Trang 1
BGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC T
ĐỀ TÀI:
Asia Confronts the Impossible Trinity
Ila Patnaik and Ajay Shah
GVHD: TS. NGUYN KHC QUC BẢO
LỚP: CHNH ĐÊM 2
DANH SÁCH NHÓM
1. Lê Ngọc Thanh Thảo
2. Trn Công Danh
3. Nguyễn Lâm Phú
4. Trn Thị Tuyết Nga
Tp Hồ Chí Minh, tháng 6/2013
Trang 2
Tóm tắt
Trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ xem xét v tự do hoá dòng vn và chế đ tỷ giá
hối đoái linh hoạt của 11 nền kinh tế Châu Á (Asia 11). Châu Á đã làm chậm tiến
trình hội nhp tài chính v mặt pháp lý, tuy nhiên, trên thực tế thì quá trình này xảy ra
nhanh hơn. Trong khi đó, hầu hếtc nước Châu Á đều sử dng chế đ t giá cố đnh,
thì trên thực tế lại có một sgia tăng mt cách chậm rãi v tính linh hoạt ca t giá.
Trên thực tế, s kết hợp ca quá trình này, hội nhp tài chính mà không có s linh
hot lớn trong chế đ t giá đã dẫn đến mt chính sách tiền t thuận chu k
(procyclical), khi dòng vốn thun chu k. Bài nghiên cứu này nhn mạnh v scần
thiết của khuôn khổ chính sách tin tệ phù hợp.
1. Giới thiệu
Toàn cầu hóa một mặt mang lại nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển, nhưng
mặt khác ng đặt các quốc gia vào những thử thách lớn trong việc thực thi chính
sách vĩ mô. Một trong số ấy là “B ba bất khả thi”. Trên quan điểm của B ba bất kh
thi, mt quốc gia chỉ thể đạt được hai điều sau tại bất kỳ thời gian nhất đnh: dòng
vốn di chuyển tdo, t giá hối đi cố đnh, và một chính sách tiền tệ đc lập. Đây
tht slà một tch thức với các nền kinh tế mới nổi Châu Á, khi việc hi nhp sâu
ngày ng mạnh mẽ, các nước nàyng như buộc phải đluồng vn chu chuyển t
do nhằm phục vụ nhu cầu thu hút vốn để phát triển, tuy nhiên các ớc này cũng
muốn thc thi chính sách tgiá cố định nhằm đảm bảo chính sách ngoại thương. Hai
điều trên chắc chn sẽ khiến quốc gia gặp khó khăn trong việc thực thi chính sách tiền
tệ độc lập.
Ngoại trừ các nước Châu Âu, các nước phát triển nht mt dòng vn di
chuyển tự do, tỷ giá hối đoái thả ni, và mt chính sách tiền tđc lập. Ở châu Á, ví
dnhư Hồng ng, Trung Quốc mt t giá hối đoái cố định, mt dòng vốn di
chuyển tự do, và chính sách tin tệ không độc lp. Tuy nhiên, nhìn chung c nn
kinh tế châu Á không có khung chính sách tiền t xác định , với hầu hết là skết hợp
giữ kim soát vn và t giá hối đoái thiếu linh hoạt. Điều này đt ra câu hỏi thú vị v
Trang 3
sđiều hành của Nhà nước hiện tại vmt chính sách tiền tệ khthi Cu Á, và
nhn mạnh sự cần thiết của một khung chính sách tiền tệ phù hợp.
Bài báo này tập trung vào 11 nền kinh tế lớn châu Á: n Độ, Cng hòa Nhân
n Trung Hoa (PRC), Hng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Trung Quc, Singapore,
Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Việt Nam và Hàn Quốc. Đây là mt nhóm
rất kng đồng nhất, từ thành ph-quốc gia như Singapore đến gã khng l như Trung
Quốc và c nền kinh tế nghèo như Ấn Độ đến c nền kinh tế giàu có như Đài Bắc-
Trung Quốc hay Hàn Quốc. Gi chung là các nền kinh tế như khu vc châu Á-11.
Phạm vi nghiên cứu: Tiến hành điều tra tại khu vực Asia - 11 đứng trênc d đ
của bộ ba bất khả thi: kiểm st vn, chế đ tỷ giá hi đoái, và chính sách tin tệ đc
lập. Cng ta có được số liệu thống kê tóm tt cho mười một nn kinh tế, và cũng tp
trung vào ba nn kinh tế lớn nhất: Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quc.
K từ khi các quốc gia thất bại vì không làm được những gì mình nói, bài viết
y tập trung vào thc tế hơn là kiểm soát vốn, chế đ tgiá kiểm st, và các
khuôn khổ chính sách tiền tệ. Cụ thể hơn, tác gitập trung vào thc tế điều kiện cho
tdo hoá dòng vốn tgiá hối đoái linh hoạt, và nhng ảnh hưởng của chúng đi
với chính sách tiền tệ được đo lường bằng lãi sut thc ngắn hạn.
2. Tổng quanc nghiên cứu trước đây
Trong bài nghiên cứu 2008 thành tựu mà Aizenman, Chinn và Ito đạt được v
bba bt khả thi. Menzie D. Chinn và Hiro Ito đã phát triển 3 thước đo để đánh giá
mức độ độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhp tài chính. Và dựa trên 3 thước đo đó
đ tìm hiểu về sphát triển theo thời gian của từng ch số, cũng như cu trúc mẫu
hình bộ ba bất khả thi sẽ thay đổi như thế nào sau mi s kiện liên quan đến nền kinh
tế tài chính toàn cu. Một điểm nổi bật khác của bài nghiên cứu đó là lần đầu tiên mi
quan hệ tuyến tính giữa các chính sách vĩ mô được Aizenman, Chinn và Ito xem xét
một cách nghiêm c, từ đó đưa ra kết luận một cách chắc chắn v s đánh đổi là bắt
buộc. Tiếp theo đó, từ các bng chng thc nghiệm, Aizenman, Chinn và Ito đã vạch
ra một con đường mới cho chính phủ các c đang phát triển trong việc lựa chọn
mẫu hình bộ ba bất khả thi. Họ thấy rằng c nước đang phát triển, đặc biệt nước mới
Trang 4
nổi đã thể hiện một xu hướng mới khi đạt tới trạng thái trung gian giữa ba chính sách
mục tiêu: hội nhập tài chính nhưng không quên kiểm soát vốn, độc lập tiền tệ vừa
phải, và cơ chế tỷ giá biến động trong mt biên đ mc tiêu cho phép bằng ch tăng
cường kho d trữ ngoại hi như một công cụ đ quản lý t giá. Cuối cùng, bài nghiên
cứu này cũng cho thấy mt stiến b hơn khi Aizenman, Chinn và Ito xem xét đến
những nguyên nhân tại sao mt quc gia lại lựa chọn con đường này mà không phải
con đưng phát triển nào khác, tức động cơ dẫn đến quyết đnh mẫu hình bba bất
khả thi ở mỗi quốc gia. Bằng cách kim định sự tác đng của chính sách b ba bất khả
thi đến các biến hiệu suất mô của nền kinh tế, cụ thể là biến động sản lượng, biến
động lạm phát và tỷ lệ lm phát trung hạn.
Đồng thời, dựa trên các lập luận của c giả vviệc đưa thêm nhân tố dự trữ
ngoại hối và xem xét nhiều i liệu liên quan chúng tôi đưa ra phân tích v3 vn đề:
một là, tính lch scủa việc gia ng dự trữ ngoại hối và mẫu hình trung gian ca bộ
ba bất khả thi c quốc gia đang phát triển; hai là, vai trò ca d trữ ngoại hối trong
việc lựa chọn bộ ba bất khả thi đối với nền kinh tế mở; cuối cùng, là phân tích chi phí
lợi ích của việc nắm gidự trữ ngoại hối nhằm đánh giá sơ b đ bn ca mẫu
hình kim cương.
Trong thời kì mà lm phát đang trở thành vn đề nhc nhối, nht là ở cácớc
đang phát triển thì chính sách lạm phát mc tiêu thể là mt lựa chn tt.
3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
3.1 Mô hình quản lý kiểm soát vốn : sdữ liệu Chinn-Ito
Sử dụng phân tích thành phần chính, Chinn Ito (2008) đã xây dựng mt
sở dữ liệu kiểm soát vốn dựa trên thông tin được cung cấp bởi các nền kinh tế đến
sở dữ liệu AREAR Qu Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cơ sở dữ liệu xác đnh một điểm hàng
m cho mỗi nền kinh tế, với c giá trị khác nhau, t -1.81 với các tài khoản vốn
hoàn toàn đóng cửa, đến 2,53 cho nhng nền kinh tế tự do hóa hoàn toàn.
Mặc dùsở dữ liệu thường được sử dụng để phân tích viêc kim soát vn hợp pháp,
có những hạn chế nhất định. Đầu tiên, không phản ánh được hết việc nới lỏng
dần kiểm st vốn, tiếp tục sẽ cung cấp nhng chỉ s tương tự nếu các điều kiện
Trang 5
không đưc loại bỏ. Thứ hai, ch s tăng đáng kể ở hầu hết các nước công nghip lớn
trong những năm gn đây, khi h giới thiệu c bin pháp liên quan đến phòng chống
rửa tiền, tài trợ chống khủng b.....
Hình 1: Tỷ trọng của đo ờng theo chỉ s Chinn-Ito trên tất cả các nền kinh tế:
Năm 1970 và 2007
Biểu đồ này cho thấy mật độ phân b các ch s theo phươg pháp đo lường
Chinn-Ito trong việc hợp pháp đ mcủa tài khon vốn trong tt cả c nn kinh tế.
Các line màu xanh màu đ cho thấy các điu kiện trongm 1970 và 2007. Chai
phân phối là hai đnh, với nhóm các nn kinh tế m và mt nhóm các nền kinh tế
đóng cửa. Hiện đã có một sthay đổi đáng k trong xác suất tbên trái (ch yếu là
đóng cửa) đến phần bên phải (ch yếu là mở). Biểu đ này cho chúng ta mt khung
tham khảo để giải thích thông tin từ cơ sở dữ liệu Chinn-Ito.
Cơ sdữ liệu Chinn-Ito cho thấy rằng trong nhng năm qua, hu hết các quc
gia trên thê giới đã nới lỏng việc kim soát tài khoản vốn. nh 1 cho thấy mật độ các
điểm của phương pháp Chinn-Ito của các nền kinh tế cho năm 1970 và m 2007.
Trong c hai m, mật độ là hai đnh, gm mt nhóm các nền kinh tế với các tài
khoản vn m một nhóm các nn kinh tế với i khoản vốn đóng . Điều này th
hiện một sự thay đổi chung từ ch yếu là đóng cửa sang mở cửa