
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy thương mại và đầu tư xuyên
biên giới, dẫn đến xu hướng dịch chuyển lao động quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ
(ILO, 2021). Tiến bộ công nghệ và tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư
(CMCN 4.0) đã ảnh hưởng đến việc tái cấu trúc thị trường lao động thế giới, tạo ra nhiều
công việc và ngành nghề mới đòi hỏi người lao động phải tái định hình kỹ năng, thay đổi
và nâng cấp mới kỹ năng, trình độ. Sức ép về sự thiếu hụt lao động kỹ năng trong nước
khiến các quốc gia phải lựa chọn tăng cường thu hút lao động di cư quốc tế có kỹ năng
(Wogart & Schüller, 2011, Papademetriou & Sumption, 2013).
Trên bình diện toàn cầu,
để tạo điều kiện cho lao động có kỹ năng dễ dàng di chuyển từ nước này sang nước khác,
các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở rộng cơ hội cho di chuyển thể nhân, đặc
biệt là người lao động có kỹ năng. Tại khu vực, nhiều công cụ và cơ chế để thúc đẩy
dòng dịch chuyển lao động có kỹ năng này trong nội khối. Tại cấp độ quốc gia, các quốc
gia có thu nhập thấp hoặc tương đối thấp, trong đó có Việt Nam, đã dần dần quan tâm tới
việc thu hút lao động có kỹ năng bằng cách nới lỏng các rào cản đối với lao động có kỹ
năng di cư quốc tế và đồng thời thắt chặt các quy tắc nhập cảnh đối với lao động có kỹ
năng thấp (Weinar & Koppenfels, 2020). Tuy nhiên, những chính sách này phần lớn mang
tính đột xuất, thời điểm và không phải là kết quả đến từ một phân tích cẩn thận các chuyển
dòng dịch chuyển di cư quốc tế với sự quan tâm đặc biệt đối với kỹ năng cụ thể của người
lao động (Hatton & Williamson, 2002; Kugler & Rapoport, 2007; Mayda, 2005).
Trên thực tế, các nhân tố thu hút người lao động di cư khi họ có các trình độ kỹ
năng khác nhau được tìm hiểu rất ít. Do đó, để phục vụ cho việc thiết kế các chính sách
cụ thể, điều quan trọng là phải xác định và có những đánh giá rõ về các nhân tố thu hút
lao động di cư quốc tế, đặc biệt là lao động có kỹ năng ở cấp độ thực nghiệm.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng đáng
kể đã tạo điều kiện để dòng chảy lao động của các nhà đầu tư và dòng lao động nước ngoài
vào Việt Nam ngày càng tăng (Crowe Vietnam, 2021). Dòng vốn đầu tư nước ngoài đã tác
động tới sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam trên khía cạnh thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu lao động từ các ngành thâm dụng lao động phổ thông sang các ngành sử dụng
nhiều lao động kỹ năng cao hơn. Mặc dù, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, năng
suất lao động vẫn thấp hơn các nước trong khu vực (ADB, 2020). Hiện nay, sự thiếu hụt
lao động kỹ năng đang ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ FDI của Việt Nam và hạn chế
triển vọng tạo việc làm. Lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam được kỳ vọng là sẽ
cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội,
thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh; tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động Việt Nam với
lao động nước ngoài; góp phần chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực tại chỗ theo
tương tác thẩm thấu (Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Thị Bích Thúy, 2015). Tuy nhiên,
việc xác định các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng mà thị trường lao động
Việt Nam thực sự cần để bù đắp cho những thiếu hụt về kỹ năng mà lao động Việt Nam
chưa đáp ứng được cũng như phát huy những nhân tố này để thu hút và giữ chân lao động
nước ngoài có kỹ năng cả về khía cạnh việc làm lẫn đào tạo tại chỗ chưa thực sự được
2
nghiên cứu sâu sắc. Mặc dù tính cấp thiết về chủ đề nghiên cứu là vô cùng rõ ràng, các
nghiên cứu xoay quanh việc thu hút lao động di cư nước ngoài còn rất hạn chế tại Việt
Nam. Các nghiên cứu về cho tới thời điểm hiện tại phần lớn là các nghiên cứu định tính
(Nguyễn Bình Giang, 2010; Nghiên cứu của Viện KHLĐXH, 2014; Nguyễn Thị Hoài
Hương, 2014; Nguyễn Bá Ngọc, 2016; Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Thị Bích Thúy,
2015 & Nguyễn Hồng Anh, 2017), trong khi các nghiên cứu định lượng và phân tích thực
nghiệm lại hoàn toàn chưa được triển khai. Nguyên nhân của sự thiếu hụt này phần lớn
xuất phát từ sự thiếu hụt dữ liệu về lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
Do đó, Luận án “Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng
vào Việt Nam” sẽ tiến hành phân tích các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng
vào Việt Nam và phân tích xem liệu sự dịch chuyển tự do có ảnh hưởng đến sự đan xen kỹ
năng của các luồng di cư liên quan đến công việc và liệu việc nới lỏng các biện pháp quản
lý với việc di cư của lao động kỹ năng cao có hiệu quả hay không. Từ kết quả nghiên cứu
đó, luận án đưa ra các giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở hệ thống hoá và vận dụng cơ sở lý luận về lao động
di cư quốc tế, Luận án phân tích, đánh giá các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ
năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020. Từ đó, Luận án đề xuất một số giải pháp
chủ yếu nhằm tăng cường thu hút lao động có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết và đề xuất
mô hình nghiên cứu về các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một
quốc gia đang phát triển (hoặc có mức thu nhập trung bình thấp) như Việt Nam. Đánh
giá thực trạng các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam, giai
đoạn 2016-2020. Phân tích và đánh giá các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ
năng vào Việt Nam, giai đoạn 2016-2020. Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường
thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
3.1. Câu hỏi nghiên cứu: (1) Những nhân tố nào được xác định là nhân tố hút lao
động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam? (2) Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng
vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 như thế nào? Dịch bệnh Covid-19 có ảnh hưởng
như thế nào tới số lượng và cơ cấu lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam? (3) Đặc
điểm các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-
2020 là như thế nào? (4) Vai trò của các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào
Việt Nam? (5) Giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai
đoạn phục hồi kinh tế - xã hội hậu Covid-19 là như thế nào? Dựa trên các kết quả nghiên
cứu, Luận án đã tiến hành kiểm định các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào
Việt Nam ở câu hỏi 1 và thực hiện nghiên cứu khám phá với các câu hỏi 2 đến 5.
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
H1a. Sự gia tăng số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế là
yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
H1b. Sự gia tăng tỷ lệ thiếu hụt lao động qua đào tạo và nhóm lao động có kỹ năng
là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.

3
H1c. Sự cải thiện chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động
nước ngoài có kỹ năng là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
H2. Số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế, chất lượng môi
trường thể chế là những nhân tố có tác động mạnh trong dài hạn tới việc thu hút lao động
nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam .
H3. Các nhân tố phản ánh đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương là
yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
H3a. Sự gia tăng thu nhập trung bình tại các địa phương là yếu tố hút lao động
nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
H3b. Sự gia tăng tỷ lệ lao động trẻ của địa phương tại các địa phương là yếu tố hút
lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
H3c. Sự gia tăng số lượng lao động kỹ thuật, lao động làm lãnh đạo tại các địa
phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: lý luận và thực tiễn về các nhân tố thu hút lao động
nước ngoài có kỹ năng vào một quốc gia. Trong đó chỉ rõ nội hàm các nhân tố thu hút
lao động nước ngoài có kỹ năng vào một quốc gia và thực tiễn các nhân tố thu hút lao
động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào một quốc
gia có thể chia thành nhóm các nhân tố ở cấp độ vĩ mô, vi mô và trung gian (meso). Luận
án tập trung nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt
Nam ở các cấp độ vĩ mô gồm số lượng vốn FDI và mức độ hội nhập quốc tế; hiện trạng
sử dụng và nhu cầu với lao động có kỹ năng; chất lượng môi trường thể chế và các điều
kiện thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam. Luận án không đặt vấn đề
nghiên cứu sâu các nhân tố sử dụng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam ở cấp
độ trung gian và vi mô liên quan đến nhu cầu của doanh nghiệp; hiệu quả làm việc của
nhân lực nước ngoài; lợi ích của doanh nghiệp khi sử dụng lao động nước ngoài.
Khách thể nghiên cứu: Lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam hợp pháp theo quy
định của pháp luật; các nhà hoạch định chính sách và người sử dụng lao động nước ngoài.
Thời gian nghiên cứu: Các số liệu thống kê của Luận án được tập hợp trong giai đoạn 2016-2020.
Không gian nghiên cứu: Số liệu sử dụng để phân tích mô hình thực nghiệm của 63
tỉnh/thành phố trên cả nước. Địa điểm tiến hành khảo sát và thu số liệu thông qua phỏng vấn
được lựa chọn gồm 5 tỉnh/thành phố tập trung nhiều lao động nước ngoài đến Việt Nam
nhất: Hà Nội, Bắc Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai (chiếm 69%
tổng số lao động động nước ngoài tại Việt Nam).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Quy trình nghiên cứu: gồm 05 bước
5.2. Thiết kế nghiên cứu
Luận án sẽ được hiện theo nghiên cứu khám phá kết hợp giải thích các nhân tố
trong thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam theo hướng nghiên cứu
khám phá, kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, xem xét các nhân tố ở
các cấp độ vĩ mô, vi mô và trung gian (meso), trong đó tập trung chủ yếu ở cấp độ vĩ mô.
4
- Phương pháp định tính
+ Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp: Rà soát tài liệu thứ cấp sẵn có dựa
trên kết quả phân tích các thông tin và tài liệu thứ cấp của các Bộ, ngành, các nghiên cứu
của các học giả trong và ngoài nước có liên quan tới đối tượng nghiên cứu và nội dung
nghiên cứu của luận án.
+ Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sơ cấp thông qua bảng hướng dẫn phỏng
vấn sâu nhằm kiểm tra lại các kết luận đưa ra trong mô hình phân tích thực nghiệm, tìm
hiểu nguyên nhân của những đánh giá, nhận xét và bản chất thực tế của các nhân tố thu
hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- Phương pháp định lượng: Khảo sát lao động nước ngoài đang làm việc tại 5 tỉnh
tập trung nhiều lao động nước ngoài có kỹ năng theo số liệu của Bộ LĐTBXH (Bắc Ninh,
Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh). Số phiếu phát ra 350 phiếu,
số phiếu thu về đảm bảo chất lượng là 308 phiếu, gấp 3 lần mẫu tối thiểu.
6. Đóng góp chính của Luận án
Những đóng góp về mặt học thuật, lý luận: nghiên cứu này cung cấp một phân tích
thực nghiệm định lượng để đánh giá vai trò của các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có
kỹ năng vào Việt Nam. Nghiên cứu thực nghiệm xây dựng một cơ sở mô hình lý thuyết để
tiến hành nghiên cứu các nhân tố hút lao động di cư quốc tế có kỹ năng vào một nước đang
phát triển như Việt Nam vẫn còn là “khoảng trống” do đây là hiện tượng đang nổi lên trong
bối cảnh của các nền kinh tế mới nổi chịu ảnh hưởng của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, hạn chế về dữ liệu là rào cản lớn nhất đối với các nhà nghiên cứu. Điểm mới
đầu tiên của nghiên cứu là bù đắp “khoảng trống” này bằng cách sử dụng dữ liệu lao động
nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam được thu thập theo bốn vị trí việc làm được pháp
luật cho phép. Điểm mới tiếp theo là nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam - một quốc
gia gửi lao động với điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội và văn hóa của một quốc gia đang
phát triển theo định hướng thị trường. Nghiên cứu này có đóng góp quan trọng về mặt lý
thuyết bằng việc mở rộng và điều chỉnh các khung lý thuyết trong các nghiên cứu trước
đây để phù hợp hơn với khu vực các nước đang phát triển. Nghiên cứu đã mở rộng mô
hình nhập cư quốc tế do Gross & Schmitt (2003) phát triển ở khía cạnh: (i) ý tưởng chính
của việc phát triển mô hình lý thuyết đánh giá vai trò của các nhân tố hút lao động di cư
quốc tế là sự khác biệt trong phân phối thu nhập cho lao động di cư quốc tế có kỹ năng
được tạo ra từ các đặc trưng về kinh tế, văn hóa và xã hội của quốc gia xuất cư và quốc gia
nhập cư và sự khác biệt này chỉ diễn ra ở nhóm di cư có kỹ năng. Theo đó, nghiên cứu đã
nhấn mạnh sự khác biệt về tầm quan trọng của các nhân tố hút tới từng nhóm vị trí việc
làm của lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam; (ii) sẽ có những loại chi phí di cư
như phí bảo hiểm liên quan đến phân nhóm văn hóa ở quốc gia nhập cư tồn tại và phụ
thuộc vào kỹ năng, chi phí di chuyển và chi phí liên quan tới các chính sách thu hút lao
động có kỹ năng di cư quốc tế. Điểm mới nữa của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu theo các
địa phương để đánh giá đặc trưng của từng địa phương trong thu hút lao động nước ngoài
có kỹ năng tới các vùng miền khác nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu được thực hiện trong
bối cảnh mới khi Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế và trong giai đoạn phục hồi kinh tế
xã hội sau đại dịch Covid-19. Việc thực hiện nghiên cứu trong một bối cảnh toàn cầu nhiều
rủi ro sẽ góp phần cung cấp các khuyến nghị chính sách mang tính cấp thiết.

5
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án: Thực
nghiệm chỉ ra (i) ba nhân tố: số lượng vốn FDI và mức độ hội nhập quốc tế, hiện trạng
sử dụng và nhu cầu với lao động có kỹ năng, chất lượng môi trường thể chế và các điều
kiện hấp dẫn lao động nước ngoài có kỹ năng có ý nghĩa thu hút lao động nước ngoài có
kỹ năng vào Việt Nam; (ii) các đặc trưng kinh tế và xã hội của các địa phương có tác
động hút lao động nước ngoài vào Việt Nam; (iii) cần đẩy mạnh phát triển quy hoạch
vùng và liên kết vùng để tăng cực sự thu hút lao động di cư, đặc biệt chú trọng ở 3 vùng
Trung du và miền núi Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung và Đông Nam
Bộ; (iv) bối cảnh phục hồi kinh tế hậu Covid-19 đòi hỏi các chính sách thu hút lao động
người nước có kỹ năng cần điều chỉnh trên phương diện đảm bảo thích ứng cao trong
điều kiện có nhiều thay đổi về tính chất và phương thức làm việc để đáp ứng tốt hơn với
xu hướng làm việc từ xa. Từ những phát hiện mới của nghiên cứu, nghiên cứu đã đưa ra
các khuyến nghị thiết thực cho quá trình thiết kế chính sách thu hút lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam phục vụ cho mục tiêu vĩ mô về phát triển kinh tế.
7. Hạn chế của Luận án
Lượng mẫu quan sát điều tra phiếu dựa trên mẫu thuận tiện, chưa bao quát hết lao
động nước ngoài vào Việt Nam tại tất cả các ngành nghề. Do đó, các kết quả nghiên cứu
dừng lại ở nghiên cứu điển hình. Việc khảo sát không thực hiện được trực tiếp mà thông
qua cơ quản lý lao động ở địa phương và BQLKCN nên các câu hỏi cần tối giản, chắt
lọc. Vì vậy, các thông tin khảo sát còn hạn chế chỉ báo và thang đo. Theo đó, một số kết
luận về vai trò của nhân tố hút lao động nước ngoài vào Việt Nam mới dựa trên kết quả
định tính thay vì có thể kiểm định bằng kết quả định lượng ở một nghiên cứu đầy đủ hơn
về cả thang đo và mẫu nghiên cứu.
8. Kết cấu của Luận án
Chương 1:
Tổng quan nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc
tế vào một quốc gia
Chương 2:
Cơ sở lý luận và thực tiễn về các các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng
di cư quốc tế vào một quốc gia
Chương 3:
Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam và đặc điểm
các nhân tố thu hút ở cấp độ vĩ mô
Chương 4:
Phân tích thực nghiệm phân tích các nhân tố thu hút lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam
Chương 5:
Quan điểm và giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ THU HÚT LAO ĐỘNG CÓ KỸ
NĂNG DI CƯ QUỐC TẾ VÀO MỘT QUỐC GIA
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về lao động có kỹ năng di cư quốc tế
Các nghiên cứu về lao động có kỹ năng di cư quốc tế chủ yếu nghiên cứu về dòng
dịch chuyển, các xu hướng dịch chuyển, động lực di cư và dự báo. Các tài liệu này đặc
biệt quan tâm đến vấn đề chảy máu chất xám của lao động có kỹ năng di cư quốc tế.
Ngoài các tài liệu về đánh giá quá trình chảy máu chất xám, các nghiên cứu có xu hướng
tập trung vào tác động đến các nước bắt nguồn quá trình di cư. Có rất ít nghiên cứu về
6
lao động di cư quốc tế đối với các trình độ kỹ năng khác nhau và một số chỉ tập trung
vào nhóm có kỹ năng. Các nghiên cứu về sự tự lựa chọn của người nhập cư nghiên
cứu về những người có kỹ năng trong di cư quốc tế và di cư nội địa. Các nghiên cứu
hiện có thường thảo luận về các yếu tố quyết định dòng di cư quốc tế giữa các quốc
gia hoặc các yếu tố quyết định sự phân bố theo không gian của dòng người di cư quốc
tế tới một quốc gia cụ thể. Một mặt, các nghiên cứu tập trung vào các yếu tố quyết
định đến sự di cư của lực lượng lao động mà không có sự phân biệt theo trình độ kỹ
năng của người di cư. Mặt khác, các nghiên cứu khác tập trung vào các chuyên gia có
kỹ năng và coi đây là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế. Các học giả
này thường nghiên cứu về việc di cư tạm thời ở các quốc gia, các chính sách nhập cư
có liên quan hỗ trợ sự dịch chuyển này cũng như khu vực doanh nghiệp và các tập
đoàn xuyên quốc gia.
Các nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu do các học giả gặp khó khăn liên quan
tới vấn đề số liệu. Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về di cư đều dựa trên các quan
sát về lượng lao động nhập cư ở nước tiếp nhận, do đó tập trung nhiều hơn vào mức
độ tổng thể của hiện tượng hoặc tác động thuần hơn là vào các thay đổi liên quan đến
khoảng thời gian di cư. Lý do của việc thiếu các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề
này là sự khan hiếm chung của dữ liệu về dòng lao động di cư quốc tế theo kỹ năng
cụ thể.
Những nghiên cứu về lao động nước ngoài tại Việt Nam rất hạn chế và phần lớn
tiếp cận ở góc độ quản lý nhà nước, chủ yếu tập trung làm rõ vấn đề thực trạng lao động
nước ngoài tại Việt Nam và tại một số vùng. Những nghiên cứu về lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam được phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế. Tuy không nghiên cứu chuyên biệt về lao động di cư có kỹ năng nhưng đã
bắt đầu đề cập đến nhóm lao động đặc thù này, đặc biệt là những nghiên cứu về dịch
chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN theo các MRAs từ các nước ASEAN vào
Việt Nam và ngược lại.
1.2. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế ở cấp
độ vĩ mô
Quá trình ra quyết định di cư của các cá nhân là lao động kỹ năng rất phức tạp và
chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố “hút - đẩy”. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra
những yếu tố “hút” giúp đẩy mạnh dòng dịch chuyển lao động quốc tế có kỹ năng
(UNCTAD, 2012) đó là các điều kiện tạo thuận lợi cho các quốc gia phát triển lực lượng
lao động có kỹ năng; những điều kiện bất lợi tại quê nhà; các điều kiện về chi phí di
chuyển tương đối thấp đối với người lao động có kỹ năng thấp, mạng lưới di cư giúp
người di cư dễ dàng hơn trong tiếp cận thông tin về thị trường lao động tại quốc gia nhập
cư, thị trường mở hơn, điều kiện di chuyển thuận lợi hơn và khả năng tiếp cận giao thông
tốt hơn; các chính sách dành cho người lao động di cư có chọn lọc để thu hút nhân tài từ
bên ngoài được ban hành tại một số nước phát triển.
Đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các nghiên cứu đều chỉ ra các
nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế từ nước này đến một quốc gia ở cấp
độ vĩ mô bao gồm đầu tư nước ngoài và hội nhập quốc tế, nhu cầu sử dụng lao động có
kỹ năng và môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động kỹ năng di cư quốc tế.

7
1.3. Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu chỉ tiếp cận ở từng vấn đề riêng lẻ, chưa mang tính tổng thể. Các
nghiên cứu trong nước chưa nhìn nhận vấn đề di chuyển lao động nước ngoài ở Việt Nam
dưới giác độ kinh tế quốc tế với sự ràng buộc của các thỏa thuận và cam kết quốc tế. Từ
tổng quan các công trình nghiên cứu, Luận án rút ra những khoảng trống nghiên cứu sau:
Thứ nhất, mặc dù đã có nghiên cứu đánh giá về các nhân tố thu hút lao động di cư
quốc tế đến các nước đang phát triển, tuy nhiên chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào tập
trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới dòng di cư lao động có kỹ năng tới các
nước đang phát triển như Việt Nam. Các nghiên cứu về vấn đề này ở các nước phát triển
cũng khá hạn chế do số liệu về lao động di cư có kỹ năng không được đầy đủ.
Thứ hai, các khung mô hình lý thuyết xây dựng trong các nghiên cứu trước đây
còn gặp phải một số hạn chế như các mô hình lý thuyết này được xây dựng nhằm đánh
giá tác động của các nhân tố hút tới lao động di cư quốc tế tại quốc gia phát triển. Việc
sử dụng các mô hình này dành cho nhóm các nước đang phát triển với các điều kiện về
kinh tế, chính trị và xã hội khác biệt có thể là không phù hợp. Vì thế, yêu cầu cấp thiết
về việc kế thừa các ý tưởng của các học giả trước đây để xây dựng một khung lý thuyết
toàn diện và phù hợp hơn với việc đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố hút lao động
di cư quốc tế, đặc biệt là nhóm di cư có kỹ năng và trình độ tới Việt Nam là vô cùng quan
trọng. Bên cạnh đó, khung lý thuyết được xây dựng trước đây còn khá đơn giản khi tập
trung vào một khía cạnh nhất định trong khi khi chưa cung cấp một phân tích đa chiều
và toàn diện về việc đánh giá tác động của các nhân tố khác nhau tới quyết định của nhóm
lao động kỹ năng di cư quốc tế.
Thứ ba, các nghiên cứu thực nghiệm chưa phân tích đánh giá đồng thời vai trò của
yếu tố nội tại liên quan các đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của từng địa phương khu
vực trong một quốc gia, hay mức độ mở cửa hội nhập quốc tế và những điều kiện về mặt
môi trường thể chế chính sách. Đây đều được xem là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng
tới dòng di cư của lao động nhập cư quốc tế, đặc biệt là nhóm có kỹ năng và trình độ. Chưa
có các phân tích thực nghiệm đánh giá về thực trạng thu hút lao động di cư quốc tế có kỹ
năng tại từng địa phương cũng như đánh giá các yếu tố tác động tới việc thu hút dòng di
cư lao động quốc tế có kỹ năng, tập trung vào các đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội và các
chính sách quốc tế, môi trường chất lượng thể chế từng từng địa phương trong việc hấp
dẫn nhóm lao động này. Điều này cho thấy khoảng trống các nghiên cứu phân tích thực
tiễn với các thông tin cập nhật về quy mô cả về số lượng và chất lượng của lao động nước
ngoài có kỹ năng vào Việt Nam, sự vận hành của các nhân tố thu hút các dòng di chuyển
chủ yếu lao động nước ngoài có kỹ năng, theo vị trí việc làm, nhận diện trình độ kỹ năng
của lao động người nước ngoài, đánh giá hiệu quả của các nhân tố hút lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam bao gồm các nhân tố liên quan đến hội nhập quốc tế và đầu tư,
nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng và chất lượng môi trường thể chế.
Thứ tư, tổng quan nghiên cứu cho thấy khoảng trống về bối cảnh mới như tác động
của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đầu tư xuyên biên giới và CMCN 4.0 đối với một
quốc gia phát triển như Việt Nam trong việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào
làm việc. Đặc biệt, mới đây, đại dịch Covid là cú sốc mạnh tới kinh tế - xã hội toàn cầu
nói chung, tới di chuyển lao động giữa các quốc gia nói riêng.
8
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ THU HÚT LAO ĐỘNG
CÓ KỸ NĂNG DI CƯ QUỐC TẾ VÀO MỘT QUỐC GIA
2.1. Một số khái niệm
Lao động di cư quốc tế là các cá nhân di chuyển khỏi nơi cư trú của quốc gia
này đến một quốc gia khác vì mục đích việc làm trong một khoảng thời gian nhất định.
Lao động kỹ năng di cư quốc tế để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc
có hưởng lương tại một quốc gia nơi người đó không phải là công dân và người này sở
hữu kỹ năng chuyên môn chuyên biệt do quá trình làm việc thực tế hoặc đào tạo theo hệ
thống giáo dục của từng quốc gia nơi họ được đào tạo và cấp bằng cấp và chứng chỉ/hoặc
cả hai. Kỹ năng ở đây được hiểu bao gồm kỹ năng thực hiện công việc và trình độ bằng
cấp. Các quốc gia thiết lập các khung đánh giá kỹ năng của người lao động và khung công
nhận kỹ năng nghề giữa các quốc gia để người lao động có kỹ năng bằng những bằng cấp
có được ở quốc gia mình cũng như kinh nghiệm sẽ đáp ứng tiêu chuẩn ở quốc gia khác.
Lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam là người mang quốc tịch của một
nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam đáp ứng các yêu cầu về độ tuổi, năng lực
hành vi dân sự, sức khỏe; không vi phạm pháp luật; và có giấy phép lao động và có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc. Khi so sánh với khung trình độ
quốc gia Việt Nam và khung trình độ quốc tế như ISCO, AQRF thì lao động nước ngoài
vào làm việc tại Việt Nam hợp pháp là lao động có kỹ năng.
2.2. Sự phát triển các dòng dịch chuyển và đặc điểm của lao động kỹ năng di cư
quốc tế
Trong những năm 1980, các nhà khoa học xã hội đã quan sát thấy sự di chuyển
ngày càng tăng của dòng lao động kỹ năng di cư giữa các nước phát triển. Hiện nay trên
thế giới đang tồn tại bốn dòng dich chuyển lao động bao gồm dòng di cư Nam - Bắc, Bắc
- Bắc, Bắc - Nam và Nam - Nam. Trong đó, hơn một nửa số người di cư có kỹ năng di
chuyển theo dòng Nam - Bắc từ các quốc gia đang phát triển tới các quốc gia phát triển
và Bắc sang Bắc (UNCTAD 2012). Sự di cư của lao động có kỹ năng di cư quốc tế trở
nên trôi chảy hơn bởi các thỏa thuận thương mại và các công cụ hợp tác song phương
hoặc đa phương (Pellerin, 2017).
Các động lực chính thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế là thu nhập cao hơn,
điều kiện làm việc tốt hơn, có triển vọng nghề nghiệp ở nước sở tại, chính sách đối với lao
động di cư quốc tế của nước sở tại, tình hình kinh tế và chính trị, chi phí di cư, ngôn ngữ
tương đồng... Trong đó, các yếu tố như mức sống, chất lượng trường học, dịch vụ y tế, cơ
sở hạ tầng và sự hiện diện của một mạng lưới đồng hương, đồng nghiệp được thiết lập tốt
được coi là quan trọng nhất (Papademetriou & cộng sự, 2008). Đặc biệt lao động có kỹ năng
di cư quốc tế mong muốn cơ hội phát triển chuyên môn và tiếp cận với công nghệ tiên tiến
hơn. Thông qua đó họ có thể sử dụng các kỹ năng của mình và học hỏi những điều mới.
2.3. Tổng quan các lý thuyết về di cư lao động quốc tế
Các lý thuyết di cư được phân tích theo ba cấp độ là cấp độ vĩ mô, vi mô và trung
gian (meso). Theo đó, các lý thuyết ở cấp độ vi mô tập trung vào các quyết định di cư
của từng cá nhân, trong khi các lý thuyết ở cấp độ vĩ mô xem xét các xu hướng di cư tổng

9
thể và giải thích các xu hướng này ở cấp độ vĩ mô. Cấp độ meso nằm giữa cấp độ vi mô
và vĩ mô giúp giải thích nguyên nhân và sự tiếp tục của quá trình di cư (Faist, 2000).
Bảng 2.2. Phân loại các lý thuyết về di cư theo cấp độ nghiên cứu
Cấp độ Vi mô Cấp độ Trung gian Cấp độ Vĩ mô
Nguyên nhân di cư Nguyên nhân di cư, tính liên tục
của dòng di cư
Nguyên nhân di cư, tính liên
tục của dòng di cư
Giá trị cá nhân, mong muốn, kỳ
vọng (cải thiện mức sống, thu
nhập…)
Cộng đồng, mạng lưới xã hội (các
ràng buộc xã hội...)
Cấu trúc tiềm năng của nền
kinh tế ở cấp độ vĩ mô (cấu trúc
của nền kinh tế như sự khác
nhau trong thu nhập và cơ hội
việc làm)
Các lý thuyết chính:
Các nhân tố hút - đẩy của Lee
Lý thuyết vi mô Tân cổ điển
Lý thuyết Mô hình hành vi
Lý thuyết Hệ thống xã hội
Các lý thuyết chính:
Lý thuyết Vốn xã hội
Lý thuyết Thể chế
Lý thuyết Mạng lưới
Mô hình nhân quả tích lũy
Lý thuyết Kinh tế mới về lao động
di cư
Các lý thuyết chính:
Lý thuyết vĩ mô Tân cổ điển về
di cư
Hệ thống di cư
Lý thuyết về Thị trường lao
động kép
Lý thuyết Hệ thống thế giới
Dịch chuyển lao động
Nguồn: Faist, 2000
Cho mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả chia sẻ và đồng thuận với những phát
hiện của Massey và cộng sự (1994) trong nghiên cứu của mình về tính chất đặc thù của các
lý thuyết có liên quan đến di cư lao động quốc tế và cần phải cân nhắc xem xét các lý thuyết
này trong sự phân tích tổng hợp và đặt chúng trong bối cảnh mà lý thuyết đó được đưa ra.
Việc tổng quan và rà soát các lý thuyết di cư được phân tích theo cả ba cấp độ vĩ mô, vi mô
và trung gian để xem xét chọn lọc các nhân tố thu hút di cư lao động quốc tế nói chung và
di cư lao động có kỹ năng nói riêng. Các lý thuyết liên quan đến việc tiếp tục di cư cũng
được xem xét rà soát trong tổng quan lý thuyết về di cư quốc tế. Với cách tiếp cận như vậy,
tác giả đã tiến hành tổng quan các lý thuyết về di cư chính, tổng hợp và phân tích những vấn
đề cốt lõi của các lý thuyết trong mối quan hệ của chúng với điều kiện kinh tế chính trị - xã
hội để nhận diện các nhân tố, những hàm ý có liên quan đến các nhân tố thúc đẩy của quá
trình di cư quốc tế nói chung và di cư là lao động có kỹ năng nói riêng.
Tổng quan các lý thuyết về di cư lao động quốc tế ở cấp độ vĩ mô chỉ ra rằng lý
thuyết Tân cổ điển đã giải thích di cư diễn ra do sự khác biệt về địa lý trong cung và cầu
lao động. Lý thuyết thị trường lao động phân khúc (Priore, 1979) giải thích di cư là kết
quả tạm thời của nhân tố “hút”, cụ thể ở đây được xét đến là nhu cầu lớn về cấu trúc lao
động tại các nước phát triển. Lý thuyết Tân cổ điển về di cư phát triển các quan điểm có
liên quan đến tính chọn lọc của di cư. Không thể phủ nhận tầm quan trọng của chênh lệch
mức lương kỳ vọng, khả năng của từng cá nhân và nhóm di cư cũng được cho là phụ
thuộc đồng thời vào hai yếu tố: chi phí – rủi ro từ việc di cư và những đặc điểm vốn nhân
lực của từng cá nhân. Điều này khiến cho việc chọn lọc di cư cũng phụ thuộc vào cấu
trúc cụ thể và phân khúc của thị trường lao động. Từ đó giúp xác định cơ hội tìm kiếm
việc làm cũng như là đưa ra các chính sách đối với lao động di cư quốc tế. Sự kết hợp
của các yếu tố trên có thể giúp giải thích tính động và không đồng nhất, đặc trưng dòng
10
dịch chuyển lao động trong thực tế. Các lý thuyết khác về di cư đã được phát triển và giải
thích hiện tượng di cư quốc tế theo các cách riêng.
Quá trình nghiên cứu, xem xét các nhân tố liên quan đến di cư lao động nói chung và
di cư của lao động có kỹ năng nói riêng cần đặt trong bối cảnh cụ thể (kinh tế, nhân khẩu
học, yếu tố văn hóa xã hội, thể chế, thị trường lao động, chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố
chính trị và các yếu tố khác) của cả quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư trên bình diện quốc
gia, khu vực và toàn cầu. So sánh và đối chiếu các lý thuyết có thể thấy rằng các lý thuyết
về di cư có thể kết hợp với nhau một cách hợp lý. Các quyết định di cư của cá nhân được
đưa ra trong bối cảnh xã hội cụ thể phản hồi lại môi trường cấu trúc kinh tế và xã hội đó
và ảnh hưởng đến các lựa chọn di cư trong tương lai (Massey & cộng sự, 1993). Hình
2.1 dưới đây cho thấy các liên kết giữa những lý thuyết di cư lao động khác nhau và tổng
hợp chúng thành một bức tranh hoàn chỉnh.
Hình 2.1: Khung lựa chọn ra quyết định di cư của lao động di cư quốc tế
Nguồn: Hagen-Zanker (2008)
Lao động di cư đưa ra quyết đinh di cư trong bối cảnh môi trường xã hội cụ thể,
và gia đình của họ có thể có những ảnh hưởng nhất định tới quyết định đó. Do đó, quyết
định di cư nên được xem xét ở cấp độ hộ gia đình. Quyết định di cư đòi hỏi phải tính toán
so sánh cụ thể giữa chi phí và lợi ích của việc di cư. Hay nói một cách khác, di cư nói
chung là một chiến lược tối ưu hóa của các cá nhân hoặc gia đình thực hiện các tính toán
chi phí - lợi ích (Hein de Haas, 2015). Rất nhiều các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chi phí
và lợi ích của việc di cư.
Ở cấp độ vi mô, chênh lệch thu nhập và nghèo đói là hai nhân tố hút và đẩy đổi
với những người lao động di cư tiềm năng. Ở cấp độ trung gian, di cư cũng có nhiều khả
năng xảy ra nếu các tổ chức di cư đã được thiết lập hoặc nếu mạng lưới di cư đã có sẵn cho
người di cư tiềm năng. Ở cấp độ vĩ mô, nhu cầu về lao động và chính sách đối với lao động
di cư quốc tế là những nhân tố quyết định ảnh hưởng tới lựa chọn di cư. Toàn cầu hóa, hội
nhập kinh tế quốc tế và các dòng FDI có thể ảnh hưởng tới các dòng di cư theo nhiều cách
từ giảm chi phí vận chuyển đến thay đổi triển vọng công việc trên phạm vi toàn cầu.
Trên cơ sở tổng quan lý thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu và xem xét kinh
nghiệm các quốc gia về các nhân tố hút và đẩy được thảo luận ở những phần trước ảnh
hưởng tới quyết định di cư của lao động kỹ năng, tác giả đã tổng hợp các nhân tố trình bày
trong hình 2.2 dưới đây. Với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sẽ tập trung vào nghiên

