Tiu luận
Thánh địa Mỹ Sơn
Thánh địa MSơn ta lạc trong một thung lũng đường kính khoảng 2km, ta độ 15046’ vĩ
Bắc và 108007’ kinh Đông, được bao quanh bởi đồi núi, ở gần làng Mỹ Sơn, tổng An Hòa, huyện
Duy Xuyên (nay thuc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), ch thành phĐà
Nẵng khoảng 70km về phía tây nam; cách thành c Trà Kiu khoảng 20km về phía tây.. Nơi đây
từng là địa điểm mà các vương triều Champa tổ chức các nghi lễ cúng tế thần linh và các vị thần-
vua của người Chăm.
Quá trình hình thành Thánh địa Mỹ Sơn
Thánh đa Mỹ Sơn được mt toán lính Pháp tình cphát hiện vào năm 1885. Mười năm sau
(1895), Camille Paris đến đây nghiên cứu và ông đã cho phát quang, dọn dẹp khu di tích này.
Đến năm 1898 - 1899, hai nhà khoa học người Pháp là Louis Finot và Lunet de Lajonquière đã
đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia. Năm 1901 - 1902, kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ học người
Pháp Henri Parmentier thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (École française d'Extrême-
Orient, viết tắt EFEO) đến đo đạc và nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của Mỹ n.
Trong hai năm (1903 - 1904), Henri Parmentier cùng với Charles Carpeaux đã t chức khai quật
kho cổ học tại đây. Ðến năm 1904, những tài liu bản nhất để tìm hiểu về văn bia và ngh
thut của Mỹ Sơn được Louis Finot và Henri Parmentier ng b trên đặc san nghiên cứu của
Trường Viễn Ðông Bác Cổ Pháp (Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient), số 4/1904.
Trên đặc san này, Louis Finot đã công bbn dịch ra tiếng Pháp 25 văn bia tìm thấy tại Mỹ Sơn
niên đại tcuối thế k thứ IV đến thế k thứ XIII, không kể hàng tm mảnh vỡ của những
bia ký bị đập phá. Còn Henri Parmentier đã kiểm được khoảng 68 dấu tích và ng trình kiến
trúc, ông chia thành từng nhóm tA, B.... đến M, N. Một s tác phẩm điêu khắc nổi bật tại M
Sơn được đưa về trưng bày ti Bảo tàng Ðiêu khc Chăm Ðà Nng, số khác và phần lớn các bia
ký đều được được bảo quản và trưng bày ti chỗ.
Qua những văn bia tìm thấy được, phần nào đã cho chúng ta biết về quá trình hình thành các đn
tp Champa tại Mn. Theo ni dung của mt tấm bia niên đại thế kỷ thứ IV tại Mỹ Sơn
cho biết, vua Bhadravarman đã cho xây dng tại đây một ngôi đền bằng gỗ để thờ Linga của
thn Siva-Bhadresvara. Văn bia đoạn: “Ngài đã cúng dâng cho thần Bhadresvara một khu
vực vĩnh viễn, phía đông là núi Sulaha, phía nam núi Mahaparvata, phía tây núi Kusala,
phía bắc là núi… làm ranh giới. Ngài cúng dâng cho thần tất cả ruộng đất và dân cư trong phạm
vi đó, hoa lợi phải được dâng cúng cho thần,…”3. Hai thế ksau, dưới triều vua Rudrsvarman,
tại đây đã xảy ra hỏa hoạn ngôi đền này b thiêu trụi, sau đó được vị vua kế vị là
Sambhuvarman ki phục lại. lẽ, những triều vua kế tiếp đã cho dựng thêm những kiến trúc
đền tháp khác, nhưng cũng được làm bằng gỗ, mãi đến thế kỷ thứ VII - VIII t mi chuyển sang
xây dng bằng các chất liệu bền vững như gạch, đá, là thchất liệu quý để ng dâng thần linh
do ảnh hưởng các đền thờ ở miền Nam Ấn Ðộ.
Dưới triều đại của hai vị vua Vikrantavarman I và Vikrantavarman II (629 - 757), ti Mỹ Sơn, v
thn-vua Bhadresvara vẫn được chú ý đặc biệt. Ngoài việc xây dựng thêm nhiều đền miếu tại M
Sơn, vua Vikrantavarman I còn dâng cúng đất đai, kosa bằng kim loi quý để bọc Linga và nhiều
đồ quý khác cho thần Bhadresvara. Sau đó, do nhiều nguyên nhân, thdo sự hưng thịnh của
Phật giáo, suốt một thời gian dài, Mỹ Sơn và vị thần ở Mỹ Sơn không còn giữ vai trò là thánh địa
quc gia và v thần chủ của quốc gia. Phải đến đu thế k thứ X, do Siva giáo đã ly lại được vị
t chđạo trong đời sống vương quyền Champa nên Thánh địa Mỹ n được phục hồi. Phần
lớn nhng kiến trúc đẹp nhất, lớn nhất ở MSơn như tháp A1, nhiều kiến trúc của các nhóm B,
C, D, K, G, H,… đều được xây dựng vào thế kỷ thứ X. Nhưng sau đó, chiến tranh trin miên đã
tàn pMSơn, những ng trình kiến trúc như đền đài, tu viện, miếu mạo, làng mạc,… bị đổ
t. Những thế k sau đó, các vị vua kế vị đã ki phục lại Mn.
Vào năm 982, khi Hoàn đưa quân chinh phạt vùng Amaravati, Lưu Kỳ ng là một viên
tướng của Hoàn đã chng lnh vua Lê, lại Amaravati tự xưng vương thực thi những
chính sách cực kỳ hà khắc, cùng nhng hành động cố tình hủy diệt văn hóa bản địa nên phần lớn
đền đài ở Mn bị đập phá, hầu hết các bia ký có niên đại thế k thứ VIII - X đều bị đục xóa.
Vào khoảng năm 1000, vua Yang Pu Sri Vijaya đã di trung tâm của vương quốc vào vùng
Vijaya (thuộc tỉnh Bình Ðịnh ny nay). Năm 1074, vua Harivarman lên ni đã kiến tạo li
vùng Amaravati sau những m tháng chiến tranh. Vvua y đã cho trùng tu tt cả đền đài
Mn, xây dựng lại những đô thị, làng mạc... bị tàn phá. Những ngôi đền quan trng như B1
E4 đều được trùng tu xây dng dưới triều đại của vua Harivarman. Ðến thời vua Jaya
Harivarman,4 ông đã cho dựng Mỹ n một quần thể kiến trúc quan trọng để thờ thần
Harivarman cha mẹ ông trên mt ngọn đồi nhỏ văn bia gi là núi Vugvan (nghĩa là Hoàn
Vũ) tức nhóm tháp G ngày nay. Bia ký của vua Paramesvaravarman, khoảng năm 1234, phát
hiện gần ngôi đền chính B1, cho biết ông là vị vua cuối cùng tu sửa và dâng cúng lvật vào ngôi
đền này, sau ông không còn tìm thy n bia nào khác đây.
Như vậy, thể vào khoảng cuối thế kỷ thứ XIII, MSơn đã bbỏ phế vì khi ấy những vương
triều ở miền Amaravati đã quá suy yếu. Trong khi đó, tiểu quốc Vijaya vùng Bình Ðịnh giữ vai
ttrung tâm của vương quốc cho nên những đền tháp quy mô đều được tập trung xây dựng
đó.
Vị thế Thánh địa Mỹ Sơn
Truyền thuyết kể rằng, vương quốc Champa xưa được tr vì bởi hai giòng tc là Cau Dừa.
Giòng Cau (trống) trị vì ở phần lãnh thphía bắc gồm: Indrapura (nay là vùng đất thuộc các tnh
Quảng Bình, Qung Tr, Thừa Thiên Huế), Amaravati (Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi) và
Vijaya (Bình Định, P Yên). Còn giòng Dừa (mái) tr vì phần lãnh th phía nam gồm:
Kauthara (Khánh Hòa), Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận).
Cũng như các tín ngưỡng cổ Đông Nam Á, tín ngưỡng cổ truyền của cư dân Champa theo
thuyết vũ trụ lưỡng nghi: Mái-Trng/ Mẹ-Cha/ Biển-Núi/ Dừa-Cau,… và đã dung hợp với những
n giáo được du nhập t Ấn Độ như Ấn giáo, Phật giáo để trthành tín ngưỡng chính của
những vương triều Champa. Theo đó, Mỹ Sơn thánh đô phương bắc thờ thần
Bhadresvara/Cha/Núi/Cau. Còn tháp Pônagar (thành phNha Trang hiện nay), thánh đô
phương Nam th nữ thần Bhavagati/Yang IPô Nagar/Mẹ/Bin/Dừa. Vì thế, Mỹ Sơn được
chn để xây dựng các công trình kiến trúc tín ngưỡng nằm sâu trong thung ng núi cao bao
bọc, còn Pônagar được xây dựng trên một ngọn đồi cao ở ven sông, sát cửa biển.1
V thế của những đn tháp Champa giữa thung lũng Mỹ Sơn được các nhà nghiên cứu trong
nước và quốc tế nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau. GS. Xinxắc, nguyên Chnhiệm bộ n
Kho cổ học của trường Đại học Silpakor (Bangkok, Thái Lan), cho rằng: ti i người ta
gọi núi Răng Mèo hay núi Chúa thánh địa Mỹ Sơn theo La Môn giáo chính một
Lingaparavata hay Lingabanpote (Linga: Dương vật thiêng, paravata banpote: núi) cm
xuống bồn địa MSơn được xem đại Yoni (Âm vật thiêng) với dòng sui (suối Thẻ) chảy
ngang bn địa được xem kYoni. Đấy chính là do địa - tâm linh - phồn thực khiến cư
dân Champa chn Mỹ Sơn làm Thánh địa.
Còn GS. Fukui Yayao, nguyên Vin trưởng Viện Đông Nam Á của Đại học Kyoto (Nhật Bản) và
cGS. Trần Quốc Vượng cho rằng: ngoài chức năng như giáo Xinxắc đã nêu trên, thánh địa
M Sơn còn mt chức năng khác, đó là chức năng giao lưu văn hóa - kinh tế - chính tr giữa
vương triều Champa và thlĩnh các tc người miền núi cao. Bởi Mỹ n mt bồn địa, có suối
chy qua, nơi tập trung nhiều loài trng, hàng năm, các thị tc, b tộc” đã liên kết với nhau
bủa vây quanh bồn địa này để săn thú. Thú săn được nhiều, họ quây quần quanh bếp lửa, làm tht
thú dưới suối, nướng trong lửa, tạo nên một lễ hội cộng đồng ẩm thực và cng cảm (gọi là lhội
Potlatch). Vậy lẽ trước khi thánh địa Champa, bồn địa MSơn đã trung tâm thiêng với
hi Potlatch của các tc người miền núi. Khi vương quốc Champa được thành lập, quốc vương
Champa đã biến i này thành thánh địa Bà La Môn giáo Phật giáo. Hàng năm, ngài cùng
đoàn tùy tùng đi hành hương đến đây cũng là nhằm phô trương thế lực, thanh thế xã hi tinh thần
với cư dân min núi. Dịp này, các thnh miền i tới tập hp, cống vua Champa sừng tê, ngà
voi, ngc thạch và các lâm thsản khác, và vua Champa “ban” lại cho họ lụa là, gm sứ, đồ thủy
tinh và các sn phẩm miền xuôi như muối, cá,… Đó cũng là một hình thức giao lưu kinh tế - văn
hóa giữa miền xuôi với miền ngược và là cách thức để các vị vua Champa pt huy thanh thế đối
với các thủ lĩnh miền núi.2
Kiến trúc nghệ thuật của Thánh địa Mỹ Sơn
Theo các ng trình nghiên cứu của Henri Parmentier thì Mỹ n hơn 70 ng trình kiến
trúc ông đã chia ra thành ba khu vực chính: khu tháp Chùa (khu A khu A1) 19 di tích;
khu tháp Ch(khu B, C, D) 27 di tích; khu tháp Bàn Cvà khu tháp HKhế (khu H) có 16 di
tích; khu G 5 di tích và các khu khác từ một đến vài di tích. Trong đó, khu tháp Chùa (A1)
được xem là đỉnh cao nghệ thuật của đền tháp Champa. Hiện ở Mỹ Sơn còn hiện diện khoảng 20
công trình kiến trúc, chỉ một s đền tháp ít bị hại, còn phần lớn chỉ lưu lại một mng tường
hoặc phần thân, hoặc những dấu tích của nền móng.
Mặc dù bị tàn phá và mất khá nhiều, nhưng Mỹ Sơn vẫn là mt khu di tích lịch sử, văn hóa, nghệ
thut Champa quan trng nhất. Theo Philippe Stern, mt học gi li lạc về nghệ thuật Ðông
Dương, quản thủ Bảo tàng Guimet tại Paris, thì nghthuật Champa phát trin liên tục theo các
phong cách kế tiếp nhau như sau: 1. Phong cách cổ; 2. Phong cách Hòa Lai; 3. Phong ch Đồng
Dương; 4. Phong cách Mn; 5. Phong cách chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn phong
cách Bình Định; 6. Phong cách Bình Định; 7. Phong cách muộn. Đồng thời, Philippe Stern cũng
c định và ghép các đền tháp Mỹ Sơn vào lịch scác phong cách nghệ thuật Champa như sau:
1. Thuộc phong cách cổ có tp F1; 2. Thuộc phong cách Hòa Lai tháp F3, A2 C7; 3.
Thuộc phong cách Đồng Dương tháp B4, A11-A13, B2 A10; 4. Thuc nhóm phong cách
M Sơn A1 tháp A1, phần lớn các tp của nhóm B, C, D (B5, B6, B7, B9, C1, C2, C5, D1,
D2, D4,…); 5. Thuộc phong cách chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn phong cách Bình
Định có tháp E4, F2 và nhóm K; 6. Thuộc nhóm phong cách Bình Định và phong cách muộn
các tp nhóm G, H B1.5
Nhìn chung, các đn tháp Mỹ n được xây dựng theo mt tổng thể sau: Một đền thờ chính
giữa (người Chăm gọi kalan) tượng trưng cho ngọn núi Mêru, trung tâm của vũ trụ, nơi ngự trị
của thần linh, thờ Linga hoặc linh tượng của thần Siva, đối diện là một tháp cổng (gopura), rồi
đến một tin đình (mandapa), là nơi chuẩn bị lễ vật hoặc múa hát cúng dâng thần linh. Và một
công trình kiến trúc khác có mt hoặc hai phòng luôn ln xoay vớng bắc, là hướng của thần
i Lc Kuvera, gọi kosagrha, để chứa đồ tế nhuyễn hoặc nấu thức ăn ng ng chư thần.
Phía trước đền thờ chính tờng một ni tháp nhỏ bốn cửa để dựng bia ký. Do địa thế
nằm trong mt thung lũng hẹp nên những kalan ở Mỹ Sơn vừa xoay về hướng đông, vừa xoay về
hướng tây, ngoại trừ mt ngôi đền duy nhất hai cửa chính xoay vcả hai ớng đông - tây là
ngôi đền A1.
Đền thờ chính A1 thờ mt bộ Linga-Yoni, được bao quanh bởi sáu ngôi đền nhỏ nằm đối xng
nhau từ A2 đến A7, thờ các vị Hộ thần của tám phương trời (Hộ thế bát phương thiên): thần Sấm
sét Indra ngtr phương đông; thần Lửa Agni ngự trị phương đông nam; Diêm vương Yama
ng trị phương nam; thần Nước Varuna ngự tr phương tây; thần La sát Nairrta ngự tr
phương tây nam; thần Gió Vayu ngự trị phương tây bắc; thần Tài Lộc Kuvera ngự trị phương
bc; còn đấng Tự tại Is’ana ngự trị ở phương đông bắc.
Tháp A1 được các nhà nghiên cứu đánh giá là kiệt tác của nghệ thuật kiến trúc Champa nhưng b
bom đạn chiến tranh làm cho sập đổ vào năm 1969. Theo bản v và mô tcủa Henri Parmentier
t tháp A1 cao 24m, mi cạnh 10m, hai cửa ra vào ở hướng đông và hướng tây, thân tháp cao
vút thon thả. Mỗi mặt tường 5 trụ áp, các tráp tường mt đường rãnh sâu giữa, chạy
suốt từ chân đến đỉnh trụ, các trgạch này được chạm các dải hoa văn nh cách điệu, b trí
tnh hình chữ S nối tiếp nhau. Trên các mặt tường giữa các trụ áp cũng được chạm những tràng
cành lá un cong. Trên mặt tường phía nam và phía bắc các cửa giả nhô ra, được tạo nên bi
hai trhình chnhật đỡ ly mt vòm cun cong và nhọn trên đỉnh, bên trong ô cửa một
người chắp tay được chạm thẳng vào tường gạch. i tháp gồm ba tầng thu nh dần lên trên,
tầng trên được mô phỏng theo tầng dưới, bn góc của mái trang trí những hình tháp thu nhỏ.
Trên đỉnh là một chóp tháp bằng sa thạch. Chân tháp được trang trí những đường gờ khà dng
những tầng sen cách điệu, kết hợp với những hình người, voi, garuda,… chạm trên gạch rất sống
động6.
Tháp B1, đối diện với tháp A1, là trung tâm của Thánh địa Mỹ n, thờ Linga của thần
Bhadresvara. Bao quanh B1 những đền tháp khác như B5: tháp lễ vật/tp lửa; B6: tháp chứa
nước thánh ty; B3 B4: đền thờ thần Chiến tranh và thần Hạnh phúc, hai vị con trai của thần
Siva và nthần Parvati. Trên hai cửa sổ của tháp B5 trang trí hai cặp voi tượng trưng cho nữ
thn Sắc đẹp và Thịnh vượng, còn trên mái tháp B6 có hình thần Visnu ngồi dưới rắn Naga nhiu
đầu. Như vậy, chúng ta biết rằng, nhóm B được thờ kết hợp giữa tín ngưỡng Saivite và Visnuite,
đó cũng là tín ngưỡng phổ biến tại vương quốc Champa trong nhiều thế k.
Ngoài ra, nhóm B còn bảy ngôi đền nhỏ từ B7 đến B13, thờ bảy vthần Tinh tú trên trời là:
Thần Mặt trời Surya với con ngựa; Thần Mặt trăng Sandra với tòa lâu đài; Thần Sao Hỏa Agni