intTypePromotion=3

Một vài suy nghĩ về hai con chữ và cách đặt dấu giọng - Nguyễn Thị Hai

Chia sẻ: Thảo Lê91 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
28
lượt xem
2
download

Một vài suy nghĩ về hai con chữ và cách đặt dấu giọng - Nguyễn Thị Hai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một vài suy nghĩ về hai con chữ và cách đặt dấu giọng trình bày vấn đề về cách dùng hai con chữ y, i và cách đặt dấu giọng. Hai vấn đề trên liên quan rất mật thiết với cấu trúc âm tiết tiếng Việt, nên cần nắm sơ đồ cấu trúc âm tiết của tiếng Việt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một vài suy nghĩ về hai con chữ và cách đặt dấu giọng - Nguyễn Thị Hai

  1. Tạp chí VĂN HÓA VÀ DU LỊCH Nguyễn Thị Hai MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HAI CON CHỮ I - Y VÀ CÁCH ĐẶT DẤU GIỌNG NGUYỄN THỊ HAI* TÓM TẮT Bài viết trình bày hai vấn đề: cách dùng hai con chữ y, i và cách đặt dấu giọng. Hai vấn đề trên liên quan rất mật thiết với cấu trúc âm tiết tiếng Việt, nên cần nắm sơ đồ cấu trúc âm tiết của tiếng Việt. Chữ cái y và i được biểu hiện không chỉ cho nguyên âm /i/ mà còn cho cả nguyên âm đôi /i⁀e/ và bán nguyên âm cuối /-i ̭/. Chỉ khi biểu hiện cho nguyên âm đôi và bán nguyên âm cuối thì hai con chữ cái này được dùng theo qui tắc chặt chẽ. Liên quan đến hai con chữ i – y, người ta còn thấy một số bất hợp lý khi đặt dấu giọng ở âm tiết có nguyên âm đôi. Tác giả bài viết sẽ đề xuất một vài giải pháp cho phép tránh những lúng túng và bất hợp lý đã xác định trong bài. ABSTRACT Some thoughts about the two letters I – Y and how to accent This article focuses on two issues: how to use the two letters y, i and how to accent. These two issues are closely related to Vietnamese syllables, so it is necessary to grasp the paradigm of Vietnamese syllable structure . The two letters y and i are used not only for the vowel /i/ but also for the dipthong /i⁀e/ and the ending semivowel /-i ̭/. Only when they are used to express the dipthong or ending semivowel, are they used in a strict regulation. In relation to the two letters i – y, people find it illogical to accent in syllables with a diphthong. The author will suggest some solutions to avoid confusing and illogical issues identified in the article. Sinh viên cũng như các học viên ấy những thông tin cần thiết, và cho cả nước ngoài học tiếng Việt thường lúng những ai dạy tiếng Việt cho người nước túng trong việc sử dụng hai con chữ i - ngoài quan tâm đến vấn đề này. y và cách đặt dấu giọng. Chúng tôi hy Trước khi đi vào vấn đề chính ta vọng bài viết này có thể giúp cho các bạn cần biết sơ lược về cấu trúc âm tiết của tiếng Việt. Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc * PGS TS, Trường ĐH Sư phạm TP HCM hai bậc. Ở bước phân tích thứ nhất, phân 55
  2. Trường CĐ VH-NT & DL SG Số 1 năm 2011 tích toàn bộ âm tiết, ta được các bộ phận: âm giữa vần. Chính vì vậy, vị trí này của âm đầu âm tiết, vần, thanh điệu. Ở bước âm tiết có tên là âm đệm. Nó được chữ phân tích thứ hai, phân tích riêng phần viết biểu hiện bằng hai con chữ: u và o, vần, ta được các bộ phận: âm đầu vần, ví dụ trong các trường hợp sau: tuy, Huế, âm giữa vần, âm cuối vần. Như vậy âm luận, thuở; khỏe, hoa, xoăn; qui, quê, tiết tiếng Việt có 5 thành tố cấu tạo, các quân, qua, quăn,... Mặt khác, về lý thuyết thành tố có vị trí, chức năng, cấu tạo cần phải công nhận có thêm một âm vị hoàn toàn khác nhau; và tạo thành 5 tiểu đối lập nó, đó là âm vị /zero/, để bảo đảm hệ thống đối lập nhau. Về lý thuyết, mỗi tính chặt chẽ của hệ thống; chữ viết âm tiết luôn luôn có đầy đủ 5 thành tố không biểu hiện âm vị này. Âm giữa vần cấu tạo. Liên quan đến việc phân biệt tạo âm sắc chính của âm tiết, chính vì vậy giữa âm và chữ, cũng nên nhớ rằng ở mỗi thành tố này có tên là âm chính. Tất cả vị trí của một thành tố nào đó, mỗi lần đều có cấu tạo kiểu nguyên âm; có 13 cấu tạo một âm tiết, chỉ có một đơn vị và nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi. chỉ một đơn vị xuất hiện mà thôi. Trong đó có nguyên âm đơn /i/ được viết Âm đầu có chức năng tạo cách mở bằng 2 cách: i và y; và nguyên âm đôi đầu âm tiết, cho nên có tên là âm đầu; tất / i⁀e / được viết bằng 4 cách: iê , yê; ia, cả đều có cấu tạo kiểu phụ âm và là phụ ya. Âm cuối vần cũng là âm cuối âm tiết, âm mở, tức có giai đoạn thoát hơi ra; có nhiệm vụ tạo các cách kết thúc âm tiết, trong đó có âm tắc – thanh hầu – vô cho nên thành tố này có tên là âm cuối. thanh / ʔ / không được chữ viết biểu hiện. Về cấu tạo, nó có các khả năng sau: các Âm đầu vần ở ngay sau âm đầu, có chức bán nguyên âm và các phụ âm; chúng đều năng làm biến đổi âm sắc của âm tiết. Về là các âm thắt, tức không có giai đoạn cấu tạo, trên thực tế chỉ có một âm vị là buông hơi ra. Về lý thuyết, cũng để bảo bán nguyên âm có độ mở hẹp- dòng sau đảm tính chặt chẽ của hệ thống, ta cần (lưỡi lui vào trong) - tròn môi, ký hiệu: công nhận thêm một âm vị /zero/ trong hệ thống âm cuối. Có hai bán nguyên âm, /-ṷ-/ ; làm trầm hóa âm tiết. Bán nguyên thứ nhất là bán nguyên âm có độ mở hẹp âm là âm được phát ra rất nhanh, nên các – dòng trước (lưỡi duỗi thẳng) - không đặc trưng cấu tạo đều bị nhòe, nó là âm tròn môi /-i̭ /; được chữ viết biểu hiện lướt. Thực ra, tính chất tròn môi nêu trên có thể được đẩy về cho phụ âm khởi đầu bằng hai con chữ cái: i và y, ví dụ trong âm tiết, cũng có thể đẩy về cho âm giữa các trường hợp sau: mũi, tôi, đợi, mai, vần (nguyên âm). Song để tiết kiệm, tai,...; đây, tay, ngày , may,.. Thứ hai là người ta chọn giải pháp đề xuất ra một bán nguyên âm hẹp - dòng sau - tròn môi; thành tố của âm tiết, chen giữa âm đầu và chữ viết cũng biểu hiện nó bằng hai con 56
  3. Tạp chí VĂN HÓA VÀ DU LỊCH Nguyễn Thị Hai chữ cái: u và o, ví dụ: đều, điều, hươu, dùng để biểu hiện cho âm vị nguyên âm mau, sau, đầu, đau, …; leo, trèo, sao, đơn /i/, âm vị nguyên âm đôi /i⁀e/ và cho đao,... Thành tố thứ năm là thanh điệu, cả âm vị bán nguyên âm cuối /- i̭ /. vị trí của nó là bao trùm toàn bộ âm tiết. Nó có chức năng tạo các kiểu âm sắc của Để tiện theo dõi, ta có thể tóm tắt âm tiết, và là những âm phi đoạn tính, những điều nêu trên vào sơ đồ cấu tạo âm điệu vị. tiết sau đây: 1. Như vậy con chữ i và y được THANH ĐIỆU ÂM ĐẦU VẦN ÂM ĐỆM ÂM CHÍNH ÂM CUỐI (nguyên âm) /i/ /-i̭ / /zero/ (i / y ); (i / y) ; /-ṷ-/ ví dụ : Ví dụ : (u / o) ; - Huy, Thuỷ,…; - gửi,người,đợi, - quỹ, kỷ niệm, tai,mỗi,hỏi, - quí,chị, kí lô, …) nguôi,... ; ví dụ : - Huy, Thủy... ; - đậy, tay, ... - Quí, quên, quyết ; /i⁀e/ - hoa, khoe,...) (iê,yê;ia, ya); Ví dụ: - tiếng Việt, Nguyễn, …; - kia, mía,…, khuya. 1.1. Đối với nguyên âm đôi /i⁀e/, trong kết hợp hai con chữ cái biểu hiện chữ viết biểu hiện nó theo qui tắc khá nguyên âm đôi /i⁀e/ (iê/ yê và ia/ ya). chặt chẽ, chỉ có một vài trường hợp ngoại lệ. Chữ cái i hoặc y đứng ở vị trí đầu 1.1.1. Khi không có âm đệm /-ṷ-/ đứng trước nó thì ta dùng chữ cái i. Cụ thể như sau: 57
  4. Trường CĐ VH-NT & DL SG Số 1 năm 2011 a. Kết hợp chữ iê biểu hiện dạng dụ: khuya. Cách viết này của nguyên âm tiêu thể của nguyên âm đôi /i⁀e/, tức khi đôi /i⁀e/ chỉ xuất hiện trong một âm tiết sau nó có bán nguyên âm /-ṷ / hoặc các thuần Việt, đó là khuya. Cho nên chỉ cần phụ âm cuối được viết bằng các con chữ nhớ từ này là được. cái : -m, -p, -t, -c, -ng; ví dụ: hiểu, niệm, 1.2. Đối với bán nguyên âm cuối điện, nghiêng, tiếp, biết, việc, ... /-i̭/ , chữ viết biểu hiện nó theo qui tắc rất Ở đây có trường hợp ngoại lệ. Đó là chặt chẽ. Có hai trường hợp như sau: khi trước /i⁀e/ có phụ âm đầu tắc- thanh a. Khi âm cuối /-i̭/ đứng sau các hầu-vô thanh /ʔ- /, tức trong cấu trúc âm nguyên âm dài (các nguyên âm đôi – ươ/ tiết / ʔ i⁀e - / thì đối với chữ cái đầu, ta uô - ) và các nguyên âm trung hòa (ư, ơ, lại phải viết là y. Đó là các trường hợp a, u, ô, o), thì nó được viết bằng con chữ sau đây: yên, yến ; yêu, yểu, yếu, yêng, cái i, ví dụ: tươi, mười, buổi, chuỗi, ngửi, yểng, yết ; và chắc chắn chỉ có 8 âm tiết gợi, mãi, lui, tôi, nói,... này mà thôi, cho nên dễ nhớ. b. Khi âm cuối /-i̭/ đứng sau hai b. Kết hợp chữ ia biểu hiện dạng nguyên âm ngắn: /ǎ/ và /ɤ̌/ thì nó được biến thể của nguyên âm đôi /i⁀e/, tức khi viết bằng con chữ y. Âm vị /ɤ̌/ được chữ sau nó có âm cuối /zero/; ví dụ: chia, lìa, viết biểu hiện bằng con chữ â, ví dụ: đây, tỉa, nghĩa, mía, bịa, ... bầy, đẩy, lẫy, cấy, vậy,... Còn âm vị /ǎ/, 1.1.2. Khi trước /i⁀e/, có âm đệm lúc này được viết bằng con chữ a, ví dụ: /-ṷ-/ (lúc này /-ṷ-/được viết bằng con may, ngày, chảy, hãy, khoáy, chạy,... Để chữ cái u ), thì ta dùng con chữ cái y. Cụ nhớ cách viết này của âm cuối /-i̭/, chúng thể như sau: ta chỉ cần nhớ hai vần -ây ; -ay (khi thêm a. Kết hợp chữ cái yê biểu hiện phụ âm đầu và thanh điệu, ta sẽ được các âm tiết cụ thể). dạng tiêu thể của nguyên âm đôi / i⁀e/, ví dụ: duyên, duyệt, quyết, truyện, tuyến, 1.3. Trong sử dụng, cách viết khuyết, huyễn, tuyển, huyền, ... Cách viết nguyên âm /i/ có phức tạp hơn hai trường này chỉ có ở hai vần: -uyên, -uyêt (nếu hợp nêu trên. thêm phụ âm đầu và thanh điệu vào, ta sẽ 1.3.1. Trước tiên có thể tìm thấy được các âm tiết cụ thể). một qui tắc sau đây, khi trước nguyên b. Kết hợp chữ cái ya biểu hiện cho âm /i/ có âm đệm /-ṷ-/ thì /i/ phải dạng biến thể của nguyên âm đôi /i⁀e/, ví 58
  5. Tạp chí VĂN HÓA VÀ DU LỊCH Nguyễn Thị Hai được viết bằng con chữ cái y, ví dụ: suỵt, vừa nêu trên, khi trước nguyên âm /i/ có khuỷu, khuỳnh, nguýt, huynh, huỳnh, ... âm đệm /zero/, ta có thể tìm thấy những Quy tắc là vậy, song hiện nay biểu hiện lẻ tẻ như sau: người sử dụng không tuân thủ chặt chẽ. 1.3.2.1.- Khi sau /i/ có các phụ âm Trong trường hợp có phụ âm đầu là /k/, hoặc bán nguyên âm cuối /-ṷ/ (tức cấu họ thường viết cả hai cách: i, y ; ngay cả trúc âm tiết [phụ âm + /zero/ + i + phụ từ điển cũng cho phép viết hai cách, ví âm hoặc bán nguyên âm /- ṷ / ) thì bao dụ: qui, quỉ, quĩ, quí, quị, quít, quịt,... = quy quỳ, quỷ, quỹ, quỵ, quỵt,... (xem Từ giờ nó cũng được viết bằng con chữ i. điển Tiếng Việt – 1992, Trung tâm từ 1.3.2.2.- Khi sau /i/ có âm cuối điển ngôn ngữ, Hà Nội – 1992, tr. 799). /zero/ (tức cấu trúc âm tiết [phụ âm + Nhưng với các từ: quỳnh, quýnh, quỷnh /zero/ + i + /zero/] ) thì tình hình khá thì chỉ có một cách viết. Có thể những từ phức tạp. Có thể thấy hai vấn đề sau đây: quy, quỳ,... được dùng nhiều hơn nên xu hướng muốn thay i cho y đã thắng thế a. Với cấu trúc âm tiết [phụ âm / ʔ khi viết những từ này. Thêm vào đó, ở / + /zero/ + i + /zero/ ](tức trên chữ viết góc độ nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu chỉ xuất hiện mỗi một con chữ cái i hoặc là sự hiện diện của con chữ cái q cũng đủ y ; ví dụ: ỷ lại, nằm ì, ...), chúng ta phải xác định rằng chữ cái u ngay sau nó là để dựa vào ngữ cảnh, ngữ nghĩa mới phân biệt được. Song ở góc độ ngữ âm học, ta ghi cho âm đệm /-ṷ-/, chứ không phải ghi có thể phối hợp với sự phân bố thanh cho nguyên âm /u/, cho dù /i/ có được điệu để phân biệt. Cụ thể như sau: viết là i hay y. 1/ Trong âm tiết mang thanh huyền Riêng trường hợp /i/ đứng trước âm và nặng (dấu huyền và dấu nặng), /i/ luôn cuối /zero/ (tức trong cấu trúc âm tiết luôn được viết bằng chữ cái i. [phụ âm + ṷ + i + zero]) thì bắt buộc ta 2/ Trong âm tiết mang thanh điệu phải viết bằng con chữ y, ví dụ: nguy, sắc (dấu sắc), /i/ được ghi bằng chữ cái hủy, thúy, ủy...; vì nếu không sẽ nhầm y, khi làm vỏ âm thanh của các từ chỉ sang cấu trúc âm tiết [phụ âm + u + i ̭ ]. khái niệm hoạt động trí tuệ (ví dụ : ý chí, Ở cấu trúc sau chữ cái u biểu hiện ý nguyện,...) và chỉ loài thực vật (chỉ có nguyên âm / u / chứ không phải ghi cho một từ: ý dĩ). Ngoài ra nó được ghi bằng âm đệm, còn chữ cái i lại ghi cho bán con chữ i khi làm vỏ âm thanh của từ mô nguyên âm cuối /- i ̭ / ở dạng tiêu thể chứ phỏng tiếng người nói, kêu to: í ới, í a í không phải ghi cho nguyên âm. ới. 1.3.2.- Ngoài những trường hợp 59
  6. Trường CĐ VH-NT & DL SG Số 1 năm 2011 3/ Trong âm tiết mang thanh điệu còn lại ta dùng kết hợp con chữ iê để ngang (tức không dấu), /i/ được viết bằng biểu thị nguyên âm đôi /i⁀e/. con chữ « i » chỉ khi là vỏ âm thanh của từ gọi tên con chữ cái này. Còn trong tất 2/ Để biểu thị cho bán nguyên âm cả các trường hợp còn lại nó được viết cuối /- i ̭/, nếu dùng con chữ cái y, thì chỉ bằng con chữ y; lúc bấy giờ nó là vỏ âm ở trong hai vần: - ây, -ay ; trong tất cả thanh của các từ Hán - Việt, ví dụ: y những vần còn lại ta dùng con chữ i (cụ khoa, y phục, y tế, ... thể: -ưi, -ơi, -ai, -ui, -ôi, -oi, - ươi, -uôi). 4/ trong âm tiết mang thanh hỏi 3/ Để biểu thị nguyên âm đơn /i/, (dấu hỏi), /i/ được ghi bằng con chữ y nếu dùng con chữ y thì chỉ trong các chỉ là vỏ âm thanh của hai từ: ỷ (ngai trường hợp sau: thờ); ỷ (ỷ thế của ai/ cái gì; ỷ lại...). Ngoài a) vần –uy (tức trước nó có các chữ ra / i / luôn luôn được ghi bằng con chữ cái phụ âm, sau nó thì không). i, ví dụ: lợn ỉ, ỉ eo, ... b) kết hợp con chữ -uy- (nghĩa là b. Trong cấu trúc âm tiết [phụ âm trước và sau nó có các chữ cái khác, ví + /zero/ + i + /zero] mà phụ âm đầu là dụ: khuỷu, huỳnh,...) . các âm được viết bằng các con chữ: t, k, l, m, h thì /i/ có thể được viết bằng hai c) vần y: cách: i và y; ví dụ : ti – ty, kỉ - kỷ, hi – ‫٭‬/ với không dấu giọng, trừ tên của hy, ... Song không phải lúc nào cũng tùy chữ cái « i »; ý được; ví dụ trong trường hợp giờ tị, giờ ‫٭‬/ với dấu sắc, trừ các từ tượng tí ta có thể viết thành giờ tỵ, giờ tý, nhưng thanh chỉ giọng của người. tị nạnh, tí tẹo thì chỉ có một cách viết. Đây là những trường hợp đang biến động ‫٭‬/ với dấu hỏi, chỉ có các từ: ỷ (ngai của xu hướng xóa chữ cái y. thờ - ít dùng); ỷ (cậy vào ai, vào điều gì), ỷ lại (dùng như ỷ). Đến đây ta có thể đi đến những ghi nhớ sau : d) Trong tất cả những trường hợp còn lại, chủ yếu là dùng con chữ cái i. 1/ Để biểu thị cho nguyên âm đôi Trừ trường hợp đối với vần -i, nếu trước /i⁀e/, nếu dùng kết hợp con chữ yê thì chỉ nó có các con chữ cái: t, k, l, m, h, thì ở ở trong hai vần: -uyên, uyêt; còn nếu một số từ / i / được viết bằng cả hai cách: dùng kết hợp con chữ ya thì chỉ ở vần – i và y. uya; nếu sau nguyên âm /i⁀e/ không có 2. Vấn đề thứ hai là cách đặt dấu con chữ cái nào (tức âm cuối /zero/) thì ta giọng viết: -ia; trong tất cả những trường hợp 60
  7. Tạp chí VĂN HÓA VÀ DU LỊCH Nguyễn Thị Hai 2.1. Dấu giọng là cách biểu hiện hoặc /ε/ hoặc /a/ thì dấu giọng lại được thanh điệu của tiếng Việt trên hệ thống đặt trên chữ cái của âm đệm /-ṷ-/ , ví dụ: chữ viết. Thanh ngang không được chữ tùy, thủy, lũy, thúy, tụy, ... ; hòe, xòe, viết biểu hiện. Do vậy tiếng Việt, về lý khỏe, tóe, khóe, họe,...; lòa, thỏa, xóa, thuyết có 6 thanh, nhưng chỉ có 5 dấu họa,... Ngoài các trường hợp vừa nêu, ở giọng. Qui tắc chung là dấu giọng được các trường hợp còn lại, việc đặt dấu đặt trên con chữ cái của chính âm-nguyên giọng đều theo đúng qui tắc, ví dụ: thuế, âm. thuở, huề,... 2.2. Trong cấu trúc âm tiết có 2.3. Trong cấu trúc âm tiết có nguyên âm đơn, tình hình đơn giản hơn. nguyên âm đôi thì tình hình hơi khác. 2.2.1. Ở âm tiết không có âm đệm 2.3.1. Ở âm tiết có âm cuối là âm vị /-ṷ-/ thì điều này rất đơn giản, dấu giọng /zero/ thì dấu giọng phải đặt ngay trên được đặt đúng ngay trên chữ cái của con chữ cái thứ nhất của kết hợp chữ nguyên âm, ví dụ: ừ, ối, đều, thì, phải, cái biểu thị nguyên âm đôi, ví dụ: kìa, thấy, chú, bảo, thợ. cửa, giữa, lúa, lụa,... 2.2.2. Ở âm tiết có âm đệm /-ṷ-/ và 2.3.2. Trong những trường hợp còn sau nguyên âm có âm cuối là bán nguyên lại, tức ở các âm tiết có âm cuối là bán âm hoặc phụ âm thì qui tắc trên được nguyên âm hoặc phụ âm, thì dấu giọng tuân thủ nghiêm ngặt, ví dụ: ngoèo, luận, được đặt ngay trên con chữ cái thứ hai huỳnh, hoàng, ngoắt, , hoặc, ... của kết hợp chữ cái biểu thị nguyên âm đôi, ví dụ: nhiều, biểu, viễn, việc, thuyền, 2.2.3. Còn ở âm tiết có âm đệm tuyển, nguyễn, khuyết, duyệt,... ; đường, /-ṷ-/ và sau nguyên âm có âm cuối là âm thưởng, dưỡng, cước, được, ... ; buồm, vị /zero/ thì việc đặt dấu giọng hơi phức tuổi, chuỗi, thuốc, cuộn, ... tạp, có một vài trường hợp vi phạm qui Trở lại mô hình cấu trúc của âm tiết tắc. Nếu trong cấu trúc có nguyên âm /i/ tiếng Việt và qui định vị trí như sau : THANH ĐIỆU VẦN ÂM ĐẦU ÂM ĐỆM ÂM CHÍNH – NGUYÊN ÂM – ÂM CUỐI (Nguyên âm đơn/ nguyên âm đôi) 1 2 3 4 Chữ viết biểu hiện cấu trúc này gần của phụ âm đầu âm tiết, trừ âm vị /ʔ/; vị đúng các vị trí như vậy: vị trí 1 là chữ cái trí thứ 2 là chữ cái của âm đệm /-ṷ-/ (nếu 61
  8. Trường CĐ VH-NT & DL SG Số 1 năm 2011 có ); vị trí thứ 3 là chữ cái của nguyên âm 3a biểu thị cho con chữ thứ nhất của đơn hoặc nguyên âm đôi; vị trí thứ 4 là nguyên âm đôi; 3b biểu thị cho con chữ chữ cái của âm cuối, trừ âm vị /zero/. Chỉ thứ hai của nguyên âm đôi; dấu gạch có vị trí của dấu giọng (biểu thị thanh chân biểu thị cho dấu giọng. Từ đó chúng điệu) là nằm trên nguyên âm (vị trí số 3). ta có mô hình đặt dấu giọng như sau: Trên cơ sở này, chúng tôi qui định thêm: Số thứ tự Mô hình Ví dụ 1 0 0 3 0 ố , á, ả, ừ, ì, ỉ, í, ù, ủ, ú, ụ, ... 2 0 0 3 4 ái, ải, áo, ẩu, ấm, ức, óc, ốc, úc, út, úp, úng, ... 3 0 2 3 4 Oái, oán, uất, oằn, oạch, oàm, oạp, uẩn, ... 4 1 0 3 0 thì, nghỉ, nghĩ, trí, chị, ... 5 1 0 3 4 chào, phải, hãy, cất, cách, cũng, búp, chụm, ... 6 1 2 3 0; thuở, thuế, ... 1 2 3 0 hòa, thỏa, xõa, khóa, họa, ... 7 1 2 3 4 Thuần, hoàng, khoảng, loãng, thoáng, xoét, xoẹt,... 8 1 0 3a 0 lìa, chỉa, mía, khứa, sửa, sữa, ngựa, của, múa,... 9 1 0 3b 4 liền, biển, miễn, trường, cưỡng, hướng, buổi, xuống, chiều, hiểu, muốn,... 10 1 2 3b 4 luyến, thuyền, tuyết, khuyến, khuyển, tuyệt ,... 3. Trên cơ sở những điều vừa khảo Nếu không có sự can thiệp của các nhà sát, chúng tôi có một vài băn khoăn, chuyên môn thì có thể lại nảy sinh những mong muốn mọi người cùng suy nghĩ. bất hợp lí khác. 3.1. Mong muốn xóa bỏ những bất Suy cho cùng, vấn đề này có liên hợp lí trong chữ viết đã có từ rất lâu, kể quan đến việc xem xét lại cách viết âm từ tác phẩm Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ đệm /-ṷ-/ và bán nguyên âm cuối /-ṷ/. (1960 – Hà Nội), nhưng cho đến nay vẫn Tác phẩm nêu trên có đưa ra giải pháp không hề có tiến triển gì về mặt pháp chế. chọn con chữ w thay thế cho hai con chữ Quả thật tính bảo thủ của ngôn ngữ cũng u và o biểu hiện hai âm vị nêu trên. Giải như của văn tự khá cao. Bên cạnh đó, pháp này hay vì một mặt tránh việc nhầm không rõ từ lúc nào vẫn có một làn sóng lẫn giữa cách viết hai âm vị trên với các âm ĩ muốn xóa bỏ đi một con chữ, đó là chữ cái ghi nguyên âm /u/ và nguyên âm con chữ y. Hình như làn sóng này ngày / Ɔ /, mặt khác, rất tiết kiệm. Nếu chấp một mạnh dần lên. Đúng là cũng nên bỏ nó đi, xét cả về mặt kinh tế lẫn tâm lí. nhận giải pháp này thì điều đầu tiên, việc xóa bỏ hẳn con chữ y, sẽ được thực hiện 62
  9. Tạp chí VĂN HÓA VÀ DU LỊCH Nguyễn Thị Hai dễ dàng. Thế nhưng, thật đáng tiếc, nó au. Nguyên âm trong vần –au cũng là /ă/, không đủ sức mạnh để lay chuyển thói cho nên ta cũng viết là: -ău. Đối với cách quen. viết nguyên âm /i/ , ta chỉ nên giữ lại Có lẽ trong lúc này, ta nên thực chữ cái y trong hai trường hợp: -uy và – hiện việc cải tiến từng bước. Nên chăng uy-. Còn trong tất cả những trường hợp xem xét lại cách viết ba âm vị: nguyên còn lại nên viết bằng con chữ cái i. Chúng ta tạm thời giữ lại cách viết –uy âm /i/, nguyên âm đôi /i⁀e/, bán nguyên bởi vì, như trên đã nói, nó rất dễ nhầm âm cuối /-i ̭/. Trước mắt ta chưa thể xóa với cấu trúc âm tiết có nguyên âm /u/ và hẳn chữ y, thì cũng nên hạn chế sự xuất bán nguyên âm cuối /-i ̭/, cho dù vị trí của hiện của nó để người tiếp nhận đỡ vất vả, dấu giọng có khác nhau đi chăng nữa. Mà việc in ấn cũng đỡ tốn kém. đã giữ lại cách viết –uy thì tất yếu phải Chúng tôi trộm nghĩ, có lẽ nên xóa giữ lại cách viết –uy- để bảo đảm tính hẳn hai cách viết : -yê và –ya của nguyên chặt chẽ của qui tắc. âm đôi /i⁀e/. Vì hai cách viết này chỉ 3.2.Về cách đặt dấu giọng, ta cũng hạn chế trong ba vần: -uyên, -uyêt và – nên xóa đi mô hình 1 2 3 0, tức đối với uya. Có thể lúc đầu ta thấy tính thẩm mĩ trường hợp cấu trúc âm tiết [phụ âm + ṷ của nó thấp, song dần dần sẽ quen. Đối + nguyên âm (/ε/, /a/, /ă/) + zero], ví dụ: với âm cuối /-i ̭/ ta cũng nên bỏ hẳn cách xóa, nhòa, hỏa, xõa, họa, ... Đối với các viết y trong hai vần: -ây, -ay. Trong hai âm tiết này ta cũng nên đặt dấu giọng trường hợp này, chữ cái â đã thể hiện trên nguyên âm, như một vài chương đúng nguyên âm ngắn; chỉ có chữ cái a trình máy tính đã cài đặt. thể hiện sai âm. Vậy nên ta cần sửa lại là ă. Cụ thể hai vần trên sẽ viết thành: -âi và -ăi . Liên quan với vần –ay là vần – TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đoàn Thiện Thuật, Ngữ âm học tiếng Việt, Nxb ĐH và GD CN. 2. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến,1991, Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb ĐH và GD CN. H. 63

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản