intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiểu luận Kinh tế học lao động: Phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: đinh Xuân Ngọc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:30

290
lượt xem
69
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung trình bày của đề tài gồm 2: Cơ sở lý luận về việc làm và thất nghiệp và phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Kinh tế học lao động: Phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay

  1. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Đề bài: Phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại Việt Nam hiện   nay. Mở đầu Thị trường lao động là một trong những kênh chính mà quá trình hội nhập   sâu hơn vào nền kinh tế  thế  giới  ảnh hưởng trực tiếp ngay đến nước ta. Sở  dĩ  như vậy vì 3 lý do: Thứ nhất, những thay đổi về việc làm là kết quả của thay đổi  cơ cấu kinh tế; Thứ hai, môi trường kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng   tạo việc làm và tăng năng suất của thị  trường lao động; Thứ  ba, lao động gần  như là tài sản duy nhất mà người nghèo đang sở hữu. Trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa hiện nay, nguồn nhân lực là  yếu tố  quan trọng quyết định đến sự  phát triển đất nước và sự  sống còn của  doanh nghiệp. Lực lượng lao động là một bộ  phận của dân số  bao gồm những người   trong độ  tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế  có  khả năng lao động. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay thì chúng ta tiếp tục có  các cơ hội và gặp nhiều thách thức đối với sự phát triển thị trường lao động. Quá   trình phân công sản xuất trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu sẽ  kéo theo sự  tái  phân bố lao động và sự phụ thuộc lẫn nhau của thị trường lao động các quốc gia.  Các công ty xuyên quốc gia không chỉ là tác nhân giúp các nước và lãnh thổ kinh  tế  tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất toàn cầu mà còn có vai trò là người sử  dụng lao động đa quốc gia, sẽ đặt ra những tiêu chuẩn mới, thách thức các khuôn   khổ  tiêu chuẩn và pháp luật lao động quốc gia. Cạnh tranh quốc tế  trong phân  công lao động sẽ thúc đẩy cạnh tranh và phân công lao động trong nước, năng lực   cạnh tranh quốc gia sẽ phụ thuộc vào mức độ  thành công của tái cơ  cấu kinh tế  của Việt Nam. Trong khi đó bối cảnh trong nước cũng có nhiều thuận lợi đan  xen với những khó khăn mới. Đó là nền kinh tế  tiếp tục mở  cửa tạo điều kiện  phát huy tốt hơn những thế mạnh trong nước nhưng cần khắc phục những hạn   Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 1
  2. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động chế kìm hãm nhu cầu nội địa và cho xuất khẩu, các tiêu chuẩn hàng hóa sản xuất   và tiêu chuẩn lao động trở  thành các ràng buộc cạnh tranh, kinh tế  tăng trưởng   liên tục với tốc độ  cao là điều kiện cơ  bản để  giải quyết việc làm nhưng yêu   cầu phải bền vững, thể chế thị trường lao động tiếp tục cần hoàn thiện để  phù  hợp với thông lệ quốc tế. PHẦN 1 Cơ sở lý luận về việc làm và thất nghiệp 1. Việc làm 1.1.Khái niệm việc làm Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những  điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sàn xuất, công nghệ...) để sử đụng sức lao động  đó . Trạng thái phù hợp được thể  hiện thông qua quan hệ  tỷ lệ  giữa chi phí ban  đầu (C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu... và chi phí về sức lao   động (V). Quan hệ  tỷ  lệ  biểu hiện sự  kết hợp giữa C và V phải phù hợp với   trình độ công nghệ của sản xuất.  Khi trình độ  kỹ  thuật công nghệ  thay đổi thì sự  kết hợp đó cũng thay đổi  theo hướng công nghệ  sử  dụng nhiều vốn hoặc công nghệ  sử  dụng nhiều sức   lao động. Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ  công một đơn vị  chi phí ban  đầu về tư liệu sản xuất có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động. Còn trong   điều kiện tự  động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về  vốn,  thiết bị, công nghệ  rất cao nhưng chỉ  đòi hỏi sức lao động với tỷ  lệ  rất thấp   (công nghệ  sử dụng nhiều vốn). Do đó, tuỳ  từng điều kiện cụ  thể  mà lựa chọn   phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động. Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu  của khoa học công nghệ  vào sản xuất mạnh mẽ  như  hiện nay, quan hệ  tỷ  lệ  giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau: Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 2
  3. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động ­ Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi người có   khả  năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm. Nếu chỉ  xem xét trên  phương diện sử  dụng hết thời gian lao động khi có việc làm thì việc làm đó là   việc làm đầy đủ; còn trong trường hợp sự  phù hợp của mối quan hệ  này cho  phép sử  dụng triệt để  tiềm năng về  vốn, tư  liệu sản xuất và sức lao động ta có  khái niệm việc làm hợp lý. ­ Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ  dẫn đến thiếu  nguồn nhân lực hoặc thừa nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp. Điều 13, chương II “Việc làm” của Bộ  luật Lao động của nước CHXHCN   Việt Nam có nêu:  "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị   pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Theo đó, một hoạt động được  coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và   cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu  thức tạo ra thu nhập của việc làm. Hai là, hoạt động đó không bị  pháp luật cấm. Điều này chỉ  rõ tính pháp lý   của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về  phạm vi và ngành nghề  và  hoàn toàn phù hợp với sự  phát triển của thị  trường lao động  ở  Việt Nam trong  quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày  nay được đặt vào vị trí chủ  thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra   việc làm cho người khác trong khuôn khổ  pháp luật, không còn bị  phân biệt đối  xử  cho dù làm việc trong hay ngoài khu vực nhà nước. Điều đó đã khẳng định  tính chất pháp lý trong hoạt động của hàng triệu người lao động trong các khu   vực kinh tế, kể cả khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực kinh tế phi chính   thức vốn là những khu vực bị phân biệt đối xử nặng nề trong thời kỳ kế hoạch   hoá tập trung. Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 3
  4. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Hai tiêu thức trên có mối quan hệ chặt chẽ nhau, là điều kiện cần và đủ của   một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu hoạt động chỉ  tạo ra thu nhập  nhưng vi phạm luật pháp như  trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm... không thể  được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích  nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm, chẳng hạn,  nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình như: đi chợ, nấu cơm, rửa   bát, dọn dẹp, lau nhà, giặt quần áo... Nhưng nếu người phụ  nữ  đó cũng thực   hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác được trả tiền công   thì hoạt động của họ được thừa nhận là việc làm. Tuy nhiên, khái niệm trên có những hạn chế sau: Trước hết, tính hợp pháp của một hoạt động được thừa nhận là việc làm  tuỳ thuộc vào luật pháp và thể chế của mỗi quốc gia và cũng có thể thay đổi theo   từng thời kỳ. Có hoạt động được thừa nhận là việc làm  ở  nước này nhưng lại  không được thừa nhận  ở  nước khác. Ví dụ: mại dâm của phụ  nữ  được thừa   nhận là việc làm  ở  Thái Lan, Philippines vì được luật pháp nước đó bảo hộ  và   quản lý, được Bộ  Y tế  và các cơ  quan quản lý sức khoẻ  của những nước này  theo dõi, kiểm tra sức khoẻ  định kỳ  và cấp giấy phép hành nghề. Họ  cho rằng,   hoạt động này đáp ứng nhu cầu tình dục của một nhóm người trong xã hội và nó  đem lại thu nhập cho lao động nữ. Nhưng mại dâm của phụ  nữ   ở  Việt Nam   được coi là hoạt động phi pháp hay vi phạm pháp luật và không được thừa nhận   là việc làm. Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình, cho xã   hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì  thuê người làm công (ví dụ, công việc nội trợ của chính người trong gia đình). Tổ chức Lao động Quốc tể (ILO) cũng đưa ra khái niệm: Việc làm là những  hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 4
  5. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Từ các quan niệm trên có thể rút ra khái niệm việc làm như sau: Việc làm là   phạm trù để  chỉ  trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần   thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ...) để  sử dụng sức lao động đó. Dựa vào  khái niệm này để  phân tích các nhân tố   ảnh hưởng đến tạo việc làm và các mô  hình tạo việc làm. 1.2.Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động Tạo việc làm cho người lao động là cần thiết nhằm giảm thất nghiệp. Công  nghiệp hoá là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia muốn nhanh chóng thoát  khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang  nền   kinh   tế   công   nghiệp,   năng   suất   cao.   Trong   quá   trình   phát   triển   kinh   tế,   chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tất yếu. Chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  sẽ  kéo theo   chuyển dịch cơ cấu lao động. Vì vậy, có nghề  mới, hoạt động sản xuất mới ra   đời, trong khi một số nghề cũ, hoạt động sản xuất cũ bị mất đi, thất nghiệp phát  sinh. Tạo việc làm cho người lao động đáp  ứng quyền lợi của người lao động,  quyền có việc làm và nghĩa vụ  phải làm việc của người trong tuổi lao động, có   khả năng lao động như Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ghi nhận.  Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, nâng cao vị  thế  của người lao động  trong gia đình và ngoài xã hội. Ngoài ra, tạo việc làm góp phần nâng cao chất  lượng cuộc sống, hạn chế các tiêu cực xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo và   ổn định xã hội.  Nếu không có việc làm sẽ  không có thu nhập và không có điều kiện thoả  mãn các nhu cầu chính đáng về  vật chất và tinh thần của người lao động, chất  lượng cuộc sống giảm sút. Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động là biện pháp   trung tâm của mọi quốc gia, nó cho phép không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế  mà cả  các vấn đề  xã hội. Có việc làm sẽ  tạo điều kiện cho việc xoá đói giảm  nghèo, có việc làm sẽ làm giảm các tệ nạn xã hội. Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 5
  6. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động 1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động Tạo việc làm cho người lao động phụ  thuộc vào rất nhiều nhân tố  khác  nhau. Sau đây đề cập đến một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tạo việc làm   cho người lao động. a. Điều kiện tự nhiên, vốn và công nghệ Nhu cầu có việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, phát triển kinh tế.  Sản xuất càng phát triển, quy mô ngày càng mở  rộng thì nhu cầu tạo việc làm  càng lớn. Muốn mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế phải dựa vào những tiền đề  vật chất. Tiền đề  vật chất là nhân tố  tiên quyết  ảnh hưởng đến tạo việc làm.  Điều kiện tự  nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố/tỉnh được hình  thành một cách tự  nhiên từ  hàng nghìn hàng vạn năm trước đây, ngoài ý muốn  chủ quan của con người, như độ màu mỡ tự nhiên của đất đai, diện tích canh tác  bình quân đầu người, điều kiện khí hậu, thuỷ văn thuận lợi hoặc bất lợi cho phát   triển các loại cây trồng và con gia súc, trữ lượng của hầm mỏ; tài nguyên rừng và  biển...  Trên thế  giới  có nước rất giàu tài nguyên thiên nhiên, đất đai rộng lớn,  thuận lọi cho phát triển các ngành sản xuất, thu hút lao động, như Liên Xô cũ; các  nước có nhiều dầu lửa như Ả rập. Bên cạnh đó, có những nước (như Nhật Bản)  lại rất nghèo tài nguyên, đất đai chật hẹp, thiên nhiên không  ưu đãi, thường   xuyên xảy ra các sự  cố  bất lợi cho sản xuất, cho cuộc sống cùa con người như  núi lửa; động đất; bão lụt...  Do đó, điều quan trọng là làm thế nào để các điều kiện tự nhiên sẵn có của   mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi thành phố  đều trở  thành các nguyên liệu, nhiên   liệu... phục vụ cho sản xuất và đời sống, như dầu lửa phải được khai thác từ đáy   biển, quặng vàng và các loại khoáng sản quý hiếm phải được lấy ra khỏi lòng  đất và qua các công nghệ sàng lọc, tinh chế mới có ích cho cuộc sống.  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 6
  7. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Để  biến các điều kiện tự  nhiên sẵn có của mỗi quốc gia thành có ích thì  phải có vốn để  mua công nghệ  kỳ  thuật hiện đại, dây chuyền công nghệ, máy  móc thiết bị phục vụ sản xuất, chế biến. Trong thực tế có những nước rất nghèo   tài nguyên thiên nhiên như Nhật Bản nhưng có công nghệ hiện đại, máy móc tiên  tiến, có phương pháp quản lý hiện đại đã tạo ra được nhiều việc làm và  việc  làm có chất lượng cao, nâng cao đời sống của nhân dân. Đặc biệt, yếu tố sức lao   động liên quan đến thể  lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý và sản xuất, cơ  chế,  chính sách của mỗi quốc gia, của chính quyền địa phương và những quy định cụ  thể của chủ sản xuất kinh doanh là những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm   cho người lao động. b. Chất lượng sức lao động Cơ chế tạo việc làm đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của 3 phía: người chủ sử  dụng lao động, người lao động và Nhà nước. Do đó, nhân tố có ảnh hưởng quyết   định đến tạo việc làm cho người lao động là sức lao động trên hai phương diện  số lượng và chất lượng. Nhân tố này bao gồm những đòi hỏi mà người lao động   cần phải có để đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động.  Trong bối cảnh của một nước đang phát triển như  Việt Nam, vấn đề  quan  trọng nhất là chất lượng sức lao động. Do đó, người lao động muốn kiếm được  việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp với năng lực, trình độ, cần  phải có các thông tin thị  trường lao động, biết các cơ  hội việc làm và đặc biệt  phải đầu tư cho sức lao động của mình, tức đầu tư vào vốn con người cả về thể  lực và trí lực.  Do đó, thông tin thị trường lao động giúp cho người lao động lựa chọn được  ngành nghề  mà thị  trường lao động đang cần và sẽ  cần trong tương lai để  thực  hiện đầu tư vào vốn con người có hiệu quả, chủ động tìm kiếm việc làm và nắm  bắt các cơ  hội việc làm. Mỗi người lao động cần tuỳ  thuộc vào điều kiện và  hoàn cảnh cụ  thể  của mình, tranh thủ  các nguồn tài trợ  (từ  gia đình và các tổ  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 7
  8. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động chức xã hội) để  tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng  cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của mình. Đó cũng chính là điều kiện cần  thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập và nâng cao vị thế của   bản thân mỗi người lao động. c. Cơ chế, chính sách kinh tế ­ xã hội ảnh hưởng đến tạo việc làm Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương, các  quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố rất quan trọng tạo việc làm cho   người  lao động. Trong mỗi thời kỳ  khác nhau, Chính phủ  quốc gia sẽ  đề  ra   những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện   đời sống, mở  rộng hoặc thu hẹp việc làm của lĩnh vực này, ngành này hay lĩnh  vực khác, ngành khác, tạo môi trường để người chủ sử dụng lao động và người  lao động gặp nhau.  Chính sách và cơ  chế  của Nhà nước cũng trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến   khích các chủ sử dụng lao động thu hút lao động đặc thù hay sa thải họ. Có thể  nói rằng nhóm nhân tố  này rất đa dạng, như các chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô  của Nhà nước chung hoặc theo ngành, lĩnh vực, vùng... và có ảnh hưởng lớn đến  tạo việc làm cho người lao động. Chẳng hạn, chính sách đổi mới kinh tế  trên  tầm vĩ mô, chuyển từ  kinh tế  kế  hoạch tập trung sang kinh tế  thị trường định  hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần... đã làm  thay đổi cơ cấu kinh tế. Do đó, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực  và theo vùng thay đổi không chỉ  về  số  lượng mà đặc biệt là về  chất lượng lao  động.  Với chủ  trương phát triển kinh tế  nhiều thành phần, bên cạnh kinh tế  nhà  nước, kinh tế  tập thể  thì thành phần kinh tế  có vốn đầu tư  nước ngoài, thành   phần kinh tế  cá thể, tư  bản tư  nhân cũng được khuyến khích phát triển đúng  hướng. Kết hợp và đan xen giữa sản xuất kinh doanh quy mô lớn, với quy mô  vừa, nhỏ và siêu nhỏ cùng phát triển, tạo động lực phát triển nhằm thoả mãn nhu  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 8
  9. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động cầu tiêu dùng trong nước và nhu cầu xuất khẩu tạo vốn cho tích luỹ mở rộng sản  xuất và cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường mối quan hệ  hợp tác quốc tế  giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.  Bộ  luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực từ  1/1/1995   với 198 điều đã tạo thành nền tảng cho khung khổ  pháp lý của thị  trường lao  động ở nước ta. Bộ luật Lao động được coi là công cụ pháp luật quan trọng nhất   để điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động,  đặt nền tảng cho việc hình thành thị trường lao động ở Việt Nam bằng việc công  nhận "Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ  người sử  dụng lao động   nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm." Điều 13 còn ghi rõ: "Giải quyết  việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả  năng lao động đều có cơ  hội có việc  làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội".  Tóm lại, cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, chính quyền địa phương   và việc áp dụng nó vào thực tiễn có tác động mạnh mẽ  đến cầu lao động của  doanh nghiệp, của thị trường lao động. Đến lượt nó trực tiếp tác động đến thái  độ, hành vi, cách ứng xử của chủ doanh nghiệp trong thu hút lao động. 2. Thất nghiệp 2.1. Khái niệm thất nghiệp a. Thất nghiệp là sự  mất việc làm hay là sự  tách rời sức lao động khỏi tư  liệu sản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử  đụng có hiệu quả.  Thất nghiệp và thiếu việc làm là vấn đề  bức xúc cho các nước đang phát  triển. Theo thống kê, thất nghiệp công khai ở thành thị một số nước nghèo chiếm  từ  10 đến 20% lực lượng lao  động; kết hợp với số  thiếu việc làm bán thất  nghiệp, tỷ lệ này đạt mức 29% đối với tất cả các nước đang phát triển; trong đó,  riêng châu Phi là 38%. b.Người thất nghiệp Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 9
  10. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Có rất nhiều quan điểm khác nhau về người thất nghiệp. Người thất nghiệp  gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có   việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm và có nhu cầu được làm việc. Tiêu  thức để xác định người thất nghiệp là đang không có việc làm, tích cực tìm kiếm   việc làm và có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc. Theo P.A.Samuenlson và W.D.Nordhaus, người thất nghiệp là người không  có việc làm được trả công, và đang có những cố gắng cụ thể để đi tìm một công  việc trong 4 tuần qua, hoặc bị cho thôi việc nhưng đang chờ  được gọi làm việc  trở lại, hoặc đang chờ đợi đi làm trong tháng tới.  Ở  Việt Nam, để  thống nhất trong điều tra lao động ­ việc làm được tiến   hành hàng năm từ  1996 đến nay, Bộ  Lao động TBXH quy định:  “Người thất   nghiệp là những người đủ  từ  15 tuổi trở  lên, có nhu cầu làm việc nhưng không   có việc làm trong tuần lễ  điều tra, tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc   trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với các lý do chờ   việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâụ,... hoặc trong tuần lễ trước điều tra   có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc" 2.2. Các chỉ tiêu  đo lường thất nghiệp a. Chỉ tiêu tuyệt đối Thông qua điều tra, người ta có thể  thu thập được số  liệu về  số  lượng  người thất nghiệp b. Chỉ tiêu tương đối Chỉ tiêu được sử dụng là tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm Soángöôø i thaá t nghieä p Tyûleä thaá t nghieä p= 100 Löïclöôïnglao ñoäng Soángöôøi thieá u vieä c laø m Tyûleä thieá u vieä c laø m= 100 Löïclöôïnglao ñoäng Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 10
  11. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Mặc dù tỷ  lệ  thất nghiệp và tỷ  lệ  thiếu việc làm được sử  dụng phản ánh  hiện tượng thất nghiệp, nhưng do có sự đánh giá khác nhau về người thất nghiệp  và mục đích nghiên cứu ở mỗi quốc gia, nên các tỷ lệ này được đo lường không   giống nhau. Ngoài ra, có thể tính tỷ lệ thất nghiệp theo các đặc trưng khác nhau,  như: ­ Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính: được tính bằng số người thất nghiệp nam  hoặc nữ giới trên tổng dân số nam hoặc nữ hoạt động kinh tế. ­ Tỷ lệ thất nghiệp theo nhóm tuổi: được tính bằng số người thất nghiệp  ở  độ  tuổi x hoặc nhóm tuổi (x, x+n) trên tổng dân số  hoạt động kinh tế  của tuổi  hoặc nhóm tuổi đó. ­ Tỷ  lệ  thất nghiệp theo trình độ  chuyên môn kỹ  thuật: được tính bằng số  người thất nghiệp của một trình độ  chuyên môn kỹ  thuật trên tổng dân số  hoạt   động kinh tế của trình độ chuyên môn kỹ thuật đó. ­ Tỷ  lệ  thất nghiệp theo vùng: được tính bằng số  người thất nghiệp của   một vùng trên tổng dân số hoạt động kinh tế của vùng đó. 2.3. Các hình thức thất nghiệp Để  hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề  thất nghiệp, ngoài số  người thất  nghiệp công khai ra phải tính đến một số  lớn những người khác có vẻ  là hoạt  động tích cực, nhưng xét theo ý nghĩa kinh tế  lại có hiệu suất sử  dụng thấp.  Edgar O. Edvvard  đã phân biệt năm hình thức khiếm dụng lao động (hay không   toàn dụng lao động) như sau: ­ Thất nghiệp chính thức (hay công khai). Hình thức thất nghiệp này gồm cả  thất  nghiệp tự  nguyện  và  không tự  nguyện.  Thất  nghiệp tự  nguyện là  hiện   tượng những người không chịu làm một số công việc mà họ có đủ khả năng làm,   chúng có ý nghĩa như một phương kế sinh nhai hơn là một công việc. Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 11
  12. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động ­ Bán thất nghiệp, bao gồm những người làm việc ít hơn mức mà mình  mong muốn (hàng ngày, hàng tuần hoặc theo từng mùa); có công ăn việc làm chỉ  là hình thức. ­ Thất nghiệp trá hình: loại hình này liên quan đến những người dành toàn  bộ  thời gian của mình cho một tổ  chức nào đó nhưng công việc họ  làm thực ra   không cần nhiều thời gian như vậy. Nếu như những người có việc làm công khai  chia nhau số công việc hiện có, thì tình trạng thất nghiệp trá hình sẽ  mất và bán   thất nghiệp sẽ trở nên rõ ràng hơn. ­ Thất nghiệp  ẩn, gồm những người tham gia vào các hoạt động phi lao  động, chủ  yếu vì không tìm được các cơ  hội công ăn việc làm với trình độ  học  vấn hiện có. ­ Những người về  hưu sớm: về hưu sớm (trước tuổi, khi các điều kiện về  hưu chưa đạt) có tác dụng như  một phương tiện tạo ra những cơ hội việc làm   cho những người khác. ­ Những người suy yếu, là những người có thể  vẫn làm trọn ngày công,  nhưng cường độ lao động có thể bị sút kém nghiêm trọng do suy dinh dưỡng hay   không được chăm lo y tế đầy đủ. ­ Những người làm việc không hiệu quả. Họ là những người có đủ năng lực  cần thiết cho công việc, nhưng lại phải vật lộn nhiều giờ  mà không có đủ  các   nguồn lực bổ trợ để biến những nỗ lực của họ thành sản phẩm cho cuộc sống. 2.4. Phân loại thất nghiệp Đối với hình thức thất nghiệp công khai, một số  nhà kinh tế  học đã phân  loại như sau: ­ Thất nghiệp tự nguyện, gồm những người có khả  năng được tuyển dụng  nhưng họ  chỉ  đi làm khi có mức lương cao hơn mức lương bình quân phổ  biển  của ngành nghề  mà họ  có năng lực trên thị  trường lao động (mức lương đang   thịnh hành). Một nền kinh tế  có thể  đang vận hành tốt nhưng vẫn tồn tại một  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 12
  13. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động lượng   thất   nghiệp   nhất   định.   Có   nhiều   nguyên   nhân   gây   ra   thất   nghiệp   tự  nguyện, có thể do người lao động thích nghỉ ngơi hay tham gia những hoạt động  khác hơn là làm việc tại mức lương hiện hành. ­ Thất nghiệp không tự nguyện, gồm những người muốn làm việc với mức  lương bình quân phổ biến của ngành nghề mà họ có năng lực trên thị trường lao  động nhưng họ  không được tuyển dụng. Điểm cơ  bản của cách tiếp cận này là   tiền lương không tự  điều chỉnh được cân bằng thị  trường lao động. Tiền lương  có xu hướng phản  ứng chậm hơn với những biến động lớn. Nếu tiền lương  không điều chỉnh để cân bẳng thị trường thì sẽ xuất hiện sự bất cập giữa những   người tìm việc và những vị trí công việc còn trống. Những bất cập này đưa đến  hình thái thất nghiệp không tự nguyện. ­ Thất nghiệp tạm thời, phát sinh do sự  di chuyển không ngừng của con  người giữa các khu vực địa lý, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của  cuộc sống. Thất nghiệp tạm thời luôn tồn tại thậm chí ngay trong những nền   kinh tế có đầy đủ công ăn việc làm, do vẫn luôn có một số chuyển động nào đó   khi người ta đi tìm việc làm sau tốt nghiệp các trường, hoặc chuyển đến nơi  ở  mới, hoặc phụ nữ quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con. Thẩt nghiệp tạm  thời thường do chuyển nơi làm việc hoặc tìm kiếm những công việc tốt hơn,  thường là thất nghiệp tự nguyện. ­ Thất nghiệp cơ  cấu, gồm những người không có việc làm khi tay nghề  hoặc kỹ năng làm việc của họ không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các ngành  nghề đang cần lao động, tức là ngành nghề hoặc kỹ năng của họ không còn phù  hợp với nhu cầu tuyển dụng trên thị trường lao động nữa. Theo lý thuyết kinh tế  học của David Begg và các đồng tác giả Stanley Fischer, Rudiger Dombusch, thất  nghiệp cơ  cấu xuất hiện do không có sự  đồng bộ  giữa tay nghề  và cơ  hội có  việc làm khi nhu cầu và sản xuất thay đổi. Đây là loại hình thất nghiêp luôn làm   Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 13
  14. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động nhiều người lo lắng và chiếm nhiều thời gian thảo luận nhất của các nhà lập   chính sách. ­ Thất nghiệp chu kỳ, gắn với chu kỳ của ngành và của nền kinh tế, gồm   những người có nhu cầu làm việc với mức lương thịnh hành nhưng không tìm  được việc do mức cầu chung về  lao động của ngành và của nền kinh tế  thấp.   Tình trạng thất nghiệp tăng lên ở hầu hết các vùng là dấu hiệu của thất nghiệp   chu kỳ. ­ Thất nghiệp do thiếu cầu, là thất nghiệp theo lý thuyết của Keynes, khi  tổng cầu giảm mà tiền lương và giá cả  chưa kịp điều chỉnh để  phục hồi mức  toàn dụng lao động. ­ Thất nghiệp chuyển tiếp hay thất nghiệp thiếu thông tin, là thất nghiệp  nảy sinh do cả người lao động và người sử  dụng lao động đều cần có thời gian  để tìm kiếm và xừ lý thông tin về việc thuê lao động hoặc làm thuê. ­ Thất nghiệp mùa vụ, thường xảy ra với các công việc mang tính chất thời  vụ như nghề thu lượm hoa trái, xây dựng... và thường dễ dự đoán trước, Trong bất kỳ  quốc gia nào, luôn tồn tại một lượng thất nghiệp nhất định,  ngay trong tình trạng được đánh giá là toàn dụng lao động. Đó là mức độ  thất   nghiệp tối thiểu phải chấp nhận, được gọi là tỷ  lệ  thất nghiệp tự  nhiên. Giảm  thất nghiệp đến mức độ  tối thiểu là có thể  xem như  thành công trong mục tiêu  toàn dụng lao động.  Tỷ  lệ  thất nghiệp tự  nhiên tồn tại vì những nguyên nhân khách quan, như  luôn tồn tại một lượng lao động, thực sự  không muốn làm việc và có những lao  động chấp nhận thất nghiệp tạm thời để  tìm cơ  hội có việc làm khác với mức   lương cao hơn vì không hài lòng với thu nhập hiện tại; nhiều lao động không  nâng cao tay nghề, bị đào thải, đang chờ  xin việc khác hoặc phải học lại nghề;  lao động đang chờ  phân công do chuyển việc; lao động làm việc một phần thời  gian; lao động thất nghiệp vào những thời điểm nông nhàn ở nông thôn.  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 14
  15. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Trên thực tế, nhóm nhất nghịêp tự nhiên này cũng có những giá trị ở phương   diện khác. Họ là nguồn nhân lực dự trữ cho quốc gia khi cần phải sản xuất vượt   tiềm năng vì lý do này hay khác; họ  cũng là đối trọng để  giữ  cân bằng tiền   lương, không làm lương bổng tăng vọt và bất hợp lý mỗi khi thị trường lao động  khan hiếm.  3. Thực trạng việc làm và thất nghiệp ở Việt nam Ngày 10 tháng 11 năm 2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban  hành Quyết định số  1287/QĐ­TCTK về  Điều tra lao động việc làm năm 2015.  Mục đích của cuộc điều tra nhằm thu thập các thông tin về  tình trạng tham gia   thị trường lao động năm 2015 của những người từ 15 tuổi trở lên hiện đang sống   tại Việt Nam làm cơ sở tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về lao   động, việc làm, thất nghiệp và thu nhập của người lao động. Các kết quả chủ yếu về việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam được tóm   tắt như sau: 1. Lực lượng lao động trung bình cả  nước năm 2015 là 53,984 triệu người,   tăng so với năm trước 236 nghìn người (0,4%). Lực lượng lao động bao gồm 52,8   triệu người có việc làm và hơn 1 triệu người thất nghiệp. 2. Lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 68,7%. 3. Năm 2015, có hơn ba phần tư  (chiếm 77,8%) dân số  từ  15 tuổi trở  lên  tham gia lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng  kể giữa nam và nữ và không đồng đều giữa các vùng. Tỷ  lệ  tham gia lực lượng   lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị. 4. Lực lượng lao động thanh niên (15­24 tuổi) cả  nước chiếm 14,8% tổng   lực lượng lao động, tương đương với hơn 8 triệu người. Tỷ trọng nữ thanh niên   tham gia hoạt động kinh tế đều thấp hơn nam theo thành thị nông thôn và 6 vùng  kinh tế­ xã hội. Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 15
  16. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động 5. Cả  nước chỉ  có khoảng 10,5 triệu người có việc làm, tương  ứng với   19,9%, đã được đào tạo. Có sự  chênh lệch đáng kể  về  tỷ  lệ  lao động đang làm  việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 23,7 điểm  phần trăm. 6. So với năm 2009, tỷ  trọng của nhóm làm công ăn lương tăng 5,9 điểm   phần trăm, chiếm hơn một phần ba tổng số lao động đang làm việc. Trong nhóm  lao động gia đình, lao động nữ  vẫn chiếm vai trò chủ  đạo (chiếm 65,7%). Tỷ  trọng lao động tự làm và lao động gia đình chiếm tới 57,8%, cao gần gấp rưỡi so   với tỷ  trọng người làm công ăn lương. Đáng chú ý, tỷ  trọng lao động tự  làm và  lao động gia đình của nữ cao hơn nam 11,8 điểm phần trăm. 7. Tỷ trọng người làm công ăn lương trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm   35,3% trong tổng số người có việc làm. Tỷ  trọng này của khu vực thành thị  cao   gấp hơn hai lần của khu vực nông thôn (55,2% so với 26,3%). 8. Thu nhập từ việc làm bình quân/tháng năm 2015 của lao động làm công ăn  lương là 4,7 triệu đồng/tháng. Nam giới có thu nhập từ việc làm bình quân/tháng  cao hơn 10,1% so với nữ giới.  9. Khoảng 41,3% lao động làm từ 40­48 giờ/tuần và con số đáng lo ngại đó  là có tới 35,8% lao động làm việc trên 48 giờ  một tuần. Số  lao động làm việc   dưới 20 giờ/tuần chiếm tỷ  trọng rất thấp (4,1%). Tỷ  trọng lao  động làm việc   dưới 35 giờ/tuần là 16,2%; 10. Tỷ lệ  lao động làm công ăn lương không có hợp đồng lao động của nữ  thấp hơn của nam và của nông thôn cao hơn thành thị. Tỷ  trọng lao động từ  60  tuổi trở lên làm việc không có hợp đồng lao động là cao nhất (17,8%). Tỷ lệ này  cao nhất  ở  vùng Đồng bằng sông Cửu Long (11,1%) và thấp nhất ở  vùng Đồng  bằng sông Hồng (5,2%). 11. Năm 2015, cả  nước có 1,14 triệu người thất nghiệp; trong đó khu vực   thành thị chiếm 46,9% và số nữ chiếm 45,2% tổng số người thất nghiệp. Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 16
  17. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động 12. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động (nam từ 15­59 tuổi và nữ từ 15­ 54 tuổi) của Việt Nam năm 2015 là 2,33%, trong đó ở khu vực thành thị là 3,37%,  khu vực nông thôn là 1,82%. 13. Số  thất nghiệp của thanh niên 15­24 tuổi chiếm 49,2% tổng số  người   thất nghiệp. Năm 2015, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên cao hơn gần 5,4 lần so   với tỷ  lệ  thất nghiệp của những người từ 25 tuổi trở lên. Xu hướng chung của   cả nước tỷ lệ thất nghiệp của nữ thanh niên cao hơn của nam thanh niên. Hiện là  7,3% so với 6,8% (2015). 14. Cả nước có khoảng 15,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động  kinh tế, chiếm gần 1/4 tổng dân số cùng nhóm tuổi, trong đó phần lớn (88,3%) là  chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. PHẦN 2 Phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay. I. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1. Việc làm Biểu 2 chỉ ra sự phân bố của nhóm lao động có việc làm và tỷ số việc  làm trên dân số  15 + chia theo giới tính và 8 vùng lấy mẫu (bao gồm 6 vùng  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 17
  18. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động kinh tế ­xã hội và 2 thành phố  lớn) của Quý 1 năm 2016. Trong tổng số 53,3  triệu lao động có việc làm của cả  nước, lao động khu vực nông thôn chiếm  khoảng  68,3%  (tương  ứng khoảng 36,4 triệu người) và lao động nữ  chiếm  khoảng 48,3% (tương ứng 25,7 triệu người). So sánh giữa các vùng kinh tế xã  hội, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ  và Duyên hải miền Trung hiện  là hai vùng đang chiếm giữ thị  phần lao động có việc làm lớn nhất cả nước  (đã chiếm tới gần ½ tổng số lao động có việc của cả nước đạt 21,9 và 21,8%  theo   tuần   tự),   tiếp   theo   là   Đồng   bằng   sông   Cửu   Long   và   Đông  Nam   bộ  (19,0% và 17,0% theo tuần tự). Biểu 2: Tỷ trọng lao động có việc làm và tỷ số việc làm trên dân số theo  thành thị/nông thôn và vùng kinh tế xã hội, Quý 1 năm 2016 Đơn vị tính: Phần trăm Tỷ số việc làm trên Tỷ trọng lao động có việc làm Dân số Đặc trưng cơ bản %  Chung Nam Nữ Chung Nam Nữ Nữ Cả nước                                          100,0  100,0     100,0       48,3        75,9      80,871,3 Thành thị                                          31,7    31,7       31,6       48,2        69,0      75,0       63,5 Nông thôn                                         68,3    68,3       68,4       48,4        79,7      83,875,7 Các vùng Trung du và miền núi phía Bắc        13,8    13,4       14,3       50,0        83,6      85,5       81,8 Đồng bằng sông Hồng                      21,9    20,8       23,0       50,8        73,2      75,3       71,4 Trong đó:Hà Nội                               7,0      6,8         7,2       49,8        68,6      71,2       66,1 Bắc Trung bộ và Duyên hải 21,8    21,3       22,2       49,4        77,2      80,873,9 miền Trung                                        TâyNguyên                                        6,5      6,7         6,3       47,1        83,6      88,2       79,0 Đông Nam bộ                                   17,0    17,3       16,6       47,2        71,7      79,1       65,0 Trong đó:Tp Hồ Chí Minh                8,1      8,3         7,9       47,1        67,3      75,7       59,8 Đồng bằng sông Cửu Long              19,0    20,5       17,5       44,4        74,3      83,5       65,3 Cụ  thể, Quý 1 năm 2016  số  lao   động có việc làm  ước tính đạt 53,3  triệu người, tăng thêm khoảng 900 nghìn lao động (hay  tăng 1,6%) so  với  Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 18
  19. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động cùng kỳ năm 2015 và giảm khoảng 200 nghìn lao động (tương đương –0.4%)  nếu so với quý 4 năm 2015. So với quý 4 năm 2015,  tỷ  số  việc làm trên  dân  số  15 +  cũng giảm  khoảng 1,4 điểm phần trăm. Tỷ  số việc làm trên dân số 15 + của Quý 1 năm  2016 đạt 75,9%. Chênh lệch về  tỷ  số  việc làm giữa thành thị  và nông  thôn  cũng như  giữa nam và nữ  vẫn còn tồn tại (10,7 và 9,5 điểm phần trăm). Số  liệu phân tách theo vùng cho thấy, 2 vùng miền núi là Trung du và miền núi  phía Bắc và Tây Nguyên vẫn là vùng có tỷ  số  việc làm trên dân số  cao nhất  (cùng đạt 83,6%). Trong khi tỷ  số  này thấp nhất  ở 2 Vùng  Đồng bằng sông  Hồng và Đông Nam bộ ­ nơi có 2 trung tâm phát triển kinh tế  xã hội lớn nhất  của cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 73,2% và 71,7%). Biểu 3: Phân bố phần trăm lao động có việc làm theo nhóm ngành kinh  tế và khu vực kinh tế, Quý 1 năm 2016 Đơn vị tính: Phần trăm Nhóm ngành kinh tế Khu vực kinh tế Nông,  Lâm Công  Đặc trưng cơ bản nghiệp  nghiệp và  Ngoài  Vốn  Nhà  và Dịch vụ nước Nhà  nước  Xây Thủy  nước ngoài dự n g sản Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 19
  20. Tiểu luận môn học: Kinh tế học lao động Cả nước                                           42,3            24,4         33,2           10,1           85,5           4,4 Thành thị                                         12,0            29,6         58,4           18,2           75,3           6,5 Nông thôn                                        56,4            22,1         21,66,3           90,2           3,5 Giới tính Nam                                                 40,9            27,9         31,2           10,1           87,1           2,8 Nữ                                                    43,920,8         35,4           10,0           83,8           6,2 Các vùng Trung du và miền núi phía Bắc       64,5            15,1         20,4             9,3           88,1           2,6 Đồng bằng sông Hồng                     30,131,9         38,0           13,3           82,3           4,4 Trong đó:Hà Nội                            17,2            28,4         54,4           20,4           76,1           3,5 Bắc Trung Bộ và Duyên  hải            49,219,9         30,9             9,8           88,9           1,3 Tây Nguyên                                     72,4              7,4         20,2             7,9           91,9           0,3 Đông Nam Bộ                                   13,1            40,0         46,8           10,9           75,1         13,9 Trong  đó:Tp Hồ ChíMinh               1,9            37,8         60,2           13,5           79,0           7,6 Đồng bằng sông Cửu  Long             48,0            19,8         32,1             7,2           90,5           2,3 Hình 2 chỉ  ra tỷ  trọng lao động có việc làm giữa các nhóm ngành kinh  tế cho từng vùng lấy mẫu. Số liệu cho thấy, Đông Nam bộ, đặc biệt là thành  phố Hồ Chí Minh có cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng hiện đại nhất, với  tỷ  trọng lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ  chiếm  ưu thế  và hiện  đang tiếp tục tăng (chiếm khoảng 98% tổng số  lao  động đang làm việc của thành phố). Ở các khu vực miền núi và ven biển, tỷ  trọng lao động làm việc trong khu vực "Nông, lâm nghiệp và thuỷ  sản" còn  khá cao.  Tây  Nguyên hiện vẫn  là vùng có  tỷ  trọng lao động làm việc  trong  khu vực “Nông, lâm nghiệp và thủy sản” cao nhất (72,4%), tiếp theo là Trung  du và miền núi phía Bắc(64,5%). Học viên: Dương Thị Thu Hà – K32G Page 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2