ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 457
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ NH HƯỞNG ĐẾN HỘI CHỨNG GLOSSOPHOBIA SINH VN TRƯỜNG ĐI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
FACTORS AFFECTING GLOSSOPHOBIA SYNDROME IN STUDENTS OF HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Vũ Thùy Dung1, Trần Thị Thanh Giang1, Lê Hồng Nhung1, Ngô Thị Hồng Nhung1, Trần Thị Phương1, Ngô Văn Quang1,* 1. GIỚI THIỆU Hội chứng Glossophobia hội chứng sợ thuyết trình trước đám đông, là nỗi sợ khi phải i, thuyết trình trước nhiều người. Hội chứng Glossophobia ngàyng phổ biến đặc biệt trong thế giới hiện đại phát triển, nơi mà việc trình bày tớc đám đông, việc thuyết trình giữa người với người, người với tổ chức điều ng cần thiết. Nếu kng giải pp để xử lý, người gặp phải hội chứng sợ thuyết trình trước đám đông sẽ rất dễ phải đối mặt với những ảnh ởng bất lợi nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, mục tiêu nghề nghiệp và các lĩnh vực khác, điều y scàng nghiêm trọng hơn nếu nó rơi vào giới trẻ - tương lai, sc mạnh của đất ớc. Nhận thức được sự ảnh hưởng của Hội chứng Glossophobia, đặc biệt là đối với sinh viên của Trường Đại học Công nghiệp Nội, cũng như nhìn nhận thực tiễn khách quan thực trạng sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Nội đang gặp phải hội chứng Glossophobia này gây ảnh hưởng đến chất lượng học tập cũng như để lâu dài sẽ ảnh hưởng đến cả tương lai, công việc nghề nghiệp của các bạn hình ảnh của Trường Đại học Công nghiệp Nội được thể hiện phần nào qua chất lượng sinh viên. Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng Glossophobia của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Nội với mục tiêu tìm được nguyên nhân, đưa ra giải pháp xử hội chứng Glossophobia của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Nội. Từ đó nâng cao chất lượng về kỹ năng thuyết trình của sinh viên, xây dựng được nh ảnh đẹp về TÓM TT Trong một thế giới "phẳng" như hiện nay - khi mà con người chúng ta có thể kết nối, hợp tác, tr
ò
chuyện qua Internet bằng những chiếc smartphone, Ipad,... Điều đó giúp ích cho chúng ta giải quyếtđược rất nhiều vấn đề một cách dễ dàng và nhanh chóng. Không thể phủ nhận những lợi ích mà thời kỳ4.0 mang lại nhưng bên cạnh đó cũng để lại những hệ lụy trước hết là cho cá nhân. Khi mà con người chỉchăm chăm kết nối với nhau qua màn hình"phẳng", họ dần quên đi việc phải ra bên ngoài giao lưu, kếtbạn, tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khóa,.... Hiện nay chưa nhiều nghiên cứu trongvà ngoài nước đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng sợ thuyết trình trước đám đông. Nghi
ên
cứu lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại Trường Đại học Công nghiệp Hà N
ội nhằm đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến hội chứng Glosssophobia của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Kết quả
nghiên
cứu cho thấy rằng, đa phần sinh viên đều có xu hướng sợ thuyết trình trước đám đông. Kết quả phân tíchhình hồi quy tuyến tính đa biến cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hư
ởng tới hội chứng Glosophobia (bao
gồm: sự chuẩn bị trước khi thuyết trình, niềm tin vào bản thân của người thuyết trình, thái độ của ngư
ời
nghe, kinh nghiệm thuyết trình, sự tương quan giữa người thuyết trình và chủ để thuyết trình). Kết quảnghiên cứu có thể làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng mềm của sinh vi
ên
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Từ khóa: Glossophobia, sợ thuyết trình, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. ABSTRACT In a "flat" world like today - when we humans can connect, collaborate, and chat
over the Internet
with smartphones, Ipads,... That helps us to solve a lot of problems. many problems, every story easilyand quick. There is no denying the benefits that the 4.0
consequences, first of all, for individuals. When people only work hard to connect through "flat" screens,they gradually forget about
having to go out to socialize, make friends, and participate in collective
activities, and extracurricular activities. Currently, there have not been many domestic and foreign studies
on the factors affecting the fear of public speaking. Research on the selection of research scope at Hanoi
University of Industry to assess the factors affecting the Glossophobia syndrome of students at HanoiIndustrial School. Research results show that most
students tend to be afraid of public speaking. The
results of multivariable linear regression
model analysis have also shown factors affecting Glosophobia
syndrome (including preparation before presentation, self-
belief of the presenter, attitude of the
audience, presentation experience, and the relationship between the presenter and the presentati
on
topic). Research results can serve as a basis for proposing solutions to improve the soft skills of students
at Hanoi University of Industry. Keywords: Glossophobia, fear of presentations, Hanoi University of Industry. 1Lớp marketing 1 - K15, Khoa Quản lý kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 2Khoa Quản lý kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: quangnv@haui.edu.vn
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 13.2023
458
KINH T
Trường Đại học Công nghiệp Nội khi đào tạo ra những sinh viên không chỉ chất lượng về mặt kiến thức còn mang phong thái tự tin, tỏa sáng. 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1. Tổng quan nghiên cứu - Nghiên cứu ngoài ớc: Những người tham gia đã sử dụng bốn cơ chế đối phó để giảm lo lắng và nâng cao kỹ năng nói. Mặt tốt và hạn chế: Đã phân tích được nguyên nhân giải pháp cho hiện tượng này. Tuy nhiên, một số người vẫn cần áp dụng các cơ chế đối phó để cải thiện. Nghiên cứu “Glossophobia: The Fear of Public Speaking in ESL Students in Ghana” của Solomon Ali Dansieh và cộng sự (2021) khám phá các yếu tố liên quan đến Glossophobia ở sinh viên ESL ở Ghana đưa ra các khuyến nghị để cải thiện kỹ ng nói trước công chúng. Năm: 2021 Mặt tích cực: Đã đưa ra được nhiều giải pháp cho sinh viên để họ tự tin i trước đám đông. Nghiên cứu khuyến nghị các giảng viên nên áp dụng một cách tiếp cận tương tác kết hợp với các chiến lược truyền thông phù hợp để thúc đẩy sự tự tin của học sinh. Nghn cứu “The Fear Of Public Speaking In Female And Male Students Of University Of Karachi” của Kausar Perveden và Yama Hasan Abdur Rahman Aleemi năm 2018. Nghiên cứu khảo sát hội chứng si trước đám đông sinh viên nam nữ tại đại học Karachi, Pakistan. Nghiên cứu đưa ra kết luận phương pháp giải quyết sự lo sợ thuyết trình của sinh vn hai giới. Nghiên cứu sliệu bảng biểu rõ ràng nng giải pháp ca thực sự ứng dụng triệt đcho tất cả sinh vn trong tờng. Cuối cùng là “Why Are We Scared of Public Speaking? của Gary Dorevitch năm 2017. Nghiên cứu chỉ ra 4 nm yếu tố chính gây nỗi sợ i trước đám đông là sinh học, suy nghĩ, tình huống kỹ năng. Nghn cứu chưa sliệu cụ thể, đối tượng nghiên cứu rộng n phạm vi ng dụng ca đúng với từng nhóm đối tượng. Nghiên cứu giúp hiểu gốc rễ của nỗi si y chinh phục . - Nghiên cứu trong ớc: Nghiên cứu “Thực trạng của giao tiếp sinh viên Trường Đại học Công nghiệp TPHCM sở Thanh Hóa” kết quả nghiên cứu của một nhóm sinh viên khoa kinh tế trường đại học Công Nghiệp TP HCM. Nghiên cứu đánh giá vai trò của giao tiếp đối với sinh viên ở c khoa trong trường và đề xuất các biện pháp nâng cao giao tiếp của sinh viên. “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên UEH” xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên và đưa ra các giải pháp để sinh viên vượt qua nỗi sợ hãi khi thuyết trình. Nghiên cứu dựa trên các phương pháp khảo sát phỏng vấn để thu thập và xử lý số liệu. Nghiên cứu “Kỹ năng thuyết trình và làm việc nhóm” của Lại Thế Luyện - Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng giúp sinh viên hiểu và trình bày được các khái niệm về thuyết trình làm việc nhóm. 2.2. Cơ sở lý luận Hội chứng Glossophobia một loại sợ nói trước đám đông hoặc trình bày trước công chúng được xem một trong những loại sợ hãi phổ biến nhất. Các triệu chứng của hội chứng này có thể gây ra rất nhiều khó khăn cho người bị ảnh hưởng khi tham gia các hoạt động giao tiếp hoặc các bài phát biểu trước công chúng. Trên cơ sở các nghiên cứu trên, nhóm tác giả tìm ra được 5 yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng Glossophobia bao gồm sự chuẩn bị trước khi thuyết trình, niềm tin vào bản thân của người thuyết trình, thái độ của người nghe, kinh nghiệm thuyết trình, sự tương quan của người thuyết trình với chủ đề thuyết trình. Các yếu tố này thể ảnh hưởng đến sự tự tin, khả năng giao tiếp kỹ năng của sinh viên trong việc nói trước đám đông. Dựa trên cơ sở luận này, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng Glossophobia sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề và áp dụng các kỹ năng và phương pháp giảm thiểu căng thẳng và đối phó với tình trạng cảm thấy sợ hãi khi nói trước đám đông. 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 3.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng này được thực hiện thông qua phương pháp gửi phiếu khảo sát online chủ yếu là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Nội. Số phiếu thu về được sử dụng để kiểm định lại hình đo ờng cũng như hình lý thuyết và các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu. đây, thang đo Likert đã được sdụng gồm 5 mức độ như sau: (1) Rất không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Bình thường, (4) Đồng ý, (5) Rất đồng ý
Phương pháp xử lí, phân tích dữ liệu Nhóm tác giả đã đưa ra 6 thang đo cho nghiên cứu của mình, đó là: Chuẩn bị (CB), Niềm tin (NT), Kinh nghiệm (KN), Thái độ người nghe (TD), Sự tương quan (TQ), Sự sợ hãi khi thuyết trình (SH). Các thang đo của các biến này đã được đánh giá bộ thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS 22.0 với dữ liệu đã thu thập được từ nghiên cứu chính thức qua bảng hỏi 3.2. Mô hình nghiên cu Từ những giả thuyết nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được hình nghiên cứu các nhân tố ảnh ởng đến hội chứng Glossophobia. hình bao gồm 5 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc. 5 biến độc lập, bao gồm:
Giả thuyết (H1): Sự chuẩn bị trước khi thuyết trình ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông.
ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 459
Giả thuyết (H2): Niềm tin vào bản thân của người thuyết trình ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông.
Giả thuyết (H3): Sự tương quan giữa người thuyết trình chủ đề thuyết trình ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông.
Giả thuyết (H4): Thái độ của người nghe ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông.
Giả thuyết (H5): Sự tương quan ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cu Sau khi thu thập được 400 phiếu khảo t hợp lệ, nhóm tác giả đã sử dụng EXCEL và phần mềm SPSS 22.0 để xử lý phân tích dữ liệu. Nhóm tác giả đã tiến hành thống kê tần số để xử lý dữ liệu ban đầu. Bảng 1. Bảng kết quả thống kê mô tTiêu chí Tần số Tần suất Giới nh Nam 96 57,5% Nữ 106 52,5% Khác 0 0% Bạn là sinh viên năm thứ my? Năm 1 64 16% Năm 2 56 14% Năm 3 188 47% Năm 4 92 23% Khoa bạn đang theo học? Quản lý kinh doanh 116 29% Cơ k 32 8% Điện 36 9% Điện tử 40 10% Kế toán - Kiểm tn 48 12% Công nghệ ô tô 16 4% Công nghệ thông tin 36 9% ng nghệ may & TKTT 32 8% Công nghệ hóa 16 4% Ngoại ngữ du lịch 28 7% (Nguồn: Thống kê mẫu nghiên cứu của nhóm c giả) 4.2. Kiểm tra độ tin cậy thang đo Kết qukiểm tra độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha cho thấy thất cả các hệ số Cronbach’s Alpha của các nhóm biến quan sát đều lớn hơn 0,8. Tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 việc loại bất kỳ biến nào cũng sẽ làm giảm độ tin cậy của thang đo. Nhìn chúng các biến quan sát đều đảm bảo độ tin cậy để thực hiện các phân tích cần thiết của nghiên cứu. Như vậy, tất cả các biến quan sát sẽ được sự dụng tiếp tục cho phân tích nhân tố khám phán EFA. 4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả phân tích nhân tkhám phá trên phần mềm SPSS đối với nhóm nhân tố độc lập như thể hiện trong bảng 2. Bảng 2. Hệ số KMO và Kiểm định Bartlett’s đối với nhân tố độc lập KMO and Bartlett’s Test Kaiser - Meyer - Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,861
Bartlett’s Test of Sphericity Approx. Chi-Square 10508,632
df 496
Sig. 0,000
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 22.0) Sau khi tiến hành kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha đánh giá được độ tin cậy của các thang đo nhóm nghiên cứu tiếp tục đưa các biến quan sát vào phần mềm SPSS tiến hành phân tích EFA. Ta thấy 5 nhóm yếu tố với 32 quan sát phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết thúc quá trình kiểm định, thu được hệ số KMO là 0,861 thỏa mãn điều kiện lớn hơn 0,5 đặt ra phần trên, thêm vào đó, mức ý nghĩa Sig. của kiểm định này bằng 0,000 < 0,05 điều này thể hiện rằng bộ giữ liệu thu thập được phù hợp và có ý nghĩa trong thống kê và hoàn toàn phù hợp với các tiêu chí đánh giá việc phân tích nhân tố khám phá. 4.4. Phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc SH biến phụ thuộc bởi các yếu tố khác nên nhóm nghiên cứu tiến hành chạy riêng EFA cho biến phụ thuộc. Cthể biến phụ thuộc Sự sợ i bao gồm 7 biến quan sát SH1, SH2, SH3, SH4, SH5, SH6, SH7. Kết quả các bảng KMO and Bartlett's Test, Total Variance Explained, Rotated Component Matrix như bảng 3. Bảng 3. Hệ số KMO và Kiểm định Bartlett’s đối với nhân tố phụ thuộc KMO and Bartlett’s Test Kaiser - Meyer - Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,875
Bartlett’s Test of Sphericity Approx. Chi-Square 1426,501
df 21
Sig. 0,000
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 22.0)
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 13.2023
460
KINH T
Kết thúc quá trình kiểm định, thu được hệ số KMO 0,875 thỏa mãn điều kiện lớn hơn 0,5 đặt ra phần trên, thêm vào đó, mức ý nghĩa Sig. của kiểm định này bằng 0,000 < 0,05 điều này thể hiện rằng bộ giữ liệu thu thập được phù hợp và có ý nghĩa trong thống và hoàn toàn phù hợp với các tiêu chí đánh giá việc phân tích nhân tố khám phá. Bảng 4. Tổng phương sai giải thích cho biến phụ thuộc Component
Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared Loadings Total
% of Variance Cumulative
% Total % of Variance Cumulative
% 1 4,237
60,522 60,522 4,237 60,522 60,522 2 0,744
10,628 71,151 3 0,571
8,160 79,311 4 0,515
7,358 86,669 5 0,367
5,242 91,911 6 0,296
4,226 96,137 7 0,270
3,863 100,000 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 22.0) Kết quả phân tích cho thấy có một nhân tố được trích tại eigenvalue bằng 4,237 > 1. Nhân tố này giải thích được 60.522% biến thiên dữ liệu của 7 biến quan sát tham gia vào EFA. Như vậy ta thấy tất cả các biến quan sát của nhân tố SH đều thoả mãn và được chấp nhận. 4.5. Phân tích hồi quy đa biến Bảng 5. Phân tích hồi quy đa biến Model
Unstandardized
Coefficients Standardized Coefficients
t Sig. Collinearity Statistics B Std.Error
Beta Tolerance
VIF 1 (Constant)
6,144
0,214 28,689 0,000
CB -0,092
0,045 -0,100 -2,035 0,042
0,681 1,469
NT -0,171
0,061 -0,153 -2,790 0,006
0,553 1,808
TD -0,254
0,063 -0,212 -4,014 0,000
0,595 1,681
TQ -0,166
0,059 -0,172 -2,813 0,005
0,441 2,269
KN -0,175
0,036 -0,199 - 4,800 0,000
0,958 1,044
Ta thấy, giá trị Sig đều < 0,05 nên CB, NT, TD, TQ, KN đều ý nghĩa trong mô hình, các biến độc lập đều góp phần giải thích cho biến phụ thuộc SH. Giá trVIF của các biến độc lập đều < 2 suy ra không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. 4.6. Kiểm định giả thuyết Hệ số Beta của các biến độc lập đều âm điều này chứng minh rằng các biến độc lập có tác động ngược chiều đối với biến phụ thuộc. Giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 đều được chấp nhận. Ta thu được hình hồi quy được biểu diễn ới dạng như sau: SH = -0,100CB - 0,153NT - 0,212TD - 0,199TQ - 0,172KN + e Trong đó: SH: Giá trị biến phụ thuộc “Sự sợ hãiCB: Giá trị biến độc lập “Sự chuẩn bị trước khi thuyết trình” NT: Giá trị biến độc lập “Niềm tin vào bản thân của người thuyết trình” TD: Giá trị biến độc lập “Thái độ người nghe” TQ: Giá trị biến độc lập “Sự ơng quan giữa người thuyết trình và chủ đề thuyết trình” KN: Giá trị biến độc lập “Kinh nghiệm người thuyết trình” 4.7. Kết quả mô hình nghiên cứu Hình 2. Kết quả mô hình nghiên cứu Giả thuyết (H1): Sự chuẩn bị trước khi thuyết trình ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông. Giả thuyết (H2): Niềm tin vào bản thân của người thuyết trình ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông. Giả thuyết (H3): Sự tương quan giữa người thuyết trình chủ đề thuyết trình ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông. Giả thuyết (H4): thái độ của người nghe ảnh ởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông. Giả thuyết (H5): ảnh hưởng ngược chiều đến sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông. 5. KẾT LUẬN Từ kết quả nghiên cứu thể thấy rằng, hội chứng Glossophibia hay sự sợ hãi khi thuyết trình trước đám đông của sinh viên bị tác động bởi 5 yếu tố bao gồm: sự chuẩn bị trước khi thuyết trình, niềm tin vào bản thân người thuyết trình, thái độ người nghe, kinh nghiệm thuyết trình, sự tương quan giữa chủ đề thuyết trình và người thuyết trình. Cụ thể, cả 5 yếu tố này đều c động ngược chiều đến sự sỡ hãi khi thuyết trình trước đám đông của sinh viên Trường Đại học
ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 461
Công nghiệp Nội. Do đó để tăng sự tự tin, khả năng thuyết trình của sinh viên, không chbản thân sinh viên cả các giảng viên, nhà trường cũng như môi trường xung quanh cần chú trọng đầu thúc đẩy sinh viên, lực lượng nòng cốt của đất nước cải thiện kỹ năng quan trọng này. Điều này có thể được coi là một trong những chiến lược thúc đẩy sự phát triển cho thế hệ trẻ Việt Nam tại các trường đại học cũng như chất lượng giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng thuyết trình của sinh viên tại môi trường giáo dục đại học. Thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp kiến nghị đối nhà trường cũng như chính bản thân mỗi cá nhân sinh viên cụ thể như sau: Đối với nhà trường:
Tạo ra các sân chơi, môi trường thúc đẩy việc sinh viên được thuyết trình, chia sẻ trải nghiệm, kinh nghiệm cũng như những mong muốn trong học tập,... của bản thân
Tăng cường các hội thảo, chương trình cung cấp kiến thức, môi trường để sinh viên hội rèn luyện kỹ năng thuyết trình trước đám đông.
Trường cũng thể tổ chức các chương trình hoạt động tăng cường sự tự tin như các buổi huấn luyện kỹ năng giao tiếp, các khóa học phát triển bản thân, các buổi tâm học kỹ năng mềm, giúp các sinh viên phát triển tăng cường niềm tin vào bản thân. Đối với sinh vn:
Lập kế hoạch và nghiên cứu kỹ lưỡng: Trước khi thuyết trình. Xác định mục tiêu của buổi thuyết trình tạo ra một cấu trúc rõ ràng cho nội dung.
Xác định đối tượng khán giả, Điều này cho phép bản thân điều chỉnh ngôn ngữ, kiểu trình bày mức độ chi tiết để phù hợp với lợi ích và hiểu biết của khán giả.
Nghiên cứu chủ đề: nghiên cứu kỹ lưỡng về chủ đề của mình. Tìm hiểu các tài liệu, sách, bài viết hoặc nghiên cứu liên quan.
Chia nội dung thành các phần chính, có sự liên kết logic giữa chúng.
Quay video hoặc ghi âm: cải thiện phong cách giao tiếp, cải thiện cử chỉ và diễn đạt
Thực hành trước một nhóm nhỏ: điều này giúp người thuyết trình làm quen với việc trình bày trước một nhóm người và nhận phản hồi trực tiếp từ các thành viên.
Quản thời gian: đảm bảo rằng đã n kế hoạch thời gian cho thuyết trình của mình.
Thay đổi suy nghĩ: tin rằng bản thân mình làm được và tự tin với những gì mình đã chuẩn bị. Đối với giảng viên:
Nhắc nhở, chia sẻ về tầm quan trọng của chuẩn bị trước khi thuyết trình và cho thời gian, tạo động lực cho sinh viên có sự chuẩn bị tốt nhất.
Tích cực chia sẻ kinh nghiệm không chtrong giảng dạy cả về những kỹ năng mềm đặc biệt kỹ năng thuyết trình, giúp cho sinh viên thêm động lực luyện tập cải thiện kỹ năng thuyết trình.
Cung cấp cho sinh viên hội luyện tập thuyết trình thông qua các hoạt động như thi thuyết trình trên lớp hoặc quản lý dự án nhóm. Đối với cố vấn học tập:
Tích cực sẻ những kinh nghiệm của bản thân về sự chuẩn bị cho công việc để có được kết quả.
Luôn đồng hành và giải đáp các thắc mắc khi sinh viên gặp khó khăn.
Động viên, khuyến khích sinh viên tham gia thuyết trình, tự tin nêu ra ý kiến quan điểm của bản thân.
Khuyến khích sinh viên phát hiện và phát triển sở thích, tài năng và khả năng của họ.
Tạo cơ hội cho sinh viên tham gia vào các hoạt động xã hội, nhóm tình nguyện các tổ chức học tập để giúp họ tạo dựng niềm tin. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Minas Gerais, 2016. Fear of public speaking: perception of college students and correlates Belo Horizonte. Department Speech-language Pathology and Audiology, Universidade Federal de Minas Gerais (UFMG), [2]. Fhajema M. Kuso, Harper Jay R. Santos, 2021. I Speak Not”: Accounts of English Language Learners with Glossophobia. Modern Journal of Studies in English Language Teaching and Literature, 3, 2. [3]. Solomon Ali Dansieh, Edward Owusu, Gordon Abudu Seidu, 2021. Glossophobia: The Fear of Public Speaking in ESL Students in Ghana. Language Teaching, 1, 1. [4]. Kausar Perveden, Yama Hasan Abdur Rahman Aleemi, 2018. Glossophobia: The Fear of Public Speaking in Female And Male Students Of the University Of Karachi. Pakistan Journal of Gender Studies, 16, 18, 57-70. [5]. Gary Dorevitch, 2017. Why Are We Scared of Public Speaking [6]. Tran Van Trung, Huynh Lam Anh Chuong, Nguyen Duong Bao Tran, Ngo Thi Thuy Trinh, Tran Chi Vinh Long, 2021. The fear of public speaking in Vietnamese pedagogy freshmen. Journal for Educators, Teachers and Trainers, 12, 4. [7]. Khó khăn trong giao tiếp của sinh viên- Rào cản tâm trong gia đình. Toppy.vn. [8]. Kỹ năng giao tiếp và nói chuyện trước đám đông. Đại học Lạc Hồng [9]. Thực trạng của giao tiếp sinh viên Trường Đại học Công nghiệp TPHCM cơ sở Thanh Hóa. Khoa Kinh tế, Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh. [10]. Nghiên cứuc yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên UEH. Trường Đại học Kinh tế TP. HChí Minh. [11]. Lại Thế Luyện, 2020. Kỹ năng thuyết trình m việc nhóm. Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng.