ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG DUNG
TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
ĐẾN GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG DUNG
TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
ĐẾN GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền Hà Nội - 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi đến các quý thầy cô giáo Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Khoa Triết học lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc về
quá trình đào tạo trong 2 năm học Cao học vừa qua.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn về sự chỉ bảo tận tình và chu đáo
của cô giáo hướng dẫn PGS- TS Nguyễn Thị Thanh Huyền; sự hỗ trợ, động
viên của gia đình, bạn bè đã giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan: Thư viện quốc gia, Thư viện
Thượng đình ( ĐH KHXH&NV),Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở lao
động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên, Công an tỉnh Thái Nguyên đã
cung cấp những tài liệu quan trọng quý báu để tôi hoàn thành đề tài.
Hà Nội, tháng 1 năm 2016
Học viên thực hiện
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ............................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 7
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn .............................. 7
6. Cái mới của luận văn: .................................................................................... 7
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ..................................................... 7
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 8
NỘI DUNG ....................................................................................................... 9
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về giáo dục gia đình, kinh tế
thị trƣờng và khái quát hoàn cảnh kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên
hiện nay ............................................................................................................ 9
1.1 Gia đình và giáo dục gia đình .................................................................. 9
1.1.1 Gia đình .................................................................................................... 9
1.1.2 Giáo dục gia đình ................................................................................... 13
1.2 Kinh tế thị trƣờng và kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam ..................................................................................................... 27
1.2.1 Kinh tế thị trường ................................................................................... 27
1.2.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ................... 30
1.3 Khái quát tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội ở tỉnh Thái Nguyên
hiện nay .......................................................................................................... 34
1.3.1 Tình hình kinh tế - xã hội ...................................................................... 34
1.3.2 Tình hình văn hóa xã hội ....................................................................... 38
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 40
Chƣơng 2. Tác động của kinh tế thị trƣờng đến giáo dục gia đình ở Thái
Nguyên hiện nay- thực trạng và giải pháp .................................................. 41
2.1 Tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trƣờng đến giáo dục gia
đình ở thái Nguyên hiện nay ........................................................................ 41
2.1.1 Những tác động tích cực của kinh tế thị trường đến giáo dục gia đình ở
Thái Nguyên .................................................................................................... 41
2.1.2 Những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến giáo dục gia đình ở
Thái Nguyên hiện nay ...................................................................................... 58
2.2 Giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của
kinh tế thị trƣờng đến giáo dục gia đình ở Thái Nguyên hiện nay .......... 77
2.2.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa .... 77
2.2.2. Tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của giáo
dục gia đình đối với thế hệ trẻ trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở
tỉnh Thái Nguyên ............................................................................................. 86
2.2.3. Xây dựng môi trường văn hóa xã hội tiến bộ làm cơ sở cho nội dung
giáo dục gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ...................................... 91
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 99
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 103
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH-HĐH: công nghiệp hóa hiện đại hóa
CNDVBC & CNDVLS: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử
CSNT: cộng sản nguyên thủy
CHNL: chiếm hữu nô lệ
CNTB: chủ nghĩa tư bản
HĐND: hội đồng nhân dân
THCS: trung học cơ sở
THPT: trung học phổ thông
CNXH: chủ nghĩa xã hội
KTTT: kinh tế thị trường
UBND: ủy ban nhân dân
XHCN: xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là một yếu tố quan trọng cấu thành nên xã hội, là cái nôi thân
yêu nuôi dưỡng cả đời người, chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất, môi trường
giáo dục đầu tiên và có ảnh hưởng lâu dài nhất đối với mỗi người. Gia đình có
vai trò quan trọng trong việc định hướng và phát triển nhân cách cho lớp trẻ.
Xã hội càng phát triển thì tầm quan trọng của giáo dục gia đình cũng ngày
một tăng lên, bởi vì giáo dục gia đình đúng sẽ định hướng cho trẻ nhận thức
về những giá trị đích thực, những chuẩn mực và khuôn mẫu trong gia đình và
ngoài xã hội. Đất nước ta đang trong quá trình thực hiện CNH - HĐH, phát
triển KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu đặt ra lúc này là cần
có một đội ngũ lao động có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, năng
động, biết tận dụng cơ hội, khắc phục khó khăn trong mọi hoàn cảnh, và có
nhân cách tốt để có thể thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH và làm chủ
đất nước. Để làm được điều đó cần xây dựng một môi trường giáo dục tốt cho
thế hệ trẻ, mà môi trường giáo dục đầu tiên chính là gia đình.
Quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường ở nước ta đã tạo ra sự phát triển mọi mặt của đời sống
xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao.
Nhưng mặt khác, KTTT cũng có tác động tiêu cực đến các lĩnh vực của đời
sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức. Sự xuống cấp về đạo đức của một
bộ phận các cá nhân đang là mối quan tâm của cả xã hội. Lối sống chạy theo
vật chất, đề cao giá trị đồng tiền, hạ thấp giá trị đạo đức con người đã làm cho
nhiều bậc cha mẹ quên đi trách nhiệm của bản thân trong quá trình giáo dục
cho lớp trẻ. Hàng loạt các hiện tượng xã hội liên quan đến trẻ em đặt ra những
thách thức mới đối với giáo dục gia đình như: trẻ em lang thang, tự kỷ, tự tử,
làm trái pháp luật, bị lạm dụng, trẻ em có quan hệ tình dục và mang thai sớm,
1
mại dâm trẻ em, ma tuý và các tệ nạn xã hội khác. Những điều đó đang đe dọa
đến nền tảng đạo đức của mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, tiềm ẩn nguy cơ mất
ổn định trong trật tự xã hội. Do đó, việc nâng cao chất lượng giáo dục từ gia
đình cho lớp trẻ hiện nay là hết sức cần thiết trong điều kiện KTTT ở nước ta.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc của Việt Nam.
Tỉnh Thái Nguyên cũng đang tiến hành thực hiện các chủ trương chính sách
kinh tế của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sống
của người dân, góp phần vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Nhận thấy yêu
cầu hiện nay của công cuộc đổi mới, cần có đội ngũ lao động đủ tài, đức cho
quá trình xây dựng đất nước, các cấp ngành, mỗi gia đình ở Thái Nguyên đã
hết sức chú trọng công tác giáo dục cho thế hệ trẻ của tỉnh. Cũng như các tỉnh
thành khác trong cả nước, KTTT đã và đang có những tác động hai mặt tới
giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở tỉnh Thái Nguyên. Để nâng cao chất
lượng giáo dục của gia đình trong đào tạo những con người có nhân cách, tri
thức, kỹ năng sống đáp ứng và đứng vững trước những biến động của nền
KTTT, làm chủ đất nước sau này, việc nghiên cứu những tác động của KTTT
đến chức năng giáo dục gia đình ở Thái Nguyên hiện nay là yêu cầu hết sức
cần thiết. Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Tác động của kinh tế thị trƣờng đến
giáo dục gia đình ở Thái Nguyên hiện nay” làm luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài luận văn, ở nước ta đã có
các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
* Nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề gia đình ở Việt Nam hiện nay
nói chung, ở Thái Nguyên nói riêng có các công trình sau:
- Đặng Cảnh Khanh (chủ biên): Gia đình học, Nxb Chính trị Hành
chính, Hà nội, Năm 2009. Trong cuốn sách tác giả đã trình bày những nghiên
cứu lý thuyết hướng vào việc xây dựng và phát triển chuyên ngành gia đình
học, phân tích và làm rõ đặc điểm gia đình Việt Nam trong truyền thống và
2
quá trình phát triển của nó tới hiện đại. Tác gỉa cũng đã nêu lên thực trạng gia
đình Việt Nam trong quá trình chuyển từ kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, nêu ra định hướng, giải pháp và khả năng thực hiện để đáp ứng những
yêu cầu của gia đình hiện nay
- Lê Thi (chủ biên): Gia đình Việt Nam ngày nay, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, Năm 1996. Tác giả đã giới thiệu về gia đình và thực trạng của
gia đình Việt Nam hiện nay. Trong cuốn sách, tác giả cũng đã khẳng định vai
trò quan trọng của gia đình trong sự phát triển của xã hội hiện nay, đặt ra
những vấn đề cần quan tâm trong gia đình, đề xuất phát huy các nguồn lực và
trách nhiệm gia đình Việt Nam.
- Đề tài cấp Nhà nước KX-07-09 của Trung tâm nghiên cứu về gia đình
và phụ nữ, do GS Lê Thi làm chủ biên: Vai trò của gia đình trong sự hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam, Nxb Phụ nữ, 1997. Trong
đề tài, tập thể tác giả cho rằng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ vào những năm cuối của thế kỷ XX đưa đến sự sáng tạo, đem lại
những tiến bộ trong cuộc sống của con người, nhưng đồng thời cũng đem đến
những tệ nạn xã hội dẫn đến sự đỗ vỡ của hàng triệu gia đình. Tác giả đã
khẳng định, bàn tới sự phát triển của xã hội không tách rời được với phát triển
con người và gia đình.
- Lê Thi (chủ biên): Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi
mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002. Trong cuốn sách tác giả đã
nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam và quá trình thực hiện các chức năng của
gia đình. Đề cập đến những vấn đề lý luận, phương pháp luận, quá trình biến
đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước chuyển sang thế kỷ 21.
Đồng thời, tác giả cũng bàn tới việc xây dựng văn hóa gia đình và gia đình
văn hóa với những chính sách đối với gia đình và người phụ nữ, vai trò của
giáo dục gia đình đối với sự hình thành phát triển nhân cách của con người.
- Lê Ngọc Văn (chủ biên): Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với
3
gia đình Việt Nam hiện nay, Hà Nội, năm 2001. Tác giả đã trình bày về thực
trạng cấu trúc, chức năng, đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi gia đình
đến năm 2010, và vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam. Từ đó, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp nhằm củng cố sự vững chắc của gia đình, phát huy
vai trò, năng lực to lớn của gia đình trong quá trình CNH-HĐH
* Nghiên cứu về vấn đề kinh tế thị trường và ảnh hưởng của nó tới gia
đình có những nhóm công trình sau:
- Vũ Đình Bách và Trần Minh Hạo ( đồng chủ biên): Đặc trưng của
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, Năm 2006. Trong cuốn sách các tác giả đã đề cập tới quá
trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường trên thế giới. Đồng thời, các
tác giả cũng trình bày những mô hình chủ yếu, đặc trưng xu hướng vận động
của KTTT tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Cuốn sách cũng đã làm rõ
điều kiện để đảm bảo sự vận hành, phát triển của nền KTTT định hướng
XHCN.
- Nguyễn Thị Thọ (chủ biên): Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta
hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011. Trong cuốn sách, tác
giả đã trình bày những vấn đề lý luận về đạo đức gia đình và đạo đức gia đình
Việt Nam hiện nay; Nền kinh tế thị trường và tác động của nó tới đạo đức gia
đình hiện nay ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp định hướng
đối với việc xây dựng đạo đức gia đình hiện nay, đẩy mạnh việc tạo lập các
điều kiện kinh tế xã hội và công tác giáo dục đạo đức đáp ứng yêu cầu đổi
mới đất nước trong nền KTTT
Những nghiên cứu lý luận về gia đình của các nhà khoa học đã đi vào
luận giải nhiều khía cạnh về gia đình và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển
của Việt Nam hiện nay. Các nhóm công trình nghiên cứu về KTTT và ảnh
hưởng của nó tới gia đình Việt Nam hiện nay cũng đã được đề cập ở các khía
4
cạnh: ảnh hưởng tới đạo đức, chức năng gia đình, cấu trúc gia đình…
- Luận văn thạc sỹ Chủ nghĩa xã hội khoa học của tác giả Trần Thị
Mây: Sự biến đổi của gia đình trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Tỉnh Hưng Yên hiện nay, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm
2105. Trong luận văn tác giả đã đề cập tới những lý luận chung về gia đình,
KTTT định hướng XHCN và những ảnh hưởng của nó tới chức năng gia đình
ở Việt Nam hiện nay. Tác giả đã làm rõ được sự biến đổi về hôn nhân, các
quan hệ gia đình, chức năng gia đình trong thời kì đất nước ta tiến hành phát
triển nền KTTT định hướng XHCN. Từ cơ sở lý luận chung, tác giả đã phân
tích sâu sắc những biến đổi của gia đình ở tỉnh Hưng Yên dưới tác động của
nền KTTT định hướng XHCN và đưa ra những giải pháp nhằm phát huy quá
trình biến đổi tích cực của gia đình trong nền KTTT.
- Luận văn thạc sỹ Triết học của tác giả Đoàn Thị Thu Hà: Tác động
của kinh tế thị trường đối với gia đình ở nước ta hiện nay, Trung tâm Đào tạo
Bồi dưỡng giảng viên Lý luận Chính trị, năm 2007. Trong luận văn tác giả đã
đề cập đến vấn đề gia đình và vai trò của kinh tế đối với gia đình Việt
Nam truyền thống; thực trạng biến đổi gia đình ở nước ta, nhất là trong
giai đoạn đổi mới đất nước cùng với xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội,
hội nhập quốc tế và nền KTTT đã có tác động mạnh mẽ, nhanh chóng, làm
biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ gia đình. Từ những căn cứ đó tác giả đã
phân tích hiện tượng khủng hoảng gia đình hiện đại ở Việt Nam hiện nay; và
đưa ra một số định hướng, lựa chọn những giá trị đạo đức tốt đẹp để xây dựng
gia đình văn hoá, dân chủ, tiến bộ, bền vững phù hợp với chuẩn mực đạo đức
và sự phát triển xã hội.
- Luận văn thạc sỹ của Cao Thị Phương Nhung: Gia đình với giáo
dục nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn, năm 2010. Luận văn đã trình bày vai trò của gia đình đối
với sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ (dưới 18 tuổi). Tác giả đã làm rõ
5
thực trạng giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ ở Thái Nguyên hiện nay, đề xuất
một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ ở
tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu về gia đình, về KTTT
và ảnh hưởng của nó tới gia đình Việt Nam hiện nay. Tôi nhận thấy, các tác
giả đã đề cập rất phong phú về những khía cạnh của gia đình, những ảnh
hưởng của kinh tế tới gia đình, trong đó chức năng giáo dục của gia đình đã
được các nhà nghiên cứu đề cập tới nhưng vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu
một cách hệ thống hơn. Giáo dục gia đình giữ vị trí rất quan trọng đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ, đặc biệt trong nền KTTT
nhiều biến động như hiện nay. Việc nghiên cứu tác động của KTTT đến chức
năng giáo dục gia đình ở Thái Nguyên vẫn còn khá khiêm tốn. Vì thế tôi đã
chọn đề tài nghiên cứu trên đây để tiếp tục làm rõ sự tác động của KTTT tới
chức năng giáo dục của gia đình ở Thái Nguyên hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về gia đình, chức năng giáo dục
gia đình, kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
- Làm rõ sự tác động của KTTT đến giáo dục gia đình ở Thái Nguyên,
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực và
hạn chế những tác động tiêu cực của KTTT tới chức năng giáo dục gia đình ở
Thái Nguyên hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, trình bày lý luận chung về gia đình, chức năng giáo dục gia
đình, kinh tế thị trường, kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Thứ hai, phân tích tác động của KTTT tới chức năng giáo dục gia
6
đình ở Thái Nguyên hiện nay theo hai hướng: tích cực và tiêu cực.
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực,
phát huy tác động tích cực của KTTT tới giáo dục gia đình ở Thái Nguyên
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tác động của kinh tế thị trường tới chức năng giáo dục gia đình
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu theo không gian: nghiên cứu tác động
của KTTT tới giáo dục gia đình ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Theo phạm vị thời gian: nghiên cứu sự tác động của KTTT tới giáo
dục gia đình từ năm 2000 tới năm 2014
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về KTTT, gia đình.
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của CNDVBC &
CNDVLS và sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phân tích, tổng hợp, hệ
thống hóa, khái quát hóa và sử dụng một số phương pháp xã hội học khác.
6. Cái mới của luận văn:
- Luận văn làm sáng tỏ những tác động của KTTT định hướng XHCN
đến chức năng giáo dục của gia đình ở Thái Nguyên hiện nay.
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực,
phát huy tác động tích cực của KTTT tới giáo dục gia đình ở Thái Nguyên.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đã góp phần nhận thức những vấn đề lý luận chung về gia
đình, giáo dục gia đình, KTTT, KTTT định hướng XHCN. Do đó có thể dùng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các môn học như Triết
7
học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, Tâm lý…
- Luận văn cung cấp cơ sở cho việc đề ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục gia đình trong nền KTTT ở Thái Nguyên hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
8
của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
NỘI DUNG
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về giáo dục gia đình, kinh tế thị
trƣờng và khái quát hoàn cảnh kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên hiện nay
1.1 Gia đình và giáo dục gia đình
1.1.1 Gia đình
Gia đình là nơi sản sinh nuôi dưỡng, định hướng phát triển nhân cách
cho mỗi con người. Nó chiếm giữ một vị trí quan trọng trong quá trình sinh
thành và phát triển cá nhân về mọi mặt. Đồng thời sự phát triển của mỗi gia
đình là nền tảng cơ bản cho sự tồn tại, và phát triển của mỗi quốc gia nói
riêng và của xã hội loài người nói chung. Gia đình được hình thành trong lịch
sử, vận động và biến đổi song song với sự biến đổi của xã hội. Trong từng
thời kì lịch sử khác nhau, gia đình lại có những quy mô, cấu trúc, chức năng
nổi bật riêng. Do đó gia đình luôn là một nội dung nghiên cứu của các nhà
khoa học dưới nhiều góc độ khác nhau như: sinh học, đạo đức, tâm lý, xã hội
học, triết học…Mỗi quan niệm về gia đình của các nhà nghiên cứu đều đã
phản ánh được những mặt, những khía cạnh khác nhau về gia đình.
Tác phẩm “Mẫu quyền” của Bacofen viết năm 1861 là một trong tác
phẩm đầu tiên nghiên cứu vấn đề gia đình. Tác phẩm đã đề cập tới vấn đề tạp
hôn là quan hệ tính giao hỗn tạp, đây là hình thức gia đình đầu tiên để duy trì
phát triển nòi giống và dẫn tới chế độ quần hôn. Bacofen cũng đề cập tới chế
độ mẫu quyền và sự chuyển giao sang chế độ hôn nhân cá thể, chế độ phụ
quyền. Theo Ph.Ăngghen hạn chế lớn nhất của Bacofen là cho rằng sự chuyển
biến trên là do tôn giáo, mà không thấy cơ sở kinh tế, phương thức sản xuất là
nguyên nhân dẫn đến bước nhảy quan trọng trong sự tiến hóa của nhân loại.
Nhà triết học Mooc gan trong tác phẩm “ Xã hội cổ đại” viết năm
1877 cũng đã đề cập tới khái niệm về gia đình. Ông cho rằng “Gia đình là một
yêu tố năng động; nó không bao giờ đứng nguyên ở một chỗ, mà chuyển từ
9
một hình thức thấp lên một hình thức cao khi xã hội phát triển từ một giai
đoạn thấp lên một giai đoạn cao. Trái lại, những hệ thống thân tộc thì thụ
động chỉ có trải qua những thời kì lâu dài những hệ thống đó mới phản ánh
được những tiến bộ do gia đình đạt được trong thời kì đó, và chỉ khi nào gia
đình đã hoàn toàn thay đổi thì những hệ thống mới hoàn toàn thay đổi” [37,
tr45]. Như vậy theo Moocgan, gia đình là một phạm trù lịch sử biến đổi theo
sự vận động và phát triển của xã hội từ thấp tới cao.
Vấn đề gia đình cũng được C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu sâu
trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”
viết năm 1884 và tác phẩm “ Hệ tư tưởng Đức” viết năm 1845-1846.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
Nhà nước” Ph.Ăngghen sau khi nghiên cứu gia đình của thị tộc da đỏ Irogoa
thì thấy rằng hình thức gia đình hiện tại là gia đình cặp đôi (đối ngẫu), nhưng
hệ thống thân tộc thì lại mâu thuẫn với hình thức gia đình. Hình thức gia đình
biến đổi nhanh trong khi hệ thống thân tộc thì ngưng đọng. Trong tác phẩm
này, Ph.Ăngghen cũng hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Moocgan khi cho
rằng gia đình là yếu tố năng động, không đứng yên một chỗ mà nó luôn vận
động và phát triển cùng với các yếu tố của xã hội.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ,
gia đình hình thành và phát triển gắn liền với quá trình sản xuất vật chất của
con người. Con người muốn tồn tại thì phải tiến hành sản xuất để phục vụ
những nhu cầu thiết yếu của mình như ăn, ở, đi lại…cùng với quá trình ấy con
người cũng bắt đầu xây dựng các mối quan hệ của mình với người khác như:
quan hệ chồng vợ, cha mẹ con cái… tạo nên gia đình. “Hàng ngày tái tạo ra
đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh
sôi nảy nở đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”
[36, tr41].
Xung quanh vấn đề về khái niệm gia đình còn có rất nhiều các quan
10
điểm của các nhà nghiên cứu xã hội học như: Auguste Comte, E.W Burgess,
H.J Locke, A.G Khavchep…Mỗi nhà nghiên cứu khi bàn tới khái niệm gia
đình đều thể hiện những khía cạnh khác nhau.
Auguste Comte là một trong những người sáng lập ra ngành xã hội
học cho rằng: “gia đình là một tập đoàn xã hội cơ bản và quan trọng mang
tính lịch sử trong quá trình phát triển của xã hội” [39, tr10]. Như vậy,
A.Comte cũng đồng ý với các nhà triết học khi cho rằng, gia đình là một yếu
tố năng động, hình thành và thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội. Ở mỗi
thời đại khác nhau, gia đình lại biểu hiện ra những quy mô, kết cấu, chức
năng vai trò nổi bật khác nhau.
E.W Burgess và H.J Locke trong cuốn “gia đình” cho rằng: “gia đình
là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng mối quan hệ hôn nhân, huyết
thống, và việc nhận nuôi con nuôi tạo thành một hệ đơn giản, tác động lẫn
nhau trong vai trò tương ứng của họ là người chồng, người vợ, người mẹ,
người cha, anh em và chị em tạo ra một nền văn hóa chung” [39, tr27]. Locke
cho rằng, gia đình được xây dựng trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống
hình thành các vị trí tương ứng trong gia đình tương tác lẫn nhau. Trong gia
đình, các thành viên cùng xây dựng và sử dụng một nền văn hóa.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Gia đình là một thiết chế xã
hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới thông qua hôn nhân để
thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa xã hội, tín ngưỡng. Khi gia
đình có con cái thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa
bằng quan hệ hôn nhân không cùng huyết thống, vừa bằng quan hệ huyết
thống (theo dòng mẹ hay theo dòng bố)” [55, tr64].
Trong cuốn “Gia đình học”, tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Qúy
cho rằng: “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với
nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái, các
mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ họ hàng. Đó là những liên
11
kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc
nhận con nuôi” [26, tr54]. Trong định nghĩa trên, các tác giả đã đề cập tới
gia đình như một thiết chế gắn kết con người thành một thể để tiến hành thực
hiện những chức năng cơ bản của gia đình: duy trì nòi giống, giáo dục con
cái. Mối liên kết giữa các thành viên trong gia đình được hình thành dựa trên
cơ sở huyết thống, hôn nhân, nhận con nuôi.
Tác giả Lê Thi thì cho gia đình là một khái niệm để chỉ một nhóm xã
hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống, nảy sinh từ quan
hệ hôn nhân và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại).
Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng, tuy
không cùng huyết thống. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về
trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm). Giữa họ có những điều
ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ (ghi rõ trong
luật hôn nhân và gia đình ở nước ta). Đồng thời trong gia đình có những quy
định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục
giữa các thành viên [Xem 53, tr42]
Ngoài ra còn có nhiều ý kiến, quan niệm về những mặt, những khía
cạnh cơ bản của gia đình của các nhà nghiên cứu khác. Trên cơ sở các quan
niệm về gia đình của các nhà khoa học, chúng ta có thể hiểu: gia đình là một
thiết chế xã hội, là một tổ chức quan trọng của đời sống các cá nhân, được
hình thành trên cơ sở liên kết giữa người và người bằng quan hệ hôn nhân,
huyết thống cùng chung sống và kinh tế để thực hiện các chức năng của nó,
được sự thừa nhận và bảo vệ của luật pháp. Ngoài ra nó còn bao gồm cả
những quan hệ phi huyết thống như: con nuôi, phi nam nữ.
Như vậy, gia đình tồn tại trên cơ sở liên kết giữa người với người
bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống giữa ông bà, cha mẹ, con cái,
anh chị em… được sự thừa nhận hợp pháp của pháp luật để cùng thực hiện
các chức năng của gia đình như: sinh con, làm kinh tế, nuôi dạy con cái, đảm
12
bảo tình cảm giưã các thành viên trong gia đình. Không chỉ thế, hiện nay pháp
luật còn chấp nhận cho kết hôn đồng giới giữa các cặp nam với nhau hay nữ
với nhau. Trong các gia đình này họ vẫn tiến hành thực hiện các chức năng
của gia đình. Nhưng chức năng sinh con đẻ cái được thay thế bằng việc nhận
con nuôi dưới sự bảo vệ của luật pháp.
1.1.2 Giáo dục gia đình
Gia đình được coi là một thiết chế xã hội cho nên trong gia đình tiến
hành nhiều chức năng mang tính xã hội. Những chức năng này phụ thuộc vào
tính chất của quan hệ sản xuất hiện có, quan hệ xã hội nói chung, trình độ
phát triển của văn hóa…, vì thế trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau những
chức năng của gia đình sẽ được cụ thể hóa để phù hợp với yêu cầu chung. Do
đó xoay quanh vấn đề chức năng gia đình cũng có nhiều ý kiến khác nhau của
các học giả trong và ngoài nước.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
Nhà nước” Ph.Ăngghen đã đề cập tới ba hình thức của gia đình là gia đình
Punaluan, cặp đôi, một vợ một chồng gắn với ba thời kì lịch sử là mông muội,
dã man và văn minh. Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau các hình thức gia đình
lại biểu hiện khác nhau về quy mô, kết cấu, chức năng. Thời kì mông muội
hình thức cổ xưa nhất của gia đình là chế độ quần hôn một trạng thái hôn
nhân của những nhóm người đàn ông và đàn bà, là ông bà, cha mẹ, con cái
đều có nghĩa vụ như vợ chồng. Cơ sở của hình thức gia đình chính là quan hệ
hôn nhân, cụ thể ở đây là quan hệ tính giao hỗn tạp. Trong gia đình lúc này
các thành viên cố kết lại với nhau để cùng tiến hành chức năng duy trì nòi
giống và làm kinh tế để đảm bảo sự tồn tại của con người.
Từ trạng thái quan hệ tính giao hỗn tạp mà gia đình đã hình thành và
vận động phát triển từ thấp tới cao, đi từ gia đình huyết tộc tới gia đình
Punaluan, gia đình cặp đôi, gia đình một vợ một chồng.
Hình thức gia đình đầu tiên là gia đình huyết tộc, nó dựa trên cơ sở
kết hôn của những người cùng thế hệ, loại bỏ đi hình thức tạp hôn của những
13
người khác thế hệ.
Hình thức gia đình tiếp theo là gia đình Punaluan là hình thức gia
đình tiến bộ hơn gia đình huyết tộc ở chỗ nó đã xóa bỏ được quan hệ tính giao
giữa những người cùng thế hệ
Hình thức thứ ba là gia đình cặp đôi, nó hình thành và tồn tại phát
triển từ giai đoạn cuối của thời kì mông muội dã man. Gia đình cặp đôi hình
thành trên cơ sở của gia đình Punaluan nhưng theo phương thức kết hôn từng
cặp, người đàn ông kết hôn với một người đàn bà, và người đàn ông có thể lấy
nhiều người đàn bà. Trong hình thức gia đình này, các thành viên trong gia
đình cùng cố kết lại để thực hiện chức năng duy trì nòi giống, kinh tế yêu cầu
những đứa con được thừa kế tài sản để lại.
Hình thức gia đình tiếp theo mà Ph.Ăngghen nói tới là gia đình một
vợ một chồng, nảy sinh từ gia đình cặp đôi vào giữa giai đoạn giữa và cao của
thời kì dã man. Gia đình này hình thành phát triển trên cơ sở kết hôn của một
người đàn ông và một người đàn bà nhưng nó được chặt chẽ hơn, lúc này
người đàn ông giữ vai trò thống trị tuyệt đối với người phụ nữ, còn người phụ
nữ thì không có quyền ly hôn đối với người đàn ông. Lúc này gia đình một vợ
một chồng trong chế độ tư hữu trở thành những đơn vị kinh tế của xã hội.
Như vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau, gia đình thực hiện các chức
năng chung của nó, trong đó nổi bật lên một số chức năng do yêu cầu của
kinh tế xã hội giai đoạn đó. Chức năng đầu tiên mà mỗi hình thức gia đình
đều tiến hành thực hiện là sản xuất để tồn tại và duy trì nòi giống.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác và Ph.Ăngghen có nêu ra
vấn đề sản xuất chính bản thân con người. Con người muốn tồn tại cần phải
tiến hành sản xuất để thỏa mãn nhu cầu cơ bản của mình. Đồng thời để duy trì
sự tồn tại của mình, loài người còn cần tiến hành sản xuất ra chính bản thân
con người để hình thành những quan hệ mới là vợ chồng, cha mẹ. Từ đó hình
thành gia đình với tư cách là một đơn vị xã hội tiến hành chức năng kinh tế và
14
duy trì nòi giống.
Ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả Thanh Lê người ta phân biệt chức
năng gia đình thành ba loại: tạo nòi giống, giáo dục, kinh tế [Xem 33, tr28]
Tác giả Lê Thi cho rằng chức năng của gia đình gồm: chức năng tái
sản xuất ra con người, làm kinh tế, giáo dục con cái, đảm bảo sự cân bằng
trạng thái tâm lý, thỏa mãn nhu cầu tình cảm của các thành viên chăm sóc sức
khỏe người già, trẻ em...
Bên cạnh đó còn có rất nhiều các quan điểm khác nhau khi đề cập tới
vấn đề chức năng gia đình tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử. Tuy vậy
trên cơ sở nghiên cứu về các quan niệm chức năng gia đình, và những hoạt
động của gia đình trong thực tiễn, có thể thấy gia đình có những chức năng
cơ bản sau.
Thứ nhất: Chức năng duy trì nòi giống
Chức năng tái sản sinh con người, được thực hiện trên bình diện sinh
học là sinh con duy trì giống nòi và nuôi dạy đứa trẻ trưởng thành.
Loài người muốn tồn tại và duy trì nòi giống của mình thì cần phải tiến
hành chức năng tái sản sinh ra con người. Gia đình với tư cách là một thiết
chế xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc sản sinh ra con người. Đây là
một trong những chức năng cơ bản và giữ vai trò hàng đầu của mỗi gia đình.
Nhu cầu sinh con để duy trì nòi giống trong mỗi gia đình là nhu cầu hết sức tự
nhiên và thiết yếu trong sự tồn tại của con người, gia đình và xã hội. Ngay
trong những giai đoạn đầu của lịch sử loài người, con người ta đã tiến hành
chức năng này để đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của mình. Dù thời kì này
việc thực hiện quan hệ tính giao là để thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản của
con người nhiều hơn là để phục vụ cho việc duy trì nòi giống thì chức năng
này cũng luôn nắm giữ vị trí hàng đầu trong một gia đình. Chính chức năng
tái sản sinh ra con người đã giúp cho nòi giống của mỗi gia đình được duy trì,
xã hội loài người được trường tồn cho tới ngày nay. Như vậy thực hiện công
15
việc sản sinh ra con người không chỉ là nhu cầu tự nhiên cơ bản của mỗi gia
đình mà còn cung cấp nguồn lực lao động cơ bản cho xã hội, đảm bảo sự tồn
tại và phát triển cho xã hội loài người.
Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư
hữu và của Nhà nước” đã thấy rằng do trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất còn thấp nên giai đoạn này diễn ra tình trạng quần hôn. Tất cả những
người đàn ông, đàn bà và con cái của họ đều có nghĩa vụ vợ chồng với nhau
trên cơ sở qun hệ tính giao hỗn tạp. Những đứa con được sinh ra trong gia
đình lại tiếp tục có quan hệ tính giao với ông bà, cha mẹ để sinh ra những đứa
trẻ duy trì nòi giống của gia đình ấy.
Vào giai đoạn cuối thời kì mông muội dã man, hình thức gia đình cặp
đôi xuất hiện do sự phát triển của sản xuất đạt tới trình độ cao. Trong gia đình
lúc này tiến hành kết hôn theo từng cặp giữa người đàn ông và người đàn bà.
Những đứa trẻ được sinh ra không chỉ có điều kiện thể chất tốt hơn so với
những đứa trẻ trong giai đoạn quần hôn, mà còn bắt đầu xuất hiện yêu cầu
những đứa trẻ được thừa hưởng tài sản của gia đình đảm bảo sự duy trì nòi
giống và kinh tế. Ph.Ăngghen tiếp tục nghiên cứu sự hình thành của gia đình
một vợ một chồng mở đầu cho thời kì văn minh. Gia đình này được hình
thành trên cơ sở kết hôn của người đàn ông và đàn bà nhưng nó chặt chẽ hơn
gia đình đối ngẫu là không được phép tùy ý li hôn. Điều này đảm bảo cho
những đứa con được sinh ra xác định được cha đẻ và thừa kế tài sản của
người cha.
Như vậy là dù ở trong hình thức gia đình nào, vấn đề sinh con để duy
trì nòi giống đều được đặt lên cao. Đặc biệt khi kinh tế ngày càng phát triển
thì càng đòi hỏi việc sản sinh con người để đảm bảo nguồn lao động, và việc
những đứa con trong gia đình được thừa hưởng tài sản của cha ông.
Trong giai đoạn hiện nay, quy mô của gia đình ngày càng thu hẹp lại,
những đứa con sinh ra ít hơn nhưng có điều kiện đảm bảo về chất lượng sống
16
giúp nâng cao thể lực, trí lực và đạo đức. Nhưng vấn đề đặt ra bên cạnh đó là
dân số đang ngày càng già đi, nguồn lao động giảm cả về số lượng và chất
lượng. Ngoài ra hiện nay mô hình gia đình phi nam nữ, kết hôn đồng giới
khiến cho chức năng sản sinh của gia đình đang bị thu hẹp lại. Tỉ lệ số gia
đình đồng giới, những hộ gia đình với tâm lý không muốn sinh con, mắc các
chứng bệnh vô sinh cũng tăng cao khiến cho chức năng sinh sản giảm sút
trong mỗi gia đình. Song chức năng sinh sản tái sản xuất ra con người vẫn là
một trong những chức năng cơ bản và quan trọng trong các chức năng của gia
đình. Một gia đình muốn duy trì huyết thống, phát triển kinh tế, cân bằng nhu
cầu tình cảm thì vấn đề tái sản xuất con người vẫn cần được tiến hành.
Thứ hai: Chức năng kinh tế
Chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng đối với
gia đình trong sự tồn tại và phát triển của mình. C.Mác và Ph.Ăngghen khi
nghiên cứu về con người đã nhận định rằng con người muốn tồn tại thì trước
tiên phải được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản như: ăn, ở, mặc… rồi mới có
thể tiến tới làm chính trị, tôn giáo, nghệ thuật…và để có những tiền đề vật
chất ấy, thì chỉ có thông qua những hoạt động xã hội để tạo ra. Mà chủ yếu là
thông qua hoạt động sản xuất vật chất thì con người mới tạo ra của cải vật
chất để nuôi sống mình. Đồng thời qua đó con người sẽ tác động vào giới tự
nhiên để phục vụ mục đích của bản thân, cải tạo và phát triển giới tự nhiên.
Con người cần được thoả mãn các tiền đề vật chất để tồn tại, nhưng sự thoả
mãn ấy không phải mang tính bản năng như loài vật “ Sản xuất ra những tư
liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời
sống vật chất của mình” [36, tr29]. Thêm vào đó hoạt động sản xuất vật chất
là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, sáng tạo ra con
người “lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào
bất kì hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới
cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống
17
của con người” [38, tr73]. Để đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân, con người
phải tiến hành sản xuất vật chất. Đồng thời với quá trình thỏa mãn nhu cầu
của bản thân, sản xuất vật chất còn là một yếu tố đóng vai trò quan trọng
trong việc tách con người ra khỏi thế giới loài vật, giúp con người thỏa mãn
các nhu cầu tự nhiên một cách có ý thức. Trong quá trình lao động, con người
không thể tiến hành một mình mà cần hoạt động theo những nhóm khác
nhau. Chính lúc này đã thiết lập nên những mối quan hệ người khác nhau
trong lao động, gia đình vì vậy cũng được coi là một nhóm lao động trong
xã hội. Ngay từ khi gia đình hình thành, việc sinh con cái nhiều không chỉ
để duy trì nòi giống mà còn để tạo ra nguồn lao động để phục vụ cho nhu
cầu sản xuất vật chất.
Như vậy chức năng kinh tế luôn chiếm một vị trí quan trọng trong
xây dựng và phát triển gia đình. Để thỏa mãn các nhu cầu sinh lý cơ bản của
con người như: ăn uống, ở…cùng với đó là việc thỏa mãn các nhu cầu tâm lý
thì con người cần tiến hành hoạt động kinh tế. Thực tế cho thấy, khi kinh tế
gia đình không đủ đảm bảo các nhu cầu tâm sinh lý của con người sẽ dễ gây
ra sự đổ vỡ trong gia đình. Song bên cạnh đó có những hộ gia đình chỉ mải
tập trung chăm lo kinh tế mà lơ là đi các chức năng khác trong gia đình như:
tái sản sinh con người, giáo dục con cái, thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý của các
thành viên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đạo đức và hạnh
phúc gia đình giảm sút. Do vậy vấn đề phát triển kinh tế gắn với thực hiện hài
hòa các chức năng khác chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống của
mỗi gia đình.
Thứ ba: Chức năng cân bằng tình cảm giữa các thành viên trong
gia đình
Gia đình là cái nôi thân yêu để nuôi dưỡng bù đắp những thiếu hụt
tình cảm của con người. Đây được coi là một trong những chức năng có tính
văn hóa xã hội chiếm vị trí quan trọng trong xây dựng hạnh phúc gia đình.
18
Chỉ khi nào mỗi thành viên trong gia đình được thỏa mãn đầy đủ về nhu cầu
tâm sinh lý mới tạo ra sự hạnh phúc và bền vững của gia đình. Hơn nữa mỗi
một con người lại đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý khác nhau. Do vậy, để
đảm bảo sự cân bằng trong tâm sinh lý của con người đòi hỏi trong gia đình
phải có sự điều chỉnh một cách hợp lý để phù hợp với giới tính, lứa tuổi, tính
cách. Những căng thẳng trong quá trình sống bên ngoài gia đình như trong
các mối quan hệ xã hội, công việc…chỉ có thể được xoa dịu trong gia đình.
Chính sự yêu thương ruột thịt, cảm thông, chia sẻ chân thành, việc đáp ứng
các nhu cầu tâm lý, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình làm cho mỗi
thành viên trở nên hạnh phúc hơn trong cuộc sống. Gia đình là môi trường tồn
tại liên tục lâu dài đối với quá trình sinh và trưởng thành của một con người.
Đây cũng là nơi diễn ra sự tiếp xúc tình cảm thường xuyên, trực tiếp và lâu
dài của một con người.
Sự yêu thương, quan tâm, động viên của các thành viên trong gia đình
là động lực rất lớn cho trẻ trưởng thành và vững vàng trong mọi hoàn cảnh
khó khăn. Ngược lại với những đứa trẻ sống trong gia đình bị khiếm khuyết,
bị những mặc cảm tâm lý do bố mẹ chia tay, bố mẹ sống không hạnh phúc,
bạo lực gia đình, cha mẹ mải làm kinh tế quên trách nhiệm nuôi dạy con
cái….khiến trẻ bị thiếu hụt về mặt tình cảm, ảnh hưởng xấu từ những khuynh
hướng bạo lực của bố mẹ không thể trưởng thành lành mạnh, dễ vấp ngã
trong cuộc sống. Do vậy mà môi trường tâm lý trong gia đình chiếm một vị trí
hết sức quan trọng trong việc phát triển tính cách, năng lực, tình cảm cá nhân,
hòa nhập với cộng đồng để giúp hình thành và phát triển nhân cách con người
hoàn chỉnh.
Gia đình với những chức năng đặc thù của nó giữ một vị trí quan
trọng trong quá trình xây dựng và định hướng nhân cách cho mỗi con người.
Mỗi chức năng của gia đình đều có những vị trí, vai trò riêng nhưng đều có
tác động qua lại hỗ trợ nhau trong xây dựng gia đình. Trong mỗi giai đoạn
19
lịch sử khác nhau, các chức năng lại giữ vị trí và có nội dung thực hiện khác
nhau để phù hợp với điều kiện xã hội. Thông qua việc thực hiện các chức
năng của mình gia đình mới có thể tồn tại và phát triển, đồng thời đóng góp
vào sự phát triển chung của xã hội.
Thứ tƣ: Chức năng giáo dục
Giáo dục là quá trình giúp đối tượng học tập lĩnh hội được các tri
thức, kinh nghiệm, kĩ năng và chuẩn mực đạo đức cơ bản trong gia đình và xã
hội để trẻ có thể tồn tại, phát triển. Chức năng giáo dục có vai trò quan trọng
trong việc hình thành và phát triển nhân cách, tri thức, kỹ năng lao động, thể
chất của một đứa trẻ. Trẻ lớn lên không thể tự mình lĩnh hội tất cả các kiến
thức và kĩ năng sống cần thiết nếu không có sự định hướng, truyền thụ của
người lớn. Thực tế cho thấy những đứa trẻ tự mình trưởng thành không có sự
dạy bảo từ phía gia đình thường không thể phát triển hoàn thiện về mọi mặt.
Do vậy giáo dục từ phía gia đình đối với quá trình phát triển của trẻ từ lúc
sinh ra đến trưởng thành chiếm một vị trí rất quan trọng.
Có thể hiểu giáo dục gia đình là quá trình chủ thể (ông bà, cha mẹ,
anh chị…) thông qua các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức,
kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần
thiết cho đối tượng giáo dục (cháu, con cái, em…) giúp hình thành và phát
triển năng lực phẩm chất nhân cách phù hợp với những mục tiêu đặt ra. Chức
năng này của gia đình được thực hiện trên cả bình diện thể lực, trí lực, đạo
đức cho trẻ.
Về chức năng giáo dục đạo đức:
Giáo dục đạo đức của gia đình là quá trình chủ thể giáo dục (ông bà,
cha mẹ, anh chị..) sử dụng biện pháp giáo dục mang nét đặc trưng riêng có
của gia đình là tình cảm với nội dụng phong phú tác động đến đối tượng giáo
dục (cháu, con, em), với mục đích nhằm xây dựng ý thức đạo đức, bồi dưỡng
tình cảm đạo đức, rèn luyện thói quen và hành vi đạo đức góp phần định
20
hướng phát triển nhân cách của trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành.
Ý thức đạo đức là một hình thái ý thức quan trọng của xã hội bao
gồm toàn bộ những “quan niệm, tri thức, và các trạng thái xúc cảm tâm lý
chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện ác, lương tâm, trách
nhiệm, hạnh phúc, công bằng…và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh
hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã
hội” [42, tr374]. Ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức ra đời từ
sớm trong lịch sử, ngay từ xã hội nguyên thủy nó đã chiếm giữ một vị trí quan
trọng trong đời sống của mỗi con người, cộng đồng và xã hội. Do vậy mà việc
giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình là một nội dung hết sức quan
trọng nhằm xây dựng ý thức hệ, hình thành thói quen, bồi dưỡng tình cảm cho
lớp trẻ. Trước đây trong gia đình truyền thống Việt Nam, xuất phát từ cơ sở
thuần nông nghiệp, cùng với truyền thống gia giáo, gia phong, gia pháp, gia lễ
đã giúp cho việc giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình duy trì và phát
triển bền vững. Ngày nay, khi nước ta tiến hành CNH-HĐH, hội nhập quốc tế,
phát triển KTTT giáo dục đạo đức gia đình đứng trước những thách thức và
cả thuận lợi. Một mặt nền KTTT đang tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để các
bậc phụ huynh giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ phù hợp với sự phát triển của
kinh tế xã hội, thời đại; đặc biệt trước sự tác động của nền KTTT dẫn tới sự
suy thoái đạo đức của một bộ phận người trong xã hội khiến các bậc phụ
huynh ngày càng chú ý đầu tư giáo dục đạo đức cho con cái nhiều hơn. Như
vậy với nhịp sống của nền KTTT hết sức sôi động nhưng mỗi gia đình vẫn coi
trọng giáo dục đạo đức cho trẻ. Điều này cho thấy giáo dục của mỗi gia đình
vẫn kế thừa và phát huy các truyền thống đạo đức của thế hệ cha ông như:
chữ hiếu, lễ nghĩa, các phẩm chất đạo đức, cách cư xử trong các mối quan hệ
xã hội, gia đình, bạn bè... Nhưng so với gia đình truyền thống, nội dung giáo
dục đạo đức hiện nay ở mỗi gia đình hiện đại có một số nét biến đổi và bổ
sung để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của thời kì mới. Loại bỏ đi tư
21
tưởng trọng nam khinh nữ cùng với sự dân chủ hóa trong các mối quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình, xã hội, bạn bè…đã được mở rộng hơn
trước. Giaó dục sự tự lập, tôn trọng nhu cầu, nguyện vọng, tâm tư tình cảm,
lợi ích của các thành viên đã được xã hội và gia đình đề cao. Sự quan tâm
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ trong gia đình một mặt là do nhận thức ngày
càng cao của các bậc phụ huynh trong việc bảo lưu các giá trị truyền thống
đạo đức của cha ông cũng như vai trò quan trọng của cha mẹ trọng giáo dục
con cái thành người có nhân cách hoàn chỉnh. Thêm vào đó sự phát triển của
nền KTTT, hội nhập quốc tế còn tồn tại những mặt trái của nó như tạo ra: lối
sống thực dụng chạy theo đồng tiền, các tệ nạn xã hội…làm suy thoái đạo đức
của con người, đặc biệt là lớp trẻ hiện nay. Do vậy, giáo đục đạo đức cho lớp
trẻ từ phía gia đình chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng ý
thức đạo đức, bồi dưỡng tình thương rèn luyện thói quen và hành vi đạo đức
tạo ra những phẩm chất quan trọng của con người.
Về chức năng giáo dục tri thức, kỹ năng lao động:
Giáo dục tri thức, kỹ năng lao động của gia đình là quá trình chủ thể
giáo dục (ông bà, cha mẹ, anh chị…) sử dụng các biện pháp giáo dục tác động
tới đối tượng giáo dục (cháu, con, em,…) nhằm truyền đạt những nội dung,
kỹ năng lao động cho trẻ, giúp trẻ có tình cảm, niềm tin, hiểu biết và khẳ năng
tiến hành lao động trong các lĩnh vực.
Những kiến thức về mọi mặt, kỹ năng lao động chiếm một vị trí quan
trọng giúp trẻ trở thành người lao động hoàn thiện góp phần hình thành nhân
cách, phát triển những tình cảm đạo đức và niềm tin cho trẻ để đáp ứng được
yêu cầu chung của xã hội. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế, cùng với quá trình CNH-HĐH đất nước, yêu cầu đặt ra lúc này là cần có
đội ngũ lao động trẻ có tri thức và kỹ năng tốt để nắm bắt và phát triển được
những thành tựu trong khoa học kỹ thuật của nhân loại. Do tầm quan trọng
của vấn đề giáo dục tri thức và kỹ năng lao động cho trẻ mà các bậc cha mẹ
22
trong mỗi gia đình đều quan tâm và tạo điều kiện cho con em học hành tốt
nhất. Trong giáo dục các tri thức, kỹ năng lao động cho trẻ trước hết là giáo
dục ý thức, tình yêu lao động, trân trọng kết quả lao động, lên án những thói
hư như lười lao động, ỷ lại, gian dối trong lao động. Trong đó phải đặc biệt
chú ý đến tình yêu lao động, bởi vì nhờ có nó mới tạo ra sự hăng say, niềm
vui thú giúp con người làm việc tốt. Bên cạnh đó cũng cần giáo dục cho trẻ
biết hoàn thành trách nhiệm trong mọi công việc từ sinh hoạt cá nhân, học
tập, vui chơi…một cách tự giác, sáng tạo và có hiệu quả thực sự. Điều đó đòi
hỏi phải giáo dục cả kỹ năng cũng như tính kỷ luật lao động cho con cái, đánh
giá lao động cũng là một yếu tố quan trọng của quá trình giáo dục.
Giáo dục tri thức, kỹ năng lao động cho trẻ em trong gia đình bao
gồm giáo dục tình cảm, lòng say mê, khả năng, kĩ năng và tính kỷ luật lao
động trong lao động, mà thiếu nó tài năng chân chính của trẻ không có cơ hội
nở rộ trong tương lai. Trong gia đình hiện đại, việc giáo dục tính tự lập, chủ
động sáng tạo trong học tập, rèn luyện trong lập thân, lập nghiệp sau này là
việc thường xuyên và có chủ đích. Thế hệ trẻ không chỉ là thành viên trong
gia đình mà còn là thành viên của xã hội, không chỉ có trách nhiệm với gia
đình mà còn có trách nhiệm với xã hội. Cho dù đứa trẻ ở vị trí nào cũng cần
sớm được giáo dục và giáo dục có hệ thống, có khoa học về tính tự lập.
Về chức năng giáo dục thể chất và thẩm mỹ:
Giáo dục thể chất là quá trình chủ thể giáo dục (ông bà, cha mẹ, anh
chị…) sử dụng các biện pháp giáo dục của mình tác động vào đối tượng
giáo dục ( cháu, con, em…), nhằm mục đích giáo dục trẻ phát triển toàn
diện các tố chất thể lực và giới tính, trên cơ sở đó phát triển các năng lực
thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, cung cấp những
hiểu biết và kỹ năng vận động cơ bản để chuẩn bị cho con cái bước vào
cuộc sống và lao động.
Ngoài yếu tố về đạo đức, tri thức kinh nghiệm lao động còn cần cả yếu
23
tố thể chất tốt mới tạo ra một con người hoàn thiện cả về thể lực và trí lực.
Giaó dục thể chất cho con cái trước hết các bậc cha mẹ phải quan tâm đến sự
ăn uống khoa học, tập thói quen cho trẻ vệ sinh thân thể thường xuyên để cho
cơ thể sạch sẽ. Động viên khuyến khích trẻ thực hiện chế độ thể dục buổi
sáng, tham gia các hoạt động thể thao phù hợp với sở thích, nhu cầu, nhằm
phát triển năng khiếu cá nhân, rèn luyện bản thân nhằm tăng cường sức khỏe.
Giáo dục con em ý thức phòng, chữa bệnh nhằm giữ gìn bảo vệ sức khỏe.
Việc giáo dục thể chất cho trẻ cũng gắn liền với việc tổ chức vui chơi giải trí,
nghỉ ngơi, tham quan du lịch theo điều kiện hoàn cảnh của từng gia đình.
Đồng thời với đó là giáo dục cho con cái về giới tính giúp trẻ có thái độ nhìn
nhận đúng đắn về hai giới, những kiến thức cơ bản về cơ thể, sinh lý, tình
dục, cơ quan sinh sản, quá trình sinh sản, sức khỏe sinh sản, những nhu cầu
sinh lý phù hợp với chuẩn mực xã hội. Giáo dục giới tính cần có nội dung phù
hợp với từng lứa tuổi, giai đoạn phát triển, mức độ hiểu biết của trẻ, cũng như
cần phải đảm bảo tính kế tục của giáo dục giới tính phù hợp với những chuẩn
mực xã hội của thời đại. Trong xã hội hiện đại việc giáo dục giới tính cho trẻ
cần thiết phải được tiến hành sớm, thường xuyên hơn và đồng bộ. Điều đó
cũng có nghĩa là cha mẹ phải là những người có trách nhiệm đầu tiên trong
việc giáo dục giới tính cho trẻ. Do vậy vấn đề giáo dục giới tính chỉ có thể
được thực hiện hiệu quả khi các bậc cha mẹ có kiến thức đầy đủ, đúng đắn về
giới tính, hiểu đầy đủ ý nghĩa của hôn nhân và hạnh phúc gia đình với tính
phức tạp của cuộc sống xã hội.
Giáo dục thẩm mỹ là quá trình chủ thể giáo dục (ông bà, cha mẹ, anh
chị…) tác động vào đối tượng nhằm giúp lớp trẻ có những hiểu biết đúng đắn
về hiện thực, nghệ thuật, tạo khả năng sáng tạo ra cái đẹp trong lao động và
cuộc sống góp phần hình thành nhân cách theo hướng tích cực.
Giáo dục thẩm mỹ ở trong gia đình, trước hết là quan tâm giáo dục
những hành vi trong nếp sống lịch sự, lễ phép cho trẻ có thể ăn, nói, mặc, cư
24
xử đẹp, văn minh. Tất cả những hành vi đó là trình độ thẩm mỹ văn hóa cần
thiết phải được giáo dục từ trong gia đình. Ngoài ra, tùy hoàn cảnh gia đình
mà các bậc cha mẹ lựa chọn phương tiện phù hợp giúp các em phát triển
những năng khiếu thẩm mỹ chuyên biệt về ca nhạc, hội họa, điêu khắc... làm
cho thẩm mỹ nhân sinh ngày càng thêm phong phú.
Phương pháp giáo dục trong gia đình bao gồm: phương pháp nêu
gương kết hợp với khuyên bảo, thuyết phục, tâm sự, rèn luyện thói quen, răn
đe nghiêm khắc, cổ vũ khích lệ, uy quyền của cha mẹ…để có thể đạt được
mục tiêu trong giáo dục.
Thứ nhất: phương pháp giáo dục trong gia đình chủ yếu được thực
hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, tổ chức các hoạt động
cho con cái dựa trên sự nêu gương, gương mẫu cho con. Cha mẹ là người trẻ
tiếp xúc đầu tiên và lâu dài nhất trong quá trình trưởng thành do vậy hành
động đầu tiên của trẻ thường là bắt chước theo hành động của cha mẹ, các
thành viên khác trong gia đình. Chính vì vậy muốn giáo dục con cái trở thành
người có đạo đức, các bậc cha mẹ phải là tấm gương tốt từ: lời ăn tiếng nói,
cách cư xử giao tiếp, phẩm chất đạo đức tốt…để trẻ noi theo. Sự gương mẫu
của cha mẹ trong hành động có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến nhận thức,
tình cảm, hành động của trẻ hơn các phương pháp khác.
Thứ hai: phương pháp khuyên bảo thuyết phục, tâm sự là các bậc
phụ huynh sử dụng những kiến thức của mình truyền đạt lại cho trẻ, giải thích
phân tích cho trẻ giúp trẻ biết đúng sai trong nhận thức, hành động, hiểu được
ý nghĩa cá nhân, ý nghĩa xã hội, sự cần thiết phải thực hiện hành vi đạo đức
trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy việc phân tích, giải thích khuyên bảo của
cha mẹ hàng ngày đối với trẻ chính là để định hướng nhận thức cho trẻ giúp
trẻ hiểu một cách thấu đáo, sâu sắc cái lợi, cái hại, có lý, có tình những việc
cần làm, những việc nên tránh, thúc đẩy hành vi tốt đẹp ở trẻ trong gia đình,
25
tập thể và xã hội.
Thứ ba: phương pháp cổ vũ khích lệ là hình thức thể hiện sự đồng
tình, nhận xét tốt của các bậc phụ huynh về sự cố gắng và thành tích trẻ đạt
được trong nhận thức và hành động. Mục đích của khen thưởng là luôn luôn
đòi hỏi trẻ biết cố gắng, nỗ lực bản thân hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ,
trách nhiệm của mình. Khen thưởng thường giúp cho trẻ cảm thấy hài lòng,
phấn khích, tin tưởng và tự hào vào hành động của bản thân và mong muốn
tiếp tục thực hiện những hành vi đó. Do vậy các bậc phụ huynh trong quá
trình giáo dục trẻ cần thực hiện phương pháp khen thưởng để động viên,
khích lệ trẻ duy trì và phát triển những thành tích đã đạt được, nhưng cần
tránh việc khen thưởng quá dễ dãi không đúng tạo nên tâm lý thỏa mãn kiêu
ngạo, tự mãn ở trẻ.
Thứ tƣ: phương pháp răn đe nghiêm khắc từ uy quyền cha mẹ là thể
hiện sự không đồng tình, nhận xét chê trách của cha mẹ đối với nhận thức và
hành động của trẻ, cao hơn nữa là sử dụng những hình thức trách phạt trẻ như:
cấm trẻ hành động, roi vọt của cha mẹ…qua đó nhằm uốn nắn điều chỉnh
những hành động sai của trẻ. Phương pháp này nhằm giúp trẻ nhận thức được
hành động của mình là sai không được đồng tình, cùng với đòn roi của cha
mẹ tạo ra tâm lý sợ hãi khiến trẻ không thực hiện lại hành động sai. Phương
pháp răn đe sử dụng uy quyền của cha mẹ trong giáo dục là cần thiết, đặc biệt
trong trường hợp khuyên răn trẻ không được, trẻ ương bướng hay cố tình làm
sai. Tuy vậy cha mẹ cũng cần thực hiện phương pháp này một cách phù hợp,
tránh tình trạng thực hiện trong cơn tức giận rồi trút mọi bực tức lên con cái
gây ra tâm lý sợ hãi, phản kháng ngầm nơi trẻ.
Tính chất của giáo dục gia đình gồm: tính toàn diện, cụ thể, cá biệt
của từng gia đình. Giáo dục gia đình mang tính toàn diện vì giáo dục của gia
đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất của con người.
Tính cụ thể của giáo dục gia đình được thể hiện ở chỗ giáo dục không mang
26
tính chung chung cho nhóm đối tượng giáo dục mà tập trung vào mỗi cá nhân
cụ thể nhằm xây dựng và phát triển năng lực con người cụ thể. Giáo dục gia
đình mang tính cá biệt vì đối tượng giáo dục là những cá nhân riêng biệt đặc
thù với tố chất, tính cách, thể chất…không giống nhau nên phương pháp và
nội dung giáo dục có thể được điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng giáo dục.
Giáo dục gia đình là một sự nghiệp diễn ra liên tục trong suốt cuộc
đời mỗi con người do đó nó tác động một cách kiên trì, thường xuyên, tổng
thể và sâu sắc đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, quan niệm, thái
độ, lối sống, cách ứng xử, hành vi đạo đức, tính cách, năng lực, công việc, sự
nghiệp của mỗi con người. Do đó giáo dục gia đình giữ một vai trò quan trọng
trong quá trình đào tạo ra con người có đủ đức và tài cho xã hội. Hiện nay nội
dung giáo dục của gia đình chưa được biên soạn và chỉnh sửa kỹ lưỡng như
giáo dục trong nhà trường, các cơ sở giáo dục khác mà chủ yếu dựa vào trình
độ văn hóa, nề nếp gia đình để dạy dỗ con cái. Nhưng giáo dục gia đình lại có
nội dung, phương pháp giáo dục hết sức phong phú để phù hợp với từng đối
tượng.
1.2 Kinh tế thị trƣờng và kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam
1.2.1 Kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển sản xuất trong đời sống xã hội của nhân loại đã và
đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế với trình độ phát triển lực lượng sản
xuất và phân công lao động xã hội khác nhau là nền kinh tế tự nhiên và
KTHH mà ở giai đoạn cao là KTTT. Nền kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh
tế đầu tiên của nhân loại mà các hình thức sinh hoạt kinh tế còn ở trình độ
thấp. Lúc này con người sử dụng những thứ có sẵn trong tự nhiên hoặc lao
động để làm ra những vật phẩm đảm bảo cho sự tồn tại của mình. Nền kinh tế
bị bó hẹp trong mối quan hệ tuần hoàn liên tục giữa con người với tự nhiên,
còn hoạt động kinh tế gắn chủ yếu với nền kinh tế nông nghiệp ở trình độ sản
27
xuất thủ công kém phát triển và lạc hậu mang tính tự cung tự cấp. Nền kinh tế
này tồn tại trong một thời gian dài ở các xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến. Theo yêu cầu từ sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất
và phân công lao động, quan hệ trao đổi hàng hóa dần xuất hiện phá vỡ nền
kinh tế tự nhiên khép kín để chuyển sang nền KTHH.
Nền KTHH hình thành từ nền KTHH giản đơn ra đời từ sau khi chế
độ CSNT tan rã, bắt đầu chế độ CHNL với sự phát triển của lực lượng sản
xuất đã tạo ra bước phát triển trong năng suất lao động. Sản phẩm làm ra ngày
càng dư thừa là cơ sở cho sự xuất hiện chế độ tư hữu. Cùng với sự xác lập của
chế độ tư hữu về sản phẩm lao động làm của cải riêng, con người còn bắt đầu
tiến hành trao đổi sản phẩm với nhau do sự phân công chuyên môn hóa lao
động của thị trường sơ khai đưa lại. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, vào
cuối xã hội phong kiến đầu CNTB, KTHH mới được xác lập rõ ràng. Đây là
nền kinh tế được xây dựng với mục tiêu sản xuất sản phẩm để trao đổi trên thị
trường. Trong nền KTHH những vấn đề như sản xuất cái gì, sản xuất cho ai,
sản xuất như thế nào được đặt ra và đề cao.
KTTT là giai đoạn phát triển của KTHH vì vậy bản thân khái niệm
KTTT cũng được đặt trong tương quan mối quan hệ với KTHH. Theo tác giả
Nguyễn Cúc trong cuốn "Kinh tế thị trường định hướng XHCN" đã nêu khái
niệm KTTT là phản ánh trạng thái tồn tại, chuyển động của nền kinh tế theo
cơ chế thị trường. Trong đó tất cả các yếu tố về sản xuất như thế nào, sản xuất
cho ai, khối lượng bao nhiêu, phân phối trao đổi ra sao đều được quyết định
thông qua thị trường. Như vậy thì KTTT thực chất không phải phương thức
sản xuất mà nó là cách thức tổ chức nền kinh tế để đạt được hiệu quả cao
trong hoạt động tổ chức, sử dụng, phân công bố trí nguồn lực.
Trong nền KTTT có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: tất cả các hoạt động sản xuất và kinh doanh như: sản xuất
cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, giá cả đều phụ thuộc vào yêu cầu
28
của thị trường. Thị trường là nơi diễn ra sự trao đổi mua bán giữa người sản
xuất với tiêu dùng; nơi thực hiện các quy luật như cung cầu, giá trị, lưu thông,
cạnh tranh.
Thứ hai: trong nền KTTT các chủ thể hoạt động độc lập trên các lĩnh
vực sở hữu, sản xuất, buôn bán. Họ có thể tự quyết định trong vấn đề sản xuất
cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất thế nào, lưu thông, phân phối hàng hóa với giá
cả, số lượng ra sao dựa trên sự tác động của yêu tố thị trường.
Thứ ba: trong nền KTTT tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những
hoạt động vừa tự do cạnh tranh nhau vừa hợp tác lẫn nhau theo sự tác động
của yếu tố thị trường. Nên cần có sự quản lý và điều tiết từ phía Nhà nước
nhằm hạn chế thị trường tự phát, sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các
thành phần kinh tế, những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc dân, chính trị,
văn hóa, môi trường…
Thứ tƣ: KTTT đã trải qua những giai đoạn phát triển như sau
Giai đoạn đầu chuyển từ nền KTHH giản đơn sang nền kinh tế thị
trường, được gọi là KTTT sơ khai dã man.
Giai đoạn thứ hai là thời kì phát triển của nền KTTT tự do với đặc
trưng chủ yếu là toàn bộ hoạt động kinh tế diễn ra một cách tự do mà không
có sự can thiệp của Nhà nước.
Giai đoạn cuối là thời kì KTTT hiện đại với sự can thiệp của Nhà
nước vào nền KTTT và tiến hành mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Sự
can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế bằng cách xây dựng các hình thức sở
hữu của Nhà nước, các chủ trương chính sách trong phát triển kinh tế, sử
dụng các công cụ kinh tế như tiền tệ, tài chính, tín dụng…để điều chỉnh nền
kinh tế nhằm đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Thứ năm: nền KTTT đang có cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực
đến tình hình kinh tế, chính trị văn hóa đến các nước như sau
Về mặt tích cực: nền KTTT tự động điều tiết nền kinh tế một cách
29
linh hoạt. Chính điều đó làm cho trong quá trình sản xuất, người chủ kinh tế
luôn đổi mới khoa học kỹ thuật, công nghệ quản lý, mục tiêu sản xuất, giá
cả…đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, sản xuất lưu thông hàng hóa được
thuận lợi, giải quyết tốt các vấn đề phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, mức
sống của người dân tăng cao.
Về mặt tiêu cực: trong thị trường luôn chứa đựng yếu tố tự phát và
bất ổn do người chủ kinh tế có thể vì lợi nhuận mà bất chấp mọi thứ để hoạt
động kinh doanh các mặt hàng phi pháp gây ảnh hưởng xấu đến đời sống
người dân, chính trị nước nhà. Hàng loạt các hệ lụy kéo theo sau những tranh
chấp kinh tế, những hoạt động kinh tế phi pháp là môi trường bị tàn phá nặng,
các doanh nghiệp nhỏ bị phá sản, nạn thất nghiệp, hố sâu giàu nghèo gia tăng,
các tệ nạn xã hội tăng cao, giáo dục con người giảm sút, những hoạt động
kinh tế trốn thuế làm hụt ngân sách Nhà nước, thực hiện phân phối theo tiến
bộ và công bằng xã hội khó có thể thực hiện tốt. Như vậy bên cạnh những tác
động tích cực của nền KTTT còn tồn tại cả những yếu kém, những tác động
tiêu cực đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi trường…đòi
hỏi cần có sự quản lý chặt chẽ và hợp lý từ phía Nhà nước bằng các văn bản
pháp luật, chính sách kinh tế.
1.2.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Việt Nam tiến hành phát triển nền KTTT có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN là một sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp với xu
thế khách quan của thời đại. Đây là sự tiếp thu các thành tựu của nhân loại đã
đạt được, đồng thời phát huy các giá trị tích cực của CNXH. KTTT định
hướng XHCN không phải sự kết hợp chủ quan, thiếu tính logic giữa KTTT
với chủ nghĩa xã hội mà đó là kết quả của sự nhận thức đúng đắn các quy luật
khách quan tất yếu của thời đại; sự tính toán có khoa học từ những kinh
nghiệm mà các nước trên thế giới đã đạt được trong quá trình xây dựng nền
KTTT. Nhằm tìm ra cho đất nước một mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện
30
kinh tế, chính trị, văn hóa…đồng thời phù hợp với xu thế đang phát triển của
thời đại để phát triển kinh tế đưa nước ta tham gia vào hội nhập quốc tế. Nhận
thấy tầm quan trọng của việc xác định mô hình kinh tế phù hợp với thực tiễn
phát triển đất nước, vào năm 1986 Đảng tiến hành đổi mới chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền KTHH nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Thực
hiện phát triển nền KTTT định hướng XHCN tiếp tục được Đảng khẳng định
rõ tại đại hội IX: chủ trương xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng
XHCN. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bản chất của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là một nền
kinh tế mới trong lịch sử phát triển KTTT. Nó vừa có được những đặc điểm
chung của nền KTTT đồng thời có cả những yêu cầu đặc thù của Việt Nam.
Nó vừa tuân theo những quy luật của KTTT, vừa chịu sự tác động của các
nguyên tắc và bản chất của CNXH. Đây là kiểu tổ chức kinh tế có quá trình đi
lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn thấp. Nền kinh tế cần hoạt
động để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn
minh. Nó là một nền kinh tế mà tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhưng trong
đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều hoạt
động theo khuôn khổ luật pháp của nhà nước theo định hướng XHCN nhằm
phát huy những mặt tích cực của nền KTTT, vừa hạn chế những tác động tiêu
cực của KTTT tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho quá trình xây dựng CNXH.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế
mang tính chất chung của một nền kinh tế thị trường nhưng lại có tính đặc
thù là dựa trên những nguyên tắc và bản chất, định hướng của xã hội chủ
nghĩa. Những nguyên tắc và tính định hướng của nền KTTT ở nước ta đã
được xác định rõ như sau “Nền KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế trong
đó có các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành KTTT được tự giác tạo
31
lập và sử dụng để giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện đời
sống của nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; từng
bước làm cho mọi thành viên xã hội đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách
phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo
vệ môi trường... giải quyết tốt vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,
đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc
lợi xã hội. Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản
lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo
của Đảng” [16, tr139 -140].
Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: nền KTTT là mô hình kinh tế trong thời kì quá độ lên
CNXH ở Việt Nam. Đây là thời kì mà các yếu tố của chủ nghĩa xã hội đang
được xây dựng và phát triển lên cao. Bên cạnh đó trong nền kinh tế còn tồn tại
nhiều thành phần và đặc điểm đan xen nhau. KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam là mô hình có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước thông qua một hệ thống
luật pháp, chính sách phát triển kinh tế nhằm đảm bảo nền kinh tế hoạt động
tốt, tránh sự tranh chấp giữa các chủ thể kinh tế.
Thứ hai: nền KTTT định hướng XHCN thì sự định hướng XHCN
được thể hiện trước tiên ở sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vừa hợp
tác vừa đấu tranh lẫn nhau trong khuôn khổ pháp luật, trong đó kinh tế Nhà
nước giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức quản lý nền KTTT định hướng XHCN
nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công
32
bằng xã hội.
Thứ ba: nền KTTT định hướng XHCN thể hiện mối quan hệ hợp lý
giữa ba vấn đề là sở hữu, quản lý, phân phối.
Vấn đề sở hữu: nền KTTT định hướng XHCN tồn tại sự đa dạng các
quan hệ sở hữu, trong đó chế độ sở hữu công hữu giữ một vị trí chủ đạo. Tính
định hướng XHCN đòi hỏi cần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần phải
củng cố phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác trở thành nền tảng kinh
tế.
Vấn đề quản lý: sự vận hành của nền KTTT ở nước ta đặt dưới sự
lãnh đạo và quản lý của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước nhằm đảm bảo
cho nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, hạn chế sự tiêu cực từ nền
KTTT. Đồng thời thực hiện tốt mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ
công bằng văn minh, đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực
hiện tiến bộ công bằng xã hội diễn ra hài hòa.
Vấn đề phân phối: nền KTTT định hướng XHCN không những thúc
đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế mà nó còn phải đảm bảo tốt các vấn đề
công bằng bình đẳng. Trong đó phải đề cao nguyên tắc phân phối theo kết quả
lao động và các nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, phân phối qua
phúc lợi xã hội.
Thứ tƣ: hiện nay trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta còn
đang tồn tại những yếu kém sau:
Thứ nhất: nền KTTT đang còn trong thời kì quá độ, được xác định
ở chỗ trong nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần kinh tế với nhiều loại hình
kinh tế đan xen nhau như sản xuất hàng hóa XHCN, sản xuất hàng hóa
TBCN…vừa có sự hợp tác lẫn đấu tranh với nhau.
Thứ hai: KTTT ở nước ta còn tồn tại ở trình độ kém phát triển ở số
lượng mặt hàng, chủng loại ít, khối lượng hàng lưu thông còn hạn chế, kim
ngạch xuất khẩu còn nhỏ. Do vốn đầu tư còn thấp dẫn tới chi phí sản xuất ítlà
33
một trong những nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh giảm sút. Bên cạnh đó
đội ngũ quản lý doanh nghiệp còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, thiếu kin
nghiệm thực tế cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng phát triển chậm của
nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Thứ ba: nền kinh tế của nước ta đang phát triển theo hướng hội nhập
thị trường thế giới. Công cuộc cách mạng khoa học xã hội công nghệ tạo điều
kiện cho lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ cao tạo điều kiện cho sự
quốc tế hóa nền kinh tế. Do vậy phát triển kinh tế cần dựa vào cả điều kiện
trong và ngoài nước. Sự hội nhập quốc tế đã tạo ra cả những cơ hội và thách
thức đối với nền kinh tế nước nhà.
Thứ tư: vấn đề phát triển kinh tế phải gắn với giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc là một vấn đề quan trọng cần
được quan tâm hiện nay, đặc biệt trong công cuộc hội nhập mở cửa giao lưu
kinh tế, văn hóa với các nước khác trên thế giới. Cùng với sự mở cửa ấy nền
kinh tế đang có những cơ hội lớn để phát triển, văn hóa nước nhà được giới
thiệu quảng bá trên thế giới thì vấn đề bản sắc văn hóa cũng đang giảm sút
nghiêm trọng. Sự du nhập của các nền văn hóa xấu đang gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới văn hóa của dân tộc, bản sắc văn hóa đang bị mai một dần đi.
1.3 Khái quát tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay
1.3.1 Tình hình kinh tế - xã hội
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói
riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, cửa ngõ giao lưu kinh
tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thái
Nguyên có thuận lợi là phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với
các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc
Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Thái nguyên có diện tích tự
nhiên khoảng 3.562,82 km², có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên,
34
Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định
Hóa, Đại Từ, Phú Lương, trong đó có 126 xã vùng cao và miền núi, còn lại là
các xã đồng bằng và trung du.
Thái Nguyên có địa hình không phức tạp so với các tỉnh trung du, miền
núi khác, đây là một thuận lợi cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển
kinh tế xã hội nói chung của tỉnh.
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và
mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng
2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Đây
chính là điều kiện cơ bản cho việc phát triển nông lâm nghiệp của tỉnh trong
những năm qua, đặc biệt là phát triển cây chè và một số cây ăn quả khác.
Toàn tỉnh hiện có 15.000 ha chè (đứng thứ 2 cả nước sau Lâm Đồng), trong
đó có trên 12.000 ha chè kinh doanh, hàng năm cho sản lượng khoảng trên
70.000 tấn chè búp tươi. Tỉnh đã có quy hoạch phát triển cây chè lên 15.000
đến 20.000 ha với sản lượng khoảng 105.000 tấn chè búp tươi/năm, cây ăn
quả của tỉnh hiện có trên 10.000 ha.
Tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so
sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai
khoáng… Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than
mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại
màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản
vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng,
sản xuất đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng giúp cho ngành công
nghiệp nặng của tỉnh đặc biệt phát triển. Đặc biệt với tiềm năng về sắt đã tạo
cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công
nghiệp luyện kim, khai khoáng... để trở thành một trong các trung tâm luyện
kim lớn của cả nước.
Hạ tầng cơ sở như hệ thống điện, nước, bưu chính viễn thông, giao
35
thông phát triển khá hoàn thiện và thuận lợi. Danh lam thắng cảnh tự nhiên
như Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, các di tích lịch sử như An toàn khu
Việt Bắc – ATK Định Hóa, rừng Khuôn Mánh, các di tích kiến trúc nghệ
thuật chùa chiền, đình, đền tại nhiều địa phương trong tỉnh như: Khu Bảo
tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễn,
đền Xương Rồng, đền Đội Cấn, các khu du lịch hang Phượng Hoàng, suối
Mỏ Gà, Hồ Suối Lạnh...
Với những thuận lợi về điạ hình, điều kiện tự nhiên, đào tạo và phát
triển con người, chính sách phát triển kinh tế xã hội... đã giúp cho tình hình
kinh tế- xã hội của tỉnh trong những năm gần đây có nhiều thuận lợi trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng
trưởng rõ rệt về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế có sự phát triển, nhất
là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế
nhiều thành phần... song bên cạnh đó tỉnh cũng phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức như: thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết các
ngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá thành sản
phẩm lên cao, ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh; kết cấu cơ sở hạ tầng,
nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã cải thiện nhưng vẫn
thiếu và xuống cấp.
Theo số liệu thống kê của UBND tỉnh Thái Nguyên, trong nhưng năm
qua tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh cụ thể như sau: tốc độ tăng trưởng
kinh tế (GDP) đạt được vào giai đoạn 2001-2004 bình quân 4 năm là 8,94%.
Tỷ trọng công nghiệp xây dựng vượt lên hàng đầu trong GDP về cơ cấu :
công nghiệp xây dựng đạt 37,27% ; dịch vụ đạt 36,15% ; Nông, lâm, ngư
nghiệp đạt 26,58%.
Giai đoạn 2006 -2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt
10,95%. Đến năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 12.200 tỷ
đồng, giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt khoảng 92 triệu USD. Tổng thu ngân
36
sách nhà nước đạt 2.200,8 tỷ đồng [Xem 69, tr2].
Giai đoạn 2011-2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 18,6%
(vượt kế hoạch đề ra 15%) [Xem 72, tr1]. Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển
theo hướng tích cực trong đó tỷ trọng công nghiệp đến năm 2014 chiếm
47,49% ; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng khoảng
19,39% ; khu vực dịch vụ chiếm khoảng 33,12% [Xem 72, tr2] .Tổng giá trị
sản xuất công nghiệp trên địa bàn ước tính đạt 8.600 tỷ đồng vào năm 2008
[Xem 67,tr2], 12.200 tỷ đồng trong năm 2010 [Xem 69, tr2], đến năm 2014
đạt 160.000 tỷ đồng gấp 3,34 lần so với kế hoạch (kế hoạch là 47.860 tỷ
đồng) [Xem 72, tr2].
Năm 2004 GDP bình quân đầu người đạt 11,5 triệu đồng/người/năm
cho tới 2010 là 17,5 triệu đồng/người/năm [Xem 69, tr1] ; năm 2014 GDP
bình quần đầu người đạt 38 triệu/ người/năm (vượt kế hoạch đề ra là 35 triệu
đồng) [Xem 72, tr1].
Năm 2014 giá trị xuất khẩu đạt 8.180 triệu USD, vượt 7,18 lần so với
kế hoạch (kế hoạch là 1.000 triệu USD) [Xem 72, tr2].
Năm 2014 thu ngân sách trong cân đối, đạt 4.492 tỷ đồng, vượt 5,6%
dự toán [Xem 72, tr2].
Tài chính, tín dụng: thu ngân sách năm 2014 ước được 4.492 tỷ đồng,
so với dự toán đầu năm tăng 240 tỷ đồng, tăng 5,6% dự toán. Trong đó: thu
nội địa dự ước đạt 3.802 tỷ đồng, bằng 110,1% dự toán, thu xuất nhập khẩu
được 690 tỷ đồng, bằng 86,3% dự toán; Tổng chi ngân sách dự toán đầu năm
6.893,3 tỷ đồng, ước thực hiện cả năm 8.907,5 tỷ đồng, tăng 2.014,2 tỷ đồng
[Xem 72, tr 6-7].
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội cả
năm 2014 ước đạt 18,06 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm 2013. Khu
vực cá thể (chiếm thị phần lớn nhất trên địa bàn 60%) đạt 10.834 tỷ đồng,
37
tăng 9,2% so với năm 2013; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 16.386
tỷ đồng, tăng 14%; khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 1.671 tỷ đồng, tăng
5,4% [Xem 72, tr6].
Đánh giá chung đến năm 2014 mặc dù bị ảnh hưởng do bối cảnh kinh tế
thế giới và trong nước còn gặp nhiều khó khăn và thách thức song dưới sự lãnh
đạo của tỉnh ủy, HĐND, UBND, sự quyết tâm cao của toàn bộ hệ thống chính
trị sự đồng thuận của nhân dân, doanh nghiệp, doanh nhân nên tình hình kinh tế
xã hội của tỉnh Thái Nguyên có những chuyển động tích cực nhiều chỉ tiêu tăng
đột biến, đạt và vượt kế hoạch đề ra như :
Thái Nguyên dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư FDI : năm 2014 Thái
Nguyên cấp giấy chứng nhận đầu tư cho gần 40 dự án vốn FDI, với tổng vốn
đăng ký trên 3 với vốn đăng ký trên 3.500 triệu USD và điều chỉnh tăng vốn
cho 8 dự án với vốn tăng thêm là 150 triệu USD; là địa phương đứng đầu cả
nước về thu hút đầu tư FDI năm 2014 [Xem 72, tr8]
1.3.2 Tình hình văn hóa xã hội
Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc
chủ yếu sinh sống đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và
Dao. Dân số đông đã tạo ra cả những điều kiện thuận lợi và khó khăn cho tỉnh
Thái Nguyên trong công tác phát triển kinh tế cũng như văn hóa xã hội.
Công tác xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khoẻ sinh
sản, kế hoạch hoá gia đình và các chính sách với người có công, gia đình chính
sách tiếp tục được tập trung quan tâm, thực hiện thường xuyên, đúng quy định.
Các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng khó khăn và các
chính sách trợ giúp trực tiếp về sản xuất và đời sống cho dân tộc thiểu số,
người nghèo được đẩy mạnh, thực hiện các chương trình mục tiêu kịp thời.
Trong đó đã tổ chức 470 lớp dạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường
xuyên cho 13.100 học viên, đạt 106,5% kế hoạch góp phần nâng tỷ lệ lao động
qua đào tạo của tỉnh đạt 48,2%, trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt
38
26,45%; năm 2009 giải quyết việc làm mới cho hơn 16.500 lao động, xuất khẩu
1.500 lao động sang các nước làm việc giảm tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh xuống
13,99% vượt 3,75% so với năm 2008 [Xem 67, tr2]. Năm 2014 HĐND tỉnh
quyết định mua bảo hiểm y tế cho 100% hộ cận nghèo, tạo việc làm cho 22.000
người bằng 100% kế hoạch trong đó nữ chiếm 9.157 người; xuất khẩu lao
động 1000 người, tăng 258 người so cùng kỳ và bằng 71,5% kế hoạch;
chuyển dịch cơ cấu lao động cho hơn 4 vạn người, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn
9,17% giảm 2,43% kế hoạch [Xem 72, tr12].
Mạng lưới y tế đáp ứng cơ bản cho nhu cầu khám chữa bệnh của người
dân, 100% xã phường có bác sỹ, y tá; năm 2009 tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
xuống còn 19,3% vượt mục tiêu kế hoạch đề ra [Xem 68, tr2]; năm 2014 giảm
tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống còn 15,5% đạt kế hoạch đề ra [Xem 72, tr2].
Năm 2014, tỉnh đã triển khai các hoạt động trong Chương trình quốc
gia bảo vệ trẻ em như: phối hợp tổ chức Hội thảo sửa đối Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em; tổ chức tập huấn các nội dung về phòng chống tai nạn
thương tích trẻ em, xây dựng ngôi nhà an toàn phòng chống tai nạn thương
tích cho 1.810 cán bộ phụ trách công tác Bảo vệ chăm sóc trẻ em cấp xã, cộng
tác viên, cha mẹ, người chăm sóc trẻ ở các huyện, thành phố, thị xã; đến nay
có 87,0% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm chăm sóc; 82% xã
phường đạt tiêu chuẩn xã/phường phù hợp với trẻ em, đạt chỉ tiêu đề ra
[Xem 72, tr11].
Hệ thống giáo dục đào tạo của tỉnh Thái Nguyên gồm có 18 trường
đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề; 19 cở sở thí nghiệm, trạm, trại,
phân viện, trung tâm nghiên cứu, là nơi cung cấp lao động có trình độ cao cho
cả nước. Các hệ thống giáo dục này luôn có những bước đổi mới trong nội
dung, chương trình giảng dạy, học tập, nâng cao chất lượng dạy và học góp
phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước,
thích ứng với sự phát triển của nền KTTT. Trong những năm qua toàn tỉnh
39
đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục
THCS. Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi vào các bậc, cấp học đều tăng và đạt
cao hơn so với trung bình toàn quốc. Quy mô giáo dục phổ thông, mạng lưới
trường lớp tiếp tục phát triển phù hợp với yêu cầu phổ cập giáo dục, nâng cao
dân trí. Ngoài ra giáo dục ở các vùng dân tộc, vùng cao được quan tâm đầu tư
về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất. Tỉnh đã thực hiện chủ trương ưu tiên
đẩy nhanh chương trình xoá phòng học tạm cho 36 xã đặc biệt khó khăn và xã
ATK. Đề án xoá phòng học tạm, xây dựng phòng học thiếu đang được tích
cực triển khai, từ năm 2000 đến nay đã xây dựng được trên 1.700 phòng mới.
Kết luận chƣơng 1
Sự vận động và phát triển của nền KTTT nói chung, KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam đã có ảnh hưởng to lớn tới các mặt của đời sống xã hội
theo hai chiều hướng gồm cả tích cực và tiêu cực. Gia đình được coi là yếu tố
cơ bản, một tế bào cấu thành nên xã hội, gia đình là một thiết chế xã hội, là sự
gắn bó giữa người và người dựa trên quan hệ hôn nhân và huyết thống để thực
hiện các chức năng cơ bản và cụ thể của nó. Do là một thiết chế xã hội, nên
gia đình cũng vận động và chịu sự tác động của lịch sử, đặt trong bối cảnh
hiện nay khi nước ta đang vận hành nền KTTT định hướng XHCN thì gia
đình và các chức năng của nó cũng chịu sự tác động lớn theo cả hướng tích
cực và tiêu cực. Thái Nguyên trong những năm qua đã tiến hành phát triển
kinh tế, nâng cao giáo dục cho lớp lao động trẻ để góp phần vào sự nghiệp
xây dựng đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước
cải thiện. Nhưng bên cạnh ấy, dưới tác động hai chiều của nền KTTT đã làm
cho đạo đức và giáo dục của gia đình đối với thanh thiếu niên ở Thái nguyên
40
bị ảnh hưởng không nhỏ.
Chƣơng 2. Tác động của kinh tế thị trƣờng đến giáo dục gia đình ở Thái
Nguyên hiện nay- thực trạng và giải pháp
2.1 Tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trƣờng đến giáo
dục gia đình ở thái Nguyên hiện nay
2.1.1 Những tác động tích cực của kinh tế thị trường đến giáo dục
gia đình ở Thái Nguyên
2.1.1.1 Tác động tích cực của kinh tế thị trường đến mục tiêu và nội
dung giáo dục gia đình ở Thái Nguyên
Sự phát triển của nền KTTT ở nước ta đã tạo ra những điều kiện vật
chất góp phần vào quá trình xây dựng đất nước và phát triển con người. Tỉnh
Thái Nguyên hiện nay cũng không nằm ngoài quá trình hoạt động và ảnh
hưởng của guồng máy KTTT. Do vậy mà đời sống vật chất và giáo dục trong
những hộ gia đình của tỉnh đã có những biến đổi theo chiều hướng tích cực
dưới sự tác động của KTTT.
Sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế tại Thái Nguyên trong
những năm qua đã tạo ra những bước chuyển to lớn trên lĩnh vực kinh tế.
Theo số liệu của UBND tỉnh Thái Nguyên nền kinh tế của tỉnh đã có những
phát triển khởi sắc vào những năm 2006-2010 GDP đạt 10,95% so với giai
đoạn trước, vào năm 2011-2014 đạt 18,6%. Cùng với đó sự phát triển của
kinh tế đã tạo ra những thay đổi theo chiều hướng tích cực trong đời sống của
người dân trong tỉnh. Số hộ đói nghèo trong tỉnh dần giảm xuống 2% mỗi
năm, trong đó năm 2009 giảm xuống 3,75%; năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo giảm
còn 9,17% [Xem 72, tr1]. Giaó dục trong tỉnh được đầu tư phát triển với các
chương trình xóa phòng học tạm, nạn mù chữ, khuyến khích trẻ em tới
trường… các dịch vụ y tế, văn hóa xã hội cũng được chú ý đầu tư góp phần
nâng cao chất lượng sống của người dân. Những thành tựu kinh tế, văn hóa xã
hội mà nền KTTT đem lại đã có tác động tích cực đến giáo dục của tỉnh Thái
41
Nguyên nói chung trong đó có giáo dục gia đình.
Theo đánh giá tình hình chung trong Quyết định Chương trình công
tác dân tộc tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2015 trong tỉnh hiện nay có: 126
xã thuộc khu vực dân tộc miền núi; 100 xã thuộc vùng kinh tế khó khăn; 44
xã thuộc khu vực kinh tế đặc biệt khó khăn (135). So với mặt bằng chung của
tỉnh thì những khu vực này tỷ lệ nghèo còn ở mức cao; sản xuất chậm phát
triển, phần lớn còn mang tính tự cung, tự cấp, năng suất thấp, việc áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế nên đời sống vật chất
và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, đặc biệt ở những
khu vực vùng xâu vùng xa. Do vậy đời sống kinh tế trong mỗi hộ gia đình tại
các khu vực hoạt động nông nghiệp trên ở mức thấp, không đủ nuôi sống các
thành viên trong gia đình. Đời sống kinh tế không đủ là một trong những
nguyên nhân chính, khiến các bậc phụ huynh mải lo làm kinh tế nuôi sống gia
đình nên công việc chăm lo giáo dục con cái thường bị xem nhẹ. Thêm vào
đó do điều kiện sống khó khăn nên tất cả các thành viên trong gia đình đều
phải tiến hành lao động, trong đó trẻ em ở mọi lứa tuổi đều phải làm các công
việc trong gia đình phụ giúp bố mẹ nên thiếu đi thời gian học tập tri thức đạo
đức, thể chất thẩm mỹ. Chính những ảnh hưởng từ đời sống kinh tế gia đình
khó khăn đã tác động đến mục tiêu và nội dung giáo dục con cái trong các hộ
gia đình ở những khu vực nông thôn, các xã vùng sâu vùng xa thuộc các
huyện như: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Bình, Phú Lương, Đồng Hỷ là nuôi dạy
con cái thành người có thể lao động phụ giúp gia đình. Trẻ em từ độ tuổi 5
tuổi tại những vùng kinh tế khó khăn trên thường được bố mẹ dạy cách làm
các công việc trong gia đình như: kiếm củi, chăn trâu, nuôi gà, nhổ cỏ, nấu
cơm… số lượng công việc và mức độ phức tạp sẽ tăng dần lên theo độ tuổi
của các em. Bên cạnh đó những hộ gia đình ở các khu vực trên chủ yếu là
đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ dân trí thấp, tồn tại nhiều phong tục tập
quán truyền thống lâu đời ảnh hưởng đến quan niệm về mục tiêu và nội dung
42
giáo dục con cái trong gia đình. Trong gia đình con cái luôn được giáo dục
với mục tiêu trở thành con người có thể lao động, làm tốt bổn phận của mình
đối với người thân trong gia đình. Những người con được đào tạo trở thành
những con người của gia đình, những con người kế thừa nề nếp gia phong,
hương hỏa của tổ tiên chứ chưa đề cao phát triển lợi ích cá nhân, cá tính của
mỗi cá nhân trong xã hội. Hơn nữa trong những gia đình trên người cha luôn
chiếm vị trí độc tôn, con cái hoàn toàn phải nghe theo sự dạy bảo và sắp đặt
của người cha. Tính bảo thủ và gia trưởng của người cha khiến cho trẻ phát
triển không lành mạnh, còn vai trò của người mẹ thì hạn chế. Do vậy mà
trong những gia đình này, giáo dục con cái không đặt mục tiêu lợi ích cá
nhân, cá tính, sở thích của trẻ mà tập chung vào tính tập thể, lợi ích chung của
gia đình. Kết quả của giáo dục gia đình theo mục tiêu và nội dung như trên đã
đào tạo ra những con người có mẫu nhân cách tốt, sống có trật tự trên dưới,
nhưng thiếu đi tính độc lập, sự tự chủ, không phát huy được khả năng sáng
tạo và vai trò của con người trong điều kiện mới. Ngoài ra nhiều hộ gia đình
tại các khu vực kinh tế khó khăn thuộc các xã vùng cao như Võ Nhai, ít đất
đai canh tác do địa hình chủ yếu là núi đá, nên các bậc phụ huynh trong các
hộ gia đình tại khu vực này thường đi đến các thành phố lớn làm việc còn con
cái ở nhà với ông bà, anh chị là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình
Hiện nay với sự hỗ trợ và thực hiện tốt theo các chính sách kinh tế
trạng giáo dục trẻ không có mục tiêu và nội dung khoa học.
của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền, các xã vùng sâu vùng xa thuộc
các huyện như: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Bình… đang từng bước phát triển
kinh tế hộ gia đình phù hợp với xu thế phát triển chung của nền KTTT, tạo ra
những bước thay đổi lớn trong đời sống kinh tế và giáo dục con cái trong gia
đình. KTTT đã kích thích và tạo điều kiện cho các hộ gia đình thay đổi quy
mô, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh. Trước đây, hoạt động sản xuất chủ
yếu của các hộ gia đình là nghề trồng lúa, trồng chè với kỹ thuật canh tác lạc
43
hậu. Hiện giờ nghề trồng lúa, trồng chè đã không còn được thực hiện theo
hướng tự cung tự cấp, mà đã có sự chuyển dần sang sản xuất để kinh doanh
với đầu tư về khoa học kỹ thuật, giống cây trồng… tạo ra năng suất lớn như
huyện Võ Nhai năm 2011 được Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và khai thác
khoáng sản Thăng Long đầu tư giúp giải quyết một lượng lớn lao động làm
giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều hộ gia đình còn tiến hành xây dựng mô hình
kinh tế VAT, điển hình như khu vực huyện Phú Bình trong năm 2011 cũng
tiến hành phát triển chăn nuôi với 109 trang trại chăn nuôi gà, tạo việc làm
cho 10.000 lao động, doanh thu hàng năm trong huyện lên tới 100 tỷ đồng,
nhiều hộ gia đình trong huyện có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Thêm vào đó việc tập trung phát triển những ngành tiềm năng của tỉnh như:
trồng chè, sản xuất gang thép, than, các mỏ khoáng sản lớn tập trung ở Phú
Lương, Võ Nhai, Phấn Mễ, Sông Công… đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ
cho kinh tế trong tỉnh những năm qua. Điều này đã giúp các hộ gia đình tại
khu vực kinh tế khó khăn có thu nhập bình quân đầu người trên năm ngang
với mặt bằng chung của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, trẻ em đến trường
duy trì ở mức cao (THCS 95%, THPT 75%) [Xem 65, tr4]. Theo báo cáo của
UBND tỉnh Thái Nguyên số hộ nghèo ở các huyện: Đồng Hỷ vào năm 2011 là
22,8% đến 2014 giảm còn 13,51%; Phú Bình năm 2011 24,8% đến 2014 còn
13,4%; Phú Lương năm 2011 21,9% đến 2014 còn 12,18%; Đại Từ năm 2011
27,6% đến 2014 còn 16,1%; Định Hóa năm 2011 33,9% đến 2014 còn
22,72%; Võ Nhai năm 2011 43,2% đến 2014 còn 28,3% [Xem 48, tr1]. Như
vậy tình hình chung của mỗi gia đình tại các xã nghèo ở Thái Nguyên hiện
nay, không chỉ được đáp ứng đầy đủ về những điều kiện sống cơ bản như: ăn,
uống, ở, đi lại… mà còn nâng cao chất lượng đời sống tinh thần với các hoạt
động vui chơi, các đoàn hội được lập ra, các trang thiết bị truyền thông được
mở rộng giúp cho người dân tiếp xúc với nền văn hóa sâu rộng trong và ngoài
nước. Luồng gió kinh tế mới không chỉ góp phần thay đổi đời sống vật chất
44
tinh thần mà còn nâng cao trình độ dân trí cho mỗi bậc phụ huynh trong gia
đình. Do đó các bậc phụ huynh ở các khu vực vùng sâu vùng xa thuộc các
huyện có đời sống kinh tế khó khăn đã ý thức hơn về việc lựa chọn thực hiện
mục tiêu và nội dung giáo dục cho trẻ khoa học hơn.
Bên cạnh đó những hộ gia đình sống ở những khu vực thành phố, các
huyện lân cận có nhiều nhà máy được trong và ngoài nước đầu tư nên có đời
sống kinh tế phát triển hơn so với khu vực vùng sâu vùng xa như: Thái
Nguyên, Sông Công, huyện Phổ Yên ngay từ đầu đã tập trung hướng tới xác
định mục tiêu và nội dung trọng tâm là giáo dục những người con có đạo đức.
Theo thống kê của phòng Lao động thuộc Sở Lao động thương binh xã hội
tỉnh Thái Nguyên thì hiện nay có tới 45% số hộ gia đình tại các khu vực này
làm công việc cán bộ công nhân viên chức, 25% làm công nhân tại các khu
công nghiệp của tỉnh thái Nguyên. Với trình độ dân trí cao nên các bậc phụ
huynh đặt mục tiêu giáo dục đạo đức cho trẻ lên hàng đầu nhưng đang xem
nhẹ mục tiêu đào tạo trẻ trở thành người có khả năng lao động, hoạt động thực
tế ngoài xã hội. Những truyền thống của gia đình, các quy tắc chuẩn mực xã
hội được truyền đạt cho con cái để xây dựng những con người có nhân cách,
sống tình nghĩa, lễ nghĩa, biết xác định vị trí của mình trong mỗi hoàn cảnh,
ứng xử phù hợp với thời đại mới. Kết quả của mục tiêu và nội dung giáo dục
như trên đã tạo ra những con người có nhân cách tốt, nhưng không có khả
năng hoạt động thực tiễn. Điều đó cho thấy mục tiêu và nội dung giáo dục ở
những hộ gia đình thuộc khu vực kinh tế phát triển ở tỉnh Thái Nguyên trước
đây chưa được được hoàn chỉnh. Với việc thực hiện phát triển nền KTTT theo
định hướng XHCN đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế chung của toàn tỉnh, theo
UBND tỉnh Thái Nguyên năm 2015 số hộ nghèo giảm mạnh ở các khu vực có
sự hoạt động của các công ty với quy mô đầu tư vốn lớn: thành phố Thái
Nguyên 1,76%; thành phố Sông Công 3,58%; Phổ Yên 5,48%; Võ Nhai
21,98%; Phú Bình 10,43% [Xem 48, tr1]. Chính sự hoạt động của các công ty
45
trong và ngoài nước trong tỉnh đã đặt ra yêu cầu cần có một đội ngũ lao động
lành nghề có đạo đức, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cao, có năng lực
kinh doanh, có tính năng động sáng tạo và chịu được áp lực cũng như những
biến động của tình hình kinh tế. Đó là những con người có bản lĩnh, tự lập,
chủ động, dám nghĩ dám làm và chịu trách nhiệm. Những con người đó vừa
có khẳ năng làm việc độc lập tự chủ vừa có thể hoạt động tập thể tích cực. Đó
là những người có thể nắm bắt được sự phát triển tiến bộ của khoa học kỹ
thuật để ứng dụng vào trong công việc, cuộc sống. Do vậy mục tiêu và nội
dung giáo dục con cái của các gia đình ở cả khu vực trung tâm và vùng sâu
vùng xa trong tỉnh Thái Nguyên đều thay đổi theo hướng tích cực, được bổ
sung đầy đủ hơn trước. Theo khảo sát điều tra của phòng Bảo vệ chăm sóc
trẻ em thuộc Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên hiện nay
có đến 70,5% các bậc phụ huynh đồng ý với việc họ mong muốn con cái
mình sau này là người có khả năng lao động và đạo đức tốt; 25,5% cho
rằng họ chỉ cần những người con có khả năng lao động; còn 4% thì cho
rằng họ cần người con có đạo đức tốt [Xem 46, tr4]. Sự hoàn thiện trong
mục tiêu và nội dung giáo dục con cái trong gia đình ở Thái Nguyên hiện
nay được thể hiện như sau:
Thứ nhất: với việc tập trung hướng vào mục tiêu giáo dục con cái trở
thành người có nhân cách, nội dung giáo dục chủ yếu là những quy tắc, chuẩn
mực đạo đức cách ứng xử, giao tiếp trong gia đình và ngoài xã hội, các giá trị
văn hóa truyền thống của dòng họ, nếp sống của gia đình truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác như: vâng lời cha mẹ, kính trọng ông bà tổ tiên, kính trên
nhường dưới, anh em trong nhà yêu thương hòa thuận, biết giúp đỡ người
khác, khiêm tốn, thật thà, trung thực, tự lập, sống có quy củ gia phong, tình
yêu nước yêu đồng bào…và hàng trăm đạo lý truyền thống của dân tộc, của
dòng họ, của mỗi gia đình cụ thể. Nhưng hiện nay dưới sự tác động và đòi hỏi
của nền KTTT nội dung của giáo dục đạo đức trong gia đình ở cả hai khu vực
46
trên đang ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn.
Theo khảo sát thu được từ phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc Sở
Lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên mỗi gia đình ở Thái Nguyên
hiện nay trong giáo dục đạo đức đã chú trọng truyền dạy cho con cái đứng
đầu là ngoan, lễ phép, hiếu thảo với 95,5%; tính thật thà trung thực 89,5%;
tính cần cù chịu khó 85%; tính tự lập 82,5%; tình yêu nước yêu đồng bào
65% [Xem 46, tr5]. Như vậy những nội dung truyền đạt trong giáo dục đạo
đức cho con cái hiện nay đứng đầu vẫn là những đức tính cơ bản để xây dựng
con người có nhân cách tốt như: lễ phép hiếu thảo, trung thực, tự lập vươn
lên, cần cù chịu khó, niềm tin vào cuộc sống, lòng yêu nước, lý tưởng cách
mạng. Giáo dục những đạo lý truyền thống trên đã tạo ra lớp trẻ Thái Nguyên
có mẫu nhân cách tốt, có cách ứng xử trong giao tiếp phù hợp. Nhưng mặt
khác gia đình với tư cách là một thiết chế có quá trình vận động biến đổi
không ngừng dưới tác động của điều kiện khách quan. Do vậy mà ngày nay,
dưới sự tác động của nền KTTT, trong quá trình CNH-HĐH của đất nước, sự
hội nhập quốc tế, giáo dục đạo đức cho lớp trẻ không đơn giản là truyền đạt
những giá trị văn hóa vốn có tồn tại bao đời nay mà nó còn đặt ra cần có sự
tiếp thu những giá trị mang tính nhân văn, cần có sự biến đổi linh hoạt các
quy tắc chuẩn mực đạo đức phù hợp với sự phát triển chung của thời đại. Nền
KTTT hiện nay đang tạo ra những con người năng động với ý chí quyết đoán,
trong nền kinh tế ấy buộc con người phải học tập thường xuyên để nâng cao
tri thức. Do vậy trong quá trình giáo dục đạo đức cho con cái, các bậc phụ
huynh đang dạy trẻ biết tôn trọng các quyền cơ bản của con người, quyền tự
do cá nhân trong xã hội để trở thành con người năng động. Ngoài ra hiện nay
mỗi gia đình đã bổ sung giáo dục cho trẻ thêm những đức tính cần có trước
đòi hỏi của nền KTTT với nhiều biến động như: niềm tin vào cuộc sống, chủ
động trách nhiệm với công việc, sự năng động sáng tạo, tự lập quyết
đoán...Nền KTTT cũng đang làm tăng tính tự do và trách nhiệm của con
47
người trong xã hội, góp phần thay đổi các quan niệm sống lạc hậu trước đây ở
Thái Nguyên. Tâm lý thói quen của người sản xuất nhỏ trước đây là “Ghét
người giàu, khinh người nghèo”, mong muốn “xấu đều hơn tốt lỏi” làm hạn
chế đạo đức, năng lực phấn đấu của con người. Ngày nay trước tác động
mạnh mẽ của nền KTTT những tâm lý thói quen của người sản xuất nhỏ cũng
dần thay đổi theo hướng phát huy mọi tài năng trí tuệ của con người để làm
giàu chính đáng, sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào học tập lao
động, tính tự lập, kỉ luật cao, năng động sáng tạo trong lao động. Tuy nhiên
hiện nay nền KTTT cũng đang làm thay đổi nhiều quan niệm sống của người
dân trong tỉnh theo hướng tiêu cực. Trong quan niệm đạo đức truyền thống
con người Việt Nam luôn coi trọng tình cảm, ứng xử theo cách “lời chào cao
hơn mâm cỗ”, “vì tình nghĩa, không phải vì đĩa xôi đầy”, hiện nay không ít
người bị ảnh hưởng quan niệm “có tiền mua tiên cũng được”, “có tiền là có
tất cả”, đồng tiền là thước đo giá trị lòng người. Những quan niệm này đang
dần làm mai một văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc, gây ra sự đổ vỡ
trong hạnh phúc gia đình, hạn chế tới quá trình giáo dục con cái. Do vậy trong
điều kiện nền KTTT hiện nay các bậc phụ huynh trong mỗi hộ gia đình ở Thái
Nguyên, đang cố gắng tiếp thu phát huy truyền thống đạo đức quý báu của
dân tộc, của nước ngoài, hạn chế tiếp nhận những ảnh hưởng tiêu cực từ nền
KTTT đến đạo đức trong quá trình giáo dục con cái. Đồng thời các bậc phụ
huynh hiện nay cũng đã chú trọng nhiều vào giáo dục tình yêu quê hương đất
nước, sự tương thân tương ái trong giúp đỡ mọi người, đoàn kết dân tộc nhằm
gìn giữ các giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, nâng cao ý thức và vai
trò của lớp trẻ trong giai đoạn xây dựng đất nước tiến lên CNXH thành công.
Các bậc phụ huynh thường cho con cái tham gia các hoạt động của Đoàn
thành niên ở phường xã như: kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
tham quan khu di tích lịch sử ATK Định Hóa, Đền Hùng, Đền Gióng, phong
trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vệ sinh khu vực
48
đài tưởng niệm anh hùng liệt sỹ ở địa phương nhằm nâng cao tinh thần yêu
quê hương, đất nước, ý thức dân tộc cho lớp trẻ. Như vậy nội dung giáo dục
đạo đức trong quá trình giáo dục trẻ ở mỗi gia đình Thái Nguyên đang có sự
thay đổi theo hướng mới tiến bộ, vừa kế thừa các giá trị tốt đẹp của truyền
thống, vừa có những nét đổi mới phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế
trong tỉnh, sự phát triển kinh tế nước ta hiện nay.
Thứ hai: nhận thấy tầm quan trọng của các tri thức kỹ năng lao động
trong việc xây dựng một con người toàn diện về mọi mặt đáp ứng yêu cầu
chung của nền kinh tế. Các bậc phụ huynh trong những hộ gia đình ở cả khu
vực thành phố, huyện có kinh tế phát triển và vùng sâu vùng xa với nền kinh
tế khó khăn của tỉnh đã đầu tư nhiều vào giáo dục tri thức kỹ năng kinh
nghiệm lao động cho con cái để đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển
kinh tế hiện nay. Mỗi gia đình hiện nay đã quan tâm và giáo dục cho trẻ đầu
tiên về cách thực hiện các sinh hoạt bản thân, cho đến các công việc phức tạp
trong gia đình, trường học, bên ngoài xã hội. Điều này góp phần rèn luyện
tính tự giác trong lao động ở trẻ tránh tình trạng lười biếng, ỷ lại thụ động khi
tham gia hoạt động thực tế bên ngoài gia đình ở trẻ. Hơn thế nữa trong gia
đình hiện nay các bậc phụ huynh đã chú ý truyền dạy cho trẻ tình yêu lao
động, quý trọng những ngành nghề truyền thống của gia đình chứ không còn
tạo ra sự nặng nề tư tưởng lao động kiếm sống ở trẻ như trước đây. Trẻ cần có
tình yêu lao động mới tạo ra sự say mê trong quá trình thực hiện các công
việc, nó là mạch huyết của thành công trong công việc do vậy mà đây cũng là
nội dung quan trọng trong giáo dục con cái. Hiện nay ở Thái Nguyên có
13.300 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề gần 26.500 lao động
với các nghề mây tre đan, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản, chè, đồ gồ mỹ
nghệ. Mỗi năm tỉnh mở 9 lớp tập huấn đào tạo nghề tại 9 huyện, thành phố,
thị xã trên địa bàn tỉnh cho 2.700 người với mức hỗ trợ là 1 triệu
đồng/người/khóa học. Nhận thấy tầm quan trọng và lợi ích kinh tế từ phát
49
triển các ngành nghề truyền thống của gia đình, địa phương trong tỉnh, các
bậc phụ huynh đã đầu tư vào truyền dạy tri thức, kinh nghiệm lao động cho
con cái để giữ gìn nghề và phát triển kinh tế hộ gia đình. Với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật yêu cầu cần có đội ngũ lao động
có tri thức, tay nghề cao, có khả năng thích nghi trước những biến đổi, chịu
được những áp lực từ nghề nghiệp, chủ động tích cực trong mọi hoạt động.
Thứ ba: giáo dục trong gia đình hiện nay trong tỉnh cũng tiếp tục
hướng tới mục tiêu đào tạo ra những con người có sức khỏe, thể lực, thể hình
hoàn chỉnh, kỹ năng vận động cơ bản để chuẩn bị cho con cái bước vào cuộc
sống và lao động. Mục tiêu giáo dục con cái trở thành người có sức khỏe, thể
hình hoàn chỉnh để đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế mới trong các
gia đình hiện nay ở Thái Nguyên là một trong những mục tiêu quan trọng chứ
không còn bị xem nhẹ như ở các gia đình truyền thống trước đây, khảo sát của
phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc Sở lao động thương binh xã hội tỉnh
Thái Nguyên cho thấy 85% các bậc phụ huynh đồng ý cho rằng giáo dục con
cái là vấn đề quan trọng, 70,5% mong muốn những đứa con của họ sau này có
khả năng lao động và nhân cách tốt [Xem 46, tr4]. Thêm vào đó nhận thấy
tầm quan trọng từ việc giáo dục giới tính cho trẻ để giúp trẻ có thái độ nhìn
nhận đúng đắn về hai giới, những kiến thức cơ bản về cơ thể, sinh lý, tình
dục, cơ quan sinh sản, quá trình sinh sản, sức khỏe sinh sản, những nhu cầu
sinh lý, các bậc phụ huynh đã chủ động gần gũi tâm sự chia sẻ hướng dẫn cho
trẻ biết những thay đổi của cơ quan, tâm sinh lý trong giai đoạn trưởng thành
tránh tâm lý tò mò hoang mang ở trẻ. Các bậc phụ huynh hiện nay ở cả hai
khu vực kinh tế ở Thái Nguyên đều đã chủ động bổ sung khía cạnh này vào
trở thành một nội dung chính trong giáo dục con cái. Chủ động gần gũi chia
sẻ cho trẻ các câu chuyện tình yêu, dạy trẻ cách quan tâm yêu thương người
khác, những thay đổi trong tâm lý khi yêu khác giới. Với nhịp sống nhanh
nhiều thay đổi dưới tác động của nền KTTT như hiện nay, trẻ ngày càng dễ bị
50
ảnh hưởng tâm sinh lý từ các yếu tố bên ngoài xã hội như: các thông tin phim
ảnh sex trên mạng internet, các dịch vụ mại dâm trá hình dưới hàng quán,
quan karaoke thiếu lành mạnh, sự ra đời của các loại đồ chơi tình dục… trước
tâm lý tò mò, thiếu kiến thức và sự lôi kéo dụ dỗ của bạn bè đang làm gia tăng
tình trạng quan hệ tình dục sớm ở trẻ vị thành niên, có thai và phá thai ở độ
tuổi chưa đủ sức khỏe sinh sản, nạn tảo hôn và ly hôn sớm ở trẻ do thiếu sự
kiên định, hiểu biết cuộc sống gia đình… Chính những điều đó đặt ra cho các
bậc phụ huynh cần giáo dục cho trẻ những kiến thức cần có về giới tính, về
tình bạn tình yêu, gia đình, về tâm sinh lý tuổi dậy thì, về sức khỏe tình dục
và sinh sản. Trước sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông như tivi, mạng
internat, đài… kết hợp với sách báo được biên soạn theo chuẩn, thực tế trải
qua của bố mẹ các bậc phụ huynh đang ngày càng chủ động gần gũi chia sẻ
định hướng cho trẻ đúng sai trong những vấn đề trên. Tâm lý tránh né, e ngại
khi nói về những vấn đề trên đối với con cái đã dần được thay đổi giúp trẻ có
thái độ, kiến thức nghiêm túc để tự chăm sóc bảo vệ mình trước mọi tình
huống. Vấn đề yêu sớm ở trẻ hiện nay do tâm sinh lý của trẻ thay đổi sớm
đang là một vấn đề lo ngại trong mỗi gia đình gây ảnh hưởng đến thời gian
học tập, giải trí, thậm chí là những tổn thương tâm lý ở trẻ nên giáo dục con
cái về tình bạn, tình yêu cũng là nội dung mà các bậc phụ huynh chú ý truyền
dạy cho trẻ. Như vậy giáo dục giới tính cho trẻ là một trong những nội dung
giáo dục quan trọng mang tính đổi mới so với nội dung giáo dục truyền thống
trước đây. Đặc biệt trong điều kiện tỉnh đang thực hiện phát triển nền KTTT
với nhiều biến động, việc cha mẹ thường quan tâm giáo dục con cái các kiến
thức cơ bản về giới tính, trang bị những hiểu biết về xã hội, định hướng nghề
nghiệp là vô cũng quan trọng, thậm chí nhiều gia đình đã có thay đổi trong
việc giáo dục định hướng cho trẻ về nghề nghiệp như dạy con biết ước mơ,
làm giàu chính đáng, lao động chân chính, chia sé giúp đỡ người khác.
Thêm vào đó để trẻ phát triển cân đối có sức khỏe, thể hình hoàn
51
chỉnh có khả năng học tập và lao động, các bậc phụ huynh cũng đầu tư thời
gian dạy và tập thể dục cho con cái, đưa ra chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý.
Thậm chí nhiều gia đình còn đầu tư cho trẻ đến các trung tập thể dục thể thao
để trẻ được rèn luyện thể lực bài bản hơn.
Nền KTTT phát triển giúp nâng cao đời sống của mỗi hộ gia đình đã
tạo ra những điều kiện vật chất để nuôi dạy con cái. Nhiều gia đình đầu tư các
trang thiết bị hiện đại như: ti vi, đài, máy tính, sách báo để trẻ có thể tiếp thu
thêm thông tin. Thậm chí hiện nay nhiều gia đình bố mẹ mua thêm sách báo
để học hỏi nâng cao kĩ năng nuôi dạy con cái. Nhiều trẻ hiện nay còn được bố
mẹ đầu tư cho tham gia các khóa học thực tế, các hoạt động đoàn hội, lớp học
năng khiếu như múa hát… giúp trẻ học nếp sống lịch sự, lễ phép cho trẻ có
thể ăn, nói, mặc, cư xử đẹp, văn minh đã tạo ra tính tự lập, chủ động hòa nhập
cộng đồng của trẻ. Quá trình chủ động giáo dục như trên đã tạo ra lớp trẻ có
sự nhanh nhạy, năng động sáng tạo, chủ động tiếp cận với nền tri thức, văn
hóa mới giúp trẻ phát triển hoàn thiện hơn về mặt thẩm mỹ.
Điều đó cho thấy trước sự tác động mạnh mẽ của nền KTTT, nội dung
trong giáo dục gia đình đang có xu hướng kế thừa những giá trị tốt đẹp của
truyền thống vừa có sự bổ sung hoàn thiện những giá trị mới phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại, theo điều tra xã hội học của phòng Bảo vệ và chăm
sóc trẻ em thuộc Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên có tới
72,5% các bậc phụ huynh đồng ý với việc cho rằng họ cần giáo dục tri thức,
kinh nghiệm lao động, các chuẩn mực đạo đức, truyền thống của dân tộc và
gia đình cho trẻ; 10,5% lựa chọn giáo dục kinh nghiệm lao động cho trẻ;
14,5% cho rằng chỉ cần giáo dục đạo đức; 2,5% chọn giáo dục thể lực và giới
tính cho trẻ [Xem 46, tr4-5]. Giaó dục con cái về đạo đức, kỹ năng nghề
nghiệp, thể chất giới tính kết hợp với định hướng nghề nghiệp cho con cái để
trẻ có mục tiêu, kế hoạch trong học tập vui chơi là nội dung cơ bản mà mỗi
52
gia đình hiện nay đều hướng tới.
2.1.1.2 Tác động tích cực của kinh tế thị trường đến phương pháp
giáo dục gia đình ở Thái Nguyên
KTTT không chỉ góp phần làm thay đổi mục tiêu và nội dung trong
quá trình giáo dục ở mỗi gia đình trong tỉnh Thái Nguyên, mà còn tác động
làm thay đổi phương pháp giáo dục của mỗi gia đình. Trước đây, ở những khu
vực thành phố, huyện kinh tế phát triển, các bậc phụ huynh tập trung vào giáo
dục đạo đức cho con cái là chủ yếu, còn đối với những gia đình thuộc khu vực
nông thôn, xã nghèo tập trung giáo dục kỹ năng lao động cho con cái. Chính
từ việc lựa chọn mục tiêu và nội dung còn hạn chế, nên trong quá trình tiến
hành giáo dục con cái, các bậc phụ huynh cũng sử dụng những phương pháp
truyền thống mang tính hà khắc. Với việc sử dụng uy quyền của cha mẹ, cha
chiếm vị trí độc tôn trong gia đình, con cái hoàn toàn nghe theo sự sắp đặt dạy
dỗ của người cha, không được làm trái lời dù cha mẹ có sai, con làm theo tư
tưởng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Chủ yếu phương pháp giáo dục trong
giai đoạn này là khuôn phép, chỉ huy-phục tùng, thậm chí là bạo lực. Trẻ em
trong gia đình phải học theo những khuôn mẫu về đạo đức, về lao
động…được bố mẹ đề ra như một mệnh lệnh tuyệt đối. Nếu trái ý, không
vâng lời của người lớn như: ông bà, cha mẹ thì trẻ sẽ bị trừng phạt đòn roi hà
khắc. Sử dụng những phương pháp giáo dục như vậy đã tạo ra một trật tự trên
dưới rõ ràng trong nhà đảm bảo cho gia đình ổn định, uy quyền của cha mẹ
đối với con cái, tạo ra những đứa trẻ ngoan. Nhưng hệ quả của cách giáo dục
trên đã tạo ra những con người thụ động, bảo thủ trì trệ, thậm chí có ảnh
hưởng nghiêm trọng tới tâm sinh lý của trẻ khiến trẻ bị tổn thương phát triển
không hoàn thiện. Cần nhận thấy rằng giáo dục trong gia đình không chỉ tác
động mạnh mẽ ở giai đoạn ấu thơ của cuộc đời mỗi con người, mà còn có ảnh
hưởng rất lâu dài trong suốt cuộc đời của trẻ. Nó đặt cơ sở quyết định cho sự
hình thành nền tảng nhân cách ở tuổi niên thiếu, thúc đẩy sự phát triển, hoàn
53
thiện nhân cách ở tuổi thanh niên, củng cố, giữ gìn nhân cách ở tuổi trưởng
thành và khi về già. Vì thế, giáo dục gia đình mang tính chất thường xuyên,
lâu dài và có hệ thống chặt chẽ.
Ở giai đoạn trước khi nền KTTT chưa phát triển mạnh tại tỉnh Thái
Nguyên, các bậc phụ huynh ở Thái Nguyên thường thiếu tri thức và thiếu kinh
nghiệm, nên hay phản ứng theo bản năng làm cha mẹ của mình để áp đặt con
cái. Hơn nữa, nhiều bậc cha mẹ có quan niệm cho rằng con cái là sở hữu
riêng, nên họ có quyền quyết định phương thức giáo dục, thậm chí cách thức
đó là tùy hứng và sai lầm. Cách giáo dục quá nuông chiều con theo phương
pháp khen thưởng hay quá nghiêm khắc theo phương pháp răn đe trừng pháp
ở mỗi hộ gia đình ở Thái Nguyên trước đây đều để lại những chấn thương
trong nhân cách trẻ.
Dưới sự tác động của nền KTTT tới mọi mặt đời sống ở Thái
Nguyên cùng với quá trình dân chủ hóa đời sống của con người đã tác động
làm thay đổi nhận thức và hành động của các bậc phụ huynh trong giáo dục
gia đình. Mọi hoạt động giáo dục trước hết là hướng tới lợi ích của đối tượng
giáo dục, sau đó mới phục vụ lợi ích của gia đình, của xã hội. Con người được
đào tạo ra phải là những người có đạo đức tốt, có tri thức, kỹ năng lao động,
có tính sáng tạo, sự tự chủ, năng động, độc lập, thích ứng với nền kinh tế mới.
Do vậy phương pháp giáo dục của các thành viên trong gia đình đối với con
cái cũng ngày càng mang tính sáng tạo phong phú hơn, sự kết hợp giữa những
phương pháp truyền thống như: uy quyền của cha mẹ, nêu gương, thuyết
phục, tâm sự… với những phương pháp hiện đại như: giáo dục thông qua
sách báo, tivi, đài, máy vi tính. Theo điều tra xã hội học của tác giả Cao Thị
Phương Nhung hiện nay có tới 58,5% các bậc phụ huynh đồng ý với việc sử
dụng các biện pháp nêu gương, giảng giải cho trẻ; 68% đồng ý với phương
pháp khuyên bảo thuyết phục; 62% đồng ý với phương pháp chủ động rèn
luyện thói quen cho trẻ; 35% cho rằng cần giáo dụng với các biện pháp áp đặt,
54
uy quyền của cha mẹ, roi vọt mang tính trừng phạt [Xem 45, tr73]. Hiện nay
trong giáo dục gia đình ở tỉnh Thái Nguyên, các bậc phụ huynh đã sử dụng
những biện pháp mềm mỏng, có sự kết hợp nhịp nhàng phù hợp giữa các
phương pháp. Tập trung vào giáo dục theo hướng nêu gương, giảng giải,
thuyết phục để con cái hiểu, phân biệt đúng sai, thiện ác, có suy nghĩ, thái độ
sống và hành động tích cực… trẻ có quyền lựa chọn làm theo cái mình mong
muốn nhưng dưới sự định hướng của cha mẹ. Điều tra xã hội học của phòng
Bảo vệ chăm sóc trẻ em cho thấy 89,5% các bậc phụ huynh đồng ý hoàn toàn
với ý kiến cần giành thời gian để tâm sự kết hợp với giảng giải cho con cái về
các vấn đề trong cuộc sống. Bên cạnh đó trong mỗi gia đình tại Thái Nguyên
hiện nay vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp uy quyền của cha mẹ một cách
hợp lý và vừa phải trong giáo dục con cái. Tránh tình trạng trẻ phát triển theo
hướng tự do, với những tư tưởng và hành động sai trái do thiếu hiểu biết. Kết
hợp giáo dục con cái thông qua sách báo, các phương tiện truyền thông hiện
đại để truyền tải tri thức cho trẻ đã góp phần tạo ra hiệu quả tốt trong giáo dục
trẻ em ở mỗi hộ gia đình trong tỉnh.
Thay đổi phương pháp giáo dục theo hướng phát huy tính năng động
sáng tạo, tự lập ở trẻ, cũng như tạo điều điền kiện để trẻ có thể bộc lộ tính
cách, sở thích, năng khiếu… biết cách hòa nhập, thích nghi với mọi biến động
của nền kinh tế, có kỹ năng bảo vệ mình trước những tệ nạn xã hội, cám dỗ.
Đó là những mục tiêu mà cha mẹ trong quá trình giáo dục đang hướng tới,
đồng thời đây cũng chính là các yếu tố cần thiết cho trẻ phát triển đầy đủ sau
này. Cách giáo dục như vậy đã góp phần tạo ra những con người có tri thức,
có đạo đức, nhân cách, năng động sáng tạo, tự lập, tích cực trong mọi hoạt
động, thích nghi với nhịp sống của thời đại, biết hưởng thụ các giá trị vật chất
và tinh thần một cách hợp lý, hưởng thụ đi liền với cống hiến.
Ngoài ra tác động của KTTT còn góp phần xây dựng mối quan hệ
giữa gia đình- nhà trường- xã hội trong giáo dục con cái một cách chặt chẽ,
nhịp nhàng, phù hợp để tạo ra những con người có đủ điều kiện đáp ứng được
55
những yêu cầu của quá trình xây dựng phát triển đất nước.
Trước đây, khi điều kiện kinh tế ở những khu vực nông thôn, vùng
xâu vùng xa như: huyện Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ… của tỉnh
còn khó khăn, các bậc phụ huynh không có khả năng cho trẻ đến trường học.
Thêm vào đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học tại các khu vực này còn
thiếu thốn, chưa đáp ứng được với yêu cầu dạy và học cho giáo viên, học
sinh. Vì vậy việc xây dựng mối liên hệ giữa giáo dục gia đình với nhà trường
còn rất thấp, ít có sự trao đổi, phối hợp với nhau, mà chủ yếu trẻ tiếp nhận sự
giáo dục một chiều từ phía gia đình hoặc nhà trường. Điều này khiến cho trẻ
phát triển mặt tri thức không đầy đủ, vì có những nội dung tri thức gia đình
không thể dạy cho con cái mà phải thông qua nhà trường với các bài giảng
theo quy chuẩn. Vào giai đoạn hiện nay, khi tỉnh phát triển kinh tế với quy mô
mở rộng các ngành kinh tế mũi nhọn như: sản xuất gang thép, chè, xi măng…
đã góp phần giải quyết lượng lớn nhu cầu việc làm cho người dân, giảm tỉ lệ
thất nghiệp giúp cho đời sống người dân nâng cao, có nhiều điều kiện vật chất
thuận lợi phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, giao thông… tại các điạ phương
có kinh tế khó khăn. Giáo dục được chú ý đầu tư hơn với các đề án xóa phòng
học tạm, xã hội hóa giáo dục để huy động tối đa các nguồn lực, đa dạng hóa
trường học, lớp học. 1700 phòng học mới đã được xây dựng thay thế cho các
phòng học tạm, trẻ em được khuyến khích và hỗ trợ nhiều mặt để có thể đến
trường. Năm 2015 Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 6 tỷ đồng cho chương trình xây
dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tạo xã Định Biên huyện Định Hóa
góp phần nâng cao cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu dạy và học của các em
học sinh. Như vậy KTTT với những tác động của nó đã làm thay đổi nhận
thức của các bậc phụ huynh trong giáo dục con cái như: thay đổi mục tiêu, nội
dung, phương pháp giáo dục phù hợp, cần cho con đến trường để học tập tri
thức, cần phối hợp với nhà trường để giáo dục con cái phát triển hoàn thiện
hơn. Theo điều tra xã hội học của phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc Sở
56
Lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên có đến 98,5% các bậc phụ
huynh hoàn toàn đồng ý với việc cho trẻ đến trường học; 76,5% hoàn toàn
đồng ý với việc cần kết hợp với nhà trường, xã hội trong việc giáo dục trẻ
[Xem 46, tr6]. Sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình- nhà trường- xã hội trong
giáo dục trẻ đã tạo ra kết quả trẻ em phát triển hoàn thiện hơn về cả mặt tri
thức, đạo đức, kinh nghiệm lao động… Sự kết hợp này mang lại sự thống nhất
giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục giữa cả hai bên trong định
hướng phát huy vai trò chủ thể tích cực của trẻ ở trong quá trình học tập, lao
động. Qúa trình xã hội hóa giáo dục với sự tham gia của nhiều lực lượng đã
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong gia đình. Nhưng thực tế cho
thấy nhà trường và các lực lượng khác không thể thay thế hoàn toàn giáo dục
của gia đình, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với nhiều biến động phức tạp
và ảnh hưởng từ nền kinh tế. Tuy vậy một mình sự giáo dục của gia đình là
chưa đủ, muốn làm tốt chức năng giáo dục của mình thì mỗi gia đình phải xây
dựng mối liên hệ hợp lý với nhà trường, xã hội. Do vậy các bậc phụ huynh
trong quá trình giáo dục con cái đã tiến hành phối kết hợp chặt chẽ với nhà
trường, tổ chức giáo dục khác bằng: gặp gỡ trao đổi tình hình trẻ hàng tháng;
thông báo mọi hoạt động của trẻ bằng sổ liên lạc, email, điện thoại; tổ chức
các chương trình giao lưu, sinh hoạt ngoại khóa có sự tham gia của phụ
huynh… Qúa trình phối kết hợp giáo dục hoàn chỉnh như vậy đang tạo ra
những con người toàn diện đáp ứng được các yêu cầu chung của quá trình
CNH-HĐH và phát triển kinh tế theo định hướng XHCN của đất nước.
Nền KTTT định hướng XHCN hình thành và phát triển mạnh mẽ tại
tỉnh Thái Nguyên đã giúp cho đời sống của các hộ gia đình ngày càng được
nâng cao về mọi mặt, tạo điều kiện cho quá trình giáo dục con cái. Nhận thấy
tầm quan trọng trong việc giáo dục con cái trở thành những người có tri thức,
đạo đức, năng động sáng tạo, tự lập, thích ứng với quá trình CNH-HĐH nhiều
bậc phụ huynh đã mạnh dạn đầu tư cho việc nuôi dạy con. Trẻ em được nuôi
57
dạy trong môi trường gia đình đầy đủ, tốt hơn ở các giai đoạn trước, được tới
trường học tập, được tham gia các hoạt động tập thể như sinh hoạt hè, đoàn
hội, hoạt động xã hội phong phú… giúp cho khả năng hòa đồng, hoạt động
nhóm, tính kỷ luật trách nhiệm, bộc lộ năng khiếu, tính sáng tạo trong mỗi
hoạt động cao. Theo điều tra xã hội học của phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em có
tới 69,5% các bậc phụ huynh hoàn toàn đồng ý với việc cho trẻ tham gia các
hoạt động tập thể phù hợp với lứa tuổi của trẻ [Xem 46, tr5]. Số trẻ em tại các
phường xã tham gia các hoạt động sinh hoạt hè, tham quan khu di tích lịch sử
ngày càng chiếm tỷ lệ cao, 90% số trẻ em ở mỗi phường xã đều tham gia sinh
hoạt hè địa phương đầy đủ, 10% còn lại có tham gia nhưng không thường
xuyên rơi vào độ tuổi 15-17 tuổi. Trẻ em được gia đình đầu tư đúng mức để
phát triển bản thân, nhiều gia đình kinh tế còn khó khăn nhưng đã đầu tư cho
con cái được học hành, tham gia các hoạt động tập thể. Điều đó đang ngày
càng góp phần tạo ra những đội ngũ trẻ có bản lĩnh, có tri thức, có khẳ năng
lao động sáng tạo thích ứng với nền kinh tế mới trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
2.1.2 Những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến giáo dục
gia đình ở Thái Nguyên hiện nay
2.1.2.1 Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến mục tiêu và nội
dung giáo dục gia đình ở Thái Nguyên
Một mặt nền KTTT góp phần thay đổi mục tiêu và nội dung giáo dục
trong mỗi hộ gia đình ở Thái Nguyên theo hướng hoàn thiện để đáp ứng được
những yêu cầu chung của sự phát triển xã hội, mặt khác chính sự tác động của
KTTT với mặt trái của nó như: quá đề cao lợi ích cá nhân, giá trị vật chất,
đồng tiền… khiến nhiều gia đình tại khu vực Thái Nguyên có xu hướng thay
đổi mục tiêu và nội dung giáo dục con cái theo hướng thiếu khoa học như sau:
Thứ nhất: những gia đình ở khu vực nông thôn, do không có điều
kiện về kinh tế để đầu tư cho giáo dục con cái dẫn tới tình trạng trẻ ở những
58
hộ gia đình này phải tham gia lao động từ rất sớm. Với hoạt động sản xuất
chính ở những khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa là trồng lúa, rừng, chè,
cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm nên vào thời gian mùa vụ mọi người
trong gia đình đều phải tham gia lao động. Tập trung cho lao động kinh tế, các
bậc phụ huynh thiếu đi thời gian cho giáo dục con cái, thậm chí có nhiều em
phải nghỉ học ở trường để phụ giúp gia đình nên các em thường lao động dài
ngày, mệt nhọc dẫn tới tình trạng không có thời gian học tập. Nội dung giáo
dục tri thức đạo đức ở những hộ gia đình ở khu vực nông thôn lại bị xem nhẹ,
còn truyền dạy kỹ năng lao động được đầu tư nhiều cho trẻ chủ yếu với mục
đích đào tạo ra người có thể lao động phụ giúp gia đình. Thậm chí nhiều hộ
gia đình hiện nay cho rằng không cần giáo dục tri thức đạo đức cho con cái
mà sau này cho con đi làm công nhân tại các nhà máy, đặc biệt rơi vào những
hộ gia đình ở khu vực Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai. Điều này dẫn
tới tình trạng trẻ có khẳ năng lao động và thích nghi với cuộc sống ngoài thực
tế nhanh hơn so với trẻ ở những khu vực thành phố, tuy vậy thiếu hụt đi mảng
tri thức đạo đức khiến trẻ thiếu những kiến thức cơ bản về văn hóa xã hội. Hệ
quả của điều đó đang là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trẻ ở
khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa xem nhẹ các tri thức đạo đức, bỏ học
sớm để đi làm diễn ra nhiều. Theo Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thái
Nguyên hiện nay có tới 26801 trẻ em nghèo; số trẻ em rời bỏ gia đình, bỏ học
sớm từ năm 2011 đến 2015 là 2567 em; số trẻ em lang thang đến các thành
phố lớn kiếm việc lên đến 154 em từ năm 2011 đến 2015 tập trung ở các
huyện Định Hóa, Võ Nhai, Phú Bình, Đồng Hỷ, Phổ Yên với nghề nghiệp chủ
yếu là bưng bê, rửa bát, bốc vác, thợ xây, đánh giầy, ăn xin tạo ra sự mất trật
tự, nạn trộm cắp ở khu vực thành phố Thái Nguyên, huyện Phổ Yên, Sông
Công, Thành phố Hà nội, Bắc Ninh… Tỷ lệ 30% số trẻ em bỏ nhà đi đến các
tỉnh khác là do gia đình không hạnh phúc, bố mẹ ít quan tâm giaó dục con cái
59
[Xem 47, tr2].
Nền KTTT với những biến động theo chiều hướng tiêu cực, đang tác
động làm suy thoái đạo đức của một bộ phận người tham gia vào quá trình
kinh tế. Số bậc phụ huynh mải làm kinh tế mà bất chấp cả những việc làm trái
pháp luật như: buôn bán ma túy, hại anh em bạn bè, giết người… dẫn tới sự
suy thoái đạo đức, cảnh tù tội, phá sản gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình ngày
càng gia tăng đã có ảnh hưởng tiêu cực đến giáo dục đạo đức cho con cái
trong gia đình. Theo số liệu của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, tính đến tháng 12/ 2010 toàn tỉnh Thái Nguyên có 4959 người nghiện
[Xem 34, tr1]. Cổng thông tin điện tử Thái Nguyên cho biết tính đến tháng
5/2013 có 8922 người nhiễm HIV/AIDS do hoạt động mại dâm, hiện nay toàn
tỉnh có trên 1000 cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm, trên 350 đối tượng liên
quan đến hoạt động mại dâm trá hình cở sở khách sạn, nhà nghỉ, quán
massage [Xem 66, tr2]. Trẻ lớn lên trong gia đình có bố mẹ làm ăn phi pháp,
mắc các tệ nạn xã hội, phạm tội, xuống cấp về chuẩn mực đạo đức chủ yếu
được bố mẹ truyền dạy cho các kỹ năng lao động, còn các chuẩn mực đạo đức
như: ngoan, lễ phép, hiếu thảo; tính thật thà trung thực; tính cần cù chịu khó;
tính tự lập; tình yêu nước yêu đồng bào được giáo dục rất ít. Thậm chí nhiều
gia đình bố mẹ có truyền dạy cho con cái các giá trị đạo đức nhưng theo
hướng lệch lạc như: có tiền mua tiên cũng được, có tiền là có tất cả… lối sống
thực dụng đề cao giá trị đồng tiền chỉ biết đến bản thân mình không quan tâm
giúp đỡ người khác đang trở thành những nội dung giáo dục tiêu cực gây ảnh
hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ.
Như vậy những hoạt động kinh tế trái phép dẫn tới sự xuống cấp về
đạo đức, mắc các tệ nạn xã hội của các bậc phụ huynh trong tỉnh đang có ảnh
hưởng nghiêm trọng tới quá trình lựa chọn và thực hiện giáo dục những nội
dung về tri thức, chuẩn mực đạo đức cho trẻ. Thêm vào đó, nó còn đang tác
động làm chệch hướng những tri thức, kỹ năng lao động, chuẩn mực đạo đức
60
trong quá trình giáo dục con cái dẫn tới việc các bậc phụ huynh truyền dạy
những nội dung tiêu cực cho trẻ. Các bậc phụ huynh ít quan tâm tới giáo dục
đạo đức cho trẻ, hoặc nếu có giáo dục thì giáo dục những chuẩn mực đạo đức
tiêu cực do ảnh hưởng từ lối sống đề cao giá trị đồng tiền đã gây ảnh hưởng
xấu đến nhận thức về những chuẩn mực đạo đức ở trẻ khiến nhiều trẻ có hành
vi sai lầm trong quá trình sống. Thậm chí nhiều gia đình bố mẹ làm ăn phi
pháp, phạm tội còn giáo dục con cái những kỹ năng nghề nghiệp liên quan tới
công việc của mình đang làm, lôi kéo con cái trở thành những người tiếp tay
phạm tội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng trẻ phạm tội
trong tỉnh. Thống kê của Sở lao động thương binh xã hội cho thấy trong giai
đoạn 2004- 2014 số trẻ em vi phạm pháp luật có 1283 trẻ với các loại hình
phạm tội chủ yếu: trộm cắp, cướp của, gây rối mất trật tự, hiếp dâm; trong đó
trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi là 267 em; từ 16 đến 18 tuổi là 746 em [Xem 46,
tr3]. Số trẻ phạm tội trong tỉnh chủ yếu do thiếu hiểu biết, do không kiềm chế
được cảm xúc dẫn tới những vụ giết người vì hiểu lầm, ghen tức, tình cảm,
cướp của ngày càng nghiêm trọng. Thậm chí số trẻ em phạm tội giết người
chủ yếu ở lứa tuổi THCS, THPT, các vụ giết người ở lứa tuổi học sinh chủ
yếu nằm rải rác hầu hết ở các trường trên địa bàn của tỉnh, trong đó tập chung
vào một số trường như: THPT Lương Ngọc Quyến, Dương Tự Minh, Gang
Thép, Ngô Quyền, Lê Qúy Đôn. Ngoài ra hiện nay tệ nạn mại dâm đối với trẻ
em cũng đang có xu hướng gia tăng trong tỉnh, có tới 659 thanh thiếu niên
tham gia đường dây gái mại dâm và tiếp khách với độ tuổi 14- 25 tuổi nằm rải
rác tại tất cả các huyện, trong đó tập trung nhiều ở những khu vực kinh tế phát
triển như: Phổ Yên, thành phố Thái Nguyên, Sông Công, Phú Bình dưới hình
thức trá hình của các quán cắt tóc gội đầu, massage, nhà nghỉ, trong đó có 177
em bị xâm hại tình dục [Xem 46, tr2]. Theo số liệu tổng hợp của Sở lao động
thương binh xã hội trong giai đoạn 2004 đến 2014 có 68 em phải đi trại giáo
dưỡng; 201 em nghiện ma túy, 40 em tham gia vào đường dây buôn bán bắt
61
cóc người; 125 em bị bạo lực gia đình xảy ra chủ yếu ở huyện Võ Nhai, Phổ
Yên, thành phố Sông Công và Thái Nguyên [Xem 46, tr2]. Thực trạng trên
cho thấy việc thiếu sự quan tâm giáo dục từ phía gia đình hoặc trẻ được giáo
dục những nội dung tiêu cực thiếu khoa học trong môi trường gia đình kinh
tế, văn hóa giảm sút, đời sống gia đình không hạnh phúc sẽ gây ra những ảnh
hưởng xấu đến thái độ, nhận thức và hành động khiến trẻ có sự phát triển sai
lệch với mục tiêu giáo dục con cái.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện nay, những yêu cầu
cũng như những thay đổi của các kiến thức khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội
trong và ngoài nước, lịch sử, đạo đức… đòi hỏi trẻ cần có nền tảng tri thức
văn hóa, cũng như có các đức tính cần thiết mới có thể đáp ứng được những
yêu cầu của nền kinh tế mới. Thêm vào đó sự phát triển mạnh của nền kinh tế
còn đòi hỏi cần có đội ngũ lao động có bằng cấp, có tay nghề, có sự nhạy bén
chủ động nắm bắt thời cơ trước những thay đổi liên tục của nền kinh tế. Do
vậy trẻ cần được giáo dục hài hòa giữa hai nội dung giáo dục là tri thức đạo
đức, văn hóa với kinh nghiệm lao động chứ không thể thiếu hụt một trong hai
nội dung như hiện nay.
Thứ hai: trong gia đình truyền thống, giáo dục đạo đức được đặc biệt
coi trọng. Trẻ khi sinh ra được bố mẹ giáo dục rất nghiêm khắc các chuẩn
mực đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội. Cũng như vậy hiện nay trong các
gia đình hiện đại, chức năng giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình vẫn
được các bậc phụ huynh xem trọng và thực hiện. Thêm vào đó là quá trình xã
hội hóa với sự tham gia của nhà trường và các tổ chức xã hội trong giáo dục
trẻ, quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ được chú ý thực hiện. Tuy nhiên trước
quá trình phát triển nền KTTT, mở cửa hội nhập quốc tế đã có ảnh hưởng
không nhỏ đến nhận thức và hành động của mỗi bậc phụ huynh trong giáo
dục đạo đức và kỹ năng lao động cho lớp trẻ. Nền KTTT đang ngày càng tạo
ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, nhưng những đòi hỏi cao trong
62
công việc như: tri thức văn hóa, tri thức kỹ năng lao động, đạo đức, khả năng
nhay nhạnh, năng động sáng tạo buộc các bậc phụ huynh trong quá trình giáo
dục con cái thiên về đầu tư giáo dục tri thức văn hóa trên lớp, đạo đức để
thuận lợi cho phát triển công việc sau này của trẻ. Điều này đang dẫn tới tình
trạng nhiều hộ gia đình ở khu vực thành phố Thái Nguyên, Sông Công mạnh
dạn đầu tư cho con cái đi học nước ngoài ở độ tuổi còn nhỏ ở các nước Trung
Quốc, Đài Loan, Singgapor, Mỹ… ở độ tuổi THCS, THPT chiếm 4% trong
tổng số các em học sinh ; cho trẻ đi học kiến thức ở các trung tâm đào tạo, gia
sư tại nhà, đặc biệt tình trạng trẻ học thêm chiếm hết khoảng thời gian trong
một ngày khiến trẻ không còn thời gian vui chơi giải trí, học làm các công
việc trong gia đình đang diễn ra phổ biến. Theo khảo sát của Sở Lao động
thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên có tới 47,5% gia đình cho rằng trẻ hiện
nay chỉ cần tập trung học hành, không cần làm những công việc trong gia
đình [Xem 46,tr4]. Như vậy nền KTTT đang ngày càng tạo ra nhiều điều kiện
trong giáo dục con cái ở mỗi gia đình, các bậc phụ huynh đầu tư chi tiêu cho
quá trình học tập của trẻ ngày càng nhiều; nhưng quá coi trọng giáo dục con
cái theo mục tiêu đề cao tri thức văn hóa, tri thức kỹ năng lao động dẫn đến
xem nhẹ việc giáo dục các chuẩn mực đạo đức, kinh nghiệm sống, các hoạt
động vui chơi giải trí của trẻ dẫn tới tình trạng trẻ căng thẳng trong học tập,
thụ động trong giao lưu với mọi người trong các hoạt động tập thể, thiếu hiểu
biết hoặc xem nhẹ các chuẩn mực đạo đức làm biến dạng nhiều chuẩn mực
đạo đức trong gia đình như: yêu thương đùm bọc, tình nghĩa thủy chung, đạo
hiếu thuận…. Thậm chí một tình trạng đang xảy ra trong mỗi gia đình hiện
nay đó là các môn học tập chính như: toán, văn, anh, hóa, lý… đang được bố
mẹ hướng cho trẻ học nhiều, còn các môn học như công nghệ, thể dục, thực
hành thí nghiệm của trẻ đang bị xem nhẹ, nhiều em bố mẹ còn làm hộ các bài
tập này ở nhà cho trẻ để trẻ tập trung vào học môn chính. Một mặt điều ấy tạo
cho trẻ có nhiều thời gian để học tập, vui chơi, nhưng nó lại làm cho trẻ ỷ lại,
63
lười lao động, không biết quan tâm tới người khác mà chỉ lo cho bản thân,
sống không có trách nhiệm với gia đình. Bảo vệ và nuông chiều theo những
đòi hỏi quá mức của con cái đã vô tình xây dựng thói xấu ở trẻ, làm mất đi
tính tự lập và sự chủ động trong các hoạt động của trẻ. Hầu hết các em sống
trong những gia đình như vậy, khi tham gia các hoạt động ngoại khóa, đoàn
đội thường tỏ ra lảng tránh hoặc làm qua loa, theo điều tra ở độ tuổi 12-15
tuổi có 60% số trẻ em vẫn được bố mẹ đưa đến trường, số này tập trung ở khu
vực thành phố Thái Nguyên, trong đó có 30,5% số trẻ em được đưa đón có
tâm lý nhút nhát, ỷ lại dựa dẫm vào bố mẹ [Xem 46, tr4]. Thiếu đi các kỹ
năng lao động cần thiết mà đơn giản như các hoạt động sinh hoạt tự phục vụ
bản thân mình như vệ sinh cá nhân hàng ngày cho đến các hoạt động phụ giúp
gia đình, bạn bè, hoạt động cộng đồng làm trẻ hoàn toàn thụ động, bỡ ngỡ,
tâm lý không vững vàng trước những thay đổi nhanh của nền kinh tế hiện nay.
Thứ ba: từ yêu cầu cần có công việc tốt để trẻ phát triển sự nghiệp
sau này dẫn tới tình trạng các bậc phụ huynh đầu tư vào giáo dục tri thức văn
hóa và kỹ năng nghề nghiệp nhiều, mà xem nhẹ quá trình giáo dục thể chất
giới tính, thẩm mỹ cho trẻ dẫn tới tình trạng trẻ phát triển mất cân đối về mặt
thể lực, giới tính. Trẻ được hoàn thiện ở mặt tri thức kỹ năng lao động nhưng
lại thiếu nhiều đi những hiểu biết về cách chăm sóc bảo vệ mình trong vấn đề
sức khỏe tình dục, sinh sản, tâm lý... Giaó dục giới tính là một nội dung giáo
dục giữ vị trí quan trọng trong giáo dục gia đình hiện nay, thực hiện giáo dục
giới tính cho trẻ nhằm giúp trẻ có cách nhìn nhận đúng đắn trong quan hệ hai
giới, trong kiến thức về tình dục, tâm sinh lý thay đổi của cơ thể, tình bạn tình
yêu hôn nhân và gia đình. Trong xã hội hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ
của điều kiện kinh tế, của khoa học công nghệ, văn hóa xã hội các quan niệm
về giới tính đã có những thay đổi theo hướng tiến bộ hơn, đặc biệt những vấn
đề xoay quanh giới tính đã được đề cập nhiều ở trong sách báo, mạng internet,
đài, tivi…nhằm mang đến cho người dân những hiểu biết đúng về vấn đề này.
64
Do vậy một mặt trẻ em đến tuổi dậy thì đã được bố mẹ gần gũi chia sẻ về
những nội dung như: tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình, tình dục, sức
khỏe sinh sản, những thay đổi của cơ thể và tâm lý qua các giai đoạn trưởng
thành. Tuy nhiên vấn đề giáo dục giới tính hiện nay còn chưa thực sự được
nhiều các bậc phụ huynh đầu tư giáo dục cho trẻ trong hầu hết các hộ gia đình
ở Thái Nguyên, theo điều tra của tác giả Cao Thị Phương Nhung lý do mà các
bậc phụ huynh không thực hiện giáo dục giới tính cho trẻ ở tỉnh Thái Nguyên
hiện nay là do 18,5% các bậc phụ huynh cho là chuyện khó nói; 4% cho rằng
nó không có lợi; 6,5% cho rằng xưa nay không có ai làm; 73% cho rằng con
còn bé [Xem 45, tr70]. Như vậy với tâm lý è dè đề cập đến vấn đề giới tính
do ảnh hưởng từ các quan niệm truyền thống của người phương Đông. Cho
rằng đề cập đến các vấn đề liên quan đến giới tính như: tình dục, sức khỏe
sinh sản, các giai đoạn trưởng thành dẫn đến những thay đổi bộ phận của con
người là xấu, không phù hợp để giáo dục cho con cái, thậm chí có người cho
rằng làm như vậy là “vạch đường cho hươu chạy”. Do vậy những nội dung
xoay quanh vấn đề này ít được quan tâm, đề cập trong gia đình dẫn đến sự
thiếu định hướng, hiểu biết đúng đắn ở trẻ. Chính những điều đó đã tạo ra tâm
lý tò mò, hành động sai gây ra những hậu quả đáng tiếc ở trẻ như: quan hệ
tình dục sớm, nạn tảo hôn do mang bầu sớm ở trẻ vị thành niên, sức khỏe sinh
sản chưa đủ để mang thai dẫn tới nguy hiểm tính mạng, chăm sóc sức khỏe
bản thân chưa đúng…Thêm vào đó, sự hiểu biết của các bậc phụ huynh về
vấn đề giới tính, tình yêu hôn nhân còn nhiều hạn chế nên không có cách giáo
dục đúng đắn cho trẻ dẫn tới sự thiếu hiểu biết ở trẻ. Khi đề cập đến vấn đề
giáo dục giới tính các bậc phụ huynh đều cho rằng là dạy con những nội dung
liên quan tới tình dục; còn không đề cập tới cách vệ sinh, tâm lý tuổi dậy thì,
giáo dục con về tình bạn, tình yêu nam nữ. Trong vấn đề giáo dục con cái về
tình dục các bậc phụ huynh cũng chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở con cái không
được quan hệ sớm, còn những vấn đề sâu hơn như: biến đổi cơ thể qua các
65
thời kì, tâm sinh lý thay đổi ra sao, sự thụ thai và phát triển, vệ sinh thân thể,
các bệnh lây qua đường tình dục, hậu quả của quan hệ tình dục sớm, tình bạn,
tình yêu, hôn nhân, gia đình…ít được bố mẹ đề cập giáo dục cho con cái.
Những vấn đề giới tính cơ bản cho trẻ chủ yếu được truyền dạy trong nhà
trường nhưng cũng không được đầy đủ, khoa học bài bản. Mặt khác sự thiếu
quan tâm do mải mê thực hiện hoạt động kinh tế khiến cha mẹ không có thời
gian giáo dục con cái, chú ý tới những thay đổi tâm sinh lý ở trẻ. Xem nhẹ
giáo dục giới tính cho trẻ, trong giáo dục giới tính thì chỉ dừng lại ở giáo dục
những nội dung cơ bản cho trẻ đã gây ra hệ quả là: tư tưởng sống thoáng, tình
dục trước hôn nhân, số ca tử vong, tổn thất tinh thần ở trẻ do nạo phá thai và
sinh con ngoài ý muốn, nạn tảo hôn gia tăng. Theo thống kê của Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Thái Nguyên hiện nay tỉ lệ nạo phá thai và sinh con trước 22 tuổi
đang có xu hướng tăng lên ở Thái Nguyên chiếm tới 25% trong các vụ [Xem
7, tr3]. Trong ấn phẩm Chuyên khảo cơ cấu dân số của cục Thống kê Việt
Nam vào năm 2009 tình trạng tảo hôn kết hôn sớm trong tỉnh Thái Nguyên
rơi vào độ tuổi nam 15-19 chiếm 0,85%; nữ 15-19 chiếm 8,53%; nữ 15-17
tuổi chiếm 2,47% [Xem 11, tr110]. Những nguyên nhân dẫn tới tình trạng
trên có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: hoạt động của phim ảnh,
video trên mạng xã hội, quán karaoke…, lối sống buông thả của cha mẹ trở
thành tấm gương xấu đối với trẻ, sự dụ dỗ lôi kéo hoặc uy hiếp từ bạn bè, sự
thiếu hiểu biết về vấn đề giới tính…, nhưng nguyên nhân đầu tiên và có tác
động trực tiếp tới vấn đề trên là do trẻ đang thiếu hiểu biết về giới tính. Qua
đó cho thấy nội dung giáo dục giới tính trong gia đình hiện nay vẫn còn chưa
được quan tâm, nội dung thiếu sót chưa rõ ràng mà thường chỉ dừng lại ở
những lời dặn dò, đe dọa từ bố mẹ mà không có sự định hướng đúng sai. Do
vậy mà để tránh các hậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không
đúng về vấn đề giới tính các bậc phụ huynh trong quá trình giáo dục cần tập
trung thêm vào giáo dục cả thể lực và giới tính để trẻ có thể có sức khỏe và
66
trang bị tốt trước những thay đổi của cơ thể, cách xử lý giải quyết các tình
huống xoay quanh vấn đề này, tự bảo vệ bản thân tránh những hậu quả đáng
tiếc xảy ra.
Thứ tƣ: KTTT đang ngay càng tạo ra nhiều cơ hội cho mỗi người
dân Thái Nguyên trong công việc, vui chơi giải trí, các mối quan hệ xã hội,
giáo dục con cái…nhưng nó cũng mang lại cả những thách thức về kinh tế,
văn hóa đạo đức, giáo dục lớp trẻ. Trong giáo dục ở những hộ gia đình tại khu
vực thành phố Thái nguyên hiện nay đang xảy ra vấn đề bất đồng quan điểm
trong mục tiêu, nội dung giáo dục con cái ở những cặp vợ chồng trẻ do sự
định hướng nghề nghiệp của mỗi người khác nhau. Định hướng con cái theo
nghề nghiệp gì, lựa chọn nội dung nào, đầu tư ra sao cho quá trình học tập của
con gây ra sự tranh cãi căng thẳng trong gia đình khi bố mẹ bất đồng quan
điểm. Không thống nhất được mục tiêu, nội dung giáo dục con cái trong gia
đình, các bậc phụ huynh không thể giáo dục con cái tốt mà tạo thêm nhiều áp
lực cho trẻ. Điều này đang gây ra tâm lý phản kháng, chống đối, mất phương
hướng ở trẻ do không biết thực hiện theo nội dung giáo dục của ai trong gia
đình. Thêm vào đó với nhịp sống khẩn trương của nền KTTT, đời sống tình
cảm của các thành viên trong gia đình cũng đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Trong những hộ gia đình trẻ, vợ chồng mải mê làm kinh tế không quan tâm
vun đắp tình cảm gia đình, không tâm sự chia sẻ với nhau, các hoạt động sống
chủ yếu thực hiện bên ngoài gia đình, các cuộc gặp gỡ đối tác, đi công tác…
đã gây ra nạn ngoại tình, bạo lực gia đình, ly thân, ly hôn cao ở Thái Nguyên
hiện nay. Điều này đang làm thay đổi những chuẩn mực đạo đức trong tình
nghĩa vợ chồng như: yêu thương quan tâm chia sẻ công việc, tình nghĩa, thủy
chung, thuận hòa… mà thay vào đó là sự thờ ơ, vô trách nhiệm. Theo Sở lao
động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2011 toàn tỉnh xảy ra 854 vụ
bạo lực gia đình; năm 2012 xảy ra 510 vụ; năm 2013 xảy ra 196 vụ; năm
2014 xảy ra 222 vụ; từ 2008 tới 2013 toàn tỉnh xảy ra 1091 vụ mâu thuẫn gia
67
đình, trong đó nguyên nhân chủ yếu của các vụ ly hôn là do mâu thuẫn gia
đình chiếm 70%; 30% là các nguyên nhân như: ngoại tình, chồng nghiện ma
túy, mắc tệ nạn xã hội [Xem 73, tr2]. Những cuộc hôn nhân tính toán trên cơ
sở tiền, vật chất, địa vị xã hội…mà không xuất phát từ tình yêu khiến bầu
không khí gia đình nặng nề, vợ chồng sống không tình nghĩa gây ảnh hưởng
rất lớn đến quá trình lựa chọn nội dung giáo dục trẻ trong gia đình. Trẻ lớn lên
trong những gia đình có bố mẹ bất hòa, ngoại tình, bạo lực thường không
được giáo dục hoàn chỉnh về mặt tri thức, kỹ năng lao động, chuẩn mực đạo
đức, giới tính. Giáo dục trong gia đình thường do một bên thực hiện hoặc là
bố hoặc là mẹ dẫn tới tình trạng những nội dung giáo dục truyền dạy cho trẻ
không đầy đủ, cùng với bầu không khí gia đình căng thẳng khiến trẻ phát triển
không hoàn thiện về mặt nhân cách.
Sự phát triển của KTTT đã tác động đến nhận thức của một bộ phận
con người Thái Nguyên như quá coi trọng vật chất của cải, đề cao chủ nghĩa
cá nhân, thực dụng với biểu hiện của nó là sự ích kỷ, vụ lợi, tham lam, tranh
đấu, thích hưởng thụ tiêu dùng…đã có những tác động tiêu cực tới các mối
quan hệ đạo đức trong gia đình, xã hội của mỗi bậc phụ huynh. Con người lúc
này do mải chạy theo những giá trị vật chất mà quên đi trách nhiệm, bổn phận
của mình trong gia đình, làm xâm hại đến những giá trị đạo đức gia đình dẫn
đến tình trạng xuống cấp trong quan hệ hôn nhân như nạn: ngoại tình, ly hôn,
bạo lực gia đình; của các quan hệ đạo đức cha con yêu thương hiếu thuận; anh
em yêu thương đùm bọc; quan hệ bạn bè đồng nghiệp quan tâm giúp đỡ...
Đạo đức trong gia đình giảm sút, con người trở nên mất nhân tính làm cho
quá trình giáo dục các chuẩn mực đạo đức cho trẻ trong gia đình đi xuống,
cha mẹ trở thành những tấm gương xấu, lựa chọn những nội dung đạo đức sai
lầm để giáo dục con cái đã để lại những tổn thương tâm lý khiến trẻ phát triển
theo hướng tiêu cực.
Thứ năm: nền KTTT phát triển đã tạo điều kiện cho sự ra đời của
68
các gia đình hạt nhân (gia đình của vợ chồng và con cái của họ), đặc biệt
những gia đình này tập trung ở khu vực thành phố Thái Nguyên, Sông Công,
Phổ Yên; một tỷ lệ nhỏ tập trung ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa
như: Phú Lương, Phú Bình, Võ Nhai, Định Hóa. Do tập quán sinh sống của
đồng bào dân tộc thiểu số nên ở những khu vực này vẫn tồn tại nhiều thế hệ
sinh sống trong một gia đình. Sự ra đời của gia đình hạt nhân đã bộc lộ rõ
những hạn chế trong xác định mục tiêu và nội dung giáo dục con cái trong gia
đình. Một mặt những gia đình hạt nhân được độc lập về kinh tế, đảm bảo sự
riêng tư, bớt đi sự xung đột giữa các thành viên nhiều thế hệ do sống chung
làm cho bầu không khí sống thoải mái, có nhiều điều kiện kinh tế chăm lo gia
đình, trong giáo dục con cái tránh những xung đột do tư tưởng khác nhau giữa
nhiều thế hệ. Nhưng mặt khác nó cũng đem lại sự hạn chế trong xác định mục
tiêu và nội dung giáo dục con cái trong mỗi gia đình này. Theo điều tra xã hội
học của tác giả Cao Thị Phương Nhung có tới 20,5% người đồng ý với lựa
chọn lối sống của ông bà ảnh hưởng tới con cháu rất nhiều trong mỗi hộ gia
đình ở tỉnh Thái Nguyên; 51,5% lựa chọn ảnh hưởng nhiều; 18,5% chọn ảnh
hưởng không nhiều; 9,5% cho rằng không có ảnh hưởng gì [Xem 45, tr74].
Trong những gia đình hạt nhân thường thiếu hụt đi sự định hướng mục tiêu và
nội dung giáo dục từ phía ông bà với những kinh nghiệm sống, bài học, tri
thức phong phú được tích lũy lâu dài trong suốt cuộc đời. Các bậc phụ huynh
trong mỗi gia đình hạt nhân đang ưu tiên cho đầu tư giáo dục tri thức văn hóa
và kỹ năng lao động cho trẻ nhưng xem nhẹ giáo dục đạo đức. Thực tế cho
thấy ở những gia đình sinh sống với ông bà thường xác định mục tiêu giáo
dục hoàn chỉnh với những bài học, kinh nghiệm sống và lao động của các bậc
cha ông có vai trò to lớn trong việc lựa chọn mục tiêu và nội dung giáo dục
tác động tới lớp trẻ giúp trẻ hoàn thiện nhân cách, tri thức kỹ năng sống, học
tập và lao động. Sự kết hợp nội dung giáo dục tri thức, kỹ năng lao động của
bố mẹ với giáo dục đạo đức, văn hóa, thể chất của ông bà trong gia đình
69
truyền thống mang lại hiệu quả cao trong giáo dục con cái. Do vậy giáo dục
trong những gia đình hạt nhân ở Thái Nguyên hiện nay đang bộc lộ rõ những
hạn chế hơn so với những gia đình truyền thống về quá trình lựa chọn mục
tiêu và nội dung thực hiện quá trình giáo dục trẻ. Đặc biệt trong giai đoạn đất
nước đang có sự chuyển giao, nối tiếp giữa các giá trị văn hóa truyền thống,
đạo đức cũ và mới như hiện nay. Qúa trình phát triển nền KTTT với sự mở
cửa hội nhập, giao lưu kinh tế, văn hóa với các nước trên thế giới đang tạo ra
những thuận lợi về mọi mặt cho xã hội, gia đình ở Thái Nguyên phát triển,
nhưng bên cạnh đó nền KTTT cũng đang tác động đến bộ phận người Thái
Nguyên dẫn tới sự tha hóa, xói mòn về đạo đức do tiếp thu những nền văn hóa
độc hại bên ngoài đang tăng cao, đặc biệt là bộ phận lớp trẻ hiện nay của tỉnh.
Do đó sự định hướng giáo dục từ phía ông bà về các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc; chuẩn mực đạo đức của gia đình, đất nước cùng với việc
củng cố những giá trị mới về tri thức, kỹ năng lao động, văn hóa hiện đại từ
cha mẹ, anh chị trong gia đình giúp trẻ có hiểu biết đúng đắn và đạo đức hoàn
thiện đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Không những thế, sự yêu
thương quan tâm chăm sóc của ông bà hàng ngày giúp trẻ có được tình cảm
đầy đủ, đặc biệt trong những gia đình có bố mẹ mải mê hoạt động kinh tế nên
không có thời gian chăm sóc con cái, thì sự bù đắp tình cảm từ phía ông bà
giúp trẻ giảm bớt sự thiếu hụt về tình cảm yêu thương của bố mẹ và thực hiện
quá trình giáo dục cho trẻ.
2.1.2.2 Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến phương pháp
giáo dục gia đình ở Thái Nguyên
Trong mấy năm gần đây kinh tế Thái Nguyên đặc biệt phát triển ở
những vùng trọng điểm của tỉnh như khu sản xuất gang thép, chè, than,
quặng, xi măng, khu du lịch ATK, Hồ Núi Cốc, công ty Sam Sung… làm
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân tại những khu vực trên.
Nhưng bên cạnh đó, do những khu vực này trước đó là vùng huyện, nông thôn
70
với nền kinh tế khó khăn, nay kinh tế đột nhiên phát triển nhanh khiến nhiều
hộ gia đình có tâm lý sống thoải mái hưởng thụ buông thả, cùng với sự du
nhập của bộ phận người dân nơi khác tới làm việc. Theo số liệu thống kê của
UBND tỉnh vào năm 2014 số công nhân lao động tại Sam Sung Thái Nguyên
là 29.000 người đến năm 2015 tăng lên 50.000 đã mang đến nhiều lối sống
mới làm bùng nổ tệ nạn xã hội ở những khu vực này ngày càng lớn như: ma
túy, mại dâm, cờ bạc, rượu chè, đánh nhau… khiến môi trường văn hóa giảm
sút ảnh hưởng nghiêm trọng tới đạo đức của cá nhân, gia đình.Từ những hệ
quả tiêu cực của nền kinh tế trong vài năm gần đây, phương pháp giáo dục
trong gia đình cũng đang có những biến đổi theo hướng tiêu cực như sau:
Thứ nhất: một mặt nền KTTT tác động làm cho phương pháp giáo
dục gia đình thay đổi theo hướng hoàn thiện kết hợp giữa phương pháp truyền
thống và hiện đại, chú trọng phát triển tính cách, nhu cầu tâm tư tình cảm, cái
tôi cá nhân của trẻ. Điều này giúp trẻ có thể phát triển bản thân theo năng
khiếu, sở thích, nguyện vọng của mình. Nhưng mặt khác phương pháp đề cao
tính tích cực của đối tượng giáo dục mà thiếu sự kiểm soát của phương pháp
uy quyền của cha mẹ đã tạo ra tâm lý đòi hỏi và thỏa mãn ở trẻ gây ra bất
đồng quan điểm, xung đột giữa cha mẹ và con cái trong gia đình. Hơn thế nữa
một số gia đình có cách giáo dục quá nuông chiều con cái đang tiếp tay cho
việc thỏa mãn vô điều kiện những đòi hỏi của con cái. Còn những em cần tiền
vui chơi, mua sắm nhưng gia đình không đáp ứng sẽ dễ bị lối kéo vào đường
dây ma túy, buôn bán trẻ em, cướp giật, mắc các tệ nạn xã hội ở lứa tuổi còn
khá sớm gây ảnh hưởng xấu đến tương lai sau này. Hệ quả của việc đề cao
quyền lợi cá nhân, giá trị vật chất, tâm lý thích hưởng thụ lười lao động đang
gây ra sự xói mòn đạo đức của trẻ trong mỗi gia đình hiện nay của tỉnh, đặc
biệt tập trung vào khu vực thành phố Thái Nguyên, Sông Công, huyện Phổ
Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ. Các chuẩn mực đạo đức như: hiếu, yêu thương đùm
bọc chia sẻ, cha mẹ nuôi dạy chăm sóc con cái, con cái hiếu thảo phụng
71
dưỡng cha mẹ, kính trên nhường dưới… là những chuẩn mực cơ bản và tốt
đẹp trẻ cần tiếp thu trong mỗi gia đình thì nay bị xói mòn, thay vào đó là lối
sống ích kỉ, thiếu trách nhiệm, chỉ biết thỏa mãn lợi ích của bản thân, bất hiếu,
không tình nghĩa.
Thứ hai: trong giáo dục gia đình phương pháp nêu gương là một
trong những phương pháp có tác động nhanh đến trẻ so với những phương
pháp khác. Đây là nguyên tắc quyết định, có tầm quan trọng đặc biệt đối với
công tác giáo dục. Do cha mẹ là người trẻ tiếp xúc đầu tiên và lâu dài nhất
trong quá trình trưởng thành vì vậy hành động đầu tiên của trẻ thường là bắt
chước theo hành động của cha mẹ, các thành viên khác trong gia đình.Trẻ em
rất nhạy cảm và hay làm theo người lớn nên cử chỉ, lời nói, hành động của
cha mẹ có tác động rất lớn đến quá trình nhận thức và hành động của trẻ.
Chính vì vậy muốn giáo dục con cái trở thành người có đạo đức, các bậc cha
mẹ phải là tấm gương tốt từ: lời ăn tiếng nói, cách cư xử giao tiếp, phẩm chất
đạo đức tốt… để trẻ noi theo. Nhưng hiện nay trước tác động của nền KTTT
nhiều bậc phụ huynh trong quá trình làm kinh tế bị suy thoái đạo đức, làm
kinh tế mà bất chấp cả những việc làm trái pháp luật như: buôn bán ma túy,
hại anh em bạn bè, giết người…dẫn tới cảnh tù tội, đổ vỡ hạnh phúc gia đình
đã trở thành bài học xấu ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành và phát
triển nhân cách ở trẻ. Theo số liệu của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, tính đến tháng 12/ 2010 toàn tỉnh Thái Nguyên có 4959 người
nghiện [Xem 34, tr1]. Theo cổng thông điện tử tỉnh Thái Nguyên tháng
5/2013 số người nhiễm HIV/AIDS do hoạt động mại dâm là 8922 [Xem 66,
tr2]. Như vậy do ảnh hưởng từ môi trường văn hóa xấu bên ngoài đã tác động
tới suy nghĩ, lối sống đạo đức của một bộ phận gia đình làm cho quá trình
giáo dục con cái có những nội dung và phương pháp không phù hợp, bố mẹ
trở thành tấm gương xấu cho con.
Thứ ba: một bộ phận gia đình ở Thái Nguyên nhận thấy tác hại từ
72
môi trường văn hóa xấu bên ngoài có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến con
cái, nên đã có những biện pháp giáo dục con cái tránh xa môi trường độc hại.
Nhưng các bậc phụ huynh lại có những biện pháp giáo dục hà khắc thiếu khoa
học như: nghiêm cấm con cái, cách ly trẻ với môi trường xã hội bên ngoài,
đánh đập, chửu mắng… làm cho trẻ sợ hãi, nhút nhát, cô lập tự kỷ. Sử dụng
phương pháp uy quyền của cha mẹ không hợp lý khiến trẻ trở nên sợ hãi, khó
tiếp nhận nội dung giáo dục từ phía cha mẹ. Đặc biệt khi sử dụng phương
pháp uy quyền không kết hợp với phương pháp như: nêu gương, tâm sự
thuyết phục, định hướng cho trẻ sẽ hình thành tâm lý phục tùng bên ngoài
nhưng phản kháng ngầm bên trong của trẻ.
Ngoài ra có những gia đình quá chú trọng giáo dục tri thức để trẻ trở
thành người thành đạt, sau này làm rạng rỡ tổ tông, nhưng không có biện pháp
giáo dục đúng đắn, thiếu sự đối thoại, không quan tâm tới tính tự tôn, tính tích
cực, tâm lý tình cảm của trẻ làm nảy sinh tâm lý phản kháng đem lại những
kết quả tiêu cực. Đặc biệt tình trạng này rơi vào những hộ gia đình ở khu vực
Thành phố Thái Nguyên, Sông Công. Thêm vào đó hoạt động kinh tế căng
thẳng khiến các bậc cha mẹ mải mê làm việc không có thời gian thực hiện các
phương pháp tâm sự khuyên bảo cổ vũ động viên trẻ mà để trẻ tự phát triển
gây ra những tổn thương tâm lý khiến trẻ phát triển lệch lạc, không bình
thường, đặc biệt trẻ ở độ tuổi 1-10 tuổi đang phát triển tâm lý, sự thiếu quan
tâm giáo dục từ bố mẹ khiến trẻ dễ mắc chứng trầm cảm, tự kỉ, phát triển theo
hướng tiêu cực. Theo điều tra của Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái
Nguyên thì hiện nay số trẻ mắc tự kỉ đang có dấu hiệu tăng cao, trẻ tự kỉ
thường chậm phát triển ngôn ngữ, quan hệ xã hội, rối loạn hành vi. Hiện nay
ở Thái Nguyên có nhiều bậc cha mẹ do mải mê hoạt động kinh tế không quan
tâm tới con cái, nên không phát hiện ra con bị mắc tự kỉ hoặc không thừa
nhận việc trẻ mắc tự kỉ. Theo thống kê của Trung tâm công tác xã hội tỉnh
Thái Nguyên hiện nay số trẻ mắc tự kỉ thường đã qua độ tuổi 3 tuổi, từ năm
73
2013 đến nay thông qua chương trình “ Đánh giá sự phát triển tâm vận động
cho trẻ em mầm non” cho 500 trẻ tại trường nầm non 19/5 và Hoa Trạng
Nguyên ở thành phố Thái Nguyên đã đã phát hiện ra trên 10% trẻ bị rối nhiễm
tâm trí, tự kỉ; năm học 2011-2012, qua kiểm tra phân loại trẻ nhập trường (12-
18 tháng tuổi) có 18/290 cháu mắc chứng tự kỷ; năm học 2012-2013 có
21/300 cháu, năm 2013-2014 tăng lên 27/300 cháu [Xem 79]. Bên cạnh đó,
theo kết quả sàng lọc của tác giả Phạm Trung Kiên trong “Nghiên cứu tỷ lệ
hiện mắc và kết quả điều trị tự kỷ trẻ em tại Tỉnh Thái Nguyên” cho thấy tỷ lệ
trẻ mắc tự kỉ ở khu vực trung tâm thành phố là 41,6%; phường thuộc ngoại vi
thành phố là 19%; xã thuộc thành phố là 16,2%; huyện là 23,2%. Như vậy
theo kết quả điều tra cho thấy trẻ có xu hướng mắc tự kỉ có hướng giảm dần
từ các phường trung tâm thành phố là 0,66% đến các huyện là 0,23% [Xem
29, tr4]. Theo đánh giá của tác giả thì hiện nay có nhiều nguyên nhân gây ra
tình trạng tự kỉ ở trẻ, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là do các
bậc phụ huynh thiếu kĩ năng, thời gian chăm sóc, mục tiêu, nội dung phương
pháp giáo dục trẻ chưa khoa học. KTTT phát triển khiến các bậc phụ huynh
mải mê thực hiện hoạt động kinh tế, không có thời gian chăm sóc, giáo dục
con cái nên không phát hiện ra những biểu hiện bất thường ở trẻ. Theo sự
đánh giá của bà Phùng Thị Thơm, giám đốc Trung tâm công tác xã hội tỉnh
Thái Nguyên thì trẻ bị tự kỉ thường biểu hiện khi 7-8 tháng tuổi, nếu quan sát
và phát hiện kịp thời sẽ dễ điều trị cho trẻ bằng các biện pháp. Một khía cạnh
khác là trẻ mắc tự kỉ ở độ tuổi đi học tiểu học, THCS là do trẻ không nhận
được tình cảm, tâm sự, chia sẻ từ phía cha mẹ về những khó khăn trong học
tập, tình bạn, tình yêu, giới tính dẫn đến tâm lý sợ hãi, tự cô lập bản thân.
Thứ tƣ: KTTT phát triển đang tạo ra những thay đổi tích cực trong
phương pháp giáo dục con cái. Các phương pháp thực hiện giáo dục con cái
ngày càng đa dạng hơn, sự kết hợp giữa phương pháp giáo dục truyền thống
với hiện đại đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên trước tác động
74
mạnh mẽ của nền KTTT với guồng máy kinh tế hoạt động cao đã cuốn các
bậc phụ huynh vào làm việc với cường độ cao. Nên nhiều gia đình ở Thái
Nguyên đang đẩy trách nhiệm giáo dục con cái cho nhà trường, gia sư, giúp
việc mà không tự mình thực hiện phương pháp đối thoại, tâm sự, thuyết phục,
định hướng đúng sai cho trẻ. Những phương pháp truyền thống trong gia đình
hiện nay ở Thái Nguyên đang ít được thực hiện hơn so với trước. Cũng như
vậy các phương pháp giáo dục hiện đại thông qua phương tiện truyền thông
như: tivi, sách báo, đài, máy tính, các buổi học tập ngoại khóa nhằm phát huy
tính chủ động sáng tạo của trẻ cũng ít được quan tâm thực hiện. Thêm vào đó
hiện nay tình trạng nhiều gia đình có điều kiện kinh tế ở Thái Nguyên chỉ lo
đáp ứng tiền bạc cho con cái mà không quan tâm tới việc con cái sẽ dùng số
tiền hàng tháng vào việc gì, mua bán những sản phẩm gì đang diễn ra nhiều,
theo khảo sát của Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên có tới
55% các bậc phụ huynh ở khu vực thành phố cho rằng không cần quản lý việc
con cái chi tiêu mua sắm ra sao; 30% các bậc phụ huynh ở khu vực nông thôn
vùng sâu vùng xa cho rằng không cần quản lý con cái chi tiêu. Hiện nay với
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, trẻ em nắm bắt được nhiều
kiến thức từ các kênh thông tin khác nhau giúp trẻ phát triển tri thức tốt hơn.
Tuy nhiên các luồng thông tin trên các trang mạng xã hội hiện nay có nhiều ý
kiến trái chiều, chứa nhiều nội dung tiêu cực, đặc biệt các trang mạng không
có nguồn gốc rõ ràng đang có ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hành động của
trẻ. Ngoài ra trẻ cũng tiếp xúc nhiều với các trò chơi giải trí mới lạ trên
internet, một mặt làm giảm tình trạng căng thẳng trong học tập nhưng nó cũng
dẫn đến tình trạng ham muốn chơi điện tự quá độ ở trẻ. Thậm chí số trẻ bỏ
học, trộm cắp để có tiền chơi điện tử, mắc chứng trầm cảm do chơi quá nhiều
mà không nói chuyện, tham gia các hoạt động xã hội khác đang tăng dần tại
tỉnh làm chệch hướng mục tiêu giáo dục con cái trong gia đình. Do vậy việc
thực hiện các phương pháp giáo dục hiện đại cho trẻ như: tivi, sách báo, mạng
75
internet không được các bậc phụ huynh quan tâm thực hiện đúng mức sẽ dẫn
tới tình trạng trẻ phát triển theo hướng lệch lạc do tiếp thu những thông tin sai
lệch trên mạng xã hội.
Như vậy nền KTTT phát triển đang tạo ra những thay đổi tích cực
trong giáo dục gia đình về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục con
cái. Trước những yêu cầu cần có một đội ngũ lao động lành nghề có tri thức,
kĩ năng, nhân phẩm tốt để phát triển nền KTTT đã giúp định hướng được mục
tiêu giáo dục con cái ở các bậc phụ huynh. Thêm vào đó nội dung giáo dục
con cái cũng đầy đủ hoàn thiện hơn trước, không chỉ dừng lại ở việc giáo dục
đạo đức, tri thức kĩ năng lao động cho trẻ mà còn giáo dục cả thể chất giới
tính, tính tự lập…tạo ra sự chủ động, sáng tạo ở trẻ. Các phương pháp thực
hiện giáo dục con cái cũng đa dạng hơn, sự kết hợp giữa phương pháp giáo
dục truyền thống với hiện đại đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Ngoài ra sự
phối hợp giữa nhà trường-gia đình- xã hội cũng ngày càng được củng cố chặt
chẽ, có sự thống nhất trong mục tiêu, nội dung giáo dục lớp trẻ. Nhưng bên
cạnh đó, KTTT với những mặt trái của nó cũng đang có những tác động tiêu
cực tới giáo dục con cái trong mỗi gia đình. Hố sâu giàu nghèo ngày càng gia
tăng tạo nên sự cách biệt về điều kiện giáo dục con cái. Nhiều gia đình nghèo
không có điều kiện giáo dục con cái khiến trẻ phát triển không hoàn thiện cả
về đạo đức và tri thức. Còn có những hộ gia đình thì mải mê làm kinh tế mà
không có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái thường gây ra sự thiếu hụt tình
cảm, tổn thương về tâm lý ở trẻ khiến trẻ dễ mắc các tệ nạn xã hội như: ma
túy, mại dâm cướp của, giết người, bỏ nhà lang thang…
Giáo dục gia đình đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân
cách của mỗi cá nhân đối với sự phát triển xã hội. Tuy nhiên với sự biến đối
nhanh và phức tạp của nền kinh tế hiện nay, giáo dục gia đình tại Thái
Nguyên hiện nay đang chịu những ảnh hưởng theo hướng tiêu cực và tích
cực. Do vậy, cần có những giải pháp để góp phần phát triển những ảnh hưởng
tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ nền KTTT đến giáo dục con
76
cái trong gia đình
2.2 Giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu
cực của kinh tế thị trƣờng đến giáo dục gia đình ở Thái Nguyên hiện nay
2.2.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
Đảng và Nhà nước ta xác định mô hình kinh tế tổng quát của nước ta
trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam đó là xây dựng và phát triển nền
KTTT định hướng XHCN. Nền KTTT ở nước ta mới được xây dựng nên vẫn
còn tồn tại những hạn chế, yếu kém sau: nền kinh tế của chúng ta đang trong
thời kì quá độ nên còn tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế với nhiều loại
hình kinh tế vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau; kinh tế ở nước ta còn kém phát
triển về số lượng mặt hàng, chủng loại, khối lượng hàng lưu thông còn hạn
chế, kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ, đội ngũ quản lý yếu kém về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng thể chế, chế độ sở hữu, quản lý, phân phối
chưa bắt kịp những yêu cầu và đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện và hội
nhập quốc tế; yếu tố thị trường và các loại thị trường mới phát triển chậm,
manh mún, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt; nguồn lực của quốc gia
như đất đai, tài nguyên, lao động, vốn, ngân sách nhà nước chưa được quản lý
và phân bổ sử dụng một cách hợp lý có hiệu quả; tài sản công bị phân tán; bản
sắc văn hóa dân tộc đang bị phai nhạt dần, đạo đức con người đang bị sói
mòn… đã có những ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế gia
đình, đạo đức của người tham gia kinh tế làm suy giảm chức năng giáo dục
lớp trẻ trong gia đình ở Thái Nguyên hiện nay. Điều đó cho thấy quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền
KTTT định hướng XHCN vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc hoàn thiện thể
chế kinh tế. Thể chế hiện nay chưa tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để giải
phóng và phát triển lực lượng sản xuất, phát huy nội lực, đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế gây ra những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát
77
triển mọi mặt của đời sống xã hội đang tạo ra những hạn chế trong quá trình
xác định những mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục con cái trong
mỗi gia đình ở Thái Nguyên hiện nay. Trong Đại hội Đảng lần thứ XI chúng
ta đã tiếp tục xác định việc “ tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng
XHCN” đó là “ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, các quy định, quy tắc
chế định, điều tiết hành vi của mọi chủ thể (cơ quan quản lý nhà nước, doanh
nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, hộ kinh doanh, người lao động…), mọi quá
trình (sản xuất, lưu thông) diễn ra trong nền kinh tế nhằm tạo điều kiện pháp
lý cho sự hình thành vận hành thông suốt và phát triển nền KTTT định hướng
XHCN” Qúa trình xây dựng hoàn thiện thể chế KTTT đúng đắn sẽ hoàn thành
những mục tiêu về phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật tạo ra
sự năng động hiệu quả của nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực hiện có. Đồng thời tăng thêm các nguồn lực bằng cách tiết kiệm,
tích lũy và đầu tư hiện đại hóa, đổi mới cơ cấu kinh tế tạo ra tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao đưa các hộ gia đình ở khu vực huyện vùng cao, vùng sâu
vùng xa như: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Phú Bình, Đồng Hỷ, Đại Từ…
ra khỏi tình trạng nghèo đói, kém phát triển tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho
quá trình giáo dục gia đình. Cùng với đó giảm thiểu các tác động tiêu cực từ
nền KTTT đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, các khía cạnh trong giáo dục
gia đình như: mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục con cái trong mỗi
hộ gia đình ở Thái Nguyên hiện nay. Để làm được điều đó Đảng và Nhà nước,
các cấp chính quyền ở Thái Nguyên phải thực hiện tốt các vấn đề sau:
Thứ nhất: xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, chính sách và các
điều kiện bảo đảm cho nền KTTT định hướng XHCN phát triển thuận lợi,
theo hướng tiến bộ góp phần giảm thiểu sự ảnh hưởng tiêu cực từ nền KTTT
đến mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục trong gia đình hiện nay.
Hệ thống pháp luật nắm giữ vai trò quan trọng trong thực hiện phát
triển KTTT. Pháp luật có hoàn chỉnh, đúng đắn thì các thành phần kinh tế mới
78
hoạt động bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh Thái
Nguyên phát triển theo hướng tiến bộ, góp phần xóa đói giảm nghèo ở các
huyện vùng sâu vùng xa, xã vùng cao ở tỉnh. Đồng thời thông qua hệ thống
pháp luật Nhà nước mới có thể quản lý hiệu quả nền KTTT, giảm thiểu các
tác động tiêu cực như: tệ nạn xã hội, hố sâu giàu nghèo, suy thoái đạo đức…
và phát huy tối đa những nguồn lực, ảnh hưởng tích cực từ nền kinh tế đến
các khía cạnh trong giáo dục gia đình theo hướng tiến bộ. Xây dựng hệ thống
pháp luật, các chính sách phải đồng bộ và phù hợp đảm bảo cho sản xuất kinh
doanh trên địa bàn tỉnh diễn ra công bằng ở các mặt góp phần thúc đẩy kinh tế
hộ gia đình phát triển tạo cơ sở cho quá trình giáo dục con cái, đặc biệt ở
những huyện vùng cao, vùng sâu vùng xa có tỉ lệ hộ nghèo cao hiện nay. Hệ
thống đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước sẽ được hệ thống lại thành
những bộ luật, văn bản có tính pháp lý là cơ sở cho việc phát huy những tác
động tích cực từ nền KTTT đến chức năng giáo dục gia đình, giảm thiểu
những tác động tiêu cực của nó.
Hiện nay, KTTT với những mặt trái của nó đang tác động tới chức
năng giáo dục gia đình làm chệch hướng đi những mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục, sự phối kết hợp giữa gia đình- nhà trường-xã hội; việc
đầu tư thời gian giáo dục con cái…đang làm suy giảm chức năng giáo dục của
gia đình. Hơn thế nữa, tỉnh Thái Nguyên đang trong giai đoạn xây dựng
CNH-HĐH, tiến hành mở cửa hội nhập quốc tế theo chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước nên cần có đội ngũ lao động giỏi tri thức, đạo đức tốt,
kỹ năng nghề nghiệp và các đức tính phẩm chất cần có trong nền KTTT. Do
vậy xây dựng hệ thống luật pháp nói chung và những quy định luật pháp liên
quan đến việc phát triển nền KTTT nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và
phát huy các tác động tích cực của nó đến chức năng giáo dục gia đình ở Thái
Nguyên giữ một vị trí quan trọng.
Thứ hai: nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy
79
vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân Thái
Nguyên trong quản lý, phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống kinh
tế của mỗi gia đình, tạo điều kiện cho quá trình giáo dục trong gia đình.
Ở nước ta KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế có sự quản lý chặt
chẽ của Nhà nước thông qua một hệ thống luật pháp, chính sách phát triển
kinh tế nhằm đảm bảo nền kinh tế hoạt động tốt, tránh sự tranh chấp giữa các
chủ thể kinh tế. Sự định hướng XHCN ở đây được thể hiện trước tiên ở sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đa dạng của các hình thức sở hữu với
các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược, kế
hoạch. Các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế cùng
tồn tại phát triển, vừa hợp tác vừa đấu tranh lẫn nhau trong khuôn khổ luật
pháp. Các thành phần kinh tế đều giữ vai trò quan trọng trong quá trình cấu
thành nên nền kinh tế quốc dân của nước ta, trong đó kinh tế Nhà nước giữ
vai trò lãnh đạo, tổ chức quản lý nền KTTT định hướng XHCN nhằm đảm
bảo sự thống nhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã
hội. Tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh tế nước ta hội nhập với KTTT của các
nước trong khu vực và thế giới góp phần phát triển nền kinh tế của nước nhà
nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng tạo ra nhiều điều kiện cho quá trình
giáo dục con cái ở mỗi hộ gia đình. Nhà nước trong nền kinh tế là người giữ
vai trò then chốt, thực hiện sự điều tiết và quản lý kinh tế, đảm bảo sự ổn định
và phát triển của nền kinh tế. Do vậy việc xác lập cụ thể vai trò chủ thể của
Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN để Nhà nước vừa định hướng,
kiến tạo phát triển thị trường, tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh
doanh, khuyến khích cạnh tranh, vừa thúc đẩy hội nhập và phát triển, bảo đảm
toàn dân được hưởng thành quả của sự tăng trưởng, thịnh vượng. Nhà nước có
những thể chế kiến tạo phát triển, các công cụ điều tiết và kiểm soát nhằm
khắc phục các khuyết tật và sửa chữa những bất cập, hạn chế nhờ vậy mà giúp
80
giảm thiểu các tác động tiêu cực của nền KTTT đến mọi mặt của đời sống xã
hội, trong đó có chức năng giáo dục gia đình ở Thái Nguyên. Để có thể phát
huy tốt vai trò của Nhà nước trong hoàn thiện thể chế KTTT giúp hạn chế
những tác động tiêu cực của nó cần thực hiện những điểm sau:
Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp,
trong đó đặc biệt là luật pháp kinh tế sao cho phù hợp với điều kiện khách
quan, cơ chế thị trường nhằm tạo ra môi trường thuận lợi, công bằng cho các
thành phần kinh tế phát triển giúp cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình phát triển
kinh tế nâng cao đời sống vật chất và tinh thần làm cơ sở cho quá trình giáo
dục trong gia đình ở Thái Nguyên hiện nay.
Nhà nước cần xây dựng môi trường hoạt động kinh tế thuận lợi,
khuyến khích mọi chủ thể kinh tế phát triển tốt nhất loại hình kinh doanh của
mình. Tạo ra môi trường pháp lý, cơ chế kinh doanh thuận lợi để phát huy
mọi nguồn lực đầu tư cho quá trình phát triển kinh tế tại tỉnh Thái Nguyên.
Nhà nước cần chú ý tới sự phân bố hợp lý giữa các thành phần kinh
tế, giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội chiếm vị
trí quan trọng trong xây dựng phát triển nền kinh tế của một đất nước. Sự
phân bố, quản lý của Nhà nước trong vấn đề này không chặt mà để các thành
phần kinh tế phát triển theo cơ chế tự phát sẽ dẫn tới các chủ thể kinh tế chỉ
tập trung đầu tư vào các ngành lợi nhuận cao như: khai thác khoáng sản, chè,
xi măng, điện tử...ở Thái Nguyên. Trong khi đó các lĩnh vực khác như sản
xuất các ngành nghề truyền thống mây tre đan, trồng rừng, chăn nuôi sản xuất
không được chú ý đầu tư dẫn đến sự thụt lùi về trình độ, chênh lệch mức thu
nhập và đời sống của người lao động giữa các khu vực trong tỉnh Thái
Nguyên hiện nay. Trong đó chú ý tập trung vào phát triển hộ kinh tế gia đình
tạo điều kiện sử dụng mọi nguồn lực của gia đình để phát triển kinh tế hộ ở
Thái Nguyên nhằm tạo ra những cơ sở, điều kiện thuận lợi cho quá trình giáo
dục con cái. Đặc biệt những gia đình hộ nghèo, cận nghèo thuộc các huyện
81
vùng cao, vùng sâu khó khăn của tỉnh cần được đầu tư xây dựng các trang
thiết bị, hướng dẫn, hỗ trợ cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế góp phần nâng
cao mức thu nhập của người dân khu vực trên ngang với mặt bằng chung của
tỉnh, từng bước thoát khỏi đói nghèo là cơ sở quan trọng để đầu tư cho giáo
dục con cái trong gia đình.
Tăng cường vai trò của Nhà nước trong quá trình điều tiết thị trường,
quản lý nền kinh tế qua chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng… để giảm thiểu
sự lạm phát, khủng hoảng của thị trường đến hoạt động sản xuất kinh doanh
gây ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế của người dân trong tỉnh. Đảm bảo
tính tích cực và bền vững của nền kinh tế, hạn chế những rủi ro và tác động từ
yếu tố thị trường đến nền kinh tế, văn hóa đạo đức của người tham gia kinh tế,
giúp các bậc phụ huynh có định hướng tiến bộ trong giáo dục con cái ở gia
đình. Hiện nay kinh tế hộ gia đình ở Thái Nguyên đang gặp nhiều khó khăn về
vốn, cách quản lý, quy mô nhỏ, thị trường đầu ra đầu vào, dễ phá sản do gặp
phải những rủi ro từ thị trường… ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm giảm sút
các điều kiện kinh tế trong giáo dục gia đình cho thế hệ trẻ. Do vậy cần có sự
đầu tư, hỗ trợ từ Nhà nước về môi trường cạnh tranh lành mạnh, thị trường đầu
ra của các mặt hàng, bình ổn giá tránh tình trạng lạm phát, có sự định hướng
vào sản xuất những mặt hàng chiến lược để xuất khẩu ở Thái Nguyên.
Nhà nước cần phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân
để thường xuyên thanh tra kiểm tra và xử lý nghiêm đối với những hành vi
trốn thuế, gian lận kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh, đầu cơ tích trữ để
lũng đoạn trị trường, bán phá giá, làm hàng giả hàng kém chất lượng gây ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe người dân, ô nhiễm môi trường, đạo đức của người
làm kinh tế… để tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh đảm bảo
sự ổn định trong hoạt động kinh tế của các chủ thể, hạn chế sự suy thoái đạo
đức, hoạt động kinh tế phi pháp của những người tham gia kinh tế gây ảnh
hưởng xấu đến quá trình xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo
82
dục con cái hiện nay trong gia đình.
Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của các tổ chức chính trị
- xã hội, các tổ chức xã hội và của người dân trong tỉnh để phát triển nền
KTTT định hướng XHCN theo hướng tiến bộ, giảm thiểu các tác động tiêu
cực. Nâng cao nhận thức của các tổ chức chính trị xã hội, mỗi người dân về
những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của KTTT đến giáo dục gia đình giúp
cho quá trình giáo dục con cái trong gia đình diễn ra theo hướng tiến bộ, hạn
chế những tiêu cực của nó tới giáo dục con cái. Hoàn thiện luật pháp, cơ chế,
chính sách, tạo điều kiện để các tổ chức dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, nghề nghiệp và nhân dân tham gia hiệu quả vào quá trình hoạch
định, thực thi và giám sát thực hiện luật pháp, các chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba: hoàn thiện tính đồng bộ của hệ thống thị trường và các yếu
tố thị trường nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của nó đến chức năng
giáo dục trong gia đình
Hệ thống thị trường ở nước ta hiện nay mới đang hình thành và phát
triển nên gặp những rào cản của hệ thống thể chế kinh tế cũ làm biến dạng các
quan hệ thị trường gây ra những hạn chế cho nền kinh tế chung của tỉnh Thái
Nguyên, kinh tế riêng của mỗi hộ gia đình tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực
tới quá trình giáo dục con cái trong gia đình. Cho nên để đảm bảo sự đồng bộ
các yếu tố thị trường nhằm phát triển kinh tế làm cơ sở cho quá trình giáo dục
trong gia đình ở tỉnh Thái Nguyên cần thực hiện tốt các vấn đề sau:
Hoàn thiện môi trường pháp lý cho thị trường ở Thái Nguyên hoạt
động minh bạch. Văn kiện đại hội XI đã chỉ ra rằng cần sớm hoàn thành việc
rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với
điều kiện Việt Nam bảo vệ thị trường nội địa, đồng thời tuân thủ những quy
định của các tổ chức quốc tế và khu vực Việt Nam tham gia. Do vậy cần hoàn
thiện môi trường pháp lý cho thị trường hoạt động minh bạch, tránh những
ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của người dân trong tỉnh làm giảm sút chất
83
lượng giáo dục con cái trong mỗi hộ gia đình.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát thị trường của các cấp chính
quyền trong tỉnh, xúc tiến thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp giữa các
chủ thể kinh tế phù hợp với sự phát triển của nền KTTT trong tỉnh góp phần
giảm thiểu các hoạt động cạnh tranh kinh tế phi pháp, nâng cao đạo đức của
người tham gia kinh tế, đẩy lùi sự biến động phức tạp của thị trường gây ảnh
hưởng không tốt tới đời sống kinh tế của người dân trong tỉnh. Từ đó nâng
cao chất lượng của mỗi hộ gia đình trong điều kiện kinh tế, kiến thức, đạo đức
của người giáo dục đối với quá trình giáo dục con cái.
Thực hiện phát triển mạnh các loại thị trường như: hàng hóa dịch vụ,
tài chính, bất động sản, lao động, khoa học công nghệ để đẩy mạnh phát triển
kinh tế. Việc tạo lập, phát triển đầy đủ đồng bộ các loại thị trường góp phần
cải tạo môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của các thành phần
kinh tế. Góp phần giảm những tác động tiêu cực từ nền KTTT đến các lĩnh
vực của đời sống xã hội, khơi dậy mọi tiềm năng kinh tế, phát huy vai trò làm
chủ của các chủ thể kinh tế làm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
mỗi hộ gia đình và xã hội. Các hộ gia đình sẽ tận dụng những tác động tích
cực của nền KTTT đến phát triển kinh tế, giáo dục con cái theo chiều hướng
tiến bộ hơn.
Thứ tƣ: gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện
chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau. Tăng trưởng kinh tế
là điều kiện để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế cao và
bền vững là thước đo của tiến bộ và công bằng xã hội; tiến bộ, công bằng xã
hội là nhân tố động lực để có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; tiến bộ,
công bằng xã hội là biểu hiện của tăng trưởng kinh tế. Như vậy, tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội không phải là những yếu tố đối lập mà có
quan hệ nhân quả với nhau. Việc thực hiện phát triển kinh tế gắn với công
84
bằng xã hội để đảm bảo cho đời sống của người dân trong tỉnh được ổn định,
phát triển đồng đều về mọi mặt là cơ sở cho việc thực hiện các chức năng gia
đình hiện nay, trong đó có chức năng giáo dục. Để thực hiện tốt được mục
tiêu gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội cần phải quán triệt
và làm tốt những giải pháp sau:
Hoàn thiện mô hình kinh tế phát triển toàn diện, hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Phát triển kinh tế phải gắn với
thực hiện tốt công bằng xã hội để đảm bảo cho cuộc sống của người dân ở
mỗi khu vực trong tỉnh cân bằng, tránh tình trạng huyện có nhiều điều kiện
phát triển kinh tế, đời sống của người dân ở mức cao; còn có những huyện
chưa được chú ý đầu tư về cơ sở hạ tầng làm cho đời sống kinh tế trong huyện
tồn tại nhiều xã nghèo, hộ nghèo gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trẻ
em trong mỗi hộ gia đình. Nội dung chính của mô hình này là thực hiện việc
kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với công bằng xã hội ngay từ đầu khi xây
dựng, thực thi chính sách kinh tế, xã hội và trong toàn bộ tiến trình phát triển.
Hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN theo hướng tạo sự
thống nhất về nhận thức và hành động. Nền KTTT định hướng XHCN là nền
kinh tế trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác
tạo lập và sử dụng nhằm giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện
đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, phát triển kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, với hai khu vực
kinh tế là nhà nước và dân doanh. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với
xóa đói, giảm nghèo, từng bước làm cho mọi thành viên trong xã hội đều có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc là cơ sở quan trong cho quá trình giáo dục con
cái trong gia đình. Phát triển kinh tế hợp lý, hợp pháp là cơ sở cho việc xác
định mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục con cái đúng đắn trong gia
đình của các bậc phụ huynh.
Hoàn thiện chính sách phân phối và phân phối lại đảm bảo lợi ích của
85
Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp. Chú trọng phân phối lại qua phúc
lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục góp phần nâng cao điều kiện
sống của người dân, đặc biệt các xã nghèo với trang thiết bị y tế, giáo dục còn
hạn chế như: Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ… ở Thái Nguyên
hiện nay. Qua đó từng bước nâng cao chất lượng đầu tư cho giáo dục con cái
trong gia đình của các bậc phụ huynh. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu
theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn
cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội là cơ sở quan trọng cho
quá trình nâng cao đời sống của người dân trong từng khu vực của tỉnh Thái
nguyên. Đồng thời cần đổi mới và mở rộng chính sách phúc lợi xã hội thành
hệ thống chính sách an sinh xã hội nhiều tầng nấc để đảm bảo chất lượng
cuộc sống của người dân ở mọi khía cạnh như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y
tế… Đây là một trong những chỉ báo quan trọng để nâng cao chất lượng sống
của hộ gia đình, đổi mới nhận thức trong phát triển kinh tế, giáo dục con cái
phù hợp với sự phát triển của nền KTTT hiện nay ở Thái Nguyên.
2.2.2. Tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về vai trò
của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên
Giáo dục gia đình luôn giữ một vai trò quan trọng trong quá trình
định hướng phát triển nhân cách hoàn thiện cho lớp trẻ. Đặc biệt trước những
biến động phức tạp của nền KTTT hiện nay ở nước ta, giáo dục thế hệ trẻ
trong gia đình càng cho thấy tầm quan trọng. Chính vì vậy cần tuyên truyền
đến từng cấp chính quyền, từng người dân, từng gia đình trong tỉnh để nhận
thức được vai trò quan trọng của gia đình đến giáo dục lớp trẻ, những tác
động hai mặt của nền KTTT đến chức năng giáo dục gia đình. Trên cơ sở
nhận thức của các cấp chính quyền, người dân, mỗi hộ gia đình sẽ làm thay
đổi hành vi, tiến hành thực hiện những biện pháp để thúc đẩy tác động tích
cực và kìm hãm những tác động tiêu cực của nền KTTT đến mục tiêu, nội
86
dung và phương pháp giáo dục trong gia đình nhằm đem lại kết quả tốt nhất.
Công tác tuyên truyền về tầm quan trọng của chức năng giáo dục gia đình
trong nền KTTT là một giải pháp quan trọng cần thực hiện hiện nay, đặc biệt
đối với những hộ gia đình ở khu vực vùng sâu vùng xa hiện nay của Thái
Nguyên.
Thứ nhất: tuyên truyền giáo dục hướng đến việc nâng cao nhận thức
cho các cấp chính quyền, tổ chức xã hội ở mỗi phường, xã ở Thái Nguyên về
tầm quan trọng của chức năng giáo dục gia đình để tiến hành chỉ đạo thực
hiện hoạt động giáo dục tại địa phương đạt kết quả cao. Mặt khác cần đào tạo
sâu hơn những kiến thức về KTTT định hướng XHCN ở nước ta với những
tác động tích cực đem lại cho kinh tế, đời sống văn hóa xã hội, giáo dục gia
đình… cũng như những tác động tiêu cực mà nó đem cho quá trình giáo dục
gia đình ở Thái Nguyên hiện nay. Bên cạnh việc đào tạo chuyên sâu về cơ
chế, tác động của nền KTTT đến mọi mặt của đời sống xã hội đối với các cấp
chính quyền, tổ chức xã hội ở địa phương, cần phải tuyên truyền cho từng bậc
phụ huynh trong mỗi gia đình về tầm quan trọng của họ trong việc giáo dục
con cái. Để phát huy những tác động tích cực của nền KTTT đến giáo dục gia
đình hiện nay, công tác tuyên truyền giáo dục cần thực hiện nhiều nội dung
như: nâng cao trình độ dân trí và năng lực giáo dục cho các bậc phụ huynh, có
những định hướng về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục theo hướng
hiện đại, tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, tri thức cho con cái, định
hướng những yêu cầu chung về nguồn lao động trong nền KTTT hiện nay…
Đồng thời công tác tuyên truyền cần chỉ ra những hạn chế, những tiêu cực của
nền KTTT như: khoảng cách giàu nghèo, tệ nạn xã hội, đề cao giá trị vật chất,
đạo đức sói mòn… đang ảnh hưởng đến bộ phận người tham gia kinh tế, nhân
cách lớp trẻ, đặc biệt ở các khu vực nền kinh tế phát triển mạnh, vùng sâu
vùng xa với trình độ dân trí thấp. Do vậy đòi hỏi trách nhiệm rất lớn của các
bậc phụ huynh, các thành viên trong gia đình về kiến thức, thời gian, công
87
sức, tâm huyết, tình cảm, sự nghiêm túc trong giáo dục lớp trẻ.
Thứ hai: tuyên truyền giáo dục nâng cao trình độ dân trí và năng lực
giáo dục cho các bậc phụ huynh để đáp ứng được việc truyền thụ tri thức, đạo
đức cho con cái. Trước đây việc giáo dục con cái chỉ đòi hỏi bố mẹ cần có ít
kiến thức, kinh nghiệm để truyền đạt cho trẻ. Nhưng với sự phát triển của nền
KTTT hiện nay, đòi hỏi nhiều hơn nữa về mặt tri thức, kinh nghiệm, đạo đức
ở các nhà giáo dục. Do vậy các cấp chính quyền cần có chính sách, biện pháp
đào tạo góp phần nâng cao trình độ học vấn, tri thức, kỹ năng cho các bậc phụ
huynh, đặc biệt đối với các bậc cha mẹ ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng
xa. Các cơ quan chức năng cần mở những lớp bồi dưỡng về giáo dục gia đình
tại địa phương, các trung tâm tư vấn giáo dục để các bậc cha mẹ có thể hiểu
đầy đủ và sâu sắc hơn về giáo dục cho con cái trong gia đình. Chỉ có trang bị
kiến thức tốt thuộc các lĩnh vực đạo đức, tri thức về tâm sinh lý của trẻ, về
phòng chống bệnh tật, về các kiến thức xã hội hiện nay mới là giải pháp cơ
bản để nâng cao và tăng cường vai trò giáo dục của gia đình đối với lớp trẻ.
Thứ ba: tuyên truyền các văn bản pháp luật hôn nhân, gia đình để
giúp nâng cao sự hiểu biết về vị trí vai trò, trách nhiệm nghĩa vụ của mỗi
thành viên trong gia đình đối với nhau. Thêm vào đó các cấp chính quyền ở
mỗi địa phương cần tuyên truyền những thay đổi phù hợp về phương pháp
giáo dục với nội dung giáo dục và sự phát triển của xã hội đến từng hộ dân.
Nội dung giáo dục cần được hoàn thiện hơn theo hướng đào tạo ra lớp trẻ có
tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, có đạo đức, có tính tự lập, năng động sáng
tạo… đáp ứng được những yêu cầu chung của quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Để làm được điều này cần thực hiện tốt sự kết hợp giữa những phương
pháp giáo dục truyền thống như: uy quyền, tâm sự, thuyết phục, truyền miệng,
tình cảm… với những phương pháp giáo dục hiện đại như: thông qua sách
báo, đài, tivi, internet. Tôn trọng nhân cách cá nhân, tự trọng, chú ý tới những
nhu cầu, tâm tư nguyện vọng của trẻ. Việc giáo dục cần nghiêng về sự định
88
hướng để con cái tự phân biệt đúng sai, tự điều chỉnh, nhằm phát huy tính
năng động sáng tạo kết hợp với sự cô vũ khích lệ trẻ và răn đe nghiêm khắc
những hành động sai. Tránh tình trạng quá hà khắc song cũng không nuông
chiều dễ dãi đối với trẻ gây ra tâm lý ý lại, hưởng thủ, không quan tâm tới
người khác ở trẻ.
Thứ tƣ: tuyên truyền cho các hộ gia đình về tác động của nền KTTT
đến chức năng kinh tế trong gia đình góp phần nâng cao nhận thức, phát triển
kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là những hộ gia đình ở vùng sâu vùng xa với nền
kinh tế còn khó khăn. Việc nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh về tác
động vai trò, vị trí, điều kiện, cách thức để phát triển kinh tế chính là đảm bảo
cơ sở cho hoạt động giáo dục con cái trong gia đình. Tuyên truyền để người
dân nhận thấy những tác động tích cực của nền KTTT đến hoạt động kinh tế
của tỉnh nói chung và từng hộ gia đình nói riêng: xu hướng chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật, thị trường đầu vào đầu ra, những cơ hội
phát triển kinh tế gia đình trên các lĩnh vực khác nhau. Đồng thời tuyên
truyền cho người dân về những tác động tiêu cực, gây bất lợi cho kinh tế hộ
gia đình như: cạnh tranh không lành mạnh, phá sản, gian lận, lừa đảo…để
người dân có kiến thức tốt trong làm ăn kinh tế góp phần nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho mỗi gia đình. Kinh tế gia đình được đảm bảo là nền
tảng vững chắc cho quá trình giáo dục con cái được thực hiện tốt hơn. Thực tế
đã cho thấy, nghèo đói là nguyên nhân gây ra lục đục trong nội bộ gia đình,
những áp lực kinh tế đè nặng lên người chủ gia đình gây ra sự tranh cãi, tâm
lý chán nản dễ sa vào các tệ nạn xã hội dẫn tới tình trạng: nợ nần, bạo lực gia
đình, người già không được nuôi dưỡng, con cái không được chăm sóc giáo
dục. Ngoài ra những khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa do đời sống gia
đình quá đói nghèo khiến các bậc phụ huynh phải đi làm xa nhà để lại con cái
cho ông bà chăm sóc, gây ra tình trạng thiếu hụt sự quan tâm, tình cảm yêu
thương của cha mẹ khiến trẻ phát triển không hoàn thiện. Những hộ gia đình
89
ở khu vực thành phố, kinh tế phát triển giúp đời sống nâng cao đảm bảo cho
trẻ phát triển hoàn thiện về trí lực, thể lực nhưng lại gây ra sự thiếu hụt tình
cảm ở trẻ do cha mẹ mải làm kinh tế. Các bậc phụ huynh mải mê làm kinh tế,
đề cao giá trị vật chất mà xem nhẹ giá trị đạo đức, giáo dục gia đình dễ đẩy trẻ
đến tình trạng tự kỉ, trầm cảm, mắc các tệ nạn xã hội từ rất sớm. Do vậy việc
nâng cao nhận thức, hành động của mỗi bậc phụ huynh trong việc phát triển
kinh tế gia đình dưới sự tác động của nền KTTT với tác động hai chiều có
một vị trí quan trọng trong phát triển đời sống vật chất và tinh thần cũng như
giáo dục con cái hiện nay.
Thứ năm: thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục phải tiến hành
thông qua các kênh như: sách báo, đài phát thanh, ti vi, áp phích băng rôn, tờ
rơi, tọa đàm tại các buổi họp của tổ dân phố. Sự phối hợp giữa các tổ chức
đoàn thể tại địa phương như: hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội chữ thập
đỏ…với các bậc phu huynh để tổ chức các buổi sinh hoạt hàng tháng nhằm
trao đổi những kinh nghiệm nuôi dạy, giáo dục con cái, những khó khăn cần
được hỗ trợ. Những gia đình nuôi dạy con cái tốt có thể được tuyên dương,
còn những gia đình còn hạn chế yếu kém cần được hỗ trợ khắc phục. Đồng
thời phê bình những gia đình bỏ bê công việc chăm sóc người già, nuôi dạy
con cái, vợ chồng anh em bất hòa. Công tác tuyên truyền, giáo dục về tầm
quan trọng của phát triển kinh tế, giáo dục gia đình hiện nay với các hình thức
phong phú góp phần nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh về tầm quan
trọng của việc phát triển kinh tế gia đình phù hợp với chức năng giáo dục gia
đình hiện nay. Trên cơ sở đó để mỗi hộ gia đình có những thay đổi mục tiêu,
nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với sự phát triển chung của nền
KTTT nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những tác động
tiêu cực của nó. Đồng thời biết kế thừa phát huy những giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, gia đình và tiếp thu những giá trị tiến bộ hiện đại
của thời đại. Việc đổi mới thực hiện các biện pháp tuyên truyền giáo dục đối
90
với các cấp chính quyền, mỗi người dân có ảnh hưởng quan trọng trong việc
giáo dục gia đình hiện nay. Do vậy nó cần được thực hiện nghiêm túc và phổ
biến ở mọi khu vực của tỉnh, đặc biệt ở các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa
nhằm nâng cao chất lượng của giáo dục gia đình.
2.2.3. Xây dựng môi trường văn hóa xã hội tiến bộ làm cơ sở cho nội
dung giáo dục gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường
Xây dựng môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh, kiên quyết đấu
tranh chống những biểu hiện thoái hóa, biến chất về đạo đức, những tệ nạn xã
hội, tham nhũng, lãng phí và lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền trong nền
KTTT giữ một vị trí quan trọng, là cơ sở của quá trình giáo dục đạo đức cho
lớp trẻ trong mỗi gia đình ở Thái Nguyên hiện nay. Nước ta đang trong thời
kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH với nền KTTT định hướng XHCN và hội
nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những thời cơ, thuận lợi và không ít những khó
khăn, thách thức mới. Một trong nhiều khó khăn, thách thức đặt ra đối với đất
nước nói chung, tỉnh Thái Nguyên hiện nay nói riêng là sự suy thoái về phẩm
chất đạo đức, lối sống của một bộ phận gia đình trong quá trình làm kinh tế.
Trước những tác động mạnh mẽ từ mặt trái của nền KTTT và quá trình hội
nhập quốc tế vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội thì mỗi gia đình, cụ
thể là các bậc phụ huynh những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động
kinh tế, thanh thiếu niên bộ phận đang mới dần hình thành nhân cách luôn là
những lực lượng phải chịu tác động, ảnh hưởng nhiều nhất. Một mặt KTTT
tạo ra nhiều cơ hội việc làm giúp các bậc phụ huynh phát triển bản thân, phát
triển kinh tế gia đình, đáp ứng đầy đủ hơn những nhu cầu vật chất và tinh
thần. Nhưng nền KTTT cũng khiến một bộ phận người tham gia vào guồng
máy kinh tế ấy suy giảm về đạo đức nghiêm trọng như: quá đề cao yếu tố vật
chất, xem nhẹ yếu tố đạo đức, mắc phải các tệ nạn xã hội, phạm tội, nạn ngoại
tình, bạo lực gia đình, thất nghiệp, không quan tâm giáo dục con cái… đang
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giáo dục nhân cách, gây ra những tổn
91
thương tâm lý ở trẻ trong quá trình phát triển. Qúa đề cao yếu tố vật chất xem
nhẹ yếu tố đạo đức trong quá trình phát triển của trẻ, khiến các bậc phụ huynh
đầu tư vào giáo dục tri thức cho trẻ nhiều hơn giáo dục các chuẩn mực đạo
đức làm sói mòn, biến dạng nhiều chuẩn mực đạo đức. Tình trạng này gây ra
sự thiếu nhận thức và hành động sai lệch các chuẩn mực đạo đức của trẻ trong
quá trình phát triển nhân cách. Thêm vào đó sự suy giảm đạo đức của các bậc
phụ huynh khi tham gia quá trình làm kinh tế đã trở thành tấm gương xấu để
lại những tổn thương ở trẻ. Nhận thức về các chuẩn mực đạo đức sai lầm của
các bậc phụ huynh trong quá trình giáo dục con cái đã làm trẻ tiếp thu những
giá trị đạo đức sai lầm gây ra tình trạng lệch chuẩn đạo đức. Tình trạng trên
dẫn tới hệ quả số trẻ em phạm tội, mắc các tệ nạn xã hội, tự kỉ, trầm cảm, tự
tử ngày càng gia tăng tại Thái Nguyên đang trở thành nỗi lo của mỗi gia đình,
xã hội. Do vậy cần phải xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, kiên quyết
chống lại những biểu hiện thoái hóa biến chất, suy thoái đạo đức trong quá
trình làm kinh tế của các bậc phụ huynh, góp phần nâng cao văn hóa đạo đức
cho mỗi cá nhân trong giai đoạn KTTT ở Thái Nguyên hiện nay.
Các bậc phụ huynh hiện nay không thể quản lý con cái bằng mệnh lệnh
“nghe dạ, bảo vâng” như trước và cũng không thể “cấm vận” con cái đi học,
đi làm hay giao lưu, gặp gỡ bạn bè…. Trong khi đó, bên ngoài xã hội, các
điểm vui chơi lành mạnh thì ít nhưng những tụ điểm vui chơi chứa đựng các
tệ nạn xã hội thì ngày càng xuất hiện nhiều ở Thái Nguyên trở thành môi
trường thuận lợi khiến một bộ phận trẻ sa ngã hiện nay. Đặc biệt, trong giai
đoạn phát triển nhanh của nền KTTT khiến một bộ phận gia đình không có
nhiều thời gian quan tâm giáo dục con cái đã đẩy trẻ đến con đường tội lỗi,
mắc các tệ nạn xã hội nhanh hơn do thiếu hiểu biết, sự giáo dục từ gia đình, bị
lôi kéo từ bên ngoài. Thêm vào đó, mỗi gia đình hiện nay ở Thái Nguyên đầu
tư cho quá trình học tập tri thức của trẻ, nhưng chưa thực sự quan tâm đúng
mức đến chăm lo xây dựng môi trường văn hóa xã hội, gia đình, nơi vui chơi
92
giải trí và học tập của trẻ lành mạnh tiến bộ tạo điều kiện bồi dưỡng nhân
cách cho trẻ. Hiện nay ở Thái Nguyên nhiều nhà máy, khu công nghiệp, nhà
chung cư cao tầng được đầu tư xây dựng, nhưng những khu vui chơi, giải trí
công cộng lành mạnh cho trẻ lại chưa được mỗi cấp chính quyền, tổ chức xã
hội, gia đình, người dân quan tâm. Hiện nay ở một số phường xã tại các
huyện trong tỉnh Thái Nguyên hoạt động của các tổ chức đoàn còn kém hiệu
quả, không thu hút, lôi kéo được trẻ tham gia nên không góp phần tích cực
trong quá trình phối kết hợp với mỗi gia đình trong quá trình giáo dục đạo
đức, khẳ năng hoạt động nhóm, kỹ năng lao động, giao tiếp ở trẻ. Chưa có
môi trường văn hóa học tập vui chơi lành mạnh trong gia đình và bên ngoài
xã hội đã tác động làm trẻ phát triển lệch lạc, méo mó về nhân cách như: dao
động về mục tiêu lý tưởng; thờ ơ với chính trị, thời cuộc, vận mệnh quốc gia,
dân tộc; sống dựa dẫm, ỷ lại, buông thả, sống vội, sống gấp, sống thử diễn ra
tương đối phổ biến; trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội còn thấp…
trở thành vấn đề khó kiểm soát.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: “Bản
chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối
quan hệ xã hội” [36, tr11]. Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của
hoàn cảnh, giữa con người và hoàn cảnh có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Môi trường văn hóa với tư cách là một môi trường gia đình, xã hội có vai trò
cực kỳ quan trọng đối với đời sống con người, làm cho văn hoá thực sự trở
thành nhân tố tích cực thúc đẩy con người hoàn thiện nhân cách, kế thừa và
phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc là nhiệm vụ quan
trọng hiện nay trong giáo dục gia đình. Đặc biệt trong giai đoạn đất nước
đang thực hiện nền KTTT với những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến đạo đức
xã hội, gia đình, mỗi người dân. Vấn đề xây dựng, nâng cao môi trường văn
hóa tiến bộ, lành mạnh làm cơ sở cho xây dựng đạo đức của mỗi gia đình, cá
93
nhân trong việc lựa chọn và giáo dục chuẩn mực đạo đức cho trẻ càng cho
thấy tầm quan trọng rất lớn. Xuất phát từ những vấn đề trên, để xây dựng
được môi trường văn hoá lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi tổ chức
xã hội, gia đình, các bậc phụ huynh trong quá trình giáo dục cho trẻ phát triển
toàn diện cần quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội lần thứ XI của Đảng, trong
thời gian tới phải “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành
mạnh, phong phú, đa dạng.... Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo
đức, lối sống có văn hóa… ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối
trật tự công cộng, mại dâm, ma túy, cờ bạc… góp phần giữ gìn và phát triển
những giá trị truyền thống của văn hoá, con người Việt Nam, nuôi dưỡng,
giáo dục thế hệ trẻ”. Để làm được điều đó các cấp chính quyền, mỗi hộ gia
đình, cá nhân ở Thái Nguyên cần thực hiện tốt những nội dung:
Thứ nhất: nâng cao hiểu biết cho mọi người trong toàn xã hội về vai
trò của môi trường văn hoá lành mạnh đối với sự phát triển toàn diện của trẻ,
đặc biệt là các bậc phụ huynh trong quá trình giáo dục con cái. Thêm vào đó
xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh còn góp phần giảm thiểu các tác
động tiêu cực từ nền KTTT đến các giá trị đạo đức hiện nay ở Thái Nguyên
góp phần định hướng giáo dục các chuẩn mực đạo đức đúng trong quá trình
giáo dục trẻ. Trách nhiệm này thuộc về mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức
chính trị xã hội, mọi gia đình nên cần có sự phối kết hợp với nhau để xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở Thái Nguyên làm cơ sở cho giáo dục
nhân cách trẻ. Để xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho trẻ trước tiên
cần nâng cao hiểu biết sâu sắc, toàn diện về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của
môi trường văn hoá lành mạnh đối với sự phát triển toàn diện của trẻ cho mỗi
cấp chính quyền, tổ chức xã hội, tổ chức giáo dục, gia đình, các bậc phụ
huynh ở Thái Nguyên. Đó là cơ sở để hình thành hệ thống nhu cầu, động cơ,
thái độ, trách nhiệm của mỗi người, mỗi tổ chức đối với nhiệm vụ xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh. Đồng thời, đây cũng là quá trình làm cho mọi
người biết trân trọng, lựa chọn những giá trị văn hoá, chuẩn mực đạo đức để
94
giáo dục góp phần phát triển nhân cách của trẻ hoàn thiện hơn.
Thứ hai: phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị-xã
hội mà tổ chức đoàn ở mỗi địa phương là lực lượng nòng cốt trong xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh cho trẻ. Nhu cầu phát triển toàn diện của trẻ
hiện nay là hết sức chính đáng, cần thiết. Vì vậy, cần tạo môi trường thuận lợi
không chỉ trong gia đình mà còn ở ngoài xã hội, để lớp trẻ có thể phát huy hết
tài năng và trí tuệ của mình. Đây là trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền,
cũng như mọi tổ chức chính trị xã hội, trong đó tổ chức đoàn là lực lượng
nòng cốt. Tổ chức đoàn các cấp cần phát huy vai trò và chức năng của của
mình thông qua những phong trào cụ thể như: phong trào thanh niên tình
nguyện, mùa hè xanh, tiếp sức mùa thi, hiến máu tình nguyện, thanh niên xây
dựng lối sống công nghiệp, thanh niên làm chủ khoa học - kỹ thuật, thanh
niên làm chủ cơ chế thị trường định hướng XHCN, thanh niên xây dựng đời
sống văn hoá ở cơ sở, thanh niên xây dựng phát huy các giá trị văn hoá truyền
thống, thanh niên bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình
văn hoá…Tất cả những hoạt động trên để góp phần tạo ra những sân chơi bổ
ích và một môi trường văn hoá, nhân văn để thanh thiếu niên có thể tiếp thu
các giá trị đạo đức văn hóa, tiến hành lao động thực tế của mình. Quá trình
đưa những nội dung văn hoá đến với thanh thiếu niên và thanh thiếu niên
tham gia xây dựng môi trường văn hoá mới thực chất là một quá trình đưa cái
Chân, Thiện, Mỹ vào đời sống của tuổi trẻ, đồng thời, đó cũng là quá trình gạt
bỏ những cái cũ, lỗi thời, lạc hậu để xây dựng cái mới, tiến bộ và tốt đẹp hơn.
Phát huy hoạt động của các tổ chức xã hội trong xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh tiến bộ cũng là lá chắn quan trọng ngăn chặn những tác động tiêu
cực từ nền KTTT tới giáo dục lớp trẻ hiện nay.
Thứ ba: giữ gìn và phát triển hệ thống những giá trị văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc trong xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho
thanh thiếu niên. Đồng thời phát huy các giá trị văn hóa tiên tiến cũng góp
95
phần nâng cao chất lượng nội dung giáo dục trong gia đình hiện nay. Trong
tình hình hiện nay, khi nền KTTT phát triển nhanh cùng với quá trình giao
lưu, hội nhập diễn ra với tốc độ chóng mặt, chúng ta phải đối mặt với sự xâm
lấn của những dòng chảy văn hóa bên ngoài có ảnh hưởng tiêu cực tới những
giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức trong giáo dục trẻ. Do vậy việc tiếp tục
giữ gìn và phát triển hệ thống những giá trị văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc có ý nghĩa vô cùng to lớn trong quá trình phát triển nội dung. Bên
cạnh những mặt tích cực mà văn hóa bên ngoài mang lại đó là sự hiện đại,
thời thượng, tiến bộ thì tiềm ẩn phía sau là cả một hệ quả khó lường như lối
sống ích kỷ, cơ hội, đua đòi, thực dụng, coi trọng giá trị vật chất xem nhẹ giá
trị đạo đức, các tệ nạn xã hội... Chúng ta đang tập trung xây dựng một nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tức là muốn khẳng định sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại. Trong văn hoá
truyền thống Việt Nam, tinh thần cởi mở trong học hỏi, tiếp thu, cải biến văn
hoá từ bên ngoài là một giá trị đáng quý, khiến văn hoá, dân tộc Việt Nam có
sức sống trường tồn, vượt qua nhiều thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Chính
giá trị này đã và đang là nội dung có sức mạnh to lớn giúp chúng ta học tập,
đi tắt, đón đầu các trào lưu tiến bộ của nhân loại trong quá trình CNH-HĐH.
Chính những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được đúc kết qua hàng
ngàn năm đã nuôi dưỡng con người Việt Nam trưởng thành qua các thế hệ.
Những giá trị văn hoá trong nền văn hoá dân tộc ngay từ khi hình thành đã
thấm đậm tinh thần nhân văn và kết tinh trong đó những giá trị văn hoá cao
đẹp hợp thành điều kiện, tiền đề thuận lợi để tiếp tục phát triển hệ thống
những quan hệ văn hoá trong môi trường văn hoá lành mạnh hiện nay. Đó là
quan hệ sâu nặng giữa con người với quê hương, đất nước; lối cư xử thấu tình
đạt lý trong mọi mối quan hệ; tinh thần đại đoàn kết, tương thân, tương ái;
những quan hệ đời thường song luôn in đậm chất nhân văn... Do vậy cần phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống làm cơ sở cho quá tringh giáo dục trẻ
96
trong nền KTTT có nhiều biến động và ảnh hưởng tiêu cực tới đạo đức của bộ
phận người, đặc biệt là lớp trẻ hiện nay. Các bậc phụ huynh cần giữ gìn và
truyền dạy cho trẻ những giá trị văn hóa tiến bộ trong quá trình giáo dục trẻ
trong gia đình góp phần hoàn thiện nhân cách ở trẻ.
Thứ tƣ: nâng cao trình độ học vấn, thị hiếu thẩm mỹ, văn hoá ứng xử
và nếp sống văn minh cho mỗi gia đình, mỗi cá nhân, đặc biệt là lớp trẻ hiện
nay. Điều này cần được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên trong gia đình,
thể hiện vai trò rất quan trọng của cha mẹ trong quá trình giáo dục các chuẩn
mực đạo đức, giá trị văn hóa, kỹ năng lao động cho trẻ. Trong giai đoạn hiện
nay, KTTT đang trở thành xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới và điều
đó tất yếu đòi hỏi phải có những con người được chuẩn bị về tri thức, kỹ
năng, đạo đức trong mỗi quốc gia, dân tộc, gia đình. Do vậy trong quá trình
xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh làm cơ sở cho quá trình giáo dục đạo
đức cho trẻ trong mỗi gia đình, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện đầy đủ
quan điểm của Đảng ta về nhiệm vụ của giáo dục đào tạo: "Nâng cao dân trí,
phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển
đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”. Chúng ta chỉ có thể
xây dựng được môi trường văn hoá lành mạnh một cách khoa học khi phát
huy được vai trò sáng tạo của những con người có tri thức khoa học, thị hiếu
thẩm mỹ trong sáng. Chính điều đó sẽ góp phần tạo ra những con người có
khả năng thẩm thấu và sáng tạo những giá trị văn hóa mới, biết ứng xử có văn
hoá. Vì vậy, mỗi bậc phụ huynh hiện nay trong tỉnh Thái Nguyên trong quá
trình giáo dục con cái cần trau dồi, rèn luyện, giữ đúng vị thế xã hội của mình,
tích cực nâng cao trình độ học vấn, bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ, văn hoá ứng
xử và lối sống văn minh, lịch sự phù hợp với thuần phong mỹ tục trở thành
tấm gương trong quá trình giáo dục con cái. Thêm vào đó từ nhận thức được
những giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức tiến bộ sẽ giúp định hướng đúng
97
trong truyền dạy những chuẩn mực đạo đức cho con cái.
Thứ năm: xây dựng gia đình văn hóa nhằm hạn chế những tác động
tiêu cực của nền KTTT đến chức năng giáo dục gia đình, tạo môi trường sống
học tập lành mạnh trong quá trình giáo dục trẻ ở Thái Nguyên hiện nay, góp
phần vào thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn
minh. Để xây dựng gia đình văn hóa trước tiên cần phải trang bị cho các
thành viên trong gia đình về ý thức, kỹ năng phòng chống những ảnh hưởng
của các tệ nạn xã hội, bất lợi từ nền KTTT. Những kiến thức, kỹ năng ứng xử
cần trang bị cho các bậc phụ huynh là những kiến thức về tình bạn, tình yêu,
tình dục, hôn nhân, gia đình; những đạo lý làm người trong các mối quan hệ
xã hội; kỹ năng sống của con người; tác hại của các tệ nạn xã hội; kỹ năng
nuôi dạy và giáo dục trẻ…trở thành những nội dung cơ sở cho quá trình giáo
dục trẻ. Xây dựng gia đình văn hóa là xây dựng một gia đình ấm no, hạnh
phúc, các thành viên yêu thương tôn trọng nhau, chia sẻ nghĩa vụ trách nhiệm
với nhau góp phần xây dựng một môi trường sống lành mạnh, tình yêu
thương, thực hiện tốt trách nhiệm giáo dục trẻ. Đồng thời trong quá trình xây
dựng gia đình văn hóa cần có sự kế thừa và phát huy các nét đẹp của gia đình
xưa, dân tộc. Biết kế thừa và phát huy các nét đẹp văn hóa truyền thống của
cha ông ta, cũng như biết tiếp thu những văn hóa tiến bộ của nhân loại để
củng cố nâng tầm hiểu biết, cư xử. Xây dựng môi trường gia đình văn hóa
lành mạnh, tiến bộ là cơ sở quan trọng trong giáo dục con cái. Gia đình là
viên gạch đầu tiên trong quá trình xây dựng nhân cách hoàn thiện cho trẻ, là
nơi trẻ học tập trong suốt đời, là nơi bù đắp nuôi dưỡng tình cảm cho trẻ, là
nơi trẻ nêu gương các bậc phụ huynh. Do vậy cần phải xây dựng gia đình văn
hóa để tăng thêm sức mạnh thiết chế gia đình trong việc thực hiện chức năng
giáo dục của mình, đồng thời tạo ra tấm chắn đối với các tệ nạn xã hội, biến
động từ nền KTTT hiện nay.
Xây dựng môi trường văn hóa xã hội, gia đình lành mạnh tiến bộ có
98
vai trò quan trọng đối với đời sống con người, đặc biệt là lớp trẻ hiện nay, làm
cho văn hoá thực sự trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy con người hoàn thiện
nhân cách, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các cấp chính quyền, tổ chức xã
hội, mỗi bậc phụ huynh cần thực hiện nghiêm túc. Có như vậy mới xây dựng
cơ sở vững chắc góp phần đào tạo ra lớp thanh thiếu niên có nhân cách hoàn
thiện đáp ứng được yêu cầu chung của nền KTTT, của công cuộc CNH-HĐH
xây dựng đất nước.
Kết luận chƣơng 2
KTTT hình thành và phát triển đã đưa đất nước ta thoát khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế, phát triển xã hội, đời sống của người dân ngày càng
được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Nhưng cùng với những tác động
tích cực đó, KTTT cũng đã đặt ra cho chúng ta thử thách rất lớn về sự
khủng hoảng nhân cách con người. Kinh tế càng phát triển, đời sống vật
chất gia đình cải thiện nhiều mặt thì cũng xuất hiện những tổn thương,
thiếu hụt về mặt tinh thần, sự giúp đỡ, giáo dục từ phía các thành viên
trong gia đình gây ra những hậu quả tiêu cực đối với sự phát triển toàn diện
con người. Trước thực trạng đó, vấn đề hạn chế những tác động tiêu cực,
nâng cao những tác động tích cực của nền KTTT đến giáo dục cho con
người của gia đình rất quan trọng. Nó cần có sự điều tiết của Nhà nước đến
KTTT theo hướng hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, cần có sự quan tâm
từ các cấp chính quyền, tổ chức xã hội, bản thân mỗi gia đình, cá nhân tới
giáo dục cho con người với những mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo
99
dục phù hợp với nền KTTT hiện nay.
KẾT LUẬN
Chức năng giáo dục của gia đình chiếm một vị trí quan trọng trong
quá trình hình thành nhân cách cho lớp trẻ, là một thiết chế xã hội vai trò giáo
dục của gia đình đối với con cái ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của
xã hội. Vai trò to lớn của các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng sớm tới
việc hình thành nhân cách cho trẻ mới sinh ra và đến khi trưởng thành, không
chỉ thế ảnh hưởng giáo dục của các thành viên trong gia đình có thể tác động
đến hết cuộc đời của một con người. Giáo dục gia đình có một điểm riêng biệt
mà không quá trình giáo dục nào có được là sự gắn bó ruột thịt giữa chủ thể
và đối tượng giáo dục, hơn nữa biện pháp giáo dục chủ yếu dựa vào tình cảm
gắn bó giữa các thành viên với nhau, dễ dàng tác động vào nhận thức của đối
tượng tiếp nhận sự giáo dục. Đất nước đang có những sự đổi mới, cùng với đó
là việc xây dựng gia đình văn minh, ấm no hạnh phúc và bền vững, nâng cao
chất lượng giáo dục của gia đình để tăng cường thêm sức mạnh nội sinh, góp
phần to lớn vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Hiện nay, nước ta đang vận hành nền KTTT định hướng XHCN với
sự tác động hai mặt của nền KTTT đến các mặt của đời sống xã hội nói
chung, gia đình và chức năng giáo dục gia đình nói riêng có những biến đổi
theo hai chiều hướng ở tỉnh Thái Nguyên. Một mặt nền KTTT có những tác
động tích cực đến mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục con cái trong
mỗi hộ gia đình ở tỉnh Thái Nguyên theo hướng hoàn thiện, tiến bộ, hiện đại
đáp ứng được những đòi hỏi của nền KTTT, CNH-HĐH đất nước cần đội ngũ
lao động có tri thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, thể lực tốt. Vì thế mà mỗi
gia đình ở Thái Nguyên đang có xu hướng lựa chọn mục tiêu, nội dung giáo
dục con cái theo hướng kết hợp giữa giáo dục đạo đức, kỹ năng lao động, tri
thức, thể lực, giới tính, phẩm chất cần có đáp ứng yêu cầu chung của nền kinh
tế; phương pháp giáo dục ngày càng được sử dụng linh hoạt kết hợp truyền
100
thống với hiện đại mang lại hiệu quả cao trong giáo dục con cái. Nhưng mặt
khác nền KTTT với những ảnh hưởng tiêu cực như: hố sâu giàu nghèo, cạnh
tranh kinh tế không lành mạnh, làm ăn phi pháp, đạo đức con người giảm sút,
đề cao yếu tố kinh tế và đồng tiền, một loạt các tệ nạn xã hội kéo theo gây ảnh
hưởng trực tiếp đến các bậc phụ huynh trong quá trình giáo dục con cái trong
gia đình trong việc lựa chọn các mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục
con cái, trở thành tấm gương xấu cho con. Thậm chí guồng quay của nền
KTTT đang cuốn các bậc phụ huynh vào quá trình làm kinh tế mà không quan
tâm, giành thời gian trực tiếp giáo dục con cái. Một bộ phận gia đình còn kéo
con cái vào làm người tiếp tay cho các hoạt động kinh tế phi pháp của mình
khiến trẻ phát triển theo hướng lệch lạc, tiêu cực. Ngoài ra nền KTTT cũng
đang đẩy một bộ phận gia đình không theo kịp cơ chế thị tường trở nên nghèo
đói, không có điều kiện chăm lo giáo dục cho con cái khiến trẻ phát triển
không hoàn thiện. Điều đó thể hiện tính nghiêm trọng từ tác động tiêu cực của
nền KTTT đến giáo dục của mỗi hộ gia đình ở Thái Nguyên hiện nay. Lúc
này vấn đề quan trọng cần đặt ra cho xã hội, gia đình, mỗi cá nhân ở tỉnh Thái
Nguyên là việc định hướng và phát triển nhân cách hoàn thiện cho mỗi cá
nhân trước sự tác động tiêu cực và tích cực từ nền KTTT. Cần phải làm thế
nào để giáo dục những con người vừa mang những giá trị mới phù hợp với
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước, vừa phải biết phát huy
những giá trị truyền thống của dân tộc. Do vậy giáo dục từ phía gia đình đối
với con cái càng trở nên quan trọng trong giai đoạn hiện nay, do gia đình là
nơi mà những đứa trẻ tiếp xúc sớm nhất, trưởng thành lâu dài nhất. Nhưng
trước sự tác động của nền KTTT hiện nay, chức năng giáo dục ở mỗi hộ gia
đình ở Thái Nguyên ngày càng có những biến đổi theo hướng giảm sút, vậy
nên cần có những biện pháp giải quyết phù hợp như: hoàn thiện thể chế
KTTT định hướng XHCN, tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức
về vai trò của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ trong điều kiện KTTT, xây
101
dựng môi trường văn hóa xã hội tiến bộ làm cơ sở cho nội dung giáo dục gia
đình trong điều kiện KTTT để nâng cao chất lượng giáo dục của gia đình
nhằm mục đích đào tạo ra những con người có nhân cách tốt, có tri thức,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, năng động sáng tạo, chủ động đáp ứng
yêu cầu hiện nay của sự phát triển xã hội nói chung, phát triển ở Thái
102
Nguyên nói riêng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ph. Ăngghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1996
2. Nguyệt Ánh (2014), “Trung tâm công tác xã hội Thái Nguyên triển khai
hiệu quả công tác trị liệu cho trẻ tự kỷ”, Trang điện tử Trung tâm công
tác xã hội Tỉnh Thái Nguyên
3. Lê Thị Tuyết Ba (1999), “ Vấn đề bảo vệ các gía trị đạo đức trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, số 1
4. Lê Thị Tuyết Ba (2000), “ Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh
tế xã hội trong điều kiện KTTT”, Tạp chí Triết học, số 5
5. Vũ Đình Bách (2006), Đặc trưng của KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
6. Lương Gia Ban (2013), Giaó dục đạo đức mới cho sinh viên trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
7. Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Nguyên (2014), Thống kê tỷ lệ nạo phá
thai trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010-2014
8. Trần Thị Minh Châu (2001), Một số vấn đề về kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện KTTT
ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia
10. Nguyễn Cúc (1995), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nxb Thống kê, Hà Nội
11. Cục Thống Kê Việt Nam (2009), Cấu trúc tuổi, giới tính và tình trạng
hôn nhân của dân số Việt Nam
12. Tống Văn Chung (2000), Xã hội học nông thôn, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội
103
13. Phạm Khắc Chương (1999), Giaó dục gia đình, Nxb Giaó dục
14. Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thu Hà (1999), Từ điển văn hóa gia đình,
Nxb Văn hóa thông tin
15. Phạm Văn Dũng (2009), Tính phổ biến và tính đặc thù trong phát triển
kinh tế thị trường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu an
Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Nguyễn Ngọc Hà (2002), “ Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình
trạng suy thoái đạo đức”, Tạp chí Triết học, số 3
18. Cấn Hữu Hải (2002), Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định
hướng giá trị của lứa tuổi đầu thanh niên, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
19. Hoàng Hải (2013), “Báo động tình trạng ly hôn ở vợ chồng trẻ”, Báo
Thái Nguyên
20. Đỗ Lan Hiền (2002), “ Vấn đề xây dựng đạo đức trong bối cảnh phát
triển kinh tế- xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết
học, số 4
21. Nguyễn Minh Hòa (2000), Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại,
Nxb Trẻ
22. Ngô Công Hoan (2011), Giaó trình giáo dục gia đình, Nxb Giaó dục
23. Ngô Công Hoan (2011), Giaó trình tâm lý học gia đình, Nxb Đại
học Sư phạm
24. Trịnh Duy Huy (2005), “ Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thị trường định
hướng XHCN – Một số giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển đạo
đức”, Tạp chí Triết học, số 2
25. Trần Đình Hượu (1995), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
26. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Qúy (2009), Gia đình học, Nxb Chính trị
Hành chính, Hà Nội
104
27. Vũ Ngọc Khánh (2007), Văn hóa gia đình Việt Nam, Nxb Thanh niên
28. Nguyễn Linh Khiếu (2006), “ Giáo dục gia đình hướng tới xây dựng con
người thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH”, tạp chí Cộng sản, số 12
29. Phạm Trung Kiên (2013), “Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc và kết quả điều trị tự kỷ
trẻ em tại Tỉnh Thái Nguyên”, NXB Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
30. Tương Lai ( 1996), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
31. Nghiêm Sỹ Liêm (2001), Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ
trẻ ở nước ta hiện nay. Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh.
32. Chu Viết Luân (2005), Thái Nguyên- thế và lực mới trong thế kỉ 21, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
33. Thanh Lê (2001), Xã hội học gia đình, Nxb Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh
34. Bắc Lệ ( 2011), “Công tác phối hợp phòng chống ma túy ở Thái
Nguyên”, Tạp chí Mặt trận, số 89
35. Nguyễn Văn Lý (2000), Kế thừa và đổi mới các gía trị đạo đức truyền
thống trong quá trình chuyển sang nền KTTT ở Việt Nam hiện nay, Luận
án Tiến sĩ Triết học 5.01.02, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
36. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia
Hà Nội
37. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị Quốc
gia Hà Nội
38. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 23, NXB Chính trị Quốc
gia Hà Nội
39. Nguyễn Thị Hồng Nga (2009), Giaó trình gia đình học, Nxb Lao động
xã hội, Hà Nội
40. Ngô Thị Thu Ngà (2011), Gía trị đạo đức truyền thống với việc xây
dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ
105
Triết học 62.22.80.05, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
41. Nhiều tác giả (2009), Kinh tế thị trường định hướng XHCN- lý luận và
thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, hà Nội
42. Nhiều tác giả (2006), Giáo trình Triết học Mác- Lênin, Nxb Chính trị
Quốc gia
43. Nhiều tác giả (2003), Gíao dục và đào tạo Tỉnh Thái Nguyên thành tựu
và chiến lược phát triển, Nxb Thống kê, Hà Nội
44. Nhiều tác giả (1987), Chủ nghĩa Mác- Lênin với vấn đề hôn nhân và gia
đình, Nxb Phụ nữ.
45. Cao Thị Phương Nhung (2010), Gia đình với giáo dục nhân cách cho
thế hệ trẻ ở Tình Thái Nguyên hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Chủ nghĩa xã
hội khoa học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
46. Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên ( 2014), áo cáo tổng
hợp số liệu bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2004- 2014
47. Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên (2015), Thống kê
hoàn cảnh trẻ em từ 2011 đến nửa đầu năm 2015
48. Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thái Nguyên (2015), áo cáo tổng
hợp giảm nghèo và cận nghèo của Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 đến
nửa đầu 2015
49. Lê Thị Hoài Thanh (2003), Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và
hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận
án Tiến sĩ Triết học 5.01.02, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
50. Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Hữu Minh (2014), Gia đình Việt Nam
trong quá trình CNH-HĐH và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh, Nxb
Khoa học xã hội
51. Lê Thi (1996), Gia đình Việt Nam ngày nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
52. Lê Thi (2002), Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới, Nxb
106
Khoa học xã hôi, Hà Nội
53. Lê Thi (1994), Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội
54. Lê Thi (2009), Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân
gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay. Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội
55. Lê Thi (2005), “ Mối quan hệ giữa cá nhân- gia đình trong bối cảnh Việt
Nam đi vào toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tê”, Tạp chí Triết học,
số 4
56. Lê Thi (2002), “ Mối quan hệ gia đình Việt Nam hiện nay nhìn từ góc
độ giới”, Tạp chí khoa học về Phụ nữ, số 1
57. Nguyễn Thị Thọ (2011), Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện
nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
58. Bùi Đăng Thiện (2011), Gia đình môi trường giáo dục đầu tiên của con
người, Nxb Dân Trí
59. Lê Thị Thủy (2000), Vai trò của đạo đức với hình thành nhân cách con
người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết
học 5.01.02, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
60. Phạm Bích Thủy (2009), iện pháp bồi dưỡng cho cha mẹ năng lực
giáo dục hành vi đạo đức đối với trẻ mẫu giáo mới lớn, Luận án Tiến sĩ
giáo dục học 62.14.01.01, Đại học sư phạm Hà Nội
61. Bùi Thanh Tùng (2010), CNH-HĐH Nông nghiệp, nông thôn ở Thái
Nguyên (giai đoạn 1997- 2007), Luận văn Thạc sỹ Lịch sử Việt Nam,
Trường ĐH Sư Phạm- ĐH Thái Nguyên
62. Nguyễn Quốc Tuấn (1995), Tìm hiểu các quy phạm pháp luật về hôn
nhân và gia đình, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
63. Nguyễn Thị Thường (1999), “ Gia đình Việt Nam hiện nay, truyền
107
thống hay hiện đại”, Tạp chí Thông tin Lý luận, số 253
64. Từ điển Triết học (1986), ản dịch ra tiếng việt có sửa chữa và bổ sung
của Nxb Tiến ộ và Nxb Sự Thật
65. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2012), Quyết định ban hành chương
trình Công tác dân tộc Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2015
66. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2013), áo cáo sơ kết công tác
phòng chống HIV/ADIS phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm 6 tháng đầu
năm và xác định nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm
67. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2008), áo cáo số 105/ C- UBND
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2008 phương
hương nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2009
68. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2009), áo cáo số 125/ C- UBND
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2009 phương
hương nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2010
69. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2010), áo cáo số 111/ C- UBND
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2010 phương
hương nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2011
70. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2011), áo cáo số 116/ C- UBND
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2011 phương
hương nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2012
71. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2012), áo cáo số 214/ C- UBND
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2012 phương
hương nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2013
72. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2014), áo cáo số 224/ C- UBND
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2014 phương
hương nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2015
73. Uỷ Ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2014), Thống kê tình hình phòng
108
chống bạo lực gia đình ở Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008- 2013
74. Lê Ngọc Văn (2001), Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia
đình Việt Nam hiện nay, Nxb Hà Nội
75. http://www.ubmvgiadinh.org
76. http://www.thuvienbinhduong.org.vn
77. http://thainguyencity.gov.vn
78. http://congtacxahoithainguyen.vn
79. http://www.tapchicongsan.org.vn
80. http://nguyentandung.org.vn
81. http://vietnamnet.vn
109
82. http://dangcongsan.vn