SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN
ĐỀ TRONG GIỜ ĐỌC- HIỂU
VĂN BẢN VĂN HỌC, CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
I. DO CHN ĐỀ TÀI
n Ng Văn ở trường THPT nói chung, ở chương trình Ngữ Văn 12
nói riêng stích hợp ba phân n: Đọc Văn, Tiếng Việt Làm Văn.
Mỗi pn môn vai trò, nhiệm vvà vtrí khác nhau trong việc trang btri
thức khoa học, rèn luyện kỹ năng và bi dưỡng ởng, tình cảm, thái đ
cho học sinh. Trong đó, phân môn Đọc Văn, nhất là các giđọc- hiểu Văn
bản văn học (VBVH) tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bi dưỡng tâm
hồn, tình cảm và năng lực thẩm mcho học sinh. một mức đnhất định,
các giờ đoc- hiểu VBVH khơi gợi được nhiều hng thú cho giáo viên và học
sinh trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học. Syêu thích môn Ng
n phần lớn cũng bắt nguồn t niềm say mê các giờ Đc-hiểu y. Tuy thế,
trong mt snăm gần đây, không khí hiệu quả dạy- hc Ng n, bao
gồm cả dy- hc phân môn Đọc Văn các gi đọc- hiểu VBVH nhiều
Nhà trường thc skhông được như mong mun của cả người dạy lẫn người
học. Không khí nhiều giờ đc- hiểu tr nên t nhạt, nặng nề, thiếu lửa”.
Nhiều giáo viên dy cho hoàn thành nhiệm vụ còn học sinh thì th động,
lười đọc, lười suy nghĩ, ngại phát biểu xây dựng bài hoặc nếu bbuộc pt
biểu thì trlời cho qua chuyện. Khi làm văn, học sinh viết những câu văn,
bài văn nghèo n, ngô nghê về ý tứ, lủng củng trong diễn đạt. Hiệu quả dạy
học Ngữ Văn, vì thế, b ảnh hưởng nghiêm trọng. Nguyên nhân dn đến tình
trạng này nhiều: nguyên nhân ch quan, nguyên nhân khách quan;
nguyên nhân t phía giáo viên, nguyên nhân từ phía học sinh.
Qua hoạt động dự giờ các đồng nghiệp khá thường xuyên, tôi nhận
thấy mt trong rất nhiều do khiến hc sinh không mấy hứng thú và mặn
với các giđọc- hiểu VBVH khá nhiều Giáo viên văn chưa s dụng
được hthống câu hỏi hướng dn học bài đsức lôi cun học sinh tham gia
gi hc với tinh thần chủ động, tích cực và say mê. Cá bit, giáo viên
thường xuyên nêu những câu hỏi không đạt yêu cu về tính khoa học, tính sư
phm khiến học sinh và đôi khi cgiáo viên d giờ cũng không biết phải trả
lời như thế nào.
trường THPT ng Ray, một phần do chất lượng đu vào của học
sinh thpn chương trình sách giáo khoa (SGK) NgVăn mới, trong đó
SGK NgVăn lớp 12 chứa đựng tiềm năng to lớn cho việc sử dụng câu
hỏi nêu vn đề (CHNVĐ) thì nhiều đồng nghiệp của tôi vẫn không đkiên
nhẫn để sử dụng mt cách tối đa câu hỏi CHNVĐ trong các giđc- hiểu.
H thường ưu tiên sdụng những câu hỏi tính cht tái hiện kiến thức
như: Da vào ch giáo khoa tóm tắt những nét bản về tác giả, tác phẩm;
tìm dẫn chứng làm những luận điểm do giáo viên nêu sn vni dung,
ngh thuật của văn bản văn học,... Nếu dùng CHNVĐ thì thường là
những câu hỏi đơn giản, các dạng câu hỏi nêu vấn đ cũng không phong
phú, đa dạng. Thm chí, giáo viên chưa biết khai thác, tận dụng triệt để và
linh hoạt c CHNVĐ sẵn trong SGK. Vic sử dụng những câu hi yêu
cầu học sinh phải ng tri thc đã biết đ tìm tòi phát hiện tri thức mới hoặc
phi tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực, phải trăn tr suy ngẫm
để mrng, xoáy sâu vấn đhoặc vận dụng, liên hVBVH vào thực tế
hội, thực tiễn đời sng li càng khiêm tn.i chung, vic sử dụng CHN
trong gi đọc- hiu VBVH ở đơn vị tôi công tác chưa đạt hiệu quả cao.
Xut phát từ thực tế đó, với mong muốn làm cho học sinh chủ động,
tích cực hơn; làm cho giờ dạy học đọc hiểu VBVH sôi nổi, hào hng và
phát huy tt hơn ưu thế của loại giờ học này nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy học n Ng Văn, i đã tích cc sử dụng CHNVĐ trong gi
đọc- hiểu VBVH nhận thấy đây là hướng đi rất khả quan.
II. T CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Quan nim về văn bản văn học
VBVH văn bn nghệ thuật được sáng tạo bằng ngôn từ. Ngoài
những đc điểm chung của văn bản, VBVH các đặc điểm riêng. Nn t
của VBVH được lựa chọn, tổ chức n định, chặt chẽ, không thể thay đi;
ngôn tmang tính đa nghĩa, giàu sức gợi. Hình tượng trong VBVH được tạo
nên bởi nghĩa của câu, của từ, của đoạn và sản phẩm của trí tưởng tưởng,
không bgiới hạn bởi không thời gian và các hiện tượng của thực tại bên
ngoài. VBVH nghĩa và ý nghĩa. Nghĩa của VBVH tính chất đc thù
của loại hình văn bản nghệ thuật. Ý nga của VBVH nảy sinh trong các
quan hngữ cảnh khác nhau tùy theo quan hvới người viết, người đọc.
VBVH th hiện cá tính sáng tạo của người viết cách nhìn, cách cm, cách
diễn đạt hiện thực đời sống.
1.2. Quan nim về đọc- hiểu VBVH
Đọc- hiểu VBVH là khái niệm được nhiều nhà nghiên cu về phương
pháp dạy- học Văn quan tâm như GS Phan Trọng Luận, TS Đ Ngc Thống,
GS-TS Đ Thanh Hùng, GS-TS Trần Đình S,… Theo TS Đỗ Ngc Thống,
“Đọc-hiểu văn bản bao gồm cả việc thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa
hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hính thức, biện pháp
nghthuật ngôn từ, cái thông điệp ởng, tình cảm, thái đ của người viết
cả những giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Đọcn theo tinh thần
đó toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản(kcả việc hiểu và cm
thụ)” Ngọc Thống, 2003, Chương trình Ngvăn THPT và việc hình
thành năng lực văn học cho học sinh”, Tạp chí giáo dục số 66, trang 26-28).
GS-TS Trần Đình S khi chia việc đc văn thành các khâu đọc thông,
đọc thuộc, đọc kỹ, đọc sâu, đọc hiểu, đọc sáng tạo đọc sử dụng đã khẳng
định: “Trong các khâu đó, đọc- hiểu khâu bản nhất” (Trần Đình S,
2004, Đọc- hiểu văn bản- mt khâu đột phá trong việc dạy học văn hiện
nay”, Tạp chí giáo dục số 102, trang 16-18).
Như vậy, đọc hiểu là thang đ cao của việc đọc văn bản, đọc- hiểu
chính tìm ra ý nghĩa của mt thông điệp được tổ chức bằng một hệ thống
hiu. Trong dạy học Ngữ n, đọc-hiểu VBVH thực chất là tiếp nhận,
giải mã văn học nhìn t phương din con đường- hiệu quả c- hiểu),
phương diện quan m đến vai trò người tiếp nhận để tạo nên hiệu qutiếp
nhận. Trong gi Đc- hiểu VBVH trường THPT, đối ợng tiếp nhận
chính là học sinh.
1.3. Quan nim về câu hỏi nêu vấn đề trong đọc- hiểu VBVH
Câu hi nêu vấn đ một yếu tố quan trng cần đưc nghiên cứu kỹ
trong việc ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật dy học tích cực. CHN
trong đọc- hiểu VBVH thể đưc hiểu là nhng câu hỏi chứa đựng “Mâu
thuẫn nghệ thuật” iểm đáng chú ý về nội dung, nghệ thuật, vmt chi tiết,
hình nh,… nào đó của n bản), được hc sinh tiếp nhận một ch ý
thức, làm nảy sinh c em một sự hứng thú, suy nghĩ đtìm cách giải đáp,
nhằm hiểu sâu tác phẩm.
Nói cách khác, đây loại u hỏi đem lại cho học sinh sự khó kn
trong việc tìm câu tr lời. Muốn giải quyết , các em phải động não, phải
suy nghĩ, tìm i những tri thức mới dựa trên những tri thức, kinh nghiệm
sn của mình. Câu hi CHNVĐ không phải là ssao chép, tái hiện lại
những điều đã có trong sách giáo khoalà những tìm tòi, phát hiện mới do
thực hiện các thao c duy như phân tích, so nh, tổng hợp đhiểu sâu
văn bảnn học.
Trong dy học Ngữ n nói chung, giđọc- hiểu VBVH nói riêng,
CHNVĐc dng to lớn. Nó phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ, tính
chđộng tìm tòi, sáng tạo, kích thích hứng thú, say mê, lôi cuốn các em vào
quá trình tìm hiểu sâu, khám pcác tng nghĩa n trong, các điểm sáng
thẩm mỹ, thưởng thức cái hay, cái đẹp và trực tiếp tham gia vào quá trình
biến văn bản văn học thành tác phm văn học với sự sáng tạo của riêng
mình. Quan trọng hơn, các em đưc hình thành và rèn luyện khả năng tự tiếp
nhận, tự đánh giá, phân tíchn bản văn học theo quan điểm của riêng mình.
Ngoài ra, nó còn tác dụng thôi thúc c em tìm hiểu thêm nhiều liệu
lên quan đến văn bản được học. Nói chung, việc sử dụng hiệu quCHN
của giáo viên s làm phát triển năng lực cảm thụ, tiếp nhận văn học của học
sinh p phần nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ Văn nhà trường phổ
thông.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đtài
2.1.c ngun CHN giáo viên thkhai thác, sdng trong
giờ đọc- hiểu VBVH
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn, lấy học sinh
làm trung tâm, giđọc- hiểu VBVH phải ớng đến mục tiêu m cho hc
sinh ch động và tích cc, sáng tạo trong việc nhận thức, chiếm lĩnh nội
dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của VBVH thông qua vai trò hướng đạo
của giáo viên. CHN một cách ớng đạo. Vậy giáo viên thkhai
thác, s dụng CHN trong gi đọc- hiểu VBVH từ những nguồn nào?
Trong thực tế, chúng ta nhiều nguồn khác nhau để khai thác, sử dụng
CHNVĐ. Sách giáo khoa (SGK)các liệu tham khảo liên quan những
ngun khá gần gũi với giáo viên.
Với nguồn là SGK, giáo viên có th sdụng nguyên si nhng câu hỏi
sn trong phn ớng dẫn học bài hoặc xử lý những CHNVĐ ca phần
hướng dẫn học bài bằng cách cthhóa điều chỉnh yêu cầu của các u
hỏi theo ớng vừa bán sát mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đi tượng học
sinh của mình để đưa vào sử dụng.
Trong SGK NgVăn 12 (Văn học Việt Nam), nhiều câu hi hướng
dẫn học bài Giáo viên có th sử dụng ngay mà không cần phải gia công xử lý
như câu 2 (tr.122), câu 4 (tr.123)- Đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa
Điềm; câu 3 (tr.203)- đoạn trích Ai đã đt tên cho dòng sông của Hoàng Ph
Ngc Tường; u 2, u 3 (tr. 33)- Văn bản VNht của Kim Lân; toàn b
các câu hi hướng dẫn học bài trong đoạn trích Những đứa con trong gia
đình của Nguyễn Thi, văn bản Đàn ghita của Lorca, tác giả Thanh Thảo
n bản Chiếc thuyn ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Với nhiu VBVH khác (Văn học Việt Nam), CHNVĐ của phần
hướng dẫn học bài trong SGK thường đặt ra những vấn đqlớn, tính
khái quát, tổng hợp cao mà hầu hết các hc sinh của chúng i không dtìm
ra câu tr lời. Trong trường hợp này, giáo viên phi sử dng hệ thống
CHNVĐ tính dẫn dt, gợi mđc em tìm hiểu từng khía cạnh cụ thể
của vấn đđược nêu, sau đó tổng hợp lại ới dạng câu trả lời khái quát. Ví
d, đhc sinh trlời được câu hi Sphn và tính cách nn vật Mqua
cảnh ng bị bắt về làm dâu gạt nợ, cuộc sống bđọa đày tủi cực nhà thng
Pá Tra; diễn biến m trạng hành động” (Hướng dẫn học bài- n bản
Vchng A Phủ, tác gi Tô Hoài), giáo viên nên thiết kế các CHNVĐ nh
hơn, c thể hơn, hướng c em đến việc phân tích nhân vật trên những
phương diện khác nhau (Trước khi bbắt về làm dâu nhà Thống Pá Tra,
Mị là i như thế nào? Vì sao Mị phải làm con dâu gt nợ? Khi trở thành
con dâu gt nợ, Mị bđày đọa như thế nào vthể xác và tinh thần? Phản
ứng của Mỵ trước cuộc sống tủi nhục đó? Trong đêm tình mùa xuân, tâm
trạng Mị sự thay đổi như thế nào? Những yếu tố nào đã tác động làm
nên sthay đổi đó? Qua đó, em cảm nhận thêm được điều gì vnhân vật
Mỵ? Trong đêm cởi trói cho A Phủ, tâm Mị diễn biến như thế nào? sao
Mcởi trói và chy theo A Phủ? Qua đó hãy đưa ra nhận xét của riêng em
về cuộc đời, số phận và nhng đặc điểm nổi bật về con người Mỵ?,…)
Tương tự, đhọc sinh trả lời câu hỏi Anh/chị cảm nhận được ý nghĩa
của truyện ngắn qua nhan đtác phẩm, đoạn n miêu t cánh rừng xà nu
ới tầm đi bác, hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải ra t tầm
mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm” (Hướng
dẫn học bài- văn bản Rừng xà nu, tác giNguyễn Trung Thành), giáo viên
phi sử dụng hệ thống CHNVĐ để dẫn dắt các em tìm hiểu về hình tượng xà
nu trong văn bản từ mật độ xuất hiện, đặc điểm sinh học của loại cây này
đến ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng của xà nu qua cách miêu tả chiếu ứng giữa cây
người,...