Luật hình sự và tố tụng hình
sự
Bởi:
Lê Thị Bích Ngọc
Tội phạm hành vi vi phạm pháp luật tính chất nghiêm trọng nhất do xâm phạm
đến an ninh chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn hội,sức khoẻ, tính mạng, danh dự
nhân phẩm của công dân. Điều này đã được quy định trong khái niệm về tội phạm tại
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam. Trong nội dung chương này chúng tôi đưa ra
những khái niệm bản được quy định trong Bộ luật hình sự như khái niệm về tội phạm,
phân loại tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm, trách nhiệm hình sự hệ thống hình
phạt. Chương này cũng giúp người học nắm được quá trình giải quyết một vụ án hình sự
như khởi tố vụ án hình sự, điều tra vụ án hình sự, xét xử thẩm, phúc thẩm, tái thẩm
giám đốc thẩm (nếu có) thi hành án. Tội phạm hình sự hiện nay đang ngày một
gia tăng với rất nhiều tội danh khác nhau vậy việc nghiên cứu luật hình sự tố tụng
hình sự cùng cần thiết, tuy nhiên do thời lượng hạn nên chúng tôi không thể đề
cập đến từng loại tội phạm được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự
chủ yếu chỉ dùng lại những khái niệm bản nhất giúp người học dễ dàng tiếp cận
với Bộ luật hình sự hơn.
Luật hình sự
Khái niệm luật hình sự
Khái niệm
Luật hình sự một ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nước cộng hoà hội chủ
nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, xác
định những hành vi nào nguy hiểm cho hội tội phạm, đồng thời quy định hình phạt
đối với các tội phạm.
Các quy phạm pháp luật hình sự được chia thành 2 loại:
- Loại quy phạm quy định những nguyên tắc, nhiệm vụ của luật hình sự, những vấn đề
chung về tội phạm hình phạt... Những quy phạm này tạo thành phần chung của luật
hình sự.
Luật hình sự và tố tụng hình sự
1/15
- Loại quy phạm quy định các tội phạm cụ thể, loại mức hình phạt với các loại tội
phạm. Những quy phạm này tạo thành phần các tội phạm của luật hình sự.
Đối tượng điều chỉnh
Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự những quan hệ hội phát sinh giữa nhà nước
với người phạm tộikhi người này thực hiện một hành vi nhà nước quy định tội
phạm.
Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự
Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự phương pháp quyền uy. Đó phương pháp
sử dụng quyền lực nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự giữa
nhà nước người phạm tội. Nhà nước quyền tối cao trong việc định đoạt số phận
của người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ gây ra.
Tội phạm
Khái niệm tội phạm trong luật hình sự
a. Định nghĩa:
Điều 8 BLHS Nước CHXHCNVN đã định nghĩa tội phạm như sau: Tội phạm hành vi
nguy hiểm cho hội được quy định trong trong bộ luật hình sự, do người năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế dộ kinh tế,
nền văn hoá, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi
ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa.
b. Những dấu hiệu cơ bản của tội phạm:
Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi được coi tội phạm được phân biệt với những
hành vi khác không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu sau:
+ Tính nguy hiểm cho xã hội.
Đây dấu hiệu bản, quan trọng nhất quyết định những dấu hiệu khác của tôi phạm.
một hành vi được quy định trong luật hình sự, phải chịu hình phạt bởi tính
nguy hiểm cho hội. Tính nguy hiểm cho hội thuộc tính khách quan, dấu hiệu
vật chất của tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho hội được coi tội phạm phải hành
vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ hội được luật hình
sự bảo vệ.
Luật hình sự và tố tụng hình sự
2/15
+ Tính có lỗi của tội phạm.
Lỗi thái độ tâm của một người đối với hành vi nguy hiểm cho hội của nh
đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.
Trong Bộ luật hình sự nước ta, tính lỗi được nêu trong định nghĩa về tội phạm
một dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho hội, để nhấn mạnh tầm quan trọng của
nguyên tắc lỗi. Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận sự buộc tội khách quan, tức
buộc tội một người không căn cứ vào lỗi của họ chỉ căn cứ vào hành vi khách quan
họ đã thực hiện.
+ Tính trái pháp luật hình sự
Hành vi nguy hiểm cho hội chỉ được coi tội phạm nếu được quy định trong luật
hình sự. Quy định của luật hình sự sở đảm bảo quyền tự do dân chủ của công
dân, thúc đẩy quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung luật phù hợp với sự thay đổi
tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội.
+ Tính phải chịu hình phạt
Tính phải chịu hình phạt nghĩa bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe
doạ phải chịu một hình phạt. Chỉ hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, tội càng
nghiêm trọng thì hình phạt áp dụng càng nghiêm khắc.
Bốn dấu hiệu của tội phạm nêu trên quan hệ chặt chẽ với nhau. Tính nguy hiểm cho
hội, tính lỗi những dấu hiệu biểu hiện mặt nội dung, còn tính trái pháp luật hình
sự, tính phải chịu hình phạt là những dấu hiệu biểu hiện mặt hình thức của tội phạm.
c. Phân loại tội phạm:
Tội phạm tuy chung các dấu hiệu nhưng những hành vi phạm tội cụ thể nh chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau.
Luật hình sự đã phân tội phạm thành:
- Tội phạm ít nghiệm trọng: Tội phạm ít nghiêm trọng tội phạm gây nguy hại không
lớn cho xã hội mức phạt cao nhất của khung hình phạt là đến 3 năm tù.
- Tội phạm nghiêm trọng: Tội phạm nghiêm trọng tội phạm gây nguy hại lớn cho
hội mức phạt cao nhất của khung hình phạt là đến 7 năm tù.
- Tội phạm rất nghiêm trọng: Tội phạm rất nghiêm trọng tội phạm gây nguy hại rất
lớn cho xã hội mức phạt cao nhất của khung hình phạt là đến 15 năm tù.
Luật hình sự và tố tụng hình sự
3/15
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tội phạm gây nguy
hại đặc biệt lớn cho hội mức phạt cao nhất của khung hình phạt từ 15 năm trở
lên, tù chung thân hoặc tử hình.
Cấu thành tội phạm
a. Khái niệm:
Cấu thành tội phạm tổng thể những dấu hiệu chung tính đặc trưng cho một loại tội
phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Cấu thành tội phạm khái niệm pháp
của một loại tội, là sự mô tả khái quát một loại tội phạm trong luật hình sự.
Cấu thành tội phạm sở pháp của trách nhiệm hình sự căn cứ pháp để
định tội danh.
b. Các yếu tố cấu thành tội phạm:
Mỗi một trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội đều những nội dung biểu hiện
riêng biệt ở bốn yếu tố là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.
- Khách thể của tội phạm quan hệ hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm gây
thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại mức độ đáng kể. Không sự xâm hại đến quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm
- Mặt khách quan của tội phạm những biểu hiện của tội phạm diễn ta hoặc tồn tại bên
ngoài thế giới khách quan.
Những biểu hiện (dấu hiệu) thuộc về khách quan của tội phạm gồm có: hành vi nguy
hiểm cho hội, hậu quả nguy hiểm cho hội. Thuộc về mặt khách quan của tội phạm
còn các dấu hiệu như: phương tiện, công cụ phạm tội, phương pháp, thủ đoạn, thời
gian, địa điểm thực hiện tội phạm
Trong các dấu hiệu nêu trên thì hành vi (khách quan) của tội phạm dấu hiệu bắt buộc,
không thể thiếu được của mọi loại tội phạm. Còn các dấu hiệu khác những dấu hiệu
bắt buộc nếu điều luật về tội phạm cụ thể có quy định.
- Chủ thể của tội phạm con người cụ thể đã thực hiệ hành vi nguy hiểm cho hội
được luật hình sự quy định tội phạm, năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi
theo quy định của luật hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự với những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, người từ đủ 16 tuổi trở
lên chịu TNHS với mọi loại tội phạm.
Ngoài các dấu hiệu trên, chủ thể của một số tội phạm đòi hỏi phải thêm một số dấu
hiệu đặc biệt khác, chỉ khi những dấu hiệu đó chủ thể mới thể thực hiện hành vi
Luật hình sự và tố tụng hình sự
4/15
phạm tội của những tội đó. Khoa học luật hình sự gọi chủ thể của những loại tội phạm
này là chủ thể đặc biệt, ví dụ: Quân nhân, người có chức vụ...
- Mặt chủ quan của tội phạm những diễn biến tâm bên trong của tội phạm, bao
gồm: lỗi, mục đích động phạm tội. Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng phải hành
vi được thực hiện một cách có lỗi (lỗi cố ý hoặc vô ý).
Một người sẽ bị coi lỗi khi thực hiện một hành vi gây thiệt hại cho hội nếu hành
vi đó kết quả của sự tự lựa chọn quyết định trong khi người ấy hoàn toàn đủ
điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn 1 cách xử sự khác phù hợp với xã hội.
Động mục đích phạm tội nội dung thuộc mặt chủ quan của một số loại tội nhất
định.
Tóm lại, theo luật hình sự Việt Nam bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều thể
thống nhất giữa mặt khách quan mặt chủ quan, đều hoạt động của con người cụ thể
xâm hại hoặc đe doạ xâm hại những quan hệ hội được luật hình sự bảo vệ. Sự thống
nhất của bốn yếu tố này hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị - hội
của tội phạm.
c. Phân loại cấu thành tội phạm:
Theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được cấu thành tội phạm phản ánh, cấu
thành tội phạm được phân thành:
+ Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm bao gồm các dấu hiệu bị tội.
+ Cấu thành tội phạm tăng nặng bao gồm những dấu hiệu định tội thêm dấu hiệu thể
hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng đáng kể so với cấu thành cơ bản.
+ Cấu thành tội phạm giảm nhẹ bao gồm những dấu hiệu định tội thêm dấu hiêụ thể
hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đáng kể so với cấu thành cơ bản.
Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan thể phân cấu thành
tội phạm thành hai loại:
+ Cấu thành tội phạm vật chất cấu thành tội phạm các dấu hiệu của mặt khách quan
hành vi nguy hiểm cho hội, hậu quả nguy hiểm cho hội mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi và hậu quả.
+ Cấu thành tội phạm hình thức cấu thành tội phạm mặt khách quan chỉ dấu
hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Luật hình sự và tố tụng hình sự
5/15