TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRƯỚC TÌNH TRẠNG CT GIẢM HÀNG NGHÌN LAO ĐỘNG
TS. Nguyễn Thị Minh Hòa1 - ThS. Hà Tuấn Anh2
Tóm tắt: Việc cắt giảm lao động hàng loạt không chỉ gây nhiều hệ lụy cho chính người lao động và gia đình
họ, mà còn gây bất ổn về mặt xã hội. Bài viết này tập trung phân tích việc thực hiện quản lý nhà nước về lao
động tại tỉnh Trà Vinh diễn ra trong điều kiện, bối cảnh hơn 10 nghìn lao động trong tổng số hơn 40 nghìn
lao động ngành da giày của tỉnh bị cắt giảm vào thời điểm cận Tết nguyên đán nhằm đảm bảo đạt được
mục tiêu bảo vệ quyền lợi, tăng cường cơ hội tái hòa nhập thị trường lao động của lao động mất việc, đồng
thời hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến sự ổn định xã hội trước mắt và lâu dài.
Từ khóa: quản lý nhà nước về lao động, bảo vệ quyền lợi người lao động, lao động bị mất việc.
Abstract: The reduction of mass labor not only causes many consequences for workers themselves and
their families, but also causes social instability. This article focuses on analyzing the implementation of state
management on labor in Tra Vinh province, taking place in the context that the situation of more than 10,000
workers in a total of more than 40,000 laborers in the province’s leather and footwear industry has been
sacked, at the time of the Lunar New Year. This state management work aims to ensure the achievement of
rights protection goals, enhance the opportunities for labor market reintegration of unemployed workers,
and minimize negative impacts on stability, immediate and long-term social planning.
Keywords: State management of labor; protecting workers’ rights; job losser.
1. SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
Sa thải hoặc chấm dứt không tự nguyện việc làm luôn xảy ra và biến động theo chu kỳ sản
xuất kinh doanh. Hiện nay, sa thải đã trở thành một thành phần bản trong chiến lược tái cấu
trúc của chủ doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, khi các nhà tư bản, chủ doanh
nghiệp thực hiện với mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Đây chính là khiếm khuyết của nền kinh tế
thị trường tự do.
Theo các trường phái Cổ điển và Tân cổ điển, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có thể được phản ánh một cách vắn tắt thông qua hàm sản xuất Q = f(L, C, T, A) trong đó Q là sản
1 Email: nguyenthiminhhoa1212@yahoo.com, Khoa Quản lý NNL, Trường Đại học Lao động - Xã hội.
2 Chuyên viên - Viện Phát triển bền vững, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
404 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
lượng đầu ra; L, CT lần lượt là yếu tố đầu vào của lao động, vốn và đất đai - nguyên liệu; A
vectơ mô tả thực trạng của kiến thức và công nghệ liên quan đến sản xuất (Humphrey, Thomas M.,
1997). Như vậy, có thể thấy rằng, vì một do nào đó, khi doanh nghiệp phải giảm sản lượng thì
việc cắt giảm riêng lẻ hoặc đồng thời các yếu tố đầu vào là tất yếu. Một trong những yếu tố dễ tác
động nhất để đạt được mục tiêu này đó là cắt giảm lao động. Trong một diễn biến khác, khi tỷ suất
hiệu quả chi cho lao động thấp hơn so với các yếu tố khác, chủ doanh nghiệp sẽ cân đối cắt giảm
lao động và tăng đầu tư vào các yếu tố còn lại.
Sa thải nhân công cũng được quan sát thấy trong nhiều trường hợp khi các chủ doanh nghiệp
sử dụng phương pháp này nhằm tăng lợi nhuận ngắn hạn (tức bằng cách giảm chi phí lao động),
ngay cả trong thời kỳ kinh tế phát triển thịnh vượng (mặc dù có rất ít bằng chứng cho thấy chiến
lược này cải thiện hiệu suất trong trung hạn hoặc dài hạn).
Sa thải hay cắt giảm lao động không tự nguyện gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với nền
kinh tế, xã hội và bản thân cũng như gia đình người lao động. Ở tầm vĩ mô, sa thải sẽ làm tăng tỷ
lệ thất nghiệp, tăng bất bình đẳng thu nhập, phá vỡ cấu trúc hội, gia tăng tỷ lệ tội phạm, thậm
chí dẫn tới bất ổn về chính trị, tạo gánh nặng chi trả phúc lợi xã hội đối với nền kinh tế.
Mất việc làm dẫn đến sự gia tăng sự bất ổn về tâm lý, ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao
động: một mặt họ mất tinh thần, mất tự tin, trầm cảm; mặt khác lòng tự trọng, uy tín, và địa vị của
họ bị suy giảm. Các nhân trở nên sợ hãi, chán nản, mất lòng tin, xung khắc đối nghịch với
chủ sử dụng lao động, trầm trọng hơn họ thể hoài nghi về các thể chế chính trị hội. Không
những thế, thất nghiệp còn ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình của người lao động: gây căng thẳng
và phá hủy các mối quan hệ gia đình. Những người thất nghiệp được nhận thấy có sự điều chỉnh,
thích ứng kém hơn đối với tương lai, môi trường gia đình và xã hội (Layton, C., 1988).
Một bài học quan trọng từ các cuộc khủng hoảng thị trường cần sự giám sát điều tiết
thích hợp của chính phủ để hoạt động hiệu quả. Sự hiểu biết này trở nên quan trọng hơn khi các
thị trường ngày càng phức tạp và tinh vi. Mặc dù thừa nhận vai trò không thể thiếu của thị trường
và giá cả báo hiệu sự khan hiếm và phân bổ nguồn lực trong cạnh tranh, các nhà kinh tế đều nhấn
mạnh các tình huống trong đó các tương tác không được kiểm soát giữa các tác nhân kinh tế có thể
tạo ra kết quả tiêu cực đối với xã hội.
Tăng trưởng kinh tế được điều tiết bởi bàn tay hình của thị trường mang lại lợi ích lớn
cho xã hội. Ý tưởng tự do kinh doanh này thống trị trong suốt thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 theo quan
điểm của Adam Smith, David Ricardo những người khác. Tuy nhiên, sau đại suy thoái toàn
cầu (1929-1933) Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) lập luận rằng các
thị trường vốn không ổn định, nếu duy chỉ thị trường thì thể tự suy thoái hơn tự điều
chỉnh. Keynes và những người theo học thuyết của Keynes nhấn mạnh: Sự can thiệp của chính phủ
cần thiết để thúc đẩy tổng cầu trong thời kỳ thất nghiệp cao. Họ đưa ra các khuyến nghị định
hướng chính sách của các chính phủ nhằm quản lý tổng cầu và duy trì đủ việc làm mà không gây
ra lạm phát (Hamermesh Daniel S., 1976).
Gần đây, cuối những năm 1990 cho tới đầu những năm 2000, nhận thức hơn về sự bất lực
của thị trường đối phó với các yếu tố bên ngoài, các nhà kinh tế như Joseph Stiglitz, Amartya Sen,
Paul Krugman và Dani Rodrik nêu lên tầm quan trọng của sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chính phủ
405
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
thị trường. Sự tồn tại “khiếm khuyết và bất lực của thị trường” đòi hỏi các chính phủ phải có những
can thiệp cụ thể (Joseph Stiglitz, Amartya K. Sen, Jean-Paul Fitoussi, 2009) và (Krugman, P., 1998).
1.2. Thực tiễn tại Việt Nam
Cắt giảm lao động là hoạt động của người sử dụng lao động nhằm làm giảm bớt số lượng lao
động trong doanh nghiệp do một số nguyên nhân như thay đổi cấu, công nghệ, do kinh tế
hoặc do dôi dư lao động sau khi doanh nghiệp tiến hành sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, được quy
định tại Điều 44, 45 Luật Lao động 2012.
Trong bối cảnh cắt giảm hàng nghìn lao động thì việc thực hiện quản lý nhà nước về lao động
đóng vai trò quan trọng trong việc:
(1) Đảm bảo quá trình cắt giảm lao động diễn ra một cách trật tự, tránh tổn thất, đúng quy
định của pháp luật;
(2) Phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật của các bên tham gia quan hệ lao động
như doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm được quy định tại Điều 44 đến Điều 49 Luật Lao
động 2012: Doanh nghiệp phải có trách nhiệm thông báo trước 30 ngày cho quan quản lý nhà
nước về lao động cấp tỉnh về việc cắt giảm lao động, hoàn tất thủ tục về sổ bảo hiểm xã hội, trả trợ
cấp thất nghiệp cho người lao động,…;
(3) Hỗ trợ lao động bị cắt giảm tái hòa nhập thị trường lao động thông qua hỗ trợ tư vấn, giới
thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề.
Để đảm bảo thực hiện mục tiêu trên, chính sách pháp luật của Việt Nam quy định rất rõ vai trò
của các bên trong bảo vệ quyền lợi người lao động bị cắt giảm.
Thứ nhất, vai trò của quan quản nhà nước về lao động địa phương. (1) Thực hiện công
tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật trong trường hợp doanh
nghiệp cắt giảm hàng nghìn lao động như trả lương, thưởng, hoàn tất sổ bảo hiểm hội, trả trợ
cấp thất nghiệp,…; (2) Phối hợp với công đoàn trong thương lượng, thỏa thuận với doanh nghiệp
về phương án cắt giảm lao động đảm bảo quyền lợi tối đa của lao động yếu thế; (3) Tổ chức hướng
dẫn người lao động lập hồ đăng hưởng các chế độ trong chính sách bảo hiểm thất nghiệp
(4) Phối hợp với ủy ban nhân dân các cấp, nơi tập trung nhiều lao động bị cắt giảm triển khai
các phiên giao dịch việc làm nhằm tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề hỗ trợ người lao động
nhanh chóng tái hòa nhập thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm.
Thứ hai, vai trò của tổ chức công đoàn. (1) Thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của người lao động, công đoàn sở chủ động phối hợp với quan quản
nhà nước, cụ thể Sở Lao động - Thương binh hội địa phương trong đối thoại, thương
lượng, hợp tác với người sử dụng lao động trong việc lựa chọn phương án cắt giảm lao động nhằm
giảm thiểu tác động đến nhóm lao động yếu thế như lao động nữ; (2) Tuyên truyền giáo dục, nâng
cao hiểu biết về pháp luật về lao động cho người lao động trong việc chia sẻ khó khăn với doanh
nghiệp trong thời điểm khó khăn, tránh tình trạng đình công, gây bất ổn về môi trường xã hội, môi
trường đầu tư; (3) Tổ chức công đoàn các cấp tham gia với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và
tổ chức đại diện người sử dụng lao động để trao đổi, giải quyết các vấn đề về cắt giảm lao động
như phương án sử dụng lao động tiếp tục làm việc, trách nhiệm của người sử dụng lao động khi
406 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
chấm dứt hợp đồng lao động về chi trả lương, thưởng hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo
hiểm xã hội, chi trả trợ cấp mất việc,…
2. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG BỊ THÔI VIỆC CỦA CÔNG TY TNHH GIÀY DA MỸ PHONG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
TRÀ VINH
Bảng 1: Thực trạng lao động bị cắt giảm của Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong
Phân xưởng
Lao động trước khi bị cắt giảm Lao động bị cắt giảm
Tổng số
Lao động hợp
đồng có xác
định thời hạn
Lao động hợp
đồng không
xác định thời
hạn
Tổng
số
Lao động hợp
đồng có xác
định thời hạn
Lao động hợp
đồng không
xác định thời
hạn
Xưởng Tiểu Cần 10.290 4.511 1.164 3.347
Xưởng Trà Cú 5.114 3.200 623 2.577
Xưởng Phước Hưng 4.453 2.431 951 1.480
Tổng 19.857 4.222 15.635 10.142 2.738 7.404
Nguồn: Sở Lao động - Thương binh Xã hội tỉnh TVinh (2019), Báo cáo nhanh số 205/ BC- SLĐTBXH về tình
hình cắt giảm lao động tại 3 xưởng của Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong do thu hẹp sản xuất
Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong thành lập vào năm 2005, có 100% vốn đầu tư nước ngoài
(Đài Loan). Quy lao động của Công ty tại 03 phân xưởng tính đến tháng 1/2019 19.857
người, chiếm gần 1/2 tổng số lao động ngành may da giày của tỉnh Trà Vinh (hơn 40 nghìn lao
động), trong đó gần 80% lao động ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn (15.635 người).
Do số lượng (70%) đơn hàng bị cắt giảm, kéo theo thu hẹp quy mô sản xuất, dẫn đến Công ty phải
cắt giảm 10.142 lao động vào tháng 01/2019, chiếm hơn 50% lao động hiện có của Công ty. Điều
này gây tâm lý hoang mang, lo lắng không chỉ của bản thân người lao động, mà của cả gia đình
địa phương, nơi 03 phân xưởng của Công ty đang hoạt động nếu không có việc thực hiện quản lý
nhà nước của các cơ quan chức năng tỉnh.
3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NGÀNH DA GIÀY BỊ CẮT GIẢM
Ở TỈNH TRÀ VINH
Một là, hướng dẫn, giám sát việc thực hiện đầy đủ các chính sách đối với người lao động
bị cắt giảm. Nhờ sự vào cuộc tích cực của tổ công tác liên ngành của tỉnh, đặc biệt Sở Lao
động - Thương binh hội, Công ty cam kết đã chi trả đầy đủ chế độ cho người lao động
bị thôi việc theo đúng quy định của pháp luật lao động và không chấm dứt hợp đồng lao động đối
với lao động nữ đang trong thời gian mang thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Điều này góp
phần bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động. Kết quả, chỉ sau hơn 2 tuần nhận được thông báo do cho thôi việc (29/01 - 18/02/2019),
toàn bộ lao động mất việc nhận được đủ lương, thưởng tết, tiền lương tháng ngừng việc, trợ cấp
mất việc cho người lao động đối với thời gian làm việc cho công ty chưa tham gia bảo hiểm
thất nghiệp (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Trà Vinh, 2019);
Hai là, thương lượng hình thức lựa chọn đối tượng cắt giảm “theo danh sách cắt ngang”
nhằm hạn chế tình trạng lao động trên 35 tuổi bị thôi việc. Điều này phù hợp với điều kiện
bối cảnh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam xu hướng sa thải người lao
407
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
động trên 35 tuổi diễn ra ngày càng nhiều, đồng nghĩa với việc không phải toàn bộ lao động trên
35 tuổi bị thôi việc (chiếm 1/3 lao động của Công ty). Điều này góp phần hạn chế tối đa những tác
động tiêu cực đến sự ổn định hội trước mắt vấn đề an sinh hội trong tương lai. Thực tế
cho thấy, lao động trên 35 tuổi của ngành da giày thiếu cơ hội chuyển đổi việc làm trên thị trường
lao động chính thức nếu rơi vào tình trạng thất nghiệp do tuyệt đại đa số lao động phổ thông,
chưa qua đào tạo1; khả năng tiếp thu kiến thức kỹ năng mới của lao động trên 35 tuổi giảm, kéo
theo nhóm lao động này khó đáp ứng được yêu cầu trong các dây chuyền tự động, buộc phải làm
việc tại khu vực phi chính thức.
Ba là, tăng cường công tác vận động người lao động gia đình đồng thuận với việc cắt giảm
lao động do những khó khăn của công ty, đảm bảo việc làm cho lao động còn lại. Trước ngày Công
ty chính thức công bố cho hơn 10 nghìn lao động thôi việc, Ủy ban Nhân dân các địa phương, nơi
Công ty hoạt động, đã phối hợp với lãnh đạo các hội đoàn thể và các phòng chuyên môn triển khai
nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn hội trong thời gian Công ty thực hiện việc cắt giảm lao động.
Trong đó, phối hợp với công đoàn cơ sở ưu tiên tăng cường công tác, tuyên truyền ổn định tư tưởng
của người lao động, vận động người lao động chấp hành đúng quy định của pháp luật lao động, quy
định của công ty gia đình người lao động đồng thuận với việc cắt giảm lao động do những khó
khăn của Công ty hiện nay. Đồng thời, Tỉnh chỉ đạo Tổ công tác, các ngành, địa phương thường
xuyên nắm tình hình để xử lý kịp thời, tránh phát sinh các điểm nóng. Kết quả là tình hình an ninh
trật tự an toàn xã hội tại địa bàn các phân xưởng của Công ty cơ bản ổn định (UBND tỉnh Trà Vinh,
2019a). Điều này góp phần giảm áp lực cho Công ty từ phía người lao động địa phương, hoạt động
sản xuất của Công ty đi vào ổn định, đảm bảo việc làm cho hơn 9 nghìn lao động còn lại, tránh các tổn
thất không đáng có và quan trọng hơn nữa bảo đảm tình hình trật tự an toàn hội tại địa phương;
Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn về quyền làm việc của lao động nữ
trong thời gian mang thai. Một đặc điểm của lao động ngành may da giày tập trung nhiều lao
động nữ và trong độ tuổi sinh đẻ (dưới 35 tuổi). Tuy nhiên, trong số đó không ít lao động nữ không
biết hoặc không quan tâm đến quyền được bảo vệ việc làm trong thời gian mang thai được quy
định tại khoản 3, Điều 155, Luật Lao động 2012: “3. Người sử dụng lao động không được sa thải
hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ do kết hôn, mang thai,
nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi”. Hậu quả hàng trăm lao động nữ làm việc tại Công ty
TNHH Giày da Mỹ Phong nằm trong số hơn 10 nghìn lao động bị thôi việc do không cung cấp hồ
sơ về tình trạng mang thai cho Công ty. Kết quả là sau khi được tư vấn, hướng dẫn, đến hết tháng
2/2019 đã có gần 150 lao động nữ (UBND tỉnh Trà Vinh, 2019b) đến nộp kết quả khám thai, báo
cáo đang trong tình trạng mang thai, được Công ty công bố hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng
lao động trước thời hạn, được quay trở lại Công ty làm việc. Có được kết quả trên chính là nhờ sự
vào cuộc tích cực, kịp thời của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Liên đoàn Lao
động tỉnh, công đoàn cơ sở.
1 Tính đến năm 2017, tỷ lệ lao động đang làm việc của tỉnh Trà Vinh chỉ đạt 11,7%, chỉ bằng ½ mức chung của cả
nước (21,4%), thấp hơn cả mức chung của Đồng bằng sông Cửu Long (12,1%). Nguồn: Tổng cục Thống kế (2018),
Niên giám thống kê Việt Nam 2017. Năm 2016 cả nước có tới hơn 84% lao động ngành dệt may, da giày chưa qua
đào tạo nghề công nhân kỹ thuật không bằng. Nguồn: TCTK (2017), Tính toán từ Báo cáo điều tra Lao động việc
làm năm 2016.