảm chân thành mà Khó dành cho Pùa –
cũng là một người khuyết tật như chàng.
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn có những chi tiết rất kì
lạ. Nhân vật Đặng Phú Lân trong Kiếm sắc khi bị chém đầu, “máu phun ra
không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”. Ngón tay của Ngô
Thị Vinh Hoa trong Phẩm tiết, khi chạm vào mắt của Nguyễn Huệ, ngón tay
hiện lên một vết chàm.
Có ý kiến cho rằng, những nhân vật dị dạng trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp như là sự tái hiện hình ảnh tàn phế sau các cuộc chiến:
Cún trong truyện cùng tên, Trùm Thịnh trong Chảy đi sông ơi, một
Hoạt trong Mưa Nhã Nam... Tất cả những nhân vật ấy luôn gợi nhớ kí ức về
cuộc chiến như một chấn thương vĩ đại, sẽ không bao giờ liền miệng của cả
100
một dân tộc. Thậm chí, Ngọc, một nhân vật có cái tên rất đẹp, là một sinh
viên đại học, rất thư sinh, cũng phải mất đi một ngón chân, mà lại bằng dao
của ngững người “kéo cưa lừa xẻ”. Tính chất khốc liệt nằm ngay trong hình
ảnh chiếc búa nện xuống sống dao, và lưỡi dao bập xuống khiến ngón chân
hoại thư văng ra và Ngọc rú lên đau đớn.
Ở Nguyễn Huy Thiệp, “việc đẩy huyền thoại lên thành cảm hứng trùm
phủ giọng điệu văn chương đã mặc nhiên đưa tác giả vào tình thế lưỡng nan
của việc có trong tay một con dao hai lưỡi…Và cũng chính nó, đôi khi làm
tác giả “đứt tay” bởi sự quá đà, bởi cảm hứng huyền thoại nhiều phen bóp
méo nhân vật đến thành dị dạng” [59, tr.88-89].
3.3. Kết cấu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Mỗi nhà văn khi sáng tạo tác phẩm ngoài việc nhào nặn vốn sống để
tạo dựng nên những sinh mệnh nghệ thuật – tái hiện bức tranh đời sống khái
quát, còn phải lựa chọn cách kết cấu tác phẩm phù hợp. Nguyễn Huy Thiệp
cũng đã lựa chọn những cách kết cấu phù hợp với quan niệm nghệ thuật của
mình.
Cấu trúc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dường như còn rất ít bóng
dáng của cái kết cấu chặt chẽ, khuôn mẫu của truyện ngắn cổ điển. Nhà văn
Sêkhov nói: “Theo tôi, viết truyện ngắn cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và
kết luận” [39, tr.138]. Hoan Bô-sơ: “Truyện ngắn hay như là một thứ quả
nhiều vỏ, luôn luôn làm cho những đứa trẻ háu ăn bị nhỡ tàu” [39, tr.138].
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không có kết cấu như vậy, nó có kết cấu
như kết cấu của tiểu thuyết, nó lỏng lẻo như chính cái lỏng lẻo của cuộc sống.
Chúng phản ánh được cái không khí của thời hiện đại này: sôi nổi, nhiều
thông tin, đan xen nhau.
101
3.3.1. Kết cấu đan xen
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã đan lồng vào những trang viết về cuộc
sống những nhận xét, đánh giá, những suy ngẫm về cuộc đời để thấy rằng cuộc
sống con người không chỉ sinh động như tự nó vốn có, mà trong tác phẩm nó
muôn màu muôn sắc trong cách nhìn, cách cảm rất riêng của nhà văn. Trong
truyện Chảy đi sông ơi, nhân vật “tôi” khi “cắn chặt răng để khỏi òa khóc” và
ngẫm nghĩ: “Nước chảy rất xiết, tôi bỗng hiểu ra nước chảy bao giờ cũng xiết,
có điều phải cố mà bơi cho đến được bờ”. Trong Nạn dịch (Những ngọn gió
Hua Tát) có đoạn: “Người ta đổ ộc vào miệng những đứa trẻ con đang bú sữa
mẹ hàng bát những thứ nước ấy. Chúng khóc thét lên vì gan ruột cào xé. Có hề
gì, đằng nào thì sống ở đời gan ruột chẳng phải cào xé nhiều lần”.
Cùng với việc để cho nhân vật ngẫm nghĩ, rút ra những bài học cho bản
thân, tác giả đưa ra triết lí về cuộc sống, về đời tư thông qua số phận của nhân
vật. Chẳng hạn như: “Tôi bảo: “Chỉ có nỗi buồn là vĩnh cửu”. Cô Phượng
bảo: “Có thể... nhưng anh đừng khẳng định...” (Con gái thủy thần). Cha tôi
bảo: “Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình”. Tôi bảo:
“Không phải, cuộc đời nhiều trò đùa lắm”. Cha tôi bảo: “Anh cho là trò đùa
à?” Tôi bảo: “Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải là nghiêm trọng”.
“Cô Lài òa khóc: “Cháu xấu xí lắm. Lại cả tin nữa”. Cha tôi nghẹn ngào:
“Con ơi, con không hiểu rằng, cả tin chính là sức mạnh để sống hả con”
(Tướng về hưu). Còn chị Thục, một giáo viên cấp hai: “Nghĩa tình chuộc lại
nghĩa tình. Vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống giữa bùn, chẳng
sợ không xứng là người” (Những người thợ xẻ). Thầy giáo Triệu khi nói
chuyện với Hiếu: “Chú không chống nổi sự ngu dốt của bọn có học đâu. Tôi
đây này, tôi hiểu sâu sắc sự ngu dốt của bọn có học tai hại như thế nào, vừa
phản động, nó vừa nguy hiểm, lại vừa mất dạy”. Hay ở một đoạn khác: “Anh
Triệu cười: Chú có biết hoa này không?” Tôi lắc đầu. Anh Triệu bảo: “Hoa
102
này lạ lắm, (...) Nó có cái lạ là cứ để yên thì chẳng làm sao, nhưng hễ đụng đến
là thơm lựng lên. Người ta đặt tên là hoa cỏ đĩ. Y hệt đàn bà, để yên thì hạnh
kiểm phi thường, đụng vào tan nát như chơi, đầu tiên nát tiền, đến nát tâm hồn,
rồi tan gia đình, tan cơ nghiệp”. Tôi cười: “Anh có vợ chưa?” Anh Triệu bảo:
“Chưa. Vợ người thì đẹp. Vợ mình lại tử tế. Khốn thế!” (Những bài học nông
thôn). Chị Hiên – một cô gái có chồng và sống ở nông thôn nhưng có cũng bộc
lộ suy nghĩ trong cuộc sống: “Sao đàn bà cứ phải lấy chồng. Như tôi đây,
chồng đi xa, lấy chồng cũng như không. Hiếu bảo lấy chồng mà bỏ chồng có
tốt không?” Có lúc chị cũng triết lí: “Nứa trôi sông không dập cũng gãy. Gái
chê chồng không chứng nọ cũng tật kia…Thế là đàn bà không ra gì. Nhưng đàn
ông nhiều người cũng không ra gì. Lấy chồng phải anh nghèo, bất tài mà lại
cao thượng thì hãi lắm. Nó làm tan nát đời người đàn bà như bỡn”. Trong Trái
tim hổ (Những ngọn gió Hua Tát) có đoạn triết lí: “Tin đồn bao giờ cũng thế,
qua miệng những kẻ ngu dốt thì quái lạ thay, thường thú vị hơn qua miệng
những người từng trải”, “Đời người ta, ai đã chẳng từng săn đuổi bao nhiêu
điều phù du?”
3.3.2 Kết cấu mở
Truyện của Nguyễn Huy Thiệp thường có những kết thúc hay, những
kết thúc mang lại cho người đọc một tình cảm bâng khuâng kỳ lạ. Nếu trong
văn xuôi truyền thống, người đọc quen với những kết thúc khép kín, kết thúc
có hậu, giải quyết hoàn tất các vấn đề, nghĩa là ở đó câu chuyện không còn
mở ra hướng khác thì ở truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp điều này hoàn
toàn có thể xảy ra, không tuân thủ theo nguyên tắc kết cấu truyền thống. Ông
đã sáng tạo ra nhiều kiểu kết thúc không khép kín như: kết thúc bỏ lửng, kết
thúc với nhân vật chính tiếp tục ra đi, kết thúc mở ra nhiều kiểu khác nhau
103
trong việc giải quyết xung đột, kết thúc đảo ngược so với cổ tích và thực tế
lịch sử.
Cũng giống như một số nhà văn hiện thực khác của giai đoạn trước
năm 1945 như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Minh Châu…. Nguyễn Huy
Thiệp đã sử dụng kiểu kết thúc bỏ lửng, không có kết thúc rành mạch theo
những giải pháp dễ dãi. Ông đưa ra những giả định có thể như thế này, có thể
như thế kia, để người đọc suy nghĩ tìm ra lối kết thúc của riêng mình. Điều đó
thể hiện qua cá tác phẩm Không có vua, Con gái thủy thần, Sống dễ lắm,
Những người thợ xẻ, Chăn trâu cắt cỏ, Vàng lửa…
Trong truyện Không có vua, kết thúc tác phẩm là hình ảnh ngày
thường. Trong cuộc sống ngày thường với biết bao nhiêu điều xảy ra không ai
biết trước được. Cuộc sống ngày thường của gia đình lão Kiền với bao nỗi
cay đắng xót xa, với những bộ mặt lầm lì cau có, những câu chửi tục tĩu,
những toan tính không khi nào lệch ra khỏi vấn đề tiền bạc của anh em, cha
con trong nhà. Và rốt cuộc, cuộc sống của gia đình họ sẽ như thế nào? Đoài
có buông tha cho Sinh, có còn tán tỉnh, ý định đuổi anh để chiếm chị dâu hay
không? Cuộc đời Khảm, Khiêm và Tốn sẽ như thế nào? Không ai biết trước
được và người đọc băn khoăn với kiểu kết thúc bỏ lửng như vậy của tác
phẩm.
Trong truyện Những người thợ xẻ, kết thúc tác phẩm là câu nói của
Chương: “Sau lần ấy số phận đẩy tôi sang bước ngoặc khác, tôi không đi xẻ
gỗ nữa, chuyển sang làm việc khác”. Người đọc cũng không biết anh có tốt
nghiệp đại học không? Chương chuyển sang làm việc khác là việc gì? Và việc
đó có làm cho Chương không phải gặp những con người thô tục như Bường,
có vơi đi nỗi cô đơn trong con người anh?
Trong Chăn trâu cắt cỏ, kết thúc tác phẩm là điều day dứt trong lòng
của Năng. “Năng thấy lòng mình trống rỗng. Năng dắt trâu ra bãi cỏ ven đê
104
rồi nằm dài xuống vạt cỏ mềm…Nhìn lên trời cao, Năng không biết mình
đang ở đâu? Con trâu gặm cỏ bên cạnh, nhẫn nại bình thản. Nó đang nghĩ
gì? Nó đang ở đâu?”
Đoạn kết trong truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp tạo ra
khoảng trống. Người viết truyện với lí do không biết kết thúc như thế nào mặc
dù đã cố gắng “cất công đi tìm thư tịch cổ và hỏi han nhiều bô lão”, nhưng
đều vô nghĩa nên hiến bạn đọc ba đoạn kết của câu chuyện, “để bạn đọc tùy ý
lựa chọn”:
Đoạn một: Đoàn tìm vàng còn sót lại ba người trong đó có Phăng.
Phăng được cử trông coi việc khai thác này. Vua ban cho Phăng món chim
hầm bát bảo nấu rất công phu. Phăng đã chết khi ăn món đó.
Đoạn hai: Đoàn tìm vàng còn sót lại mỗi mình Phăng. Trở về kinh,
Phăng được vua ban thưởng rất hậu hĩnh. Phăng trở về Pháp mang theo một
người vợ An Nam, lập một ngân hàng và sống sung sướng đến già.
Đoạn ba: Tất cả đoàn tìm vàng đều bị lính triều đình giết chết. Mỏ vàng
sau được giao cho người trong hoàng tộc khai thác, quản lí.
Như vậy với ba đoạn kết thúc, độc giả không chỉ trở thành kẻ đồng
sáng tạo, tìm ra “đường đi nước bước” của nhân vật, mà còn có thể nhìn nhận
về nhân vật, sự kiện ở ba điểm khác nhau, tự giải mã các vấn đề. Trong đoạn
kết một, Phăng bị vua Gia Long đầu độc. Ở đây Phăng là một nhà tư tưởng.
Phăng ghi chép lại: “tất cả những cố gắng của con người hướng về điều thiện
đều là những cố gắng đau đớn, nhọc lòng. Điều thiện hiếm như vàng và sau
đó phải được vàng đảm bảo mới có giá trị thực” (Vàng lửa). Ở đoạn kết hai,
Phăng được vua thưởng hậu hĩnh. Phăng hiện lên là một tên thực dân đi ăn
cắp ở những nước thuộc địa. Đoạn kết ba, Phăng đã sai khi nghĩ rằng mình đã
hiểu về con người An Nam, nhất là vua Gia Long. Thực tế phủ phàng đã dội
105
vào Phăng một đòn chí mạng, tất cả đoàn đào vàng đều bị lính triều đình giết
chết bởi lệnh của vua Gia Long.
Kết thúc tác phẩm, Nguyễn Huy Thiệp có khuynh hướng không khép
kín mạch truyện, ngược lại còn chủ ý mở ra những miền đất bát ngát mơ hồ,
nhân vật chính tiếp tục ra đi (Con gái thủy thần, Chảy đi ông ơi). Con gái
thủy thần là truyện kết thúc không có hậu, hiểu theo nghĩa không có hạnh
phúc và không đóng kín câu chuyện lại. Nhân vật Chương đi tìm con gái thủy
thần nhưng không tìm được, cuộc đời Chương vẫn cứ mãi trôi theo dòng
sông, vẫn cứ đi để tìm con gái thủy thần. “Tôi cứ đi, đi mãi…Trước mặt tôi là
dòng sông thao thiết. Sông chảy ra biển, biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết
biển… Tôi chưa biết biển. Mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đấy. Chỉ vài năm nữa
đến năm hai ngàn”.
Trong truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng kết thúc đảo
ngược so với thực tế lịch sử. Cuộc đời, hình ảnh nhân vật Trương Chi khác
với hình ảnh Trương Chi trong văn học dân gian. Trương Chi trong truyện
của Nguyễn Huy Thiệp lúc nào cũng mang vẻ thách thức với cuộc đời, lúc
nào cũng văng tục “cứt”, theo đuổi những điều cao cả hơn tình yêu. Chàng
Trương Chi cổ tích với giọng hát du dương ngọt ngào, làm say đắm lòng
người. Chàng Trương Chi hiện đại chỉ hát toàn “ấy a” với lại “huầy dô” ca
ngợi công danh tiền bạc một cách thô bỉ. Cách kết thúc của hai câu chuyện
cũng trái ngược nhau. Trong câu chuyện cổ, khi kết thúc là câu hát:
“Kiếp này đã dở dang nhau
Thì xin kiếp khác duyên sau lại thành”
Trương Chi đã trầm mình xuống sông. Hồn chàng nhập vào thân cây
bạch đàn. Người ta lấy gỗ sây bạch đàn làm thành bộ chén dâng vua. Khi rót
nước, Mị Nương thấy hình ảnh Trương Chi trong chén. Giọt nước mắt nàng
lăn xuống, chén bạch đàn vỡ tan”. Ở đây, hai người dù không đến được với
106
nhau nhưng đã có sự đồng cảm. Nguyễn Huy Thiệp lại có kết thúc khác, hai
nhân vật không có mối đồng cảm với nhau. Ông viết: “Tôi - người viết truyện
ngắn này - căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy. Quả thực, cái kết
thúc ấy là tuyệt diệu và cảm động, trí tuệ dân gian đã nhọc lòng làm hết sức
mình. Còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đấy là bí mật của riêng tôi. Tôi biết
giây phút cuối đời Trương Chi cũng sẽ văng tục. Nhưng đấy không phải là lỗi
của chàng. Mị Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc. Điều ấy vừa
tàn nhẫn, vừa phi lí. Lẽ đời là thế”. Nguyễn Huy Thiệp muốn làm thay đổi
cách cảm thụ quen thuộc của người đọc để đưa đến có cách suy nghĩ khác hơn
vể số phận con người.
Trong những câu chuyện được bao phủ bởi một không khí cổ tích –
chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát cách kết thúc tác phẩm cũng rất hiện
đại. Những điểm mốc quan trọng của truyện, của cuộc đời các nhân vật được
gọi là “thời điểm may mắn”. Điều này khá giống với truyện cổ tích. Nhưng
trong truyện cổ tích, thời điểm may mắn luôn đến đúng vào lúc nhân vật bị bế
tắc và nó giúp nhân vật được đổi đời, truyện kết thúc có hậu. Nhưng
trong Những ngọn gió Hua Tát, chỉ có ba truyện có cách kết thúc có hậu. Đó
là Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ quên, Nàng Sinh. Còn lại đều có kết
cục bi thảm.
Trong các truyện Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ quên, Nàng Sinh
thường khởi đầu bằng một sự không bình thường nhưng kết thúc có hậu.
Trong Tiệc xòe vui nhất đó là mô típ thi kén rễ giữa một số người hy vọng lấy
được người đẹp Hà Thị E. Các đoạn mô tả về việc thực hiện lời thử thách của
những người cầu hôn gần giống truyện cổ tích. Hặc - chàng trai mồ côi, người
thợ săn xuất sắc nhất bản - là người trung thực, nên đã được Then giúp đỡ,
cho mưa xuống đúng như yêu cầu của thử thách của bô lão trong bản. Hặc
cưới được con gái trưởng bản. Cả bản mở tiệc vui mừng và say khướt. Trong
107
Nàng Sinh, Sinh là một cô gái thô kệch, dị dạng, mồ côi. Người trong bản
dường như ít ai để ý đến sự có mặt của cô. Nhưng khi cô nhấc được hòn đá
trong miếu, nàng trở nên xinh đẹp và có cuộc sống sung sướng. Trong truyện
Chiếc tù và bị bỏ quên, chiếc tù và cũng bình thường, thậm chí xấu xí, kêu
không được to. Nó bị mọi người bỏ trên gác xép. Nhưng trong lúc mọi người
trong bản dọn nhà đi vì không thể diệt được nạn dịch sâu đen, con trai trưởng
bản đã đem tù và ra thổi, những co sâu biến mất và họ trở lại cuộc sống bình
thường.
Trong tất cả các truyện còn lại, sự may mắn trở thành tai họa đối với
các nhân vật và thường dẫn đến cái chết. Chàng Khó trong Trái tim hổ giết
được con hổ nhưng chính anh cũng bỏ mạng. Anh bị rơi xuống vực sâu cùng
con hổ, bị gãy lưng, mặt mày bị trầy xước. Trái tim con vật đã bị kẻ nào đó
đánh cắp. Nàng Bua trong truyện cùng tên là một người đàn bà nghèo với
chín đứa con không cha. Khi đào được hủ vàng phút chốc, nàng trở nên giàu
có và được mọi người quý mến. Nàng lấy chồng. “Đáng lẽ ra, Bua sẽ sinh
với người chồng được thừa nhận của mình một đứa con nữa, đứa con thứ
mười, nhưng người đàn bà ấy không quen sinh nở trong sự đầy đủ và nề nếp
cổ truyền. Nàng đã chết khi trở dạ, đẻ giữa đống mền chăn ấm áp”. Người
thợ săn già trong Con thú lớn nhất nhầm lẫn vợ mình với con công mà ông
giết chết vợ. Ông đã tự sát, tự giết con thú lớn nhất trong cuộc đời. Lù trong
Nạn dịch đã dùng hết một tay nải bạc hoa xòe để cứu vợ nhưng cuối cùng cả
ông và vợ cùng chết. Lão thợ săn giỏi Hoàng Văn Nhâm là một thợ săn giỏi,
giết được con hổ mẹ, nhưng đứa con lão bị chết thảm thương dưới miệng con
hổ con. Từ đây, Nguyễn Huy Thiệp muốn nói với chúng ta rằng, kết thúc có
hậu chỉ có trong truyện cổ tích. Còn trong cuộc đời thực hiếm hoặc không có
chỗ cho nó. Như vậy, sử dụng yếu tố huyền thoại, nhà văn như muốn khẳng
định hơn tính hiện thực nghiệt ngã của cuộc đời. Ánh mắt lạc quan tin tưởng
108
của người xưa khi nhìn vào thế giới trong cổ tích giờ trở nên bi quan khi nhìn
vào cuộc đời thực tại. Cuộc đời thực tại còn quá nhiều điều bí ẩn, những điều
con người chưa thể biết trước, kể cả những điều bất trắc. Nó là một khả năng
có thể đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc nhưng cũng có khi là nỗi
khổ đau, niềm bất hạnh, thậm chí là những bi kịch.
Nguyễn Huy Thiệp “căm thù sâu sắc những kết thúc truyền thống”
(Trương Chi), hay chính xác hơn, ông căm thù tất cả những bức màn mà thói
đạo đức giả đã căng ra trước mắt con người, không cho họ nhìn thẳng vào sự
thật. Hiếm có nhà văn nào có giọng điệu rẻ rúng văn chương như ông. Nhưng
thật ra đó là sự tức giận cần thiết của người cầm bút có cái tâm. Chính vì vậy,
ông “sợ nhất những kẻ mơ mộng bất tài….bọn nho giả và bọn tập tọng làm
văn chương” cũng như “ông khinh những kẻ không dám sống thực, không
dám lặn sâu xuống đáy cuộc đời. Ông cũng khinh cả những kẻ lặn mình
xuống đáy rồi ngập ở đấy không ra được” (Thoáng chút Xuân Hương).
Như vậy, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng đa dạng các hình thức kết cấu,
mục đích cuối cùng là để phát huy tối đa khả năng khám phá thế giới hiện
thực, khám phá thế giới tâm hồn đầy phức tạp, bí ẩn của con người.
3.4. Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại
Ngôn ngữ, một mặt là sản phẩm của xã hội và lịch sử, mặt khác là
phương diện đầy đủ nhất để từng cá nhân nói lên tâm tư của mình. Trong
truyện của Nguyễn Huy Thiệp một trong những điểm nổi bật là ngôn ngữ đối
thoại và ngôn ngữ độc thoại.
3.4.1. Ngôn ngữ đối thoại
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta thấy một trong
những điểm gây ấn tượng mạnh là ngôn ngữ đối thoại diễn ra giữa những cặp
109
trao đáp cha - con, anh - em, vợ - chồng, đàn ông - đàn bà, nhà giáo - nhà sư,
nhà giáo - nhà văn, nhà văn - nhà chính trị, người trí thức - người lao động
chân tay, người trưởng thành, từng trải - người trẻ tuổi, ngây thơ. Ngôn ngữ
đối thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp linh hoạt, sắc gọn, nhưng
giàu tính hành động, bộc lộ cá tính. Lời phát ngôn nào cũng thể hiện một đặc
điểm tính cách cụ thể. Nguyễn Huy Thiệp sử dụng khá nhiều ngôn ngữ đối
thoại để bộc lộ cách nhìn của tác giả về nhân vật. Kiểu ngôn ngữ đối thoại
không chỉ có trong tác phẩm Tướng về hưu mà còn có trong những truyện
ngắn về sau của Nguyễn Huy Thiệp như: Không có vua, Con gái thủy thần,
Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ, Giọt máu”…
Thông thường, nhân vật tham gia đối thoại có khoảng cách về mặt tôn
ti, địa vị xã hội, tầng lớp xuất thân. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã xoá bỏ
khoảng cách này khi nhà văn đẩy các nhân vật của ông vào những không gian
chật hẹp trong những khoảnh khắc thời gian ngắn ngủi, gắn liền với những
cảnh huống trớ trêu. Trong bối cảnh ấy, các nhân vật bị tước bỏ vị thế xã hội.
Khoảng cách tôn ti cha – con, vợ - chồng, anh - em, già – trẻ... bị đảo lộn. Câu
văn dài trong truyện rất hiếm. Những câu thoại đều là những câu đơn trong đó
phần nhiều là những câu đơn đặc biệt, thiếu đầu thiếu đuôi, có khi giản lược
đến mức tối đa. “Tôi hỏi: “Chuẩn bị à? Vợ tôi bảo “Không”….Vợ tôi hỏi:
“Mấy cân gạo hả chú?” Ông Bổng bảo: “Mẹ mày, sao hôm nay cứ ngọt xớt
thế? Ba cân”! Vợ tôi bảo tôi: “Họ hàng nhà anh kinh bỏ mẹ” (Tướng về
hưu). Với kiểu nói năng đối đáp như thế, tác giả đã tước sạch mọi ý thức giao
tiếp, vị thế giao tiếp của nhân vật. Người nói không ý thức về vai của mình và
cũng không ý thức vai của người đối thoại. Điều đó, giúp cho nhà văn có thể
phơi bày sự thật trong hiện thực cuộc đời.
Trong văn xuôi, bước đổi thay của ngôn ngữ lúc đầu gắn với nhu cầu
“được nói thật”. Sự cổ vũ của Đảng “nhìn thẳng và nói thật” cho phép nhiều
110
tác phẩm chống tiêu cực ra đời. Ngôn ngữ văn xuôi bắt đầu bớt đi vẻ trang
trọng, ít du dương, ít rào đón mà gần gũi với đời thường, chân thật trong
giọng điệu, thô nhám trong từ ngữ. Đối thoại không chỉ nói lên thông tin mà
còn vẽ nên chính diện mạo tâm lí bên trong nhân vật. Thông qua đối thoại,
tính cách của các nhân vật và bản chất các mối quan hệ được thể hiện....Qua
lời thoại, nhân vật tự lột mặt người khác và tự lột mặt mình. Trong Tướng về
hưu có nhiều nhân vật thực dụng, khéo hoạt, nhưng chưa phải là kẻ ác. Thủy
tính toán, thực tế, rạch ròi nhưng cũng có lúc ngôn ngữ của Thủy trong một
bữa cơm gia đình rất nhẹ nhàng: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả.
Thôi, ăn đi. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm
sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết”. Ông Bổng phu xe, con người thô tục, tưởng
chừng như chai lì, việc bộc lộ những gì ẩn kín bên trong thật không dễ.
Nhưng trước tình cảnh chị dâu đang hấp hối, lão đã bộc lộ con người mình
qua một đoạn đối thoại sau: “Ông nói: “Bà ấy cứ xoay ngang xoay dọc trên
giường thế này là gay go đấy”. Lại hỏi: “Chị ơi, chị nhận ra em không?” Mẹ
tôi bảo: “có”. Lại hỏi: “Thế em là ai? Mẹ tôi bảo: “Là người”… Lần đầu
tiên cái ông chú đánh xe bò lỗ mãng, táo tợn làm đủ mọi điều phi nhân bất
nghĩa hóa thành đứa trẻ trước mắt tôi”. Thuần nhu nhược, yếu hèn lộ rõ
trong những lời thoại. Sự đốn mạt của Đoài, sự khờ khạo ngờ nghệch của
Cấn, sự a dua của Khảm... hiện lên sắc nét: “Đoài bảo: “Tôi nghĩ bố già rồi,
mổ cũng thế, cứ để chết là hơn”. Tốn khóc hu hu. Cấn hỏi: “Ý chú Khảm thế
nào?” Khảm bảo: “Các anh thế nào thì em thế”. Cấn hỏi: “Chú Khiêm sao
im thế”. Khiêm hỏi: “Anh định thế nào?” Cấn bảo: “Tôi đang nghĩ”. Đoài
bảo: “Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”
(Không có vua). Những cô con gái tên Phượng - một mảnh của Mẹ Cả, người
thì xốc nổi, bao dung; người dịu dàng, đằm thắm; người sắc xảo nhưng kẻ cả,
trịch thượng... không thể lẫn qua các diễn ngôn đối thoại (Con gái thủy thần).
111
Hình thức đối thoại này thể hiện nhiều nét quan trọng trong phong cách ngôn
ngữ của Nguyễn Huy Thiệp.
Trong những truyện như Tướng về hưu, Thương cả cho đời bạc, Mưa,
Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, nhà văn tạo ra những đối thoại rất ít ăn nhập
nhau, không tuân thủ một số nguyên tắc hội thoại, có sự phá vỡ tính logic của
cấu trúc lời thoại, với những cặp trao đáp khác thường, nội dung lời thoại và
giọng điệu đối thoại độc đáo và có sức hấp dẫn rất riêng... nhằm hướng tới thể
hiện kiểu con người phàm tục đời thường. Nó khơi động từ vô thức, tính chất
lo âu, bồn chồn, đầy bất an được tái hiện. Nó biểu hiện sâu sắc trạng thái cô
đơn của con người hiện đại. Nguyễn Huy Thiệp xây dựng những đối thoại mà
các tác nhân tham thoại trong khi đối thoại với nhau lại ruổi theo những suy
nghĩ của riêng mình. Càng đối thoại, con người lại càng cô đơn, mặc dù về
mặt hình thức, ta nhầm tưởng họ là tri âm tri kỷ.
Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp khi đối thoại bộc lộ mình một cách
không cần giấu diếm, thậm chí nhiều khi còn sống sượng. Trong đối thoại,
nhân vật của ông chẳng cần phải giữ thể diện hoặc duy trì thiện cảm trước
các nhân vật khác. Bằng những cách thức khác nhau, anh ta cố gắng “chỉnh”
lại hình ảnh của mình trong mắt người khác, định hướng lại cách nghĩ lâu nay
của người xung quanh về nhân cách của mình. Nhân vật không ngần ngại
“vạch áo cho người xem lưng”, không phải để cao ngạo hơn đời mà chỉ để
chứng minh mình là mình. Đoài, bà Lâm, giáo Chi, Phượng, Bường, Ngọc,
Phụng... là như thế. Đoài đốn mạt nhưng anh ta không đạo đức giả, không che
đậy bản chất của mình. Đó cũng là thái độ sống của ông giáo Quỳ. Biết vợ hai
phong tình, vẫn đi lại với nhiều đàn ông trong làng nhưng ông chỉ nói: “Cô
ngủ với ai thì nhớ đòi tiền, không có tiền thì lấy thóc hay lấy gà lợn thế vào
chứ đừng ngủ không” (Thương nhớ đồng quê). Đó là quan điểm sống của bà
Lâm: “Già quá hóa giặc cậu ạ. Sao mà tôi kinh tuổi già đến thế. Sáng nào tôi
112
cũng đi chùa, lạy Phật tổ Như Lai cho chết mà Ngài cứ lắc đầu, Ngài chưa
nhận. Chung quy vì tôi mải lam mải làm, đáng lẽ ngày xưa tôi phải chơi vung
tàn tán thì đâu đến nỗi. Ở làng những đứa con gái cùng lứa tuổi với tôi, đứa
nào hồi trẻ thập thành thì Ngài cho lên tiên sớm, chẳng phải đợi đến tuổi thất
thập, thế là sống cũng sướng mà chết cũng sướng. Còn tôi, cả đời chỉ biết mỗi
con buồi… mang tiếng thủy chung đức hạnh, chẳng biết báu cho ai, chỉ biết
về già sống lâu khổ con khổ cháu” (Bài học nông thôn).
Mặt khác, thông qua đối thoại, nhà văn gián tiếp thể hiện quan điểm
của mình đối với nhiều vấn đề nhức nhối khác đang bày ra ngổn ngang trong
hiện tại. Đó là thực trạng lối sống thực dụng đang lan tràn trong gia đình, xã
hội. Nó có nguy cơ biến những con người hết lòng vì Tổ quốc, vì con cái, vì
nghệ thuật và lý tưởng cao quý trở nên bất lực, lạc lõng, cô đơn. Nguyễn Huy
Thiệp còn góp phần “cảnh tỉnh” những nhận thức phiến diện về con người, về
vấn đề bạo lực, chiến tranh, tình yêu, hạnh phúc, về niềm tin (thần phật,
những lực lượng siêu nhiên)...
Nguyễn Huy Thiệp tạo nên những lịch sử giả, khi thì hướng về đời
sống thị thành qua các “huyền thoại phố phường”, khi thì tìm về “đồng quê”
để tìm hiểu các bài học nhưng đúng ra, Nguyễn Huy Thiệp đang nói đến thì
hiện tại, đến hôm nay. Ngay cả khi trở lại các truyền thuyết xa xưa, nhà văn
vẫn đang nói về thời mình, triết lý về thời mình, từ đó mở rộng đến những giá
trị vĩnh hằng bằng cái nhìn không né tránh hiện thực dù đó là thứ hiện thực
cay đắng nhất. Quan sát đoạn đối thoại sau trong Con gái thuỷ thần sẽ thấy:
“Cô Phượng bảo: “Anh là dân làm thuê, là dân da đen. Phải không nào?”
Tôi bảo: “Phải”. Cô Phượng bảo: “Như thế là anh không có gì cả. Anh là kẻ
yếu”. Tôi bảo: “Xin cô đừng sỉ nhục tôi”. Cô Phượng bảo: “Tôi không sỉ
nhục anh. Tôi chỉ nói ra sự thật. Anh không có của cải, không có sở hữu cá
nhân, anh không có quyền sĩ diện, không nên tự ái, không nên phản kháng”.
113
Nguyễn Huy Thiệp cũng không ít lần thể hiện những cuộc thoại có
sự tương tác trật khớp. Đó là đoạn đối thoại giữa ông Bình Chi và ông Phạm
Ngọc Gia. Ông Bình Chi nói: “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn
chương hành nghề kiếm sống. Có thứ văn chương sửa mình”. Ông Phạm
Ngọc Gia trả lời: “Tôi hiểu rồi. Tôi làm nghề đồ tể, tôi biết. Cũng như có thịt
mông, thịt thủ, thịt sấn, thịt dọi”. Ở đây, người nói và người nghe mặc dù ở
trong những vùng tri thức khác nhau nhưng lại có thể thấu hiểu nhau dựa vào
những lẽ thường của đời sống.
Trong truyện ngắn Tướng về hưu Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng cách
viết: Không tách rời những đoạn đối thoại, không xuống hàng, kéo gạch để
làm nổi bật sự hiện diện của đối tượng, mà viết lời nói lẫn lộn với lời kể:
“Ông thợ mộc quát: “Sợ chúng ông ăn cắp gỗ à?” Ông Bổng hỏi: “Ván mấy
phân?” Tôi bảo: “Bốn phân”. “Cha tôi về, đồ đạc đơn sơ. Cha tôi khỏe. Ông
bảo: “Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo: “Vâng”. Cha tôi
cười”. Lối nói “cộc lốc”, sắc bén và hàm súc, câu văn ngắn gọn, dồn dập, hạn
chế tối đa các liên từ, nén năng lượng làm rung chuyển lối văn mực thước,
trang trọng, không vướng phải hai chấm xuống dòng, gạch ngang đầu dòng.
Ngòi bút tác giả này như không hề biết đến những gửi thưa kiểu cách, những
nghi thức nhiều khi rất nhiều khách sáo, mặc nhiên khẳng định tư thế bình
đẳng, dân chủ giữa con người với con người. Lối văn đó phù hợp với cái hiện
thực đời thường mà nhà văn muốn mô tả.
Lời thoại thường ngắn, có khi chỉ là những mẩu nhỏ và nhiều khi nó
khước từ cả những nguyên tắc của lí thuyết tương tác. Từ những cặp trao đáp
độc đáo này, Nguyễn Huy Thiệp “giải thiêng” một cách đầy trí tuệ đối với
những huyền thoại lâu nay vẫn tồn tại trong tâm thức cộng đồng. Đó là sự giải
thiêng huyền thoại về các vĩ nhân, là sự giải thiêng đối với những quan niệm
một chiều về giao lưu văn hoá, về sức mạnh của nền văn hoá Việt Nam, là sự
114
giải thiêng đối với các quan niệm ấu trĩ nhưng đầy quyền uy về văn học và
nhà văn đang kìm hãm sự phát triển lành mạnh của nền văn học nước nhà.
Bởi vậy, Nguyễn Huy Thiệp đôi khi gắn những phát ngôn tục tĩu vào miệng
những nhân vật không thể phát ngôn tục tĩu, gắn những lời lẽ thanh cao vào
miệng những nhân vật không thể nói những lời lẽ thanh cao, gắn những lời
minh triết vào phát ngôn của những khối óc rất bình thường, gắn những lời bỗ
bã cho những quan hệ tôn ti không thể sỗ sàng, bỗ bã.
3.4.2. Ngôn ngữ độc thoại
Độc thoại nội tâm đóng vai trò quan trọng trong cách thức diễn đạt,
giúp độc giả khám phá mạch ngầm của văn bản. Độc thoại nội tâm góp phần
cơi nới khuôn khổ truyện ngắn, đi sâu vào bản thể con người với những hồi
cố, tự bạch dòng ý thức…giúp con người bộc lộ chính mình ở khía cạnh con
người vô thức, con người tâm linh.
Bằng độc thoại nội tâm, tác giả đã diễn đạt những giằng xé, dằn vặt của
nhân vật trước biến cố cuộc đời, tạo nên giọng điệu thâm trầm sâu lắng.
Trong các tác phẩm độc thoại nội tâm như là sự giải tỏa tâm trạng, nhân vật
thường đặt câu hỏi cho chính bản thân mình: “Sao tôi thấy cô đơn và sợ cuộc
sống thế này” (Những bài học nông thôn).
Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, ngoài ngôn ngữ đối thoại.
Ở một số tác phẩm, vẫn có những trang viết tinh tế đi sâu vào khám phá nội
tâm nhân vật bằng ngôn ngữ độc thoại. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu
biểu: Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Huyền thoại phố
phường, Những người thợ xẻ, Giọt máu, Thoáng chút Xuân Hương (truyện
thứ 2).
Trong Thương nhớ đồng quê, những dòng độc thoại nội tâm của nhân
vật “tôi” là những dòng suy tư, cảm xúc, quan sát về người thân trong gia
115
đình, về cuộc sống nghèo khó của làng quê nơi mình sinh ra và lớn lên. Nhâm
mười bảy tuổi, nhưng rất hay mơ mộng. Trong cuộc sống, Nhâm quan sát mọi
người xung quanh, hiểu khá rõ thói quen sinh hoạt của từng người: “mẹ tôi
vẫn hay chan cơm nước mưa với cà muối. Mẹ không ăn được thịt mỡ”. “Dì
Lưu nằm nghiêng tựa lưng vào tường. Lúc nào dì cũng nằm nghiêng như thế
đã sáu năm nay”. “Cái Mị cùng tuổi với cái Minh em tôi nhưng cái Mị trắng
hơn. Nó hay nói, hay làm nũng”. Có những dòng độc thoại nội tâm của nhân
vật xót xa, mặc cảm cho thân phận: “thân phận tôi, ở đâu người ta cũng nhận
là kẻ làm thuê, làm mướn”. Có lúc dòng tâm tư và nỗi lòng của nhân vật rất bí
hiểm, làm cho người đối diện không dễ gì hiểu được: “Tôi cười. Mẹ tôi chẳng
hiểu nụ cười của tôi đâu. Tôi cười như một tên thổ phỉ, cười như một gã nặc
nô, cười như một tên quỷ sứ cười móng tay chân mình sao lại đen dài như
thế”. Nhân vật tôi cũng trải qua đau đớn khi mất một người thân, một nỗi đau
tột bậc, khóc không thành tiếng: “Tôi đưa tay lên miệng để bịt âm thanh thổn
thức trong cổ cứ thế bật ra. Tôi thương em tôi quá. Rất đông những con ruồi
bu quanh hai lỗ mũi cái Minh, cái Mị”. Những khi không làm công việc đồng
áng, thế giới tâm hồn của Nhâm lại xao đồng, biết bao nhiêu suy tư trong tuôn
chảy trong đầu:
“Tôi nghĩ
Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ
Sự bất lực của hình thức biểu đạt
Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất
Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất
Bao tháng ngày trôi đi
Bao kiếp người trôi đi
Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được
Ai nhặt cho tôi buổi sáng mai này
116
Nhặt được ánh mặt hoang vắng trong mắt em gái tôi
Nhặt được niềm hy vọng hão huyền
trong lòng chị dâu tôi
Và nhặt được mùi vị nghèo nàn
Trên cánh đồng quê….”
Ở một chỗ khác, câu trả lời của Nhâm như nói với chính mình, đáp lại
câu trả lời của cô em họ từ thành phố về: “Anh có biết cánh đồng bắt đầu từ
đâu không?
Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu trong lòng tôi
Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng
Đứng nên ni đồng mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng bát ngát mênh mông
Tôi làm sao quên được nơi mẹ tôi sinh ra”.
Trong truyện Những bài học nông thôn có những đoạn văn xuôi và thơ
dài thể hiện giọng nói bên trong của nhân vật. Cảm xúc của Ngọc về cảnh vật
làng quê khi lần đầu về nông thôn: “Mặt sông nhòa đi, bóng tối bắt đầu phủ
trùm cảnh vật. Tôi đi một mình trên con đường lạ vào thôn. Bóng tối nhập
nhoạng. Không gian tràn ngập một thứ tình cảm dịu dàng mà bí ẩn. Cây lòa
xòa bên đường. Tôi không xác định được thời gian sống hiện tại của mình.
Trong tôi không có hình ảnh nào về thành phố tôi hằng sống, thậm chí tôi
quên mất khuôn mặt thân yêu của bố mẹ tôi. Cả đến những chuyến tàu chở tôi
và Lâm từ thành phố về buổi sang nay nữa, tôi cũng quên biến. Thế mà đây là
lần đầu tiên tôi đi xa nhà… Quên cả chiếc diều”.
Thôi quên đi, quên đi…
Đêm xuống – cái cú xõa vĩ đại của thời gian
Xóa trước hết cái ngẫu nhiên sinh ra tôi
Xóa mối ràng buộc của tôi với đồ vật
117
Xóa tất cả những vô tích sự
và tủi hổ của một ngày trơ trẽn
Hãy xóa…hãy xóa đi
Hãy buộc lại những sợi dây trong tim
Bởi thế nào cũng phải phiêu du trong đêm
Trong giấc ngủ hồn phải lanh thang một mình”.
Hay một chỗ khác:
“Tôi biết từ nay tôi đã trở thành người lớn.
Vĩnh biệt nhé tuổi thơ
Tôi đã trưởng thành
Từ nay tôi phải gánh trách nhiệm với tôi, với mọi người
Tôi bắt đầu một chuỗi sơ suất liên tiếp nhau
Ôi tuổi thơ
Khi trong tôi là một khối nguyên dương
Tiền tài danh vọng luật pháp đều bay qua tôi
Trùm lên tôi là đôi cánh mỏng tang của mẹ”.
Trong truyện ngắn Mưa nhã nam kể về người anh hùng dân tộc Hoàng
Hoa Thám, độc thoại là những dòng suy ngẫm của nhân vật về đời người, về
chuyện “làm người khó lắm”. “Ông cho rằng buổi tiếp tân không quan trọng
gì và sự có mặt hay không có mặt của ông đều chứa những hiểm họa. Ông sẽ
mang tiếng hèn nhát, nếu từ chối. Ông sẽ thành lố bịch nếu ông có mặt. Thế
lố bịch hơn hay hèn nhát hơn? – Đề Thám tự hỏi – Thôi thì lố bịch còn hơn
hèn nhát!”
Trong truyện Con gái thủy thần, Chương bộc lộ những bí mật trong trái
tim anh: “Trái tim tôi thuộc về nàng, thuộc về Mẹ Cả, thuộc về con gái thủy
thần”. Độc thoại nội tâm ghi lại những cảm xúc của nhân vật Chương. Cho
nên anh đã ra đi tìm Mẹ Cả, dù gặp nhiều vất vả.
118
Hạnh trong Huyền thoại phố phường, từ khi tháp tùng mẹ con bà Thiều
đi xin lộc ở chùa, chứng kiến sự tiêu pha hoang phí của bọn nhà giàu, khi về
nhà Hạnh trở nên mất ăn mất ngủ. Hạnh suy nghĩ “Bọn người này coi tiền
như rác”, “riêng tiền xích lô của hai mẹ con bà Thiều cũng đến bạc nghìn.
Chỉ riêng khoản chi phí ấy cũng gấp ba lần số tiền mà Hạnh kiếm được trong
tháng”. Một kẻ luôn muốn trở nên giàu nhưng không phải bằng lao động
chân tay mà nuôi hy vọng bằng lộc trời, cho nên khi nhớ đến tờ vé số đã được
bà Thiều đem đi xin lộc, cầu thánh thần, Hạnh nghĩ: “Bảy trăm nghìn! Trời ơi
cả một số tiền lớn lao kinh khủng. Cả một cơ nghiệp, cả một gia tài. Đấy là sự
nghiệp! Đấy là hạnh phúc mà y mong muốn”. Cho nên sau đó Hạnh quay lại
nhà bà Thiều, tán tỉnh, cợt nhả, thậm chí hiếp dâm người đáng tuổi mẹ mình
để đổi cho được tờ vé số. Từ độc thoại nội tâm, ta hiểu được bản chất xấu xa
đê tiện của nhân vật Hạnh- một kẻ đã bị đồng tiền làm cho bỉ ổi.
Kết thúc truyện Chút thoáng Xuân hương là mấy dòng độc thoại của
ấm Huy: “Chàng hiểu cả tri huyện Thặng, cả chàng, cả ngay ông phủ Vĩnh
Tường cũng sẽ chẳng là gì cả, tất cả chỉ là nhân chứng cho sự tồn tại của một
CON NGƯỜI: Nàng Xuân Hương mặc áo xô gai đang nức nở khóc, đang
khóc nức nở cho nỗi mênh mông của cõi đời”. Ở đây con người không phải là
thánh thần để trở bất tử, nhưng họ hiểu sự không bất tử của chính họ một cách
sâu xa ngay từ những ý thức đầu tiên và như vậy họ đã đứng cao hơn số phận.
Như vậy với việc sử dụng các ngôn ngữ độc thoại, con người được nhà
văn xem xét, đánh giá trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là chủ thể của
đời sống riêng tư, có quan niệm riêng về cuộc đời, có cách nhìn cuộc sống
đang diễn ra và bản thân theo cách riêng của họ.
Một nhà văn hải ngoại từng nói về ông: “Văn chương đến thế thì thôi”.
Đấy là sự bùng vỡ của thi pháp, của quan niệm về con người, về không gian
lịch sử, của quan niệm biểu hiện. Điều này rất hiếm thấy ở một tác giả, ngay
119
trong những khoảng giao thời của nghệ thuật, khi mà vấn đề hiện đại hóa
nghệ thuật trở thành vấn đề sinh tử của nó. Cũng phải, văn chương của
Nguyễn Huy Thiệp có khả năng gây ngạc nhiên. Ngạc nhiên này kéo theo
ngạc nhiên khác. Mỗi lần đọc lại truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là một
lần ta thấy cái khối vuông ru bích ấy chuyển động. Gắn với sự chuyển động
của nó là những độ mở mới, màu sắc mới và những trữ lượng ngữ nghĩa nghệ
thuật mới được khai lộ. Nhưng dường như phía sau "tảng băng trôi" ấy vẫn
còn nhiều bí mật mà không dễ gì nhận biết một cách rạch ròi.
120
KẾT LUẬN
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn
học Việt Nam giai đoạn sau năm 1975, đặc biệt giai đoạn đổi mới những năm
80 của thế kỉ 20. Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm tất yếu của sự
gặp gỡ giữa tài năng với khát vọng dân chủ và đổi mới mà sự vận động ý thức
xã hội cũng như văn học sau 1975 mang lại. Một hiện tượng như thế khó có
thể xuất hiện sớm hơn và việc nó gây tranh cãi là dễ hiểu. Đó là một dấu hiệu
đáng mừng trong thời điểm Đổi mới với không khí cởi mở, dân chủ và thị
hiếu mới của công chúng lúc bấy giờ. Các ý kiến dù còn tranh cãi, vẫn cho
thấy một điểm chung: Nguyễn Huy Thiệp là một người tài năng độc đáo.
Khác với hệ quy chiếu lịch sử như yêu nước, chống ngoại xâm, đấu
tranh giai cấp, mâu thuẫn tiến bộ lạc hậu, cấp trên cấp dưới, tổ chức và cá
nhân…thường thấy trong văn học cách mạng. Hệ quy chiếu trong truyện của
Nguyễn Huy Thiệp là “con người”, triết lí về con người, bản tính người, cách
làm người, trạng thái ứng xử xã hội lịch sử của con người. Ta biết được điều
này do môtip con người được lặp đi lặp lại trong các truyện của tác giả.
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đứng ở bình diện nhân cách, trạng thái
nhân cách, lựa chọn nhân cách ở mỗi người.
Nhà văn đã chuyển tải thành công quan niệm về con người trong thời
đại mới. Đi sâu mở rộng quan niệm về con người. Có thể nói với những tìm
tòi sáng tạo trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã dấn thân vào
cuộc thử nghiệm đầy sóng gió. Từ đó, ông mang đến cho người đọc những
day dứt băn khoăn về những vấn đề cuộc sống, về con người trong thời đại
mới.
Văn chương của Nguyễn Huy Thiệp luôn hướng vào tầng cao hơn là
chủ nghĩa nhân đạo. Đó là thân phận của con người trong một thời đại, trong
121
một xã hội mà sức nặng duy lí ở chính trị, ở kinh tế, ở biết bao chuẩn mực đã
định sẵn. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp luôn làm người đọc khắc khoải và
sợ hãi trước những cảm nhận tê buốt về lẽ đời được trình bày một cách trần
trụi. Với tham vọng muốn làm gần lại mối quan hệ người - người, nhà văn
không chỉ biểu hiện nhu cầu dân chủ và khuynh hướng tự do của cá
nhân trong xã hội hiện đại mà còn biểu thị khát vọng truy tìm chân lý và điều
thiện.
Quan niệm, cách nghĩ về con người mà ông đưa đến cho người đọc
thông qua những tác phẩm của mình không phải là những gì màu mè, không
buộc người đọc phải đồng ý với ông mà buộc người đọc phải đối diện với
chính mình. Ngay cả khi ông viết về cái ác, cái xấu xa của con người thì cũng
không phải là để hả hê, sung sướng mà đầy xót xa. Ông buộc mọi người phải
tự nhận thấy điểm yếu kém của chính bản thân mình và biết chế ngự, đẩy lùi
nó. Tận cùng, văn của Nguyễn Huy Thiệp không đi ra ngoài tình yêu thương
và đau đớn về vấn đề con người, về tính cách, số phận của con người.
122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phần 1: Sách, tạp chí, luận án
1. Vũ Tuấn Anh (1945), Đổi mới văn học và sự phát triển, Tạp chí văn
học, (4), tr.14-19.
2. Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hải Hà (1995), Quan niệm nghệ thuật về
người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách Mạng tháng 8 – Chương trình
KHVN cấp nhà nước KX-07.
3. Hoài Chân – Hoài Thanh (1998), Thi nhân Việt Nam (1932-1945), Nxb
Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Minh Châu (1987):
4.1 “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Báo
văn nghệ (49-50), tr.35–37.
4.2 Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nxb Tác phẩm mới, Hà
Nội.
5. Trần Cương (1995), “Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những
năm 80”, Tạp chí văn học, (4), tr. 34–36.
6. Trần Thanh Đạm (1989), “Bàn thêm về vấn đề con người trong văn
học”, Tạp chí Văn học, (35), tr.3–6.
7. Đặng Anh Đào (1991), “Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện
hiện nay”, Tạp chí Văn học, (6).
8. Đặng Anh Đào (1994), Tài năng và người thưởng thức, Nxb Hội nhà
văn, tr.78.
9. Phan Cư Đệ (1986), “Mấy vấn đề về văn xuôi hiện nay”, Tạp chí văn
học, (5).
123
10. Phan Cự Đệ (1992), “Văn học đổi mới và những bước đi hợp quy
luật”, Báo Văn nghệ (48).
11. Phạm Văn Đồng (1983), “Thư gửi Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ
3”, BáoVăn nghệ, (40).
12. Hà Minh Đức (1988), Văn học Việt Nam hiện đại – Bình giảng và phân
tích tác phẩm, Nxb Thanh Niên.
13. E.M. Meletinky (2004), Thi pháp của Huyền thoại, Trần Nho Thìn và
Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
14. Nguyễn Văn Hạnh (1993), “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự
đổi mới về con người”, Tạp chí văn học, (3), tr.20–23.
15. Nguyễn Văn Hạnh (1999), “Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ”,
Nxb Giáo dục.
16. Nguyễn Văn Hạnh (2005), “Chuyện văn chuyện đời”, Nxb Giáo dục.
17. Võ Thị Hảo (1995), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
18. Vương Thị Thanh Hiền (2010), Ảnh hưởng của văn học dân gian đối
với truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ – Trường đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
19. Phạm Mạnh Hùng (2001), “Về quan niệm về cấu trúc nghệ thuật của
hoàn cảnh trong văn học”, Tạp chí Văn học, (11), tr.44–51.
20. Lê Thị Hường (1994), “Quan niệm người cô đơn trong truyện ngắn
hôm nay”, Tạp chí văn học, (2), tr.29–31.
21. Phạm Thị Thu Hương (1993), “Quan niệm nghệ thuật về con người
trong truyện ngắn Thạch Lam”, Tạp chí văn học, (số 3), tr.16–19.
22. Lê Thị Hường (1995), “Các kiểu kết thúc truyện ngắn hôm nay”, Tạp
chí văn học, (4), tr.29–33.
23. Tạ Thị Hường (2001), “Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp”, Luận văn Thạc sĩ – Trường đại học Sư phạm Hà Nội.
124
24. Nguyễn Văn Kha (2006), “Đổi mới quan niệm về con người trong
truyện ngắn Việt Nam 1975-2000”, Nxb Đại học quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh.
25. Nguyễn Khải (2002), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Hội Nhà Văn.
26. Phùng Ngọc Kiếm (1995), Con người trong truyện ngắn Việt Nam
1945 – 1975 (Bộ phận văn học cách mạng), Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội.
27. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu văn học, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
28. Tôn Phương Lan (1996), “Tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Minh
Châu qua quan niệm nghệ thuật về con người”, Tạp chí văn học, (4),
tr.27–30.
29. Tôn Phương Lan (2001), “Một vài suy nghĩ về con người trong văn
xuôi thời kì đổi mới”, Tạp chí văn học, (9), tr.43–48.
30. Phong Lê (2001), Văn học Việt Nam hiện đại – Những chân dung tiêu
biểu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
31. Nguyễn Văn Long (2006), Nguyễn Văn Thìn (đồng chủ biên), Văn học
Viêt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo
Dục.
32. Phương Lựu (chủ biên) (1997) Lí luận văn học, Nxb Giáo Dục.
33. Trần Nhất Lý, “Tìm hiểu Nguyễn Huy Thiệp từ “Phẩm Tiết”, Theo
Thể thao văn hóa.
34. Nguyễn Đăng Mạnh- Nguyễn Trác- Trần Hữu Tá (1988), Văn học Việt
Nam 1945-1975, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
35. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn – tư tưởng – phong cách, Nxb
Đại Học Quốc gia Hà Nội.
36. M. Bakhtin (1992), Lí luận, thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn
Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.
125
37. M.Gorki, Bàn về văn học (tập 2), Nxb Văn học, Hà Nội.
38. Phạm Xuân Nguyên (1994), “Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay”,
Tạp chí văn học (2), tr.26–28.
39. Phạm Xuân Nguyên (2001), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
40. Đào Thủy Nguyên (2001), “Thế giới nhân vật Nguyễn Khải”, Tạp chí
văn học, (11), tr.52–63.
41. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, NxbVăn nghệ Thành phố
Hồ Chí Minh.
42. Vương Trí Nhàn (2006), “Giăng lưới bắt…lí luận”, Báo Thể Thao và
văn hóa.
43. Phùng Qúy Nhâm (1992), Thẩm định văn học, NxbTP.HCM.
44. Trần Thị Mai Nhi (1999), Văn học hiện đại, văn học Việt Nam giao
lưu gặp gỡ, NxbVăn học, Hà Nội.
45. Nhiều tác giả (1989), Nguyễn Huy Thiệp tác phẩm và dư luận, Nxb
Trẻ.
46. Nhiều tác giả (1993), Từ điển văn học, Nxb Khoa học và xã hội Hà
Nội.
47. Nhiều tác giả (1994), Từ điển Văn học bộ mới, Nxb Thế Giới, Hà Nội.
48. Nhiều tác giả (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý
thuyết, Nxb Hội nhà văn, trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
49. Nhiều tác giả (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Thanh Niên Hà
Nội.
50. Nguyễn Văn Phụng (1989-1993), Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp từ hiệu
quả nghệ thuật đến thủ pháp nghệ thuật, Khóa luận tốt nghiệp, Trường
Đại học Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
126
51. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn xuôi Viêt Nam những năm 80 và
những vấn đề dân chủ mới của nền văn học”, Tạp chí văn học (4),
tr.10–12.
52. Hùynh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học
Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh.
53. Hồ Phương (1989), “Nhớ tiếc một tài năng văn học”, Báo Nhân dân
(ra ngày 29 tháng 1).
54. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam (1987), Lí luận văn
học, Nxb Giáo dục.
55. Trần Đình Sử (chủ biên) (1991), “Khái niệm quan niệm nghệ thuật
trong nghiên cứu văn học xô viết”, Tạp chí Văn học, (1), tr.8–12.
56. Trần Đình Sử (1996), Môt số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ Giao
dục đào tạo-Vụ Gíao viên, Hà Nội.
57. Trần Đình Sử (chủ biên) (2000), Tự sự học, Một số vấn đề lí luận và
lịch sử, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội.
58. Trần Đình Sử (2001), “Mấy vấn đề trong quan niệm con người của
văn học Việt Nam thế kỉ XX”, Tạp chí Văn học, (8), tr.6–11.
59. Nguyễn Thị Minh Thái (1993), “Truyện ngắn Việt Nam đổi mới”, Thế
giới mới, (64).
60. Đào Thản (1994), “Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong văn
xuôi”, Tạp chí Văn học, (2), tr.13–16.
61. Bùi Việt Thắng (1991), “Văn xuôi hiện nay và quan niệm con người”,
Tạp chí Văn học, (6), tr.12–14.
62. Nguyễn Thành Thi (2010), Văn học thế giới mở, Nxb Trẻ.
63. Nguyễn Huy Thiệp (2006), Tuyển tập truyện ngắn, Đỗ Hồng Hạnh
tuyển chọn và giới thiệu, NxbVăn hóa Sài Gòn.
127
64. Bích Thu (1996), “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975”, Tạp
chí Văn học, (9), tr.32–36.
65. Vương Anh Tuấn (1982), “Vị trí và vai trò tích cực của người đọc
trong đời sống văn học”, Tạp chí Văn học (3).
66. Vương Anh Tuấn (1988), “Lịch sử trong quan niệm của Nguyễn Huy
Thiệp”, Tạp chí Văn học, (3), tr.37–42.
67. Phùng Văn Tửu (1996), “Một vài phương diện của truyện ngắn”, Tạp
chí văn học, (2), tr.15–19.
68. Lê Ngọc Trà (2005), “Lí luận và văn học”, Nxb Trẻ, Tp HCM.
69. Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương, thẩm mỹ và văn hóa, Nxb Giáo dục.
70. Hà Ngọc Trảng (1986 – 1990), Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học khoa học Tổng Hợp Thành
phố Hồ Chí Minh.
71. Lê Thị Nguyệt Trong (2011), Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ – Trường đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh.
72. Timôfeep (1962), Nguyên lí lí luận văn học, Nxb Văn hóa-Viện Văn
học.
73. Hoàng Thị Văn (2008), Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975, Đề tài NCKH cấp Bộ, Trường ĐHSP TP.HCM.
74. Đinh Phan Cẩm Vân (2000), “Cái “kỳ”trong tiểu thuyết truyền kỳ”,
Tạp chí Văn học, (10).
Phần 2: Website
75. Thụy Bình, Thiên lương trong “Muối của Rừng”, www.evan.com.vn.
76. Khuê Các, Nhân đọc “Vàng Lửa” của Nguyễn Huy Thiệp,
www.talawas.org.
77. Nguyễn Đình Đăng, Nhà văn Việt Nam của tôi, www.evan.com.vn.
128
78. Phong Điệp, Đánh giá thành tựu Văn học Việt Nam sau 20 năm đổi
mới,wwwvietnamnet.com.vn.
79. La Khắc Hòa, Những dấu hiệu của chủ nghĩa hâu hiện đại trong văn
học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài,
www.vienvanhoc.org.
80. Châu Minh Hùng:
80.1 Hình thức đa thanh mới qua truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp,www.evan.com.vn.
80.2 Tiếng nói của cái tục trong văn Nguyễn Huy
Thiệp,www.evan.com.vn.
81. Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Huy Thiệp – Những chuyện huyền kì: núi
sông và nước,www.evan.com.vn.
82. Cao Kim Lan, Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết
của hậu hình thi pháp hiện đại,www.vienvanhoc.org.vn.
83. Nguyên Ngọc, Văn xuôi Việt Nam hiện nay, logic quanh co của các
thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển
vọng,www.vietnamnet.com.vn.
84. Trần Thị Mai Nhân, Tìm hiểu phương thức “Huyền thoại hóa” trong
một số tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới,www.vienvanhoc.org.vn.
85. Đặng Văn Sinh, Đọc lại “Tướng về hưu”,www.vietnamnet.com.vn.
86. Nguyễn Thị Minh Thái (2006) Nguyễn Huy Thiệp – Tôi sống trong ảo
mộng, Viettnamnet – 20/7/2007.
87. Lê Ngọc Trà, Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới,
www.vienvanhoc.org.vn.
Văn Trung. Nguồn 88. Nguyễn
http//www/giaodiem.com/doithoaiIII/09_truu_htm.
129
89. Nguyễn Thanh Xuân, Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam,
www.vienvanhoc.org.vn.
90. Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình
thi pháp hậu hiện đại”, yume.com.
91. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp “trong mắt” một nhà báo… 8X”
phongdiep.net.
92. “Có một triết gia Nguyễn Huy Thiệp”, www.baomoi.com.
93. Quan niệm nhân sinh mang tính triết lí trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp”, bienlang.blogtiengviet.net 14.12.2000.
94. Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, www.evan.com.vn.
130
PHỤ LỤC
1. Chân dung Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
131
2. Trang bìa một số tập truyện ngắn của Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
132
Truyện “Tuổi 20 mươi yêu ấu” của Nguyễn Huy Thiệp xuất bản tại Pháp.
3. Một số hình ảnh hoạt động của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
133
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đọc một bài phú về Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp kí tặng độc giả ở Ngày thơ Việt Nam.
134
Ông Nguyễn Minh Nhựt - giám đốc NXB Trẻ (phải) và Nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp trong lễ ký kết ngày 24. 03. 2012.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tại lễ nhận giải Nonino (2008) tại Ý.

