
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
VŨ PHƢƠNG LIÊN
PH¸T TRIÓN N¡NG LùC HîP T¸C GI¶I QUYÕT VÊN §Ò CñA HäC SINH
TRONG D¹Y HäC HãA HäC TRUNG HäC PHæ TH¤NG
PHÇN HãA HäC PHI KIM
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy bộ môn Hóa học
Mã số: 91.40.111
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020

Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Hoá học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trần Trung Ninh
2. PGS.TS. Lê Kim Long
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Văn Năm
Trường Đại học Vinh
Phản biện 2: PGS.TS. Đặng Thị Oanh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 3: TS. Cao Thị Thặng
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào hồi …..giờ … ngày … tháng… năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Toàn cầu hoá và hiện đại hoá đang tạo ra một thế giới ngày càng đa dạng và gắn kết.
Sự bùng nổ tri thức cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đặt ra những
yêu cầu và thách thức lớn với nguồn nhân lực. Trong bối cảnh này, các năng lực mà các cá
nhân cần phải đáp ứng yêu cầu của công việc cũng như cuộc sống trở nên phức tạp hơn. Do
đó, mục tiêu giáo dục cơ bản hiện nay là đào tạo ra những người có khả năng thích ứng và
sáng tạo trong mọi môi trường và điều kiện phức tạp của cuộc sống hiện đại. Ngày càng nhiều
năng lực mới của công dân thế kỉ 21 được đề cập tới trong dạy học và kiểm tra đánh giá.
Tại Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy
cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển NL…”. Khung chương trình giáo dục phổ thông môn Hoá học ban
hành theo thông tư số 32/2018/TT-BGD ĐT cũng đã đề cập chi tiết tới các thành tố năng lực
hoá học gồm: NL nhận thức hoá học, NL tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới học độ hoá học và
NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn.
Trong hệ thống NL phẩm chất đã được công bố của chương trình giáo dục tổng thể,
NL hợp tác và giải quyết vấn đề (GQVĐ) đã được đề cập xuyên suốt tuy nhiên chưa đề cập
tới sự hợp tác cùng giải quyết vấn đề của học sinh. NL hợp tác giải quyết vấn đề
(HTGQVĐ) rất quan trọng trong thế kỉ 21. Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu và thực trạng
dạy học hiện nay ở trường THPT, tác giả nhận thấy NL HTGQVĐ và việc tổ chức các
nhiệm vụ đánh giá NL này còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Từ những phân tích trên, tác giả đã
lựa chọn đề tài nghiên cứu sinh là “Phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học
sinh trong dạy học phần hóa học phi kim trung học phổ thông”, với mong muốn được
nâng cao và phát triển NL của học sinh thông qua dạy học hóa học, đóng góp một phần
trách nhiệm của mình trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo nước nhà.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thiết kế và triển khai dạy học chủ đề tích hợp liên môn và theo mô hình
trải nghiệm của Kolb phần hóa học phi kim theo chủ đề nhằm phát triển NL HTGQVĐ của
HS (HS), qua đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và nâng cao chất lượng
dạy học hoá học ở trường phổ thông theo định hướng phát triển NL HS.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Nghiên cứu cơ sở lí luận về những vấn đề liên quan đến đề tài: dạy học chủ đề
tích hợp liên môn và theo mô hình trải nghiệm của Kolb phát triển NL HS, NL GQVĐ, NL
HTGQVĐ (khái niệm, cấu trúc, thang đánh giá …)
(2) Điều tra, đánh giá thực trạng việc dạy học bộ môn Hóa học ở một số trường
THPT hiện nay về vấn đề phát triển NL HTGQVĐ cho HS.
(3) Nghiên cứu chuẩn đầu ra, NL cần hình thành cho HS; phân tích nội dung, cấu
trúc chương trình hoá học THPT, đặc biệt đi sâu nghiên cứu phần hóa học phi kim. Cụ thể
hoá NL HTGQVĐ của HS trong dạy học hoá học.
(4) Nghiên cứu và đề xuất hai biện pháp để hình thành và phát triển NL HTGQVĐ
cho HS trong dạy học phần hóa học phi kim THPT.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT.
Đối tượng nghiên cứu: NL HTGQVĐ của HS và hai biện pháp phát triển NL

2
HTGQVĐ của HS bằng dạy học tích hợp liên môn khoa học tự nhiên và trải nghiệm theo
mô hình Kolb.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phần hóa học phi kim trong chương trình hóa học THPT.
NL HTGQVĐ của HS trong môn hoá học.
Khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT đại diện ba miền Bắc -
Trung - Nam.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng dạy học phần hóa học phi kim theo chủ đề tích hợp liên môn và theo
mô hình trải nghiệm của Kolb một cách khoa học và xây dựng công cụ đánh giá NL
HTGQVĐ phù hợp thì sẽ hình thành và phát triển NL HTGQVĐ cho HS, góp phần nâng
cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT theo định hướng phát triển NL.
7. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu
Đề tài sử dụng 03 nhóm phương pháp nghiên cứu chính gồm: Nhóm phương pháp
nghiên cứu lí luận; Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn; Nhóm các phương pháp
xử lí thông tin
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỢP TÁC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
Khả năng GQVĐ là khả năng thu hẹp khoảng cách giữa vấn đề và giải pháp bằng
cách sử dụng thông tin (kiến thức) và lý luận. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng 5 bước để giải
một vấn đề trong Vật lý của Demuth (2007): tập trung vào vấn đề, mô tả vật lý, lập kế hoạch
các giải pháp, thực hiện kế hoạch, và thực hiện các bài giải. Hai công cụ: Kiểm tra khả năng
GQVĐ trong Vật lý (TPS P) và thử nghiệm của kết quả trong Vật lý (T P) đã được sử
dụng cho nghiên cứu. Các TPS P yêu cầu học sinh GQVĐ trong vật lý và được sử dụng để
xác định khả năng GQVĐ của họ. Nó chứa hai mươi hạng mục, mười mục trong số đó là để
kiểm tra thái độ của học sinh đối với GQVĐ và mười mục còn lại được dựa trên nguyên tắc
cơ bản để GQVĐ về vật lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng NL GQVĐ của học sinh là
một yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh trong môn Vật lý.
1.1.2. Nghiên cứu về năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh
Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề (collaborative problem solving, viết tắt là NL
HTGQVĐ) là một trong những năng lực thiết yếu của con người hiện đại trong thế kỉ 21.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng học tập với sự hợp tác thường xuyên có thể cải thiện mức
độ thành tích học tập của người học. NL HTGQVĐ được hình thành và phát triển sẽ tạo
điều kiện cho người học nhận biết những điểm mạnh, điểm yếu và cùng hợp tác để thực
hiện được các nhiệm vụ mà người học khó thể thực hiện một mình và qua đó hoàn thiện
mình hơn. NL HTGQVĐ được tổ chức OECD chính thức đưa vào trong chương trình đánh
giá PIS 2015 và rất được quan tâm nghiên cứu trong dạy học và kiểm tra đánh giá trong
những năm gần đây trên thế giới.

3
1.1.3. Nghiên cứu về dạy học và kiểm tra đánh giá năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của
học sinh
Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu và triển khai dạy học phát triển NL
của người học, trong đó có NL GQVĐ được đặc biệt quan tâm ở hầu hết các cấp bậc học
do xu thế chung của đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong nghiên cứu
“Vận dụng dạy học dự án trong dạy học phần Hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực
giải quyết vấn đề cho học sinh ở trường Trung học phổ thông miền núi phía Bắc” của tác
giả Nguyễn Thị Phương Thuý đã thiết kế kế hoạch dạy học theo dự án nhằm phát triển
năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh phần hoá học hữu cơ. Kết quả đánh giá bằng bộ
công cụ do nghiên cứu đề xuất đã khẳng định hiệu quả của dạy học dự án lên việc phát
triển năng lực giải quyết vấn đề.
Nhìn chung các nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống cơ sở lí luận chung về NL,
NL HTGQVĐ. Không chỉ dừng lại ở lí luận, một số nghiên cứu đã tiến hành thực nghiệm
và bước đầu đã thu được một vài kết quả nhất định. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, vẫn
chưa có nhiều nghiên cứu về dạy học và đánh giá NL HTGQVĐ, đặc biệt là đánh giá NL
HTGQVĐ trong môn hoá học.
1.2. Dạy học phát triển năng lực
1.2.1. Khái niệm và cấu trúc năng lực
NL có thể được hiểu là khả năng, là hiệu suất công việc được chứng minh qua kết
quả hoạt động thực tế. Nó liên quan đến kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm cá nhân.
NL được xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị như là các khả năng, hình
thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck,
1998). Tác giả Sigmund Freud đã đưa ra một mô hình về “suy nghĩ của não bộ với ba mức
độ: nhận thức – phần nổi, tiền nhận thức, phần giữa và không nhận thức, phần dưới.
1. Hành động
(Behaviour)
Hành vi
(quan sát được)
2. Suy nghĩ
(Thoughts)
Kiến thức
Kỹ năng
Thái độ
Chuẩn, giá trị, niềm tin
3. Tính sẵn sàng
(Willing)
Động cơ
Nét nhân cách
Phẩm chất
Hình 1.1. Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực
1.2.2. Cở sở tâm lý học của dạy học phát triển năng lực
1.2.2.1. Lý thuyết phát triển nhận thức theo giai đoạn của Piaget
Giai đoạn cảm giác - vận động (từ 0 đến 3 tuổi), là giai đoạn trẻ nhận biết thế giới
thông qua sự phối hợp cảm giác và vận động. Giai đoạn tiền thao tác cụ thể (từ 3 đến 7-8
tuổi). Lúc này trẻ đã có thể nhận biết thế giới qua các biểu tượng, đặc biệt là biểu tượng
bằng ngôn ngữ. Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7-8 tuổi đến 11 tuổi): Trẻ có thể hiểu được thế
giới theo cách lý luận hơn là tri giác đơn giản thông qua các ý niệm về đối tượng bên ngoài.
Giai đoạn thao tác hình thức hay tư duy lôgic (từ 11 đến 14-15 tuổi). Trong giai đoạn này,
trẻ có khả năng khái quát hoá các ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng. Chúng có khả
năng đưa ra kết luận từ những giả thuyết hơn là dựa hoàn toàn vào quan sát thực tế. Trí tuệ
đứa trẻ đã đạt mức phát triển hoàn chỉnh.
1.2.2.2. Lý thuyết văn hóa xã hội trong quá trình kiến tạo tri thức của Vygotsky
L.S. Vygotsky và các nhà tâm lý học Xô viết cũ đã nghiên cứu những tác phẩm của

