SINH CƠ HỌC CỦA XƯƠNG
Khối lượng xương, tức là tổng lượng khoáng trong bộ xương ý
nghĩa quan trọng. Mối tương quan chặt chẽ giữa khối lượng xương đo được
của các xương trong thể và độ vững chắc của những xương đó đã biết rõ.
Cấu tạo hoặc cấu trúc của xương cũng tm quan trọng đi với lực học
và tính đàn hồi.
Xương thể được coi là vật chất cấu thành bng hai pha, với chất
khoáng là một pha và chất tạo keo và chất nn là pha kia. Các chất kết hợp
kiểu đó bền chắc hơn từng chất riêng rẽ.
Các quan niệm sinhhọc cơ bản
Đường cong biến dạng do tải trọng học lên xương được chứng
minh một cách hệ thống ở hình sau:
Hình 4.1.Đường cong biến dạng do tải trọng (nén, kéo căng) với cu
trúc hình thành bi vật dẻo nào đó.
Nếu tải trọng đặt vào đoạn đàn hồi của cấu trúc (đoạn A-B trên
đường cong) sau đó được buông ra thì không thấy biến dạng vĩnh viễn.
Nếu tải được tiếp tụcợt qua điểm uốn (B) và đi vào đoạn dẻo của cấu trúc
(đoạn B-C trên đường cong) và sau đó tải được buông ra thì biến dạng
vĩnh viễn.
Biến dạng vĩnh viễn xảy ra nếu cấu trúc chịu tải điểm D trên vùng
dẻo sau đó mất tải thì tổng biến dạng đó được biểu diễn bởi khoảng cách
giữa A và D. Nếu tải được tiếp tục trong đoạn dẻo thì đến một điểm hỏng tận
cùng (C).
(Hình v được phép của Nordin và Franked - 1989).
Đoạn khởi đầu vùng đàn hồi, đó vật liệu trở lại hình dng nguyên
thủy của khi chưa ti. điểm uốn, vật liệu bắt đầu bhỏng và không
ly lại được hình dng nguyên thủy của khi chưa tải. Đó là vùng dẻo.
Miền dưới đường cong biểu diễn năng ng hấp thụ. Sự vững mạnh của cu
trúc được xác định bởi:
1. Tải trọng mà cấu trúc chịu đựng được trước khi hỏng.
2. Sự biến dạng nó chịu đựng được trước khi hỏng.
3. Năng lượng nó có thể tích lũy trước khi hỏng.
Thuật ngữ chính xác hơn đối với sự biến dạng do mang tải là n -
kéo ng. n (stress) tải hoặc lực trên min đơn vị được trin khai trên
một miền phẳng trong cấu trúc khi đáp ng vi các tải đặt vào tbên ngoài.
Nó được đo bằng Newton trên mét vuông (N/m2) hoặc bằng Pascal (Pa).
Kéo căng (strain) là sự biến dạng, sự thay đổi về kích thước, triển khai
trên một cấu trúc đáp ng với sn từ bên ngoài. Một sức kéo căng lớn mà
không gây biến dạng vĩnh viễn, nghĩa là sức kéo đàn hồi cao đối với
các kiểu xương khác nhau cũng nghĩa là kh năng lớn hơn để tích lũy
năng lượng.
Cấu trúc xương thay đổi tùy các kiu xương khác nhau, tức là kiu
lưới hay kiu vỏ, và cũng tùy các mặt khác nhau trong cùng một xương. N
vậy đường cong n - kéo ng skhác nhau khi một mảnh xương chịu tải
với những phương khác nhau, dphương nằm ngang, nằm dọc hay nằm
nghiêng (dị hướng). (Hình 4.2)
Hình 4.2. Biến dạng mẫu xương vỏ trục đùi được kéo theo 4
hướng:
(i) nm dọc (L); (ii) nghiêng 30° so vi trục độ của xương; (iii)
nghiêng 60°; (iv) ngang (T).
(Hình v được phép của Nordin và Fraket - 1989)
Nói chung, xương vững chắc nhất phương chịu tải sinh bình
thường hay gặp nhất.
Cơ học xương
Khi chịu tải, xương tỏ ra cứng n. Điều này th bổ sung bằng
trọng lực hay skéo của cơ. Sự co các cơ dính o xương làm thay đổi cách
phân bsức nén trên xương. Nvy xương thể chịu đng được sức nén
trên ơng. Như vậy xương có thể chịu đựng được sức n mạnh dưới các
điều kiệntải hơn là khi không tải.
Điều này giải thích vì sao xương sống nâng nng không gẫy như v
thuyết thí nghiệm in vitro mẫu xương sống chưa nén.
Nếu sức tải nào đó trên một phần của bộ xương vượt quá độ vững
chắc cuối cùng ca xương y thì xương gẫy. Tải đó th gây một chấn
thương mạnh ít hoặc mạnh nhiều, nhanh chóng vượt qsức vững chắc
của xương, hoặc tải thể duy trì lâu i hơn, qtải lắp lại thường xuyên,
gây ra gẫy do nén (hỏng do quá sức).
Tập tính sinh cơ học của xương biến thiên tùy theo mức độ xương
phải tải. Nếu mức kéo căng xương tăng n, thì xương cứng n (hấp th
nhiều năng lượng hơn trước khi hỏng). Xương ng vững chắc n lên gấp
mấy ln so với sự ng mức độ kéo căng. Điu này ngược vi các mm,
d y chng hay n m nhậy cảm với sức kéo ng. Điều này gii