
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
LÊ THỊ HỒNG QUYÊN
NGHIÊN CỨU HÀNH VI TIÊU DÙNG
THỰC PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 9.34.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2026

Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Quang Giám
Phản biện 1: PGS.TS. Đinh Hồng Linh
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Dương Nga
Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Điệp
Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp
tại: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 20......
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin, Thư viện Lương Định Của,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Hữu cơ Quốc gia của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
(USDA), nông nghiệp hữu cơ (NNHC) tập trung vào việc sử dụng các nguồn tài
nguyên tái tạo, bảo vệ đất và nước, từ đó nâng cao chất lượng môi trường và sức
khỏe cộng đồng cho các thế hệ sau (Shaharudin & cs., 2010). Xét từ góc độ người
tiêu dùng (NTD), thực phẩm có nguồn gốc từ sản xuất NNHC và được chứng nhận
hữu cơ thường được cho là có chất lượng tốt hơn, hương vị vượt trội, lành mạnh
và bổ dưỡng hơn so với thực phẩm thông thường, dù có thể ít hấp dẫn về mặt thẩm
mỹ (Kranjac & cs., 2017). Chính vì vậy, các nhà tiếp thị hướng đến thúc đẩy tiêu
thụ thực phẩm có nguồn gốc từ sản xuất NNHC, nhất là khi nhận thức của NTD
ngày càng tăng về những vấn đề như bảo vệ môi trường, các bệnh lý tự nhiên và
nông nghiệp xanh (Teng & Wang, 2015).
Theo báo cáo của Euromonitor, doanh thu bán lẻ thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam
năm 2023 đạt khoảng 100 triệu USD, tăng trưởng 20% so với năm 2020 (Thao, 2025).
So với tổng doanh thu ngành bán lẻ thực phẩm tại Việt Nam năm 2023, được ước tính
khoảng 55 tỷ USD (Minh Nguyen, 2024), thì thực phẩm NNHC chỉ chiếm khoảng
1,82%, cho thấy đây vẫn là thị trường ngách và đang trong giai đoạn phát triển. Điều này
đồng thời mở ra tiềm năng tăng trưởng lớn trong bối cảnh NTD ngày càng quan tâm đến
vấn đề sức khỏe, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có nhu cầu tiêu dùng thực phẩm cao nhờ vào thu
nhập cao và sự phát triển của các kênh phân phối hiện đại như siêu thị, TTTM và cửa
hàng thực phẩm an toàn. Mặc dù khu vực này có tiềm năng lớn, mức độ tin tưởng của
NTD vào nhãn hữu cơ vẫn thấp, chủ yếu do thông tin không minh bạch và sự “nhiễu
loạn” nhãn hữu cơ (Doan, 2021). Chi phí cao của sản phẩm hữu cơ cũng là rào cản
lớn đối với NTD (Hà Thị Thu Hòa & cs., 2020).
Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào lý thuyết và thực tiễn về ý định
tiêu dùng, nhưng khoảng cách giữa ý định và hành vi thực tế của NTD vẫn còn lớn.
Sự không nhất quán giữa tuyên bố và hành vi mua của NTD xuất phát từ các yếu tố
như giá cao, thói quen tiêu dùng và thiếu thông tin về thực phẩm NNHC (Chekima &
cs., 2017). Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc lựa chọn thực
phẩm có nguồn gốc từ sản xuất NNHC và được chứng nhận hữu cơ không chỉ là hành
vi tiêu dùng đơn thuần, mà còn phản ánh nhận thức của NTD về môi trường, sức khỏe,

2
và giá trị xã hội (Nguyễn Hoàng Việt & cs., 2019). Tuy nhiên, tại ĐBSH, những yếu
tố này chưa được nghiên cứu đầy đủ để làm rõ động cơ và rào cản trong tiêu dùng thực
phẩm NNHC.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hành vi
tiêu dùng thực phẩm nông nghiệp hữu cơ ở khu vực đồng bằng sông Hồng” làm luận
án tiến sĩ. Nghiên cứu không chỉ mang ý nghĩa lý thuyết mà còn cung cấp cơ sở thực
tiễn để đưa ra hàm ý chính sách phát triển thị trường và đề xuất các giải pháp nhằm
thúc đẩy hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC ở ĐBSH.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC ở khu vực ĐBSH, từ đó đưa ra
hàm ý chính sách và đề xuất các giải pháp thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm NNHC tại
khu vực này.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Luận giải và phát triển cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hành vi tiêu dùng thực
phẩm NNHC của NTD.
- Đánh giá hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC của NTD ở khu vực ĐBSH.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC của
NTD ở khu vực ĐBSH.
- Hàm ý chính sách phát triển thị trường và đề xuất các giải pháp thúc đẩy hành
vi tiêu dùng thực phẩm NNHC ở khu vực ĐBSH.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Hành vi sử dụng thực phẩm NNHC của các hộ gia đình ở khu vực ĐBSH ra sao?
(2) Hành vi thải loại thực phẩm NNHC của các hộ gia đình ở khu vực ĐBSH như thế nào?
(3) Người tiêu dùng ở khu vực ĐBSH đánh giá về sự hài lòng sau khi tiêu dùng
thực phẩm NNHC như thế nào?
(4) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ra quyết định tiêu dùng của
các hộ gia đình ở khu vực ĐBSH?
(5) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của NTD thực phẩm NNHC ở
khu vực ĐBSH?
(6) Chính sách nào cần được thực hiện để phát triển thị trường và giải pháp nào
được đề xuất nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC ở khu vực ĐBSH?

3
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung khảo sát NTD tại ba tỉnh, thành phố đại diện thuộc khu vực ĐBSH,
bao gồm Hà Nội, Hải Phòng và Bắc Ninh. Địa điểm khảo sát NTD được thực hiện tại
29 điểm bán thực phẩm NNHC.
1.4.2. Phạm vi về thời gian
- Số liệu thứ cấp về sản xuất NNHC và thị trường thực phẩm NNHC của thế giới
và Việt Nam giai đoạn 2019–2023 được thu thập từ Báo cáo Thế giới Nông nghiệp hữu
cơ do tổ chức FiBL & IFOAM công bố và các báo cáo chính thức của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn. Số liệu đặc điểm địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 2020-
2024 được thu thập từ nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê.
- Số liệu về các cửa hàng thuộc chuỗi các cửa hàng hữu cơ được thu thập trong
giai đoạn 2020-2024, giá bán các loại thực phẩm NNHC được thu thập trong tháng
7/2024 từ các cửa hàng bán lẻ và các website TMĐT chuyên cung cấp thực phẩm
NNHC.
- Số liệu điều tra được thực hiện qua nhiều giai đoạn, bao gồm khảo sát NTD thực
phẩm NNHC tại các điểm bán trong năm 2024. Cụ thể, quá trình thu thập số liệu diễn
ra qua các giai đoạn: (i) nghiên cứu sơ bộ tháng 3/2024, (ii) nghiên cứu thí điểm (tháng
6/2024), (iii) khảo sát NTD từ tháng 7/2024 đến tháng 10/2024, và (iv) điều tra bổ sung
cùng hoàn thiện dữ liệu từ tháng 11/2024 đến tháng 12/2024.
- Các hàm ý chính sách nhằm phát triển thị trường và các giải pháp nhằm thúc đẩy
tiêu dùng thực phẩm NNHC ở ĐBSH được đề xuất cho giai đoạn 2026-2030.
1.4.3. Phạm vi về nội dung nghiên cứu
(1) Phân tích hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC tập trung vào hành vi sử dụng,
hành vi thải loại và sự hài lòng của NTD thực phẩm NNHC ở khu vực ĐBSH.
(2) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng tập trung vào các yếu
tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ra quyết định tiêu dùng và sự hài lòng của NTD
thực phẩm NNHC.
(3) Hàm ý chính sách phát triển thị trường và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy
hành vi tiêu dùng thực phẩm NNHC ở khu vực ĐBSH.
1.4.4. Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, đối tượng NTD thực phẩm NNHC bao gồm các cá nhân
đại diện cho hộ gia đình đang tiêu dùng thực phẩm NNHC, trực tiếp đến mua hàng tại
các điểm bán tại TTTM và các cửa hàng bán lẻ thực phẩm sạch/hữu cơ.

