MỤC LỤC
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng .................. 2
1. Tênng kiến .................................. 2
2. Lĩnh vực áp dụng ................................ 2
II. Ni dung sáng kiến .............................. 2
1. Giải pháp cũ thường làm ......................... 2
2. Giải pháp mới cải tiến .......................... 2
III. Hiệu quđạt được ............................. 17
1. Hiệu quả kinh tế ............................... 17
2. Hiệu quả hội ............................... 17
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng .................. 19
1. Điều kiện cần thiết để áp dụng biện pháp ....... 19
2. Khả năng phát triển, vận dụng, mở rộng của giải
pháp .............................................. 20
PHỤ LỤC 1: HỒ SƠ DỰ ÁN CỦA HỌC SINH – HỒ SƠ HỌC TẬP
CỦA NM ........................................... 21
PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT, BÀI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ . . . 29
PHỤ LỤC 3: CÁC HÌNH ẢNH SẢN PHẨM CỦA HỌC SINH ...... 31
2
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
1. Tên sáng kiến
Dạy học STEM chủ đề “Sự biến đổi chất - Sắc nến lung linh”.
2. Lĩnh vực áp dụng
Dạy học Hoá học 8.
II. Nội dung sáng kiến
1. Giải pháp cũ thường làm
Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất, sự biến đổi chất và ứng dụng của
chất đó trong cuộc sống. trung học sở (THCS), học sinh được học môn
Hóa trong hai năm học lớp 8lớp 9. Tuy lượng kiến thức không nhiều, nhưng
với nhiều học sinh THCS, môn Hóa vẫn một môn học khó. Khi dạy học, giáo
viên vẫn thường dạy theo tiến trình trong sách giáo khoa, có thí nghiệm hoặc sử
dụng mô hình thí nghiệm.
- Ưu điểm: Học sinh nhanh chóng tiếp cận kiến thức Hóa học, vận dụng
làm được bài tập Hóa học.
- Nhược điểm: Học sinh chưa hứng thú học tập, kết quả học tập môn Hóa
học chưa cao, chưa phát triển hết các năng lực chung, năng lực chuyên biệt môn
Hoá học đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức Hoá học vào cuộc sống.
2. Giải pháp mới cải tiến
Để giải quyết các vấn đề đặt ra, tôi lựa chọn phương pháp dạy học theo
định hướng STEM nhằm nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực vận
dụng kiến thức Hoá học vào cuộc sống cho học sinh. Tôi đã chọn dạy lớp 8B
theo chủ đề này lớp 8C tôi dạy theo lối truyền thống để so sánh hiệu quả của
phương pháp đã sử dụng.
Thực hiện phương pháp này tôi đã tiến hành như sau:
2.1. Mô tả chi tiết
2.1.1. Tìm hiểu về dạy học STEM
Giáo dục STEM một hình giáo dục mới đã được triển khai tại các
nước châu Âu, châu Mỹ được chứng minh là một hình giáo dục tiên tiến,
hiện đại.
STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người
học những kiến thức, năng liên quan đến (các lĩnh vực) khoa học, công nghệ,
kỹ thuật toán học - theo ch tiếp cận liên môn (interdisciplinary) người
học có thể áp dụng để giải quyết vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Thay vì dạy
3
bốn môn học như các đối tượng tách biệtrời rạc, STEM kết hợp chúng thành
một mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế.
thể nói, giáo dục STEM không hướng đến mục tiêu đào tạo để học
sinh trở thành những nhà toán học, nhà khoa học, kỹ sư hay những kỹ thuật viên
chủ yếu là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng để làm việcphát triển
trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay. Giáo dục STEM tạo ra những con
người thể đáp ứng được nhu cầu công việc của thế kỷ XXI, đáp ứng sự phát
triển kinh tế, xã hội của quốc gia và có thể tác động tích cực đến sự thay đổi của
nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2.1.2. m hiểu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực vận dụng
kiến thức Hoá học vào cuộc sống, năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn
Hóa học
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc học sinh “học được cái gì” đến chỗ quan tâm học sinh “làm
được cái gì” qua việc học (năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống, năng lực
giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học).
* Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức của học sinh
Năng lực vận dụng kiến thức của học sinh là khả năng của bản thân người
học huy động, sử dụng những kiến thức, năng đã học trên lớp hoặc học qua
trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những
tình huống đa dạng phức tạp của đời sống một cách hiệu quả khả năng
biến đổi nó. Năng lực vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con
người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức.
“Năng lực giải quyết vấn đề khả năng của một nhân khả năng
“huy động”, kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái
độ, tình cảm, giá trị, động nhân,… để hiểu giải quyết vấn đề trong tình
huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực”.
* Sự cần thiết của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc
sống và năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học cho học sinh.
Việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống năng lực
giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học cho học sinh ý nghĩa quan trọng
trong việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra của học sinh như: vận dụng kiến
thức để giải bài tập, tiếp thu và xây dựng tri thức cho những bài học mới hay cao
4
nhất vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống của các
em.
2.1.3. Xây dựng chủ đề dạy học STEM áp dụng vào dạy học Hoá học 8
Để thực hiện đổi mới này, trước tiên giáo viên phải nghiên cứu nội
dung chương trình sách giáo khoa, chuẩn kiến thức, năng, nhiệm vụ của môn
Hóa học trong hệ thống giáo dục phổ thông, các văn bản hướng dẫn giảng dạy
nói chung, hướng dân giảng dạy bộ môn nói riêng, trên sở kết hợp với định
hướng dạy học theo chủ đề phát triển năng lực học sinh, đặc biệt là năng lực vận
dụng kiến thức vào cuộc sống, năng lực giải quyết vấn đ thông qua môn Hóa
học đặc điểm học sinh, đặc điểm địa phương lựa chọn kiến thức thực tế cho
phù hợp.
Nghiên cứu các kiến thức dạy học STEM liên quan: giáo viên nghiên cứu
sách giáo khoa, tìm hiểu hệ thống các kiến thưc liên quan đến thực tế đã được
tích hợp trong sách. Sử dụng các nguồn thông tin khác nhau như sách báo, các
môn học liên quan, đặc biệt i nguyên mạng Internet để sưu tầm các kiến
thức thực tế liên quan. Lưu ý rằng cần lựa chọn các kiến thức thực tế liên
quan chặt chẽ đến chủ đề, trên s kiến thức đã được học, hoặc thể phát
triển trên sở kiến thức đã học. Không nên sa đà, tham mở rộng lên kiến thức
của các lớp trên vì như thế vô hình lại làm tăng độ nặng của kiến thức. Nếu thực
tế quen thuộc với cuộc sống liên quan đến bài dạy nhưng để giải thích
phải sử dụng kiến thức của lớp học cao hơn thì nên đưa vào nhưng chỉ giải thích
mức đdễ hiểu trên sở hiểu biết của đa số học sinh. Đối với học sinh khá
giỏi có thể khuyến khích các em về nhà tìm hiểu thêm.
Soạn kế hoạch dạy học chủ đề STEM chi tiết: Khâu này cực quan
trọng khi giáo án chi tiết giáo viên sẽ chủ động khi lên lớp. Một giáo án
khoa học, hợp lí là cơ sở cho một giờ dạy thành công.
Khi dạy học chú trọng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, theo
hướng gắn lí thuyết với thực tế việc soạn giảng trên powerpoint sẽ hỗ trợ tích cực
với ưu điểm về âm thanh, màu sắc, tiết kiệm được thời gian đem lại hiệu quả
cao.
Từ các phân tích tổng quan trên, tôi y dựng kế hoạch dạy học STEM
chủ đề “Sự biến đổi chất - Sắc nến lung linh” như sau:
2.1.3.1. Quy trình xây dựng chủ đề STEM
Bước 1: Xác định năng lực cần hình thành cho học sinh
Bước 2: Xác định chủ đề STEM
5
Chủ đề STEM “Sự biến đổi chất – Sắc nến lung linh”
Bước 3: Xây dựng chủ đề STEM “Sự biến đổi chất – Sắc nến lung linh”
Bước 4: Xây dựng nội dung học tập
Bước 5: Thiết kế nhiệm vụ
Bước 6: Tổ chức thực hiện
Bước 7: Đánh giá
2.1.3.2. Quy trình tổ chức dạy học chủ đề STEM
Hoạt động 1: Xác định vấn đề
Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp
Hoạt động 3: Lựa chọn giải pháp
Hoạt động 4: Chế tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá
Hoạt động 5: Chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh
2.1.3.3. Xây dựng chủ đề STEM thực nghiệm giảng dạy
CHỦ ĐỀ: SỰ BIẾN ĐỔI CHẤT – SẮC NẾN LUNG LINH
1. Tên chủ đề: Sự biến đổi chất – Sắc nến lung linh
(Số tiết: 03 - Lớp 8)
2. Mô tả chủ đề
Nến (hay còn gọi là đèn cầy)một vật dụng quen thuộc được sử dụng để
chiếu sáng. Khác với đèn điện, nến cho ánh sáng ấm áp lung linh hơn. Ngày
nay, nến được sử dụng chủ yếu để thờ ng, tráng trí nội thất, trang trí phục vụ
tiệc cưới, sinh nhật, lễ hội,… hoặc được dự phòng để thắp sáng mỗi khi sự cố
mất điện.
rất nhiều nguồn nguyên liệu dùng để làm
nến như sáp parafin, sáp đậu nành, sáp ong …. Tuy
nhiên, nhiều nghiên cứu thực tế cho thấy, các loại
nến nguồn gốc từ thiên nhiên như nến sáp ong,
nến sáp đậu nành khi cháy thì ánh sáng năng
lượng của sẽ kích thích tuyến yên, giúp cho tinh
thần đạt được sự tập trung cao độ. Ngoài ra, trong sáp ong chứa các thành
phần hóa học như các axit béo, các vitamin nhóm B có lợi cho sức khỏe…
Trong chủ đề này, học sinh thực hiện để thiết kế chế tạo nến nguồn
gốc thiên nhiên như từ sáp ong hoặc sáp đậu nành thân thiện với môi trường với
những tiêu chí cụ thể. Sau khi hoàn thành, học sinh sẽ đốt thử nghiệm tiến hành
đánh giá chất lượng sản phẩm.