
vietnam medical journal n01&2 - MARCH - 2019
104
hiện tế bào UTTTL, 2 mẫu gặp ở 4 bệnh nhân
(10%) và vị trí số mẫu sinh thiết từ mẫu số 1
đến số 12 đề phát hiện tế bào ung thư TTL ở
những bệnh nhân khác nhau, qua đó việc sinh
thiết TTL 12 mẫu theo sơ đồ làm tăng tỉ lệ phát
hiện UTTTL, điều đó được khẳng định qua nhiều
nghiên cứu. Trong một nghiên cứu chẩn đoán giá
trị của các phương pháp STTTL qua tổng hợp ở 87
nghiên cứu liên quan tới 20698 BN, tác giả Eichler
và cộng sự nhận thấy rằng tăng số mẫu sinh thiết
tì tăng tỉ lệ phát hiện UTTTL [4].
Theo khuyến cáo của Hội tiết niệu Hoa Kỳ
(AUA) đã chứng minh tăng tỉ lệ phát hiện UTTTL
từ sinh thiết 6 mẫu lên 10-12 mẫu có ý nghĩa
tuy nhiên khi sinh thiết mở rộng thêm từ 18-24
mẫu không làm tăng tỉ lệ phát hiện UTTTL có ý
nghĩa so với 12 mẫu, do vậy phương pháp sinh
thiết TTL 12 mẫu ngày nay được nhiều tác giả
áp cho rằng là phương pháp tiêu chuẩn để sinh
thiết TTL lần đầu để phát hiện UTTTL [2],[7].
V. KẾT LUẬN
- PSA trung bình 24,8 ± 2,1 ng/ml
- Tỉ lệ UTTTL 33.3%, 1 BN (0,83%) có PIN
cao, 0,83 PIN thấp, 65% TSLT
- Tỉ lệ phát hiện UTTTL khi PSA huyết thanh
tăng có ý nghĩa với p = 0,05.
- Tỉ lệ siêu âm TTL qua trực tràng nghi ngờ
ung thư và tỉ lệ phát hiện ung thư TTL có mối
liên hệ với p = 0,02.
- Đa số BN UTTTL có độ ác tính trung bình và
cao 42,5% và 40%
- Chẩn đoán giai đoạn ung thư: giai đoạn I
và giai đoạn II là chủ yếu 67,5%
- Tỉ lệ biết chứng là 40.4% đái máu đại thể
15,8%, chảy máu hậu môn 10%, có 1 trường
hợp nhiễm khuẩn huyết (2.1%).
Sinh thiết TTL 12 mẫu qua trực tràng tăng tỉ
lệ phát hiện UTTTL nhất là ở những BN ở giai
đoạn sớm khi chưa có các biến chứng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Lê Chuyên, Đào Quang Oánh, Đỗ Anh
Toàn (2012). Khảo sát tỉ lệ ung thư tuyến tiền
liệt ở nam giới trên 50 tuổi đến khám tại bệnh viện
Bình Dân.
Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh,
16 (1).tr 335-342.
2. Nguyễn Văn Ký (2015) “Đánh giá kết quả phương
pháp sinh thiết tuyến tiền liệt 10 mẫu trong chẩn
đoán ung thư tuyến tiền liệt tại bệnh viện Việt Đức”,
luận văn thạc sỹ, trường Đại học Y HN.
3. Lê Quang Trung (2012), Đánh giá kết quả sinh
thiết tuyến tiền liệt 12 mẫu qua trực tràng trong chẩn
đoán ung thư tuyến tiền liệt.
Luận văn thạc sỹ y học,
trường đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.
4. Eichler K, Hempel S, Wilby J, Myers L,
Bachmann LM, Kleijnen J. (2006) "Diagnostic
value of systematic biopsy methods in the
investigation of prostate cancer": a systematic
review
. J Urol
. May; 175(5):1605-12. 20.
5. Hodge, K.K; Mc Neal, J.E and Stamey, T.A
(1989): Ultrasound guided transrectal core biopsy
of the palpably abnormal prostate
. J. Urol, (142,
66: 1989a)
6. Samis S, Taneja, MD, Chair, Marc A, Bjurlin,
D (2013). "Optimal techniques of prostate biopsy
and specimen hanling"
American Urologycal
Association
, Inc, Advancing Urology.
7. Vincenzo Scattoni, Marco Roscigno,Marco
Raber, Federico Dehò, Tommaso Maga.
"Initial Extended Transrectal Prostate Biopsy—Are
More Prostate Cancers Detected With 18 Cores
Than With 12 Cores?",
Journal of Urology
Vol.179,
1327-1331, April 2008. 25
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG PHỨC HỢP PHOSPHOLIPID
CỦA PHYLLANTHIN CHIẾT XUẤT TỪ DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG
PHYLLANTHUS AMARUS
Chử Đức Thành1, Vũ Tuấn Anh1, Chử Văn Mến1,
Bùi Thị Thu Hà1, Nguyễn Văn Mạnh1
TÓM TẮT29
Phyllanthin là chất có hoạt tính sinh học chính
trong dược liệu Diệp hạ châu đắng như tác dụng
kháng virus, chống tiểu đường, bảo vệ tế bào gan. Để
đánh giá sinh khả dụng của phức hợp phospholipid
của phyllanthin trên chuột nhắt, phương pháp LC-
1Viện Nghiên cứu Y Dược học quân sự, Học viện Quân y
Chịu trách nhiệm chính: Chử Đức Thành
Email: chuducthanh.vmmu@gmail.com
Ngày nhận bài: 11.2.2019
Ngày phản biện khoa học: 5.3.2019
Ngày duyệt bài: 12.3.2019
MS/MS có tính đặc hiệu tốt và độ nhạy cao đã được
phát triển và thẩm định đầy đủ. Cột Phenomenex
HyperClone ODS (C18) kích thước (150 x 2,0 mm,
5,0 μm) với hệ dung môi gồm dung dịch acid formic
0,1% (v/v) : acetonitrile (35:65) (tt/tt) được dùng để
tách sắc ký. Phương pháp sau thẩm định được áp
dụng để xác định thông số dược động học của
phyllanthin dạng tự do và dạng phức hợp với
phospholipid (phức hợp phospholipid của phyllanthin
chiết xuất từ Diệp hạ châu đắng được bào chế bằng
kỹ thuật bốc hơi dung môi). Giá trị Cmax trong dạng
tự do và dạng phức hợp được xác định lần lượt là
10,44 và 31,71 ng/ml, và giá trị AUC là 25,48 và
60,42ng.h/ml tương ứng. Kết quả của nghiên cứu này