
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ LAN ANH
NGHIÊN CỨU VI SINH VẬT CÓ KHẢ NĂNG
CỐ ĐỊNH NITƠ VÀ TỔNG HỢP IAA CHO MỘT SỐ
CÂY TRỒNG TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Công nghệ sinh học
Mã số: 9.42.02.01
TÓM TẮT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN – 2025

Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Trần Văn Chí
2. TS. Nguyễn Thanh Hải
Phản biện 1: ....................................................................
Phản biện 2: ....................................................................
Phản biện 3: ....................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp .......
Họp tại: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia;
- Trung tâm Số Đại học Thái Nguyên;
- Thư viện trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Van Chi Tran, Pham Thi Tuyet Mai, Nguyen Thi Giang, La Van
Hien, Nguyen Manh Tuan, Nguyen Thanh Hai, Hoang Thi Lan
Anh* and Nguyen Quoc Khuong (2024). Isolation, Selection,
and Biological Evaluation for Bacteria that Fix Nitrogen and
Produce Indole-3 Acetic Acid from Paddy Soils in Vietnam.
The Open Agriculture Journal, pp. 1-16.
2. Hoàng Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Mạnh Tuấn,
Phạm Thị Tuyết Mai, Trần Văn Chí (2024). Nghiên cứu đánh
giá khả năng cố định nitơ và sinh tổng hợp Indole-3-acetic acid
(IAA) của chủng vi khuẩn Flavobacterium anhuiense MN47
phân lập từ đất trồng chè tại Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và
Công nghệ Việt Nam, tr. 34-39.
3. Trần Văn Chí*, Lã Văn Hiền, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị
Giang, Hoàng Thị Lan Anh (2023). Tuyển chọn chủng vi
khuẩn có hoạt lực cao về khả năng cố định nitơ và tổng hợp
indole-3-acetic acid (IAA) từ đất trồng chè tại xã Tức Tranh,
tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ lâm nghiệp,
tập 12, số 6, tr. 3-11.
4. Hoàng Thị Lan Anh, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Thị Giang,
Phạm Thị Tuyết Mai, Nguyễn Mạnh Tuấn, Trần Văn Chí
(2025). Phân lập tuyển chọn vi khuẩn có hoạt lực cao về khả
năng cố định nitơ và tổng hợp indole-3-acetic acid (IAA) từ đất
trồng ngô tại tỉnh Thái Nguyên và Hà Giang. Tạp chí Khoa học
và Công nghệ lâm nghiệp, tập 14, số 3, tr. 3-11.
5. Hoàng Thị Lan Anh, Hoàng Thị Thủy, Nguyễn Thanh Hải, Trần
Văn Chí (2025). Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chứa
chủng Azospirillum sp. NL1 và Azotobacter sp. NL3 đến năng
suất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và ngô tại Thái Nguyên.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp luôn giữ vai trò then chốt trong an ninh lương thực, là
nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu, đóng góp lớn vào xuất
khẩu và tạo việc làm cho phần lớn dân số nông thôn Việt Nam. Tuy
nhiên, tình trạng lạm dụng phân bón hóa học với lượng trung bình
trên 10 triệu tấn phân bón/năm, cao gấp ba lần mức toàn cầu, trong
đó phân vô cơ chiếm 75% tổng lượng sử dụng đã dẫn đến hiện tượng
suy thoái đất, ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn rủi ro sức khỏe cộng
đồng (Vũ Văn Thức, 2024).
Trước thực trạng đó, phân hữu cơ vi sinh (HCVS) được xem là
giải pháp chiến lược nhằm khôi phục độ phì nhiêu của đất, nâng cao
hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và hạn chế sử dụng phân bón hóa học
(Lukas Schütz và cs.,2017). Nhằm thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ,
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách như Quyết định
885/QĐ-TTg (2020), Quyết định 5190/QĐ-BNN-BVTV (2023), và
đặc biệt là Nghị quyết 36-NQ/TW (2023) về phát triển công nghệ
sinh học. Trong đó, ứng dụng vi sinh vật cố định nitơ – giải pháp
giúp cây trồng hấp thu nitơ từ khí quyển, đồng thời tổng hợp IAA
kích thích sinh trưởng – đang được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng
thực tiễn.
Tỉnh Thái Nguyên, với thế mạnh sản xuất nông nghiệp các cây
trồng chủ lực như chè, lúa, ngô, cũng đang đối mặt với vấn đề ô
nhiễm do phân bón hóa học. Vì vậy, đề tài luận án “Nghiên cứu vi
sinh vật có khả năng cố định nitơ và tổng hợp IAA cho một số
cây trồng tại Thái Nguyên” có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần cung
cấp giải pháp sinh học thân thiện môi trường, nâng cao năng suất và
hướng đến nền nông nghiệp bền vững. Luận án là một phần trong kết
quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ quỹ gen cấp
quốc gia “Khai thác phát triển nguồn gen vi sinh vật có khả năng
cố định nitơ và sinh tổng hợp indole-3-acetic acid (IAA) ứng dụng
trong sản xuất nông nghiệp”, mã số NVQG-2021/ĐT.04.
2. Mục tiêu của đề tài
Phân lập, tuyển chọn, định danh được chủng vi sinh vật có khả
năng cố định nitơ và sinh tổng hợp indole -3- acetic (IAA) để sản
1

xuất phân hữu cơ vi sinh cho một số cây trồng tại Thái Nguyên
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
a. Ý nghĩa khoa học
Luận án là công trình khoa học nghiên đầy đủ về đặc điểm sinh
học của một số chủng vi sinh vật cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA,
từ đó sản xuất được phân hữu cơ vi sinh giúp tăng năng suất cây
trồng tại Thái Nguyên. Là tài liệu khoa học có giá trị cho nghiên cứu,
giảng dạy và ứng dụng trong sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Phân lập, tuyển chọn được một số chủng vi sinh vật cố định nitơ
và tổng hợp IAA ứng dụng sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, góp phần
tăng năng suất cây trồng, giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học,
mang lị hiệu quả kinh tế cho người làm nông nghiệp. Là bước tiến
quan trọng trong việc phát triển các mô hình canh tác tiên tiến, đáp ứng
xu hướng nông nghiệp xanh, an toàn, bền vững và bảo vệ sức khỏe
cộng đồng.
4. Điểm mới của luận án
- Phân lập, tuyển chọn, định danh được những chủng vi sinh vật
có khả năng cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA cao thông qua đánh
giá đặc điểm sinh học, giải trình tự gen 16SrRNA và giải trình tự
toàn bộ hệ gen.
- Xác định được liều lượng sử dụng phân hữu cơ vi sinh chứa
chủng Azospirillum sp.NL1 và Azotobacter sp.NL3 tốt nhất cho cây
lúa và cây ngô tại Thái Nguyên với mức bón lần lượt là 1,5 tấn/ha
đối với cây lúa, tăng năng suất 16,62% và 2,0 tấn/ha đối với cây ngô,
tăng năng suất 15,67%
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế mô hình sử dụng phân bón hữu
cơ vi sinh trên cây lúa và cây ngô tại Thái Nguyên giúp tăng hiệu quả
kinh tế so với mô hình đối chứng lần lượt là 10.062.000 đồng/ha (tương
đương 35,7%) và 11.044.000 đồng/ha (tương đương 39,6 %).
- Mở ra hướng nghiên cứu và ứng dụng mới trong sản xuất
nông nghiệp, giải quyết được bài toán tiết kiệm lượng nitơ sử dụng
trong canh tác, đồng thời chứng minh khả năng sản xuất chất kích
2

