Nhục đậu khấu - Gia vị của phái đẹp
Họ Nhục đậu khấu (hay còn gọi là họ Máu chó, danh pháp khoa học:
Myristicaceae) là một họ thực vật có hoa trong bộ Mộc lan
(Magnoliales), bao gồm khong 20-21 chi và khong 475 loài, bao gồm
các loại cây bụi và cây thân gỗ. Họ này phân bổ khắp vùng nhiệt đới.
Nhục đậu khấu(ảnh sưu tầm)
Một chi là chi Myristica, tức nhục đậu khấu, có giá trị thương mại như
một mặt hàng gia vị.
Mô t
Nhục đậu khấu thuộc loại cây to, cao 8-10m. Toàn thân nhẵn. Lá mọc so le,
xanh tươi quanh năm. Màu hoa vàng trắng. Quả hạch, hình cu hay quả lê,
màu vàng, đường kính 5-8cm, khi chín nở theo chiều dọc thành 2 mnh,
trong chứa một hạt có vỏ dày cứng, bao bọc bởi một áo hạt bị rách màu
hồng. Nam nước ta và Campuchia. Còn mọc Indonesia, Malaysia, tây n
Độ, đã di thực được vào tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) i giáp giới miền
Bắc nước ta.
Trong y học:
Quả nhục đậu khấu (ảnh sưu tầm)
Nhục đậu khấu và ngọc quhoa đều là những vị thuốc thơm, có tác dụng
ch thích. Được dùng trong cĐông và Tây y. Nhưng dùng với liều cao thì
có thgây độc. Dùng nguyên cmột hạt đãhin tượng độc. Sau một thi
gian kích thích ngắn, có hiện tượng mệt mỏi, trì độn và nggật.
Dùng ít có tác dụng c tiến sự bài tiết dch vị, giúp tiêu hóa tốt, ch thích
nhu động ruột, tạo cảm giác ngon, nhưng uống nhiều quá sẽ làm say tê,
khi tiểu tin ra huyết rồi chết.
Theo Đông y, nhục đậu khấu có vị cay, tính ôn, hơi độc, vào 3 kinh t vị và
đại trường, có năng lực ôn t, sáp tràng, chnôn, chỉ tả lỵ, tiêu thực, chữa
lnh bụng, đau bụng, đầy chướng. Phàm nhiệt tả, nhiệt lỵ và bnh mới phát
không được dùng.
Trong ẩm thực:
Nhục đậu khấu gia vị đặc trưng của ẩm thực phương đông(ảnh sưu tầm)
là gia vị xuất hiện nhiu trong văn hóa ẩm thực của người châu Á. Nhờ vào
lượng chất chống ôxy hóa dồi dào, nhục đậu khấu vẫn được dùng để chế tạo
các loại thuốc làm dịu thần kinh.
Theo các tài liu cổ của y học Trung Quốc, nhục đậu khu được dùng rt
phổ biến m hương liu, gia v và đặc biệt thuốc kích dục,ng cường khả
năng sinh lý và sự hưng phấn của phụ nữ. Họ gi nhục đậu khấu là “Gia v
tình yêu” hay “Viagra cho ngii”.
Đến mùa qunhục đậu khấu chín (tháng 5-6 và 11-12), người ta thu hái
chúng đem về, bóc bỏ vỏ, lấy riêng áo hạt ngâm nước rồi phơi sấy cho khô,
được nhục quả y. Đem nhục quả y tẩm ướt, rồi bọc bột mì, cám gạo hoặc bột
hoạt thạch, đem nướng đến khi vỏ bọc cháy hết. Còn hạt đem sấy ở nhiệt độ
80 độ đến khi lắc có tiếng lọc cọc thì đem đập lấy nhân, sao nóng, ép bỏ dầu
hoặc tán hạt thành bột, gói vào giy bản rồi ép bỏ dầu.
Hạt nhục đậu khấu chứa 14,3% nước, 7,5% protein, 28,5% hydrat cacbon,
11,6% sợi, 1,7 % chất vô cơ, 0,12mg/100 canxi, 0,24mg/100 phosphor và
4,6mg/100 sắt, 6-16% tinh dầu, 14,6-24, 2% tinh bột, 2,25% pentosan, 1,5%
furfural, 0,5-0,6% pectin. Phm chất và tác dụng chữa bệnh của nhục đậu
khấu là do tinh du vi hàm lượng không dưới 5%.
Khi dùng, lấy 0,25-0,50g bt nhục đậu khấu ninh nhừ với cháo, ăn trong
ngày. Cháo nhục đậu khu có mùi thơm đặc trưng và v ngon hấp dẫn. Có
thể dùng bt hạt pha trà hoặc cho vào nước giải khát mà uống.