TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
480 TCNCYH 197 (12) - 2025
THAY ĐỔI BMI Ở TRẺ GÁI DẬY THÌ SỚM TRUNG ƯƠNG
SAU ĐIỀU TRỊ THUỐC ĐỒNG VẬN GIẢI PHÓNG GONADOTROPIN
Cao Thị Hường2, Nguyễn Ngọc Khánh1,2,, Đỗ Cẩm Thanh2,3
Nguyễn Thị Hằng1,2 và Vũ Chí Dũng1,2,
1Bệnh viện Nhi Trung ương
2Trường Đại học Y Hà Nội
3Bệnh viện K
Từ khoá: Dậy thì sớm trung ương, chỉ số khối thể (BMI), BMIZ, Gonadotrpin Releasing Hormone (
GnRH), trẻ gái.
Dậy thì sớm trung ương (DTSTƯ) rối loạn thường gặp trẻ gái, khi điều trị GnRH agonist thể ảnh hưởng
đến chỉ số thể (BMI). Nghiên cứu hồi cứu 205 trẻ gái DTSTƯ điều trị Triptorelin tại Bệnh viện Nhi Trung ương
(6/2021 - 6/2024) nhằm đánh giá sự thay đổi BMI và BMIZ trong năm đầu. Tuổi chẩn đoán trung bình 7,3 ± 0,9
năm, nhóm 6 - 8 tuổi chiếm 91,7%; tại thời điểm ban đầu 50,7% trẻ đã thừa cân/béo phì. BMI trung bình tăng từ
17,75 lên 18,45 và BMIZ trung vị từ 1,09 lên 1,34 sau 12 tháng (BMI: p < 0,001; BMIZ: p = 0,002). Ở nhóm BMI
bình thường (n = 91), BMIZ tăng tuyến tính từ tháng 3 - 12 (F = 24,319; p < 0,001), với 25% chuyển sang thừa cân/
béo phì. Nhóm thừa cân (n = 70) ổn định 3 tháng đầu, sau đó tăng rệt từ tháng 6 (F = 16,048; p < 0,001). Nhóm
béo phì/béo phì nặng (n = 34) giảm nhẹ ban đầu, sau đó ổn định ít thay đổi (F = 2,715; p = 0,034). Điều trị GnRH
làm tăng BMI, đặc biệt ở trẻ bình thường, do đó cần theo dõi và quản lý dinh dưỡng trong suốt quá trình điều trị.
Tác giả liên hệ: Vũ Chí Dũng
Bệnh viện Nhi Trung ương
Email: dungvu@nch.gov.vn
Ngày nhận: 11/09/2025
Ngày được chấp nhận: 07/10/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dậy thì sớm được định nghĩa khi xuất hiện
dấu hiệu sinh dục phụ trước 9 tuổi nam,
trước 8 tuổi nữ hoặc kinh nguyệt trước
9,5 tuổi; bao gồm dậy thì sớm trung ương, dậy
thì sớm ngoại biên nhóm không nguyên
nhân. Trong đó dậy thì sớm trung ương kết
quả của GnRH tham gia hoạt hóa trục hạ đồi-
tuyến yên-tuyến sinh dục dẫn đến sự phát triển
đặc tính sinh dục thứ phát sớm.1 Thuốc đồng
vận Gonadotropin Releasing Hormone (GnRHa
- Triptorelin) phương pháp lựa chọn ưu tiên
điều trị cho dậy thì sớm trung ương với tác dụng
tranh chấp với thụ thể GnRH lên tuyến yên. Khi
duy trì kích thích thụ thể GnRH tại tuyến yên liên
tục (khác với nhịp sinh xung động của GnRH
tự nhiên), thụ thể GnRH trên tuyến yên bị giảm
số lượng và giảm nhạy cảm dẫn đến ức chế sự
giải phóng các nội tiết tố hướng sinh dục, kết
quả ngăn cản sự cốt hoá sớm của xương và sự
phát triển các dấu hiệu sinh dục phụ. Khi điều trị
dậy thì sớm trung ương bằng Triptorelin liên tục
làm giảm đáng kể các triệu chứng dậy thì, cũng
như làm trì hoãn kinh nguyệt làm tăng chiều
cao cuối cùng của trẻ.2 Tuy nhiên, phương pháp
này thể gây ra một số tác dụng không mong
muốn bao gồm sự thay đổi về chỉ số BMI sau 6
tháng và 12 tháng điều trị làm tăng nguy cơ mắc
các bệnh tim mạch, rối loạn chuyển hoá lipid,
đái tháo đường trong tương lai.3,4
Trên thế giới, đã có một số báo cáo ghi nhận
sự thay đổi BMI sau điều trị bằng GnRHa. Cụ
thể, Ana Luisa Leite Elisa Galo (2022) cho
thấy BMI tăng ý nghĩa thống kê, trong khi
phân tích gộp của Ling Hou cộng sự (2024)
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
481TCNCYH 197 (12) - 2025
trên 28 nghiên cứu tại Trung Quốc cũng khẳng
định GnRHa có thể làm tăng BMI. Tuy nhiên, tại
Việt Nam đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào
đánh giá vấn đề này, do đó cần thiết thêm
bằng chứng để làm tác động của GnRHa đối
với BMI trẻ em.5,6 Nghiên cứu của chúng tôi
tập trung mô tả sự thay đổi chỉ số BMI ở các bé
gái mắc dậy thì sớm trung ương điều trị tại Bệnh
viện Nhi Trung ương nhằm đánh giá toàn diện
tính hiệu quả tính an toàn của điều trị cũng
như cung cấp cơ sở khoa học cho việc theo dõi,
tư vấn dinh dưỡng và quản lý cân nặng ở trẻ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Nghiên cứu được tiến hành trên 205 trẻ
nữ được chẩn đoán dậy thì sớm trung ương
điều trị liên tục bằng Triptorelin liều 3,75mg mỗi
4 tuần và/ hoặc liều 11,25mg mỗi 3 tháng tại
Trung tâm Nội tiết - Chuyển hoá - Di truyền
Liệu pháp phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương
từ 6/2021 đến 6/2024 trong 12 tháng.
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Trẻ nữ được chẩn đoán Dậy thì sớm trung
ương theo tiêu chuẩn của Carel cộng sự:7
Xuất hiện dấu hiệu sinh dục thứ phát trước 8
tuổi hoặc kinh nguyệt trước 9,5 tuổi; tuổi xương
lớn hơn tuổi thực 1 tuổi; LH 0,3 IU/L hoặc
nghiệm pháp kích thích GnRH dương tính (LH
đỉnh trong test kích thích ≥ 5 IU/L).
- Điều trị liên tục trong 12 tháng.
- Gia đình trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ mắc các bệnh: Dậy thì sớm ngoại biên;
phát triển tuyến vú/lông mu đơn độc; u buồng
trứng; ra máu âm đạo đơn độc.
- Không tuân thủ điều trị hoặc điều trị dưới
12 tháng.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh, hồi cứu.
Cỡ mẫu
205 trẻ lấy theo phương pháp thuận tiện: tất
cả trẻ đến khám đủ tiêu chuẩn lựa chọn
loại trừ.
Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Các trẻ đến khám được ghi nhận các đặc
điểm tuổi ( theo tiêu chuẩn WHO 2016), cân
nặng (kg), chiều cao (m), chỉ số khối thể
(BMI) đơn vị kg/m2 = Cân nặng (kg)/ (chiều
cao (m))2 chỉ số BMI theo chuẩn tăng trưởng
WHO theo tuổi giới tính (BMIZ) đơn vị số
độ lệch chuẩn (SD) phân loại theo WHO và theo
đồng thuận của Hiệp hội Nhi khoa Việt Nam năm
2025 tại thời điểm chẩn đoán (T0) sau 3 tháng
(T3), 6 tháng (T6), 9 tháng (T9), 12 tháng (T12).8-10
Bảng 1. Phân loại BMI theo tiêu chuẩn của WHO và Hiệp hội Nhi khoa Việt Nam 20259,10
BMI Phân loại
< -3SD Suy dinh dưỡng nặng
< -2SD Suy dinh dưỡng vừa
-2SD - >-1SD Nguy cơ suy dinh dưỡng
>-1SD - >+1SD Bình thường
>+1SD - > +2SD Thừa cân
>+2SD - > +3SD Béo phì
>+3SD Béo phì nặng
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
482 TCNCYH 197 (12) - 2025
Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 26.0:
với các thống tả (tỷ lệ %, trung vị, min,
max), ANOVA một chiều, lặp lại để so sánh
chỉ số BMI, BMIZ theo thời gian, hiệu chỉnh
Greenhouse-Geisser Huynh-Feldt khi cần,
so sánh cặp đôi bằng LSD và phân tích đa biến
để xác định mối liên quan giữa các yếu tố.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được chấp thuận bởi Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học -
Bệnh viện Nhi Trung uơng số 2693/BVNTƯ-
HĐĐĐ ngày 01/10/2024. Các thông tin thu thập
từ hồ bệnh án được bảo mật mang tính
chất phục vụ mục đích nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ
Bảng 1. Đặc điểm chung của trẻ dậy thì sớm trung ương
Đặc trưng Trung bình SD
Tuổi chẩn đoán (năm) 7,3 ± 0,9
Tuổi xuất hiện triệu chứng (năm) 6,8 ± 0,9
Chiều cao (m) 1,3 ± 0,1
Cân nặng (kg) 29 ± 5,8
BMIZ 1,2 ± 1,5
Kết quả đánh giá của 205 trẻ gái mắc dậy thì
sớm trung ương từ 6/2021 đến tháng 6/2024:
tuổi xuất hiện triệu chứng trung bình là 6,8 ± 0,9
và tuổi chẩn đoán trung bình 7,3 ± 0,9 trong đó
nhóm trẻ 6 - 8 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 91,7%;
BMIZ trung bình tại thời điểm chẩn đoán 1,2
± 1,5.
Bảng 2. Phân bố tình trạng dinh dưỡng tại thời điểm chẩn đoán
BMI n %
Suy dinh dưỡng nặng 0 0
Suy dinh dưỡng vừa 20,98
Nguy cơ suy dinh dưỡng 8 3,90
Bình thường 91 44,39
Thừa cân 70 34,15
Béo phì 27 13,17
Béo phì nặng 7 3,41
Tổng 205 100
Phân bố tình trạng BMI cho thấy 44,39 % trẻ có BMI bình thường, trong khi nhóm thừa cân, béo
phì và béo phì nặng chiếm tới 50,73%.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
483TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 3. Thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong quá trình điều trị
Thời điểm BMI trung bình
(kg/m2)BMIZ trung vị Tỷ lệ thừa cân
béo phì (%)
T017,75 ± 2,67
p < 0,001
1,09
p = 0,002
47,3%
T317,77 ± 2,36 1,05 49,5%
T618,15 ± 2,47 1,21 52,6%
T918,29 ± 2,50 1,26 53,0%
T12 18,45 ± 2,52 1,34 53,2%
Chú thích: T0 (thời điểm chẩn đoán); T3 (sau 3 tháng);
T6 (sau 6 tháng), T9 (sau 9 tháng), T12 (sau 12 tháng).
BMI trung bình tăng ý nghĩa thống
từ 17,75 ± 2,67 tại T0 lên 18,45 ± 2,52 sau 12
tháng (T12), xu hướng tuyến tính tăng dần được
ghi nhận từ tháng thứ 6 (T6) với mức tăng ổn
định đến cuối năm điều trị (T12) (ANOVA lặp
lại, F = 26,893; p < 0,001; Partial Eta² = 0,116).
BMIZ trung vị tăng nhẹ từ 1,09 (T0) lên 1,34
(T12) ANOVA lặp lại cho thấy sự thay đổi ý
nghĩa (F = 4,29; p = 0,002; Partial Eta² = 0,021).
Thời đim
BMI trung bình
(kg/m2)
BMIZ trung vị
Tltha cân
o phì (%)
T0
17,75 ± 2,67
p < 0,001
1,09
47,3%
T3
17,77 ± 2,36
1,05
49,5%
T6
18,15 ± 2,47
1,21
52,6%
T9
18,29 ± 2,50
1,26
53,0%
T12
18,45 ± 2,52
1,34
53,2%
Ctch: T0 (thi đim chẩn đoán); T3 (sau 3 tháng); T6 (sau 6 tháng), T9 (sau 9 tháng), T12 (sau 12
tháng).
BMI trung nh tăng ý nghĩa thống t 17,75 ± 2,67 tại T0 lên 18,45 ± 2,52 sau 12 tháng
(T12), xu hướng tuyến tính tăng dần được ghi nhn ttháng th6 (T6) với mc tăng ổn định đến cuối
năm điều tr (T12) (ANOVA lặp lại, F = 26,893; p < 0,001; Partial Et = 0,116). BMIZ trung vị tăng nh
t 1,09 (T0) lên 1,34 (T12) ANOVA lặp lại cho thấy sthay đổi có ý nghĩa (F = 4,29; p = 0,002; Partial
Et = 0,021).
17.4
17.6
17.8
18
18.2
18.4
18.6
T0 T3 T6 T9 T12
BMI P < 0,001
±2,67 ±2,36
±2,47
±2,50
±2,52
Thời điểm theo dõi
Biểu đồ 1. Xu hướng thay đổi BMI trung bình theo thời gian điều trị
Chú thích: T0 (thời điểm chẩn đoán); T3 (sau 3 tháng);
T6 (sau 6 tháng), T9 (sau 9 tháng), T12 (sau 12 tháng)
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
484 TCNCYH 197 (12) - 2025
Tại thời điểm ban đầu (T0) sau 3 tháng
điều trị (T3), BMI trung bình của trẻ hầu như
không thay đổi. Bắt đầu từ tháng 6 (T6), BMI
tăng rõ rệt và tiếp tục xu hướng tăng đến tháng
9 (T9) và tháng 12 (T12). Mặc dù sự dao động
(thể hiện qua khoảng SD khá rộng) nhưng xu
hướng chung BMI tăng tuyến tính theo thời
gian điều trị.
(ANOVA lặp lại, BMI: F = 26,893; p < 0,001;
Partial Eta² = 0,116).
Bảng 4. Thay đổi về chỉ số BMI sau thời gian điều trị
bằng thuốc đồng vận giải phóng gonadotropin theo tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Thời
điểm
Bình thường
(n = 91)
Thừa cân
(n = 70)
Béo phì/ Béo phì nặng
(n = 34)
BMI BMIZ p-value BMI BMIZ p-value BMI BMIZ p-value
T015,9 0,23
< 0,001
18,7 1,72
< 0,001
22,0 3,62
= 0,034
T316,3 0,37 18,7 1,61 21,0 2,86
T616,7 0,54 19,1 1,76 21,2 2,86
T916,8 0,58 19,3 1,81 21,4 2,90
T12 17,0 0,59 19,5 1,81 21,4 2,86
Chú thích: T0 (thời điểm chẩn đoán); T3 (sau 3 tháng);
T6 (sau 6 tháng), T9 (sau 9 tháng), T12 (sau 12 tháng)
nhóm trẻ BMI ban đầu bình thường (n =
91), BMI tăng đáng kể từ 15,9 tại T0 lên 17,0 sau
12 tháng (T12), trong khi BMIZ tăng từ 0,23 lên
0,59. Sự thay đổi này ý nghĩa thống với
mức ảnh hưởng mạnh (F = 24,319; p < 0,001;
Partial Eta² = 0,212). Đáng lưu ý, một số trường
hợp đã chuyển sang thừa cân/béo phì ngay từ
tháng thứ 3 (T3) tỷ lệ này tăng lên 25 - 26%
sau 9 - 12 tháng (T9-T12). Ở nhóm thừa cân (n =
70), BMI tăng từ 18,7 lên 19,5, BMIZ dao động
trong khoảng 1,61 - 1,81, ổn định trong 3 tháng
đầu (T0 - T3) nhưng sau đó duy trì xu hướng tăng
đều đến tháng 12 (T12) (F = 16,048; p < 0,001;
Partial Eta² = 0,189). Trong khi đó, nhóm béo
phì/béo phì nặng (n = 34) có BMI duy trì ở mức
rất cao (21,0 - 21,4); BMIZ giảm nhẹ từ 3,62
xuống 2,86 trong 3 tháng đầu (T0-T3) nhưng
không thay đổi thêm ở các mốc 6, 9 và 12 tháng
(T6, T9, T12), nhìn chung vẫn duy trì ngưỡng
cao (F = 2,715; p = 0,034; Partial Eta² = 0,074).
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số trẻ gái
dậy thì sớm trung ương (DTSTƯ) được chẩn
đoán trong độ tuổi 6-8, với tuổi trung bình 7,3
± 0,9 năm. Đáng chú ý, hơn một nửa số trẻ
(50,73%) đã tình trạng thừa cân hoặc béo phì
tại thời điểm ban đầu. Kết quả này phù hợp với
nhiều nghiên cứu gần đây tại khu vực châu Á,
đặc biệt tại Trung Quốc, nơi thừa cân - béo
phì được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng thúc
đẩy sự xuất hiện dậy thì sớm trẻ gái.11,12 Kết
quả của chúng tôi góp phần khẳng định mối liên
quan chặt chẽ giữa tình trạng dinh dưỡng
chế bệnh sinh của DTSTƯ.
Kết quả cho thấy trong suốt 12 tháng điều trị
bằng đồng vận GnRH, chỉ số BMI và BMIZ của
trẻ gái DTSTƯ tăng ý nghĩa thống (BMI:
p < 0,001; BMIZ: p = 0,002). Đặc biệt, xu hướng
tăng BMI tính tuyến tính tăng dần từ tháng