ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 389
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH ÁP DỤNG KẾ TOÁN XANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
RESEARCH OF THE FACTORS AFFECTING INTENTION TO APPLY GREEN ACCOUNTING IN LISTED ENTERPRISE IN VIETNAM Nguyễn Thị Thu Huyền1,*, Nguyễn Hương Giang1, Trương Hải Linh1, Nguyễn Diệu Hiểu Ly1, Bùi Thị Huyền Trang1, Nguyễn Thị Thu Hương2 TÓM TẮT Phát triển bền vững đang là xu hướng chung của thế giới hiệ
n nay, trong đó
kế toán xanh (KTX) được coi là một trong những công cụ quan trọng, liên quan đế
n
các khía cạnh ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên, đối với nền kinh tế, hướng t
i
phát triển nền kinh tế xanh. Việc áp dụng KTX còn góp phần cung cấ
p thông tin
chính xác, minh bạch, đầy đủ trách nhiệm, cải thiện hình ảnh của các
doanh
nghiệp (DN) trong mắt các quan quản lý, cổ đông,…. Hơn hết, KTX c
ũng cho
phép tính toán lợi ích quốc gia, bằng cách quan tâm đến thiệt hạ
i tài nguyên
kiệt quệ đối với tài nguyên tự nhiên. Do đó, KTX là công cụ quan trọng và cần thiế
cho cuộc đua phát triển hội hiện đại, phát triển, công nghiệp hóa, nhưng vẫ
n
phải thân thiện với môi trường. Đó cũng vấn đề nóng các nhà chứ
c trách
cũng như các chủ doanh nghiệp đau đầu. Từ khóa: Nghn cứu khoa học, kế toán xanh, doanh nghiệp niêm yết, Việt Nam.
ABSTRACT
Sustainable development is a common trend in the world today, in which
green accounting is considered as one of the important tools, related to aspects
affecting the natural environment and the
economy. towards the development of
a green economy. The application of the dormitory also contributes to providing
accurate, transparent, complete and responsible information, improving the
image of enterprises in the eyes of management agencies, sharehol
ders,.... On top
of that, green accounting also allows the calculation of national benefits, by
taking into account resource damage and exhaustion to natural resources.
Therefore, the dormitory is an important and necessary tool for the race of modern
soci
al development, development and industrialization, but still must be
environmentally friendly. It is also a hot issue that the authorities as well as
business owners have a headache. Keywords: Scientific research, green accounting, listed enterprises, Vietnam. 1Lớp kế toán 2 - K15, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: thanhhien12102k2@gmail.com CHỮ VIẾT TẮT KTX Kế toán xanh DN Doanh nghiệp 1. GIỚI THIỆU Trong nền kinh tế thị trường nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới đặc biệt là tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực kế toán - kiểm toán nói riêng, việc công bố các thông tin tài chính luôn giữ vai tquan trọng để ra các quyết định kinh doanh cho doanh nghiệp ngoài ra còn có vai trò vô cùng quan trọng đối với nhà đầu tư mà còn đối với quan quản nhà nước. Tính minh bạch, trung thực của thông tin tài chính đóng vai trò to lớn trong việc ổn định thị trường chứng khoán ổn định hội việc công khai hóa thông tin kế toán của các doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết để một doanh nghiệp thể nâng cao khả năng cạnh tranh phát triển bền vững hoạt động kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp muốn tồn tại phát triển cần phải thu hút được nguồn vốn từ các nhà đầu trong ngoài nước. Để làm được điều đó, các doanh nghiệp phải y dựng hệ thống thông tin kế toán báo cáo tài chính minh bạch, cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của nhà đầu tư, bên cạnh đó cần phải quan tâm hơn các thông tin phi tài chính, đặc biệt thông tin về môi trường hiện nay. Về các quy định của pháp luật, Việt Nam đã ban hành Luật i trường lần đầu vào năm 1993 Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi vào m 2005. Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 quy định về đối tượng chịu thuế; căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường, Bộ Tài chính ban hành Thông số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP, Thông số 159/2012/TT-BTC ngày 28/09/2012, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC… Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam chưa ban hành chế độ kế toán liên quan đến việc áp dụng kế toán xanh trong doanh nghiệp. Các chế độ kế toán hiện hành chưa có các văn bản hướng dẫn doanh nghiệp trong việc bóc tách theo
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 13.2023
390
KINH T
dõi chi phí sản xuất kinh doanh, chưa c i khoản cần thiết để hạch toán các khoản chi phí môi trường… Hiện chưa nhiều cơ chế, chính sách của Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và áp dụng kế toán xanh. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, triển khai áp dụng kế toán xanh vào Việt Nam vẫn còn nhiều mới mẻ. Số lượng công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề kế toán xanh cũng chưa nhiều. Hầu hết nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến những vấn đề liên quan đến kế toán xanh. Một số doanh nghiệp đã quan tâm đến vấn đề kế toán xanh nhưng n gặp nhiều khó khăn trong việc áp d 2. PƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp chính: - Phương pháp nghiên cứu định tính: Nhóm nghiên cứu thu thập tài liệu bao gồm: sách, các bài báo, luận văn thạc sĩ, tiến và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước. - Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sau khi thu thập dữ liệu qua khảo sát, nhóm nghiên cứu đã phân tích thống tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo, kiểm định mô hình hồi quy. 2.2. Mô hình nghiên cứu Hình 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam (Theo Phạm Thị Liên, 2021) 6 thang đo được sử trọng trong nghiên cứu này, bao gồm: 1. Hệ thống pháp luật; 2. Kinh tế; 3. Tính cạnh tranh; 4. Hệ thống đào tạo kế toán; 5. Nhà quản lý; 6. Ý định áp dụng kế toán xanh. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Bảng 1. Thời gian công tác của đối ượng khảo sát Thời gian công tác Số lượng Tỷ lệ Dưới 5 năm 128 64,0 Từ 5 năm đến 10 năm 46 23,0 Trên 10 năm 26 13,0 Tổng 200 100,0 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 2. Thống kê thông tin về đối tượng và loại hình doanh nghiệp khảo sát Thống kê thông tin khảo sát Số lượng Tỷ lệ (%) 1. Đối tượng khảo sát 200 100 Thành viên Ban giám đốc(CEO/CFO) 25 12,5 Kiểm soát nội bộ/ Ban kiểm soát/ Kiểm soát tài chính 14 7,0 Kế toán trưởng/ Phó phòng kế toán 18 9,0 Kiểm toán viên tổng hợp 23 11,5 Kiểm toán viên 120 60,0 2. Doanh nghiệp khảo sát 200 100 Công ty cổ phần 128 64,0 Công ty TNHH 68 34,0 Doanh nghiệp tư nhân 4 2,0 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 3. Hệ số Cronbach’s Alpha- Reliability Statistics Reliability Statistics Nhân tố Cronbach's Alpha N of Items Pháp luật 0,876 6 Kinh tế 0,747 3 Tính cạnh tranh 0,820 4 Hệ thống đào tạo kế toán 0,753 2 Nhà quản lý 0,855 5 Ý định áp dụng kế toán xanh 0,748 3 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 4. Tổng hợp kết quả độ tin cậy của thang đo STT Thang đo Biến đặc trưng Hệ số tương quan Cronback’s Alpha 1 Hệ thống pháp luật HTPL1 0,682 0,876 HTPL2 0,697 HTPL3 0,692 HTPL4 0,695 HTPL5 0,664 HTPL6 0,650 2 Kinh tế KT1 0,622 0,747 KT2 0,582 KT3 0,518 3 Tính cạnh tranh TCT1 0,632 0,820 TCT2 0,651 TCT3 0,642 TCT4 0,643 4 Hệ thống đào tạo kế toán HTDT1 0,605 0,753 HTDT2 0,605 5 Nhà quản lý NQL1 0,629 0,855 NQL2 0,608 NQL3 0,665 NQL4 0,722 NQL5 0,724 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26
ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 391
Bảng 5. Phân tích nhân tố khám phá- KMO and Bartlett’s Test KMO and Bartlett's Test Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. 0,925 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 1792,873 df 253 Sig. 0,000 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 6. Phân tích hồi quy tuyến tính- Model Summaryb Model Summaryb Model R R Square Adjusted R Square Std. Error of the Estimate Durbin-Watson 1 0,861a 0,741 0,734 0,35495 1,628 a. Predictors: (Constant), Nhà quản lý, Hệ thống pháp luật, Kinh tế, Tính cạnh tranh, Tính cạnh tranh b. Dependent Variable: Ý định áp dụng kế toán xanh Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 7. Phân tích hồi quy tuyến tính - Coefficiensta Coefficientsa Model
Unstandardized
Coefficients
Standardized
Coefficients
t Sig. Collinearity Statistics B Std. Error Beta Tolerance
VIF 1
(Constant)
0,018 0,178
0,104
0,918
Hệ thống pháp luật 0,226 0,058
0,229 3,896
0,000
0,387 1,115 Kinh tế 0,246 0,081
0,214 3,032
0,003
0,793 10,261
Tính cạnh tranh 0,386 0,072
0,353 5,368
0,000
0,309 10,012
Hệ thống đạo tạo kế toán 0,215 0,061
0,246 3,507
0,010
0,800 10,250
Nhà quản 0,404 0,081
0,378 4,975
0,000
0,231 10,222
a. Dependent Variable: Ý định áp dụng kế toán xanh Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Phương trình hồi quy chuẩn hóa: CLTT = 0,378 x NQL + 0,353 x TCT + 0,246 x HTDT + 0,229 x HTPL +0,214 x KT + e Bảng 8. Kiểm định Independent - samples T-test phân tích phương sai Anova ANOVA Ý định áp dụng kế toán xanh Sum of Squares df Mean Square F Sig. Between Groups 0,168 2 0,084 0,176 0,839 Within Groups 94,167 197 0,478 Total 94,336 199 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 9. Vị trí công tác - Anova ANOVA Ý định áp dụng kế toán xanh Sum of Squares df Mean Square F Sig. Between Groups 1,498 4 0,375 0,787 0,535 Within Groups 92,837 195 0,476 Total 94,336 199 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 Bảng 10. Thời gian công tác - Anova ANOVA Ý định áp dụng kế toán xanh Sum of Squares df Mean Square F Sig. Between Groups 0,180 2 0,090 0,189 0,828 Within Groups 94,155 197 0,478 Total 94,336 199 Nguồn: Tổng hợp kết quả phân tích từ SPSS 26 3.2. Kết quả Việc áp dụng kế toán xanh, đặc biệt là kế toán môi trường góp phần cung cấp thông tin chính xác, minh bạch, đầy đủ trách nhiệm, từ đó giúp cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt quan quản lý, cổ đông, nhà đầu các đối tác kinh doanh. Trên thực tế, việc áp dụng kế toán xanh thể hiện trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó làm hài lòng củng cố được niềm tin của các bên liên quan. Vận dụng KTX tại các doanh nghiệp là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc, phối hợp chặt chgiữa các ban ngành, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp. Nghiên cứu đã kế thừa c kết quả nghiên cứu trước đó trên thế giới tại Việt Nam về việc áp dụng KTX tại các
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 13.2023
392
KINH T
doanh nghiệp; kết hợp với các dữ liệu thu thập từ phần nghiên cứu tình huống để xác định các nhân tố c động đến việc áp dụng KTX phù hợp với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã tham khảo các sở thuyết để giải đưa ra giả thuyết cho các mối quan hệ này. Để kiểm định các kết qurút được từ nghiên cứu định tính, đề tài đã dùng phương pháp khảo sát trên số lượng mẫu thu thập đạt yêu cầu sử dụng 200 tại các doanh nghiệp niêm yết trụ sở chính tại Nội một số tỉnh, thành phố như Hà Nam, Hải Dương, Thanh Hóa, HCM…. Như vậy kết quhồi quy cho thấy, 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến thúc đẩy áp dụng KTX trong doanh nghiệp, đó là nhóm yếu tố thuộc Hệ thống pháp luật (HTPL), Kinh tế (KT), Tính cạnh tranh (TCT), Hệ thng đào tạo kế toán (DTKT), Nhà quản (NQL). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khẳng định 5 nhân tố niêm yết và quy mô doanh nghiệp niêm yết thực sự đóng vai trò biến điều tiết của hình, tác dụng làm thay đổi mức độ tác động của các nhân tố lên việc áp dụng KTX đến các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu cho ra một số kết luận như sau: 5 nhân tố ảnh hưởng ý định áp dụng kế toán xanh bao gồm: Hệ thống pháp luật (HTPL), Kinh tế (KT), nh cạnh tranh (TCT), Hệ thống đào tạo kế toán (DTKT), Nhà quản lý (NQL)... Trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến ý định áp dụng kế toán xanh là yếu tố nhà quản lý, sau đó là yếu tố tính cạnh tranh, hệ thống đào tạo, thấp hơn hệ thống pháp luật, kinh tế. Với những kết quả đạt được, nghiên cứu đã phác thảo được bức tranh tổng quan về những yếu tố ảnh hưởng tới ý định áp dụng kế toán xanh, cũng như xác định được những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến ý định áp dụng kế toán xanh. Tđó giúp các doanh nghiệp những lựa chọn phù hợp với doanh nghiệp của mình. 4. KHUYẾN NGHỊ Thông qua các kết quả của bài nghiên cứu trên, chúng ta thể thấy rằng, kế toán xanh nói chung kế toán môi trường nói riêng một bộ phận của kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, hướng đến mục tiêu “do con người, con người” góp phần tạo sự ổn định, bền vững cho nguồn lực về môi trường, xã hội phát triển gắn với sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp luôn nhân tố chính gây ảnh hưởng tác động trực tiếp đến kế toán xanh nên nhóm tác giả sẽ kiến nghị giải pháp cải thiện nhân tố này: Cần thay đổi nhận thức trong việc vận dụng kế toán xanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy, hiện nay các DN chưa nhận thức được ý nghĩa và lợi ích của hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và việc áp dụng kế toán xanh nói riêng. Đa số DN tại Việt Nam chưa tiến hành tính toán các chi phí môi trường. Ngoài ra, nhiều nhà quản trị DN chưa nhận thức được rằng, chi phí bỏ ra để tính toán các chi phí môi trường nhỏ hơn rất nhiều so với tổng chi phí phải gánh chịu khi họ phải trả thuế, phí hay tiền phạt từ các hành vi gây hại môi trường. Các nhà quản trị DN cần phải nhiều thông tin hơn về khía cạnh chi phí liên quan đến môi trường phát sinh trong các hợp đồng của DN, để đưa ra được các quyết định đầu kinh doanh phù hợp. Qua đó, vừa có thể tìm kiếm lợi nhuận từ các dự án, vừa tránh được các khoản xử phạt liên quan đến môi trường Tiếp tục tăng cường nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán để đáp ứng được yêu cầu công việc trong bối cảnh mới, công nghiệp hóa- hiện đại hóa, hội nhập và phát triển. Hiện nay, do kế toán xanh chưa phổ biến trong DN, nên bphận kế toán của DN hầu như có rất ít nhân viên kế toán kiến thức về kế toán môi trường hoặc nhân viên kế toán môi trường chuyên biệt. Do vậy, trong thời gian tới, các DN cần chú trọng đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ kế toán viên, đồng thời xây dựng phòng kế toán năng lực kinh nghiệm về kế toán xanh. Bên cạnh đó, nhân tố khách quan như môi trường- hội, cụ thể là các cơ quan quản lý Nhà nước, Chính phủ cần quan tâm, chú trọng hơn đến việc áp dụng kế toán xanh trong các doanh nghiệp: Với chủ trương phát triển bền vững, “xanh hóa nền kinh tế” của Đảng Nhà nước, cần nhận thức rằng, việc vận dụng kế toán xanh nói chung kế toán môi trường nói riêng là đòi hỏi mang tính bắt buộc, song song đó là một lộ trình lâu dài hợp lý. Các ban ngành có thẩm quyền cụ thể là Bộ Tài chính ban hành các chế độ kế toán áp dụng KTX trong doanh nghiệp, kết hợp với xây dựng căn cứ, đo lường các chi phí liên quan đến môi trường để các doanh nghiệp thể dễ dàng thực hiện, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về kế toán xanh cần trong thời gian tới. Hiện nay, hệ thống kế toán đang áp dụng chưa đủ điều kiện để các DN thực hiện kế toán môi trường. Gia tăng các hình thức chế tài xử phạt, thực hiện tốt hơn các chính sách thuế, phí môi trường đối với DN, qua đó giúp các DN nâng cao nhận thức, cũng như thực hiện trách nhiệm của mình đối với môi trường và bảo vệ môi trường. chính sách đãi ngộ, khuyến khích biểu dương các DN thực hiện trách nhiệm hội tốt của mình, trong đó thực hiện tốt công tác kế toán xanh (kế toán i trường), qua đó góp phần tuyên truyền sâu rộng việc áp dụng kế toán xanh trong hoạt động thực tiễn. Chẳng hạn như: Với những DN thực hiện tốt kế toán xanh trong một giai đoạn (thường khoảng 5 năm) sẽ được ưu đãi vay tín dụng cho các dự án khả thi... Đối với các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng cũng cần phải làm gì? Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số những nhận định như sau: Cần nghiên cứu về cơ sở lý thuyết về kế toán xanh để đưa vào giảng dạy. Hiện nay, nhiều trường cũng đã giảng dạy các nội dung liên quan đến kế toán môi trường. Tuy nhiên, việc giảng dạy cần đáp ứng được yêu cầu thuyết, đặc biệt cần gắn với các quy định pháp lý hiện hành về môi trường thuế bảo vệ môi trường của Việt Nam.
ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 393
Ngoài ra, về bản khái niệm kế toán xanh rộng hơn so với khái niệm kế toán môi trường, nên nghiên cứu thấu đáo hơn về kế toán xanh, trong đó cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế để có thể truyền đạt đầy đủ đến người học. Luôn phát triển đội ngũ giảng viên kế toán chất lượng cao và có kinh nghiệm thực tiễn, không chỉ có trình độ về kế toán truyền thống còn phải am hiểu về các hình kế toán mới, gắn với hoạt động thực tiễn của DN và ch mạng Công nghiệp 4.0. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Bachman J.A., Panzarine S., 1998. Enabling student nurses to use the information superhighway. Journal of Nursing education, 37(4), 155-161. [2]. S. Sudhamathi, A. Kaliyamoorthy, 2014. Environmental Accounting - A new challenge for the Accounting System. Public Finance Quarterly 57, 437-452. [3]. Abdel-Rahim Heba Y. M., Yousef M., 2010. Abdel- Rahim: Green accounting - a proposition of EA/ ER conceptual implementation methodology. Journal of Sustainability and Green Business. [4]. Gray R., 2002. The social accounting project and Accounting Organizations and Society Privileging engagement, imaginings, new accounting and pragmatism over critique? Accounting, Organizations and Society, 27, 687-708. [5]. Thị Minh, Nguyễn Thị Mai Hương, 2021. Đẩy mạnh ứng dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Tài chính.