BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Thúy Vinh

SỰ NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

Chuyên ngành

: TÂM LÝ HỌC

Mã số

: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. LÊ XUÂN HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Thúy Vinh

SỰ NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH

Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG

VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

MỤC LỤC

5TMỤC LỤC5T ............................................................................................................................ 1

5TLỜI CAM ĐOAN5T ................................................................................................................. 3

5TMỞ ĐẦU5T .............................................................................................................................. 1

5T1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI5T .......................................................................................................................... 1

5T2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU5T ................................................................................................................. 2

5T3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU5T.................................................................................. 2

5T4.GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU5T ............................................................................................................. 3

5T5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU5T................................................................................................................. 3

5T6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU5T ........................................................................................... 3

5T7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU5T ......................................................................................................... 3

5T8.ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI5T ........................................................................................................... 5

5TCHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI5T ................................................................... 6

5T1.1. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ5T..................................................................... 6

5T1.2. VẤN ĐỀ NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH5T ................................................................................................ 7

5T1.2.1. Khái niệm giới tính và nhận dạng giới tính5T ................................................................................. 7

5T1.2.1.1. Giới và giới tính5T ................................................................................................................. 7

5T1.2.1.2. Nhận dạng giới tính5T ............................................................................................................ 9

5T1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính5T ......................................................................... 10

5T1.2.2.1. Ảnh hưởng của yếu tố sinh học đến nhận dạng giới tính5T ................................................... 10

5T1.2.2.2. Ảnh hưởng của yếu tố xã hội và tâm lí đến nhận dạng giới tính5T ........................................ 12

5T1.2.3. Sự phát triển nhận dạng giới tính ở trẻ em5T ................................................................................ 18

5T1.2.3.1. Học thuyết phát triển nhận thức của L. Kohlberg5T .............................................................. 19

5T1.2.3.2. Học thuyết về sơ đồ giới tính5T ........................................................................................... 21

5T1.3. VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI5T .................................................................. 23

5T1.3.1. Khái niệm vai trò giới và khuôn mẫu về giới5T ............................................................................ 23

5T1.3.1.1.Vai trò giới5T ........................................................................................................................ 23

5T1.3.1.2. Khuôn mẫu về giới5T ........................................................................................................... 25

5T1.3.2. Gia đình và vấn đề phân công vai trò giới trong gia đình5T .......................................................... 26

5T1.3.2.1. Khái niệm gia đình5T ........................................................................................................... 26

5T1.3.2.2. Vấn đề phân công vai trò giới trong gia đình5T..................................................................... 27

5TTIỂU KẾT CHƯƠNG 15T ......................................................................................................................... 33

5TCHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 5T ................................................................................................................................... 34

5T2.1. Tổ chức nghiên cứu5T ......................................................................................................................... 34

5T2.1.1. Mục đích nghiên cứu5T................................................................................................................ 34

5T2.1.2. Địa bàn và khách thể nghiên cứu5T .............................................................................................. 34

5T2.1.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu5T ...................................................................................... 34

5T2.1.3.1. Khảo sát sự nhận dạng giới tính của trẻ 5-6 tuổi bằng phương pháp đàm thoại (xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 1).5T ..................................................................................................................... 34

5T2.1.3.2. Khảo sát sự hiểu biết của trẻ 5-6 tuổi về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình bằng phương pháp đàm thoại (5T ......................................................................................... 35

5T2.1.3.3. Khảo sát cha mẹ trẻ về sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình bằng phương pháp điều tra (Xem Phụ lục: Khảo sát cha mẹ). 5T ................................................................ 36

5T2.1.5. Cách xử lý số liệu5T .................................................................................................................... 36

5T2.2. Kết quả nghiên cứu5T.......................................................................................................................... 36

5T2.2.1. Kết quả khảo sát sự nhận dạng giới tính ở mẫu nghiên cứu5T ...................................................... 36

5T2.2.1.1. Sự xác định giới tính của bản thân5T ................................................................................... 36

5T2.2.1.2. Mức độ hiểu tính ổn định của giới tính5T ............................................................................. 37

5T2.2.1.4. Mức độ hiểu tính bất biến của giới tính5T ............................................................................. 38

5T2.2.1.5.Sự nhận biết những điểm khác biệt giữa con trai/con gái ở mẫu khảo sát5T ........................... 39

5T2.2.2. Kết quả khảo sát sự hiểu biết về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình ở mẫu nghiên cứu5T ......................................................................................................................................... 41

5T2.2.2.1. Khi lần lượt cho trẻ xem 18 tranh vẽ và đặt câu hỏi “Theo cháu, người này đang làm5T ....... 41

5T2.2.2.Kết quả khảo sát việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình và mối tương quan của nó với nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi5T ...................................................................................... 47

5TTIỂU KẾT CHƯƠNG 25T ......................................................................................................................... 56

5TKẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT5T ............................................................................................... 58

5TPHỤ LỤC5T ........................................................................................................................... 64

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một

công trình nào khác.

Tác giả

Trần Thị Thúy Vinh

MỞ ĐẦU

1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Gia đình luôn háo hức muốn biết trẻ sơ sinh là trai hay gái. Tại sao người ta lại quan tâm đến

giới tính của trẻ? Câu trả lời là “trai” hoặc “gái” hoàn toàn không chỉ là sự khác biệt sinh học. Cùng với

nó, những từ này đi kèm với các vai trò xã hội khác nhau. Ngay từ khi còn rất nhỏ, trẻ đã bắt đầu quan

tâm đến các vấn đề giới tính - đó là quá trình nhận thức tự nhiên để tìm hiểu thế giới xung quanh. Vai

trò đi kèm với giới tính là một trong những vấn đề đầu tiên mà trẻ khám phá. Trẻ nhanh chóng tìm hiểu

hành vi được dành cho đàn ông và phụ nữ trong nền văn hóa của mình. Đồng thời, trẻ bắt đầu đồng

nhất mình với một trong hai giới này. Như thế, trẻ có sự nhận dạng trong tư cách là trai hoặc gái.

I.X.Kon nhận định: “Giới là phạm trù đầu tiên mà trẻ ý thức về bản thân như một cá thể” [24, tr.1].

Nhận dạng giới tính là một vấn đề không thể bỏ qua trong tâm lí học giới tính và tâm lí học lứa

tuổi. Ở trẻ, việc ý thức được mình thuộc về giới nào và cần phải có những phẩm chất nào để thể hiện

đặc tính giới (những đặc điểm “nam tính” và “nữ tính”) diễn ra đồng thời với sự xác định ý nghĩa của

những phẩm chất này đối với cá nhân và đối với xã hội. Đó chính là quá trình hình thành nhận dạng

giới tính.

Trong lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt từ 5 tuổi trở đi, quá trình phát triển ý thức và tự ý thức của trẻ

diễn ra mạnh mẽ. Việc trẻ ý thức về bản thân như đại diện của một giới là thành tố quan trọng đầu tiên

trong quá trình hình thành nhận dạng giới tính. Sự phát triển toàn diện của trẻ như đại diện của giới

nam hoặc giới nữ có thể phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ của trẻ với cha mẹ và những người thân

trong gia đình. Những người mà trẻ yêu quý và tiếp xúc thường xuyên có ảnh hưởng đặc biệt đối với

trẻ. Có thể nói, sự phát triển giới tính và sự phát triển xã hội của trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Thành tố thứ hai trong quá trình hình thành nhận dạng giới tính là việc trẻ hiểu và tiếp nhận vai

trò giới của bản thân. Vai trò giới được hiểu như một hệ thống những yêu cầu, qui tắc, chuẩn mực, kỳ

vọng mà trẻ phải đáp ứng để được công nhận là bé trai (đàn ông) hoặc bé gái (phụ nữ) [24, tr.12].

Những kỳ vọng của cha mẹ về trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhận thức giới tính ở trẻ. Việc

cha mẹ đối xử với bé trai như với một cô bé sẽ làm rối loạn tự nhận thức về giới tính của trẻ. Và ngược

lại, việc người lớn đối xử với bé trai như với một người đàn ông thực thụ sẽ giúp quá trình nhận dạng

giới tính của trẻ sẽ diễn ra thuận lợi hơn. Việc lĩnh hội vai trò giới ở trẻ đòi hỏi phải có những mẫu mực

điển hình của giới nam và giới nữ. Sự tri giác đồng thời vai trò của cả người cha lẫn người mẹ trong gia

đình giúp trẻ so sánh, nhận thức không chỉ sự khác biệt giữa hai giới, mà cả sự thống nhất của hai giới

trong một tổng thể.

Như vậy, nguồn gốc cơ bản để trẻ lĩnh hội vai trò giới chính là hình ảnh cuộc sống của người

lớn, mà trước hết là gia đình. Môi trường gia đình có ảnh hưởng đặc biệt đến sự phát triển giới tính của

trẻ. Vai trò giới của cha mẹ càng được thể hiện rõ bao nhiêu thì sự phát triển vai trò giới ở trẻ càng

thuận lợi bấy nhiêu. Sự tri giác không rõ ràng về vai trò giới trong gia đình sẽ ảnh hưởng không nhỏ

đến nhận thức và hành vi của trẻ.

Hiện nay, việc nghiên cứu về tâm lí học giới tính và giáo dục học giới tính ở nước ta đang được

quan tâm và phát triển. Đây là vấn đề phức tạp và còn nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm cũng

như cách thức giáo dục giới tính cho trẻ. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã thống nhất rằng, nên giáo dục

giới tính cho trẻ càng sớm càng tốt. Mỗi lứa tuổi nhất định cần có nội dung, chương trình và phương

pháp giáo dục thích hợp. Tùy theo đặc điểm văn hóa, điều kiện của từng vùng mà việc giáo dục giới

tính cho trẻ có thể bắt đầu ở những lứa tuổi khác nhau.

Đề tài “Sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi dưới ảnh hưởng của việc phân công

vai trò giới trong gia đình” đáp ứng được nhu cầu cấp thiết trong việc nghiên cứu và giáo dục giới tính

hiện nay. Để giáo dục giới tính cho trẻ, trước hết phải hiểu được đặc điểm hình thành và phát triển nhận

dạng giới tính ở trẻ. Sự tìm hiểu các đặc điểm nhận dạng giới tính trong lứa tuổi mẫu giáo tạo điều kiện

thuận lợi cho việc tiếp cận cá thể trong quá trình giáo dục bé trai và bé gái, ngăn ngừa những rối loạn

trong quá trình hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ, phòng tránh những sai lầm trong công tác giáo dục

trẻ. Việc giáo dục giới tính rập khuôn, cứng nhắc theo một khuôn mẫu về giới ảnh hưởng không nhỏ

đến sự phát triển cái Tôi tự nhiên và khả năng sáng tạo của trẻ. Ngược lại, việc đồng nhất hóa trong

giáo dục bé trai và bé gái – không chú ý đến sở thích, định hướng giá trị và nhu cầu của từng giới – ảnh

hưởng không chỉ đến sự phát triển nhân cách, trong việc chuẩn bị kiến thức và kĩ năng cho trẻ thực

hiện vai trò giới trong gia đình và xã hội nói chung, mà có thể còn dẫn đến thái độ đối kháng hoặc

không tôn trọng người khác giới nói riêng.

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến sự hình

thành nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.Khách thể nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) và cha mẹ của trẻ.

3.2.Đối tượng nghiên cứu: Sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua việc phân công

vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình.

4.GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

4.1. Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về nhận dạng giới tính.

4.2. Sự phân công vai trò giới trong gia đình trọn vẹn có ảnh hưởng tích cực đến nhận dạng

giới tính ở bé trai và bé gái 5-6 tuổi.

5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1. Phân tích các quan điểm về vấn đề nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo và vấn đề phân

công vai trò giới trong gia đình.

5.2. Khảo sát thực trạng sự nhận dạng giới tính ở bé trai và bé gái 5-6 tuổi.

5.3. Phân tích sự hiểu biết của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi về vai trò, chức năng của nam giới và nữ

giới trong gia đình.

5.4. Khảo sát thực trạng việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình.

5.5. Phân tích ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến

nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi.

6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình toàn

vẹn (có cả cha và mẹ), không tìm hiểu ảnh hưởng của cơ cấu gia đình (số lượng, thành phần, mối quan

hệ giữa các thành viên và các thế hệ…) đến sự hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ.

Đề tài chỉ nghiên cứu 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cùng 60 cặp cha mẹ của trẻ trong 4 trường mầm

non ở TP.HCM.

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Cách tiếp cận

7.1.1. Hướng tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Vấn đề nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo được

nghiên cứu như một bộ phận trong sự phát triển nhận thức nói riêng và sự phát triển nhân cách nói

chung của trẻ. Nhận dạng giới tính luôn được đặt trong mối quan hệ thống nhất với các quá trình nhận

thức khác.

Ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến nhận dạng giới

tính ở trẻ mẫu giáo được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với các kênh trung gian của quá trình

xã hội hoá vai trò giới ở trẻ như: các thành viên khác trong gia đình, bạn bè, trường mẫu giáo và các

phương tiện truyền thông đại chúng.

7.1.2. Hướng tiếp cận lịch sử - logic: Ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình

đến nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo được nghiên cứu trong tiến trình phát triển của vấn đề, so sánh

trong một chừng mực với những thời điểm khác nhau trong tiến trình phát triển của xã hội (về nghiên

cứu lí luận, về sự phát triển lứa tuổi của trẻ em ở các quốc gia khác nhau, về sự phân công vai trò giữa

cha và mẹ trong các gia đình khác nhau…).

7.1.3. Hướng tiếp cận lịch sử - văn hóa: Trẻ em học được từ người lớn các khuôn mẫu về giới

và vai trò giới. Hiện nay, khuôn mẫu về giới có ít nhiều thay đổi, nó có thể mang tính truyền thống

nhưng cũng có thể mang phong cách hiện đại. Các khuôn mẫu về giới trong các gia đình khác nhau

hoặc nền văn hóa khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình nhận thức của trẻ.

7.1.4. Hướng tiếp cận thực tiễn: Việc nghiên cứu đảm bảo thu thập được những cứ liệu thực

tiễn và mới để phân tích lí luận đã có; đưa ra những đề xuất thiết thực, phục vụ cho giáo dục mầm non.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

Tập hợp, phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để làm rõ các khái niệm, các

vấn đề lí luận liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

• Phương pháp đàm thoại với trẻ

Tìm hiểu sự nhận dạng giới tính của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và sự hiểu biết của trẻ về vai trò, chức

năng của đàn ông và phụ nữ trong gia đình.

• Phương pháp điều tra

Điều tra bằng hệ thống phiếu phỏng vấn đối với cha mẹ trẻ để thu thập thông tin thực trạng cách

phân công vai trò giữa cha và mẹ trong gia đình.

• Phương pháp thống kê

Tập hợp toàn bộ số liệu nghiên cứu và xử lí bằng chương trình SPSS 11.5. Từ đó, rút ra kết luận

và đề xuất hướng giải quyết.

8.ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Xác định ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến sự hình

thành nhận dạng giới tính của trẻ em Việt Nam 5-6 tuổi.

Kết quả nghiên cứu góp phần giúp giáo viên mầm non và phụ huynh có định hướng giáo dục

giới tính cho trẻ và có cách tiếp cận cá thể hiệu quả - tùy thuộc vào giới tính của trẻ - ngay từ lứa tuổi

mẫu giáo.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Ngay từ thời Cổ đại, vấn đề giới tính, những khác biệt giới tính gắn liền với vai trò giới đã được

quan tâm tìm hiểu và ghi nhận như một hiện tượng tự nhiên, tất yếu. Đàn ông là “phái mạnh”, biểu

tượng của quyền lực và sự mạnh mẽ, là trụ cột gia đình, là lực lượng sản xuất chính; phụ nữ là “phái

yếu”, hiện thân của đức tính dịu dàng và cần được che chở, là người đảm nhận việc nội trợ và chăm sóc

con cái [8,12].

Vào thời kỳ tiền khoa học, giới tính kèm theo vai trò giới được xem xét theo quan điểm của tôn

giáo và đạo đức. Người ta chú ý dạy dỗ các em gái theo mô hình giống bà và mẹ, còn các em trai theo

mô hình của ông và bố. Ở một số nước phương Đông – trong đó có Việt nam – vốn chịu nhiều ảnh

hưởng của Nho giáo, sự phân biệt giữa đàn ông và phụ nữ lại càng nặng nề. Nguyên tắc tam tòng: “Tại

gia tòng phụ. Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử” đã đặt người con gái, người vợ vào vị thế phụ thuộc

người đàn ông - người cha, người chồng và con trai [7, 10].

Phải trải qua một chặng đường phát triển lâu dài, đến đầu thế kỷ XX, vấn đề giới tính với tư

cách là một khoa học về con người mới được chú ý và đề cao ở nhiều nước phương Tây, đặc biệt là

thuyết của S.Freud. Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu nó cũng vấp phải không ít sự phản ứng vì bị hạn chế

bởi vấn đề tính dục [12, tr.10].

Từ giữa thế kỷ XX trở đi, trong lĩnh vực nghiên cứu sự hình thành và phát triển giới tính của con

người đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị về lí luận cũng như thực tiễn của nhiều

chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh học, y học, tâm lí học, xã hội học...

Trong khoa học tâm lí, vấn đề nhận dạng giới tính và nhận thức về vai trò giới ở trẻ em được

nghiên cứu và giải thích rõ ràng trong các công trình của các nhà khoa học phương Tây: Lawrence

Kohlberg(1966), Ullian (1974); Martin & Halverson (1981), Martin & Little (1990), Berm (1989...

Trong tâm lí học Liên Xô cũ có các đại diện tiêu biểu như D.V.Kolexev (1973), L.L.Kolominxki (1985),

I.X.Kon (1981), V.X.Mukhina (1999), Kagan V.E (1981)...

Các tác giả đã sử dụng hàng loạt kỹ thuật điều tra bao gồm các câu hỏi đóng – mở, câu lựa chọn,

thang tỉ lệ ... để thăm dò ở trẻ em những biểu tượng đặc trưng về đàn ông và phụ nữ cũng như vai trò,

chức năng của họ trong gia đình và xã hội.

Qua kết quả nghiên cứu, Broverman (1972), Spence, Helmvich & Stapp (1975), Ruble (1983) đã

đưa ra mô hình khuôn mẫu giới tính với những đặc điểm đặc trưng cho từng giới. Cho đến nay, khuôn

mẫu giới tính này vẫn phổ biến ở nhiều nước.

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, các nghiên cứu của GS. Trần Trọng Thủy, GS. Đặng Xuân

Hoài, PGS.TS. Nguyễn Quang Uẩn và PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh là những bước đi đầu tiên trong việc

nghiên cứu tâm lí học giới tính. Các công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề đa dạng về giới tính và giáo

dục giới tính ở nước ta.

Riêng trong lĩnh vực giáo dục mầm non, những nghiên cứu về giới tính của trẻ mẫu giáo chưa

nhiều và chưa có hệ thống. Các luận án Thạc sĩ của Thái Lan Chi, 1995; Trần Thị Nga, 1995; Nguyễn

Thị Thu Hà, 1997; Nguyễn Thị Bích Liên, 1997 (được thực hiện tại trường Đại học sư phạm I Hà Nội)

đã đề cập đến sự nhận dạng và những biểu hiện giới tính ở trẻ mẫu giáo, chủ yếu là trong hoạt động vui

chơi. Người nghiên cứu chưa tìm thấy các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới

trong gia đình đến nhận dạng giới tính của trẻ mẫu giáo. Các nghiên cứu kể trên là những gợi ý cho cô

giáo mầm non cần chú ý đến đặc điểm giới tính trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ. Mặc dù

số lượng còn khiêm tốn nhưng đây chính là những đề tài khai phá cho việc nghiên cứu giới tính của trẻ

em lứa tuổi mẫu giáo ở Việt Nam và là tài liệu quí giá cho việc nghiên cứu của đề tài này.

1.2. VẤN ĐỀ NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH

1.2.1. Khái niệm giới tính và nhận dạng giới tính

1.2.1.1. Giới và giới tính

Giới (Gender) là một khái niệm phức tạp, được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau.

Giới có thể được hiểu theo mặt sinh học, là một tập hợp những đặc điểm sinh lí cơ thể đặc trưng

ở con người Những đặc điểm sinh lí cơ thể thường bao gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ

quan sinh lí cơ thể, điển hình và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục. Cũng có thể nói một cách

khác, những đặc điểm sinh lí cơ thể là căn cứ để xác định giới, là cơ sở hình thành giới [12, tr.23]

Loài người được chia làm hai giới cơ bản (hai tập hợp người): giới nam và giới nữ. Giới theo

nghĩa này được hiểu là giới sinh học, giới di truyền. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số người

không thuộc về hai giới trên, người ta gọi là giới thứ ba. Giới này xuất hiện do nguyên nhân chủ yếu là

hệ cơ quan sinh dục không được bình thường về cấu tạo hoặc chức năng, dẫn dến việc phát triển tâm lí,

sinh lí cơ thể không bình thường [12, tr.24].

Giới còn được hiểu theo góc độ xã hội, là những đặc điểm mà xã hội tạo nên ở người nam và

người nữ, là qui định của xã hội về người nam và người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ. Đó

là giới xã hội [12, tr.23].

Như vậy, giới bao gồm hai thuộc tính - thuộc tính sinh lí cơ thể và thuộc tính xã hội. Giới được

hiểu như là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản giống nhau [12, tr.23].

Mỗi một tập hợp người này bị chi phối và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội khác nhau, tạo nên những

giá trị khác nhau. Từ đó hình thành những đặc tính riêng của từng giới và dần dần hình thành những

đặc điểm xã hội đặc trưng cho mỗi giới (về chức năng, vai trò xã hội, nghĩa vụ, quyền lợi…).

Ở Việt Nam, “giới” là một khái niệm mới, nó chỉ được sử dụng từ cuối thập niên 80 của thế kỷ

trước. Quan niệm này chưa được nhìn nhận ở tầm chiến lược. Một mặt thì nó khích lệ và đòi hỏi phụ

nữ phải học hành như nam giới, có các cơ hội nghề nghiệp như nam giới; mặt khác, nó không đòi hỏi

hay khích lệ phụ nữ giảm bớt công việc nhà để đàn ông gánh vác. 1TCó thể nói, quan niệm về giới ở 1TViệt

Nam1T chưa hoàn toàn thoát ly ý thức phụ quyền.

Giới tính (Sex) – theo Từ điển Tâm lí học (2008) – “là những khác biệt giữa nam và nữ về cả

yếu tố sinh học lẫn yếu tố tâm lí”.

Từ góc độ sinh học, giới tính là tập hợp những dấu hiệu gen tương phản của những cá thể một

loài.

Từ góc độ xã hội, giới tính là tổ hợp những đặc điểm cơ thể, di truyền, văn hóa - xã hội, hành vi

đảm bảo vị thế cá nhân, xã hội và pháp lí của từng người nam giới và phụ nữ” [1, tr.243].

Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới. Những đặc điểm

này rất phong phú và đa dạng.

Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giới (cả về mặt sinh học

lẫn tâm lí xã hội), giúp chúng ta phân biệt giới này với giới kia.

Về mặt sinh học, con người sinh ra đã xác định những đặc điểm khác nhau về giới tính. Sự khác

biệt giới về mặt sinh học dễ nhận thấy và quan trọng nhất là cấu tạo và chức năng của hệ cơ quan sinh

dục, sau đó là hình thái, cấu tạo và chức năng của các hệ cơ quan khác trong cơ thể (bộ xương của phụ

nữ nhỏ hơn, xương chân tay ngắn hơn; cơ bắp của nam giới phát triển tốt hơn; lượng mỡ trong cơ thể

của phụ nữ nhiều hơn so với nam giới, đặc biệt là ở mông, ngực, bụng ...); hiện tượng dậy thì (bé gái

dậy thì sớm hơn bé trai), tuổi thọ (bình quân tuổi thọ của nam giới ngắn hơn nữ giới 6-8 năm)... [12,

20]

Về mặt xã hội, sự khác biệt giới tính thể hiện qua hành vi xã hội, nhu cầu, thái độ, hoạt động,

tình cảm, ý chí, tính cách, năng lực, xu hướng của nam giới và phụ nữ; vai trò, trách nhiệm và quyền

lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho từng giới; các mối quan hệ và hoạt động xã hội; tư thế, tác

phong, cách ăn mặc, trang điểm; các vấn đề thẩm mỹ giới tính và đạo đức giới tính...

Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân mình những đặc tính giới mà họ tiếp thu được từ

giáo dục, nề nếp của gia đình, quy ước của xã hội và những giá trị, chuẩn mực của một nền văn hoá

[12, 20] .

Như vậy, giữa hai giới có nhiều đặc điểm rất khác biệt. Sự khác biệt giới tính này chi phối hành

vi, nếp sống của con người. Những đặc điểm giới tính về sinh lí, tâm lí làm cho hành vi, cử chỉ, tư thế,

tác phong, nếp sống của đàn ông có nhiều đặc điểm khác biệt so với phụ nữ: khác biệt từ dáng điệu,

cách đi đứng đến thói quen trong sinh hoạt, “lời ăn tiếng nói”...và thể hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào

phong tục, tập quán, đạo đức xã hội. Ví dụ, người đàn ông thường cao to, khỏe mạnh, tính tình cứng

rắn, mạnh dạn, có ưu thế trong các hoạt động đòi hỏi sức mạnh và kỹ năng vận động thô...; còn người

phụ nữ thường nhỏ bé, tính tình hiền dịu, nhẹ nhàng, kín đáo, giàu tình cảm, vị tha, có ưu thế trong các

hoạt động đòi hỏi sự khéo léo và kỹ năng vận động tinh.... Thậm chí còn có những đặc điểm chỉ có ở

người nam, hoặc ở người nữ (ví dụ, chỉ có phụ nữ mới mang thai...). Do có sự khác biệt đó mà giới

nam và giới nữ thường có những vai trò, vị trí khác nhau trong xã hội và trong gia đình [8, 19].

Giới tính ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của con người trong xã hội. Những đặc điểm giới

tính quy định hoặc chi phối phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động và phần nào chi phối hiệu quả hoạt

động của con người. Trong xã hội, có những lĩnh vực hoạt động mà nam giới dễ đạt hiệu quả cao hơn

và ngược lại, có những công việc phù hợp với nữ giới hơn.

Do sự khác biệt giới tính không mang tính chất loại trừ nhau, đối lập nhau, mà phối hợp bổ sung

cho nhau, nên hoạt động của con người sẽ thuận lợi hơn nếu như có mối quan hệ cân bằng, hài hòa với

người khác giới.

1.2.1.2. Nhận dạng giới tính

Nhận thức của cá nhân về bản thân mình là nam hay nữ ở mặt đặc điểm sinh học và tâm lí được

biểu hiện ra ở hành vi của người đó được gọi là nhận dạng giới tính [1, tr.54]

Như vậy, nhận dạng giới tính (Gender Identity) dùng để chỉ đặc tính cá nhân, ý thức chủ quan

của một người là nam hay nữ – có nghĩa là sự khẳng định bên trong rằng “Tôi là đàn ông” hay “Tôi là

phụ nữ”.

Nhận dạng về giới bắt nguồn từ đâu? Có phải chúng ta sinh ra đã có? Chúng ta học mới biết?

Hay cả hai?

1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính

Trong việc hình thành nhận dạng giới tính có sự tham gia của các yếu tố sinh học, tâm lí và xã

hội. Di truyền, các hooc môn trước và sau khi sinh, sự khác biệt trong bộ não và cơ quan sinh sản,

những khuôn mẫu giới tính trong xã hội..., tất cả – đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận

dạng giới tính ở trẻ em. Thực tế này tạo nên mô hình tâm sinh lí xã hội về giới.

Với mục đích phân loại những ảnh hưởng khác nhau đến nhận dạng giới tính, trước hết người

nghiên cứu đề cập đến các cơ chế sinh học được cho là đã mang đến nhận dạng về giới ở trẻ em và cả

những điều kiện nảy sinh từ sự bất thường trong các cơ chế này.

1.2.2.1. Ảnh hưởng của yếu tố sinh học đến nhận dạng giới tính

Nam giới và phụ nữ khác nhau về mặt sinh học từ trước và sau khi sinh ra. Trên thực tế, 6Tsự khác

biệt về giới tính6T hay quá trình sinh học khiến cho bào thai trở thành nam giới hoặc nữ giới bắt đầu từ rất

sớm trong thời kỳ thai nghén. Sự khác biệt do các quá trình sinh học này tương tác với những ảnh

hưởng trong nhận thức xã hội sau khi sinh hình thành nên nhận dạng về giới của một người. Sự khác

6TSự khác biệt về nhiễm sắc thể và tuyến sinh dục. 6T Di truyền là yếu tố quyết định giới tính của

biệt giữa đàn ông và phụ nữ về mặt sinh học hay tâm lí được gọi là 6Tnhững khác biệt giới.

bào thai và nó xuất hiện khi thụ thai. Trên thực tế, đây là vấn đề liên quan đến 6Tnhiễm sắc thể 6T– các cấu

trúc sinh học có chứa các gien, hay “các thiết kế” sinh học. Trứng luôn mang một nhiễm sắc thể X.

Tinh trùng hoặc là mang nhiễm sắc thể X, hoặc là mang nhiễm sắc thể Y. Bé trai (XY) là kết quả của

sự kết hợp giữa trứng và tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y; còn bé gái (XX) là kết quả của sự kết hợp

giữa trứng và tinh trùng mang nhiễm sắc thể X. Đó là giới tính di truyền [2,12,14].

Sự thụ tinh như vậy (X + Y hay X + X) trong những điều kiện thông thường, sẽ làm cho thai nhi

có cấu tạo đặc trưng của cơ thể nam hoặc nữ trong quá trình phát triển của nó. Do cấu tạo khác nhau

nên hoạt động sinh lí của mỗi giới có những đặc điểm khác nhau. Các tuyến sinh dục và các hooc môn

(nội tiết tố) tiết ra từ các tuyến này sẽ qui định những đặc điểm sinh lí cơ thể riêng biệt và các thành

phần tạo nên những nét tính cách đặc trưng cho mỗi giới [12, tr.31].

Các tác giả IU.I.Kusniruk và A.P.Serbakov [12, tr.32] cho rằng, chính các tuyến sinh dục

(buồng trứng hoặc tinh hoàn) tạo nên “giới tính đích thực” của con người. Giới tính đích thực là giới

tính được xác định do sự hoạt động thực tế của hệ cơ quan sinh dục. Ở những người có hệ cơ quan sinh

dục nam nhưng hoạt động của nó không bình thường, chẳng hạn không tiết ra được nội tiết tố nam đủ tỉ

lệ cần thiết sẽ không thể trở thành một người nam giới bình thường và họ sẽ không có giới tính bình

6TSự khác biệt về hooc môn và cấu trúc giới tính. 6T Hooc môn có ảnh hưởng trực tiếp và có tác

thường. Một số trường hợp đặc biệt sẽ được người nghiên cứu đề cập dưới đây.

động mạnh đến giới tính là những hooc môn được sản sinh bởi tuyến sinh dục – đặc biệt là hooc

môn 2Testrogens2T và 2Tprogesterone2T của buồng trứng và hooc môn 2Ttestosterone2T của tinh hoàn [3, 22].

Mặc dù người ta vẫn nói đến hooc môn giới tính nam hoặc hooc môn giới tính nữ, tuy nhiên,

khoa học đã chứng minh, trong cơ thể nam giới và phụ nữ đều có cả 2Testrogens và testosterone, có điều

với nồng độ khác nhau. Nam giới có nồng độ testosterone nhiều hơn phụ nữ năm lần, trong khi nồng độ

estrogens chỉ bằng một phần mười. Chính vì thế, 2Tquan điểm đàn ông là đàn ông và phụ nữ là phụ nữ có

6TSự khác biệt ở bộ não. 6T Theo các nghiên cứu, sự khác biệt về giới tính trước khi sinh cũng xuất

thể cứng nhắc [14, tr.281].

hiện trong bộ não. Điều này thường liên quan đến hai vùng chính: (1) 2Tcác bán cầu não2T (phía bên trái và

bên phải của não), và (2) 2Tcấu tạo dưới đồi2T (vùng não điều khiển các phản ứng động cơ và cảm xúc) [3,

22].

Sự khác biệt về giới tồn tại trong các bán cầu não của nam giới và nữ giới. Đàn ông có não bộ

trung bình lớn hơn phụ nữ 11% và họ có số lượng thần kinh trên vỏ não nhiều hơn so với phụ nữ. Vùng

vỏ não đảm trách ham muốn tình dục ở đàn ông lớn hơn ở phụ nữ. Và mặc dù những khác biệt này là

khá nhỏ, nhưng theo nhiều nghiên cứu, ở đàn ông các vùng vỏ não liên quan đến tính hiếu chiến, hưng

phấn … đặc biệt phát triển và họ thường thể hiện khả năng nhận biết không gian tốt hơn. Ở phụ nữ,

vùng hải mã đảm trách ghi nhớ đặc biệt phát triển, họ thường thể hiện khả năng ngôn ngữ tốt hơn (Jill

Godstein). Với những trải nghiệm cảm xúc, bán cầu não trái của phụ nữ phản ứng mạnh hơn và sau đó

thường chỉ nhớ chi tiết, trong khi đó bán cầu não phải của đàn ông hoạt động tích cực hơn và vì thế đàn

ông nhớ chính xác hơn nội dung cơ bản của sự kiện (Lary Cahill…)[6, 22].

Vùng dưới đồi – trong nhiều chức năng quan trọng của mình – đóng vai trò kiểm soát sự sinh

sản và tiết ra hooc môn sinh dục bằng cách điều hòa tuyến yến, tuyến yên kích thích các tuyến nội tiết

khác sản sinh ra các hooc môn tương ứng. Đến tuổi dậy thì vùng dưới đồi phân biệt nam giới chỉ đạo

tuyến yên thúc đẩy việc sản sinh0T 0T2Tliên tục0T2T 0Tcác nội tiết tố sinh dục nam. Vùng dưới đồi phân biệt nữ giới

chỉ huy tuyến yên thúc đẩy việc sản xuất0T 0T2Tđịnh0T2T 0T2Tkỳ0T2T 0Tcác nội tiết tố sinh dục nữ.

Hầu hết các khác biệt giới tính hoạt động theo như sắp xếp. Tuy nhiên, đôi khi, một trong những

cơ chế đó lại làm việc sai chức năng. Nếu các cơ quan sinh dục không tạo ra được sự khu biệt, đứa trẻ

có thể được sinh ra với sự kết hợp của các cơ quan sinh dục của cả hai giới, đây được xem là 0T 0T2Tlưỡng tính 2T

[3, tr.36].

Theo các dẫn chứng của George D. Zgourides và Christie S. Zgourides (2007), ba hội chứng

mắc phải do những vấn đề liên quan đến sự khu biệt giới tính ở cấp độ nhiễm sắc thể là0T 0T2THội chứng

2THội chứng0T2T 0T2TTurner0T2T 0Tđược dùng để chỉ tình trạng bào thai chỉ có một nhiễm sắc thể - OX. Trẻ em

Turner, Hội chứng Klinefelter, và Hội chứng XYY.

bị mắc hội chứng Turner sẽ phát triển vùng sinh dục bên ngoài của nữ giới, và thường cho mình là phụ

nữ. Tuy nhiên, các cơ cấu sinh dục bên trong của chúng lại không bao giờ phát triển. Những phụ nữ

trưởng thành mắc hội chứng này không có khả năng sinh đẻ. Có khoảng 1 trong 2.500 trẻ sơ sinh nữ

sinh ra có nhiễm sắc thể OX.

Trẻ em sinh ra mắc0T 0T2THội chứng0T2T 0T2TKlinefelter0T2T 0Tlà do có cấu trúc nhiễm sắc thể XXY, và do đó về giải

phẫu sinh lý đứa trẻ là con trai do có sự xuất hiện của nhiễm sắc thể Y. Mặc dù, những đứa trẻ này bề

ngoài trông bình thường giống như những đứa trẻ khác, nhưng họ cũng không có khả năng sinh sản,

0T 0T2THội chứng0T2T 0T2TXYY0T2T 0Tdùng để chỉ tình trạng bào thai có cấu trúc nhiễm sắc thể XYY. Nam giới có

đôi khi trí tuệ chậm phát triển. Có khoảng 1 trong 400 trẻ sơ sinh nam có nhiễm sắc thể XXY này.

thêm một nhiễm sắc thể Y thường có trí thông minh thấp hơn mức bình thường và có chiều cao cao hơn

bình thường. Có khoảng 1 trong 1000 trẻ sơ sinh nam có nhiễm sắc thể XYY.

Như vậy, hầu hết nhận dạng về giới của các cá nhân thường được đưa ra dựa trên cấu tạo sinh lí

và ngoại hình, nhưng điều này không có nghĩa là các quá trình tâm lí và xã hội không có ảnh hưởng

đến nhận dạng giới tính. Có hàng loạt các yếu tố xã hội và tâm lí liên hệ mật thiết với quá trình này.

1.2.2.2. Ảnh hưởng của yếu tố xã hội và tâm lí đến nhận dạng giới tính

Trong vô vàn các tác động của xã hội đối với sự phát triển của con người – trước hết là sự phát

triển giới tính – phải kể đến tác động của cha mẹ, anh chị em trong gia đình, thầy cô giáo, bạn bè.

Trong đó, môi trường gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với sự nhận dạng và phát triển giới tính

của trẻ. Và đặc biệt quan trọng khi trẻ còn thơ ấu, vào lúc cha mẹ thậm chí còn chưa ý thức được là

mình đang dạy con.

Từ những phản ứng chủ quan khi biết được giới tính của đứa con sắp hạ sinh cho đến những thái

độ và chọn lựa như đặt tên cho con, chọn đồ chơi, quần áo và đồ đạc, cách biểu lộ tình cảm đối với con

trẻ…, cha mẹ có ảnh hưởng sâu đậm đến quá trình hình thành nhận dạng giới tính của con cái mình

hơn bất cứ một tương quan xã hội nào khác.

Theo Rubin, Prorenzano và Luria (1974), Stern và Karraker (1989), các bậc cha mẹ thường

dùng những từ: nhỏ bé, thanh tú, mảnh mai, xinh xắn, dịu dàng… cho bé gái; và các từ: khỏe mạnh,

lanh lợi… cho bé trai. Các bậc cha mẹ cũng xử sự với con cái theo quan điểm của mình về giới tính của

trẻ là gái hay trai. Cha mẹ đối xử với các cậu bé một cách mạnh mẽ hơn so với các cô bé. Khi lựa chọn

đồ chơi cho con, cha mẹ cũng quan tâm đến những đồ chơi phù hợp với giới tính của trẻ (Caldera,

1989 ; Maccoby, Jacklin, Lytton & Romney). Cha mẹ thường bày tỏ thái độ rõ ràng trước những hành

vi và các hoạt động trong trò chơi của trẻ sao cho chúng đi vào đúng quĩ đạo, khuôn mẫu giới tính của

trẻ. Ví dụ, bé gái thường được hướng vào những trò chơi với búp bê, trò chơi gia đình; bị ngăn cản

trong việc leo trèo, chạy nhảy; còn bé trai được khuyến khích chơi với ô tô hoặc các trò chơi vận động

và bị ngăn cản khi chơi với búp bê, nấu ăn... Các nghiên cứu cũng cho thấy, cha mẹ thường củng cố

những hành vi trò chơi đóng vai (role playing) phù hợp với giới tính và không khuyến khích những

hành vi không phù hợp với giới tính của trẻ [6,10].

Khi chơi với con trai, các ông bố thường không ngại các trò chơi đuổi bắt, những động tác

nhanh và mạnh ; trong khi đó, họ ít có những cử chỉ mạnh mẽ đối với con gái, thường họ âu yếm bé gái

một cách nhẹ nhàng và dường như dịu dàng hơn (Carsin, Burks và Parke, Siegal). Ngược lại, các bà

mẹ ít tỏ ra thái quá trong việc phân biệt giữa bé trai và bé gái. Tuy nhiên, mẹ cũng hay chuyện trò với

con gái hơn, dùng ngôn ngữ nhiều hơn trong giao tiếp với bé gái, hay bắt chước cách phát âm của bé

gái hơn là đối với bé trai (Silgel, 1987) [8, tr.26] .

Theo nghiên cứu của Turner và cộng sự (1993), kiểu đối xử khác biệt này giữa các ông bố và bà

mẹ ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính của trẻ rất sớm. Hơn nữa, các ông bố – qua cách xử sự khác

nhau đối với con trai và con gái – đóng vai trò quan trọng hơn các bà mẹ trong việc hình thành nhận

dạng giới tính cho con trẻ. Qua quan sát, người ta thấy các ông bố thường yêu cầu gắt gao đối với các

kiểu thể hiện giới tính của con hơn các bà mẹ. Ví dụ, người bố có xu hướng không khuyến khích con

trai chơi các trò chơi “của con gái”... [8, 10].

Trong gia đình, tính cách của cha mẹ có ảnh hưởng đến việc nhận dạng và học tập vai trò giới ở

trẻ có cùng giới tính với cha hoặc mẹ. Uy quyền của cha mẹ cũng có tác động tương đương đối với giới

tính của con cái, đặc biệt là con trai. Trong gia đình mà người mẹ có uy quyền hơn (và người cha thụ

động) thì khả năng nhận dạng giới tính của bé trai sẽ bị giảm sút nhiều. Tuy vậy, nữ tính ở bé gái

không bị ảnh hưởng gì.

Và không cần phải mất nhiều thời gian, những điều liên quan đến cách cư xử thiên kiến về giới

của cha mẹ bắt đầu ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính ở chính đứa trẻ. Hơn nữa, đứa trẻ cũng không

phải là một chủ thể thụ động trong quá trình xã hội hóa giới tính của mình.

Trong một thời gian rất ngắn – theo các chuyên gia là khoảng hai năm – trẻ em bắt đầu xây dựng

cho mình những hiểu biết về việc chúng là con trai hay con gái, và thường tiếp sau đó là mong muốn

thể hiện hành vi phù hợp với giới của mình.

Ngoài cha mẹ, trong gia đình nếu trẻ có anh chị em cùng giới hoặc khác giới thì trẻ cũng chịu

ảnh hưởng bởi giới tính của anh chị em mình. Về vấn đề này, các nghiên cứu đưa ra các ý kiến trái

ngược nhau.

Brim, Stoneman, Brody, Mackina kết luận, trẻ có anh chị em cùng giới sẽ có điều kiện thể hiện

hành vi và kiểu giới tính thuận lợi hơn so với những trẻ có anh chị em khác giới [4, tr.30]. Trong điều

kiện nghiên cứu tự nhiên về hoạt động vui chơi của trẻ từ 4-9 tuổi ở gia đình cho thấy, việc lựa chọn trò

chơi thường do người anh hoặc chị của trẻ quyết định, vì vậy, các trò chơi này thường mang những đặc

điểm giới tính của anh hoặc chị. Ví dụ, nếu em gái mà có anh trai thì bao giờ cũng chơi những trò có

tính chất nam tính nhiều hơn; nếu em trai có chị gái sẽ chơi trò chơi búp bê, bán hàng, nấu ăn ngang

với mức của hai chị em gái.

Trái lại, Tauber, Grotevant, Levethan lại cho rằng, trẻ trong gia đình có anh chị em cùng giới

(con một bề) hay chọn những đồ chơi, trò chơi khác giới hơn là cùng giới với trẻ để chơi; những trẻ có

anh chị em cùng giới thường có những đặc điểm tính cách giới tính kém hơn so với những trẻ có cả anh

lẫn chị.

Để giải thích mâu thuẫn này, các tác giả cho rằng, mỗi anh chị em trong gia đình đều cố tỏ ra

khác với anh chị em mình, để mình sẽ là người duy nhất được cha mẹ chú ý đến, mình là nhân vật

trung tâm trong gia đình. Vì vậy, trẻ thường cố tình xử sự khác đi. Biểu hiện này đặc biệt phổ biến ở

những gia đình có anh chị em cùng giới và những gia đình đông con. Hơn nữa, trong các gia đình có

con một bề này dường như cha mẹ thả lỏng việc ép buộc con cái vào khuôn mẫu giới tính phù hợp; các

bà mẹ thường chọn đồ chơi khác giới cho con mình hơn; hoặc trẻ thường phải làm các công việc khác

giới hơn, như con trai nấu cơm, rửa bát, con gái sửa chữa đồ dùng…(Stoneman, Brody, Kackinon). Như

vậy, chính các gia đình có con một bề có thể sẽ tạo cơ hội đặc biệt để trẻ mở rộng lĩnh vực hoạt động

sang phạm vi của giới khác [4, 8].

Nhìn chung, ảnh hưởng của anh chị em trong gia đình đối với kiểu giới tính của trẻ ít trực tiếp

hơn so với các yếu tố khác như cha mẹ và bạn bè. Ảnh hưởng này đến trẻ rất đa dạng và nó phụ thuộc

vào nhiều yếu tố như quy mô gia đình, khoảng cách lần sinh, thứ tự sinh, quan điểm giáo dục con cái…

Khi trẻ rời gia đình đến trường học, bé trai và bé gái tiếp tục được đối xử khác nhau. Nhiều

nghiên cứu cho thấy, trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ, giáo viên mầm non và tiểu học thiên về giáo

dục nữ tính hơn là nam tính khi đề cao sự vâng lời, phụ thuộc – những phẩm chất mà xem ra chỉ phù

hợp với vai trò giới của con gái. Còn những phẩm chất khác như hăng hái, quyết đoán, cạnh tranh, độc

lập hầu như ít được tán thành ở trường học. Giáo viên có xu hướng rèn dũa khuôn mẫu giới tính ở bé

trai khắt khe hơn so với bé gái. Ở trường mẫu giáo, các bé trai và bé gái đều được khích lệ, tạo điều

kiện tham gia vào những hoạt động nhẹ nhàng, yên tĩnh thay vì chạy nhảy, nô đùa, đuổi bắt…Tuy vậy,

bé trai vẫn bị cô giáo, bạn bè để ý, phê phán khi có những hành vi của giới khác như khi chơi các trò

chơi được cho là “của con gái” hoặc khi quá chăm chút cho diện mạo của mình. Còn các bé gái thì

dường như ít bị cô và các bạn chỉ trích khi chơi trò chơi của con trai (Fagot, 1985). Trong lớp học, cô

giáo thường chấp nhận sự nhõng nhẽo, giao tiếp bằng cử chỉ điệu bộ của con gái nhiều hơn con trai. Đó

là một sức mạnh ngẫu nhiên khiến bé trai có được hành vi giới tính phù hợp hơn bé gái, còn bé gái có

cơ hội để “lấn sâu” vào các hành vi giới tính của con trai, vì thế hành vi xử sự của bé gái cũng phong

phú hơn bé trai [4,8].

Khi nghiên cứu những phương tiện, thiết bị được sử dụng ở các lớp học của 42 trường mẫu giáo

tại 2TNew Zealand, Meade (1985) thấy rằng, số thiết bị dành cho bé trai nhiều gấp hai lần số dành cho bé

gái; các đồ chơi mang tính chất “nam tính” rất đa dạng, cho phép các bé trai có những cơ hội khám phá,

thí nghiệm, tìm hiểu thế giới khoa học kĩ thuật, phát triển các kĩ năng cơ bắp, kĩ năng toán học, kĩ năng

tổ chức, tạo cơ sở để hình thành vai trò thủ lĩnh... Còn đồ chơi mang tính chất “nữ tính” dành cho các

bé gái chủ yếu là để thực hiện vai trò giới trong gia đình như chăm sóc, nội trợ... giúp bé gái phát triển

những cơ nhỏ, phối hợp tay mắt, sự tập trung chú ý... Điều này có thể nhìn nhận như một sự chuẩn bị

2TChính vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi các bé gái thường học tốt hơn bé trai ở những

cho các hành vi sau này của trẻ [8, tr.36].

năm đầu phổ thông, nhất là về các kĩ năng đọc, viết (Lummin & Stevensai, 1990) và thực hiện các qui

tắc, nội qui của trường học trong khi bé trai thể hiện sự thiếu hụt trong những mặt này.

Trong suốt giai đoạn mẫu giáo và tiểu học, giáo viên luôn phải khống chế các hành vi gây gổ

hoặc không phù hợp của cả trẻ gái lẫn trẻ trai, song họ phải bận tâm đến con trai nhiều hơn. Kết quả là,

trẻ gái có xu hướng thích gần gũi và nói chuyện với cô giáo nhiều hơn, còn trẻ trai thể hiện tính dứt

khoát ở mức độ cao hơn. Chính vì vậy mà giáo viên thường nhận xét “con gái ngoan hơn con trai ”.

Kiểu hành vi thụ động và phụ thuộc được giáo viên chấp nhận, khuyến khích ở trẻ gái khi học mẫu giáo

và tiểu học về lâu dài trở thành những bất lợi, cản trở sự thành đạt của trẻ trong các lĩnh vực khoa học

sau này. Dweck & Leggentt (1988) cho rằng, sự thành đạt về trí tuệ liên quan tỉ lệ nghịch với tính phụ

thuộc vì tính độc lập, quyết đoán và không tuân thủ một cách máy móc thường dẫn đến khả năng giải

quyết vấn đề một cách sáng tạo và mức độ thành đạt cao hơn ở cả bé gái và bé trai.

Thêm vào đó, các nghiên cứu của Dweck Gietz & Strauss (1980); Dweck & Elliott (1983) cho

thấy, phản ứng mang tính phân biệt giới tính với kết quả học tập của học sinh từ phía giáo viên cũng có

thể góp phần tạo nên sự khác biệt giới tính ở trẻ. Học sinh nữ gặp khó khăn khi giải quyết bài tập thì

thường bị xem là thiếu năng lực, còn học sinh nam thì bị cho rằng thiếu động cơ học tập hoặc do các

tác động bên ngoài. Sự quy kết này làm các em gái ngày càng giảm đi tính kiên trì, việc thực hiện

nhiệm vụ ngày càng kém đi, đôi khi dẫn đến sự thất bại dưới cả mức giới hạn [4,8].

Nhìn chung, những hành vi giới tính một khi đã hình thành sẽ khó sửa. Chính vì vậy, trên nhiều

phương diện, trường học với những điều kiện học tập, phương pháp giáo dục, thái độ, cách ứng xử của

giáo viên… có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển nhận dạng giới tính và đến sự hình thành khuôn

mẫu giới tính ở trẻ ngay từ khi còn nhỏ.

Theo các quan sát, kiểu hành vi giới tính ở trẻ được thể hiện rất sớm (đặc biệt là trong nhóm) và

bạn bè là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc duy trì kiểu giới tính này. Trong mối quan hệ bạn bè, trẻ

vừa là sản phẩm vừa là người tạo ra những mối quan hệ đó. Cũng chỉ trong xã hội trẻ em thì trẻ mới

thực sự sống hết mình, cởi mở, bộc lộ một cách chân thành nhất con người của mình, đồng thời tự

khẳng định bản thân, khẳng định vị trí, vai trò giới của mình [8, tr.39].

Quan sát hoạt động của trẻ mẫu giáo trong điều kiện tự nhiên cũng như qua nghiên cứu cho

thấy, trẻ chủ động điều chỉnh kiểu hành vi giới tính cho nhau thông qua các kiểu tán thành, ủng hộ

nhau… thể hiện ở cách bắt chước nhau hoặc gia nhập nhóm chơi. Nghiên cứu của Fagot (1977) trên

200 trẻ mẫu giáo trong khi chơi đã cho thấy rằng, trẻ có những phản ứng đặc biệt đối với những bạn

không thực hiện đúng mẫu hành vi giới tính. Ví dụ, bé trai thích chơi với búp bê sẽ bị bạn chỉ trích

nhiều hơn 5-6 lần so với số trẻ tuân thủ vai trò giới. Mặt khác, những trẻ gái thích chơi làm lính cứu

hỏa hơn là làm y tá thì lại không bị chỉ trích gì [4,8].

Sự bắt buộc, động viên trong nhóm trẻ cũng tạo ra những hiệu quả khác nhau. Ví dụ, Fagot

(1985) trong một nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng, trẻ hay đáp lại thông tin phản hồi của bạn cùng

giới hơn là bạn khác giới. Kiểu phản hồi này tạo ra sự thể hiện khác nhau trong hành vi của trẻ. Theo

các nghiên cứu của Lamb (1979) và Holden (1980), sự chỉ trích của bạn bè chính là một biện pháp hữu

hiệu để chấm dứt những hoạt động không phù hợp với giới tính của trẻ. Đồng thời, những trẻ có hành

vi vai trò giới phù hợp, được bạn bè khen ngợi sẽ duy trì hoạt động đó lâu hơn. Cũng chính vì thế mà

con gái có xu hướng tìm đến con gái, con trai tìm đến con trai để chơi nhiều hơn là tìm đến bạn khác

giới. Các nghiên cứu của Maccoby, Powlishta, Jacklin cho biết, trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi sử dụng thời gian

lớn hơn gấp 3 lần để chơi với bạn cùng giới; đến 5-6 tuổi, con số này là 11 lần [4, 8, 22].

Kết quả là hiện tượng tách nhóm giới tính xảy ra ở trẻ em, đồng thời đây cũng là đặc điểm dễ

nhận thấy nhất trong liên kết bạn bè của trẻ. Sự chia tách giới tính này, đến lượt nó, lại tạo điều kiện để

trẻ học được những vai trò giới phù hợp với trẻ tốt hơn. Rõ ràng, sự chia tách giới tính hoàn toàn không

phải do sức ép từ phía cha mẹ hoặc thầy cô, mà là trẻ tự chọn bạn cùng giới để chơi cho dù người lớn

không hướng dẫn, khuyến khích hoặc cấm đoán.

Tại sao lại như vậy? Maccoby (1990) đưa ra một số nguyên do để lý giải như sau: trước hết là

do kiểu chơi mạnh bạo, có tính cạnh tranh, trấn áp của trẻ trai hoặc các trò chơi mang tính kỹ thuật

được xem là không hợp với con gái nên trẻ gái tránh không chơi với trẻ trai. Mặt khác, trẻ gái biết rằng

chúng khó mà thuyết phục hoặc gây ảnh hưởng đến các bạn trai với cách xử sự thiên về cảm xúc hoặc

điệu bộ nhõng nhẽo…trong khi con trai vốn ưa thái độ rõ ràng, dứt khoát [4,8]. Chính vì thế mà cả trẻ

gái và trẻ trai đều chọn bạn cùng giới để chơi với mục đích các ảnh hưởng của mình có hiệu quả với

bạn hơn. Như vậy, rõ ràng quan hệ bạn bè đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành nhận dạng vai trò

giới của trẻ.

Có thể nói, sinh vật học tạo nền tảng, nhưng cuối cùng chính những tương tác của trẻ với môi

trường xã hội xây dựng nên nhận dạng về giới tính.

Sự hình thành nhận dạng giới tính, cũng như bất kỳ điều gì khác, không phải lúc nào cũng đơn

giản một cách hoàn hảo và không có lỗi gì. Một số cá nhân trải nghiệm khó khăn lớn trong việc điều

hòa và kết hợp các yếu tố sinh lí, tâm lí và xã hội với giới của mình. Họ trải nghiệm những rối loạn

trong tình cảm liên quan đến nhận dạng giới tính. Chẳng hạn như một số cá nhân tin rằng họ bị sinh

nhầm giới; giới tính "thật" của họ mâu thuẫn với diện mạo về giới bên ngoài của họ…

Hiện tượng 2Trối loạn nhận dạng giới2T tính (chuyển giới tính) – quan niệm chủ quan rằng một cá

nhân sở hữu nhầm cơ thể của giới khác – là dạng thức cực đoan nhất của nhận dạng nhầm về giới. Hiện

tượng này khác với đồng tính luyến ái, ái nam ái nữ hay luyến ái giả trang. Người đồng tính luyến ái là

người bị thu hút, hấp dẫn bởi những người cùng giới với mình; trong khi đó người ái nam ái nữ bị hấp

dẫn bởi cả hai giới; người luyến ái giả trang cảm nhận sự hài lòng về tình dục từ việc mặc quần áo của

giới tính khác [3, tr.36].

Một người 2Trối loạn nhận dạng giới2T tính thường đặc biệt ghét các cơ quan sinh dục của mình,

thường muốn giải thoát bản thân khỏi các đặc điểm giới tính về mặt sinh lí của mình và có được giới

tính khác bằng phương pháp0T 0T2Tphẫu thuật chuyển đổi giới tính.

Các nhà khoa học đến nay chưa khám phá ra nguyên nhân rõ ràng của hiện tượng rối loạn nhận

dạng giới tính. Một số học thuyết cho rằng, đó là do sự mất cân bằng hooc môn sau khi sinh, sớm nhận

dạng với cha mẹ thuộc giới khác, và những trải nghiệm kiến thức hỗn hợp từ sớm. Do không có những

bằng chứng trực tiếp chứng minh cho bất kỳ sự lý giải nào, nên hiện tượng chuyển đổi giới tính rất có

thể do nhiều nguyên nhân.

1.2.3. Sự phát triển nhận dạng giới tính ở trẻ em

Các ảnh hưởng sinh học, tâm lí và xã hội không phải là những yếu tố duy nhất quyết định nhận

dạng giới tính ở trẻ. Sự hiểu biết của chính trẻ về giới và vai trò giới cũng góp phần vào quá trình phát

triển nhận dạng giới tính này.

Trong đề tài này, người nghiên cứu tập trung phân tích hai cách tiếp cận khác nhau trong việc

xem xét, đánh giá sự phát triển nhận thức về giới tính và vai trò giới ở trẻ em là: Thuyết phát triển nhận

thức của L. Kohlberg và Thuyết về sơ đồ giới tính của Martin và Halverson.

Cả hai thuyết nêu trên đều giả thiết rằng, các cá thể có vai trò tích cực trong việc lĩnh hội và giải

thích thông tin từ môi trường bên ngoài. Thay vì cho rằng, con người chịu ảnh hưởng của môi trường

một cách thụ động, các nhà khoa học có định hướng nhận thức về việc mỗi cá thể sử dụng “những lí

luận” bên trong (ẩn) để giải thích các thông tin của môi trường và khi làm như vậy, họ đã tạo ra môi

trường để củng cố những lí luận của họ (Martin, 1992) [8, tr.34].

1.2.3.1. Học thuyết phát triển nhận thức của L. Kohlberg

Công trình của L. Kohlberg là nghiên cứu đầu tiên ứng dụng lối tiếp cận nhận thức nhằm tìm

hiểu sự phát triển nhận dạng giới và vai trò giới ở trẻ em. Theo L. Kohlberg, thái độ và niềm tin về vai

trò giới ở chính đứa trẻ giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc hướng dẫn hành vi tương tác của trẻ

với môi trường xung quanh. Thuyết này cho rằng, khả năng phân biệt vai trò giới và tự nhận thức về

bản thân của trẻ trước hết là dựa vào các khuôn mẫu cùng giới chứ không phải dựa vào khả năng tự

nhận dạng về mình. Khi đứa trẻ – trên cơ sở những khác biệt về thể chất và vai trò giới như quần áo,

kiểu tóc hoặc công việc – tự phân loại được mình là con trai hay con gái, luôn mong muốn có những cư

xử phù hợp với giới tính và bắt chước các khuôn mẫu cùng giới với nó. Quá trình này được gọi là “tự

xã hội hóa” (self-socialization). Bé gái thường nói: “Mình là con gái vì mình giống mẹ và các bạn gái

hơn là giống bọn con trai, cho nên mình mặc quần áo con gái, chơi trò chơi con gái...”. Ở đây, tính chất

nhất quán giữa giới tính của trẻ, sự tự phân loại bản thân, các tiêu chuẩn ứng xử đạo đức và các hành vi

thích hợp là điều cốt lõi để duy trì lòng tự trọng ở trẻ [4, 6, 8].

L. Kohlberg xem xét sự phát triển của ý thức giới tính như là quá trình hình thành khả năng

nhận thức tính bất biến của giới tính (Gender constansy). Theo ông, quá trình này trải qua ba giai

đoạn:

a) Giai đoạn gọi tên giới tính (2 – 3,5 tuổi)

Độ tuổi này, trẻ bắt đầu hiểu được các từ: con trai, con gái, đàn ông, phụ nữ ... và sử dụng các

từ này khi nói về người này hoặc người khác. Dưới 3,5 tuổi, trẻ mới chỉ nhận biết được mình là trai hay

gái nhờ những đặc điểm bên ngoài như trang phục, đầu tóc... song khả năng nhận diện này mang tính

tình huống rõ nét, trẻ chưa hiểu được tính ổn định của nó. Khi hỏi: “Khi lớn lên, cháu có trở thành đàn

ông/phụ nữ được không?”, trẻ có thể trả lời rất thoải mái là: “Có”. Và cũng không ít trường hợp trẻ hỏi:

“Mẹ ơi, khi mẹ còn là em bé thì mẹ là con trai hay con gái?”...Trẻ chưa ý thức được rằng, giới tính là

không thay đổi và do vậy, những ước mơ khi nào lớn sẽ trở thành một nhân vật nổi danh khác giới là

hiện tượng dễ bắt gặp ở trẻ [4, 6, 8].

Như vậy, đến 3,5 tuổi, trẻ nhận thức về giới hoàn toàn căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài,

còn sự khác nhau của bộ phận sinh dục lại chưa có ý nghĩa gì đối với trẻ trong việc phân biệt giới tính.

b) Giai đoạn hiểu sự ổn định của giới tính ( 3,5 – 4,5 tuổi)

Đây là giai đoạn đầu của việc nhận thức về tính bất biến của giới tính. Trẻ bắt đầu quen dần với

suy nghĩ: con trai lớn lên sẽ trở thành đàn ông (chồng/ cha/ chú), còn con gái sẽ trở thành phụ nữ (vợ/

mẹ/ cô). Tuy nhiên, sự hiểu biết về tính bất biến của giới ở trẻ còn mang tính thiếu bền vững, cục bộ,

chưa đầy đủ và còn mâu thuẫn với nhau. Đôi khi trẻ vẫn cho rằng, sự thay đổi trang phục, kiểu đầu tóc,

quần áo hay công việc có thể làm thay đổi giới tính của người này hay người khác. Chẳng hạn, con gái

để tóc giống con trai sẽ trở thành con trai và con trai chơi búp bê sẽ trở thành con gái (Fagot, 1985) [6,

tr.229]

c) Giai đoạn hiểu tính bất biến của giới tính ( 4,5 – 7 tuổi)

Đây là giai đoạn củng cố nhận thức về tính bất biến của giới tính. Tuy còn mang tính tình huống,

song vào tuổi này trẻ đã ý thức được giới tính của mình là không thay đổi trong các tình huống và do ý

muốn cá nhân. Nhìn chung, trẻ biết được rằng hình thức bề ngoài không làm thay đổi giới tính của mọi

người, thậm chí ngay cả trong trường hợp mặc quần áo hoặc làm công việc của giới đối lập. Trẻ 6-7

tuổi thường giải thích tính bất biến của giới bằng nhiều cách. Ví dụ, việc mặc váy không làm đàn ông

trở thành phụ nữ, hoặc nếu mẹ đẻ em gái thì lớn lên bé vẫn là con gái.... Còn trẻ 4 tuổi cũng có thể trả

lời đúng câu hỏi về tính bất biến giới tính, nhưng hiếm khi trẻ giải thích được lí do tại sao, bởi trẻ vẫn

bị ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến bản chất vấn đề như quần áo, kiểu đầu tóc, công việc...

Theo L. Kohlberg, phải cho tới sau 7 tuổi trẻ mới hoàn toàn hiểu được rằng, giới tính của chúng

được quyết định bởi bộ phận sinh dục (Mc. Conaghy, Thompson, Bentler). Từ vô số các đặc điểm của

giới tính, trẻ biết tách riêng những đặc điểm ổn định, bản chất để xác định giới, nhờ đó nhận thức về giới

của trẻ được hoàn chỉnh [4, 8].

Nhận dạng giới tính chỉ là bước đầu tiên trong sự lĩnh hội kiến thức về vai trò giới. Trong những

kiểm nghiệm trực tiếp thuyết của L. Kohlberg, các nhà nghiên cứu cũng đồng ý rằng, ở trẻ, việc nhận

dạng giới tính xuất hiện trước tiên, sau đó đến sự hiểu biết về tính ổn định giới và cuối cùng là sự đánh

giá về tính bất biến giới tính.

Trình tự xuất hiện những hiểu biết về vai trò giới này phù hợp với dự báo của L. Kohlberg cho cả

trẻ trai và trẻ gái (Martin & Little, 1990). Hơn nữa, trẻ em ở những nền văn hóa khác nhau (Kenia,

Nepal & American Samia) cũng có các giai đoạn hiểu biết về giới tính tương tự như vậy (Munroe &

Shimmin, 1984) [4, 8].

Nghiên cứu của Berm (1989) đã chỉ ra rằng, việc hiểu biết về bộ phận sinh dục là một yếu tố

quyết định quan trọng về tính bất biến của giới tính.

Như vậy, theo thuyết của L. Kohlberg, khả năng nhận thức về tính bất biến của giới tính là yếu tố

cơ bản nhất quyết định hành vi giới tính của trẻ mẫu giáo. Tuy nhiên, cũng chính thực tế cho thấy, từ 3-

4 tuổi trẻ đã có khả năng lựa chọn kiểu hành vi giới tính phù hợp. Nhờ những yếu tố tác động của môi

trường xã hội, mà quan trọng nhất là người lớn – những tấm gương về hành vi giới tính – mà ngay từ

khi nhận thức giới tính của trẻ chưa đạt tới mức 3, thậm chí mức 2, trẻ đã có thể lựa chọn và thực hiện

hành vi phù hợp với giới tính của mình. Bởi trẻ cho rằng, phải làm như vậy thì mới đúng là con trai hay

con gái.

Mỗi bước tiến bộ trong khả năng nhận thức về tính bất biến giới tính giúp trẻ hiểu ra rằng, giới

tính của bản thân là tồn tại vĩnh viễn mà không liên quan gì đến vai trò giới. Điều đó có nghĩa, việc thực

hiện công việc của người khác giới cũng không thể làm thay đổi giới tính. Ví dụ, đàn ông cũng có thể

nấu ăn rất giỏi và việc một người phụ nữ lái máy bay cũng không phải là điều không thể. Kết quả là,

việc lựa chọn các hoạt động và cách ứng xử của người khác giới không còn là điều đáng sợ đối với trẻ

nữa.

1.2.3.2. Học thuyết về sơ đồ giới tính

Học thuyết của L. Kohlberg nêu cụ thể khi nào trẻ bắt đầu tìm hiểu hành vi và hoạt động thích

hợp với giới tính (một khi trẻ đã hiểu tính ổn định giới tính) nhưng không tìm hiểu việc đó diễn ra như

thế nào. Học thuyết sơ đồ giới tính của Martin và Halverson (1981) giải thích về điều này.

Theo quan điểm thuyết của Martin và Halverson, trẻ thiết lập sơ đồ giới tính (các lí luận sơ

đẳng) và nhờ đó trẻ định hướng được trong môi trường thông tin bao quanh, đồng thời thiết kế và tổ

chức hành vi của bản thân một cách phù hợp với sơ đồ đó. Thuyết của Martin và Halverson được biểu

diễn theo sơ đồ dưới đây [6, tr.230]

Cho con trai Nên tránh Không phải cho mình

BÚP

Cho ai?

Cho mình

MÌNH LÀ CON GÁI

Cho con gái Tiếp cận và tìm hiểu

Trong thuyết sơ đồ giới tính, trước tiên trẻ xác định xem đồ vật, hoạt động hoặc hành vi là nam

tính hay nữ tính rồi sau đó sử dụng thông tin này để quyết định liệu mình có nên tìm hiểu về đồ vật,

hoạt động hoặc hành vi đó nhiều hơn hay không [6, tr.230].

Lấy một ví dụ: Bé trai lứa tuổi mẫu giáo nhìn thấy các bé gái chơi bán hàng sẽ xác định rằng, chơi

bán hàng là trò chơi dành cho con gái, vì mình là con trai, chơi bán hàng không phù hợp. Thấy một

nhóm bé trai lớn tuổi hơn chơi đá bóng, cậu bé xác định rằng, đá bóng là trò chơi dành cho con trai, vì

mình là con trai nên chơi đá bóng phù hợp và cậu tìm hiểu về đá bóng nhiều hơn.

Như vậy, sau khi trẻ hiểu được giới tính, điều này như thể nó nhìn thế giới bằng cặp kính đặc biệt

chỉ gom hoạt động điển hình cho giới tính vào trong tiêu điểm (Liben & Signorella, 1993; Martin,

Eisenbud & Rose, 1995) [6, tr.230].

Các nghiên cứu khác (Martin & Ruble, 1989; Bigle & Liben, 1990) đã rút ra kết luận rằng, bằng

sơ đồ giới tính, con gái ghi nhớ những đồ chơi, đồ vật của mình dễ hơn nhiều so với việc nhớ đồ vật

của con trai, và tương tự như vậy đối với con trai (Bradrard & Endsley, 1984).

Ảnh hưởng của sơ đồ giới tính đến hành vi của trẻ thay đổi theo lứa tuổi. Dưới 4 tuổi, trẻ phụ

thuộc nhiều hơn vào sơ đồ so với trẻ lớn hơn. Trẻ 5 tuổi và trên 5 tuổi không chỉ nhận thức được sơ đồ

giới tính mà còn có khả năng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về vai trò giới. Do vậy, trẻ vận dụng những

tri thức đó vào việc giải thích thế giới xã hội cũng linh hoạt và ít cứng nhắc hơn [4, 8].

Trẻ cũng rất khác nhau ở mức độ xác lập các sơ đồ giới tính (Carter và Levy, 1988). Các nghiên

cứu chỉ ra rằng, trẻ càng có sơ đồ giới tính cao bao nhiêu thì càng nhạy cảm bấy nhiêu đối với khía

cạnh giới tính của hiện thực xung quanh. Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn lưu ý thêm về hiện tượng do

ảnh hưởng của sơ đồ giới tính mà đôi khi trẻ xử lí thông tin một cách méo mó, cốt sao cho phù hợp với

sơ đồ giới tính mà chúng có. Ví dụ, con trai chơi với búp bê sẽ thành con gái chơi với búp bê...

Biết mình là con trai (hay con gái), trẻ 5-6 tuổi đồng thời ý thức được rằng mình phải hành động

giống ba, giống chú (hoặc giống mẹ, giống cô). Như vậy, trẻ không chỉ có khả năng tự nhận dạng giới

tính mà còn biết phải hành động như thế nào cho phù hợp với giới tính của bản thân.

Tóm lại, học thuyết phát triển nhận thức về giới của L. Kohlberg đưa ra các giai đoạn trong sự

hiểu biết về tính bất biến giới tính ở trẻ. Trước 5 tuổi, ở trẻ ít có những hiểu biết về các hoạt động phù

hợp với giới tính. Thuyết sơ đồ giới tính của Martin và Halverson – mặt khác – lại cho rằng khi ở trẻ

nhỏ có cơ sở thông tin về giới tính (như tên gọi hoặc nhận dạng của hai giới) cũng đủ để giúp trẻ bắt

đầu hình thành những qui tắc liên quan đến giới tính.

Kết hợp cả hai nghiên cứu này cho thấy mối liên kết giữa việc lĩnh hội khái niệm về giới và hành

vi biểu hiện ở trẻ tùy thuộc vào cả giai đoạn của sự hình thành nhận dạng giới tính cũng như các dạng

hành vi giới tính.

1.3. VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

1.3.1. Khái niệm vai trò giới và khuôn mẫu về giới

1.3.1.1.Vai trò giới

Từ điển Tâm lí học (2008) định nghĩa: “Vai trò giới là sự phân chia các hoạt động, quy chế,

quyền hạn và nghĩa vụ của các cá nhân phù thuộc vào giới tính của họ”.

Vai trò giới (Sex role) là một dạng vai xã hội. Nó biểu lộ sự mong đợi và yêu cầu nhất định mà

xã hội gửi đến cho con người theo giới tính là nam hay nữ, được thể hiện dưới các dạng hành vi bền

vững, tương ứng với giới tính của các cá nhân. Ở mức độ văn hóa, vai trò giới tồn tại trong một hệ

thống nhất định của biểu tượng giới và trong khuôn mẫu tính nam giới và tính phụ nữ. Sự tiếp nhận và

hoàn thiện của cá nhân về vai trò giới đem lại cho cá nhân tính đồng nhất giới. Với sự đồng nhất này,

sau này hình thành tự ý thức của nhân cách và tất cả các thuộc tính của hành vi [1, tr.983].

Vai trò giới là khái niệm được sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi của con người trong

một ý nghĩa tổng thể. Các vai trò giới cơ bản gồm: vai trò sản xuất (các công việc tạo thu nhập và công

việc sản xuất ra của cải vật chất); tái sản xuất (gồm việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, chăm

sóc người già, người ốm, công việc nội trợ); quan hệ cộng đồng (quan hệ với họ hàng, quan hệ với bạn

bè, quan hệ với các tổ chức, đoàn thể…) [16, 31]. Vai trò giới bị chi phối bởi độ tuổi, giai cấp, chủng

tộc, dân tộc, tín ngưỡng và bởi môi trường địa lý, kinh tế, văn hóa và chính trị (UNDP, 2002). Những

vai trò và trách nhiệm đối với từng giới cũng thường bị quy định bởi cấu trúc hộ gia đình, bởi những

tác động của kinh tế...

Như vậy, vai trò giới gần như có ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của đời sống, nó hình thành

nên mối liên hệ giữa nhận dạng giới tính và sự thể hiện giới. Vai trò giới mang cả yếu tố cá nhân lẫn

văn hóa, nó quyết định phụ nữ và đàn ông ăn mặc, nói năng, ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào trong đời

sống xã hội.

Vai trò giới được chấp nhận từ thời thơ ấu và thường được mang theo cho đến khi trưởng thành.

Trong gia đình, con người có những giả định nhất định về vai trò giới liên quan đến việc đưa ra quyết

định, đến trách nhiệm công việc, tài chính và cách nuôi dạy con cái. Ở nơi làm việc, con người có

những giả định về vai trò giới liên quan đến việc phân công lao động, quyền hạn và cơ cấu tổ chức.

Điều này không nhằm để nói rằng vai trò giới là tốt hay xấu. Đơn thuần nó chỉ tồn tại, nó là thực tế

trong cuộc sống của hầu hết mọi người. Đối với một số người, những vai trò giới truyền thống mang lại

sự an toàn (mọi thứ đã, đang và sẽ là như thế) nhưng đối với những người khác, nó là nguồn gốc gây ra

những hạn chế và thất vọng. Như vậy, vấn đề đặt ra đối với giá trị của vai trò giới phụ thuộc vào các cá

nhân và các nhóm liên quan [3,10,20].

Đặc trưng của vai trò giới thay đổi theo lịch sử. Nội dung cụ thể của vai trò giới trong các xã hội

khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, vào đặc điểm văn hóa và lối sống cụ thể.

Trong xã hội truyền thống, hệ thống vai trò giới thường được phân biệt một cách rõ ràng và nghiêm

khắc, mặc dù nó không hoàn toàn giống nhau trong các nền văn hóa khác nhau. Trong gia đình, người

đàn ông là người quyết định các công việc quan trọng, từ sản xuất, quản lý tài sản đến việc học hành

của con cái. Còn người phụ nữ phải đảm nhận phần lớn các công việc nội trợ, chăm sóc con cái. Trong

xã hội đầu thế kỉ XXI, dải vai trò giới có thể chấp nhận đối với nam giới và nữ giới có sự thay đổi đáng

kể - đàn ông nuôi con và phụ nữ kiếm thu nhập cho gia đình [6, tr.231]. Vì vậy, chúng ta không ngạc

nhiên khi hiện nay trong nhiều gia đình, cha mẹ nuôi dạy con cái theo khuôn mẫu giới tính truyền

thống, nhưng trong một số gia đình khác, đàn ông và phụ nữ cùng làm việc nhà, cùng kiếm tiền và

chăm sóc con.

Vai trò giới được dạy và được củng cố trong suốt cuộc đời cá nhân bởi vô số những0T 0T2Ttác nhân xã

hội0T2T 0T- cha mẹ, thầy cô, bạn bè, phương tiện truyền thông, tôn giáo ... – và không còn nghi ngờ gì nữa,

cha mẹ là những người có ảnh hưởng lớn nhất, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ trong nhận thức của chúng về

vai trò giới.

1.3.1.2. Khuôn mẫu về giới

Vấn đề vai trò giới sẽ là không hoàn chỉnh nếu như không đề cập đến 6Tkhuôn mẫu về giới.

Khuôn mẫu về giới (Sex stereo types) là sự khái quát hóa về vai trò, sự khác biệt và thuộc tính về

giới của những nhóm hay các cá nhân cụ thể. Khuôn mẫu về giới là những đặc điểm phù hợp với giới

này mà không phải với giới kia [8, tr.54].

Đâu là điểm khác biệt giữa vai trò giới và khuôn mẫu giới tính? Mọi người sống theo vai trò giới

mà họ học được từ khi còn nhỏ – những giả định về cái gì được mong đợi và được cho là bình thường

trên phương diện giới nam và giới nữ. Tuy nhiên, khi mọi người tự động áp dụng những giả thuyết về

giới của mình lên người khác, 2Tbất chấp những bằng chứng cho thấy điều ngược lại2T, thì nghĩa là họ

đang tham gia vào việc đưa ra các khuôn mẫu về giới.

Tất cả các nền văn hóa đều có suy nghĩ rập khuôn về giới tính – khuôn mẫu này có thể hoặc

không thể đúng. Chẳng hạn, nhiều người nghĩ rằng, đàn ông là chủ động, duy lý, độc lập, ganh đua và

gây hấn. Đồng thời, quả quyết rằng, phụ nữ là bị động, tình cảm, lệ thuộc, nhạy cảm và nhu mì

(Williams & Best, 1990) [6, tr.225]. Hoặc khuôn mẫu giới của phụ nữ là lấy chồng và sinh con - gia

đình và tổ ấm. Phụ nữ phải đặt những nhu cầu của gia đình lên trước nhu cầu của bản thân; phải biết

thông cảm, chăm sóc, yêu thương, có lòng trắc ẩn, và cũng phải tìm đủ thời gian để làm cho mình trở

nên đẹp đẽ... Khuôn mẫu của nam giới là người cung cấp tài chính. Một người đàn ông phải quyết

đoán, độc lập, có tính tranh đua, tập trung cho công việc, kiểm soát được tình cảm và luôn luôn là

người chủ động trong mọi việc. Anh ta phải 2Tkhông 2Tđược thể hiện nữ tính trong bất kỳ trường hợp nào.

Thêm vào đó, yêu cầu đối với anh ta là phải thành công, mạnh mẽ và luôn luôn tự chủ…[6, tr.15]

Dựa vào khuôn mẫu giới tính, chúng ta nghĩ rằng, nam giới và phụ nữ hành động và suy nghĩ

theo cách riêng, và chúng ta phản ứng đối với hành vi của họ khác nhau, tùy theo giới tính (Bigler,

1995). Chẳng hạn, nếu chúng ta nhìn thấy một đứa trẻ khoảng 1- 1,5 tuổi đang chơi búp bê, rất có thể

chúng ta nghĩ đó là con gái. Ngoài ra, giả định này sẽ khiến chúng ta nghĩ rằng, bé thích các trò chơi

tĩnh… Như vậy, một khi chúng ta giả định đứa trẻ ấy là con gái thì suy nghĩ rập khuôn về giới tính của

chúng ta dẫn đến toàn bộ các suy luận khác về hành vi và nhân cách của trẻ.

Nhưng ai dám khẳng định, con trai không nên khâu vá còn con gái không nên đấu vật, con trai

khi ngã đau không nên khóc còn con gái không nên leo trèo…? Có nên áp đặt các khuôn mẫu truyền

thống về giới tính cho trẻ em? Và liệu các khuôn mẫu về giới có bao giờ liên quan đến những hậu quả

tiêu cực?0T

Theo George D. Zgourides và Christie S. Zgourides (2002), thì các khuôn mẫu giới có thể là

tích cực và cũng có thể là tiêu cực. Chúng có thể dập tắt khả năng sáng tạo và sự thể hiện của cá nhân.

Chúng có thể “cản trở con người trong việc tìm ra chính mình”. Nói tóm lại, các khuôn mẫu về giới có

thể gây ảnh hưởng lên hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – kinh tế, xã hội, tự nhiên và

tâm lí [3, tr.41].

Các nghiên cứu của Best (1977), Etaugh & Liss (1992), Serbin, Powlishta & Gulko (1993),

Levy, Taylo & Gelman (1995) chỉ ra rằng, con người – đặc biệt là trẻ nhỏ – đã học được các khuôn

mẫu truyền thống về giới từ các tác nhân xã hội qua sơ đồ về giới. Trẻ 5 tuổi nghĩ rằng, con trai mạnh

mẽ và áp đảo, trong khi con gái yếu ớt và nhu mì. Đến lứa tuổi học sinh tiểu học, trẻ tìm hiểu nhiều hơn

về khuôn mẫu giới tính và cũng có khả năng linh động hơn khi cho ý kiến về khuôn mẫu giới tính. Trẻ

hiểu rằng, đối với trẻ con sẽ dễ chấp nhận hơn khi đi lệch khỏi khuôn mẫu giới tính – bé gái có thể có

tham vọng trong khi bé trai mang tính nhu mì [6, tr.226].

1.3.2. Gia đình và vấn đề phân công vai trò giới trong gia đình

1.3.2.1. Khái niệm gia đình

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về gia đình.

Trong “Tâm lý học gia đình”, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người

có cùng huyết thống, sống chung trong một nhà và chủ yếu là gồm cha mẹ và con cái”.

Trần Trọng Thủy xem “Gia đình là một tập thể nhỏ, trong đó mọi người quan tâm đến nhau, chú

ý đến những yêu cầu, hứng thú của nhau. Gia đình là trường học đầu tiên, gần gũi đối với trẻ”.

Trong bản tuyên bố về sự tiến bộ xã hội, Liên hợp quốc định nghĩa: “Gia đình là đơn vị cơ bản

của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ

em”.

Từ các quan điểm khác nhau về gia đình, có thể rút ra được các đặc trưng cơ bản của gia đình

như sau [5, tr.7]:

1. Gia đình là một nhóm xã hội, nhất thiết phải có từ hai người trở lên;

2. Trong gia đình phải có các giới tính khác nhau qua quan hệ hôn nhân. Đây là đặc trưng cơ

bản của gia đình (gọi là đặc trưng giới tính);

3. Giữa các thành viên trong gia đình có mối quan hệ gắn bó về đặc điểm tâm sinh lý (di truyền,

nếp sống, phong tục, truyền thống...);

4. Các thành viên trong gia đình có quan hệ kinh tế, sống và hoạt động bằng một ngân sách

chung, do lao động trong gia đình đem lại;

5. Các thành viên sống trong cùng một nhà.

Dựa trên các tiêu chí khác nhau (số thế hệ, số lượng con, thành phần và mối quan hệ qua lại giữa

các thành viên trong gia đình...) người ta phân loại gia đình thành: gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng;

gia đình toàn vẹn/không toàn vẹn, gia đình bình yên/ gia đình không bình yên....

Trong phạm vi của đề tài này, vấn đề xã hội hóa giới tính của trẻ được tập trung nghiên cứu trong

gia đình có cả cha và mẹ.

1.3.2.2. Vấn đề phân công vai trò giới trong gia đình

Sự khác biệt giới dẫn đến sự phân công vai trò giới khác nhau giữa nam và nữ trong gia đình.

“Phân công lao động theo giới” như Mác-Ăngghen đã nhận xét trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình

của chế độ tư hữu và nhà nước” là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Lúc đầu,

đó chỉ là sự phân công vai trò giới trong hành vi tình dục, về sau nó chuyển thành sự phân chia phạm vi

hoạt động theo giới một cách tự nhiên và dẫn đến sự sở hữu có tính đặc trưng theo giới, mỗi giới làm

chủ trong lĩnh vực hoạt động riêng của mình [11, 20, 23].

Phân công vai trò giới là một dạng phân công lao động mà trong đó người lao động được phân

chia công việc dựa trên những giả định về “việc của đàn ông” và “việc của đàn bà”. Trong gia đình,

nó được thể hiện trong sự phân công lao động, trong sự phân chia quyền lực và uy tín giữa vợ và

chồng. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết “Sự phân công lao động

theo giới đầu tiên là phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà trong việc sinh đẻ. Trong vai trò này,

phụ nữ là người đảm nhận chính do cấu trúc sinh học chỉ có phụ nữ mới có thể mang thai, sinh đẻ và

nuôi con. Việc tái sản xuất sinh học là thiên chức của người phụ nữ” [21, tr.25].

Điều đáng chú ý là sự phân công vai trò giới trong gia đình không đơn thuần dựa vào sự khác

biệt về các đặc điểm sinh học giữa nam và nữ mà luôn gắn liền với thói quen, suy nghĩ và quan điểm về

vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Theo Jary D. & Jary J. (1991), hình thức phân công vai

trò giới thường gắn với sự phân biệt giữa lao động gia đình không được trả công và lao động được trả

công, giữa lĩnh vực tư (gắn với phụ nữ) và lĩnh vực công (gắn với nam giới).

Sự phân công vai trò giới giữa vợ và chồng trong gia đình rất đa dạng. Có một số mảng công

việc chính như sau [20, 22, 26]:

Phân công vai trò trong công việc nội trợ

“Công việc nội trợ” là một khái niệm cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thật rõ ràng, vì đó

là “những nhiệm vụ thường lặp đi lặp lại và rất nhiều” nhằm duy trì hoạt động của một hộ gia đình (Từ

điển Harper Collins về Xã hội học).

Theo sự tính toán của các chuyên gia thì người nội trợ phải thực hiện 216 dạng hoạt động khác

nhau từ đính khuy áo đến việc chăm sóc người ốm. Mặc dù được coi là hoạt động thiết yếu để duy trì

sự tồn tại của con người song nó lại không thường được hoặc khó quy đổi thành giá trị kinh tế, vì vậy

những công việc nội trợ trong gia đình cho đến nay vẫn được xem xét là loại hình lao động không được

trả công. Ở nhiều quốc gia trên thế giới vẫn xếp các công việc nội trợ vào lĩnh vực “không hoạt động

kinh tế” và xem đó là công việc dành riêng cho phụ nữ

Trong xã hội hiện đại, chăm lo cho các thành viên trong gia đình đã được coi là một công việc

quan trọng theo đúng nghĩa của nó, trong đó vai trò của người phụ nữ được đặc biệt đề cao.

Phân công vai trò trong việc sửa chữa đồ dùng trong nhà

Phân công vai trò giữa vợ và chồng trong việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình dường như phù

hợp với đặc điểm sinh học của mỗi giới, người chồng thường đảm nhiệm những công việc phức tạp và

nặng nhọc, còn người vợ thường đảm nhiệm những công việc mang tính khéo léo và tỉ mỉ hơn.

Phân công vai trò trong công việc chăm sóc và giáo dục con cái

Gia đình là môi trường quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Ngay từ khi

lọt lòng cho đến hết cuộc đời, con người tìm thấy sự đùm bọc về vật chất, tinh thần trong gia đình. Vì

một lí do nào đó, có lúc điều này đã bị hiểu sai lệch dẫn đến quan niệm cho rằng việc chăm sóc và giáo

dục con cái thuộc về trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình.

Chúng ta hiểu rằng, sự quan tâm, chăm sóc con cái không chỉ là vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ

mà hơn thế nữa đó còn là vấn đề tình cảm, là một niềm hạnh phúc lớn lao của các bậc làm cha, làm mẹ.

Và trẻ sẽ phát triển tốt hơn, học tốt hơn, trưởng thành hơn nếu có sự chỉ bảo thường xuyên của cả cha

và mẹ.

Liệu trong các gia đình hiện nay có sự thay đổi trong phân công vai trò giới giữa vợ và chồng

trong việc chăm sóc, giáo dục con cái?

Phân công vai trò trong các công việc cộng đồng

Công việc cộng đồng là những công việc liên quan đến các hoạt động mang tính tập thể như lễ

tết, thăm hỏi, ma chay, cưới xin, sinh hoạt của dòng họ hay của phường xã… Những công việc này thể

hiện vị thế và trong nhiều trường hợp là quyền lợi của mỗi người trong cộng đồng. Trong các gia đình

truyền thống ở Việt Nam, từ xưa những công việc này vẫn được gọi là “việc họ việc làng” và tuân thủ

nguyên tắc “nam ngoại, nữ nội”, chỉ do nam giới đảm nhận, không phải chỗ cho đàn bà, trẻ nhỏ.

Phân công vai trò trong việc ra quyết định các công việc quan trọng trong gia đình

Hình thức phân công truyền thống thường đề cập đến vai trò giới đặc thù của người đàn ông như

là người sản xuất ra của cải vật chất, là trụ cột gia đình, là người ra các quyết định liên quan các công

việc quan trọng. Nhưng trong điều kiện sống của các gia đình hiện nay, người vợ - người phụ nữ đã

thực sự trở thành người có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đời sống kinh tế. Chính từ

thực tế này mà vị thế kinh tế của người phụ nữ trong các gia đình ngày càng được nâng cao, điều này

được thể hiện rõ trong quyền ra quyết định đối với các công việc kinh doanh, sản xuất và các việc khác

liên quan đến những khoản chi tiêu có ảnh hưởng đáng kể đến đời sống kinh tế của các gia đình.

Trong đề tài này, với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ

đến nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi, người nghiên cứu không đề cập đến quyền ra quyết định các

công việc quan trọng trong gia đình khi đàm thoại với trẻ vì cho rằng vấn đề này không phù hợp với

nhận thức của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.

1.3.3. Sự phân công vai trò giới của cha mẹ trong gia đình như một yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Chúng ta biết rằng, bé trai và bé gái không tự trưởng thành với các phẩm chất của đàn ông hay

của phụ nữ. Các phẩm chất giới tính không phải “vốn có” hoặc tự nhiên sinh ra. Chúng có được nhờ

quá trình giáo dục có định hướng và phải được bắt đầu từ khi trẻ còn rất nhỏ, ngay từ lứa tuổi mẫu

giáo.

Đối với mỗi người, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên, trong đó cha mẹ là những người

có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển nhân cách của con cái. Nói cách khác, 1Txã hội hóa1T 5Tgiới

tính5T 1Tluôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của1T 5Tgia đình1T5T. 1TCha mẹ cho con cái chất liệu di

truyền định hình cấu trúc giới tính nhưng không dừng lại ở đó. 5TGia đình5T 1Tlà nơi đầu tiên truyền cho

những thành viên mới sinh ra của xã hội những ý niệm về1T 5Tgiống phái1T5T, 1T 5Tgiới tính1T5T. 1TNhư là một người đàn

ông và như là một người phụ nữ, cha và mẹ – trong toàn thể lối sống của mình – trở thành khuôn mẫu

giới tính cho con trẻ định hình nhân cách trong cả quá trình dài xây dựng nhận dạng giới tính của

chúng. Trong sự kết hợp hòa điệu giữa cha và mẹ, gia đình trở thành một sân khấu nhỏ, trong đó mỗi

người học sống vai trò giới của mình. 1TTrong lĩnh vực này, phần lớn những gì chúng ta xem là bẩm sinh

ở bản thân thực ra đều là sản phẩm của1T 5Tvăn hóa1T5T, kết hợp vào nhân cách của chúng ta thông qua việc xã

1T

hội hóa.

Chính tại1T 5Tgia đình1T5T, trong hầu hết các nền văn hóa, trẻ nhỏ được dạy rằng, con gái cần phải dịu

dàng, con trai cần phải mạnh mẽ, dũng cảm... Và c1Tách cư xử giữa bố và mẹ là bài học sớm nhất đối với

trẻ về cách ứng xử giới tính giữa một người nam và một người nữ. Trẻ sẽ tiếp thu dần dần những kiến

thức giới tính từ chính gia đình mình. Từ đó, dần theo năm tháng, ở trẻ hình thành những hành vi, thái

độ mang tính chất giới nam hay nữ được mọi người và xã hội chấp nhận [21, 22, 25].

Nghiên cứu của Walter Mischel (1970) cho rằng, người lớn – mà trước hết là cha mẹ – trực tiếp

định hình hành vi của trẻ hướng đến vai trò đi kèm với giới tính. Con trai được thưởng vì có hành vi

kiểu con trai và bị phạt khi có hành vi kiểu con gái [29, 25]. Về mặt truyền thống, người cha chỉ cho

con trai cách xây dựng và sửa chữa đồ đạc, trong khi các bà mẹ dạy con gái dọn nhà, thổi cơm, khâu

vá... Điều này đi suốt thời thơ ấu và niên thiếu của trẻ nhỏ. Theo cách này, trẻ em nhận được sự tán

đồng của cha mẹ bằng cách tuân theo những kỳ vọng về giới và chấp nhận những vai trò giới như tập

quán và văn hóa. Tất cả những điều này tiếp tục được củng cố bởi các tác nhân xã hội khác như thầy

cô, bạn bè và các phương tiện truyền thông đại chúng.

Trong chức năng đồng nhất hóa (Identitative), cha mẹ với tư cách là người đại diện cho giới

nam và giới nữ, qua các công việc hàng ngày trong vai trò giới của mình mang lại cho những đứa con –

cả hai giới – hình ảnh đầu tiên của người đàn ông và người phụ nữ. Con gái có nhu cầu được cha yêu

thương để đồng nhất mình với người phụ nữ, còn con trai có nhu cầu về hình ảnh nam nhi của người

cha để đồng nhất mình với một người đàn ông [6, 21].

Điều thú vị qua các nghiên cứu ở chỗ, việc giới tính hóa của bé gái không liên quan gì đến nữ

tính của người mẹ. Không phải người mẹ có nữ tính cao thì con gái cũng có nó. Chính ở đây, người bố

đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con gái nhận dạng và phát triển giới tính thông qua việc thừa

nhận người mẹ như một khuôn mẫu giới tính cần học tập và bắt buộc con gái tham gia vào các hoạt

động nữ tính đó. Đặc điểm nam tính của người cha cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc giới tính

hóa ở bé gái (Hetherington, 1967) [4, 8].

Theo Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura (1977, 1986) và Walter Mischel (1970), trẻ em

tập quen vai trò giới tính giống hệt như cách tập quen các hành vi xã hội khác, bằng củng cố và tập

quen quan sát. Cha mẹ và những người khác định hình vai trò giới tính thích hợp ở trẻ em và trẻ em tập

quen những gì mà nền văn hóa của mình cho đó là thích hợp đối với nam và nữ bằng cách quan sát

người lớn và các bạn đồng tuổi hành động ra sao [6, tr.228].

Walter Mischel cho rằng, vai trò giới nam/giới nữ hình thành và phát triển ở mỗi cá nhân là do cá

nhân đó học tập, tức là lĩnh hội và làm theo những hành vi của cha mẹ, anh chị em hay những người

trong/ngoài gia đình. Quá trình học tập có thể diễn ra một cách vô thức, tự phát khi đứa trẻ tự động bắt

chước hành vi của người cùng giới [27, 29].

Trẻ dễ bắt chước những người có ảnh hưởng lớn đối với trẻ, những ai đáp ứng được nhu cầu yêu

thương mà trẻ cần đến, những ai gần gũi và yêu thương trẻ. Những người quan trọng đầu tiên đối với

trẻ, đó chính là cha mẹ. Những người quan trọng đầu tiên đó, dần dần trở thành hình mẫu của trẻ, là

niềm tin mãnh liệt đối với trẻ.

Lúc đầu trẻ bắt chước một cách tự nhiên. Sau đó, trẻ sẽ cảm nhận trong tình huống nào thì người

ta làm những hành vi đó, và cách thực hiện như thế nào. Trẻ nối kết được hành vi và tình huống. Từ

sau 2 tuổi, trẻ bắt chước có chọn lọc và mất dần kiểu bắt chước máy móc. Lớn hơn một chút, trẻ sẽ nối

kết được hành vi với tình huống và hậu quả của hành vi đó ra sao – trẻ sẽ được gì và bị gì khi thực hiện

hay không thực hiện hành vi đó. Khi đi học, trẻ được cung cấp thông tin: khi nào thì sử dụng hành vi

nào; trẻ học cách chọn lọc hành vi dựa trên thái độ, nền tảng, niềm tin mà trẻ có được trong gia đình [4,

8].

Câu hỏi được đặt ra là: Những khuôn mẫu về vai trò giới mà trẻ có được từ trong gia đình có đủ

mạnh để ảnh hưởng đến trẻ trong sự chọn lựa của mình không?

Nếu khuôn mẫu giới trong gia đình không đủ mạnh, cha mẹ thường xuyên mâu thuẫn với nhau,

trẻ sẽ không biết theo ai, không biết chọn bên nào. Nếu cha mẹ tạo ra hình mẫu không đủ vững cho con

cái, trẻ sẽ tìm hình mẫu ở người khác, ở môi trường xung quanh mà trẻ đang sống.

Trong gia đình, mỗi người cha, người mẹ đều mang những định hướng giá trị của giới mình và

là khuôn mẫu để trẻ noi theo. Các bé trai hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của đàn ông (của cha,

của anh), còn các bé gái – bắt chước những hành vi của phụ nữ (của mẹ, của chị).

Trong cuộc sống gia đình, nếu thiếu người cha vì một lí do nào đó, hoặc người cha thiếu trách

nhiệm trong việc giáo dục con cái đều dẫn đến sự lệch lạc của con cái sau này trong các mối quan hệ

với những người khác giới. Nghiên cứu của Hetherington (1989) đã nhấn mạnh vai trò thiết yếu của

người cha trong việc giới tính hóa con cái. Việc vắng mặt một hình mẫu nam giới hoặc thiếu cơ hội tiếp

xúc với cha có thể gây khó khăn cho quá trình giới tính hóa của con, đặc biệt là đối với trẻ dưới 5 tuổi

[8, tr.33].

Như vậy, một gia đình có sự yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa cha và mẹ sẽ là tấm

gương, là nhân tố giáo dục đắc lực tác động đến trẻ, giúp trẻ phát triển những đặc điểm giới tính phù

hợp. Qua khuôn mẫu giới của cha và mẹ mà con trẻ tiếp nhận mô hình văn hóa giới tính để hình thành

nên nhân cách, giới tính của mình.

Theo quan điểm của tâm lí học hoạt động, chính đứa trẻ mẫu giáo cũng là chủ thể tích cực trong

quá trình phát triển nhân cách của mình. Đ.B.Enconhin cho rằng, xu hướng muốn trở thành người lớn

được thể hiện rất rõ trong cuộc sống của tất cả trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Nhưng nhu cầu này không thể

thực hiện được trong hoàn cảnh hiện tại vì có sự khác biệt giữa mức độ phát triển thực (trẻ em) và hình

thức lí tưởng mà trẻ muốn trở thành (người lớn). Vì vậy, trò chơi đóng vai là hoạt động duy nhất cho

phép trẻ va chạm với các khía cạnh của cuộc sống người lớn mà trẻ chưa có khả năng bước vào. Đối

tượng của trò chơi đóng vai chính là người lớn – người mang các vai trò, chức năng xã hội nhất định

trong các hoạt động thực tiễn của mình, người tham gia vào các mối quan hệ xã hội với người khác và

tuân theo các luật lệ nhất định trong xã hội.

Chính vì vậy, trẻ mẫu giáo quan sát người lớn, “lĩnh hội” người lớn và lấy người lớn làm khuôn

mẫu để “chơi mà học”. Trẻ học người lớn để “làm người lớn”, để “trở thành” chồng, thành vợ, thành

bác sĩ, giáo viên trong trò chơi đóng vai của mình. Đây chính là cơ chế lĩnh hội quan hệ giữa người

với người trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo. Khuôn mẫu giới của đàn ông và phụ nữ trước hết

trẻ học được trong gia đình - từ cha mẹ. Nếu nội dung cơ bản trong trò chơi đóng vai của trẻ từ 3-4 tuổi

đơn thuần là mô phỏng lại các hoạt động của người lớn, thì đến 5-6 tuổi trẻ đã quan tâm nhiều đến các

mối quan hệ qua lại giữa người với người trong xã hội. Sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong

gia đình cũng vì vậy mà được phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc trong nhận thức và hành vi giới

tính của trẻ.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua kết quả tổng thuật và phân tích cơ sở lí luận của đề tài, người nghiên cứu nhận thấy:

Thứ nhất, việc nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam là một lĩnh vực khoa

học còn khá trẻ. Trong tâm lí học, vấn đề nhận dạng giới tính ở trẻ em chưa được nghiên cứu nhiều.

Thứ hai, trong tiến trình phát triển cá thể, từ 3 tuổi ở trẻ xuất hiện sự tự ý thức về bản thân như

một chủ thể độc lập. Việc khám phá ra “cái Tôi” gắn liền với sự tự nhận thức về giới tính của bản thân

là dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách. Các thành tố quan trọng của nhận dạng giới

tính là việc nhận biết giới và vai trò giới.

Thứ ba, trong lứa tuổi mẫu giáo, sự nhận dạng giới tính phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ 5 tuổi

trở đi. Theo các nghiên cứu lí luận, kết quả của sự tự nhận thức về giới tính của lứa tuổi mẫu giáo lớn

này là sự hình thành ở trẻ:

a) Các tiêu chí về đặc tính giới (“nam tính” và “nữ tính”). Trên cơ sở này, trẻ bắt đầu biết đánh

giá bản thân như đại diện của một giới;

b) Hệ thống những biểu tượng về bản thân như đại diện của một giới (ngoại hình, các phẩm

chất nhân cách và hành vi giới tính);

c) Hệ thống các chuẩn mực, qui tắc thuộc vai trò giới mà trẻ phải thực hiện để được công nhận

là con trai hoặc con gái.

Thứ tư, gia đình là môi trường xã hội hóa giới tính đầu tiên của trẻ. Trẻ rất cần một gia đình

toàn vẹn có đầy đủ khuôn mẫu giới của đàn ông và phụ nữ để định hướng và phát triển tự nhận thức

giới tính.

Trong gia đình, sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ rất đa dạng và nó có ảnh hưởng quan

trọng đến quá trình hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ.

CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

2.1. Tổ chức nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn của đề tài, dựa trên kết quả tổng hợp và phân tích lí luận, người nghiên cứu xây dựng các bảng hỏi cho trẻ 5-6 tuổi và phiếu khảo sát cho phụ huynh của trẻ.

2.1.1. Mục đích nghiên cứu

- Khảo sát ở trẻ 5-6 tuổi nhận dạng giới tính và nhận dạng vai trò giới trong gia đình, phân tích sự

hiểu biết của trẻ về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình.

- Khảo sát cha mẹ trẻ về việc phân công vai trò giới trong gia đình, phân tích ảnh hưởng của nó đến

nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi.

2.1.2. Địa bàn và khách thể nghiên cứu

Khảo sát được tiến hành ở 4 trường Mầm non tại TP.HCM:

− Trường Mầm non Thực hành của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM;

− Trường Mầm non Măng non 3, P.2, Q.10, TP.HCM;

− Trường Mầm non Ước mơ, P.Tân phong, Q.7, TP.HCM;

− Trường Mầm non dân lập Hoa Hồng Đỏ, P. Phước Long B, Q.9, TP.HCM.

Người nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 60 trẻ 5-6 tuổi, cân đối số lượng bé trai và bé gái. Đồng thời,

người nghiên cứu phát phiếu điều tra cho cha mẹ của 60 trẻ.

2.1.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1.3.1. Khảo sát sự nhận dạng giới tính của trẻ 5-6 tuổi bằng phương pháp đàm thoại (xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 1).

Bảng hỏi giúp người nghiên cứu tìm hiểu ở trẻ các vấn đề sau:

- Sự xác định giới tính của bản thân (trẻ có biết mình là con trai/con gái?);

- Mức độ hiểu tính ổn định của giới tính (trẻ có biết: con trai lớn lên được gọi là

Chú/Chồng/Bố; con gái được gọi là Cô/Vợ/Mẹ?);

- Ý thích về giới tính của bản thân (trẻ mong muốn trở thành người thuộc giới nào?);

- Sự xác định tính bất biến của giới tính (trẻ có biết: giới tính là không thay đổi?);

Ngoài ra, để kiểm chứng mức độ nhận dạng giới tính của trẻ trong mẫu khảo sát, người nghiên

cứu tiến hành phỏng vấn sâu đối với trẻ về:

- Các dấu hiệu được trẻ đưa ra để giải thích cho việc xác định bản thân là con trai/con gái

(tại sao trẻ biết mình là con trai/con gái?);

- Mức độ hiểu tính bất biến của giới tính (trẻ có biết: giới tính không thay đổi khi thay đổi

bề ngoài như kiểu tóc, trang phục...?);

- Những điểm khác biệt giữa con trai/con gái.

Nội dung đàm thoại với từng trẻ được ghi lại trong Bảng tổng hợp khảo sát nhận dạng giới tính

của trẻ 5-6 tuổi (Xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 2).

2.1.3.2. Khảo sát sự hiểu biết của trẻ 5-6 tuổi về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới

trong gia đình bằng phương pháp đàm thoại (xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 3: 3a) Hình vẽ; 3b) Bảng

hỏi – Khảo sát nhận dạng vai trò giới trong gia đình ở trẻ 5-6 tuổi).

Để thực hiện nội dung nghiên cứu này người nghiên cứu sử dụng 18 hình vẽ diễn tả người đang

thực hiện các công việc khác nhau như: công việc trong sinh hoạt (nấu ăn, giặt quần áo, sửa vòi nước,

đóng bàn ghế...); hoạt động với con cái (cho con ăn, chơi với con, dạy con học...).

Nhằm giúp trẻ không bị chi phối khi trả lời các câu hỏi về vai trò giữa nam giới và nữ giới,

người nghiên cứu sử dụng hình vẽ người trung tính, không thể hiện đặc điểm giới tính cụ thể.

Khảo sát được thực hiện với từng trẻ. Người nghiên cứu lần lượt cho trẻ xem hình vẽ và đặt câu

hỏi để làm sáng tỏ các vấn đề cụ thể xoay quanh nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tên công việc (Người này đang làm gì?)

- Vai trò giới đối với từng công việc (Theo cháu, ai thường hay làm việc này? Lựa chọn:

Đàn ông/Phụ nữ/Cả hai)

- Sự phân công vai trò giới trong gia đình trẻ (Trong gia đình cháu, ai thường làm việc

này? Lựa chọn: Ba/Mẹ/Cả hai)

- Sự lựa chọn vai trò giới của trẻ trong tương lai đối với từng công việc (Khi nào lớn lên,

cháu có làm việc này không? Lựa chọn: Có/Không/Không biết)

- Lí do trẻ lựa chọn vai trò giới trong tương lai đối với từng công việc (Tại sao cháu sẽ

làm/không làm việc này?

Kết quả đàm thoại với trẻ được ghi lại trong Bảng tổng hợp khảo sát nhận dạng vai trò giới của

trẻ 5-6 tuổi (Xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 4).

Việc thu thập và phân tích số liệu thực tế theo các nội dung nghiên cứu trên giúp người nghiên

cứu kiểm chứng giả thuyết đầu tiên của đề tài: Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về

nhận dạng giới tính.

2.1.3.3. Khảo sát cha mẹ trẻ về sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình bằng phương pháp điều tra (Xem Phụ lục: Khảo sát cha mẹ).

Phiếu khảo sát gồm 12 câu hỏi nhằm tìm hiểu sự phân công vai trò giữa cha và mẹ trẻ trong một

số hoạt động thiết yếu của gia đình.

Với mục đích đối chiếu các câu trả lời của cha mẹ với câu trả lời của trẻ để tìm hiểu ảnh hưởng

của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến nhận dạng giới tính của trẻ - đặc biệt

là nhận dạng về vai trò giới - bảng hỏi được thiết kế tập trung vào các vấn đề liên quan đến sự phân

công vai trò giới trong công việc nội trợ, việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình, việc chăm sóc, giáo dục

con cái và trong các công việc cộng đồng.

Cha mẹ trẻ có 4 sự lựa chọn với mỗi câu hỏi: Chồng/Vợ/Cả hai/hoặc Người khác.

Việc kết hợp phân tích số liệu nghiên cứu qua phiếu khảo sát cha mẹ và kết quả đàm thoại với

trẻ giúp người nghiên cứu đánh giá tổng thể vấn đề nghiên cứu, là căn cứ để kiểm chứng giả thuyết thứ

hai của đề tài: Sự phân công vai trò giới trong gia đình trọn vẹn có ảnh hưởng tích cực đến nhận dạng

giới tính ở bé trai và bé gái 5-6 tuổi.

2.1.5. Cách xử lý số liệu

Số liệu thống kê từ các bảng hỏi và phiếu khảo sát được xử lí bằng chương trình SPSS 11.5 sẽ

đưa ra những thông tin đặc trưng nhất về các nội dung nghiên cứu qua hệ thống những chỉ báo, các số

liệu định lượng về tần suất, tỉ lệ phần trăm, thứ hạng, trung bình cộng, tương quan giới tính, tương quan

giữa trả lời của cha mẹ và trả lời của trẻ.

Căn cứ trên cơ sở kết quả khảo sát để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài và có kết luận, đề

xuất phù hợp.

2.2. Kết quả nghiên cứu

2.2.1. Kết quả khảo sát sự nhận dạng giới tính ở mẫu nghiên cứu

2.2.1.1. Sự xác định giới tính của bản thân

Qua quá trình đàm thoại với 60 trẻ, người nghiên cứu nhận được kết quả như sau:

Ở câu hỏi “Cháu là con trai hay con gái?”: 100% trẻ, không phân biệt trai/gái đều xác định

đúng giới tính của mình.

100% trẻ thích giới tính của mình, không muốn trở thành người giới khác khi được hỏi “Cháu

muốn trở thành con trai hay con gái?”.

2.2.1.2. Mức độ hiểu tính ổn định của giới tính

Với hai câu hỏi :“Khi nào lớn, cháu sẽ trở thành: A) Chú hay cô? B) Chồng hay vợ? C) Bố hay

mẹ?” và “Cháu thích trở thành: A) Chú hay cô? B) Chồng hay vợ? C) Bố hay mẹ?” kết quả thu được

lần lượt là:

100% trẻ xác định tên gọi giới tính ở các vai trò khác nhau trong tương lai phù hợp với giới tính

hiện tại của trẻ.

100% trẻ thể hiện ý thích về giới tính của mình ở các vai trò khác nhau trong tương lai phù hợp

với giới tính hiện tại của trẻ.

2.2.1.3. Các dấu hiệu trẻ đưa ra để giải thích cho việc xác định giới tính của bản thân rất phong

phú, được người nghiên cứu thống kê theo tần số và tỉ lệ trên số câu trả lời. Có thể xếp theo thứ tự

giảm dần như sau:

Thống kê trẻ- Bảng 2.1

Tại sao cháu biết mình là trai hay gái?

Dấu hiệu Tần số Phần trăm Thứ hạng

Dấu hiệu bên ngoài 37 61.7 1

Ba Mẹ nói 12 20 2

Tự cháu biết 5 8.3 3

Đồ chơi khác nhau 3 5 4

Không biết 3 5 4

Tổng 60 100

Bảng thống kê 1 cho thấy, trong số các dấu hiệu trẻ đưa ra:

- Chiếm tỉ lệ cao nhất là các dấu hiệu bên ngoài như tóc, quần áo (61.7%). Các câu trả lời của trẻ

được người nghiên cứu đưa vào nhóm này có thể là câu trả lời với một hoặc cả hai dấu hiệu

cùng lúc.

- Trẻ biết giới tính của bản thân “Do Ba Mẹ nói” chiếm một lỉ lệ khá cao (20%).

- Dựa trên dấu hiệu “Đồ chơi khác nhau” và số trẻ không giải thích được cùng chiếm tỉ lệ không

đáng kể (5%).

So sánh sự khác biệt giới tính giữa câu trả lời của bé trai và bé gái trong mẫu khảo sát khi đưa

ra các dấu hiệu để giải thích cho việc xác định giới tính của bản thân (Xem Phụ lục: Thống kê trẻ - Phụ

lục - Bảng 1) cho thấy, tần số các lý do là khác nhau nhưng phân tích tần số theo trẻ trai và gái thì tỉ lệ

phần trăm là xấp xỉ nhau trong mỗi lý do. Kết quả kiểm nghiệm Chi-Square cho biết không có sự khác

biệt ý nghĩa giữa các tỉ lệ này (Trung bình = 13.112, độ lệch chuẩn = 7 và xác suất > 5%).

2.2.1.4. Mức độ hiểu tính bất biến của giới tính

Khi được hỏi: “Có khi nào cháu nghĩ rằng, buổi tối cháu đi ngủ là con trai/con gái và sáng mai

khi thức dậy lại trở thành con gái/con trai không?”: 100% trẻ khẳng định là KHÔNG

Nhưng sau khi hỏi trẻ một số nội dung khác, người nghiên cứu trở lại vấn đề này để kiểm chứng

mức độ hiểu tính bất biến của giới tính trên mẫu khảo sát với cách hỏi khác: “Nếu cho cháu mặc quần

áo hoặc để tóc kiểu con trai/con gái thì cháu có trở thành con trai/con gái không? người nghiên cứu có

kết quả: 37 trẻ (chiếm tỉ lệ 61,7%) trả lời là CÓ.

Thống kê trẻ- Bảng 2.2

Có thành giới khác khi thay đổi bề ngoài?

Trả lời của trẻ Tần số Phần trăm

Không 23 38.3

Có 37 61.7

Tổng 60 100.0

Đây là kết quả khảo sát mà người nghiên cứu thấy cần quan tâm khi nghiên cứu trên trẻ Việt

Nam. Vì theo cơ sở lí luận như đã trình bày ở chương 1, sau 5 tuổi – ở giai đoạn củng cố nhận thức về

tính bất biến của giới tính, trẻ đã hiểu được rằng giới tính của mình là không thay đổi trong các tình

huống và do ý muốn cá nhân.

Như vậy, nếu so sánh kết quả từ bảng 3 với nghiên cứu về nhận thức giới tính của L. Kohlberg

thì mức độ hiểu tính bất biến giới tính của 61,7% mẫu khảo sát trong đề tài nghiên cứu chỉ ở giai đoạn

đầu vì còn mang tính thiếu bền vững, chưa đầy đủ khi cho rằng, sự thay đổi bề ngoài (kiểu đầu tóc,

quần áo ...) có thể làm thay đổi giới tính của bản thân.

So sánh sự khác biệt giữa câu trả lời của bé trai và bé gái về mức độ hiểu tính bất biến của

giới tính:

Thống kê trẻ - Bảng 2.3

Có thành giới khác khi thay đổi bề ngoài?

So sánh theo giới tính của trẻ Tổng

Trả lời Nam Nữ Nam Nữ

Tần số Phần trăm Tần số Phần trăm Tần số Phần trăm

Không 9 31 14 45.2 23 38.3

Có 20 69 17 54.8 37 61.7

Theo số liệu thống kê, có đến 61.7% trẻ trả lời là CÓ THỂ thay đổi giới tính khi thay đổi bề

ngoài. Phân tích theo câu trả lời CÓ của trẻ trai và trẻ gái thấy các tỉ lệ theo Nam là 69%, theo Nữ chỉ

có 54.8%, nhưng kiểm nghiệm Chi-Square (Xem Phụ lục: Thống kê trẻ - Phụ lục - Bảng 2) cho thấy, sự

chênh lệch này chưa đủ kết luận sự khác biệt ý nghĩa thống kê (Trung bình = 1.265, độ lệch chuẩn = 1,

xác suất > 5%).

2.2.1.5.Sự nhận biết những điểm khác biệt giữa con trai/con gái ở mẫu khảo sát

Với câu hỏi “Theo cháu, con trai và con gái khác nhau ở những điểm nào?” chúng tôi có biểu

đồ tổng hợp kết quả câu trả lời của trẻ về các dấu hiệu khác biệt theo tần số, tỉ lệ như sau (Xem Phụ

lục: Thống kê trẻ - Bảng 5):

Biểu đồ 2.4 – Dấu hiệu khác biệt giữa nam và nữ

Tỉ lệ, Trò chơi/đồ Tỉ lệ, Tính cách chơi khác nhau, khác nhau, 3.3, 8.3, 8% 3%

Tỉ lệ, Bộ phận sinh Tỉ lệ dục khác nhau, 1.7, 2%

Bề ngoài (tóc, quần áo…) khác nhau

Trò chơi/đồ chơi khác nhau

Tính cách khác nhau

Tỉ lệ, Bề ngoài (tóc, quần áo…) khác nhau, 86.7, 87%

Bộ phận sinh dục khác nhau

Số liệu trên biểu đồ cho thấy, đại đa số trẻ trong mẫu khảo sát phân biệt nam /nữ chủ yếu theo

dấu hiệu bề ngoài (tóc, quần áo, ..), có đến 86,7% số trẻ đưa ra các dấu hiệu thuộc nhóm này.

So sánh sự khác biệt giới tính của mẫu khảo sát khi đưa ra các dấu hiệu khác biệt giữa con

trai/con gái, chúng tôi có bảng tổng hợp:

Thống kê trẻ - Bảng 2.5

So sánh theo giới tính của trẻ Tổng

Nam Nữ Nam Nữ Trả lời

Tần số Tần số Tần số Phần trăm Phần trăm Phần trăm

Bề ngoài khác nhau 26 89.7% 26 83.9% 52 86.7%

3.4% 12.9% 4 5 8.3% Trò chơi/đồ chơi khác 1

3.4% 3.2% 1 2 3.3% Tính cách khác nhau 1

3.4% .0% 0 1 1.7% Bộ phận sinh dục khác 1

Dùng kiểm nghiệm Chi-Square để so sánh (Xem Phụ lục: Thống kê trẻ - Bảng 6) thấy không có

sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa trả lời của bé trai và bé gái khi đưa ra các dấu hiệu phân biệt nam/

nữ (Trung bình = 2.736, độ lệch chuẩn = 3, xác suất > 5%).

Từ kết quả khảo sát về nhận dạng giới tính ở mẫu nghiên cứu, người nghiên cứu có nhận xét:

− 100% trẻ trong mẫu khảo sát không gặp khó khăn khi xác định giới tính của bản thân. Cả bé trai

và bé gái đều nhận thức được tính ổn định của giới tính, không có sự nhầm lẫn trong việc gọi tên

giới tính nam hoặc nữ ở các vai trò khác nhau (ví dụ: Con trai/Chú/Chồng/Bố).

− Ở 100% trẻ khảo sát có sự đồng nhất trong việc xác định giới tính của bản thân ở hiện tại và

trong tương lai. 100% trẻ thích giới tính hiện tại của mình và không có trẻ nào muốn trở thành

người thuộc giới khác.

− Những dấu hiệu trẻ đưa ra để giải thích cho việc xác định giới tính của bản thân và phân biệt

giới tính tương đối phong phú. Trong đó, các dấu hiệu bên ngoài như kiểu tóc (con trai cắt tóc

ngắn, con gái cột tóc/tóc dài); trang phục (con trai hay mặc quần sooc, con gái mặc đầm, đeo

bông tai ...) được đưa ra với tỉ lệ cao nhất (86,7%). Các dấu hiệu khác biệt giới tính qua trò

chơi/đồ chơi (con trai chơi siêu nhân, đuổi bắt, con gái chơi búp bê, bán hàng..); đặc điểm thể

lực (con trai cao và khỏe hơn, con gái yếu hơn); tính cách, hành vi (con gái hiền; con trai hay

nghịch, chọc phá con gái; con trai hay giúp đỡ con gái...) cũng được đề cập, nhưng chiếm tỉ lệ

thấp. Chỉ có một trẻ trong số 60 trẻ được hỏi (1,7%) phân biệt nam/nữ qua dấu hiệu sinh học (trẻ

nói: “Con trai và con gái khác nhau ở chỗ này” và chỉ vào bộ phận sinh dục). Cần lưu ý rằng,

không có trẻ nào phân biệt giới tính dựa trên dấu hiệu về vai trò giới. Tuy nhiên, kết quả nghiên

cứu thực tiễn cho thấy, mức độ hiểu tính bất biến của giới tính ở trẻ chưa bền vững. Hơn 60%

mẫu khảo sát còn cho rằng, giới tính có thể thay đổi khi thay đổi bề ngoài. Chúng tôi cho rằng,

để kiểm chứng vấn đề này cần nghiên cứu sâu và trên mẫu lớn hơn để có kết luận chính xác.

− Kết quả so sánh theo giới tính cho thấy, không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê trong các câu trả

lời giữa trẻ trai và trẻ gái khi giải thích về việc xác định bản thân là con trai/con gái, về mức độ

hiểu tính bất biến của giới tính và về các dấu hiệu phân biệt nam/nữ.

2.2.2. Kết quả khảo sát sự hiểu biết về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình ở mẫu nghiên cứu

2.2.2.1. Khi lần lượt cho trẻ xem 18 tranh vẽ và đặt câu hỏi “Theo cháu, người này đang làm

gì?” kết quả đàm thoại thu được là: 100% số trẻ gọi đúng tên công việc mà người trong tranh đang làm

(Xem Phụ lục – 3a. Tranh vẽ).

Để tìm hiểu sự hiểu biết của trẻ về vai trò giới đối với từng công việc (theo Bảng khảo sát 3b),

sự phân công vai trò giới trong gia đình trẻ và sự lựa chọn vai trò giới của trẻ trong tương lai đối với

từng công việc, người nghiên cứu cho trẻ xem tranh và lần lượt hỏi trẻ:

Câu hỏi 1: Theo cháu, ai thường hay làm công việc này?

Câu hỏi 2: Trong gia đình cháu, ai thường hay làm việc này?

Câu hỏi 3: Lớn lên cháu có làm việc này không?

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát cho biết tần số và tỉ lệ phần trăm các câu trả lời của trẻ:

Thống kê trẻ – Bảng 2.6

CÁC LỰA CHỌN Câu hỏi 1

Đàn ông Phụ nữ Cả hai Tranh vẽ Tỉ lệ % bé trả lời CÓ trong Câu hỏi 3

Tần số Tần số Tần số Tần số Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ

1.7 88.3 5 10.0 6 61.7 37 1.Nấu ăn 1

1.7 85.0 5 11.7 7 58.3 35 2. Rửa chén bát 1

1.7 66.7 40 31.7 19 70 42 3. Giặt quần áo 1

10 53.3 32 36.7 22 78.3 47 4. Lau nhà 6

1.7 80.0 48 18.3 11 65 39 5. Ủi quần áo 1

96.7 1.7 1 1.7 1 46.7 28 6.Sửa vòi nước 58

100 0 0 0 0 43.3 26 7. Đóng bàn ghế 60

90.0 1.7 1 8.3 5 43.3 26 8. Sơn tường/ quét vôi 54

1.7 91.7 55 5.0 3 33.3 20 9. May vá 1

3.3 63.3 38 33.3 20 78.3 47 10. Đi chợ 2

16.7 28.3 17 55.0 33 91.7 55 11. Cúng tổ tiên 10

46.7 3.3 2 50.0 30 93.3 56 12. Đi làm/ công tác 28

3.3 1.7 1 95.0 57 93.3 56 13. Thăm ông bà 2

1.7 46 76.7 21.7 13 66.7 40 CM1. Cho con ăn 1

CM2. Chơi với con 10 16.7 10 16.7 40 66.7 59 98.3

CM3. Chăm sóc con 1 1.7 39 65.0 20 33.3 43 71.7

CM4. Dạy con học bài 4 6.7 25 41.7 31 51.7 57 95

CM5. Chở con đi học 10 16.7 12 20.0 38 63.3 57 95

Kết quả thống kê được thể hiện trên biểu đồ lần lượt theo các nhóm như sau:

2.2.2.2. Biều đồ 2.7 – Nhận dạng vai trò giới ở trẻ 5-6 tuổi thể hiện các công việc phụ nữ

Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %), Nấu

Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %), May ăn, 88.3

vá, 91.7

Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %),

thường làm:

Việc phụ nữ Việc phụ nữ Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %) thường làm thường làm (Tỉ lệ %), Ủi (Tỉ lệ %), Rửa quần áo, chén bát, 85 80

Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %), Cho con ăn, 76.7

Chăm sóc

Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %), Giặt quần áo, 66.7

con , 65

Việc phụ nữ thường làm (Tỉ lệ %), Đi chợ, 63.3

Biều đồ 2.8 – Nhận dạng vai trò giới ở trẻ 5-6 tuổi thể hiện các công việc đàn ông thường làm:

Việc đàn ông thường làm (Tỉ lệ %)

Việc đàn ông thường làm (Tỉ lệ %), Đóng bàn ghế, 100

Việc đàn ông thường làm (Tỉ lệ %), Sửa vòi nước, 96.7

Việc đàn ông thường làm (Tỉ lệ %), Sơn tường, 90

Biều đồ 2.9 – Nhận dạng vai trò giới ở trẻ 5-6 tuổi thể hiện các công việc trẻ cho rằng cả đàn

ông và phụ nữ thường làm:

Việc cả hai thường làm (Tỉ lệ %)

Việc cả hai thường làm

Việc cả hai thường làm (Tỉ lệ %), Thăm ông bà, 95

(Tỉ lệ %), Chơi

với con, 66

Việc cả hai thường làm (Tỉ lệ %), Chở con đi học, 63

Việc cả hai thường làm (Tỉ lệ %), Thờ cúng tổ tiên, 55

Việc cả hai thường làm (Tỉ lệ %), Dạy con học bài, 52

Việc cả hai thường làm (Tỉ lệ %), Đi làm, 50

Tóm tắt kết quả kiểm nghiệm Chi-Square khi so sánh trả lời của bé trai và bé gái trong câu hỏi

“Ai thường làm việc này?” cho thấy không có khác biệt ý nghĩa về các tỉ lệ trả lời (đàn ông, phụ nữ, cả

hai) giữa hai giới ở từng nội dung hỏi trong Bảng khảo sát 3b.

Với câu hỏi 2 về sự phân công vai trò giới trong gia đình trẻ, đại đa số các câu trả lời của trẻ

trùng với câu trả lời cho câu hỏi 1. Kết quả này cho thấy, nhận dạng vai trò giới của trẻ trong mẫu khảo

sát bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự phân công vai trò giữa cha và mẹ trong gia đình.

2.2.2.3. Để tìm hiểu về sự lựa chọn vai trò giới của trẻ trong tương lai đối với từng công việc,

người nghiên cứu hỏi trẻ “Lớn lên cháu có làm việc này không?”, hầu hết các câu trả lời CÓ chiếm tỉ

lệ phần trăm cao. Bảng Thống kê 7 với câu hỏi 3 cho kết quả rất cao ở các công việc thăm ông bà, đi

làm, chơi với con, chở con đi học, vv.. (chiếm tỉ lệ hơn 90% bé trả lời).

2.2.2.4. Với câu hỏi “Vì sao cháu thích/không thích làm công việc đó?”, lí do được trẻ đưa ra để

giải thích cho việc lựa chọn hoặc không lựa chọn vai trò giới trong tương lai của bản thân đối với

từng công việc rất đa dạng.

Kết quả tổng hợp cho thấy, chiếm tỉ lệ cao là các câu trả lời với lí do: vì đó là công việc phù hợp

với đàn ông/phụ nữ hoặc đó là công việc của cả hai giới.

Ví dụ, kết quả thống kê tần số và tỉ lệ câu trả lời của trẻ đối với một số công việc trẻ cho rằng

“là việc của phụ nữ”:

Thống kê trẻ – Bảng 2.10

Nấu ăn

Rửa chén bát Giặt quần áo Ủi quần áo Công việc

Phù hợp với giới tính Tần số 43 Tỉ lệ 72 Tần số 42 Tỉ lệ 71 Tần số 39 Tỉ lệ 65 Tần số 37 Tỉ lệ 62

Việc của cả hai giới 3 5 3 5 7 12 3 5

Thích làm 3 5 0 0 3 5 3 5

Muốn giúp cha mẹ 3 5 5 8 8 13 5 8

Các ý kiến khác 8 3 5 13 10 16 12 20

Với mục đích so sánh tương quan giữa các câu trả lời của trẻ với câu trả lời của cha mẹ về

việc phân công vai trò giới trong gia đình, người nghiên cứu đưa các câu trả lời của trẻ vào 4 nhóm

công việc chính sau:

- Nhóm 1 – Việc nội trợ, gồm nấu ăn, rửa chén bát, giặt quần áo, lau nhà, ủi đồ, may vá, đi chợ.

- Nhóm 2 – Việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình, gồm sửa vòi nước, đóng bàn ghế, sơn tường.

- Nhóm 3 – Việc chăm sóc giáo dục con cái, như chơi với con, cho con ăn, chăm sóc con ốm, dạy con học bài, chở con đi học.

- Nhóm 4 – Việc cộng đồng, như cúng tổ tiên, thăm ông bà.

Kết quả trung bình cộng về tỉ lệ phần trăm câu trả lời của trẻ cho thấy, có sự tập trung cao ở một

lựa chọn đối với từng nhóm công việc:

- Nội trợ là việc của phụ nữ: chiếm tỉ lệ 79.7%;

- Sửa chữa đồ dùng gia đình là việc của đàn ông: chiếm tỉ lệ 88.1%;

- Chăm sóc, giáo dục con cái và Việc cộng đồng thuộc trách nhiệm của cả hai. Kết quả lần lượt là

64.4% và 79.7%.

Tỉ lệ phần trăm câu trả lời của trẻ – giải thích cho việc lựa chọn công việc trong tương lai của

bản thân – với lí do “vì đấy là công việc của phụ nữ/đàn ông” khá cao như trên chứng tỏ sự nhận dạng

vai trò giới của mẫu khảo sát phù hợp với quan niệm truyền thống trong việc phân công vai trò giới.

Các câu trả lời với lí do khác như vì muốn giúp đỡ, muốn làm giống cha mẹ (“Con muốn giúp

mẹ”,“Vì Ba con cũng làm việc này”, “Con thấy Mẹ con làm”); vì trẻ quan tâm đến kết quả công việc,

muốn làm việc tốt (“Ủi để quần áo thẳng”, “Lau để nhà sạch”, “Để ba mẹ vui hơn”...) chiếm một tỉ lệ

không đáng kể.

Có hơn 10% bé trai không ngại ngần chọn các công việc “của phụ nữ” vì “Con muốn phụ mẹ”,“Đàn

ông phải giúp phụ nữ”,“Muốn tập làm”,“Có thể tự ủi đồ cho mình”.

100% bé gái không lựa chọn công việc “của đàn ông” cho bản thân trong tương lai vì “Con là con

gái”, “Con gái không làm việc đó”.

Nhận xét sự hiểu biết về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình ở mẫu

nghiên cứu

− Khả năng nhận dạng giới tính theo vai trò giới ở mẫu khảo sát thể hiện rất rõ, phù hợp với nghiên

cứu lí luận và với đặc điểm văn hóa Việt Nam.

− Vai trò giới quan trọng nhất của người phụ nữ trong gia đình theo sự hiểu biết của trẻ 5-6 tuổi là

công việc nội trợ (nấu ăn, rửa chén bát, lau nhà, giặt/ủi quần áo, may vá, đi chợ) và thực hiện

trách nhiệm của người mẹ (chăm sóc con, chơi với con, dạy con học..).

− Vai trò giới của đàn ông trong nhận thức của trẻ gắn liền với các công việc nặng, thể hiện rõ “nam

tính” như sửa chữa đồ dùng trong nhà (sửa vòi nước, quét sơn, đóng bàn ghế); 47% trẻ được hỏi

(không có sự khác biệt giữa trả lời của trẻ gái và trai) cho rằng, việc “Đi làm kiếm tiền” là trách

nhiệm của người đàn ông

− Vai trò chung cho cả hai giới tập trung cao ở mảng công việc cộng đồng (thăm hỏi ông bà, cúng tổ

tiên...); chăm sóc và giáo dục con (chơi với con, dạy con học, chở con đi học...); công việc mang

lại thu nhập cho gia đình (đi làm).

− Tỉ lệ phần trăm câu trả lời của trẻ đối với một số công việc như: giặt quần áo, lau nhà ... không cao

(trong khoảng từ 50-60%) vì trẻ cho rằng đó là những việc nặng (đàn ông phải giúp phụ nữ).Sự

lựa chọn vai trò giới trong tương lai ở bé gái hầu hết đồng nhất với sự hiểu biết của bé về vai trò

giới. Ví dụ, bé cho rằng việc đóng bàn ghế là việc của đàn ông và bé cũng không chọn công việc

đó cho mình trong tương lai.

− Ở các bé trai có hiện tượng lựa chọn vai trò giới trong tương lai không đồng nhất với quan niệm

của bé khi nhận dạng vai trò giới trong gia đình. Ví dụ, việc rửa chén bát, lau nhà... được bé cho là

“việc của phụ nữ”, nhưng bé vẫn lựa chọn công việc đó cho mình trong tương lai với lí do “Muốn

giúp đỡ mẹ” hoặc “Đàn ông phải giúp phụ nữ”...

Chúng tôi cho rằng, việc các bé trai có nguyện vọng làm các công việc trong gia đình được cho là

“của phụ nữ” chứng tỏ nhận thức của trẻ về việc phân công vai trò giới không mang tính rập

khuôn, trẻ có ý thức tự lập, chia sẻ công việc nặng với người mẹ, người phụ nữ trong gia đình.

− Các lí do trẻ đưa ra để giải thích cho sự lựa chọn vai trò giới trong tương lai của mình rất đa dạng,

thể hiện rõ vai trò giới của bản thân, sự quan sát việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ, sự quan

tâm đến các thành viên và công việc chung của gia đình, tính tự lập cao ở trẻ (ví dụ, “Con sẽ làm vì

con là con trai/con gái”, “Vì đó là việc của đàn ông/phụ nữ”, “Là con gái thì phải nấu cơm, giặt

quần áo...” hoặc, “Ba con nói con gái phải giỏi việc nhà”,“Con trai/con gái đều làm được”, “Ai

cũng phải làm việc nhà”, “Con thích làm”, “Vì con thích giúp đỡ mẹ”, “Cả nhà phải thăm ông bà

thường xuyên”, “Người lớn ai cũng đi làm kiếm tiền”, “Cả ba và mẹ cùng đưa em bé đi chơi”,

“Làm mẹ phải chăm sóc con cái”...)

− Không có sự khác biệt thống kê giữa bé trai và bé gái trong nhận thức về việc phân công vai trò

giới ở những nhóm công việc được hỏi.

2.2.2.Kết quả khảo sát việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình và mối tương quan của nó với nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi

Trong 60 phiếu khảo sát cha mẹ được xử lí có một phiếu không hợp lệ. Vì vậy, chúng tôi thống

kê số liệu trên 59 phiếu của cha mẹ và giảm một trẻ (không có phiếu của cha mẹ) để số lượng trả lời

của cha mẹ và trẻ cân đối khi tính tương quan.

Kết quả tính tần số trên dữ liệu cho biết các thông tin về mẫu như sau:

− Số lượng: 59, trong đó 25 cha và 34 mẹ.

− Về tuổi đời: trẻ nhất là 28, cao nhất là 53, tập trung nhiều ở độ tuổi từ 32 đến 39 (47 người).

− Về học vấn: phần lớn có trình độ đại học, chiếm 34/59 người (tỉ lệ 57.6%); sau đại học có 4

người, cao đẳng 9 người và 5 trung cấp người. Ngoài ra còn 7 người không thuộc 4 nhóm vừa

nêu.

Số liệu thống kê tần số và tỉ lệ các câu trả lời của cha mẹ theo Bảng khảo sát 5 về việc phân

công vai trò giới ở một số mảng công việc chính trong gia đình như sau:

Thống kê cha mẹ – Bảng 2.11

Lựa chọn

Chồng Vợ Cả hai Công việc Người khác

Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ

11.9 Nội trợ 1 1.7 43 72.9 13.6 8 7

Quyết định chi tiêu hằng ngày 19 32.2 40 67.8 0 0 0 0

Quyết định chi tiêu lớn 10 16.9 3.4 47 79.7 2 0 0

Sửa chữa đồ dùng trong nhà 44 74.6 5.1 9 15.3 5.1 3 3

Chăm sóc sức khỏe con cái 3.4 23 39 34 57.6 2 0 0

Đưa con đi chơi, tham quan 8.5 6 10.2 45 76.3 5 3 5.1

Đưa con đi học 14 23.7 10 16.9 27 45.8 8 13.6

Giáo dục con 2 3.4 15.3 48 81.4 9 0 0

Thăm họ hàng, cưới hỏi 13 22 6.8 41 69.5 4 1 1.7

Thờ cúng tổ tiên 15 24.5 12 20.3 25 42.4 7 11.9

Công tác xã hội 27 45.8 8.5 21 35.6 5 6 10.2

Làm việc, mang lại thu nhập 16 27.1 1.7 42 71.2 1 0 0

2.2.2.1. Tương tự như cách xử lí số liệu khi khảo sát trên trẻ, đối với các phiếu khảo sát cha mẹ,

chúng tôi cũng đưa các câu trả lời vào bốn nhóm công việc chính. Kết quả như sau:

Nhóm công việc nội trợ: 72.9% người được hỏi cho rằng, việc mua thức ăn, nấu cơm, giặt giũ,

dọn nhà ...là do người vợ đảm nhận; sự tham gia của người chồng chiếm một tỉ lệ nhỏ (chỉ có 1.7%); cả

hai vợ chồng cùng tham gia vào công việc nội trợ cũng chỉ ở mức 13.6%.

Việc quyết định chi tiêu hàng ngày phần lớn cũng do người vợ đảm đương (67.8%).

Qua số liệu này có thể nhận thấy, mô hình phân công lao động truyền thống trong các gia đình

khảo sát vẫn được duy trì - công việc nội trợ là do người phụ nữ, người vợ đảm nhiệm. Tương ứng với

sự phân công vai trò trong việc nội trợ là quyền quyết định của người vợ trong các khoản chi tiêu hằng

ngày. Vai trò này của người phụ nữ trong gia đình được cả cha và mẹ trẻ đồng thuận, không thấy có sự

khác biệt giới tính trong các câu trả lời.

Ở nhóm công việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình, hầu hết trong các gia đình được hỏi, người

chồng là người đảm nhận chính, chiếm tỉ lệ 74.6%.

Không có sự khác biệt giữa câu trả lời của cha và mẹ ở nhóm công việc này.

Trong nhóm việc chăm sóc và giáo dục con cái, số liệu cho thấy tỉ lệ phần trăm tập trung với lựa

chọn cả hai người cùng có trách nhiệm ở tất cả các việc được hỏi như chăm sóc con, đưa con đi học/đi

chơi, giáo dục con.

Kiểm nghiệm Chi-Square cho thấy, trong các câu trả lời về trách nhiệm giáo dục con cái có sự

khác biệt giữa câu trả lời của cha và mẹ. Trách nhiệm của cả hai người chiếm 81.4%, trong đó có đến

96% cha cho là trách nhiệm ở cả hai. Phía mẹ, chỉ có 71% người mẹ trả lời cả hai, còn lại 27% cho là

đó là việc của người vợ.

Số liệu thống kê cho thấy, trong các gia đình khảo sát, người vợ và người chồng đã cùng nhau

chia sẻ việc chăm sóc và giáo dục con. Điều này thể hiện mối quan tâm chung và sự tương đồng giữa

vợ và chồng khi thực hiện vai trò giới trong các hoạt động của gia đình. Có thể nói, đã có sự thay đổi

trong quan niệm về việc chăm sóc, giáo dục con, không còn sự phân biệt rạch ròi trách nhiệm của vợ

hay chồng trong việc này.

Với nhóm công việc cộng đồng như ma chay, cưới hỏi, thờ cúng tổ tiên, thăm viếng họ hàng,

công tác xã hội: tỉ lệ phần trăm tham gia của nam giới so với nữ giới vẫn cao hơn nhưng không đáng

kể. Hiện nay, công việc cộng đồng không còn là “việc của đàn ông” nữa, mà thay vào đó phụ nữ đã

tham gia nhiều hơn. Có đến 70% người được hỏi đều cho rằng cả vợ và chồng đều có trách nhiệm tham

gia như nhau trong những công việc cưới xin, ma chay, thăm viếng họ hàng.

Không có sự khác biệt giữa câu trả lời của cha và mẹ ở nhóm công việc này.

2.2.2.2. Để so sánh các tỉ lệ chọn trong từng câu trả lời, chúng tôi dùng kiểm nghiệm Chi-

Square.

Thống kê cha mẹ – Bảng 2.12

Mức có Công việc Trung bình Độ lệch chuẩn ý nghĩa

a 74.085P

Nội trợ 3 .000

b 7.475P

Quyết định chi tiêu hằng ngày 1 .006

c 58.610P

Quyết định chi tiêu lớn 2 .000

a 78.966P

Sửa chữa đồ dùng trong nhà 3 .000

c 26.881P

Chăm sóc sức khỏe con cái 2 .000

a 83.034P

Đưa con đi chơi, tham quan 3 .000

a 14.831P

Đưa con đi học 3 .002

c 62.475P

Giáo dục con 2 .000

a 67.576P

Thăm họ hàng, cưới hỏi 3 .000

a 11.712P

Thờ cúng tổ tiên 3 .008

a 24.458P

Công tác xã hội 3 .000

c 43.763P

Làm việc, mang lại thu nhập 2 .000

Kết quả kiểm nghiệm cho thấy, ở từng câu hỏi, các tỉ lệ phần trăm trả lời đều có sự khác biệt rõ

rệt. Quan sát số liệu Thống kê cha mẹ - Bảng 9 thấy rằng, trong từng câu hỏi luôn có con số nổi bật ở

một lựa chọn. Qua số liệu này, có thể thấy sự đồng nhất trong quan điểm về cách phân công lao động

trong gia đình không chỉ giữa đàn ông và phụ nữ nói riêng, mà còn giữa các gia đình trong mẫu khảo

sát nói chung.

Việc thống kê và phân tích kết quả khảo sát sự phân công vai trò giới trong các gia đình cho

phép đưa ra một số kết luận sau:

− Có sự phân công vai trò giới khá rõ ràng và hợp lí trong các mảng công việc.

− Cả hai giới vẫn đảm nhận các vai trò truyền thống trong gia đình, nhưng đã có sự thay đổi đáng

kể khi người vợ ngoài trách nhiệm chính như nội trợ, chăm sóc con cái đã tham gia nhiều hơn

vào việc cộng đồng và quyết định các công việc quan trọng trong gia đình; người chồng có trách

nhiệm nhiều hơn trong việc chăm sóc sức khoẻ cho con cái và chia sẻ các công việc khác với

vợ; cả vợ và chồng đều có trách nhiệm mang lại thu nhập cho gia đình và công việc cộng đồng.

− Kiểm nghiệm Chi-Square so sánh các tỉ lệ chọn trong từng câu trả lời cho thấy, ở mỗi công việc

đều có sự tập trung cao vào một lựa chọn. Điều này chứng tỏ quan niệm về việc phân công vai

trò giới trong các gia đình khảo sát khá đồng nhất, phù hợp với xu hướng phát triển chung của

xã hội là vợ chồng cùng chia sẻ công việc, giảm bớt gánh nặng cho người phụ nữ trong công

việc nhà.

− Không có khác biệt ý nghĩa giữa cha và mẹ về các tỉ lệ phần trăm trả lời trong hầu hết các nội

dung được hỏi.

− Trong giới hạn của đề tài, người nghiên cứu không phân tích tương quan giữa trình độ học vấn

và tuổi của cha mẹ với việc phân công vai trò giới trong gia đình. Nhưng chúng tôi cho rằng, đó

cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến sự phân công lao động giữa vợ và chồng.

2.2.2.3. Để có thể tính trung bình, cũng như tính tương quan giữa cha mẹ với con cái, các lựa

chọn trong mỗi nhóm việc nói trên sẽ được quy về thống nhất 2 loại như sau:

- Nhóm Việc nội trợ: phần lớn cha mẹ và trẻ cho là việc của phụ nữ. Vì vậy, tập trung vào ý trả

lời “Phụ nữ” (con gái/ vợ), các ý còn lại được gộp vào loại “Khác”.

Kết quả khảo sát:

Thống kê – Bảng 2.13

Việc nội trợ

Trả lời của cha mẹ Trả lời của trẻ Lựa chọn Tần số Tần số Tỉ lệ Tỉ lệ

72.9 79.7 47 43 Phụ nữ

27.1 20.3 12 16 Khác

100 100 59 59 Tổng cộng

- Nhóm Việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình: phần lớn ý kiến cho là việc của đàn ông (con trai/chồng). Vì vậy, tập trung vào ý trả lời “Đàn ông”, các ý còn lại được gộp vào loại “Khác”.

Kết quả khảo sát:

Thống kê – Bảng 2.14

Việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình

Trả lời của cha mẹ Trả lời của trẻ Lựa chọn Tần số Tần số Tỉ lệ Tỉ lệ

Đàn ông 44 74.6 88.1 52

Khác 15 25.4 11.9 7

Tổng cộng 59 100 100 59

- Các nhóm Việc chăm sóc, giáo dục con cái và Việc cộng đồng: phần lớn cha mẹ và trẻ cho là việc của cả hai người (Cha và Mẹ). Vì vậy, tập trung vào ý trả lời “Cả hai”, các ý còn lại được

gộp vào loại “Khác”.

Kết quả khảo sát lần lượt như sau:

Thống kê – Bảng 2.15

Việc chăm sóc, giáo dục con cái

Trả lời của cha mẹ Trả lời của trẻ Lựa chọn Tỉ lệ Tỉ lệ Tần số Tần số

41 Cả cha và mẹ 69.5 64.4 38

18 Khác 30.5 35.6 21

59 Tổng cộng 100 100 59

Thống kê – Bảng 2.16

Công việc cộng đồng

Trả lời của cha mẹ Trả lời của trẻ Lựa chọn Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ

Cả cha và mẹ 42 71.2 47 79.7

Khác 17 28.8 12 20.3

Tổng cộng 59 100 59 100

Như vậy, kết quả tần số và tỉ lệ phần trăm ở từng nhóm công việc cho biết thông tin của hai mức

trả lời, trong đó người nghiên cứu quan tâm con số tỉ lệ phần trăm của mức chính, mức Khác là phần

còn lại.

Tổng hợp 4 nhóm việc với tỉ lệ trả lời của cha mẹ và trẻ ở các lựa chọn chính như sau:

Thống kê – Bảng 2.17

Việc nội trợ (Phụ nữ) 72.9 79.7 Sửa chữa đồ dùng (Đàn ông) 74.6 88.1 Chăm sóc, giáo dục con (Cả hai) 69.5 64.4 Việc cộng đồng (Cả hai) 71.2 79.7

Cha mẹ Trẻ em

Nhận xét chung trên 4 nhóm việc, các tỉ lệ phần trăm khá tương ứng giữa trẻ và cha mẹ.

Biểu đồ 2.18 – So sánh tỉ lệ trả lời cha mẹ và trẻ em ở 4 nhóm việc

Trẻ em, Việc

Trẻ em, Việc cộng đồng

Cha mẹ, Việc

(Cả hai), 79.7

nội trợ (Phụ nữ), 79.7

Cha mẹ, Việc cộng đồng

Trẻ em, Sửa chữa đồ dùng (Đàn ông), 88.1

Cha mẹ, Sửa chữa đồ dùng (Đàn ông), 74.6

nội trợ (Phụ nữ), 72.9

(Cả hai), 71.2

Cha mẹ, Chăm sóc, giáo dục con (Cả hai), 69.5

Trẻ em, Chăm sóc, giáo dục con (Cả hai), 64.4

Cha mẹ

Trẻ em

Khi tính hệ số tương quan giữa các trung bình tỉ lệ câu trả lời của cha mẹ và trẻ về việc phân

công vai trò giới trong gia đình (Xem Phụ lục, Khảo sát tương quan giữa trả lời của con cái và của cha

mẹ), chúng tôi có kết quả:

Việc Tương quan Sửa chữa Chăm sóc, giáo Việc

nội trợ đồ dùng dục con cái cộng đồng

.260* .388** .319* .361** Pearson

Mức ý nghĩa .047 .002 .014 .005

Chú thích:(*) Hệ số tương quan có ý nghĩa ở mức 0.05 (2 đuôi)

(**) Hệ số tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 (2 đuôi)

Số liệu trên cho thấy, các hệ số tương quan giữa trẻ và cha mẹ tuy không lớn, nhưng ở tất cả 4

nhóm công việc, hệ số tương quan Pearson tính được đều đạt mức ý nghĩa thống kê (5% hay 1%).

Với các trị số tương quan từ 0.26 đến 0.39, bước đầu có thể kết luận rằng, có sự tương ứng giữa

trẻ và cha mẹ trong các trả lời về 4 nhóm việc khi được hỏi về sự phân công vai trò giới trong gia đình.

Nói cách khác, việc phân công vai trò giữa cha và mẹ trong gia đình có ảnh hưởng lớn đến nhận dạng

giới tính, mà đặc biệt là nhận dạng vai trò giới ở trẻ 5-6 tuổi.

Chúng tôi chọn phân tích một số gia đình cụ thể để tìm hiểu sâu hơn về ảnh hưởng của cha mẹ

đến trẻ trong vấn đề nghiên cứu này.

Câu hỏi đặt ra là: “Ai thường hay làm việc này?”, “Khi nào lớn, cháu có làm việc này không?

Vì sao?

Bé Phi Long (5 tuổi 8 tháng) cho rằng, “Giặt quần áo là việc của phụ nữ, lớn lên cháu sẽ giặt

quần áo vì muốn giúp đỡ khi mẹ mệt; may vá là việc của phụ nữ, cháu sẽ không làm việc đó vì cháu

còn phải đi làm việc; đi làm kiếm tiền là việc của cả đàn ông và phụ nữ, cháu sẽ đi làm vì người lớn ai

cũng phải đi làm; cho con ăn là việc của phụ nữ, lớn lên cháu sẽ cho con ăn vì việc này cả hai đều làm

được; dạy con học bài là việc của đàn ông, cháu sẽ dạy con học bài và cả hai vợ chồng đều dạy con...”.

Mẹ bé Phi Long (37 tuổi) cho biết, trong gia đình của bé, người mẹ đảm nhiệm việc nội trợ, cả

hai vợ chồng đều có trách nhiệm đi làm mang lại thu nhập cho gia đình, cả hai vợ chồng chia sẻ việc

chăm sóc và giáo dục con.

Bé Duyên Anh (5 tuổi 10 tháng) trả lời: Rửa chén bát là việc của phụ nữ, lớn lên cháu sẽ làm vì

con gái phải rửa chén; sơn tường nhà – cả phụ nữ và đàn ông đều làm được, lớn lên cháu không làm

việc đó vì nên để con trai làm; cho em bé ăn là việc của phụ nữ, cháu sẽ làm vì lớn lên cháu sẽ là mẹ;

dạy con học bài là việc của cả ba và mẹ, cháu sẽ dạy con học vì cháu thích cả hai người cùng dạy.

Mẹ bé Duyên Anh (43 tuổi) cũng cho rằng, sửa chữa đồ dùng trong nhà và giáo dục con là trách

nhiệm của cả hai vợ chồng, việc nội trợ và chăm sóc con là bổn phận của người vợ.

Bé Minh Khang (5 tuổi 10 tháng) trả lời: giặt quần áo, lau nhà, ủi quần áo là việc của cả đàn

ông và phụ nữ, lớn lên cháu sẽ làm vì có thể tự làm được và làm để phụ mẹ; may vá, đi chợ là việc của

phụ nữ, cháu sẽ không làm vì đó là việc dành cho con gái; đi làm kiếm tiền và cúng ông bà là việc của

đàn ông, cháu sẽ làm những việc này vì cháu là đàn ông; cho con ăn và chăm sóc con ốm là việc dành

cho phụ nữ, khi lớn cháu sẽ không làm; chơi với con và dạy con học là việc của cả hai, cháu sẽ làm.

Bố của Minh Khang (35 tuổi) cho biết, trong gia đình của bé, người chịu trách nhiệm trong việc

đi làm mang lại thu nhập cho gia đình, cúng tổ tiên và công tác xã hội là đàn ông, việc nội trợ và chăm

sóc con cái là của phụ nữ, dạy con học là công việc chung của cả vợ và chồng.

Các ví dụ nêu trên là minh chứng cho sự đồng nhất giữa nhận dạng của trẻ về vai trò giới và

cách phân công vai trò giữa cha và mẹ trong các gia đình khảo sát. Có thể nói rằng, cha mẹ có ảnh

hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của con cái, mà trước hết là sự phát triển giới tính của trẻ.

Ảnh hưởng này hiện hữu từng giờ, từng ngày ngay trong cuộc sống gia đình qua việc làm, qua sự giao

tiếp, các hoạt động chung trong gia đình và qua hướng dẫn của người lớn đối với trẻ.

Mối quan hệ qua lại, sự phân công công việc giữa cha và mẹ trong gia đình ảnh hưởng đến sự

lĩnh hội của trẻ đối với hành vi có liên quan đến giới tính của mình. Sự có mặt của cả hai khuôn mẫu

tương ứng về giới (cha với con trai, mẹ với con gái) tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ lĩnh hội các kiểu

hành vi phù hợp với giới của mình.

Trẻ có sự nhận dạng rõ ràng về vai trò giới, giải thích sự chọn lựa vai trò giới trong tương lai

của mình rất tự nhiên và cũng rất hợp lí. Thái độ tích cực của trẻ khi chọn công việc “của giới khác”

trong tương lai chứng tỏ trẻ được sống trong các gia đình hòa thuận, giữa cha và mẹ có sự gánh vác,

chia sẻ trong công việc. Điều đó cũng chứng tỏ rằng, sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong

các gia đình khảo sát có ảnh hưởng tích cực đến nhận dạng giới tính và nhận dạng vai trò giới ở trẻ.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Kết quả thống kê số liệu khảo sát trên trẻ và cha mẹ chứng minh giả thuyết ban đầu của đề tài là

hoàn toàn có cơ sở.

Các số liệu này cho thấy:

Thứ nhất, sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong mẫu khảo sát phát triển mạnh,

thể hiện rõ qua tỉ lệ trẻ xác định giới tính của bản thân, hiểu tính ổn định của giới tính, nhận thức vai trò

giới của đàn ông và phụ nữ trong gia đình.

Thứ hai, có mối liên hệ mật thiết giữa việc trẻ nhận biết giới tính của bản thân và sự thể hiện

hành vi giới tính cũng như vai trò giới. Trẻ có khả năng nhận thức về sự phân công vai trò giới giữa

đàn ông và phụ nữ trong gia đình. Hơn thế, trẻ biết vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm cá nhân vào

việc giải thích sự chọn lựa vai trò giới của mình trong tương lai một cách linh hoạt và hợp lí.

Thứ ba, sự tương ứng giữa câu trả lời của cha mẹ và trẻ chứng tỏ việc phân công vai trò giới

trong gia đình có ảnh hưởng quan trọng đến sự lĩnh hội của trẻ đối với hành vi có liên quan đến giới

tính của mình. Trẻ có sự hiểu biết rõ ràng về sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ cũng như sự kết

hợp hài hòa giữa hai giới trong việc giải quyết các công việc chung của gia đình. Chúng tôi cho rằng,

chính sự có mặt của cả hai khuôn mẫu tương ứng về giới trong các gia đình được khảo sát tạo điều kiện

thuận lợi cho trẻ trong quá trình phát triển nhận dạng giới tính và lĩnh hội các kiểu hành vi phù hợp với

giới của mình.

Thứ tư, có sự khác biệt về mức độ hiểu tính bất biến của giới tính ở trẻ 5-6 tuổi trong nghiên

cứu thực tiễn so với nghiên cứu lí luận. Cần tiến hành khảo sát trên mẫu lớn hơn và căn cứ vào kết quả

đó để có biện pháp giúp đỡ trẻ.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Qua kết quả tổng hợp, phân tích lí luận và khảo sát thực tiễn, người nghiên cứu rút ra các kết

luận sau:

1. Nhận dạng giới tính là một trong những thành tố quan trọng trong cấu trúc tự nhận thức về giới

tính ở trẻ. Nó mang giá trị định hướng về giới tính cho trẻ dưới dạng vai trò xã hội. Việc trẻ

nhận thức được giới tính cũng như vai trò giới của bản thân góp phần phát triển nhận dạng giới

tính ở trẻ. Nó đảm bảo cho trẻ sự thống nhất trong nhận thức về giới tính và hành vi được xác

định cho giới này hoặc giới khác.

2. Lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn nền tảng của sự tự nhận thức về giới tính. Sau 5 tuổi trẻ có khả

năng sử dụng các chuẩn mực cư xử, trong đó có chuẩn mực giới tính để tự nhận xét, đánh giá

bản thân một cách khách quan hơn so với trẻ dưới 5 tuổi.

3. Xã hội hóa giới tính là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ em.

Trên nền tảng của quá trình này, trẻ có khả năng nhận thức được vai trò giới được qui định cho

giới nam và giới nữ trong nền văn hóa của mình thông qua sự phân công vai trò giữa cha và mẹ

trong gia đình.

4. Gia đình là môi trường xã hội hóa giới tính đầu tiên và quan trọng nhất đối với trẻ. Cha mẹ

chính là nguồn thông tin mạnh mẽ về khuôn mẫu vai trò giới cho trẻ. Xã hội hóa về giới trong

gia đình được thể hiện qua sự giáo dục, qua sự tương tác giữa cha và mẹ, giữa người lớn và trẻ,

qua sự phân công vai trò giới ... Cha mẹ là người thầy đầu tiên về nét nam tính/nữ tính, về mẫu

người đàn ông/phụ nữ và quan hệ qua lại giữa hai giới. Trẻ có thể học được từ cha mẹ hình mẫu

quan hệ khác giới về sự bình đẳng, về vai trò chức năng của giới nam và giới nữ và trách nhiệm

trong quan hệ vợ chồng.

5. Sự thể hiện vai trò giới của cha và mẹ trong gia đình như đại diện của giới nam và giới nữ rất đa

dạng và phức tạp.

6. Sự nhận dạng giới tính của bản thân ở trẻ 5-6 tuổi trong mẫu khảo sát khá phù hợp với nghiên

cứu lí luận. Tuy nhiên, mức độ hiểu tính bất biến của giới tính ở một số trẻ còn thấp so với

chuẩn lứa tuổi vì còn bị các dấu hiệu bên ngoài như kiểu tóc hoặc trang phục chi phối.

7. Ở trẻ được khảo sát, sự nhận dạng vai trò giới phát triển mạnh mẽ. Số liệu thống kê chứng tỏ, có

sự tương quan giữa câu trả lời của trẻ và cha mẹ về vấn đề được hỏi. Điều này cho thấy, sự phân

công vai trò giữa cha và mẹ trong gia đình đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa

giới tính ở trẻ. Từ những kết luận nêu trên, người nghiên cứu có một số đề xuất sau:

1. Cần có những nghiên cứu sâu và rộng hơn về nhận dạng giới tính của trẻ mẫu giáo ở các giai

đoạn lứa tuổi khác nhau để kịp thời có biện pháp phối hợp giữa gia đình và trường mầm non

trong việc giáo dục giới tính cho trẻ.

2. Điều kiện lí tưởng để giáo dục giới tính nói chung và giáo dục nhận thức về vai trò giới nói

riêng cho trẻ là sự hiện diện của cả cha và mẹ trong gia đình cùng với sự thống nhất, hợp tác,

chia sẻ trong các vai trò khác nhau và bổ túc cho nhau.

3. Cha mẹ phải thể hiện được đúng vai trò, chức năng và các đặc điểm giới tính trong sinh hoạt

hàng ngày. Mặc dù trong các gia đình hiện đại thường có sự san sẻ với nhau trong công việc,

nhưng vai trò chính của người cha là người bảo vệ, trụ cột trong gia đình và người mẹ – người

chăm lo vun đắp tình cảm cho tổ ấm, đảm nhiệm công việc nội trợ luôn là khuôn mẫu giới trọn

vẹn nhất đối với trẻ. Nếu các chức năng, vai trò của cha mẹ bị giao hoán cho nhau thì sẽ ảnh

hưởng không tốt đến sự phát triển tự nhận thức về giới, đến sự hình thành những nét giới tính và

hành vi của trẻ.

4. Cha mẹ và giáo viên mầm non cần quan tâm đến những biểu hiện khác biệt giới tính giữa bé trai

và bé gái để phát huy tính tích cực của từng giới. Cần phát triển ở trẻ cảm xúc và thái độ tích

cực đối với giới tính của bản thân; lòng tự hào về giới tính và mong muốn thể hiện nét văn hóa

trong cư xử với người khác giới.

5. Cần có sự phối hợp giữa gia đình và trường/lớp mẫu giáo trong việc tạo điều kiện và môi trường

cho trẻ thể hiện đặc tính giới. Trước hết là việc nêu gương tốt của người lớn và của trẻ trong các

hoạt động sống ở nhà và ở trường. Cần chú ý giáo dục nhận thức giới tính cho trẻ, nhất là nhận

thức về vai trò giới, tránh những biểu hiện xem nhẹ vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là trong

công việc nhà.

6. Trường mầm non cần chú trọng hơn nữa việc giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo qua việc tổ

chức các buổi tọa đàm với phụ huynh về sự phát triển giới tính và cách thức giáo dục giới tính

cho trẻ; cùng trẻ đọc sách báo, xem tranh ảnh và đàm thoại với trẻ về sự phát triển giới tính của

con người; đố vui, kể chuyện để giáo dục các gương tốt...

7. Vì sự phát triển nhận thức giới tính là một quá trình tự nhiên, nên để làm tốt công tác giáo dục

giới tính cho trẻ, trước hết giáo viên phải hiểu rõ các giai đoạn trong quá trình hình thành và phát

triển giới tính của trẻ; cần có thái độ tự nhiên, tôn trọng, nhẹ nhàng đối với trẻ, có sự can thiệp

khéo léo trong các quan hệ giới tính của trẻ, không áp đặt trẻ, tránh làm trẻ bị tổn thương.

8. Trò chơi đóng vai có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nhận thức về giới tính, nó giúp trẻ

thể hiện đặc tính giới và vai trò giới. Vì vậy, cần thiết lập môi trường và các điều kiện cần thiết

cho trò chơi đóng vai của trẻ, khuyến khích cả trẻ trai và trẻ gái cùng tham gia vào trò chơi; mở

rộng chủ đề chơi và xây dựng các chủ đề chơi kích thích sự hứng thú ở trẻ; hướng dẫn trẻ hiểu

các mối quan hệ qua lại giữa người lớn trong xã hội một cách khéo léo, tế nhị (nhận một vai

trong trò chơi của trẻ); giúp trẻ phân biệt được cái đẹp, cái đúng, cái sai trong những quan hệ đó

để trẻ dễ dàng tái tạo chúng trong trò chơi.

9. Trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ, giáo viên nên có cách tiếp cận cá thể đối với từng trẻ, tổ

chức và sử dụng các tình huống sư phạm một cách tự nhiên để khuyến khích trẻ thể hiện nét đẹp

trong cách ứng xử như đại diện của một giới. Uốn nắn hoặc khen ngợi trẻ kịp thời khi trẻ thể

hiện hành vi giới tính không phù hợp hoặc đáng nêu gương.

10. Cha mẹ và giáo viên phải luôn là niềm tin của trẻ, là khuôn mẫu giới để trẻ noi theo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Vũ Thị Sơn, Lưu Thu Thủy, Đào Thị Oanh (1999), Giáo dục giới

tính cho con, NXB Giáo dục.

2. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lí học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa.

3. Nguyễn Thị Thu Hà (1997), Tìm hiểu một số biểu hiện giới tính trong hành vi chơi của trẻ mẫu

giáo lớn, Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục mầm non, trường Đại học sư phạm I Hà Nội.

4. Ngô Công Hoàn (1993), Tâm lý học gia đình, Trường đại học sư phạm Hà Nội I.

5. Đặng Phương Kiệt (2006), Gia đình Việt Nam. Những giá trị truyển thống và các vấn đề tâm - bệnh

lý xã hội, NXB Lao động.

6. Nguyễn Thị Bích Liên (1997), Tìm hiểu sự nhận diện giới tính dưới một số biểu hiện trong hoạt

động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục mầm non, trường

Đại học sư phạm I Hà Nội.

7. Nguyễn Xuân Nghĩa (2000), Quá trình xã hội hóa về giới ở trẻ em, NXB Đại học mở bán công Tp.

Hồ Chí Minh.

8. Nguyễn Xuân Nghĩa (2007), Quan hệ về giới và quá trình xã hội hóa trong gia đình ở trẻ em,

(Nghiên cứu tại nội thành TP.HCM), Tạp chí Khoa học, trường ĐHM TP.HCM, 11/2007, tr.98-106.

9. Bùi Ngọc Oánh (2008), Tâm lí học giới tính và Giáo dục học giới tính, NXB GD.

10. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội.

11. Nguyễn Thơ Sinh (2008), Tâm lý xã hội học, NXB Lao động.

12. Nguyễn Thơ Sinh (2009), Sinh tâm lý học, NXB Lao động.

13. Hoàng Bá Thịnh (2005). Xã hội học về giới và phát triển. Trường ĐHKHXH&NV.

14. Dương Thiệu Tống (2006), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Xã hội.

15. Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Những điều cần biết về sự phát triển của trẻ thơ, NXB Giáo dục.

16. Lê Ngọc Văn (2006), Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa, NXB Giáo dục.

17. George D. Zgourides, Christie S. Zgourides (2007), Thực tế về hoạt động tình dục ở con người,

www.360-books.vn.

18. J.P.Masơlôva (1999), Giới tính tuổi hoa, NXB Hà Nội

19. Robert V.Kail và John C.Cavanaugh (2006), Nghiên cứu về sự phát triển con người, NXB Văn hóa

Thông tin.

20. V. Sakhizanhia (2006), Trò chuyện với bác sĩ về các vấn đề giới tính, NXB Văn hóa thông tin.

Tiếng Nga

21. Абраменкова ВВ (1987), Половая дифференциация и межличностные отношения в

детской группе //Вопросы психологии, 1987, N 5

22. Алешина ЮН , Волович АС (1991), Проблемы усвоения ролей мужчины и женщины

/Вопросы психологии, N 4

23. 1TМ. Е. Васильевнаб (2007), 1TПроблема полоролевой социализации дошкольников

24. O.И.Иванова, А.М.Щетинина (2006), Формирование позитивной идентичности у детей

старшего дошкольного возраста, Великий Новгород.

25. Каган В Е (1994), Половые аспекты индивидуальности //Психологические проолемы

индивидуальности. Вып. 2

(1990) Семейный контекст: удовлетворенность супружеством, 26. Кериг ПК

родительскийстиль и речевое поведение с детьми //Вопросы психологии, N.1

27. Кон И. С (1988), Введение в сексологию, М.: Медицина

28. 5TКислова Елена Евгеньевна5T (2005), Половое воспитание дошкольников

29. Клецина И.С (1998), Тендерная социализация. - СПб.: Издательство РГПУ им. А И. Герцена.

30. Роберт Крукс, Карла Баур (2002), Сексуальность, М.: Медицин.

31. Лодкина ТВ, Лепихина И.В (2000), Дифференциальный подход в воспитании и развитии

детей дошкольного возраста с учетом их половой принадлежности. Научно - методические

рекомендации. – Вологда.

32. И.Е.Павлович (2003), Дифференциальная психофизиология мужчины и женщины, СПб.:

Издательство РГПУ им. А И. Герцена.

33. 1TT.А. Репина (2004), 1TПроблема полоролевой социализации.

34. Uhttp://detsad-journal.narod.ruU; Суслова Эмма Константиновна (2006), Половое воспитание

детей дошкольного возраста.

PHỤ LỤC

DANH MỤC PHỤ LỤC

1. Phần khảo sát

1.1. Bảng hỏi: Khảo sát nhận dạng giới tính của trẻ 5-6 tuổi

1.2. Bảng tổng hợp khảo sát nhận dạng giới tính của trẻ 5-6 tuổi

1.3. Hình khảo sát nhận dạng vai trò giới của trẻ 5-6 tuổi

1.4. Bảng hỏi: Khảo sát nhận dạng vai trò giới của trẻ 5-6 tuổi

1.5. Phiếu khảo sát cha mẹ về việc phân công vai trò giới trong gia đình

2. Phần thống kê

2.1. Bảng 1: So sánh theo giới tính của trẻ.

Câu hỏi: “Ai làm công việc này?”

2.2. Bảng 2: So sánh theo giới tính của trẻ.

Câu hỏi: “Tại sao cháu biết mình là trai hay gái?”

2.3. Bảng 3: So sánh theo giới tính của trẻ.

Câu hỏi: “Có thể trở thành giới khác khi thay đổi bề ngoài?”

2.4. Bảng 4:Thống kê tần số và tỉ lệ.

Câu hỏi: “Con gái và con trai khác nhau ở điểm nào?”

2.5. Bảng 5: So sánh theo giới tính của trẻ.

Câu hỏi: “Con gái và con trai khác nhau ở điểm nào?”

2.6. Bảng 6

Khảo sát tương quan giữa trả lời của cha mẹ và trẻ

Khảo sát trẻ - 1

BẢNG HỎI

KHẢO SÁT NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH CỦA TRẺ 5-6 TUỔI

Tên trẻ: Giới tính:

Năm sinh:

1. Cháu là con trai hay con gái? Tại sao cháu biết?

2. Khi nào lớn, cháu sẽ trở thành: A) Chú hay cô? B) Chồng hay vợ? C) Bố hay mẹ?

3. Cháu thích trở thành: A) Chú hay cô? B) Chồng hay vợ? C) Bố hay mẹ?

4. Có khi nào cháu nghĩ rằng, buổi tối cháu đi ngủ là con trai/gái và sáng mai khi thức dậy lại trở

thành con gái/con trai không?

5. Nếu được như vậy, thì cháu muốn trở thành con trai hay con gái?

6. Nếu cho cháu mặc quần áo hoặc để tóc kiểu con trai/con gái thì cháu có trở thành con trai/con

gái không?

7. Theo cháu, con trai và con gái khác nhau ở những điểm nào?

(Nếu trẻ không hiểu, hỏi: Con trai và con gái có giống nhau hoàn toàn không? Làm thế nào để biết được đó là con trai/con gái?)

Khảo sát trẻ 3 (3a)

Khảo sát trẻ - 3 (3b)

BẢNG HỎI

KHẢO SÁT NHẬN DẠNG VAI TRÒ GIỚI Ở TRẺ 5-6 TUỔI

Họ và tên trẻ: Giới tính: Tuổi:

Cho trẻ xem tranh và hỏi:

Hình ảnh

2.Theo cháu, ai thường hay làm việc này?

4. Khi nào lớn lên, cháu có làm việc này không?

3. Trong gia đình cháu, ai thường hay làm việc này?

Ba Mẹ

Có Không

Đàn ông

Phụ nữ

Cả hai

Cả hai

Không biết

1.Trong tranh, người này đang làm gì?

5.Vì sao cháu thích/không thích làm công việc đó?

Hình ảnh các công việc trong đời sống

1. Nấu ăn 2. Rửa chén bát 3. Giặt quần áo 4. Lau nhà 5. Ủi quần áo 6. Sửa vòi nước 7. Đóng bàn ghế 8. Sơn tường /quét vôi 9. May vá 10. Đi chợ 11. Cúng ông bà 12. Đi làm/công tác 13. Thăm hỏi ông bà

Hình ảnh các việc làm của cha mẹ với con cái

1. Cho con ăn 2. Chơi với con 3. Chăm sóc con ốm 4. Dạy con học bài 5. Chở con đi học

PHIẾU KHẢO SÁT

Để giúp chúng tôi tìm hiểu về việc phân công vai trò giữa cha và mẹ trong các hoạt động thiết yếu của

gia đình, xin anh/chị vui lòng cho biết một số vấn đề sau bằng cách đánh dấu X vào ô trống:

(Dành cho phụ huynh)

1.“Trong gia đình anh/chị, ai là người thường làm công việc nội trợ (mua thức ăn, nấu cơm, giặt giũ, dọn nhà)?

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

2. Ai là người quyết định các khoản chi tiêu hằng ngày?

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

3. Người chịu trách nhiệm trong việc quyết định các công việc quan trọng trong gia đình (mua sắm đồ dùng đắt tiền, xây dựng nhà cửa...) là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

4. Người chịu trách nhiệm sửa chữa đồ dùng trong nhà là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

5. Người chịu trách nhiệm trong công việc chăm sóc sức khỏe cho con cái là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

6. Người hay đưa con đi chơi, tham quan, dã ngoại là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

7. Người chịu trách nhiệm trong việc đưa đón con đi học là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

8. Người chịu trách nhiệm trong việc giáo dục con cái là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

9. Người chịu trách nhiệm trong việc thăm viếng họ hàng, ma chay, cưới hỏi... là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

10. Người chịu trách nhiệm trong việc thờ cúng tổ tiên là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

11. Người chịu trách nhiệm trong các công việc xã hội (phường, xã...) là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

12. Người chịu trách nhiệm trong công việc mang lại thu nhập cho gia đình là:

Chồng  Vợ  Cả hai 

Người khác 

Xin anh/chị vui lòng cho biết một số thông tin về bản thân:

- Giới tính: Nam  Nữ 

Tuổi:

- Trình độ học vấn: a. Trung cấp  b. Cao đẳng  c. Đại học  d. Sau đại học  e. Khác 

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của anh/chị!

THỐNG KÊ - BẢNG 1

So sánh theo giới tính của trẻ.

Câu hỏi: “Ai làm công việc này?”

CV1Ai * PhaiTinh

Crosstab

PhaiTinh

1

2

Total

CV 1Ai

Dan ong

Phu nu

Ca hai

Total

Count % within P haiTinh Count % within P haiTinh Count % within P haiTinh Count % within P haiTinh

1 1.7% 53 88.3% 6 10.0% 60 100.0%

0 .0% 25 86.2% 4 13.8% 29 100.0%

1 3.2% 28 90.3% 2 6.5% 31 100.0%

Chi-Square Te sts

df

As ymp. Si g. (2-sided)

Value

2 2

.412 .338

1.772a 2.169

1

.221

1.499

Pearson Chi-S quare Lik elihood Rati o Linear-by-Linear As soc iation N of V alid Cases

60

a.

4 c ells (66.7%) have ex pec ted c ount les s than 5. The mi nimum expected count is .48.

CV2Ai * PhaiTinh

Crosstab

PhaiTinh

1

2

Total

CV2Ai

Khong tra loi

Dan ong

Phu nu

Ca hai

Total

Count % within PhaiTinh Count % within PhaiTinh Count % within PhaiTinh Count % within PhaiTinh Count % within PhaiTinh

0 .0% 0 .0% 25 86.2% 4 13.8% 29 100.0%

1 3.2% 1 3.2% 26 83.9% 3 9.7% 31 100.0%

1 1.7% 1 1.7% 51 85.0% 7 11.7% 60 100.0%

Chi-Square Te sts

As ymp. Sig. (2-sided)

Value

df

3 3

.552 .412

2.098a 2.869

1

.231

1.433

Pearson Chi-S quare Lik elihood Ratio Linear-by-Linear As soc iation N of V alid Cases

60

a.

6 c ells (75.0%) have ex pec ted c ount les s than 5. The minimum expected count is .48.

CV3Ai * PhaiTinh

Crosstab

PhaiTinh

Total

1

2

CV 3Ai

Dan ong

Phu nu

Ca hai

Total

Count % within P haiTinh Count % within P haiTinh Count % within P haiTinh Count % within P haiTinh

1 3.2% 17 54.8% 13 41.9% 31 100.0%

1 1.7% 40 66.7% 19 31.7% 60 100.0%

0 .0% 23 79.3% 6 20.7% 29 100.0%

Chi-Square Te sts

Value

df

As ymp. Sig. (2-sided)

4.417a 4.864

2 2

.110 .088

1.966

1

.161

Pearson Chi-S quare Lik elihood Ratio Linear-by-Linear As soc iation N of V alid Cases

60

a.

2 c ells (33.3%) have ex pec ted c ount les s than 5. The minimum expected count is .48.

THỐNG KÊ - BẢNG 2

Giới tính của bé

Nam

Nữ

Tổng cộng

Tóc

Số lượng

11

16

27

Tại sao cháu biết?

% với Giới tính của bé

37.9%

51.6%

45.0%

1

2

3

Quần áo

Số lượng

% với Giới tính của bé

3.4%

6.5%

5.0%

1

0

1

Đồ chơi

Số lượng

1.7%

% với Giới tính của bé

3.4%

.0%

6

6

12

Cha, Mẹ nói

Số lượng

% với Giới tính của bé

20.7%

19.4%

20.0%

5

0

5

Tự cháu biết

Số lượng

% với Giới tính của bé

17.2%

.0%

8.3%

So sánh theo giới tính của trẻ. Câu hỏi: “Tại sao cháu biết mình là trai hay gái?”

Tóc, quần áo

Số lượng

1

6

7

% với Giới tính của bé

3.4%

19.4%

11.7%

Tóc, đồ chơi

Số lượng % với Giới tính của bé

2 6.9%

0 .0%

2 3.3%

Không biết

2

1

3

Số lượng % với Giới tính của bé

6.9%

3.2%

5.0%

29

31

60

Tổng cộng

Số lượng

với Giới tính của bé

100.0%

100.0%

100.0%

Value Asymp. Sig. (2-sided) df

a 13.112P 16.597

Pearson Chi-Square Likelihood Ratio 7 7 .069 .020

1.177 1 .278

60

Linear-by-Linear Association N of Valid Cases a. 12 cells (75.0%) have expected count less than 5. The minimum expected count is .48.

THỐNG KÊ - BẢNG 3

Giới tính của bé

Có thành giới khác khi thay đổi bề ngoài (so sánh theo giới tính của trẻ)

Số lượng

Tổng Nam Nữ

% với Giới tính của bé

Không 9 14 23

31.0% 45.2% 38.3%

Số lượng

% với Giới tính của bé

Có thành giới khác khi thay đổi bề ngoài? Có 20 17 37

Số lượng

69.0% 54.8% 61.7%

% với Giới tính của bé

Tổng 29 31 60

100.0% 100.0% 100.0%

Chi-Square Tests

Value df Asymp. Sig. (2-sided) Exact Sig. (2-sided) Exact Sig. (1-sided)

a 1.265P

Pearson Chi-Square 1 .261

.738 1 .390 Continuity b CorrectionP

Likelihood Ratio 1.273 1 .259

Fisher's Exact Test .298 .195

b N of Valid CasesP

1.244 1 .265 Linear-by- LinearAssociation

60

a. 0 cells (.0%) have expected count less than 5. The minimum expected count is 11.12.

b. Computed only for a 2x2 table

THỐNG KÊ - BẢNG 4

Điểm khác biệt giữa trai và gái

(Tần số, tỉ lệ)

Trả lời của trẻ Tần số Phần trăm

Bề ngoài (tóc, quần áo…) khác nhau 86.7 52

Trò chơi/đồ chơi khác nhau 8.3 5

Tính cách khác nhau 3.3 2

Bộ phận sinh dục khác nhau 1.7 1

Tổng 100.0 60

THỐNG KÊ - BẢNG 5

Điểm khác biệt giữa trai và gái

Gioi tinh cua be

Nam

Nu

Total

Count

26

26

52

Diem khac biet giua trai va gai.

Do ve be ngoai (toc, quan ao, ..)

% within Gioi tinh cua be

89.7% 83.9% 86.7%

Do tro choi, do choi

Count

1

4

5

(So sánh theo giới tính)

% within Gioi tinh cua be

3.4% 12.9%

8.3%

Do Tinh cach

Count

1

1

2

% within Gioi tinh cua be

3.4%

3.2%

3.3%

Bo phan sinh duc

Count

1

0

1

% within Gioi tinh cua be

3.4%

.0%

1.7%

Count

29

31

60

Total

% within Gioi tinh cua be

100.0% 100.0% 100.0%

a. 6 cells (75.0%) have expected count less than 5. The

minimum expected count is .48.

Chi-Square Tests

Value

df

Asymp. Sig. (2- sided)

Pearson Chi-Square

a 2.736P

3

.434

Likelihood Ratio

3.247

3

.355

.008

1

.929

Linear-by-Linear Association

N of Valid Cases

60

THỐNG KÊ - BẢNG 6

KHẢO SÁT TƯƠNG QUAN GIỮA TRẢ LỜI CỦA CHA MẸ VÀ TRẺ

Correlations

PH_Sua do dung GD

CC_S ua do dung GD

PH_Sua do dung GD

1

CC_S ua do dung GD

.388** .002 59 1

Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N

59 .388** .002 59

59

**.

Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

Correlations

PH_Cham soc

PH_ Cham soc 1

CC_ Cham soc

CC_ Cham soc .319* .014 59 1

Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N

59

59 .319* .014 59

*.

Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

Correlations

PH_Viec Noi tro

CC_Viec Noi tro

PH_Viec Noi tro

1

CC_Viec Noi tro

.260* .047 59 1

Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N

59 .260* .047 59

59

*.

Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

Correlations

CCCDong

PH_Viec Cong Dong

PH_Viec Cong Dong 1

CCCDong

.361** .005 59 1

Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N

59 .361** .005 59

59

**.

Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).