
CÔNG NGHỆ Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 12.2022
224
KHOA H
ỌC
NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP (THÂN CÂY CHUỐI) LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT SẢN PHẨM ĐỰNG THỰC PHẨM
RESEARCH AND USE AGRICUTURE BY PRODUCTS (BANANA STALKS) AS RAW MATERIALS FOR THE PRODUCTION OF FOOD PRODUCTS Hà Thị Ngọc1,*, Nguyễn Thị Trà My1, Vũ Thị Thu Hằng1, Nguyễn Thị Hà Phương1, Lê Thị Trinh Tri1, Đào Thu Hà2 TÓM TẮT Chế tạo thành công s
ản phẩm đựng thực phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp
(thân cây chuối) bằng phương pháp thủ công kết hợp cùng glyxerol và tinh b
ột
củ mì ở nhiệt độ 250. Tiến hành xử lý chuối, sả, củ mì, khảo sát lư
ợng glyxerol,
lượng tinh bột, tỉ lệ chuối/sả; đo một số thông số của chế phẩm như pH, đ
ộ thấm
dầu, độ thấm nước, độ dày và mật độ. Kết quả cho thấy với lượng glyxerol th
êm
vào lần lượt 2ml, 4ml, 6ml, 8ml, 10ml, ảnh hưởng trực tiếp đến độ thấm nước;lượng tinh bột thay đổi từ 2%, 4%, 6%, 8%, 10% ảnh hưởng đến đ
ộ mịn, độ bền
kéo, độ dai của chế phẩm. Ngoài ra, khi thêm lượng glyxerol, lư
ợng tinh bột, tỷ lệ
chuối sả còn ảnh hưởng đến các thông số pH, độ dày và mật độ th
ấm dầu, độ
thấm nước. Từ đó đưa ra các điều kiện tiến hành tối ưu và xây dựng đư
ợc quy
trình chế tạo sản phẩm từ thân chuối. Từ khóa: Thân cây chuối, thực phẩm, tinh bột. ABSTRACT Successfully made food containers from agricultural by-
products (banana
stalks) by manual method with glycerol and tapioca starch, at 250
. After processing
bananas, lemongrass, and tapioca, test the amount of glycerol
, the amount of
starch, the ratio of banana/lemongrass; measure some parameters of the
composition such as pH, oil permeability, water permeability, thickness and
density. The results showed that: with the am
ount of glycerol added 2ml, 4ml, 6ml,
8ml, 10ml, directly affecting the water permeability; with the amount of starch
varies from 2%, 4%, 6%, 8%, 10% ; it affects the fineness, tensile strength,
toughness of the composition. In addition, when adding the am
ount of glycerol,
the amount of starch, the ratio of banana/lemongrass also affects the parameters:
pH, thickness and density, oil permeability, water permeability.
From there,
optimize the conditions and build a process to create products from banana trunks.
Keywords: Banana stem, food, starch. 1Lớp Kỹ thuật Hóa học 02 - K14, Khoa Công nghệ Hóa, Trư
ờng Đại học Công
nghiệp Hà Nội 2Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: ngocngock11@gmail.com 1. MỞ ĐẦU Nhựa dùng một lần được dùng cho bao bì thực phẩm, là một trong những bao bì trơ về mặt hóa học, không thể phân hủy sinh học. Do sự khó khăn của việc tái chế vật liệu này, sau khi sử dụng, bao bì này đã được vứt bỏ, ảnh hưởng đến chất lượng đất, nước, không khí. Theo thống kê chính thức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam nằm trong top 4 các quốc gia lãng phí lượng nhựa dùng một lần khổng lồ nhất trên toàn thế giới sau Trung Quốc, Indonesia và Philippines. Ở Việt Nam, tiêu thụ nhựa bình quân trên đầu người tăng từ 3,8 kg lên 41,3kg sau 28 năm. Đặc biệt, số lượng nhựa dùng một lần, không được tái chế và phải được chôn lấp, trong hai thành phố lớn nhất của Việt Nam, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tăng lên 80 tấn mỗi ngày. Các kế hoạch đang triển khai để loại bỏ việc dùng nhựa một lần ở các đô thị như chợ, cửa hàng tiện lợi và siêu thị vào năm 2021 và cả nước đến năm 2025. Mặt khác, ngành công nghiệp giấy hiện đang đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu thô và đang tìm kiếm nguyên liệu thô dạng sợi thay thế. Hàng năm, thực vật có thể là một nguồn quan trọng cung cấp nguyên liệu thô lignocellulosic cho ngành công nghiệp giấy và bột giấy vì chúng dễ dàng phân hủy. Các phụ phẩm nông nghiệp khác nhau được đánh giá với nhằm mục đích tìm kiếm nguyên liệu thay thế cho ngành công nghiệp giấy. Các sản phẩm từ thân cây chuối đã được nghiên cứu và triển khai ở các nước đang phát triển; vì thân chuối (BS) cũng có thể được sử dụng làm nguyên liệu thô trong quá trình chế biến vật liệu phân hủy sinh học vì có nhiều xenlulo (50 - 60%), hemicelluloses (25 - 30%), pectin (3 - 5%), lignin (12 - 18%), vật liệu hòa tan trong nước (2-3%), chất béo và sáp (3 - 5%) và tro (1 - 1,5%). Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới được tập trung vào việc tái chế thân chuối để nghiền chuối sợi, tạo sợi nanocellulose cho màng phức hợp, cellulose vi tinh thể…. Với những nghiên cứu nói trên, thân cây chuối thích hợp cho việc tạo ra các sản phẩm phân hủy sinh học như hộp đựng thực phẩm, đĩa giấy, bát giấy,… Trong bài báo này, nghiên cứu về tiềm năng ứng dụng phụ phẩm nông

SCIENCE - TECHNOLOGY Số 12.2022 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
225
nghiệp (thân cây chuối) làm nguyên liệu tạo ra các sản phẩm phân hủy sinh học có khả năng đựng thực phẩm. Các vật liệu thay thế, đặc biệt là các vật liệu có nguồn gốc từ tự nhiên và tái tạo, cần được phát triển để giải quyết vấn đề toàn cầu này. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu quá trình tạo ra sản phẩm từ thân cây chuối, trong quá trình làm giấy nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ chuối/sả; ảnh hưởng lượng phụ gia glyxerol và tinh bột đến đặc tính của sản phẩm. Từ đó đánh giá sản phẩm thông qua độ pH, các đặc tính cơ học và khả năng hấp thụ nước, hấp thụ dầu của chúng theo TCVN, ASTM. 2. HÓA CHẤT VÀ QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM 2.1. Hóa chất NaOH: Hàm lượng 99,00%, Trung Quốc HCl: Hàm lượng 36,05%, Trung Quốc H2O2: Hàm lượng 30,00%, Trung Quốc C3H8O3: Hàm lượng 99,00%, Trung Quốc 2.2. Quy trình thực nghiệm * Chế tạo tinh bột Sắn được cạo vỏ, rửa sạch, thái thành những miếng nhỏ. Cho sắn với nước vào máy xay với tỉ lệ sắn: nước thích hợp. Tiến hành xay trong 7 phút. Lọc lấy phần dung dịch bằng vải lọc, làm lại 3 lần. Rửa lại bã lọc đến khi nước từ dịch lọc trong suốt. Để lắng trong 4 giờ. Gạn phần nước bên trên lấy phần tinh bột lắng ở dưới. Mang sấy 300 trong 5 giờ. Hình 1. Quy trình chế tạo tinh bột * Quy trình xử lý sả Bước 1: Sả sau khi mua về được tiến hành rửa sạch, để ráo nước, đập dập và thái nhỏ. Được sấy ở 700 trong vòng 7h. Bước 2: Sau khi sả khô, mang sả ngâm NaOH 10% trong vòng 5h. Sả ngâm xong có màu nâu và tạo với NaOH một dung dịch sệt. Bước 3: Tiến hành rửa sạch NaOH. Rửa trung tính. Bước 4: Ngâm sả với H2O2 10% trong 3h. Rửa trung tính. Bước 5: Sấy tại 700 trong vòng 5h và thu được thành phẩm. Hình 2. Quy trình xử lý sả * Quy trình chế tạo sản phẩm từ thân cây chuối Hình 3. Quy trình chế tạo giấy từ chuối Bước 1: Chuối sau khi phơi khô, cắt nhỏ khoảng 0,5cm. Cân 50g tiến hành ngâm trong NaOH 10% theo tỉ lệ 1:14, ngâm trong 8h.

CÔNG NGHỆ Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 12.2022
226
KHOA H
ỌC
Bước 2: Chuối sau khi ngâm xong, ta tiến hành rửa bằng nước. Rửa sao cho pH của chuối khoảng 7. Sau đó ta ngâm trong H2O2 10% với tỉ lệ 1:1 trong 6h. Tiến hành rửa trung tính. Bước 3: Sấy ở 700 trong 5h. Bước 4: Bỏ chuối ra để nguội trong bình hút ẩm. Cân 5g chuối khô. Thêm tinh bột củ mì, glyxerol và nước cất theo tỉ lệ thích hợp, xay nhuyễn. Bước 5: Lấy phần chuối được xay nhuyễn dàn mỏng, sấy khô tại 700 trong 8h. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Kết quả khảo sát ảnh hưởng hàm lượng glyxerol Các thí nghiệm được thực hiện với lượng glyxerol khác nhau: 2ml, 4ml, 6ml, 8ml, 10ml với điều kiện lượng tinh bột thêm vào 4%, ở nhiệt độ 250. Thu được kết quả như bảng1, 2 và hình 3, 4. Hình 4. Mẫu giấy khi khảo sát lượng glyxeron Bảng 1. Kết quả giá trị pH khi thay đổi thể tích glyxerol Thay đổi thể tích glyxerol Thể tích glyxerol (ml) Khối lượng (g) Độ dày (cm) Mật độ (X g/cm3) 2 0,498 0,040 1,38 4 0,580 0,020 3,22 6 0,788 0,038 2,30 8 0,717 0,040 1,99 10 1,054 0,052 2,25 Bảng 2. Kết quả giá trị độ dày và mật độ khi thay đổi thể tích glyxerol Thay đổi thể tích glyxerol V glyxerol (ml) pH 2 6,70 4 6,77 6 6,61 8 6,94 10 6,86 Hình 5. Biểu đồ khảo sát thấm nước, thấm dầu khi thay đổi lượng glyxerol Qua bảng số liệu trên, nhận thấy thêm glyxerol (2, 4, 6, 8, 10ml) vào quy trình chế tạo giấy giúp tạo tờ giấy dễ dàng hơn; với độ dày nhỏ hơn. Một số công trình báo cáo thêm glyxerol có thể bôi trơn các sợi xenlulo để làm cho các liên kết giữa các sợi cellulose chặt chẽ hơn, dễ làm giấy có độ dày nhỏ hơn và có mật độ lớn hơn [15, 21]. Mặc dù, glyxerol có thể hòa tan trong nước, để chọn lượng thể tích thích hợp glyxerol, xem xét thêm các đặc tính độ thấm nước, thấm dầu của giấy. Qua kết quả hình 3, 4, khi không sử dụng glyxerol, chỉ sau 30 giây tiếp xúc với nước, các dải giấy hấp thụ nước từ 30 - 45% trọng lượng của chúng. Sau 300 giây, chúng hút được 59 - 71% lượng nước. So với một số mẫu thử ở các công trình khác như [15], nhận thấy mẫu giấy điều chế được có độ thấm nước nhỏ hơn nhiều. Tại thời gian tiếp xúc trong 30 giây, Với 2ml glixerol thì mẫu hút nước ít nhất.Tuy nhiên, sau 60 giây, lượng nước đã hút trong các thí nghiệm tương đối gần nhau. Những khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Ở thời điểm 300 giây, khi

SCIENCE - TECHNOLOGY Số 12.2022 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
227
lượng glyxerol lớn thì độ thấm nước tăng. Điều này có thể được giải thích, khi quá nhiều glixerol nước có thể hấp thụ vào các tờ giấy thông qua quá trình hòa tan glixerol. Đặc biệt, khi tiến hành đo đặc tính thấm dầu, nhận thấy ở thí nghiệm thêm 6ml glyxerol thì thời gian thấm qua và thời gian thấm hết lớn nhất. Dựa trên các thuộc tính của độ pH, độ dày, mật độ, độ thấm nước, độ thấm dầu nên chọn 6ml glycerol để tiếp tục với các thí nghiệm. 3.2. Khảo sát ảnh hưởng của phần trăm tinh bột Các thí nghiệm được thực hiện với hàm lượng tinh bột củ mì khác nhau: 2%, 6%, 8%, 10%. Với điều kiện lượng gly thêm vào 6ml, ở nhiệt độ 250. Hình 6. Hình ảnh những mẫu giấy tiến hành khảo sát lượng tinh bột Bảng 3. Giá trị pH khi thay đổi phần trăm tinh bột Thay đổi % tinh bột % Tinh bột Khối lượng (g) Độ dày (cm) Mật độ (X g/cm3) 2 0,817 0,060 1,51 4 0,668 0,050 1,48 6 0,788 0,038 2,30 8 0,607 0,076 0,89 10 0,722 0,050 1,60 Bảng 4. Kết quả độ dày và mật độ khi thay đổi phần trăm tinh bột Thay đổi phần trăm tinh bột % tinh bột pH 2 7,02 4 6,61 6 6,64 8 6,88 10 6,99
Hình 7. Sơ đồ biểu thị kết quả độ thấm nước, thấm dầu khi thay đổi lượng tinh bột Nhận xét: Tất cả các mẫu nghiên cứu đều là trung tính. Độ dày và mật độ của các mẫu trong các thí nghiệm này có sự thay đổi, ở lượng tinh bột thêm vào 6% thì độ dày nhỏ và mật độ lớn. Kết quả cho thấy rằng việc bổ sung tinh bột vào qui trình, kết hợp thêm lượng glyxerol là 6ml thì độ thấm nước, độ thấm dầu rất tốt. Mặt khác, khi sử dụng thêm tinh bột giấy trở nên mịn hơn, độ bền kéo, độ uốn tốt hơn. Điều này cho thấy khi tinh bột được sử dụng, các liên kết giữa các sợi xenlulo tăng lên, phù hợp các công trình nghiên cứu trước đây [21]. Vậy, dựa trên các thuộc tính của độ pH, độ dày, mật độ, độ bền kéo, độ uốn, độ thấm nước, độ thấm dầu nhận thấy thêm vào 6% hoặc 8% tinh bột là phù hợp cho các quá trình nghiên cứu tiếp theo. 3.3. Khảo sát tỉ lệ chuối/sả Các thí nghiệm được thực hiện với tỉ lệ chuối/sả khác nhau: 60/40 và 70/30. Đồng thời tiến hành khảo sát phần trăm tinh bột: 6%, 8%. Với điều kiện lượng glyxerol thêm vào 6ml, ở nhiệt độ 250. Hình 8. Hình ảnh những mẫu giấy tiến hành khảo sát tinh bột, tỉ lệ chuối/sả - 60/40

CÔNG NGHỆ Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 12.2022
228
KHOA H
ỌC
Hình 9. Hình ảnh những mẫu giấy tiến hành khảo sát tinh bột, tỉ lệ chuối/sả -70/30 Bảng 5. Giá trị pH khi thay đổi tỉ lệ chuối/sả, thay đổi phần trăm tinh bột Tỉ lệ chuối/sả: 60/40 Tỉ lệ chuối/sả: 70/30 % tinh bột pH % tinh bột pH 6 6,88 6 6,96 8 6,91 8 7,01 Bảng 6. Kết quả mật độ và độ dày khi thay đổi tỉ lệ chuối/sả, phần trăm tinh bột Thay đổi tỉ lệ chuối/sả 60/40 70/30 % Tinh bột Khối lượng (g) Độ dày (cm) Mật độ (X g/cm3) % Tinh bột Khối lượng (g) Độ dày (cm) Mật độ (X g/cm3) 6% 0,563 0,064 0,977 6% 0,34 0,032 1,181 8% 0,547 0,058 1,048 8% 0,476 0,042 1,259 Hình 10. Kết quả độ thấm nước với tỉ lệ chuối/sả - 60/40 và 70/30 Bảng 7. Kết quả độ thấm dầu khi thay đổi tỉ lệ chuối/sả, phần trăm tinh bột Tỉ lệ chuối/sả Phần trăm tinh bột (%) Thời gian thấm qua (giây) Thời gian thấm hết ( giây) 60/40 6 189,09 3000 8 34,96 1211,6 70/30 6 502 4117,85 8 262 3085,6 Khi cho thêm sả vào quá trình nghiên cứu, nhận thấy sả có ảnh hưởng đến một số đặc tính của giấy. Qua các kết quả trên, khi thêm sả giấy, mẫu thử vẫn đạt độ trung tính, khả năng thấm nước, thấm dầu vẫn rất tốt so với các loại giấy được điều chế từ các nguyên liệu khác. Mặt khác, khi thêm sả tỷ lệ 70/30 tờ giấy trở nên mỏng hơn với độ dày nhỏ, mật độ tăng, giấy mịn hơn, độ bền kéo cao hơn và độ uốn tốt hơn. Qua đây, thấy rằng sự kết hợp giữa chuối và sả theo tỷ lệ thích hợp đã làm tăng sức mạnh của sợi xenlulo được tạo ra từ sợi xenluloza của cây chuối với sả, từ đó thay đổi đáng kể đến một số đặc tính của giấy. Kết quả này phù hợp với kết quả một số công trình được nghiên cứu trước đây [20, 21]. 4. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH Sau khi khảo sát tất cả các thông số, tìm được các điều kiện tối ưu với từng chỉ tiêu, đưa ra quy trình tạo sản phẩm từ thân chuối với các điều kiện tối ưu 6ml glyxerol, 6% tinh bột, tỉ lệ chuối/sả - 70/30. Quy trình được tiến hành như sau: Bước 1: Sả rửa sạch, để ráo nước, đập dập và thái nhỏ. Được sấy ở 700 trong vòng 7h. Bước 2: Chuối sau khi phơi khô, cắt nhỏ khoảng 0,5cm, 50g tiến hành ngâm trong NaOH 10% theo tỉ lệ 1:14, ngâm trong 8h. Bước 3: Cân 3,5g chuối khô, 1,5g sả khô theo tỉ lệ 70/30. Cho vào máy xay, thêm 45ml nước cất, xay nhuyễn trong 10 phút. Hình 11. Quy trình tạo sản phẩm từ thân chuối

