ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHƢƠNG HỒNG BẢO

TÁC ĐỘNG CỦA NỖ LỰC MARKETING QUA

MẠNG XÃ HỘI (SOCIAL MEDIA MARKETING) ĐẾN

Ý ĐỊNH THEO HỌC CHƢƠNG TRÌNH THẠC SĨ TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 8.34.01.01

Đà Nẵng - 2023

Công trình đƣợc hoàn thành tại

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGÔ THỊ KHUÊ THƢ

Phản biện 1: Nguyễn Thị Bích Thủy

Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Nhƣ Liêm

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc

sĩ Quản trị Kinh doanh họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

vào ngày 07 tháng 01 năm 2023

Có thế tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

1

Giới thiệu

Marketing qua mạng xã hội là hình thức kết nối các hàng với phân

khúc khách hàng mục tiêu nhanh nhất và hiệu quả nhất, nơi mà khách hàng

dành nhiều thời gian và tâm trí nhất của họ trong ngày. Sự phát triển và thay

đổi không ngừng nghỉ của các hoạt động marketing qua mạng xã hội

(SMMAs) cũng tác động rất nhiều đến mức độ tiếp cận nguồn tri thức và ý

định hành vi người tiêu dùng (Nguyễn Quang Vinh, 2021). SMMAs bao gồm

nhiều thành tố khác nhau như xu hướng (trendiness), giải trí (entertainment),

tương tác (interaction), tuỳ biến (customization), truyền miệng điện tử

(Wordofmouth- eWom). Ý định bị tác động bởi những thành tố như giải trí,

truyền miệng sự tương tác, xu hướng, tính tùy biến đến lòng trung thành

thương hiệu, thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan để dẫn đến ý

định nào đó của người dùng. Những nhân tố đối tượng của SMMAs đã được

đề cập ở các nghiên cứu trước, tuy nhiên chỉ được đề cập thông qua các

nghiên cứu rời rạc mà chưa có sự kết luận rõ ràng hay mới tương quan mật

thiết thật sự của các nhân tố đến với lĩnh vực giáo dục và đặc biệt đến ý định

theo học thạc sĩ. Lý do này hình thành đề tài, tác giả thực hiện nghiên cứu

“Tác động của nỗ lực marketing qua mạng xã hội (social media marketing)

đến ý định theo học chương trình thạc sĩ tại trường Đại học Kinh Tế - Đại

học Đà Nẵng”.

Đối tượng khảo sát là những người đã và đang có ý định theo học

chương trình Thạc sĩ tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, và có

tham gia các hoạt động trên nền tảng Facebook của trường, bao gồm: Sinh

viên đang theo học chương trình Đại học tại trường, Sinh viên đang theo học

chương trình thạc sĩ tại trường, những người được giới thiệu khảo sát thông

qua phương pháp quả cầu tuyết. Kết thúc quá trình khảo sát, số người trả lời

bảng câu hỏi khảo sát là 230, số phiếu khảo sát phù hợp là 183.

2

Sau khi thực hiện kiểm định giả thuyết bằng phần mềm SmartPLS,

nghiên cứu đã xác định được mối quan hệ tích cực giữa Các hoạt động

marketing qua mạng xã hội (gồm 3 thành tố Giải trí, Tương tác, Truyền

miệng) và Thái độ đối với hành vi (β=0.803), Chuẩn mực chủ quan

(β=0.720), Lòng trung thành thương hiệu (β=0.834). Nghiên cứu cũng chỉ ra

rằng cả 3 biến Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và Lòng trung

thành thương hiệu đều có tác động tích cực đối với Ý định theo học. Kết quả

này phù hợp với Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) và các nghiên cứu

trước.

1. TỔNG QUAN VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Marketing qua mạng xã hội là hình thức phổ biến nhất trong các loại

hình digital marketing với các hoạt động đa dạng. Tùy thuộc vào tính đặc thù

của đơn vị và đối tượng tiếp cận mà đơn vị tổ chức sẽ lựa chọn phương thức

hoạt động cho phù hợp. Theo những thông tin tác giả thu thập được từ các

nghiên cứu trước Facebook hiện nay có 1,3tr người dùng (Friedman, 2014).

Những trang mạng xã hội khác cũng trở nên nổi tiếng trong cộng đồng người

sử dụng (Friedman ,2014). Linkedin có 135 triệu người dùng tại hơn 200

quốc gia (Bennett, 2012). Năm 2013 twitter có hơn 182,9 tr người dùng

(Bercovici, 2012). Sự phát triển và thay đổi không ngừng nghỉ của các hoạt

động marketing qua mạng xã hội (SMMAs) cũng tác động rất nhiều đến mức

độ tiếp cận nguồn tri thức và ý định hành vi người tiêu dùng (Nguyễn Quang

Vinh, 2021). SMMA bao gồm nhiều thành tố khác nhau như xu hướng

(trendiness), giải trí (entertainment), tương tác (interaction), tuỳ biến

(customization), truyền miệng điện tử (Wordofmouth- eWom). Trong đó,

truyền miệng điện tử ( Ewom) được xem là dạng truyền thông phi chính thức

của doanh nghiệp khi sử dụng khách hàng như là một người phát ngôn và

truyền đạt thông điệp Marketing (westbrook). Những phát ngôn này được lan

3

truyền giữa người mua và người bán qua nền tảng ảo từ đó hình thành nên

eWom và nó có tác động mạnh mẽ đến ý định của người mua hoặc người bán

cũ trong tương lai (Hennig - Tharau, 2003). Ngoài ra ý định còn bị tác động

bởi những thành tố khác như quảng cáo, sự tương tác, xu hướng, tính tùy biến

đến lòng trung thành thương hiệu, thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ

quan để dẫn đến ý định nào đó của người dùng

Những nhân tố đối tượng của SMMAs đã được đề cập ở các nghiên

cứu trước, tuy nhiên chỉ được đề cập thông qua các nghiên cứu rời rạc mà

chưa có sự kết luận rõ ràng hay mới tương quan mật thiết thật sự của các

nhân tố đến với lĩnh vực giáo dục và đặc biệt đến ý định theo học thạc sĩ. Lý

do này hình thành đề tài, tác giả thực hiện nghiên cứu “ tác động của nỗ lực

marketing qua mạng xã hội ( social media marketing) đến ý định theo học

chương trình thạc sĩ tại trường Đại học Kinh Tế - Đại học Đà Nẵng”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xác định, khảo sát và đo lường tác động của nỗ

lực của các hoạt động marketing đến ý định theo học chương trình Thạc sĩ tại

trường Đại học Kinh Tế - Đại học Đà Nẵng. Qua đó, xây dựng mô hình phù

hợp dựa trên các nghiên cứu đi trước và các nguồn tài liệu tham khảo. Kiểm

định lại mối quan hệ từ các hoạt động marketing qua mạng xã hội (social

media marketing activity - SMMAs) đến ý định theo học chương trình thạc sĩ

thông qua các yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan, lòng trung thành. Để từ đó đưa

ra các hàm ý quản trị và đề xuất chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn

của trường.

2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Các hoạt động marketing qua mạng xã hội (SMMAs)

Mạng xã hội xã hội là các kênh sử dụng nền tảng Internet, cho phép

người dùng tương tác và sáng tạo nội dung theo thời gian thực hoặc không

đồng bộ và có tính chọn lọc. Đối tượng có thể rộng hoặc hẹp, bao gồm những

4

người nhận được giá trị từ nội dung do người dùng tạo và có khả năng tương

tác với người khác (Carr, 2015).

Seo và Park (2018) định nghĩa mạng xã hội là một chương trình hoặc

nền tảng ứng dụng trực tuyến giúp sự tương tác, làm việc chung hoặc chia sẻ

nội dung một cách đơn giản hơn, đặc biệt là trong các hoạt động marketing.

Theo Pentina và Koh (2012), marketing qua mạng xã hội (SMM) là sự

thúc đẩy giao tiếp và lan truyền thông tin giữa người dùng trên các cộng đồng

trực tuyến, các trang của thương hiệu cũng như các nội dung liên quan đến

quảng cáo do các công ty/tổ chức tạo ra trên các trang mạng phổ biến như

Twitter, Facebook và nhiều trang khác. Jara và cộng sự (2014) định nghĩa

SMM là một công cụ marketing thế hệ mới, khuyến khích sự chú ý và tham

gia cao hơn của người dùng thông qua việc sử dụng mạng xã hội.

Chi (2011) đã định nghĩa marketing qua mạng xã hội (SMM) là sự

hình thành “sự kết nối giữa thương hiệu và khách hàng, đồng thời cung cấp

một kênh cá nhân qua mạng xã hội và người dùng làm trung tâm”. Kim và

Ko (2010, 2012) đã tạo ra một khung SMM mới, được gọi là Các hoạt động

marketing qua mạng xã hội (SMMAs) (giải trí, tương tác, xu hướng, tùy biến

và WOM), nghiên cứu này đã kết luận SMMAs nâng cao giá trị tài sản của

khách hàng (giá trị, mối quan hệ với thương hiệu), đồng thời cho rằng đó là

cách tiếp cận marketing tích cực.

Ibrahim và cộng sự (2020) định nghĩa SMMAs là “các công cụ truyền

thông mối quan hệ và quảng cáo bổ sung cho việc áp dụng chiến lược

marketing của tổ chức, bằng cách cung cấp khả năng tương tác thông qua các

mối quan hệ trực tuyến giữa tổ chức và người dùng”.

Định nghĩa này cũng được áp dụng trong nhiều nghiên cứu, đồng thời

phát triển trong nhiều bối cảnh và lĩnh vực khác nhau như ngành giáo dục

(Spackman & Larsen, 2017), ngành khách sạn (Moslehpour và cộng sự,

2020; Seo & Park, 2018), người dùng điện thoại thông minh (Cheung và

5

cộng sự, 2020). Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn sử dụng khung SMMAs

do Kim & Ko (2010, 2012) đề xuất, với 5 thành tố chính.

Trong nghiên cứu này, SMMAs sẽ dựa trên năm khía cạnh của

SMMAs do Kim và Ko đề xuất (2010, 2012).

Giải trí:

Giải trí được định nghĩa là niềm vui và sự tận hưởng khi sử dụng, hay

mức độ thú vị của các bài đăng được người theo dõi cảm nhận (Kim và Ko,

2011).

Tương tác (Interaction)

Yếu tố Tương tác (Interaction) mô tả sự đóng góp mà người dùng tạo

ra cho thương hiệu thông qua các hoạt động marketing qua mạng xã hội và sử

dụng mạng xã hội như một cách để giao tiếp và tương tác với tổ chức (Bilgin,

2018).

Tuỳ biến (Customization)

Tuỳ biến (Customization) là mức độ và và khả năng dễ dàng truy cập

thông tin và tìm hiểu dịch vụ từ các tài khoản mạng xã hội xã hội của thương

hiệu. Ý nghĩa của thành tố Tuỳ biến chính là tạo ra sự hài lòng của người

theo dõi dựa trên sự liên hệ và giao tiếp trực tiếp giữa người dùng cá nhân và

công ty (Bilgin, 2018; Seo và cộng sự, 2018).

Xu hướng (Trendiness)

Theo Ibrahim (2020), mức độ mới và cập nhật của nội dung cũng như

thông tin của một thương hiệu trên các nền tảng mạng xã hội của tổ chức

được gọi là khía cạnh xu hướng .

Truyền miệng (Word of Mouth)

Khía cạnh Truyền miệng (Word of Mouth) đề cập đến việc trao đổi

thông tin giữa các người dùng. Nói cách khác, Truyền miệng là cách người

dùng sẵn sàng chia sẻ thông tin về một thương hiệu cụ thể với người khác

như thế nào (Ibrahim, 2020; Kim và Ko 2011).

6

2.2 Thái độ đối với hành vi

Thái độ đối với hành vi là mức độ mà một người đánh giá thuận lợi

hoặc không thuận lợi đối với một hành vi cụ thể (Fishbein và Ajzen, 1975).

Thái độ là một trạng thái tâm lý diễn tả sự đánh giá một chủ thể với các mức

độ từ thích đến không thích (Eagly và Chaiken, 1993).

2.3 Chuẩn mực chủ quan

Chuẩn mực chủ quan được định nghĩa như là nhận thức của một người

về những áp lực xã hội khiến người đó thực hiện hay không thực hiện các

hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975). Theo đó, chuẩn mực chủ quan là sự ảnh

hưởng của các yếu tố bên ngoài, trước hết là hành động và lời khuyên của

những người có liên quan. Áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện

hành vi kinh doanh có thể được kích hoạt từ gia đình, bạn bè, giáo viên và

các hình mẫu có thể có khác. Niềm tin vào chuẩn mực của cá nhân ảnh

hưởng đến biến này (Armitage & Conner, 2001).

2.4 Lòng trung thành thƣơng hiệu

Lòng trung thành thương hiệu được định nghĩa là một phản ứng hành

vi cũng như một chức năng của các quá trình sinh lý. Do đó, lòng trung thành

thương hiệu là một hàm của các khuynh hướng và hành vi (thói quen). Giá trị

cơ bản của thương hiệu bắt nguồn từ niềm tin của người tiêu dùng đối với

một thương hiệu so với các thương hiệu khác, mà sự tin tưởng này được hiểu

là lòng trung thành của người tiêu dùng và sự sẵn sàng trả giá cao của họ cho

thương hiệu, giá trị thương hiệu có tầm quan trọng lớn do lòng trung thành

thương hiệu và sự phát triển của nó đối với các nhà quản lý và nó có mối

quan hệ tích cực với lòng trung thành thương hiệu (Rahimnia và cộng sự,

2013).

2.5 Ý định theo học

Ý định là ý muốn làm một việc gì đó. Theo Ajzen (2002), ý định hành

vi là hành động của con người được hướng dẫn bởi sự cân nhắc 03 yếu tố:

7

niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát.

Các niềm tin này càng mạnh thì ý định thực hiện hành vi càng lớn.

Ý định là biến phụ thuộc của trong mô hình hành động hợp lý TRA

(sau này phát triển thành mô hình TPB). Ý định được quan tâm vì TPB cho

rằng ý định thực hiện một hành vi quyết định hành vi thực tế của cá nhân

(Dinev & Hu, 2007). Ý định cung cấp một chỉ báo về mức độ nỗ lực của một

cá nhân để thực hiện một hành vi, đồng thời quyết định các yếu tố thúc đẩy

ảnh hưởng đến hành vi của một cá nhân (Ajzen, 1991).

Ý định học cao học là ý muốn và sự sẵn lòng của một cá nhân sẽ vào

học bậc cao học nhằm đạt được học vị thạc sĩ. Theo Vietads (2016), học vị

thạc sĩ trong tiếng Anh được gọi là Master. Đây là một học vị trên bậc cử

nhân, dưới bậc tiến sĩ.

2.6 Thuyết hành động hợp lý TRA

Thuyết hành động hợp lý được xây dựng từ năm 1967 nhưng sau đó nó

cũng dần hoàn thiện theo thời gian. Đến mãi năm 1975 thời kỳ hoàn thiện

nhất của thuyết hợp ý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và

Fishbein, học thuyết này được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực

nghiên cứu tâm lý xã hội. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định

bởi ý định thực hiện hành vi đó với hai nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định

là thái độ cá nhân và ảnh hưởng xã hội. Sau này, thuyết hành động hợp lý

được cải tiếp và phát triển thành thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991).

Thái độ( Attidude) được định nghĩa là cảm giác tích cực hoặc tiêu cực

của con người. Theo những nghiên cứu về tâm lý học con người đây còn

được xem là chức năng của niềm tin và các đánh giá đi kèm.

Niềm tin là một hình thái chuẩn mực chủ quan ( subjective) của con

người có thể hoặc sắp xảy ra khi con người có ý định chuẩn bị thực hiện hành

vi tiếp theo.

8

Cả chuẩn chủ quan về niềm tin và thái độ đều có sự tác động mạnh mẽ

đến ý định thực hiện hành vi của con người. Tác giả dựa vào kết quả của ý

định thực hiện hành vi để đo lường sự tác động của hành vi. Mô hình bên

dưới cũng chỉ ra được mối quan hệ tương quan của hai yếu tố trên tác động

theo chiều hướng nào đến ý định hành vi.

Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các

thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính

mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết

trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của

người tiêu dùng.

Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA

3. Phát triển giả thuyết:

3.1 Mối quan hệ giữa Các hoạt động marketing qua mạng xã

hội và Thái độ đối với hành vi

Sun và Wang (2019) đã điều tra mối quan hệ giữa marketing qua mạng

xã hội đối với thái độ của sản phẩm, tiêu chuẩn chủ quan và ý định mua hàng.

Kết quả chỉ ra rằng marketing qua mạng xã hội ảnh hưởng tích cực và đáng

kể đến thái độ và các chuẩn mực chủ quan đối với sản phẩm. Kết quả tương

tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Cheunkamon và cộng sự. Nghiên

cứu của Spackman và cộng sự (2017) đã chỉ ra 3 thành tố chính của Các hoạt

động marketing qua mạng xã hội trong ngành giáo dục, bao gồm Tương tác,

Giải trí và Truyền miệng.

9

Xie và cộng sự (2020) cũng đã chỉ ra rằng, có mối quan hệ giữa các

hoạt động marketing thông qua mạng xã hội và Thái độ đối với hành vi.

Dựa và kết quả trên, giả thuyết dưới đây được đề xuất:

H1: Các hoạt động marketing qua mạng xã hội có tác động tích cực

đến Thái độ đối với hành vi.

3.2 Mối quan hệ giữa Các hoạt động marketing qua mạng xã

hội và Chuẩn mực chủ quan

Trong nghiên cứu này, các chuẩn mực chủ quan được định nghĩa là

mức độ mà các thành viên của cộng đồng được ủng hộ việc tham gia vào các

phương tiện marketing qua mạng xã hội bởi những người mà họ cho là quan

trọng. Nghiên cứu của Blend Ibrahim (2018) đã kiểm định mối quan hệ giữa

marketing qua mạng xã hội về thái độ sản phẩm, chuẩn mực chủ quan và ý

định mua hàng. Kết quả chỉ ra rằng marketing và marketing qua mạng xã hội

ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến chuẩn mực chủ quan đối với sản phẩm.

Kết quả tương tự đã được tìm thấy trong nghiên cứu của Cheunkamon et al.

(2020). Các nghiên cứu của Sun và Wang (2019) và Singgih SANTOSO

(2021) đã một lần nữa kiểm định kết quả trên là phù hợp.

Dựa vào các thông tin trên, giả thuyết sau đây được đề xuất:

H2: Các hoạt động marketing qua mạng xã hội có tác động tích cực

đến Chuẩn mực chủ quan.

3.3 Mối quan hệ giữa Các hoạt động marketing qua mạng xã

hội và tới lòng trung thành thƣơng hiệu

Tầm quan trọng của truyền thông xã hội đối với các doanh nghiệp đã

trở nên rõ ràng hơn trong những năm trước. Cụ thể, khi người dùng đánh giá

cao việc giao tiếp thường xuyên từ thương hiệu, điều đó có thể nâng cao lòng

trung thành của họ hơn nữa (Merisavo & Raulas, 2004). Do đó, SMMAs rất

cần thiết trong việc xây dựng mối quan hệ với người dùng và lòng trung

thành thương hiệu (Ibrahim và cộng sự, 2020; Kim & Ko, 2012). Nói cách

10

khác, sự tương tác và kết nối với người dùng càng hiệu quả thì sự mối quan

hệ giữa khách hàng và thương hiệu càng mạnh mẽ, điều này có thể dẫn đến

nâng cao lòng trung thành. Do đó, giả thuyết sau đây được đề xuất:

H3: Các hoạt động marketing qua mạng xã hội có tác động tích cực

đến Lòng trung thành thương hiệu.

3.4 Mối quan hệ giữa Thái độ đối với hành vi và Ý định theo

học

Các nghiên cứu trước ở Việt Nam đã chỉ ra rằng, Thái độ là một yếu tố

quan trọng tác động trực tiếp đến Ý định học thạc sĩ. Nghiên cứu Các nhân tố

ảnh hưởng đến ý định học thạc sĩ của cử nhân điều dưỡng trên địa bàn tỉnh

Hải Dương và các tỉnh phụ cận (Nguyễn Quang Vĩnh và cộng sự, 2021) đã

chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa Thái độ đối với hành vi lên Ý định theo học

thạc sĩ. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Phạm Xuân Giang

và cộng sự (2019) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao

học của sinh viên ngành Kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố

Hồ Chí Minh và nghiên cứu về ý định học cao học chuyên ngành Quản trị du

lịch của sinh viên khoa Du lịch trường Đại học Tài chính – Marketing của

Đoàn Liêng Diễm và cộng sự (2020).

Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây khi xác định

vai trò của Thái độ đối với ý định (Xie và cộng sự, 2022; Sun và cộng sự,

2019).

Giả thuyết sau đây được đề xuất:

H4: Thái độ đối với hành vi có mối quan hệ tích cực đến Ý định theo

học.

3.5 Mối quan hệ giữa Chuẩn mực chủ quan và Ý định theo học

Các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa

Chuẩn mực chủ quan và Ý định (Nguyễn Quang Vĩnh, 2021; Phạm Xuân

Giang, 2019). Trong nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao

11

học của sinh viên ngành Kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố

Hồ Chí Minh (Phạm Xuân Giang, 2019), chuẩn chủ quan là yếu tố có tác

động lớn nhất đến ý định học cao học, trong khi trong nghiên cứu của

Nguyễn Quang Vĩnh (2021) là yếu tố lớn thứ 2, sau Giá trị cảm nhận.

Các kết quả trên cũng phù hợp với các nghiên cứu trước của Delafrooz

và cộng sự (2011), Bhattacherjee (2000), Xia và cộng sự (2022).

Do đó, giả thuyết sau đây được đề xuất:

H5: Chuẩn mực chủ quan có mối quan hệ tích cực đến Ý định theo

học.

3.6 Mối quan hệ giữa Lòng trung thành thƣơng hiệu và Ý định

theo học

Nghiên cứu về ý định học cao học chuyên ngành Quản trị du lịch của

sinh viên khoa Du lịch trường Đại học Tài chính – Marketing của Đoàn

Liêng Diễm và cộng sự (2020) đã chỉ ra mối quan hệ tích cực từ Lòng trung

thành đến Ý định theo học chương trình thạc sĩ. Kết quả này cũng phù hợp

với các nghiên cứu trước của Savila (2019), Lê Phước Hương và Lê Công

Trực (2020), khi các nghiên cứu này cho rằng ý định thực hiện hành vi được

tác động đáng kể bởi lòng trung thành

của khách hàng.

Giả thuyết sau được đề xuất:

H6: Lòng trung thành thương hiệu có mối quan hệ tích cực đến Ý định

theo học.

Các nghiên cứu tại Việt Nam vẫn chưa đánh giá vai trò của Các hoạt

động marketing qua mạng xã hội trong việc hình thành Ý định học Thạc sĩ.

Căn cứ vào quá trình nghiên cứu và tìm hiểu các mô hình nghiên cứu trong

và ngoài nước liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định theo học

chương trình thạc sĩ, Trong nghiên cứu này, mối quan hệ của các hoạt động

marketing qua mạng xã hội và Ý định theo học sẽ được đánh giá thông qua 3

12

biến Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và Lòng trung thành

thương hiệu. Mô hình nghiên cứu gồm 6 giả thuyết dưới đây được đề xuất:

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4.1 Phƣơng pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thông qua việc kế thừa kết

quả đạt được của những bài nghiên cứu trước, sử dụng các lý thuyết có liên

quan trong và ngoài nước trên các trang chính thống như tạp chí, bài báo

khoa học, trang website cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng

dẫn để đánh giá sơ bộ về độ tin cậy và giá trị của thang đo đồng thời cũng có

những điều chỉnh phù hợp với thực tiễn của bài nghiên cứu.

Mục đích của phương pháp nghiên cứu nhằm sàng lọc lại toàn bộ các

biến quan sát, xác định các yếu tố có tác động đến ý định học Thạc sĩ. Đồng

thời kiểm định lại độ tin cậy chính xác của những lý thuyết liên quan, mô

hình lý thuyết và kết quả cụ thể.

Sau quá trình thu thập online bằng Google Form thì áp dụng công cụ

SPSS 25 để thống kê mô tả và SmartPLS 4.0 để kiểm định mô hình đo lường

và mô hình cấu trúc.

13

4.2 Thang đo

Thang đo sử dụng để đo lường các biến trong nghiên cứu là thang đo

Lirkert, với thang điểm từ 1 đến 5 (“1” - Hoàn toàn không đồng ý; “2” -

Không đồng ý; “3” - Trung lập; “4” - Đồng ý; “5” Hoàn toàn đồng ý).

Thang đo về Các hoạt động marketing qua mạng xã hội được đề xuất

bởi Kim & Ko (2010). Thang đo được kế thừa và phát triển trong nhiều lĩnh

vực khác nhau như ngành hàng xa xỉ (Gautam & Sharma, 2017), ngành giáo

dục (Spackman & Larsen, 2017; Algharabat và cộng sự, 2017), tìm hiểu về

người dùng điện thoại thông minh (Cheung và cộng sự, 2020), hay ngành

khách sạn (Moslehpour và cộng sự, 2020; Seo & Park, 2018). Nghiên cứu

này tham khảo và kế thừa thang đo từ nghiên cứu của Spackman và cộng sự

(2017), Algharabat, và cộng sự (2017). Trong thang đo này, SMMAs gồm 5

thành tố là Giải trí, Tương tác, Tuỳ biến, Xu hướng, Truyền miệng. Đồng

thời 5 thành tố này được đo lường thông qua 16 chỉ báo.

Thang đo Thái độ đối với hành vi và Chuẩn mực chủ quan được đề

xuất bởi Ajzen (1991), thang đo này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên

cứu liên quan đến thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự

định (TPB). Các nghiên cứu trong nước trước đây cũng tham khảo và phát

triển dựa trên thang đo của Ajzen như nghiên cứu của Phạm Xuân Giang và

cộng sự (2019), Đoàn Liêng Diễm và cộng sự (2020), nghiên cứu của

Nguyễn Quang Vĩnh và cộng sự (2021), Ming-chuan Xie và cộng sự

(2022). Trong nghiên cứu này, thang đo đối với 2 biến Thái độ đối với hành

vi và Chuẩn mực chủ quan được tham khảo từ thang đo trong nghiên cứu của

Phạm Xuân Giang và cộng sự (2019) và nghiên cứu của Ming-chuan Xie và

cộng sự (2022). Thang đo từ nghiên cứu của Ming-chuan Xie và cộng sự

(2022) giải thích vai trò của Các hoạt động marketing qua mạng xã hội tới ý

định, trong khi nghiên cứu của Phạm Xuân Giang và cộng sự (2019) áp dụng

vào thực tế ý định theo học chương trình thạc sĩ tại Việt Nam.

14

Thang đo sử dụng trong nghiên cứu tham khảo từ thang đo của İrem

Erdoğmuş và cộng sự (2016), Frida Johansson và cộng sự (2021), Đoàn

Liêng Diễm và cộng sự (2020). Nghiên cứu của Frida Johansson đã

giải thích mối quan hệ của Lòng trung thành trong các mô hình liên quan đến

tác động của các hoạt động marketing qua mạng xã hội, nghiên cứu của İrem

Erdoğmuş giải thích của Lòng trung thành thương hiệu của sinh viên đối với

trường Đại học, trong khi đó nghiên cứu của Đoàn Liêng Diễm và cộng sự

(2020) áp dụng được thực tế tại Việt Nam và ý định theo học chương trình

thạc sĩ.

Thang đo Ý định theo học được xây dựng và phát triển dựa trên thang

đo của Phạm Xuân Giang và cộng sự (2019), dùng để đo lường ý định theo

học chương trình thạc sĩ tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.

5. KẾT QUẢ

Sau quá trình thu thập online bằng Google Form, nghiên cứu áp dụng

công cụ SPSS 25 để thống kê mô tả và SmartPLS 4.0 để thực hiện kiểm tra

mô hình đo lường và mô hình cấu trúc.

5.1 Thống kê mô tả

Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng mạng xã hội là nhu cầu hàng

ngày của phần lớn đối tượng được khảo sát, khi 82.5% người tham gia khảo

sát sử dụng mạng xã hội hàng ngày. Giới tính Nữ chiếm đa số so với Nam.

Đối với độ tuổi khảo sát thì 54,1% là người tham gia có độ tuổi từ 18-25 và

cũng là độ tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất. Điều này thể hiện thành phần giới trẻ

có ý định tham gia học thạc sĩ là Nữ và ở độ tuổi 18-25 là nhiều nhất. Về câu

trả lời cho các thang đo, trung bình câu trả lời thường là từ 3-4, với độ lệch

chuẩn nhỏ hơn 1.26. Do đó, người trả lời có xu hướng chọn từ trung lập đến

đồng ý đối với các khẳng định được đưa ra trong bảng câu hỏi.

15

5.2 Phân tích mô hình đo lƣờng

Tính hội tụ (Convergent Validity)

Carlson và Herdman (2012) định nghĩa giá trị hội tụ là mức độ cùng tải

lên một cấu trúc chung của hai thang đo. Giá trị hội tụ được xác lập dựa trên

2 yếu tố là chỉ số phương sai trích trung bình (AVE) và hệ số tải ngoài.

Đối với hệ số tải ngoài, các chỉ báo được cho là có ý nghĩa nếu giá trị

tải ngoài cao hơn 0.7 (Hair và cộng sự, 2017), do đó, 2 thành tố của SMMAs

là TREND (Xu hướng) và CUS (Tuỳ biến) sẽ bị loại khỏi mô hình.

Tiến hành thực hiện lại phân tích mô hình đo lường sau khi đã loại bỏ

2 thành tố, biến Các hoạt động marketing qua mạng xã hội có hệ số tải ngoài

từ 0.927 đến 0.938; biến Thái độ đối với hành vi có hệ số tải ngoài từ 0.817

đến 0.884; biến Chuẩn mực chủ quan có hệ số tải ngoài từ 0.846 đến 0.879;

biến Lòng trung thành thương hiệu có hệ số tải ngoài từ 0.833 đến 0.876,

biến Ý định theo học có hệ số tải ngoài từ 0.890 đến 0.908. Các giá trị này

cho thấy các hệ số tải ngoài của mỗi chỉ báo trong từng biến là hợp lệ. Vì

vậy, tất cả các biến quan sát còn lại đều được giữ lại để phân tích thêm, đồng

thời tính hội tụ được xác lập.

AT BL PI SMMAs SN

AT1 0,866

AT2 0,817

AT3 0,884

BL1 0,851

BL2 0,876

BL3 0,833

ENT 0,938

16

INT 0,927

PI1 0,894

PI2 0,908

PI3 0,890

SN1 0,846

SN2 0,857

SN3 0,879

SN4 0,847

SN5 0,857

WOM 0,932

Bảng 1: Hệ số tải nhân tố

Tính phân biệt

Hamid và cộng sự (2017) định nghĩa giá trị phân biệt phản ánh mức độ

khác biệt của các biến tiềm ẩn. Giá trị phân biệt có thể được đo lường thông

qua các tiêu chí Hệ số tải chéo (Cross Loading), và tiêu chí Fornell - Lacker.

Các chỉ báo của biến tiềm ẩn là đáng tin cậy nếu nó có giá trị tải chéo

đối với chỉ báo > 0.7 (Joseph F Hair và cộng sự, 2016). Trong nghiên cứu

này, tất cả các kết quả tải chéo đều lớn hơn 0.7, do đó tính phân biệt thông

qua tiêu chí Hệ số tải chéo được xác lập.

Thứ hai là phân tích giá trị phân biệt thông qua phương pháp Fornell -

Larker. Căn bậc hai của giá trị AVE của mỗi biến phải có giá trị cao hơn mức

tương quan của biến đó với các biến tiềm ẩn khác (Joseph F Hair và cộng sự,

2016). Kết quả nghiên cứu này cho thấy, tính phân biệt đã được thỏa mãn vì

căn bậc 2 AVE từng biến đều có giá trị lớn hơn so với tương quan các biến

khác. Căn bậc 2 của AVE đối với biến Các hoạt động marketing thông qua

mạng xã hội là 0.932, cao hơn so với tương quan các biến khác là 0.720.

17

Tương tự như các biến khác bao gồm Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực

chủ quan, Lòng trung thành thương hiệu, Ý định theo học. Do đó, tất cả các

biến quan sát đều phù hợp để tiến hành phân tích sâu hơn.

PI SMMAs SN AT BL

AT 0,856

BL 0,731 0,853

PI 0,753 0,761 0,898

SMMAs 0,803 0,833 0,749 0,932

SN 0,641 0,655 0,662 0,720 0,857

Bảng 2: Bảng Fornell - Larker

Độ tin cậy thang đo (Constructs reliability)

Độ tin cậy của thang đo được đo lường thông qua các hệ số

Cronbach’s alpha và độ tin cậy tổng hợp (CR). Giá trị tối thiểu để thang đo

có ý nghĩa đối với hệ số Cronbach’s alpha là 0.6 và CR là 0.7 (Nunnally,

1987; Peterson, 1994; Slater, 1995). Trong nghiên cứu này, Cronbach’s alpha

có giá trị từ 0.813 đến 0.925, CR có giá trị từ 0.814 đến 0.935 nên độ tin cậy

của thang đo được đảm bảo.

Cronbach's alpha CR (rho_a) (AVE)

AT 0,818 0,832 0,733

BL 0,813 0,814 0,728

PI 0,879 0,879 0,806

SMMAs 0,925 0,925 0,869

SN 0,910 0,912 0,735

Bảng 3: Độ tin cậy thang đo

18

5.3 Kiểm tra mô hình cấu trúc

Đa cộng tuyến giữa các biến độc lập thể hiện mối quan hệ tuyến tính

trong mô hình hồi quy. Khi các biến trong cùng một mô hình hồi quy có mức

độ tương quan cao với nhau, chúng không thể dự đoán độc lập giá trị của

biến phụ thuộc (Joe F Hair và cộng sự, 2011). Trong nghiên cứu này, các giá

trị VIF đều nhỏ hơn 5 cho thấy mô hình cấu trúc không có vấn đề về đa cộng

tuyến giữa các biến tiềm ẩn (Joe F Hair và cộng sự, 2011).

R-square

AT 0,646

BL 0,694

PI 0,680

SN 0,519

Bảng 4: Hệ số R2

Trong nghiên cứu này, giá trị R² của PI là 0.680, có nghĩa là các biến

độc lập trong mô hình giải thích được 68% biến Ý định theo học. Tương tự,

giá trị R² của các biến AT, SN, BL lần lượt là 0.646, 0.519 và 0.694, cho thấy

biến Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan, Lòng trung thành thương

hiệu lần lượt được giải thích 64.6%, 51.9% và 69.4% bởi các biến độc lập

trong mô hình. Hệ số R² trong nghiên cứu có giá trị từ 0.519 đến 0.694, cho

thấy mức độ giải thích các biến trong mô hình là từ trung lập cho đến tốt

(Hair và cộng sự, 2011).

Các hệ số đường dẫn cho biết mô hình đang hoạt động tốt như thế nào

(Hair và cộng sự, 2017). Theo Hair và cộng sự (2015), mối quan hệ giữa hai

biến sẽ được ghi nhận là có tác động trực tiếp nếu giá trị p <0.05, trường hợp

giá trị p> 0.05, mối quan hệ trực tiếp giữa hai biến không có ý nghĩa thống

kê, do đó chấp nhận giả thuyết không có tác động trực tiếp giữa hai

19

biến. Trong nghiên cứu này, tất cả giá trị p-value đều nhỏ hơn 0.05, do đó,

với mức ý nghĩa 5%, tất cả các mối quan hệ đều có ý nghĩa thống kê.

Standard

Original Sample deviation T statistics P

sample (O) mean (M) (STDEV) (|O/STDEV|) values

AT -> PI 0.361 0.365 0.108 3,326 0.001

BL -> PI 0.379 0.372 0.094 4,044 0.000

SMMA -

> AT 0.803 0.805 0.038 21,189 0.000

SMMA -

> BL 0.834 0.834 0.032 25,834 0.000

SMMA -

> SN 0.720 0.724 0.045 16,045 0.000

SN -> PI 0.181 0.183 0.073 2,467 0.014

Bảng 5 Kết quả phân tích

Note: SMMA= Các hoạt động marketing qua mạng xã hội, AT = Thái

độ đối với hành vi, SN=Chuẩn mực chủ quan, BL = Lòng trung thành thương

hiệu, PI = Ý định theo học.

20

Giả thuyết T P-value Kết quả

statistics

H1 Các hoạt động marketing qua mạng 21.189 0.000 Chấp nhận giả thuyết

xã hội có tác động tích cực đến Thái

độ đối với hành vi

H2 Các hoạt động marketing qua mạng 16.045 0.000 Chấp nhận giả thuyết

xã hội có tác động tích cực đến

Chuẩn mực chủ quan

H3 Các hoạt động marketing qua mạng 25.834 0.000 Chấp nhận giả thuyết

xã hội có tác động tích cực đến Lòng

trung thành thương hiệu

H4 Thái độ đối với hành vi có mối quan 3.326 0.001 Chấp nhận giả thuyết

hệ tích cực đến Ý định theo học

H5 Chuẩn mực chủ quan có mối quan hệ 2.467 0.014 Chấp nhận giả thuyết

tích cực đến Ý định theo học

H6 Lòng trung thành thương hiệu có 4.044 0.000 Chấp nhận giả thuyết

mối quan hệ tích cực đến Ý định

theo học

Bảng 6: Kết quả kiểm định giả thuyết

21

Hình 2: Mô hình kết quả

6. KẾT LUẬN

6.1 Các kết luận

Các yếu tố marketing qua mạng xã hội (Giải trí, tƣơng tác, truyền

miệng) có tác động tích cực đến Thái độ và Chuẩn mực chủ quan

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố Các hoạt động marketing qua mạng xã hội,

bao gồm Giải trí, Tương tác và Truyền miệng có tác động đáng kể đến Thái độ và

Chuẩn mực chủ quan. Trong đó, Các hoạt động marketing qua mạng xã hội có tác

động tích cực hơn đối với Thái độ (β=0.803, p<0.01), tuy nhiên mức độ không quá

chênh lệch so với mối quan hệ đối với Chuẩn mực chủ quan (β = 0.720,

p<0.01). Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Ming-Chuan Xie và cộng sự

(2022) khi chỉ ra mối quan hệ của tích cực giữa Các hoạt động marketing qua

mạng xã hội.

Các yếu tố marketing qua mạng xã hội (Giải trí, tƣơng tác, truyền

miệng) có tác động tích cực đến Lòng trung thành thƣơng hiệu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố Các hoạt động marketing qua mạng xã hội

đồng thời cũng có tác động đáng kể đến Lòng trung thành thương hiệu ((β=0.834,

22

p<0.01). Kết quả này là phù hợp với kết quả từ nghiên cứu của Ming-Chuan Xie và

cộng sự (2022). Nói cách khác, tương tác và kết nối với khách hàng hiệu quả càng

hiệu quả thì mối quan hệ giữa khách hàng và thương hiệu càng mạnh mẽ, điều này

có thể dẫn đến lòng trung thành mạnh hơn.

Thái độ, Chuẩn mực chủ quan có tác động tích cực đến Ý định theo học

Kết quả nghiên cứu cho thấy Thái độ, Chuẩn mực chủ quan là 2 yếu tố có

tác động tích cực đến Ý định theo học. Tuy nhiên, Thái độ được cho là yếu tố có

tác động đáng kể hơn, với hệ số β=0.361 so với hệ số β = 0.181 của yếu tố Chuẩn

mực chủ quan. Kết quả này là phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước, đặc biệt

là các nghiên cứu tại Việt Nam.

Lòng trung thành đối với Ý định theo học

Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ tích cực của Lòng trung thành đối với Ý

định theo học của sinh viên. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước

của Savila (2019), Lê Phước Hương và Lê Công Trực (2020), Đoàn Liêng Diễm và

cộng sự (2020) khi các nghiên cứu này cho rằng ý định thực hiện hành vi được tác

động đáng kể bởi lòng trung thành. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy

đây là yếu tố có tác động tích cực nhất đối với Ý định theo học, khi hệ số β của

mối quan hệ này là 0,379, lớn hơn so với Thái độ (β = 0.361) và Chuẩn chủ quan

(β = 0.181).

6.2 Đóng góp học thuật

Nghiên cứu đã xây dựng mô hình liên quan đến vai trò của Các hoạt động

marketing qua mạng xã hội đối với Ý định theo học thông qua các biến trung gian

bao gồm Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và Lòng trung thành

thương hiệu. Đồng thời cũng đóng góp và kiểm định lại thuyết hành động hợp lý

(TRA) (Ajzen, 1975).

23

Kết quả nghiên cứu góp phần thể hiện vai trò của Các hoạt động marketing

qua mạng xã hội đối với Chuẩn mực chủ quan, Thái độ đối với hành vi và Lòng

trung thành thương hiệu.

Bên cạnh đó nghiên cứu này cũng kiểm định lại tác động của Thái độ đối với

hành vi, Chuẩn mực chủ quan và Lòng trung thành thương hiệu đối với Ý định

theo học. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước được sử dụng trong

bài

6.3 Hàm ý quản trị

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị quan trọng đối với trường Đại học

Kinh tế - Đại học Đà Nẵng trong việc tuyển sinh chương trình thạc sĩ tại trường.

Dựa theo kết quả nghiên cứu, Lòng trung thành thương hiệu là yếu tố có tác động

lớn nhất đối với Ý định theo học (β = 0.379), hay nói cách khác, để có thể gia tăng

Ý định theo học chương trình thạc sĩ, có thể bắt đầu bằng việc xây dựng lòng trung

thành đối với sinh viên trong giai đoạn đang đi học. Thái độ đồng thời là yếu tố

quan trọng thứ 2 (β = 0.361) trong việc hình thành nên Ý định theo học, do đó việc

phát triển thái độ tích cực đối với việc theo học thạc sĩ là cách hiệu quả để thúc đẩy

việc hình thành Ý định.

Bên cạnh đó, vai trò của Các hoạt động marketing thông qua mạng xã hội,

bao gồm 3 thành tố chính được đưa vào nghiên cứu là Tương tác, Giải trí, Truyền

miệng trong việc ảnh hưởng đến Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và

lòng trung thành thương hiệu. Do đó, việc thúc đẩy việc “tương tác” trên các kênh

mạng xã hội của trường là cách thức hiệu quả không chỉ để cải thiện thái độ và

lòng trung thành của người dùng đối với việc theo học thạc sĩ, đồng thời cũng cải

thiện sự ủng hộ của những người xung quanh. Tương tự, việc tạo ra tính giải trí và

truyền miệng trên các kênh mạng xã hội của trường (ví dụ: Facebook) cũng là một

cách tích cực để cải thiện thái độ, chuẩn mực chủ quan và lòng trung thành thương

hiệu.

24

6.4 Hạn chế

Trong mô hình thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen, 1991), bên cạnh Thái độ

và Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi là một yếu tố quan trọng

trong việc hình thành nên ý định của người dùng. Nghiên cứu này tác giả vẫn chưa

phân tích được vai trò của yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi đối với Ý định theo

học, đây có thể xem là một lỗ hổng được cân nhắc trong các nghiên cứu tiếp theo.

Thông qua việc phân tích nhân tố (factor loading) đối với biến Các hoạt

động marketing qua mạng xã hội, có 2 thành tố chưa đạt điều kiện để tiếp tục

nghiên cứu, do đó tác giả đã loại bỏ hai thành tố Xu hướng và Tuỳ biến. Đây là 2

thành tố quan trọng và được các nghiên cứu trước (Frida Johansson, 2021; Ming-

Chuan Xie, 2022) đưa vào nghiên cứu, đồng thời kết quả của các nghiên cứu trước

đều chỉ ra mối quan hệ có ý nghĩa trong nghiên cứu.

Nghiên cứu này chưa phân tích được cụ thể vai trò của từng thành tố của

Các hoạt động marketing qua mạng xã hội mà dừng lại ở việc sử dụng một biến đại

diện. Các nghiên cứu trước (Frida Johansson, 2021; Ming-Chuan Xie, 2022) cũng

đã tiến hành phân tích được vai trò của từng thành tố của Các hoạt động marketing

qua mạng xã hội trong mối quan hệ đối với Chuẩn mực chủ quan, Thái độ hay

Lòng trung thành. Do đó, vai trò của từng thành tố của Các hoạt động marketing

qua mạng xã hội là yếu tố cần được cân nhắc trong các nghiên cứu về sau.