Nguyễn Bá Lân
N guyễn Lân sinh năm Canh Thìn (1700) ti xã Cổ Đô, huyện Tiên
Phong (cũ), trấn Sơn y xưa (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Thân
sinh ông Nguyn Công Hoàn ni tiếng một thời về n chương, được xếp
hàng thba trong "tứ hổ" kinh thành Thăng Long xưa (nhất Quỳnh, nhị
Nhan, tam Hoàn, tTuấn). Ông Hoàn học giỏi, nhưng lại lận đận về đường
khoa cử, không đđạt gì, chchuyên ngh dạy học, các chức tước của ông
như Đại lý tthừa, Hiển cung đại phu, Đông Các đại học sĩ, Kim tử vinh lộc
đại phu, Hàn m viện Thừa chỉ... đều do con là Nguyn n tng
chức lớn nên cha được phong tặng theo tục lệ ngày trước.
Nguyễn Lân học vi cha từ m 15 tuổi, được cha rèn cặp rất
nghiêm khắc. ch dạy con của ông đồ Hoàn kđặc biệt, không chuộng
nhồi nhét bắt học nhiều như các thầy đkhác, mà schọn lọc trên sở
cuộc đời dạy học của bản thân mình. Tkhi còn ít tui, Nguyễn Lân vốn
rất ham đọc sách và ham tìm hiểu thế giới bên ngi. Chuyn kể li rằng
thường ngày tn án của ông lúc nào n trái cũng đặt bản đồ, bên phải đặt
sách vở, để khi đọc sách nếu cần thì tra cu.
một điều rất độc đáo trong cách dạy học của cha Nguyễn Lân,
đó là tìm cách phát huy tính năng động ng tạo, bồi dưỡng óc thông minh
nhanh nhy của người học trò - cũng chính là con mình, tn một tinh
thần thi đua bình đẳng với con, nếu mình bị thua thì cũng đòi hỏi được xử trí
công bng, không chút pn biệt. Được cha trực tiếp dạy dỗ một cách chu
đáo, lại vốn chất thông minh, Nguyễn Lân tiến brất nhanh. m
18 tuổi, tức là chba năm sau khi học với cha, ông đã đỗ đầu kthi Hương,
để hai năm sau lại đỗ kỳ thi Hội, rồi kỳ thi Đình, đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ
xuất thân m n Hợi (1731) vào lúc ông 31 tui, cái tuổi "tam thập nhi
lp" đã chín chn để hành động.
Nguyễn Lân bước vào đường làm quan cũng khá đặc biệt. Đỗ Tiến
sĩ, chỉ một thời gian sau ông đã được cử làm Gm khảo kthi Hội. Để rồi
sau đó, do có nhiều ng lao chiến tích, lại là người cẩn thận, siêng ng,
thanh liêm, ngay thng, không xu nịnh, ông nhanh chóng được thăng nhiều
chức, cả văn lẫn võ. Tchức Phiên tào phủ chúa Trịnh Giang, đến đầu đời
Cảnh Hưng (1740 - 1786) đã m T chấp pháp Bộ Hình; năm 1744 b
làm lưu thủ trấn Hưng Hóa, sau m đốc trấn Cao Bng, tại chai nhiệm sở
trên ông đều ng lớn trong việc giữ gìn trật ttrị an trên vùng biên gii.
m 1756, ông được triệu về kinh đô Thăng Long nhận chức Thiêm đô ng
sử, vào phChúa giữ chức Bi tụng (chức thứ hai sau Tham tụng), tước Lễ
Trch hu, kiêm gichức Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng). m 1765,
ông vu mới được ít lâu đã được chúa Trịnh Doanh mời ra giúp việc từ
tụng, xét xử án từ. Đến năm 1770, ông dâng khải xin về hưu vì tuổi già, chúa
Trịnh m không chuẩn y mà vẫn giữ ông lại Kinh đô để hỏi ý kiến khi cần
thiết. Sau đó, ông được khôi phục làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư b
Hộ, hàm Thiếu bảo, được liệt vào bc Nlão hầu. Chúa Trịnh Tông vẫn
còn triệu ông vào hỏi việc lúc ông đã 84 tuổi. Hai m sau ông mất, thọ 86
tuổi, linh cu được rước về an ng quê nhà. Khi ông mt được tặng chức
Thái tể, tước Quận công.
Nguyễn Lân trọn đời mang hết i ng đức hạnh của mình ra
giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, n võ song toàn, văn hóa - giáo dục
uyên bác. Cho nên kng lấy gì m lkhi thấy những danh nhân đương thời
đều i về ông với những lời trân trọng nhất. Phan Huy Cnhn xét: "Khi
bàn việc, ông giữ lòng trung thực, kng che chở bênh vực ai, chúa khen là
ngay thẳng m nói". Ssách của Quốc sử quán triều Nguyn về sau cũng
viết: "Nguyễn Lân... làm quan thanh liêm, cn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ
vnhân n, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ ng lao, vào triu tham dchính sự
thì giđúng pháp lut, không hề a dua..." (Đại Nam nhất thống chí). "Bá
Lân người có văn học, chất phác, thẳng thắn, mạnh dạn m nói" (Cương
mục).
Đóng góp của ông v mặt văn học cũng đáng kể. Riêng với bài p
m NBa Hạc, bằng những hình nh mạnh mẽ, phần tinh nghịch. Về
phú còn nhiu bài chHán, như Giai cảnh hứng tình, Dch đình dương
xa, Trương Hàn tư thuần lư... Nguyễn Lân còn một số i tvịnh sử,
được tuyển vào cuốn Vịnh sthi quyển, Quốc âm thi và Mao thi ngâm vịnh
thực lục.