intTypePromotion=1
ADSENSE

Những tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến phát triển đô thị tỉnh Bắc Ninh

Chia sẻ: ViUzumaki2711 ViUzumaki2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

42
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có những tác động tích cực đến sự phát triển của mạng lưới đô thị tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đã hình thành nhiều điểm dân cư mang dáng dấp đô thị (thị tứ), nâng bậc đô thị, biến đổi chức năng của một số đô thị, tác động đến kinh tế - xã hội đô thị, thúc đẩy cơ sở hạ tầng đô thị phát triển, làm thay đổi công tác quy hoạch và quản lí đô thị.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến phát triển đô thị tỉnh Bắc Ninh

NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH<br /> TẾ ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TỈNH BẮC NINH<br /> Nguyễn Thị Huyền Trang1<br /> <br /> Tóm tắt: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có những tác động tích cực đến<br /> sự phát triển của mạng lưới đô thị tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế<br /> của tỉnh đã hình thành nhiều điểm dân cư mang dáng dấp đô thị (thị tứ), nâng bậc đô<br /> thị, biến đổi chức năng của một số đô thị, tác động đến kinh tế - xã hội đô thị, thúc đẩy<br /> cơ sở hạ tầng đô thị phát triển, làm thay đổi công tác quy hoạch và quản lí đô thị. Tuy<br /> nhiên, những tác động này còn mang tính cục bộ và hiệu quả chưa cao.<br /> Từ khóa: Bắc Ninh, đô thị, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đô thị<br /> 1. Mở bài<br /> Khi tái lập (năm 1997), Bắc Ninh là tỉnh nghèo trình độ phát triển kinh tế thấp,<br /> hệ thống đô thị hầu như không có gì. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay<br /> đổi rõ rệt mạng lưới đô thị: hai đô thị được nâng bậc (thị xã Bắc Ninh đã được nâng<br /> cấp lên thành phố Bắc Ninh - đô thị loại II, thị trấn Từ Sơn lên thị xã Từ Sơn), số đô thị<br /> tăng từ 07 năm 2000 lên 08 năm 2013, thành lập thêm nhiều thị tứ, cơ sở hạ tầng đô thị<br /> ngày càng đồng bộ và hiện đại, kinh tế - xã hội đô thị phát triển, công tác quản lí và quy<br /> hoạch đô thị được chú trọng... tạo ra bộ mặt hoàn toàn mới cho đô thị Bắc Ninh hướng<br /> đến là thành phố trực thuộc trung ương: văn hiến, văn minh vào năm 2020.<br /> 2. Nội dung<br /> 2.1. Hình thành, mở rộng đô thị và mạng lưới đô thị<br /> Quá trình chuyển dịch cơ cấu đang diễn ra mạnh mẽ tại Bắc Ninh, đặc biệt<br /> là sự phát triển công nghiệp với hoạt động của 10 khu công nghiệp, 22 cụm công<br /> nghiệp cùng nhiều làng nghề đã tạo nên các thị tứ là những thị trấn trong tương lai<br /> hay là địa bàn để đô thị (hiện có) mở rộng diện tích. Đến hết năm 2012, trên địa bàn<br /> tỉnh Bắc Ninh đã hình thành một hệ thống các thị tứ như: Văn Môn, Cầu Nét, Đông<br /> Xuyên, Đông Yên, Yên Phụ (huyện Yên Phong), Cảnh Hưng, Đông Sơn, Đồng Xép,<br /> Đại Đồng, Tân Chi (huyện Tiên Du), Việt Hùng, Chì, Nội Doi, Đức Long, Phương<br /> Liễu, Bằng An, Đông Du (huyện Quế Võ), Ngụ, Bùng, Núi (huyện Gia Bình), Kênh<br /> Vàng, Ngọc Quan, Lĩnh Mai, Hương Trai (huyện Lương Tài). Hầu hết các thị tứ<br /> được hình thành gần các KCN và CCN (KCN Yên Phong, Đại Đồng - Hoàn Sơn,<br /> Tiên Sơn, Quế Võ I và Gia Bình).<br /> 1. ThS, Trường CĐSP Bắc Ninh<br /> <br /> 123<br /> <br /> NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ ...<br /> Số lượng các đô thị tăng từ 07 đô thị năm 2000 lên 08 đô thị năm 2012 (tăng 01<br /> đô thị loại V) và toàn tỉnh có 01 thành phố, 01 thị xã cùng 06 thị trấn. [2] Tuy nhiên,<br /> sự phát triển hệ thống đô thị như vậy còn chậm, chưa phù hợp với mức độ CDCCKT.<br /> Nguyên nhân là do sự tập trung cao độ của KCN, CCN cùng sự phát triển của cơ sở hạ<br /> tầng (đặc biệt là giao thông vận tải). Trên địa bàn tỉnh quá trình đô thị hoá đang diễn<br /> ra khá mạnh ở các khu vực KCN tập trung, ven quốc lộ 1A, quốc lộ 18 và quốc lộ 38.<br /> Không gian đô thị chia thành hai khu vực rõ rệt gắn với sự phát triển công<br /> nghiệp [10]:<br /> - Khu vực phía Bắc sông Đuống (thành phố Bắc Ninh và các huyện Quế Võ, Tiên<br /> Du, Từ Sơn, Yên Phong) đô thị phát triển mạnh nhất ở dải đất giữa hai đường quốc lộ<br /> 1A và 1B cùng với tuyến đường sắt Lạng Sơn - Hà Nội cũng như dọc quốc lộ 18 - Nội<br /> Bài do sự phát triển của các KCN: Quế Võ I, Quế Võ II, Quế Võ III, Hanaka, Visip, Đại<br /> Đồng - Hoàn Sơn, Tiên Sơn, Yên Phong I, Yên Phong II, Nam Sơn - Hạp Lĩnh. Đây là<br /> điều kiện để đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa của các đô thị và hình thành các chuỗi đô thị<br /> khu vực phía Bắc sông Đuống với đô thị hạt nhân là thành phố Bắc Ninh - trung tâm<br /> phát triển mạnh nhất cho toàn vùng và toàn tỉnh, là một đô thị vệ tinh lớn của Hà Nội,<br /> cửa ngõ chính của vùng đô thị Thủ đô từ phía Bắc. Có thể xem thành phố Bắc Ninh là<br /> một trong những phân cực quan trọng để tham gia vào quá trình phát triển hệ thống dân<br /> cư của vùng thủ đô Hà Nội. Trong tương lai, dải đô thị Từ Sơn - Tiên Du - Bắc Ninh<br /> sẽ là khu vực đô thị hoá mạnh nhất của tỉnh Bắc Ninh.<br /> - Khu vực phía Nam sông Đuống là khu vực công nghiệp, dịch vụ kém phát triển<br /> nên chỉ có 03 đô thị là trung tâm hành chính, kinh tế của huyện. Mối liên hệ giữa KCN<br /> và đô thị còn hạn chế (Thị trấn Hồ - gắn với KCNThuận Thành II và III, thị trấn Gia<br /> Bình gắn với KCN Gia Bình) do vậy những tác động của CDCCKT đến phát triển đô<br /> thị còn mờ nhạt.<br /> 2.2. Biến đổi chức năng đô thị<br /> Từ khi tách tỉnh (1997) đến năm 2000, Bắc Ninh có 01 thị xã là trung tâm<br /> chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh và 06 thị trấn là trung tâm chính trị, văn hóa của<br /> huyện. Hiện nay tỉnh đã có 01 thành phố Bắc Ninh là trung tâm kinh tế (dịch vụ),<br /> chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục của tỉnh, là đầu mối giao thông quan trọng của<br /> tỉnh, của Vùng kinh tế trọng điểm phia Bắc; là đô thị vệ tinh vành đai ưu tiên phát<br /> triển của thủ đô Hà Nội, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, có vai trò thúc<br /> đẩy quá trình đô thị hóa trong phạm vi toàn tỉnh, tăng cường liên kết với Vùng đô thị<br /> Thủ đô thông qua việc đáp ứng các nhu cầu dịch vụ, giáo dục đào tạo và y tế. Tỉnh<br /> cũng có 01 thị xã Từ Sơn là trung tâm kinh tế (tiểu thủ công nghiệp), văn hóa, du<br /> lịch của tiểu vùng Bắc sông Đuống, là đô thị vệ tinh vành đại ưu tiên phát triển (sau<br /> T.P Bắc Ninh), là địa bàn mở rộng của vùng trung tâm đô thị Thủ đô, là một cực tăng<br /> 124<br /> <br /> Nguyễn Thị Huyền Trang<br /> trưởng trong tam giác tăng trưởng của tỉnh (thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện<br /> Quế Võ) có vai trò là “hạt nhân” tăng trưởng quan trọng. Ngoài ra, còn 06 thị trấn là<br /> trung tâm hành chính, dịch vụ, văn hóa của các huyện. Trong quy hoạch phát triển<br /> đô thị tỉnh đến 2030, thành phố Bắc Ninh là đô thị loại I trực thuộc trung ương với<br /> đô thị lõi là thành phố Bắc Ninh (hiện tại), huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn giữ vai<br /> trò “đầu tàu” và “hạt nhân”, là trung tâm kinh tế tổng hợp trong đó công nghiệp, dịch<br /> vụ giữ vai trò chủ đạo, tập trung phát triển kinh tế tri thức (giáo dục đào tạo, nghiên<br /> cứu ứng dụng khoa học công nghệ, du lịch văn hóa, thương mại), là thành phố văn<br /> hiến, sinh thái, hiện đại, văn minh, hài hòa và bền vững, có vị trí quan trọng về mặt<br /> an ninh, quốc phòng [10].<br /> 2.3. Thúc đẩy kinh tế - xã hội đô thị phát triển<br /> 2.3.1. Dân số đô thị<br /> * Quy mô dân số và tỉ lệ dân số đô thị tăng đáng kể<br /> Dân số thành thị tỉnh Bắc Ninh tăng đều qua các năm, từ 90,5 nghìn người năm<br /> 2000 tăng lên 269,4 nghìn người năm 2010 và 284,5 nghìn người năm 2012 [1,2]. Như<br /> vậy trong vòng 12 năm số dân thành thị tăng 3,1 lần, tốc độ tăng trung bình là 10%/<br /> năm. Chính việc nâng cấp và mở rộng diện tích đô thị (năm 2008 thị trấn Từ Sơn được<br /> nâng bậc thành thị xã Từ Sơn với diện tích bằng cả huyện Từ Sơn trước đây, năm 2006<br /> thị xã Bắc Ninh nâng bậc thành thành phố trực thuộc tỉnh, đến năm 2007 mở rộng địa<br /> giới hành chính thêm 09 xã của các huyện Quế Võ, Tiên Du, Yên Phong và tiếp tục<br /> mở rộng vào năm 2009, 2010 cho đến nay đã có 16 phường và 03 xã) làm cho số dân<br /> thành thị tăng lên, ngoài ra còn do người dân từ các huyện bị mất đất sản xuất hay từ<br /> các tỉnh, vùng lân cận (bởi sự hình thành các KCN) đến các đô thị tìm kiếm việc làm.<br /> Đặc biệt, người nước ngoài đến Bắc Ninh sinh sống tại thành phố Bắc Ninh ngày một<br /> tăng (hầu hết là người Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc).<br /> Mức tăng dân thành thị cao nhưng tỉ lệ dân thành thị (hay tỉ lệ đô thị hoá) của tỉnh<br /> còn khá thấp, năm 2012 chỉ đạt 26,2%, thấp hơn mức trung bình cả nước (31,2%), tốc<br /> độ đô thị hóa chỉ đạt 13,4% (trong vòng 12 năm). Trong khi tốc độ đô thị hóa thấp thì<br /> tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao khoảng 37,3% (giai đoạn 2000 - 2012) và ngành<br /> công nghiệp - xây dựng chiếm tới 76,3% tổng GDP, lao động phi nông nghiệp là 64,5%<br /> (công nghiệp xây dựng chiếm tới 42,6%, dịch vụ 21,9%) [1,2]. Đây là điều nghịch lí<br /> phản ánh nét riêng biệt của Bắc Ninh. Nguyên nhân là do sự phát triển hệ thống giao<br /> thông vận tải nhất là các tuyến xe buýt (tính đến hết năm 2012 có 13 tuyến xe buýt<br /> liên huyện và tỉnh) cùng với nhiều tuyến xe đưa đón cán bộ công nhân ở các KCN của<br /> những tập đoàn lớn, ngoài ra còn do sự tập trung cao của các KCN và CCN đã tạo nên<br /> kiểu di chuyển “con lắc” của dân cư và tác động mang đặc tính “trễ’ của CDCCKT đến<br /> đô thị tỉnh Bắc Ninh.<br /> 125<br /> <br /> NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ ...<br /> * Lao động và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tăng nhanh<br /> Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ở khu vực thành thị có xu hướng<br /> tăng về số lượng và tỉ trọng, số lượng tăng từ 48.291 người năm 2000 lên 154.674<br /> người năm 2012, tăng 3,2 lần, tốc độ tăng trung bình mỗi năm là 10,2%. Tỉ lệ lao động<br /> đang làm việc của khu vực thành thị tăng trong tổng lao động của tỉnh, từ 9,2% lên<br /> 30,2%. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp đạt mức cao và tăng, từ 69,5% năm 2000 lên<br /> 83,7% năm 2012.<br /> Bảng 1. Lao động đang làm việc và tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tỉnh Bắc Ninh<br /> giai đoạn 2000 - 2012 [1,2]<br /> Các chỉ tiêu<br /> <br /> 2000<br /> <br /> 2005<br /> <br /> 2010<br /> <br /> 2012<br /> <br /> 48.291<br /> <br /> 71.807<br /> <br /> 133.936<br /> <br /> 154.674<br /> <br /> Tỉ lệ so với lao động toàn tỉnh (%)<br /> <br /> 9,2<br /> <br /> 12,7<br /> <br /> 27,9<br /> <br /> 30,2<br /> <br /> Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp (%)<br /> <br /> 69,5<br /> <br /> 74,9<br /> <br /> 80,2<br /> <br /> 83,7<br /> <br /> 6,2<br /> <br /> 4,0<br /> <br /> 3,1<br /> <br /> 2,3<br /> <br /> Lao động đang làm việc khu vực thành<br /> thị (người)<br /> <br /> Tỉ lệ thất nghiệp (%)<br /> <br /> Tỉ lệ thất nghiệp cũng giảm đáng kể từ 6,2% năm 2000 còn 2,3% năm 2012. Số<br /> lượng việc làm tăng thêm tại khu vực thành thị mỗi năm trung bình có khoảng trên<br /> 20.000 chỗ làm mới. Số giờ làm việc của lao động khu vực thành thị trung bình tăng<br /> từ 36 giờ năm 2002 lên 45 giờ năm 2012.<br /> * Cơ cấu thu nhập thay đổi và mức sống dân cư đô thị được cải thiện rõ rệt<br /> Quá trình CDCCKT đã làm thu nhập bình quân đầu người của dân thành thị<br /> tăng từ 445,2 nghìn đồng/tháng năm 2002 lên 3.206,8 nghìn đồng/tháng năm 2012.<br /> Cũng trong giai đoạn này, cơ cấu thu nhập nhập dân thành thị có nhiều thay đổi tích<br /> cực. Theo ngành kinh tế cơ cấu thu nhập có sự chuyển dịch theo xu hướng: thu nhập<br /> từ ngành nông - lâm - thủy sản giảm đáng kể, thu nhập từ ngành công nghiệp - xây<br /> dựng tăng nhanh. Nếu theo nguồn thu, tỉ trọng nhập từ tiền lương – công tăng lên<br /> năm 2002 là 28,5% đã tăng lên 33,6% năm 2010 và 36,9% năm 2012, thu từ sản<br /> xuất công nghiệp và dịch vụ tăng nhẹ, năm 2002 nguồn thu này chiếm 49,4% tổng<br /> thu nhập và năm 2012 tăng lên 55,2% còn nguồn thu sản xuất nông – lâm – thủy sản<br /> giảm từ 22,1% năm 2002 xuống 7,9% năm 2012 [1,2]. Số lượng và quy mô của các<br /> cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp ngày càng tăng và mở rộng trong khi các cơ sở<br /> kinh tế cá thể của sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng chậm nên lao động làm thuê<br /> tăng nhanh dẫn đến tỉ lệ thu nhập bằng tiền lương và tiền công tăng đáng kể. Sự<br /> 126<br /> <br /> Nguyễn Thị Huyền Trang<br /> chuyển dịch này tương ứng với CDCCKT và lao động. Đây là sự chuyển dịch tích<br /> cực cần được duy trì và thúc đẩy. Thu nhập tăng đã làm cho mức sống của dân cư<br /> cũng tăng tương ứng.<br /> Bảng 2. Một số chỉ tiêu về mức sống hộ gia đình khu vực thành thị tỉnh Bắc Ninh<br /> giai đoạn 2002 - 2012 [1,2]<br /> Các chỉ tiêu<br /> <br /> 2010<br /> <br /> 2012<br /> <br /> 445,2<br /> <br /> 2.279,3<br /> <br /> 3.206,2<br /> <br /> 160.599<br /> <br /> 503.431<br /> <br /> -<br /> <br /> 14.685<br /> <br /> 19.110<br /> <br /> -<br /> <br /> Mức chi bình quân 1 người/tháng (Nghìn đồng)<br /> <br /> 303,9<br /> <br /> 1.605,9<br /> <br /> 2.175,9<br /> <br /> Mức tiết kiệm bình quân 1 người/tháng (Nghìn đồng)<br /> <br /> 141,3<br /> <br /> 673,4<br /> <br /> 1.030,3<br /> <br /> 6,14<br /> <br /> 3,94<br /> <br /> 2,86<br /> <br /> Thu nhập bình quân 1người/tháng (Nghìn đồng)<br /> Trị giá nhà ở bình quân 1hộ<br /> Trị giá đồ dùng lâu bền bình quân 1hộ<br /> <br /> Tỉ lệ hộ nghèo (%)<br /> <br /> 2002<br /> <br /> Thu nhập bình quân 01 người/tháng khu vực thành thị tăng 7,2 lần trong vòng<br /> 10 năm (2002 - 2012). Không chỉ có thu nhập tăng mà trị giá nhà ở cũng như trị giá đồ<br /> dùng lâu bền, mức tích lũy cũng tăng lên còn tỉ lệ nghèo đói giảm. Đời sống của dân<br /> cư thành thị được nâng cao đã tạo ra sức hút của đô thị, tuy nhiên số lượng nhập cư đến<br /> chỉ tập trung ở hai đô thị là thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn. Những người nhập<br /> cư đến hai đô thị trên chủ yếu là lao động đang làm việc tại các KCN (thành phố Bắc<br /> Ninh, Yên Phong, Tiên Du, thị xã Từ Sơn). Bên cạnh đó, còn có một số lượng nhỏ dân<br /> cư ở khu vực nông thôn (những huyện làng nghề kém phát triển, mất đất sản xuất nông<br /> nghiệp) đến thành thị để tìm kiếm cơ hội việc làm. Nếu tình trạng này xẩy ra trong một<br /> thời gian dài sẽ dẫn đến nhiều hậu quả về kinh tế, xã hội và văn hóa.<br /> 2.3.2. Kinh tế đô thị phát triển<br /> Kinh tế đô thị là một phần rất quan trọng của kinh tế tỉnh Bắc Ninh, nó có vai trò<br /> động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế của tỉnh. Quá trình CDCCKT làm cho các hoạt<br /> động kinh tế của đô thị tỉnh diễn ra sôi động, tấp nập với nhiều mối quan hệ đan xen và<br /> phức tạp. Nhiều ngành mới xuất hiện làm đa dạng hơn CCKT ngành của đô thị.<br /> <br /> 127<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2