Sơ chế sinh khối
bằng muối lỏng (Ion
liquids)
Viết bởi Châu Thành Nhân
Thứ sáu, 24 Tháng 12 2010 08:11
Các h
ợp chất muối lỏng (còn gọi chất lỏng ion) cho thấy sự hứa hẹn
một dung môi dùng cho xử sinh khối lignocellulose. Nng li
ệu sự
tiếp cận này chỉ một khoa học hay đây m
ột công nghệ tiên
tiến trong chế nguyên liệu đ
ầu vào của nhiên liệu sinh học thể
thương mại hóa?
Sinh khối lignocellulose nguồn carbon tái sinh đư
ợc dồi dào bậc nhất trên hành tinh
chúng ta. Chỉ tính riêng ở Mỹ thôi, người ta dự đoán có hơn m
ột tỷ tấn sinh khối tạo ra hàng
năm. Sinh khối lignocellulose nguồn gốc từ cỏ, gỗ phần thải của gỗ, rơm r
chất thải rắn hữu cơ trong sinh hoạt, phân và các nguồn khác.
ờng tế bào cây trong sinh khối lignocellulose các cấu trúc phức hợp chứa cellulose,
hemicellulose lignin ( Hình 1 2). Các ph
ức hợp này khó bị phá vỡ thành các thành
phần polymer và monomer đơn lẻ. Sự cứng v
ững của phức hợp cấu trúc tạo vách tế bào này
làm cho việc chuyển a sinh khối thành đư
ờng C5 C6 (xylose, glucose) trở nên khó
khăn, tiêu tốn nhiều năng lượng chi phí cao hơn so với tinh bột bắp, đư
ờng mía hoặc c
cải đường.
Cellulose là phân tử polymer có mặt nhiều nhất trong vách tế bào. Nó tạo nên 20-30% trọng
lượng khô của vách tế bào. Liên kết beta 1,4 –glycoside giữa các đường đơn glucose cho
phép hình thành các vi sợi cellulose trong suốt quá trình sinh tổng hợp vách tế bào. Các vi
sợi có tính kết tinh cao và cung cấp khung cấu trúc chính cho vách tế bào
Vi sợi cellulose một lớp hemicellulose áo quanh gắn gắn kết với các vi sợi k
hác.
Hemicellulose được chức hóa giúp ổn đ
ịnh cấu trúc vách trong suốt quá trình sinh tổng hợp
vách tế bào. Vì vậy, chúng khó có thể phân hủy thành đường đơn.
Hệ composite polysaccharide gồm hemicellulose cellulose đư
ợc bọc kín trong một nn
chất lignin dai dẻo chịu hóa chất kỵ
ớc. Lignin một polymer sinh học phổ biến thứ
nhì thường đư
ợc tìm thấy trong các cây mạch nhựa. loại polymer dị thể gốc từ
phenylpropanoid. Lignin làm cho vách tế bào chịu đư
ợc côn tng, kháng vi khuẩn, chịu thời
tiết và giúp truyền nước.
Hình 2: Thành phần hóa học của vi sợi cellulose
Sự chuyển hóa nhờ men của sinh khối thành các đường đơn dựa vào bước sơ chế này. Bư
ớc
sơ chế giúp phá vỡ các phức hợp cấu trúc lignin – carbonhydrate và gia tăng khả n
ăng thâm
nhập tiếp xúc của các polysaccharide đ
ến men thủy giải. Một trong những yêu cầu thiết
yếu cần quan tâm đến trong sản xuất nhiên liệu sinh học từ sinh khối ligno-
cellulose là công
nghệ chế sinh khối phải hiệu quchí phí phù hợp. Người ta ư
ớc tính rằng cứ trên
một gallon sản phẩm , việc sơ chế sinh khối ngốn mất 19 - 22% chi phí sản xuất đ
ứng sau
việc chuẩn bị nạp liệu (30-32%).
Một số phương pháp xử bộ bằng vật lý, hóa học đi t
các công nghệ tiêu biểu trong
công nghiệp giấy bột gỗ đang được phát triển để
ợt qua những rào cản công nghệ
hệ vật liệu ligno-cellulose, gia tăng năng su
ất lên men, cải thiện hiệu suất chuyển hóa
lignocellulose thành các đường đơn. Các phương pháp x
bao gồm dùng acid loãng hoặc
amoniac hoặc vôi hoặc bằng hơi qnhiệt hoặc bằng các dung môi hữu để làm tr
ương
sinh khối, tách sợi cellulose trước khi thủy giải thành đường đơn nhờ men
Tất cả các phương pháp trên đều ưu nhược điểm. Hiện nay, chúng ta vẫn ch
ưa
phương pháp chế sinh khối nào cho năng su
ất cao chi phí thấp trong chuyển hóa các
loại sinh khối chứa lignocellulose thành đường đơn. Quá trình x
dùng acid sunfuric loãng
hòa tan hiệu quả phần lớn các hemicellulose một phần lignin. Tuy nhiên, nhiệt đ
cao
hơn,
ớc xử này tạo ra các sản phẩm polysaccharide giảm cấp trung gian gây ức chế sự
lên men vi sinh dẫn đến giảm hiệu suất toàn phần của chuyển hóa đường
đơn. Phương
pháp làm nở sợi bằng amoniac (AFEX) hữu hiệu trong sơ ch
ế các phế phẩm nông nghiệp
lõi bắp nhưng đòi hỏi các điều kiện ngặt nghèo đ
xử hiệu quả các phần gỗ mềm
gỗ cứng cũng như thu hồi tái sử dụng amoniac. Cách sơ ch
ế sử dụng vôi hiệu quả nhất cũng
cần oxy cao áp 200psi. Còn dùng hơi quá nhi
ệt thì không hòa tan hiệu quả lignin hiệu
suất tạo đường đơn thấp hơn so với các công nghệ sơ chế khác. Biện pháp ch
dung môi hữu cơ thường đòi hỏi sự có mặt chất xúc tác và tách loại hoàn toàn dung mô
i sau
sử dụng. Sự tồn dung môi trong chế phẩm gây ức chế quá trình đư
ờng hóa lên men
tiếp theo đó.
Dùng muối lỏng làm dung môi cho lignocellulose
Các muối lỏng ( hay còn gọi là chất lỏng ion) nhóm dung môi tương đối mới. Chúng đư
ợc
phát triển vào những năm thập niên 1980 như một thay thế thân thiện i trư
ờng cho các
dung môi hữu truyền thống. Một hợp chất muối lỏng gồm các anion cation hữu c
ơ
sự kết hợp lỏng lẻo, có điểm nóng chảy thấp dưới 100 oC. Hiện có hàng trăm lo
ại muối lỏng
được bi
ết từ sự kết hợp rộng các anion và cation khác nhau. Sự kết hợp anion và cation giúp
định ra các tính chất nhiệt động và hóa lý của muối lỏng.
Các muối lỏng được đánh giá có hi
u quả trong các lĩnh vực hydrogen hóa , ester hóa, tổng
hợp vật liệu nano, c tác sinh học trích ly chọn lọc các hợp chất vòng thơm.
Ứng dụng
thương mại đầu tiên của các muối lỏng môi chất loại các acid
ỡng pha trong tổng hợp
các tiền chất khơi mào quang học trong ứng dụng màng phủ đóng rắn nhờ tia UV.
Sự phát triển ứng dụng của muối lỏng vào công nghệ ch
ế sinh khối chỉ vừa mới hình
thành. tả đ
ầu tiên cho ứng dụng muối lỏng làm dung môi hòa tan cellulose trong các
điều kiện tương đối ôn hòa được báo cáo vào năm 2002. Trong thí nghiệm đó, ngư
ời ta sử
dụng một dãy các anion cation 1-butyl-3-methylimidazolium. M
ột s muối lỏng trong
chúng cho thấy khả năng hòa tan hoàn toàn c cellulose vi kết tinh. Cellulose sau
đó