
TIỂU LUẬN:
Vận dụng phương pháp chỉ số để phân
tích tình hình hoạt động kinh doanh máy
móc công cụ của Công ty TNHH Cơ khí
Phú Cường

LờI NóI Đầu
Trong xu thế toàn cầu hoá, thị trường quốc tế đang mở rộng trước mắt các
doanh nghiệp Việt Nam, điều đó vừa tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều
thách thức. Trước hoàn cảnh này các doanh nghiệp phải tự phát huy vai trò của
mình, phải tự vận động để tìm hướng đi đúng để có thể tồn tại và phát triển trong
điều kiện cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường. Do đó việc nâng cao
kiến thức và đổi mới phương pháp quản trị doanh nghiệp để đưa ra những biện
pháp, bước đi phù hợp trong điều kiện hiện nay là một tất yếu giúp cho doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Vì vậy các nhà quản lý nói chung và
các nhà quản lý doanh nghiệp nói riêng đều phải nắm rõ sâu sắc những biến động,
những thay đổi của quy luật thị trường cũng như nhất thiết phải nắm rõ được tình
hình hoạt động riêng của công ty mình – phải thấy được những biến động hoạt
động của công ty trên thị trường, tìm ra những mặt hạn chế của công ty để đưa ra
những phương hướng, biện pháp bước đi cho phù hợp. Có thể nói một trong
những công cụ mà các nhà quản lý có thể vận dụng để việc hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp mình trên thị trường có hiệu quả, đó là vận dụng công cụ thống
kê. Dựa vào các phương pháp phân tích trong thống kê như phương pháp chỉ số,
dãy số thời gian, dự báo, phân tổ, điều tra chọn mẫu v.v... để từ đó tìm ra quy luật
vận động, tình hình hoạt động kinh doanh trên thị trường giúp cho doanh nghiệp
đạt hiệu quả cao.
Trong đề án môn học “Lý thuyết thống kê” này dù chỉ là khía cạnh nhỏ em
đề cập đến, xong qua đây em có thể minh chứng một điều sử dụng công cụ thống
kê là một trong những công cụ cần thiết mà các nhà quản lý cần sử dụng để đạt
được hiệu quả cao trong kinh doanh cũng như trong các lĩnh vực khác.
Đề án môn học “ Lý thuyết thống kê ” của em có tên đề tài: “Vận dụng
phương pháp chỉ số để phân tích tình hình hoạt động kinh doanh máy móc công
cụ của Công ty TNHH Cơ khí Phú Cường”. Thông qua phương pháp chỉ số em có
thể thấy được sự biến động về doanh thu của các mặt hàng, biến động về tiền
lương trung bình do ảnh hưởng của nhân tố nào, để từ đó thấy được sự biến động

của các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến sự biến động hoạt động kinh doanh
của công ty. Rồi đưa ra những biện pháp, phương hướng bước đi có hiệu quả
trong kinh doanh trên thị trường của công ty.
Đề án môn học này, em đã được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trong khoa,
đặc biệt thầy Trần Ngọc Phác đã hướng dẫn cho em; nhờ đó em đã hoàn thành
xong được đề án với nội dung đề án môn học của em sẽ được trình bày như sau:
Phần I. Những lý luận cơ bản về chỉ số
I. Khái niệm, đặc điểm, phân loại, tác dụng
II. Phương pháp chỉ số
III. Hệ thống chỉ số
Phần II. Vận dụng phương pháp chỉ số để phân tích tình hình hoạt động
kinh doanh của công ty
I. Thực trạng hoạt động kinh doanh máy móc công cụ của Công ty
TNHH Cơ khí Phú Cường
II. Vận dụng phương pháp chỉ số để phân tích tình hình hoạt động kinh
doanh của công ty.
Phần III. Kết luận

Phần I. Những Lý luận cơ bản về chỉ số
I. Khái niệm, đặc điểm, phân loại, tác dụng
1. Khái niệm
Theo nghĩa chung
Chỉ số là một tương đối (lần, %) tính được bằng cách đem so sánh hai mức
độ của hiện tượng đó với nhau.
Ví dụ: Giá trị sản xuất công nghiệp của điạ phương A năm 2002 so với năm
2001 là 114,5% = 1,145 lần gọi là chỉ số.
Theo nghĩa hẹp: Trong thực tế, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hiện tượng
kinh tế xã hội phức tạp. Đó là hiện tượng bao gồm nhiều đơn vị hoặc hiện tượng
cá biệt tạo thành.
Ví dụ: Khối lượng sản phẩm công nghiệp, lượng hàng tiêu thụ những sản
phẩm khác nhau, đơn vị, tính chất khác nhau.
Hiện tượng phức tạp bao gồm các nhân tố cấu thành.
Ví dụ: Khối lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của hai nhân tố: năng suất lao
động và số lượng lao động.
2. Đặc điểm
- Chuyển các hiện tượng, các đơn vị cá biệt có đặc điểm, tính chất khác
nhau về dạng giống nhau để có thể cộng chung lại với nhau.
Ví dụ: Khối lượng sản phẩm giá thành đơn vị = chi phí sản xuất
- Để nghiên cứu sự biến động của một nhân tố nào đó thì phải giả định rằng
các nhân tố khác không biến đổi.
3. Phân loại
3.1. Phân loại theo nội dung của chỉ số: Bao gồm 3 loại
Loại 1: Chỉ số phát triển: phản ánh sự biến động của hiện tượng qua thời
gian.

Loại 2: Chỉ số không gian: phản ánh sự biến động của hiện tượng qua không
gian, địa điểm.
Loại 3: Chỉ số kế hoạch: Được dùng để lập và kiểm tra tình hình thực hiện
kế hoạch. Trong chỉ số kế hoạch có 2 loại chỉ số: một là chỉ số nhiệm vụ kế
hoạch, hai là chỉ số kiểm tra kế hoạch.
3.2. Phân loại theo tính chất về chỉ tiêu, về chỉ số phản ánh: bao gồm 2 loại
Loại 1: chỉ số chỉ tiêu chất lượng: phản ánh sự biến động của một chỉ tiêu
chất lượng nào đó.
Loại 2: chỉ số chỉ tiêu khối lượng: phản ánh sự biến động của một khối
lượng nào đó
3.3. Phân loại theo phạm vi tính toán: bao gồm 2 loại
Loại 1: Chỉ số đơn là chỉ số mà phản ánh sự biến động của từng đơn vị, của
từng hiện tượng cá biệt.
Loại 2: Chỉ số tổng hợp (chỉ số chung): phản ánh sự biến động chung của
nhiều đơn vị.
4. Tác dụng
- Dùng chỉ số để nghiên cứu sự biến động của hiện tượng qua thời gian
- Dùng chỉ số để nghiên cứu sự biến động của hiện tượng qua không gian
- Dùng chỉ số để nêu lên nhiệm vụ kế hoạch, thực hiện kế hoạch
- Dùng chỉ số để phân tích ảnh hưởng biến động của các nhân tố đối với sự
biến động của toàn bộ hiện tượng
II. Phương pháp chỉ số
1. Chỉ số phát triển
1.1. Chỉ số đơn
Phản ánh sự biến động của hiện tượng qua thời gian.
1.1.1. Chỉ số đơn về giá cả: phản ánh sự thay đổi về giá của từng mặt hàng.
0
1
pp
p
i iP: chỉ số đơn về giá cả
p1: giá của năm nghiên cứu

