TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------------
BÙI HỒNG QUÝ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG MỐI QUAN HỆ TRONG
BÁN LẺ TRỰC TUYẾN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Marketing)
Mã số: 9340101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội – 2023
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
----------------
Người hướng dẫn khoa học:
1.GS.TS. NGUYỄN VIẾT LÂM
2. PGS.TS. TRẦN HỮU CƯỜNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp …..
họp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Vào hồi:…ngày…tháng…năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
1
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Tỷ lệ tăng trưởng internet của Việt Nam được đánh giá một trong các nước nhanh
nhất trong khu vực Châu Á cao nhất trên thế giới. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
internet, mua sắm trực tuyến đã và đang trở thành xu thế tất yếu và phổ biến trên thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng. Tỉ lệ người tiêu dùng (NTD) mua sắm trực tuyến không ngừng
gia tăng theo thời gian. Năm 2008, tỉ lệ người sử dụng internet tham gia mua sắm trực tuyến
chỉ chiếm 4% (Asia Pacific, 2010) nhưng tỉ lệ này tăng lên 58% năm 2014 (Cục Thương mại
điện tử Công nghệ thông tin, 2014), 77% năm 2019, 88% năm 2020 74,8% năm 2021
(Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, 2021, 2022).
Mặc dù tiềm năng của phát triển kinh doanh trực tuyến ở Việt Nam là rất lớn, trong đó
đáng lưu ý tỷ lệ số lượng NTD sử dụng internet rất cao ngày càng gia tăng nhưng
doanh thu thương mại điện tử B2C còn chiếm tỷ trọng thấp so với tổng mức bán lẻ hàng hóa
và dịch vụ tiêu dùng cả nước. Cụ thể, doanh thu thương mại điện tử B2C 5,5% trong năm
2020 7% trong năm 2021 lần lượt tương ứng với 11,8 tUSD 13,7 tUSD (Cục Thương
mại điện tử và Kinh tế số, 2022). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như cơ sở hạ
tầng công nghệ chưa tốt (Trần Anh Thư Lương Thị Minh Phương, 2018); chính sách
pháp luật còn thiếu tính đồng bộ; thu nhập bình quân đầu người chưa cao dẫn đến giá trị mua
sắm trực tuyến nhỏ (Bộ Công Thương, 2021); … nhưng một trong những nguyên nhân quan
trọng là chất lượng mối quan hệ (CLMQH) trong kinh doanh trực tuyến đang còn thấp.
CLMQH được định nghĩa là một cấu trúc đa chiều liên quan đến đánh giá chung của
khách hàng về mối quan hệ (MQH) của họ với nhà cung cấp dịch vụ tại một thời điểm cụ thể
dựa trên tất cả các tương tác trước đó với nhà cung cấp. Một MQH kém chất lượng giữa NTD
với nhà cung cấp trực tuyến sẽ làm giảm lòng trung thành của NTD đối với nhà bán lẻ nói
chung nhà bán lẻ trực tuyến nói riêng. Điều này dẫn đến khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp
và sẽ chia sẻ những trải nghiệm xấu của họ cho người khác. Như một hệ quả tất yếu, kết quả
kinh doanh hiện tại cũng như tương lai của các đơn vị bán lẻ sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Vì vậy,
xây dựng MQH bền vững và lâu dài với NTD là một vấn đề quan trọng trong marketing cũng
như trong kinh doanh. Việc xác định các nhân tố ảnh ởng đến chất lượng mối quan hệ sẽ
giúp nhà bán lẻ trực tuyến hiểu các giải pháp thiết lập MQH đáng tin cậy với khách
hàng từ đó cải thiện được kết quả kinh doanh của họ. Tuy nhiên hiện nay, những nghiên cứu
liên quan đến xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH trong các giao dịch trên internet
vẫn còn hạn chế được thực hiện chủ yếu các nước phát triển (Kousheshi et al., 2019).
Bên cạnh đó, cả hai vế của mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH trong
bán lẻ trực tuyến chưa được đề cập một cách toàn diện đồng thời để kiểm định mối quan
hệ này. Chẳng hạn, các nhân tố ảnh hưởng được đề cập trong các nghiên cứu khá riêng lẻ và
chưa phản ánh đầy đủ c khía cạnh liên quan đến quá trình mua của khách hàng, đồng thời
CLMQH lại chỉ được coi là biến phụ thuộc có cấu trúc tổng hợp (không được xem là cấu trúc
đa chiều); Một số nghiên cứu đã phản ánh tương đối toàn diện những nhân tố ảnh hưởng
2
các nhân tố này đã được phân nhóm cụ thể trong mối liên hệ với quá trình mua của NTD
nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu ảnh hưởng đến một thành phần nào đó của chất
lượng MQH; Trong môi trường bán lẻ trực tuyến, đã một số nghiên cứu phân tách CLMQH
thành các thành phần khác nhau xem xét MQH giữa chúng. Tuy nhiên, các nhân tố ảnh
hưởng đến CLMQH được phản ánh trong các nghiên cứu trên chưa thực sự đầy đủ các khía
cạnh liên quan đến quá trình mua của khách hàng. Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu chưa tính
đến việc xem xét ảnh ởng của biến kiểm soát (đặc biệt một số biến nhân khẩu học)
khả năng tác động đến CLMQH để có thêm nhiều phát hiện trong nghiên cứu, từ đó làm tăng
giá trị của nghiên cứu.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH giữa nhà bán lẻ trực
tuyến và NTD còn rất hạn chế và hầu như trong các nghiên cứu này, cả hai vế của mô hình cứu
đều chưa thể hiện được tính toàn diện và đồng thời như đã nêu trên. Có thể nói các nghiên cứu
về chủ đề liên quan đến CLMQH ở Việt Nam đang còn khá phiến diện, sơ khai; trong khi đó,
các kết quả nghiên cứu đã được thừa nhận ở nước ngoài chưa hẳn đã có thể vận dụng trực tiếp
vào điều kiện Việt Nam do những sự khác biệt về nhiều mặt như bối cảnh kinh tế, chính trị, xã
hội, nền tảng công nghệ, kỹ thuật và thói quen mua sắm của người tiêu dùng.
Toàn bộ những bất cập, hn chế nêu trên chính là khoảng trống đang tồn tại trong nghiên
cứu về CLMQH và các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH trong bán lẻ trực tuyến nói chung và ở
Việt Nam nói riêng. Bởi vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH trong bán lẻ
trực tuyến trong điều kiện Việt Nam là cần thiết. Điều này đã thôi tc nghiên cứu sinh la chọn
đề tài cho luận án tiến sỹ của mình với tên đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng mối
quan hệ trong bán ltrực tuyến ở Việt Nam” với hi vọng khắc phục khoảng trống nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung
Luận án tập trung nghiên cứu kiểm định các nhân tố tác động đến CLMQH trong
bán lẻ trực tuyến ở Việt Nam.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Xác định các khoảng trống khoa học trong mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng
CLMQH trong bán lẻ trực tuyến Việt Nam. Trên cơ sở đó, hình nghiên cứu được
phát triển.
- Kiểm định sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng lên CLMQH trong bán lẻ trực
tuyến để thấy được mức độ và chiều hướng tác động của mỗi nhân tố
- Kiểm định sự tác động của một số biến kiểm soát thuộc về nhân khẩu học của NTD
lên CLMQH trong bán lẻ trực tuyến Việt Nam để có thêm nhiều phát hiện trong nghiên cứu,
từ đó làm tăng giá trị của nghiên cứu.
- Căn cứ vào kết quả nghn cứu, luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao
CLMQH trong bán ltrực tuyến để cải thiện hiệu quả kinh doanh củac nhà bán lẻ trực tuyến
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Có những khoảng trống khoa học nào trong mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng
đến CLMQH trong bán lẻ trực tuyến Việt Nam?
3
- Mức độ ảnh hưởng và chiều hướng tác động của từng nhân tố tới CLMQH trong bán
lẻ trực tuyến ở Việt Nam như thế nào?
- hay không sự tác động của một số biến kiểm soát thuộc về nhân khẩu học của
NTD lên CLMQH trong bán lẻ trực tuyến ở Việt Nam ?
- Những khuyến nghị nào cho nhà bán lẻ trực tuyến nhằm giúp họ cải thiện được kết
quả kinh doanh?
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tu󰈓ợng nghien cứu của luận án: Các nhân tố ảnh hu󰈓ởng đến CLMQH trong bán
lẻ trực tuyến ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nọi dung:
- Trong bán lẻ trực tuyến, có rất nhiều mối quan hệ. Nghiên cứu này tập trung nghiên
cứu mối quan hệ giữa nhà bán lẻ trực tuyến và người tiêu dùng bởi MQH này đóng vai trò
quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh.
- Luận án tiến hành nghiên cứu hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH trong
bán lẻ trực tuyến thuộc cả ba giai đoạn cơ bản trong quá trình mua hàng (trước khi mua, trong
khi muasau khi mua hàng). Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn, do có nhiều nhân tố nên chỉ
tập trung nghiên cứu những nhân tố cơ bản đặc trưng nhất.
- CL MQH trực tuyến được đo ờng bằng nhiều thành phần khác nhau nhưng nghiên
cứu này chỉ tập trung vào 3 thành phần: sự hài lòng, lòng tin và cam kết tình cảm trực tuyến.
+ Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát quan hệ giao dịch trực tuyến nhóm mặt hàng
thiết bị điện tử. Nghiên cứu lựa chọn nhóm mặt hàng thiết bị điện tử bởi đối tượng này chiếm
tỷ lệ lớn nhất trong các giao dịch trên trên website và ứng dụng di dộng.
+ Về khong gian nghien cứu đối tượng khảo sát: Luận án tiến hành nghiên cứu
CLMQH trong n lẻ trực tuyến trên địa bàn Thành phố Nội TP.HCM. Nghiên cứu
tiến hành khảo sát những NTD có mua thiết bị điện tử trực tuyến trên các website bán lẻ.
+ Về thời gian nghiên cứu: 2021-2022.
1.4. Khái quát về phương pháp nghiên cứu
Phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nm: Phương pháp này đươc sử dụng để phỏng
vấn sâu c chuyên gia đến từ lĩnh vực marketing thương mại điện tử ng như phỏng
vấn tập trung đối với NTD mua sắm trực tuyến trên địan Hà Nội. Kết quả nghiên cứu
căn cứ để điều chỉnh mô hình, biến quan sát và câu hỏi (nếu có) trước khi triến hành nghiên
cứu định lượng.
Nghiên cứu định lượng bộ: Căn cứ vào kết quả của nghiên cứu định tính, nghiên
cứu sinh thực hiện điều tra sơ bộ với 289 đối tượng người tiêu dùng thông qua phương pháp
khảo sát trực tuyến. Các dữ liệu thu thập được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của biến quan
sát thông qua hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả của nghiên cứu định lượng sơ bộ là xác định
biến quan sát hoàn chỉnh.
Nghiên cứu định lượng chính thức: Nghiên cứu sinh sẽ khảo sát các nhân tố ảnh hưởng
đến CLMQH trong bán lẻ trực tuyến thành phố Nội thành phố Hồ Chí Minh. Dựa
4
vào dữ liệu thu thập được từ 871 NTD, nghiên cứu sinh sẽ thực hiện kiểm định biến quan sát
bằng phương pháp phân tích hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân
tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình cũng ngiả thuyết bằng phương pháp
phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM).
1.5. Những đóng góp của luận án
- Đóng góp về mặt học thuật, lý luận
Kết hợp cả lý thuyết cam kết, tin cậy và lý thuyết marketing quan hệ trong việc nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH trong bối cảnh bán lẻ trực tuyến, luận án đã có những
đóng góp chủ yếu sau:
1. Đã có một số nghiên cứu phát hiện được nhiều nhân tố tác động đến CLMQH.
Tuy nhiên, các nhân tố trong từng nghiên cứu đang chưa có sự nhất quán, chưa bao quát được
hết những nhân tố cơ, bản đặc trưng cho mỗi giai đoạn của quá trình mua của NTD. Vì vậy,
các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH được đxuất trong nghiên cứu này được phân nhóm dựa
trên quá trình mua hàng trực tuyến của NTD bao gồm giai đoạn trước, trong và sau mua. Đây
là các nhân tố quan trọng, cơ bản, điển hình phản ánh những hoạt động cơ bản của quá trình
mua hàng trực tuyến của NTD.
2. Nhiều nghiên cứu trước đây đã dùng CLMQH như một cấu trúc tổng hợp. Bên cạnh
đó, một vài nghiên cứu đã phân tách và kiểm tra MQH giữa các thành phần điểm khởi đầu
sự hài lòng trực tuyến. Khái niệm CLMQH trong nghiên cứu này với ch biến phụ
thuộc cũng được tiếp cận với cấu trúc đa chiều/thành phần bao gồm lòng tin trực tuyến, sự
hài lòng và cam kết tình cảm trực tuyến. Tuy nhiên, nghiên cứu này xem xét mối tương quan
giữa các thành phần với nhau nhưng điểm khởi đầu là lòng tin trực tuyến.
3. Luận án bổ sung một biến quan sát mới để phù hợp với bối cảnh của Việt Nam đối
với nhân tố hoàn thành đơn hàng. Ngoài ra, luận án đã thiết kế tiến hành kiểm định tác
động của một số biến kiểm soát thuộc về nhân khẩu học của NTD đến CLMQH.
4. Kết quả chạy số liệu với mẫu khảo sát cho thấy một số điểm mới về các nhân tố tác
động đến CLMQH trong bán lẻ trực tuyến, cụ thể như sau:
- Luận án đã chỉ ra nhân tố Dễ dàng hoàn trả tác động lớn nhất đến lòng tin trực tuyến trong
mua sắm thiết bị điện tử (beta = 0,236). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các nhân tố: Giao diện
trang web, Chất lượng thông tin, Đảm bảo an toàn là các nhân tố không có tác động đến lòng tin trực
tuyến của NTD Việt Nam trong mua sắm thiết bị điện tử. Đây là phát hiện có điểm khác biệt với các
nghiên cứu tiền nhiệm.
- Luận án cũng phát hiện nhân tố Đảm bảo an toàn và Giá thiết bị điện tử có tác động mạnh
nhất đến sự hài lòng trực tuyến của NTD với hệ số beta của cả hai nhân tố là 0,200.
- Trong mối quan hệ giữa các thành phần của CLMQH, lòng tin trực tuyến có tác động
lớn nhất đến cam kết tình cảm trực tuyến của NTD trong mua sắm thiết bị điện tử.
- Kết quả kiểm định c động của một số biến kiểm soát đến CLMQH cho thấy duy
nhất biến khu vực có ảnh hưởng đến lòng tin trực tuyến của NTD. NTD ở thành phố Hồ Chí
Minh có lòng tin trực tuyến cao hơn thành phố Hà Nội.
- Những đề xuất/những hàm ý quản trị rút ra từ kết quả nghiên cứu
Từ những phát hiện trên, luận án đưa ra một số kiến nghị, đề xuất/hàm ý quản trị cho
các nhà bán lẻ thiết bị điện tử trực tuyến theo định hướng sau:
5
+ Cần tập trung đẩy mạnh đa dạng danh mục sản phẩm cả về bề rộng chiều sâu
cung cấp sản phẩm chất lượng với mức giá phù hợp với nhu cầu của NTD.
+ Cung cấp website dễ sử dụng và hấp dẫn. Trên website, cần cung cấp thông tin sản
phẩm và dịch vụ cập nhật, đầy đủ, dễ hiểu, chính xác, nhất quán.
+ Đặc biệt quan tâm đến sự an toàn trong thanh toán cùng với quy trình thanh toán
nhanh – gọn – đơn giản.
+ Cần chú trọng nhiều hơn vào chất lượng dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ sau bán hàng
như hoàn thành đơn hàng, chăm sóc khách hàng, hoàn trả sản phẩm.
1.6. Bố cục của luận án
Luận án có bố cục chính như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng mối quan hệ trong bán
lẻ trực tuyến
Chương 3: Bối cảnh nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT
LƯỢNG MỐI QUAN HỆ TRONG BÁN LẺ TRỰC TUYẾN
2.1. Cơ sở lý luận chung
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bán lẻ trực tuyến
2.1.1.1. Khái niệm
Trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh sử dụng định nghĩa của (Sinha & Gvili, 2001):
“ Bán lẻ trực tuyến là bán lẻ trên web bao gồm các giao dịch sản phẩm và dịch vụ qua mạng
cho người tiêu dùng cuối cùng”.
2.1.1.2. Các mối quan hệ và đặc điểm của bán lẻ trực tuyến
Các mối quan hệ trong bán lẻ trực tuyến
Trong n lẻ trực tuyến tồn tại nhiều mối quan hệ khác nhau. Nhà bán lẻ trực tuyến
không chỉ hình thành MQH với NTD mà còn nhiều bên liên quan khác như nhà cung cấp sản
phẩm, dịch vụ nền tảng, dịch vụ vận chuyển, phần mềm quản bán hàng, các dịch vụ tài
chính,… MQH giữa nhà bán lẻ trực tuyến ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh
doanh của nhà bán lẻ. Chính vậy, việc xây dựng, duy trì nâng cao MQH với NTD
việc hết sức quan trọng để nhà bán lẻ trực tuyến đạt được mục tiêu trong kinh doanh. Đây là
MQH sẽ được xem xét trong nghiên cứu này.
Đặc điểm của bán lẻ trực tuyến
- Khong gian địa lý hoạt đng: Khong bị giới hạn về địa lý hành chính: tỉnh, thành phố,
quốc gia và vùng lãnh thổ....
- Thời gian hoạt đng: Giao dịch mua bán ng hóa dịch vụ... diễn ra tren mạng
24/7.
6
- Vốn đầu tu󰈓 co󰈓 sở vạt chất: Chủ yếu đầu tu󰈓 cho hẹ thống kho bãi, giao nhạn.
- Chi phí: Giảm thiểu những chi phí kinh doanh bán lẻ về: in ấn catologue, brochure,
giấy tờ, gửi thu󰈓 và thue mạt bằng bán hàng...
- Cạp nht thong tin sản phẩm đến với khách hàng: Các thong tin sản phẩm nhu󰈓 khuyến
mãi, thay đổi g cả, sản phẩm mới cạp nht nhanh chóng dễ dàng ho󰈓n thong qua website, email...
- Cạnh tranh: Toàn cầu, nhiều đối thủ
- Quan hệ khách hàng: Kém bền vững hơn do không tiếp xúc trực tiếp
2.1.2. Khái nim và bản cht của chất lượng mối quan htrong bán l trực tuyến
2.1.2.1. Khái nim đặc điểm vquan hệ
Buttle & Maklan (2015) định nghĩa một quan hệ được hình thành bởi một loạt những giai
đoạn tương tác giữa hai bên theo thời gian.
Một mối quan hệ có những đặc điểm sau: có sự qua lại, có tương tác, có lặp đi lặp lại,
cả hai bên lợi ích, sự điều chỉnh thích nghi trong hành vi, là MQH duy nhất
lòng tin.
2.1.2.2. Khái niệm và bản chất của chất lượng mối quan hệ trong bán l trực tuyến
Mặc thiếu sự đồng thuận về định nghĩa CLMQH nhưng đối với mục đích của nghiên
cứu này, chúng tôi chọn định nghĩa chất lượng quan hệ trực tuyến của B. W. Keating et al.,
(2011) bởi nó phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. CLMQH thể được định nghĩa là một cấu
trúc đa chiều liên quan đến đánh giá chung của khách hàng về MQH của họ với nhà cung cấp
dịch vụ tại một thời điểm cụ thể dựa trên tất cả các tương tác trước đó với nhà cung cấp đó.
Mặc dù không có sự đồng thuận nào về định nghĩa CLMQH nhưng hầu hết các tác giả
đều đồng ý rằng :
(1) Định nghĩa CLMQH thay đổi tùy theo bối cảnh nghn cứu.
(2) Có hai cách tiếp cận khác nhau về việc đánh giá hay nhìn nhận CLMQH. Một số
nghiên cứu cho rằng, CLMQH là một đánh giá tương tác. Holmlund (2001) và Boles và cộng
sự (1997) ngụ ý rằng CLMQH cần phải một đánh giá chung, phù hợp hơn với bản chất "hai
chiều" của các MQH. Tuy nhiên, một số tác giả đứng trên góc độ khách hàng để định nghĩa
CLMQH, ví dụ như định nghĩa của Leuthesser (1997), Hewett et al. (2002), Huntley (2006)
B. W. Keating et al. (2011). khía cạnh KH, CLMQH được xem mức đánh gcủa
người mua đối với đơn vị bán liên quan đến độ tin cậy, sự hài lòng và cam kết. Hiện nay, các
phương pháp tiếp cận khác nhau về CLMQH chủ yếu chỉ dựa vào quan điểm, đánh giá của
người mua bởi những khó khăn cố hữu trong việc thu thập và phân tích dữ liệu từ cả hai phía.
Xuất phát từ những khó khăn trong việc thu thập dữ liệu sự hạn chế về thời gian, nghiên
cứu này cũng tiếp cận CLMQH dựa trên quan điểm, đánh giá của người mua.
(3) CLMQH một khái niệm đã được áp dụng trong MQH giữa các cá nhân hoặc
bối cảnh MQH giữa tổ chức và cá nhân.
(4) Khái niệm CLMQH là một cấu trúc bậc cao, đa chiều và gồm nhiều thành phần.
(5) Sự thiếu đồng thuận về mặt định nghĩa CLMQH cũng thể là do các cấp độ khác
nhau các MQH phát triển như cấu trúc, kinh tế hội (Walter et al., 2003) ng như
bản chất theo ngữ cảnh cụ thể.
7
2.1.3. Một số lý thuyết chính đặt nền tảng cho nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH
trong bán lẻ trực tuyến ở Việt Nam
2.1.3.1. thuyết về cam kết, tin cậy của marketing quan hệ (Commitment -Trust
Theory of Relationship Marketing)
thuyết về cam kết, tin cậy đu󰈓ợc đxuất bởi Morgan Hunt (1994) khẳng định
cam kết sự tin ởng là những nhân tố quan trọng trong việc xây dựng duy trì
marketing quan hthành công. Chính vì vậy, rất nhiều tác giđã da trên lý thuyết cam
kết - tin cậy để phát triển thành phần của CLMQH trongi trườngn lẻ. Lý thuyết cam
kết - tin cậy cũng sẽ đặt nn tảng cho việc lựa chọn các thành phần của CLMQH trong
nghiên cu này.
2.1.3.1. Lý thuyết về marketing quan hệ (Relationship Marketing Theory)
Khái niệm marketing MQH đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Morgan &
Hunt, (1994) định nghĩa marketing quan hthể được định nghĩa tất cả các hoạt động
marketing nhằm thiết lập, phát triển và duy trì các MQH khách hàng thành công. Armstrong
et al., (2014) cho rằng marketing quan hquá trình xây dựng duy trì các mối quan hệ
khách hàng có lợi bằng cách mang lại giá trị và sự hài lòng vượt trội cho khách hàng.
Marketing quan hệ có ba nhân tố chính cấu thành. Nhân tố đầu tiên là marketing quan
hệ được xem là một chiến lược dài hạn đểy dựng MQH giữa một tổ chức và khách ng
của tổ chức đó.
Nhân tố thứ hai marketing quan hệ bao gồm việc xây dựng MQH với khách hàng
(Das, 2009; Rootman, 2006). Marketing quan hệ bao gồm ba giai đoạn khác nhau. Giai đoạn
đầu tiên của việc xây dựng MQH bắt đầu bằng việc thu hút khách hàng đến với một tổ chức
(Berry, 2002; Das, 2009). Giai đoạn y tương ứng với giai đoạn đầu tiên trong tiến trình mua
hàng của KH. Giai đoạn thứ hai bắt đầu khi khách hàng mua và sử dụng các sản phẩm hoặc
dịch vụ của tổ chức và bao gồm nỗ lực phát triển MQH lâu dài giữa tổ chức và khách hàng vì
lợi ích chung của họ (Das, 2009).Trong môi trường trực tuyến, giai đoạn mua hàng liên quan
đến việc hoàn thành đơn hàng như lựa chọn phương thức thanh toán, giao hàng, điền chi tiết
thanh toán và xác nhận đơn hàng khi thanh toán. Giai đoạn cuối cùng của marketing quan hệ
tổ chức cố gắng duy trì nâng cao MQH với KH, cũng ngiữ chân khách ng bằng
cách không ngừng lưu tâm đến lợi ích tốt nhất của họ, đồng thời cung cấp dịch vụ khách hàng
xuất sắc (Berry, 2002; Das, 2009). Trong môi trường trực tuyến, giai đoạn sau bán đóng vai
trò đặc biệt quan trọng bởi khách ng không thể kiểm tra sản phẩm trước khi mua. Khách
hàng đôi khi có vấn đề về sản phẩm hoặc họ có thể muốn đổi hoặc trả lại sản phẩm mà họ đã
mua. Do đó, tổ chức cần chú ý nhiều hơn đến dịch vụ chăm sóc khách hàng đổi trả sản
phẩm để duy trì và nâng cao MQH với KH. Như vậy, để xây dựng, duy trì và nâng cao MQH
với KH, tổ chức cần quan tâm đến ba giai đoạn trong marketing quan hệ cũng như các giai
đoạn trong tiến trình mua của KH, đặc biệt trong môi trường trực tuyến.
Nn tố thba cuối ng marketing quan hệ hướng o vic tạo ra duy trì c MQH
cùng có lợi với khách hàng (Lo, 2012: 92; Reimann và cộng sự, 2009: 4; Gummesson, 2002: 39).
8
Như vậy, lý thuyết marketing quan hệ sẽ đặt nền tảng cho vic xem xét và phân loại
c nn tố theo c giai đon trong quy trình mua sm của NTD đồng thời thuyết này
cũng căn c cho việc lựa chọn các thành phần của CLMQH trong nghn cứu này.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan về các thành phần của CLMQH trong
bán lẻ trực tuyến
2.2.1. Tổng hợp vcác thành phần đo lường chất lượng mối quan hệ trong các
nghiên cứu trước đây
Trong môi trường kinh doanh bán lẻ, c nghiên cứu liên quan đến CLMQH thường
được chia thành hai nhóm. Trong nhóm thứ nhất, khái niệm CLMQH chủ yếu thông qua các
khía cạnh bản như sự hài lòng, tin tưởng cam kết. Trong nhóm thứ hai, khái niệm
CLMQH không bị giới hạn các khía cạnh bản, nhưng nghiên cứu hiện tượng một cách
rộng rãi hơn. Sau ba thập kỷ nghiên cứu thị trường tiêu dùng (1990-2021), các nghiên cứu về
CLMQH đã chỉ ra rằng 10 thành phần đã được sử dụng để đo lường CLMQH trong bán
lẻ. Đó sự tin tưởng, sự hài lòng, cam kết, xung đột, giao tiếp, MQHhội, nỗ lực, giá trị,
sự thấu hiểu nhận thức về chất lượng sản phẩm. 9 trong 10 thành phần đo lường
CLMQH trong bán lẻ trực tuyến. Khái niệm bản về cấu trúc vẫn chiếm ưu thế đáng kể
trong hầu hết các nghiên cứu.
Các nghiên cứu về CLMQH bán lẻ nói chung và bán lẻ trực tuyến nói riêng hội tụ trên
các khía cạnh cấu thành nên hiện tượng CLMQH bán lẻ. Đó là sự hài lòng, tin tưởng và cam
kết. Trong môi trường trực tuyến cũng giống như môi trường kinh doanh truyền thống, xây
dựng MQH bền chặt với khách hàng là một nhân tố thiết yếu trong sự thành công của các nhà
cung cấp dịch vụ trực tuyến. Vì vậy, sự hài lòng, tin tưởng và cam kết có thể được xem xét
những nhân tố quan trọng nhất của CLMQH trực tuyến (Brun et al., 2014). Đây cũng là những
nhân tố được sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường CLMQH trực tuyến.
Lòng tin trực tuyến
Morgan Hunt (1994) định nghĩa lòng tin nhận thức về độ tin cậy tính chính
trực của đối tác" (tr.23). Trong bối cảnh trực tuyến, lòng tin trực tuyến được định nghĩa là
một tập hợp các lòng tin hoặc kỳ vọng tích cực đối với năng lực, tính chính trực và lòng nhân
từ của một công ty trong môi trường trực tuyến (McKnight và cộng sự, 2002).
Sự hài lòng trực tuyến
Trong môi trường bán lẻ trực tuyến, sự hài lòng về mối quan hệ được định nghĩa
thái độ tổng thể hiện tại của NTD đối với một nhà bán lẻ trực tuyến do đánh giá tổng thể v
mối quan hệ với nhà bán lẻ trực tuyến (Rafiq, Fulford and Lu, 2013). Sự hài lòng về MQH
phụ thuộc vào các yếu tố xảy ra trong các giai đoạn của giao dịch (Rafiq, Fulford and Lu,
2013). (Kotler, 1997) cũng đề xuất rằng sự hài lòng của khách hàng là kết quả của những trải
nghiệm của khách hàng trong quá trình mua hàng và đóng một vai trò quan trọng trong việc
ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ơng lai của khách hàng. Qtrình mua thể được xem
như một loạt các giai đoạn ((Oliver, 1981); (Kotler, 1997)). Các giai đoạn mua hàng này bao
gồm tìm kiếm thông tin, mua hàng và sau khi mua hàng.