
Nhu cầu nhân lực trong phát triển kinh tế
- GS Hà Tôn Vinh , Kiều bào Mỹ
Nhu cầu nhân lực là điều kiện tất yếu trong phát triển kinh tế của Việt Nam và hội
nhập với thế giới, cũng là điều bất cập tồn đọng mà nếu không vượt qua được và
không đầu tư đủ thì kinh tế Việt Nam không thể phát triển theo xu hướng và chỉ
tiêu đề ra.
Yếu tố con người
Đó là nhận định của Giáo sư Hà Tôn Vinh, đang tham gia giảng dạy tại Khoa Quản
Trị Kinh Doanh thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Ông cũng là Chủ Tịch kiêm
Tổng Giám Đốc Tổ Hợp Giáo Dục Đào Tạo Stellar Management ở Việt Nam.
Tốt nghiệp từ Đại Học Georgetown ở Mỹ, từng làm việc trong ngành tài chính hạ
tầng cơ sở tại Trung Quốc, Đài Loan, Mông Cổ, Philippines trước khi về Việt
Nam.
GS Hà Tôn Vinh : Tới khi mà tôi trở lại làm việc tại Việt Nam thì nhìn chung thấy
đất nước bây giờ là đang phát triển, và khi phát triển thì cần nhiều thứ lắm: cần cơ
sở, cần con người, cần tài chính, cần quản lý.
Tôi nhìn vào tất cả những công ty lớn của Việt Nam, đặc biệt là các công ty của
nhà nước, thì các đội ngũ quản lý, những người làm quản lý hay những người làm
lãnh đạo đó thường thường là những người đã sống nhiều năm trong nền kinh tế
không phải là thị trường nên cái nhìn của họ về thị trường nó khác hơn với những
cái nhìn từ bên ngoài nhìn vào.

Chính vì thế mà tôi có ý định ngay lúc đó là tham gia, chia sẻ thông tin và chia sẻ
những kinh nghiệm của các nước, các ngành trong vấn đề quản lý và sau đó thì tôi
được mời dạy một số các chương trình của đại học, nhất là những chương trình
MBA của Việt Nam lúc đó mới bắt đầu có. Tôi là một trong những người đầu tiên
đưa Đại Học Hawaii ( University of Hawaii ) về Việt Nam để làm chương trình
MBA đầu tiên tại Việt Nam.
Từ những năm 97-98 việc đầu tiên là sau khi mình nhận thức rằng sự phát triển
kinh tế của Việt Nam đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố gọi là con người, và
con người đó là con người có chuyên môn, con người có khả năng lãnh đạo, con
người có khả năng quản lý, thì tôi mới tham gia giảng dạy một số những chuyên
môn, chuyên đề, thí dụ như quản lý dự án, quản lý hợp đồng hay là quản lý rủi ro.
Qua những hoạt động đó thì tôi được mời góp ý hay giảng dạy cho một số những
tổng công ty hay là những công ty lớn của Việt Nam, giống như Hàng Không Việt
Nam, Tổng Công Ty Dệt May ngày xưa, rồi thuỷ sản, rồi điện, rồi một số những
công ty trong vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng.
Sau đó tôi tham gia một số chương trình của Khoa Quản Trị Kinh Doanh tại Đại
Học Quốc Gia Hà Nội. Từ đó chúng tôi mới bắt đầu tham gia giảng dạy, rồi tham
gia trình bày những vấn đề mới trong kinh tế thế giới, trong thị trường, nhất là
những vấn đề về kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Những năm đó là những năm 97-98, thì những vấn đề đó được các học viên của
Việt Nam, tức là những giám đốc hay quản lý các công ty, họ rất là thích, (họ) nói
là vấn đề lãnh đạo rồi vấn đề chiến lược phát triển, vấn đề tầm nhìn, rồi vấn đề gọi
là quản lý con người, rồi quản lý hệ thống, rồi tất cả những vấn đề về hợp đồng.
Sau một thời gian thì có sự hỗ trợ của Đại Học Hawaii. Đại Học Hawaii về Việt
Nam lập một chương trình Cao Học Quản Trị Kinh Doanh, tức là MBA, trở thành
một chương trình chính quy theo cái nghĩa rất là "formal", một chương trình hoàn
toàn của Mỹ, đưa cái giáo dục của Mỹ, đưa cái nhìn của Mỹ, đưa các thầy của Mỹ,
đưa sách vở của Mỹ sang Việt Nam dạy, và chương trình đó rất là thành công.
Tôi tham gia với tư cách vừa là giảng dạy vừa là người quản lý chương trình đó
trong vòng 6 năm tại Hà Nội, và sau đó tại Sài Gòn 2 năm, tức là 8 năm.
Sau này chúng tôi và một số các giáo sư Mỹ cũng như giáo sư Việt kiều thành lập
một nhóm mang tên là Stellar Management đưa các kinh nghiệm của các nước, các
ngành và nhất là của Mỹ vào Việt Nam, và muốn chia sẻ thông tin cũng như kinh
nghiệm tốt nhất vào trong vấn đề quản lý tại Việt Nam.

Cái khó khăn trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam là thiếu người, và thiếu
người quản lý có kỹ năng cũng như có kinh nghiệm. Trong những năm đó thì
những khái niệm hoặc là những kinh nghiệm của nền kinh tế thị trường (thì) họ
không có nhiều, và khi mà họ bắt đầu hội nhập, họ bắt dầu làm việc với các tổ chức
nước ngoài, với các cơ quan nuớc ngoài, và nhất là những đối tác nước ngoài thì họ
cần biết những thông tin đó, cần biết những kinh nghiệm đó.
Kinh tế thị trường
Thanh Trúc : Sau khi Việt Nam với Mỹ có Hiệp Định Thương Mại, và Việt Nam -
Mỹ trở thành đối tác thương mại của nhau thì ông thấy rằng cho tới lúc này, Việt
Nam đã thực sự bước vào cái gọi là một nền kinh tế thị trường chưa, bởi vì giới
lãnh đạo trong nước vẫn dùng chữ “gọi là ..”
GS Hà Tôn Vinh : Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Tôi sống ở Việt Nam như vậy cũng khá lâu thì tôi cũng bắt đầu gọi là hiểu rõ ý
định của chính phủ. Thứ nhất là chính phủ cũng muốn phát triển kinh tế, đem lại
những thành quả kinh tế qua những tập đoàn, qua những tổng công ty của nhà
nước, thì chính phủ chỉ đạo những công ty đó làm những chương trình hay là
những dự án theo định hướng phục vụ chính sách của chính phủ.
Những công ty đó, những tập đoàn đó gặp cái khó khăn là họ phải hội nhập kinh tế
để họ có thể trưởng thành, họ có thể gọi là phát triển bền vững, thì họ phải có
những cung cách làm việc theo một cái gọi là nền kinh tế thị trường rõ rệt, tức là có
cung có cầu, có những vấn đề gọi là hỗ trợ nhân viên, quản lý tốt, rồi vấn đề chi
phí - giá cả thì họ phải theo kinh tế thị trường.
Mặc dù như thế nhưng mà họ vẫn phải đáp ứng chỉ thị, những nhu cầu hay chính
sách của chính phủ. Chính phủ mỗi nước họ có một tầm nhìn khác nhau, họ có một
nhu cầu khác nhau, một chính sách khác nhau, thì Việt Nam có thể là phát triển
theo một cái hướng đảng lãnh đạo đề ra.
Cái đó nhiều khi gây sự khó khăn cho doanh nghiệp là vừa phải là một nền kinh tế
thị trường, là một công ty có lợi nhuận, mà họ lại vừa đóng góp hay là vừa theo
những chỉ thị hay là định hướng của chính phủ. Tôi lấy một thí dụ như là Tổng
Công Ty Điện, bây giờ là Tập Đoàn Điện.
Thanh Trúc : Thưa GS Hà Tôn Vinh, theo ông, nhu cầu về nguồn nhân lực ở Việt
Nam có đủ để đáp ứng đà phát triển của nền kinh tế và phát triển trong xã hội hiện
bây giờ không, hay là vẫn còn thiếu ?

