intTypePromotion=1
ADSENSE

Tháo gỡ những rào cản của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

21
lượt xem
8
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tập trung luận giải những rào cản khi thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học, từ hệ thống hạ tầng viễn thông, đội ngũ giảng viên, sinh viên cho đến hệ thống pháp lý từ phía Nhà nước. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm tháo gỡ những rào cản, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tháo gỡ những rào cản của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

  1. Nguyễn Thị Ngọc Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên Tóm tắt: Một quốc gia có các trường đại học xuất sắc sẽ là nền tảng quan trọng giúp cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, góp phần đưa đất nước bứt phá, vươn đến sự hùng cường và thịnh vượng. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, nhiều trường đại học đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề chuyển đổi số trong đào tạo. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng không ít rào cản. Bài viết tập trung luận giải những rào cản khi thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học, từ hệ thống hạ tầng viễn thông, đội ngũ giảng viên, sinh viên cho đến hệ thống pháp lý từ phía Nhà nước. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm tháo gỡ những rào cản, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Tháo gỡ, rào cản, chuyển đổi số, giáo dục đại học. 1. Đặt vấn đề Phương thức giáo dục truyền thống vốn đã được áp dụng ở tất cả các quốc gia và hầu hết các trường đại học trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng tỏ ra không mấy hữu hiệu khi dịch bệnh Covid-19 bùng nổ và diễn biến phức tạp. Trước đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu len lỏi vào nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục, nhiều trường đại học ở Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu để thực hiện chuyển đổi số. Tuy nhiên, các trường đại học mới chỉ thực sự quan tâm đến chuyển đổi số khi đại dịch Covid-19 bùng phát và kéo dài. Đầu năm 2020, lịch sử thế giới hiện đại chứng kiến những thay đổi chưa từng có trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội. Nhiều hoạt động xã hội bị đình trệ trên phạm vi cục bộ địa phương, quốc gia và toàn cầu do đại dịch Covid-19. Khi giáo dục vốn là nhu cầu tất yếu của người dân, được đáp ứng hàng ngày, con người bỗng dưng phải đối mặt với tình trạng làm thế nào để được giáo dục. Khi giáo dục trực tiếp tại trường học là không thể, vấn đề chuyển đổi số trở thành giải pháp cứu cánh ở nhiều cấp từ vi mô đến vĩ mô. Nhiều trường đại học và chính bản thân người học cũng được đáp ứng nhu cầu học tập. Có nhiều cách tiếp cận về chuyển đổi số, nhưng nội hàm chung là chuyển tải các hoạt động của con người từ thế giới thực sang thế giới ảo, trên môi trường mạng internet; thay đổi tổng thể của cá nhân, tổ chức và xã hội về cách sống, 5
  2. cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ số. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã và đang làm thay đổi cách con người sống, làm việc và sản xuất, trong đó cách thức học tập, giảng dạy của con người cũng đang có sự thay đổi mạnh mẽ. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học không giống nhau đối với tất cả các trường đại học hay cá nhân những người tham gia giáo dục đại học, và ngay cả đối với cấp độ quốc gia. Bởi xuất phát điểm của chuyển đổi số là rất khác nhau. Tuy nhiên, chuyển đổi số phải dựa trên cơ sở chung là thay đổi phương thức chuyển tải giáo dục, giáo dục đại học được thực hiện toàn diện và đầy đủ mà không gặp mặt, giao tiếp trực tiếp. Để chuyển tải giáo dục được triển khai trong thực tế, cần chuyển đổi bốn yếu tố cơ bản gồm các yếu tố đầu vào, quá trình giáo dục, các yếu tố đầu ra và môi trường giáo dục. Chuyển đổi các yếu tố đầu vào là thực hiện số hóa toàn bộ đầu vào của quá trình giáo dục đại học như học liệu, tài liệu, giáo trình, dữ liệu về người học, trang thiết bị dạy và học, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Điều này có nghĩa, chuyển đổi số không chỉ là số hóa các nguồn học liệu mà còn phải chuyển đổi phần cứng. Chuyển đổi quá trình giáo dục không chỉ là số hóa bài giảng, ứng dụng phần mềm vào soạn bài dạy mà còn là sự chuyển đổi toàn bộ cách thức, phương thức giảng dạy, kỹ thuật quản lý lớp học, tương tác với người học sang không gian số; toàn bộ dữ liệu về quá trình học tập của học sinh cũng được theo dõi và lưu trữ bằng công nghệ, số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công nghệ 4.0 để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ các cấp lãnh đạo, quản lý ra quyết định trong lãnh đạo, điều hành. Chuyển đổi số về kết quả đầu ra có nghĩa là không chỉ kết quả đánh giá được số hóa mà quá trình đánh giá cũng phải được triển khai, thực hiện bằng ứng dụng công nghệ trên máy tính. Giáo viên cần tập trung vào công việc giảng dạy và cần được giải phóng khỏi các công việc hành chính, giấy tờ như làm sổ sách, sổ điểm, học bạ, quản lý hồ sơ học tập của người học. Chuyển đổi về môi trường giáo dục có nghĩa là thực hiện số hóa cách thức thực hiện, từ khâu lấy dữ liệu đầu vào cho đến khâu trích xuất dữ liệu đầu ra. Như vậy, chuyển đổi số trong giáo dục đại học không đơn giản chỉ là số hóa các nguồn tài liệu mà còn bao gồm việc chuyển đổi phần cứng, kéo theo việc quản trị các nguồn lực dành cho giáo dục, đào tạo cũng thay đổi. Việc chuyển đổi số tác động tới nhiều bên liên quan khác nhau, trong đó trực tiếp và chịu tác động lớn nhất là người học và giảng viên, kế tiếp là đội ngũ hành chính văn phòng, đội ngũ quản lý, những người phải trực tiếp thao tác, vận hành hệ thống. 6
  3. Các nhà lãnh đạo và ra quyết sách cấp cao trong ngành giáo dục cũng cần phải thay đổi tư duy quản lý. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là cần thiết, mang lại nhiều kết quả thiết thực. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong giáo dục đại học đã và đang gặp phải rất nhiều rào cản. Do đó, để hoạt động chuyển đổi số trong giáo đục đại học đạt hiệu quả, cần có các giải pháp hữu hiệu, phù hợp, từng bước tháo gỡ khó khăn, rào cản. 2. Những rào cản trong chuyển đổi số giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay Vì chuyển đổi số trong giáo dục đại học không phải là hoạt động riêng lẻ, chuyên biệt mà nó liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, rào cản của quá trình này đến từ nhiều phương diện, song có thể thấy ở ba phương diện chủ yếu bao gồm: Những rào cản từ phía cơ sở đào tạo; những rào cản từ phía người học; và những rào cản từ phía Nhà nước. Ở phương diện cơ sở đào tạo, chuyển đổi số trong giáo dục đại học đang gặp phải rất nhiều rào cản, từ giảng viên, đội ngũ quản lý, kỹ thuật viên, lãnh đạo nhà trường cho đến hệ thống hạ tầng cơ sở vật chất phục vụ cho chuyển đổi số. Khó khăn lớn đối với hầu hết các cơ sở đào tạo đại học xoay quanh hạ tầng công nghệ. Hạ tầng, công nghệ cho chuyển đổi số bao gồm phần cứng như máy tính, mạng kết nối internet, các ứng dụng hỗ trợ dạy học, nguồn học liệu mở, hệ thống phần mềm hỗ trợ kiểm tra, đánh giá. Hiện nay, một số trường đã có kinh nghiệm triển khai về đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến như Trường Đại học Mở Hà Nội và Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, đã xây dựng và phát triển được hệ thống quản lý học tập, hệ thống quản lý nội dung học tập, cung cấp đầy đủ nội dung học tập, quản lý được việc học và có phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập một cách chính xác thông qua công nghệ thông tin. Đa số các trường đại học còn lại mới bắt đầu triển khai sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy, học trực tuyến thông qua các các ứng dụng như Zoom, Google Hangouts Meet, Webex, Micorsoft Teams. Một số trường chưa triển khai, chưa sẵn sàng cho việc tổ chức đào tạo trực tuyến đối với sinh viên chính quy, mới chỉ dùng lại ở việc cung cấp tài liệu sinh viên tự học. Do đó, khó khăn chung mà các trường đang gặp phải là cơ sở hạ tầng, trang thiết bị chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu học liệu phù hợp cho mục tiêu chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Ngoài phần cứng như hệ thống máy tính, hệ thống mạng giúp kết nối internet, các trường phải đầu tư server và trung tâm big data tốt, cùng với đó là xây dựng trường quay bài giảng, tất cả phải thay đổi để triển khai dạy học số. Để chuyển đổi số thành công, một trong những nền tảng cơ bản là phải có hạ tầng viễn thông phát triển ở một mức độ nhất định. Nếu không giải quyết được vấn đề hạ tầng mạng thì việc tổ chức các lớp học trực 7
  4. tuyến, xây dựng nguồn học liệu mở hay thu hút, tạo điều kiện cho người học trở nên khó khả thi. Vấn đề của các cơ sở đào tạo khi thực hiện chuyển đổi số, nghiêm trọng hơn cả hạ tầng công nghệ là đội ngũ giảng viên, đội ngũ quản lý, kỹ thuật viên và lãnh đạo các trường đại học. Để đối phó với dịch Covid-19, rất nhiều cơ sở giáo dục đại học đã chủ động yêu cầu giảng viên tham gia giảng dạy trực tuyến mà chưa có sự chuẩn bị. Thực tế cho thấy, một bộ phận giảng viên chưa thích nghi kịp với công nghệ mới; đa số giảng viên chưa sẵn sàng cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, kết nối, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiên cứu và giảng dạy, họ đã quen với phương thức đào tạo truyền thống và chưa sẵn sàng thay đổi để thích ứng với công nghệ. Ở nhiều trường đại học, giảng viên phải tham gia các lớp tập huấn công nghệ liên tục, khiến họ cảm thấy áp lực, quá tải. Công nghệ phát triển là công cụ hữu hiệu hỗ trợ giảng viên thiết kế bài giảng, nghiên cứu tài liệu, chia sẻ kiến thức, nhưng cũng chính công nghệ này sẽ dẫn đến tình trạng sao chép tài liệu, bài giảng, và ngay cả bài học của người học trở nên dễ dàng hơn. Điều này làm cho nhiều giảng viên không muốn tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Hơn nữa, gần đây giảng viên mới được bắt đầu tiếp cận về phương pháp, cách thức đào tạo, học theo hình thức trực tuyến, họ chưa thể thành thạo ngay được, họ cần có thời gian thích ứng với công nghệ, phương pháp. Để thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học, mỗi giảng viên phải năng động, chủ động làm chủ công nghệ, chủ động học tập, tìm hiểu và thay đổi từ trong tư duy để bắt kịp thực tế, đảm bảo giảng viên phải là nhân tố chủ động nhất cho công cuộc chuyển đổi số này. Tuy nhiên, với thực trạng đội ngũ giảng viên chưa thực sự sẵn sàng, ngại thay đổi, thiếu cả kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ như hiện nay thì đây là một nút thắt rất lớn, cản trở quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Bên cạnh giảng viên, đội ngũ quản lý cũng đang là rào cản đối với quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Tương tự giảng viên, đội ngũ quản lý cũng mới bắt đầu làm quen với dạy học số. Do đó, bản thân họ thiếu kinh nghiệm quản lý, chưa nắm rõ các quy trình quản lý phù hợp với đào tạo trực tuyến. Đội ngũ kỹ thuật viên cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình chuyển đổi số. Quan trọng hơn là đội ngũ lãnh đạo, quản lý ở các trường đại học vẫn chưa thực sự sẵn sàng thay đổi tư duy, sẵn sàng đổi mới để vận hành một hệ thống giáo dục mới. Rõ ràng để vận hành một hệ thống giáo dục được số hóa đòi hỏi tư duy và năng lực quản lý của lãnh đạo nhà trường phải thay đổi. Đội ngũ này phải tìm ra cách thức nắm bắt những gì có thể trên không gian ảo, đưa ra các quyết sách kịp thời khai thác hiệu quả công nghệ. Bản thân họ cũng cần trang bị hiểu biết và tư duy số để có thể làm chủ công nghệ và hiểu rõ giới hạn của công nghệ. Tuy nhiên, cũng như đội ngũ giảng viên và đội ngũ quản lý giáo dục, nhiều lãnh đạo ở các 8
  5. cơ sở giáo dục đại học chưa xác định đúng vị trí cho chuyển đổi số, vẫn thiên về giáo dục truyền thống, chưa thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, do đó chưa đưa ra quyết sách phù hợp để thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Rào cản thứ hai đến từ phía người học. Đại dịch Covid-19 buộc người học mà đa số là sinh viên phải lựa chọn học online mà chưa hề có sự chuẩn bị. Đa số sinh viên, học viên chưa sẵn sàng với việc học tập trực tuyến. Bên cạnh những lý do kỹ thuật như trang thiết bị và hạ tầng viễn thông, có những vấn đề do phương pháp và kỹ thuật giảng dạy của giảng viên đã chưa thuyết phục được người học. Người học cần có sự chuẩn bị cả về tâm thế, kỹ năng để tham gia đào tạo online. Người học cũng cần được hỗ trợ, hướng dẫn kỹ càng từ phía cơ sở đào tạo về phương pháp học online. Tuy nhiên, cho đến nay, những điều này của người học vẫn chưa được khắc phục. Thêm vào đó, thực tế cho thấy, khả năng tự học, đọc tài liệu và lĩnh hội kiến thức của sinh viên hạn chế hơn so với phương thức đào tạo truyền thống, đặc biệt với các môn học cần sự tương tác giữa giảng viên và người học thì điều này càng được bộc lộ rõ. Một bộ phận người học đã quen với phương thức đào tạo truyền thống, ngại thay đổi theo phương thức đào tạo mới. Rào cản thứ ba đến từ phía Nhà nước. Hệ thống pháp lý, hạ tầng viễn thông, năng lực quản trị số của quốc gia, hệ sinh thái số cũng là những cơ sở quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện chuyển đổi số. Song hiện nay, tất cả các yếu tố này đều chưa đáp ứng được yêu cầu để chuyển đổi số trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Đến nay, Nhà nước vẫn chưa có văn bản luật quy định rõ về đào tạo trực tuyến, một số quy định trước đó còn chung chung và tỏ ra không còn phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Hành lang pháp lý về bản quyền tác giả, sở hữu trí tuệ, an ninh thông tin đều đang là những dấu bỏ ngỏ lớn đối với quá trình số hóa lĩnh vực giáo dục đại học. Tất cả những yếu tố cơ bản để thực hiện chuyển đổi số như tuyển sinh, quản lý lớp, kiểm tra, đánh giá người học, cấp bằng, xây dựng hệ thống học liệu mở, bản quyền sở hữu trí tuệ, cấp văn bằng, chứng chỉ khi đào tạo trực tuyến đều chưa được pháp luật quy định rõ ràng. Điều này sẽ gây khó cho các cơ sở đào tạo đại học vì không có một khung pháp lý chung để thực hiện. Mỗi cơ sở đào tạo sẽ thực hiện một kiểu theo phương thức của mình. Ngoài hệ thống pháp lý, hệ thống hạ tầng viễn thông là nền tảng cứng cần thiết và quan trọng bậc nhất để chuyển đổi số trong giáo dục. Hạ tầng này không chỉ ở các cơ sở giáo dục đại học mà nó còn là hệ thống hạ tầng viễn thông quốc gia. Việt Nam xây dựng và phát triển khá nhanh hệ thống hạ tầng viễn thông quốc gia nhưng vẫn còn chưa đồng đều ở các địa phương, khiến cho việc số hóa giáo dục gặp khó khăn. Năng lực quản trị số của quốc gia cũng chưa cao, làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý các cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện số hóa. 9
  6. An toàn thông tin cũng là một rào cản lớn đối với chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Với tài nguyên đặc biệt là dữ liệu thông tin, các mô hình như chính phủ số, xã hội số sẽ góp phần tăng năng suất lao động, rút gọn thủ tục hành chính. Tuy nhiên, các mô hình này cũng sẽ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thông tin, khó bảo mật nguồn dữ liệu thông tin. Vấn đề này càng thêm sức nhiều sức ép mới khi đối mặt với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống trên không gian mạng, nền tảng số, tội phạm công nghệ cao ngày càng nhiều trong khi hệ thống pháp lý về an ninh mạng tại Việt Nam vẫn còn nhiều kẽ hở. Sự vụ tin tặc tấn công Hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines năm 2016, tấn công website Ngân hàng Vietcombank năm 2018 là lời cảnh tỉnh ban đầu đối với công cuộc chuyển đổi số trong toàn hệ thống, trong đó có các trường đại học. Do đó, vấn đề bảo mật thông tin, dữ liệu người dùng nhất là người học là một thách thức không hề nhỏ đối với các cơ sở giáo dục đại học. Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo sự bình đẳng trong giáo dục đại học cũng là một rào cản đối với quá trình chuyển đổi số. Về mặt lý thuyết, số hóa hoạt động giáo dục sẽ góp phần đem lại sự bình đẳng số nhờ ưu thế tiếp cận công nghệ không giới hạn không gian và thời gian. Tuy nhiên, để chuyển đổi số thành công, một trong những nền tảng cơ bản là phải có hạ tầng viễn thông phát triển ở một mức độ nhất định. Ở Việt Nam, hệ thống này phát triển khá nhanh nhưng lại không đồng đều giữa các vùng, địa phương. Điều này dẫn đến tình trạng chuyển đổi số có thể là cơ hội cho địa phương này, vùng này, nhóm đối tượng này nhưng lại là thách thức cho địa phương khác, vùng khác, đối tượng khác. Những sinh viên không được tiếp cận hạ tầng viễn thông tốt ở miền núi hoặc vùng nông thôn sẽ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau, không chỉ trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao mà ngay cả giáo dục căn bản như các nguồn tài liệu, học liệu quan trọng cho việc học tập. Sinh viên nghèo không có những thiết bị tối thiểu hoặc không đủ khả năng chi trả chi phí dịch vụ viễn thông cũng sẽ có nguy cơ tụt hậu, không bắt kịp công cuộc chuyển đổi số trong giáo dục. 3. Một số giải pháp tháo gỡ rào cản, thúc đẩy Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là cần thiết trong bối cảnh hiện nay và tương lai. Đây cũng là hướng đi của nền giáo dục, đã được Nhà nước khẳng định: “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 10
  7. 20% nội dung chương trình. Ứng dụng công nghệ số để giao bài tập về nhà và kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp học”1. Để chuyển đổi số thành công, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động xây dựng chiến lược, lộ trình, phương thức thực hiện. Tuy nhiên, chỉ sự nỗ lực của các cơ sở giáo dục đại học là chưa đủ. Như trên đã phân tích, rào cản của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học đến từ nhiều phía, từ chính các cơ sở giáo dục đại học, từ phía Nhà nước cho đến người học. Do đó, để hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số trong giáo dục đại học, cần tháo gỡ từng rào cản ở tất cả các phương diện trên. Trong đó, trong thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp sau: Trước hết và cũng là giải pháp quan trọng nhất là cần tập trung tháo gỡ những rào cản từ phía cơ sở giáo dục đại học. Là đầu mối trực tiếp thực hiện hoạt động chuyển đổi số, các cơ sở giáo dục đại học phải có giải pháp giải quyết từng vấn đề vướng mắc đang gặp phải. Các trường đại học phải nhanh chóng xây dựng hạ tầng công nghệ, trang thiết bị cần thiết cho cả người học, người dạy và người tham gia quản lý. Không chỉ là các thiết bị phần cứng như hệ thống máy móc, đường truyền internet mà còn là các ứng dụng phần mềm, các nền tảng để toàn bộ mọi hoạt động giáo dục có thể diễn ra một cách thuận lợi trên các nền tảng và ứng dụng đó. Để làm được điều này, các cơ sở giáo dục đại học phải chủ động kết nối các chương trình, phần mềm riêng lẻ lại với nhau để tạo thành một nền tảng thống nhất, cho phép hoạt động giảng dạy, quản lý, học tập, kiểm tra, thi cử, đánh giá, quản lý người học diễn ra thuận lợi. Các cơ sở giáo dục đại học cần đẩy mạnh phát triển học liệu điện tử để đảm bảo người học được tiếp cận đầy đủ nguồn học liệu khi đào tạo trực tuyến. Nguồn học liệu mở là hướng đi đúng đắn cho nhiều trường đại học, tạo cơ sở vững chắc để triển khai đào tạo trực tuyến. Khi xây dựng được nguồn học liệu mở thì dù ở đâu, thời gian nào, việc học tập cũng không bị gián đoạn. Đi cùng với học trực tuyến, các cơ sở giáo dục đại học phải đưa ra cách thức kiểm tra, đánh giá người học bằng hình thức trực tuyến. Đội ngũ giảng viên là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi số. Đây là đội ngũ trực tiếp giảng dạy, do đó các cơ sở giáo dục đại học phải tổ chức các khóa bồi dưỡng, khuyến khích, tạo động lực cho giảng viên học hỏi, tích lũy kỹ năng sử dụng công nghệ. Giảng viên cần phải hình dung được mình sẽ nhìn thấy sinh viên của mình học tập như thế nào nếu không trực tiếp gặp mặt và họ có thể nắm bắt, đánh giá được những gì từ phía người học. Giảng viên cũng cần trang bị cho mình những kỹ năng mới để tổ chức hoạt động giảng dạy, duy trì sự chú tâm của người học, tổ chức các hoạt động dạy học cho người học trên không gian ảo sao cho hiệu quả. 11
  8. Để vận hành một hệ thống tích hợp phần cứng, phần mềm, quản lý người học trên không gian ảo, lãnh đạo nhà trường, nhất là người đứng đầu các cơ sở giáo dục đại học phải đổi mới tư duy, nâng cao năng lực quản lý theo hướng thích nghi và làm chủ được quá trình chuyển đổi số. Lãnh đạo cần tranh thủ thời cơ, nắm bắt cơ hội khi thực hiện chuyển đổi số, trang bị thêm kiến thức về chuyển đổi số để triển khai thực hiện trong chính cơ sở của mình. Các cơ sở giáo dục đại học cũng cần cơ cấu lại đội ngũ nhân sự sao cho phù hợp với mục tiêu chuyển đổi số. Giảm bớt các vị trí việc làm hành chính, tăng cường đội ngũ kỹ thuật viên phục vụ đào tạo trực tuyến. Thứ hai, tháo gỡ rào cản từ phía Nhà nước. Hành lang pháp lý về chuyển đổi số trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là điều cấp thiết nhất Nhà nước cần nghiên cứu ban hành, tạo cơ sở cho hoạt động chuyển đổi số diễn ra thuận lợi. Hệ lụy của việc không có khung pháp lý hoặc khung pháp lý không đầy đủ là rất lớn, mỗi trường sẽ thực hiện theo mỗi phương thức khác nhau, không theo một khuôn khổ nào từ tuyển sinh, tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá cho đến cấp văn bằng, chứng chỉ. Do đó, trong thời gian tới, Bộ Giáo dục đào tạo phải nhanh chóng nghiên cứu, ban hành, đưa phương thức đào tạo trực tuyến vào quy chế đào tạo đại học sửa đổi; ban hành quy chế bảo đảm chất lượng các chương trình đào tạo từ xa và xây dựng đề án phát triển đào tạo từ xa. Các quy định về giảng dạy, tiêu chuẩn khung của giảng viên giảng dạy trực tuyến, kiểm tra, đánh giá người học trực tuyến cần được đưa vào các văn bản pháp lý để điều chỉnh, yêu cầu các trường đại học phải nghiêm túc tuân thủ. Ngoài hệ thống pháp lý, Nhà nước cần tiếp tục nỗ lực xây dựng nền tảng công nghệ quốc gia thống nhất để từng tập thể, cá nhân, giảng viên, sinh viên có thể tham gia và hoạt động chuyển đổi số. Trên nền tảng công nghệ đó, ngành giáo dục phải nhanh chóng dành nguồn kinh phí, nhân lực để tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ học trực tuyến. Nhà nước nên hỗ trợ nhân lực và tài lực để các cơ sở giáo dục đại học xây dựng kho tài nguyên học tập số để tối ưu hóa hoạt động đào tạo trực tuyến. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học triển khai chuyển đổi số, Bộ Giáo dục và đào tạo cần đẩy mạnh phát triển hệ thống dữ liệu toàn quốc về giáo dục đào tạo, phát triển hệ thống học liệu và môi trường học tập số; phối kết hợp với các trường đại học xây dựng và triển khai khung năng lực số đối với người học. Đặc biệt, sứ mệnh quan trọng của Nhà nước là giúp các cơ sở giáo đục đại học giải quyết vấn đề an toàn thông tin trong bối cảnh hiện nay. Đây là vấn đề quốc gia chứ không đơn thuần của riêng trường đại học. Hệ thống dữ liệu, các nền tảng công nghệ phục vụ hoạt động đào tạo trực tuyến nếu được thiết lập bởi hệ điều hành máy chủ cũ kỹ, chậm được nâng cấp thường chứa nhiều lỗ hổng 12
  9. cho tội phạm xâm nhập, tấn công. Do đó, Nhà nước cần có giải pháp nâng cấp, phát triển công nghệ để ngăn chặn sự tấn công mạng. Nhà nước cũng phải xây dựng được các hệ thống bảo mật, phần mềm, trung tâm an toàn thông tin, khuyến khích các trường đại học tuân thủ các quy định về an ninh mạng. Yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Luật An ninh mạng, hướng dẫn người học khai báo, tìm đến cơ quan chức năng khi phát hiện vi phạm để kịp thời xử lý. Quan trọng hơn, Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp lý chặt chẽ và nghiêm minh hơn để đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin khi chuyển đổi số hoạt động giáo dục đại học. Thứ ba, tháo gỡ rào cản từ phía người học. Sự sẵn sàng tiếp nhận từ phía người học quyết định ý nghĩa cũng như hiệu quả của quá trình chuyển đổi số hoạt động giáo dục đại học. Vốn đã quen với mô hình học tập truyền thống, người học cần thời gian để thích nghi. Thế nhưng khoảng thời gian để người học thích nghi này nhanh hay chậm lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, không chỉ từ phía bản thân người học. Các cơ sở giáo dục đại học phải đẩy nhanh tiến độ hình thành các quy định bắt buộc người học phải tuân thủ khi tham gia đào tạo trực tuyến. Không chỉ việc học mà còn là các quy định về đăng ký môn học, đánh giá, kiểm tra, thi cử của người học cũng cần được quy định rõ ràng, dễ hiểu và phổ biến đến tất cả người học. Các trường đại học cũng cần bắt tay vào xây dựng văn hóa giáo dục số gồm những vấn đề về thái đọ học tập, hiểu biết về đạo đức học thuật, tính tự giác, ý thức học tập của người học. Phải làm cho người học ý thức được trách nhiệm của mình trong đào tạo trực tuyến. Để giúp người học thành thạo trong học trực tuyến, các trường đại học nên tổ chức các khóa tập huấn tập trung về phương pháp truy cập, tham gia học tập, tìm kiếm tài liệu trên không gian ảo. Các buổi tập huấn này sẽ bổ trợ hữu ích cho người học trong thời gian đầu tham gia đào tạo trực tuyến. Để giải quyết câu chuyện bình đẳng trong giáo dục khi thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học, cần có sự kết hợp giữa ba chủ thể bao gồm các trường đại học, Nhà nước và xã hội. Bởi đây không phải là vấn đề mà một chủ thể riêng biệt có thể giải quyết được. Giáo dục không tồn tại độc lập mà nó tồn tại bên cạnh các lĩnh vực khác trong xã hội. Chuyển đổi số liên quan chặt chẽ đến hạ tầng viễn thông quốc gia và địa phương, do đó giáo dục trong đó có giáo dục đại học cần phối hợp với các ngành, địa phương, hỗ trợ thực hiện mục tiêu chuyển đổi số. Ở trên đã chỉ ra nguy cơ một bộ phận người học nhất là người học ở miền núi, nông thôn, những người có thu nhập thấp sẽ dễ bị bỏ lại phía sau khi chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Do đó, về lâu dài, Nhà nước cần quan tâm đến việc phát triển hạ tầng viễn thông ở các địa phương miền núi, khó khăn. Hỗ trợ, khuyến khích người dân từng bước tham gia vào quá trình số hóa tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội trong đó có giáo dục. Trước mắt, Nhà nước cần có giải pháp 13
  10. hỗ trợ về tài chính để những sinh viên ở những vùng khó khăn như nông thôn, miền núi và ngay cả sinh viên nghèo ở đô thị có điều kiện tiếp cận với công nghệ số, hòa nhập và bắt kịp vào quá trình đào tạo trực tuyến. Ngoài ra, để đào tạo trực tuyến có thể phát triển bền vững, các cơ sở giáo dục đại học, Nhà nước và xã hội cần đẩy mạnh nghiên cứu cả về lý luận và nghiên cứu ứng dụng về đào tạo trực tuyến, tạo cơ sở khoa học để giảng viên, các nhà quản lý và người học có những bước đi đúng đắn, phù hợp để thích nghi và đưa đào tạo trực tuyến trở nên phổ biến và hiệu quả. Tóm lại, bối cảnh quốc tế và trong nước đã và đang đặt Việt Nam phải lựa chọn thay đổi trên nhiều lĩnh vực để phát triển kinh tế xã hội. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là một lựa chọn đúng đắn và khả dĩ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ và xã hội luôn tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn như dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong giáo dục đại học đang đứng trước nhiều rào cản bởi nhiều yếu tố đến từ chính cơ sở đào tạo, các yếu tố từ phía Nhà nước và từ người học. Để thực hiện thành công chuyển đổi số trong giáo dục đại học, cần tập trung tháo gỡ tất cả những yếu tố đó. Chú thích: 1. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Tài liệu tham khảo: [1]. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4. [2]. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. [3]. Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 117/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy-học, NCKH góp phần nâng cao chất lượng GDĐT giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2925". [4]. Bùi Qúy Khiêm (2021), Một số vấn đề về chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, http://dongthap.edu.vn/tin-tuc/thong-tin-can-biet/mot-so-van-de-ve-chuyen-doi-so- trong-linh-vuc-giao-duc.html [5]. Đỗ Thị Ngọc Quyên (2021), Chuyển đổi số trong giáo dục: Những thách thức và nguy cơ, https://tiasang.com.vn/-giao-duc/Chuyen-doi-so-trong-giao-duc-Nhung-thach-thuc- va-nguy-co-26836 14
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2