
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
135
NỒNG ĐỘ HBA1C, ACID URIC VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ LIPID MÁU
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 CÓ BIẾN CHỨNG THẬN
Nguyễn Tổng Thống1, Phạm Thiện Ngọc1
TÓM TẮT19
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ HbA1c, acid
uric và một số chỉ số lipid máu ở bệnh nhân đái
tháo đường típ 2 có biến chứng thận. Đối tượng
và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
trên 204 bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2
gồm: 98 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có biến chứng
thận và 106 bệnh nhân không ĐTĐ típ 2 không
có biến chứng thận. Kết quả: Tuổi trung bình
nhóm có biến chứng thận cao hơn nhóm không
có biến chứng thận (71,93 ± 9,19 so với 48,30 ±
8,12; p<0,001). Nồng độ acid uric, creatinin và
ure máu cao hơn có ý nghĩa, nồng độ
cholesterolTP, HDL-C và eGFR thấp hơn có ý
nghĩa ở nhóm có biến chứng thận so với nhóm
bệnh nhân không có biến chứng thận (p<0,05).
Tỷ lệ rối loạn lipid máu 1 thành phần chiếm chủ
yếu, đặc biệt là tăng triglyceride và giảm HDL-C.
Nhóm có biến chứng thận có tỷ lệ HDL-C thấp
lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p=0,03). Có mối
tương quan nghịch có ý nghĩa giữa acid uric và
eGFR (ρ = -0,460; p<0,001). HbA1c không có
mối liên quan có ý nghĩa với eGFR và acid uric.
Kết luận: Nồng độ acid uric tăng và HDL-C
giảm có liên quan đến biến chứng thận ở bệnh
nhân ĐTĐ típ 2. Mối tương quan nghịch giữa
acid uric và eGFR góp phần khẳng định vai trò
của acid uric trong tiến triển tổn thương thận.
1Trường Đại học Phenikaa
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Tổng Thống
Email: thong.nguyentong@phenikaa-uni.edu.vn
Ngày nhận bài: 28-5-2025
Ngày phản biện: 4-6-2025
Ngày duyệt bài: 8-6-2025
Việc đánh giá và kiểm soát các yếu tố chuyển
hóa này cần được thực hiện sớm nhằm giảm
nguy cơ biến chứng.
Từ khóa: Đái tháo đường típ 2, acid uric,
lipid, biến chứng thận, eGFR, HbA1c.
SUMMARY
ASSESSMENT OF HBA1C, PLASMA
URIC ACID AND LIPID PROFILE IN
PATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES
MELLITUS WITH DIABETIC
NEPHROPATHY
Objective: To investigate the levels of
HbA1c, uric acid, and lipid profile in patients
with type 2 diabetes mellitus (T2DM) with
diabetic kidney disease (DKD). Subjects and
Methods: A cross-sectional descriptive study
was conducted on 204 patients with T2DM,
including 98 patients with DKD and 106 patients
without DKD. Results: The mean age of the
DKD group was significantly higher than that of
the non-DKD group (71.93 ± 9.19 vs. 48.30 ±
8.12; p<0.001). Plasma levels of uric acid,
creatinine and urea were significantly higher,
while total cholesterol, HDL-C, and eGFR levels
were significantly lower in the DKD group
compared to the non-DKD group (p<0.05). The
majority of patients had isolated dyslipidemia,
particularly hypertriglyceridemia and reduced
HDL-C. The DKD group had a significantly
higher proportion of patients with low HDL-C
levels (p=0.03). A significant negative
correlation was found between uric acid and
eGFR (ρ = -0.460; p<0.001). There was no
significant correlation between HbA1c and either

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
136
eGFR or uric acid. Conclusion: Elevated uric
acid levels and reduced HDL-C were associated
with the presence of diabetic kidney disease in
T2DM patients. The negative correlation
between uric acid and eGFR supports the role of
uric acid in the progression of renal impairment.
Early assessment and management of these
metabolic risk factors are essential to reduce the
risk of complications.
Keywords: Type 2 diabetes mellitus, Acid
uric, lipid, Diabetic kidney disease (DKD),
eGFR, HbA1c.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối
loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng
glucose máu mạn tính. Sự tăng đường huyết
kéo dài gây rối loạn chuyển hóa
carbohydrate, acid uric và lipid huyết tương
dẫn đến tổn thương nhiều cơ quan, đặc biệt
là tim, mạch máu và thận. Trong đó, bệnh
thận do đái tháo đường (diabetic kidney
disease – DKD) là một trong những biến
chứng vi mạch nghiêm trọng và là nguyên
nhân hàng đầu gây suy thận mạn giai đoạn
cuối (ESRD). Tại nhiều quốc gia như Hoa
Kỳ, các nước châu Âu và châu Á (bao gồm
Đài Loan, Nhật Bản), DKD chiếm từ 24-45%
tổng số bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn
cuối phải điều trị thay thế thận1. Việc phát
hiện sớm và kiểm soát các yếu tố nguy cơ,
đặc biệt là rối loạn chuyển hóa acid uric và
lipid máu có vai trò quan trọng ở bệnh nhân
đái tháo đường typ 2, góp phần giảm gánh
nặng bệnh tật và chi phí điều trị. Đã có nhiều
nghiên cứu lớn tại nước ngoài về rối loạn
chuyển hóa acid uric và chuyển hóa lipid
máu ở bệnh nhân ĐTĐ2. Các nghiên cứu về
rối loạn lipid máu trong nước chủ yếu ở
những BN ĐTĐ chưa có biến chứng thận
hoặc những BN bệnh thận mạn tính không
do ĐTĐ. Nhằm góp phần đánh giá một số
những yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân ĐTĐ típ
2 có biến chứng thận chúng tôi nghiên cứu
đề tài với mục tiêu: Khảo sát nồng độ
HbA1c, acid uric và một số chỉ số lipid
huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường
típ 2 có biến chứng thận.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 204 bệnh
nhân đái tháo đường típ 2 đến khám tại Đại
học Phenikaa từ tháng 05/2024 đến tháng
03/2025.
• Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân có tiền sử được chẩn đoán
đái tháo đường típ 2 đang sử dụng thuốc điều
trị đái tháo đường hoặc mới được chẩn đoán
đái tháo đường typ 2 theo tiêu chuẩn của
Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm
2020.
- Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm:
nhóm bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng thận
gồm 98 bệnh nhân và nhóm bệnh nhân ĐTĐ
không có biến chứng thận gồm 106 BN.
+ Tiêu chuẩn bệnh nhân đái tháo đường
típ 2 có biến chứng thận: bệnh nhân đái tháo
đường có bệnh thận mạn giai đoạn 3 đến giai
đoạn 5 theo phân loại KDIGO 2012. Bệnh
nhân đái tháo đường típ 2 không có biến
chứng thận: có ACR<30mg/g và eGFR ≥ 90
ml/phút/1,73m2.
• Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân đái
tháo đường típ 1, ĐTĐ thứ phát, ĐTĐ thai
nghén, ĐTĐ kèm bệnh lý thận riêng biệt
không do ĐTĐ, đang có bệnh lý cấp tính
(nhiễm khuẩn huyết, hôn mê do chuyển hoá
hoặc do các nguyên nhân khác), đang có các
bệnh lý nội khoa khác kèm theo (xơ gan,
nghiện rượu, bệnh lý nội tiết khác), bệnh
nhân lọc máu, truyền máu

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
137
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang,
phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
Các chỉ số được sử dụng: Tuổi, giới,
HbA1c, acid uric, triglyceride, cholesterolTP,
HDL-C, LDL-C, ure, creatinin, eGFR
- Tính độ lọc cầu thận eGFR theo CKD-
EPI 2021.
- Đánh giá rối loạn lipid máu theo Hội
Tim mạch Việt Nam 2015.
2.3. Xử lý số liệu: Dữ liệu được xử lý
bằng phần mềm SPSS 26,0. Kiểm định
Shapiro-Wilk được sử dụng để đánh giá phân
phối chuẩn. Biến định lượng phân phối
chuẩn được trình bày dưới dạng trung bình ±
độ lệch chuẩn, biến không chuẩn dưới dạng
trung vị và tứ phân vị. So sánh giữa hai
nhóm bằng T-test hoặc Mann-Whitney U
test. Biến định tính so sánh bằng chi-square.
Tương quan giữa các chỉ số đánh giá bằng hệ
số Spearman. Mức ý nghĩa thống kê được
chọn là p < 0,05.
2.4. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu là nghiên cứu mô tả, không
can thiệp nên không gây hại cho đối tượng
nghiên cứu. Thông tin của bệnh nhân được
bảo mật.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Có biến chứng thận
(n=98)
Không có biến chứng thận
(n=106)
p
Tuổi
71,93 ± 9,19
48,30 ± 8,12
<0,001
Giới
Nam: n (%)
52 (53,07%)
Nam: 60 (56,6%)
0,659
Nữ: n (%)
46 (46,93%)
Nữ: 46 (43,4%)
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân có biến
chứng thận có độ tuổi trung bình là (71,93 ±
9,19), cao hơn đáng kể so với nhóm bệnh
nhân không có biến chứng thận (48,30 ±
8,12) với p < 0,001 cho thấy sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê về độ tuổi giữa hai nhóm.
Tỷ lệ nam nữ của 2 nhóm không có sự khác
biệt đáng kể với p = 0,659.
3.2. Kết quả một số chỉ số sinh hóa
máu
Bảng 2. Nồng độ các chỉ số hóa sinh ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Chỉ số
Có biến chứng thận
(n=98)
Không có biến chứng
thận (n=106)
p
HbA1c (%)
7,4 (6,8-8,3)
7,1 (6,7-8,1)
0,277
Acid uric (µmol/l)
416,31 ± 122,52
318,22 ± 85,16
<0,001
Triglyceride (mmol/l)
2,28 (1,58-3,17)
1,88( 1,33-3,00)
0,372
CholesterolTP (mmol/l)
4,25 (3,58-5,20)
4,86 (4,08-5,62)
0,014
HDL-C (mmol/l)
1,10 (0,9-1,3)
1,15 (1,00-1,40)
0,023
LDL-C (mmol/l)
2,05 (1,40-2,80)
2,60 (1,68-3,20)
0,035
Ure (mmol/l)
11,31 ± 5,56
5,10 ± 1,35
<0,001
Creatinin (µmol/l)
130,3 (110,23 – 155,85)
59,4 (48,7 – 67,2)
<0,001
eGFR (mL/phút/1,73 m2)
44,99 (35,20 – 53,02)
110,95 (107,9 – 114,9)
<0,001

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
138
Nhận xét: Các chỉ số acid uric, ure,
Creatinin và eGFR của nhóm ĐTĐ típ 2 có
biến chứng thận cao hơn so nhóm ĐTĐ típ 2
không có biến chứng thận, có sự khác biệt
giữa 2 nhóm nghiên cứu (p<0,001). Chỉ số
cholesterolTP và HDL-C của nhóm ĐTĐ típ 2
có biến chứng thận thấp hơn so với nhóm
ĐTĐ típ 2 không có biến chứng thận, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
3.3. Đặc điểm kết quả Lipid máu
Bảng 3. Tỷ lệ rối loạn lipid máu
Thành phần
Phân loại
Có biến chứng thận
(n=98)
Không có biến chứng
thận (n=106)
p
CholesterolTP
Tăng
25 (25,5%)
38 (35,8%)
0,110
Bình thường
73 (74,5%)
68 (64,2%)
Triglyceride
Tăng
68 (69,4%)
63 (59,4%)
0,138
Bình thường
30 (30,6%)
43 (40,6%)
HDL-C
Giảm
45 (45,9%)
33 (31,1%)
0,03
Bình thường
53 (54,1%)
73 (68,9%)
LDL-C
Tăng
17 (17,3%)
18 (17%)
0,945
Bình thường
81 (82,7%)
88 (83%)
Nhận xét: Tỷ lệ giảm HDL-C của nhóm ĐTĐ có biến chứng thận có sự khác biệt với
nhóm ĐTĐ không có biến chứng thận (p<0,05). Tỷ lệ tăng cholesterolTP, triglyceride và
LDL-C không có sự khác biệt giữa 2 nhóm này.
Bảng 4. Đặc điểm rối loạn lipid
Đặc điểm rối loạn
Có biến chứng
thận (n=98)
Không có biến chứng
thận (n=106)
p
Không có rối loạn lipid máu
27 (27,6%)
33 (31,1%)
0,684
Rối loạn ít nhất 1 thành phần lipid máu
47 (48,0%)
39 (36,8%)
0,141
Rối loạn 2 thành phần lipid máu
9 (9,1%)
22 (20,8%)
0,116
Rối loạn 3 thành phần lipid máu
15 (15,3%)
12 (11,3%)
0,527
Nhận xét: Tỷ lệ rối loạn 1 thành phần lipid máu chiếm tỷ lệ cao nhất của cả 2 nhóm, tỷ lệ
đặc điểm rối loạn lipid máu không có sự khác biệt của 2 nhóm nghiên cứu.
3.4. Mối tương quan hồi quy tuyến tính của chỉ số Hba1c, Acid uric và eGFR
Bảng 5. Phân tích tương quan hồi quy tuyến tính
Biến số liên quan
n
Hệ số tương quan Spearman (ρ)
p
HbA1c và acid uric
206
0,078
0,267
HbA1c và eGFR
206
0,061
0,387
Acid uric và eGFR
206
-0,460
<0,001
Nhận xét: Acid Uric và eGFR có mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê, cho thấy
khi nồng độ acid uric tăng thì eGFR có xu hướng giảm.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
139
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu
Nghiên cứu trên 206 bệnh nhân của
chúng tôi cho thấy tuổi có liên quan tới sự
phát triển biến chứng thận của bệnh nhân đái
tháo đường típ 2. Đối tượng đái tháo đường
típ 2 có biến chứng thận có độ tuổi trung
bình là 71,93 ± 9,19 tuổi cao hơn so với đối
tượng đái tháo đường không có biến chứng
thận 48,30 ± 8,12 tuổi (bảng 1). Kết quả của
chúng tôi phù hợp với y văn và các nghiên
cứu dịch tễ lâm sàng, tuổi càng cao (thường
trên 60 tuổi ) càng tăng yếu tố nguy cơ bệnh
thận 1. Kết quả này tương đồng với nghiên
cứu của tác giả Randa I. Farah khi nghiên
cứu trên 701 bệnh nhân mắc DKD, với độ
tuổi trung bình là 59,71±11,36 tuổi2. Tỷ lệ
giới tính nam/nữ ở bệnh nhân mắc DKD
cũng tương đồng với nghiên cứu Yusof Khan
và cộng sự (2021) khi nghiên cứu 150 bệnh
nhân với tỷ lệ bệnh nhân nam (56,0%) cao
hơn tỷ lệ bệnh nhân nữ (44,0%)3.
4.2. Kết quả một số chỉ số sinh hóa
máu
Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
không có sự khác biệt về kết quả chỉ số
Hba1c của 2 nhóm ĐTĐ có và không có biến
chứng thận (p>0,05). Ở những bệnh nhân đái
tháo đường trong nghiên cứu này có thể có
sự kiểm soát tốt glucose máu nên kết quả
không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Một số
nghiên cứu dịch tễ học đã báo cáo mối liên
quan chặt chẽ giữa nồng độ acid uric huyết
thanh và nguy cơ mắc bệnh thận do đái tháo
đường (DKD)4. Tại nghiên cứu này, nồng độ
acid uric của bệnh nhân DKD trung bình
416,31 ± 122,52 µmol/l cao hơn so với bệnh
nhân ĐTĐ không có biến chứng thận 318,22
± 85,16 µmol/l, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p<0,001. Nguyên nhân do chức năng
lọc cầu thận giảm, khả năng đào thải acid
uric của thận cũng giảm theo, làm acid uric
máu tăng cao. Trong nghiên cứu của chúng
tôi, nhóm bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có
biến chứng thận cho thấy nồng độ ure và
creatinin huyết thanh cao hơn rõ rệt so với
nhóm không có biến chứng (bảng 2). Đây là
kết quả phù hợp với sinh lý bệnh của bệnh
thận do đái tháo đường, khi chức năng lọc
của cầu thận suy giảm làm tích tụ các sản
phẩm chuyển hóa ni-tơ như ure và creatinin.
Chỉ số eGFR ở nhóm có biến chứng thận
giảm đáng kể, phản ánh mức độ suy giảm
chức năng thận. Kết quả nghiên cứu cho thấy
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai
nhóm bệnh nhân về các thành phần lipid máu
cholesterol toàn phần (p = 0,014), HDL-C (p
= 0,023) và LDL-C (p = 0,035), trong khi sự
khác biệt về triglyceride không có ý nghĩa
thống kê (p = 0,372). CholesterolTP và LDL-
C ở nhóm không có biến chứng thận cao hơn
có thể phản ánh tình trạng rối loạn chuyển
hóa lipid sớm ở giai đoạn chưa có tổn thương
thận. Kết quả nồng độ trung bình của các chỉ
số lipid máu của nhóm đái tháo đường không
có biến chứng thận cũng tương tự như các
tác giả Nguyễn Mỹ Huyền 5 và tác giả Đặng
Thị Việt Hà có cùng đối tượng nghiên cứu
trên bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng
thận6. HDL-C được biết đến là cholesterol
“tốt” thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm
có biến chứng thận. Điều này phù hợp với

