
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN NĂM
QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI 2012

2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN NĂM
QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số 62.38.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS. TS. Nguyễn Minh Đoan
2. TS. Nguyễn Quốc Hoàn
HÀ NỘI 2012

3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu trong luận án là
trung thực, những kết luận khoa học của luận án là kết quả
của quá trình nghiên cứu độc lập và chƣa đƣợc ngƣời khác
công bố.
Tháng 8 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Văn Năm

4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điều chỉnh hành vi con người, xã hội có nhiều công cụ khác nhau, trong đó,
pháp luật và đạo đức là những công cụ quan trọng bậc nhất. Bên cạnh những ưu thế
vốn có, cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế nhất định, song giữa chúng
luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Chính vì vậy, để
quản lý xã hội một cách có hiệu quả, cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa pháp
luật với đạo đức.
Tuy nhiên, thực tế Việt Nam cho thấy, vị trí, vai trò của pháp luật, đạo đức
cũng như mối quan hệ giữa chúng nhìn chung chưa được nhận thức một cách đúng
đắn, đầy đủ cả từ phía nhà nước, cả từ phía xã hội. Trong cơ chế kinh tế cũ, nhận
thức về pháp luật có hai khuynh hướng, hoặc quá đề cao pháp luật, coi pháp luật là
công cụ vạn năng có thể xác lập hay xóa bỏ một quan hệ xã hội nào đó một cách
duy ý chí; hoặc lại hạ thấp vai trò của pháp luật, dẫn đến sử dụng mệnh lệnh hành
chính, các quan niệm đạo đức mới như tinh thần làm chủ tập thể, mỗi người vì mọi
người... để thay thế cho pháp luật. Trong khi đó, trong một thời gian dài trước đây,
do nhận thức ấu trĩ, giáo điều về chủ nghĩa xã hội, nên đã không thấy hết được vai
trò, giá trị to lớn của truyền thống, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thậm
chí nhiều quan niệm đạo đức truyền thống của dân tộc còn bị coi là tàn dư của chế
độ cũ cần phải loại bỏ. Lối suy nghĩ, tư duy và hành động đó còn ảnh hưởng không
nhỏ trong điều kiện xã hội Việt Nam hiện nay. Điều này dẫn đến, trong thực tiễn,
việc sử dụng pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội còn nhiều hạn chế, một mặt,
những ưu thế vốn có của pháp luật cũng như đạo đức không được phát huy hết, mặt
khác, sự tác động bổ sung cho nhau giữa chúng cũng không khai thác được, chính
vì vậy, hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của cả pháp luật và đạo đức đều chưa
cao.
Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã qui định: “Nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Xây dựng nhà nước pháp quyền đã
trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và toàn xã hội. Trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, pháp luật được đặc biệt coi trọng, giữ vai
trò thống trị trong đời sống nhà nước và xã hội, mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội
kể cả nhà nước đều phải thượng tôn pháp luật, chấp pháp nghiêm chỉnh. Tuy nhiên,
Việt Nam là một quốc gia Á Đông, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo, sự coi
trọng đạo lý, ứng xử theo đạo lý đã trở thành truyền thống của dân tộc. Truyền

5
thống đó ăn sâu, bám chắc trong tâm lý xã hội, nó cố kết chặt chẽ trong tư duy con
người. Có thể nói, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, thói quen xử sự theo đạo lý
vẫn còn “ngự trị” trong lối sống của không ít người, ngược lại, thói quen xử sự theo
pháp luật vẫn chưa được hình thành. Trong điều kiện đó, việc xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta hiện nay gặp không ít khó khăn.
Qua mấy chục năm tiến hành công cuộc cải cách, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống xã hội đã có sự phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên, cùng với nó, mặt trái của nền kinh tế thị trường và việc hợp tác, hội nhập
quốc tế cũng gây ra không ít phức tạp, đó là sự coi thường các giá trị truyền thống,
lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, chạy theo đồng tiền, đặt vật chất, tiền bạc lên trên
hết, tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi cách… Sự xuống cấp của đạo đức xã hội đã gây
ra những hệ lụy to lớn, làm đảo lộn các giá trị của cuộc sống, cản trở sự phát triển
của xã hội, làm xã hội vận động, phát triển một cách không lành mạnh, thiếu vững
chắc.
Do vậy, phát triển kinh tế phải đi đôi với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội,
giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Phát triển kinh tế phải đi
đôi với xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giữ gìn và phát
huy các giá trị đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hợp tác, hội nhập sâu rộng vào đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quốc tế. Bản lĩnh, sự tự tin cũng như sự
thành công trong các quan hệ quốc tế phụ thuộc khá lớn vào nền tảng văn hóa
phong phú và đặc sắc của dân tộc. Mở cửa, hợp tác, hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng thì ảnh hưởng của điều kiện quốc tế đến đời sống kinh tế - xã hội trong nước
ngày càng lớn, trong đó, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng có không ít
những ảnh hưởng tiêu cực. “Mở cửa ra, gió mát lùa vào thì ruồi muỗi cũng bay
vào”. Chính vì vậy, cần phải có những rào cản hữu hiệu để sàng lọc, tiếp thu, học
hỏi những tinh hoa văn hóa của các dân tộc, ngăn chặn sự ảnh hưởng của những
quan điểm, tư tưởng, lối sống độc hại…Trong điều kiện đó, các giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc là một màng lọc có hiệu quả nhất, chúng “đóng vai trò
màng lọc và điều tiết việc sản sinh, tiếp thu cái mới, nhất là cái mới từ bên ngoài”,
bởi lẽ chúng đã được “sàng lọc, tích lũy và kế thừa qua nhiều thế hệ”, chúng đã trở
thành “thuần phong, mỹ tục và mang “khí thiêng sông núi” [123, tr.170,171]. Chính
vì vậy, việc giữ gìn,bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
là việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn và vô cùng cần thiết.

