
UBND THÀNH PHỐ HỘI AN
PHÒNG VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN
Số: 32 /BC-VHTT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hội An, ngày 12 tháng 12 năm 2017
TỔNG HỢP
Thông tin Hội An trên báo chí từ ngày 01/12 đến ngày 12/12/2017
Từ ngày 01/12 đến ngày 12/12/2017 các báo đã có khoảng 22 tin, bài viết
về Hội An, được Ban Biên tập đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Thành phố
Hội An – Website www.hoian.gov.vn (mục Hội An qua báo chí), sau đây là một
số tin bài nổi bật:
1. TIN TỨC NỐI BẬT
* Nghệ thuật Bài Chòi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể bài
viết đăng trên Báo VOV.vn số ra ngày 7/12/2017
Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi
danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 7/12/2017 (giờ Việt Nam), tại Phiên họp Uỷ
ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ
12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc, di sản Nghệ thuật Bài Chòi Trung
Bộ Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam (ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh
Hòa và Đà Nẵng) là một loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca,
diễn xuất, hội họa và văn học. Bài Chòi có hai hình thức chính: "Chơi Bài Chòi"
và "Trình diễn Bài Chòi".
Chơi Bài Chòi liên quan đến một trò chơi thẻ bài trong chòi tre vào Tết
Nguyên đán. Trong các buổi trình diễn của Bài Chòi, anh chị Hiệu biểu diễn trên
chiếu cói, hoặc di chuyển từ nơi này đến nơi khác hoặc trong những dịp riêng tư
của các gia đình. Những người lưu giữ và thực hành nghệ thuật Bài Chòi là các
anh chị Hiệu, những nghệ nhân biểu diễn Bài Chòi đơn lẻ và những nghệ nhân
làm thẻ bài.
Nghệ thuật Bài Chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong
cộng đồng làng xã. Người trình diễn và gia đình họ đóng vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ các hình thức thực hành bằng cách giảng dạy các bài bản, kỹ
năng ca hát, kỹ thuật trình diễn và phương pháp làm thẻ bài cho các thế hệ trẻ.
Cùng với cộng đồng, những người này đã thành lập gần 90 đội, nhóm và câu lạc
bộ để luyện tập và truyền dạy Nghệ thuật Bài Chòi, thu hút sự tham gia rộng rãi
của cộng đồng. Hầu hết, nghệ nhân đều được học kỹ năng, kỹ thuật hô, hát Bài
Chòi trong gia đình, chủ yếu thông qua phương pháp truyền miệng. Tuy nhiên,

2
một số nghệ nhân Bài Chòi ngày nay cũng truyền dạy kiến thức và kỹ năng
trong các hội, các câu lạc bộ và trường học.
Theo Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, hồ sơ đề
cử di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam đáp ứng
những tiêu chí sau để đăng ký vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện
của nhân loại:
1. Nghệ thuật Bài Chòi là một hoạt động văn hoá quan trọng trong cộng
đồng làng xã, đáp ứng nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng.
Các câu chuyện trong Bài Chòi là những bài học đạo đức, thể hiện tình yêu quê
hương đất nước, sự gắn kết cộng đồng và những kinh nghiệm trong cuộc sống
của người dân. Hồ sơ đề cử đã chỉ ra được vai trò quan trọng của người lưu giữ
di sản. Là một di sản của cộng đồng, việc truyền dạy Bài Chòi diễn ra chủ yếu
trong gia đình, làng xóm, hội, câu lạc bộ và trường học. Việc thực hành di sản
Nghệ thuật Bài Chòi thúc đẩy sự bình đẳng về giới tính cũng như sự tôn trọng
lẫn nhau giữa các cộng đồng.
2. Việc ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi khuyến khích đối thoại giữa các cộng
đồng, các nhóm người và cá nhân; tạo cơ hội trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm
giữa những người thực hành, qua đó làm phong phú kiến thức và kỹ năng liên
quan đến việc thực hành các hình thức nghệ thuật. Việc ghi danh cũng có thể
củng cố mối liên kết giữa các cá nhân, các nhóm người và các câu lạc bộ thực
hành di sản và thực hành các truyền thống văn hoá khác thông qua các hoạt
động trình diễn và lễ hội liên quan. Hơn nữa, việc ghi danh sẽ nâng cao nhận
thức về sự đa dạng của di sản văn hoá phi vật thể vì Nghệ thuật Bài Chòi là sự
kết hợp của nhiều lĩnh vực văn hoá – nghệ thuật.
3. Hồ sơ đã mô tả chi tiết, rõ ràng những nỗ lực trong quá khứ và hiện tại
để bảo vệ di sản và đảm bảo sự tồn tại của các cộng đồng, các nhóm người và
các câu lạc bộ với sự hỗ trợ của Chính phủ. Những nỗ lực này bao gồm việc tổ
chức các hội Bài Chòi, trình diễn và giảng dạy bải bản và kỹ năng ca hát, cũng
như kỹ thuật trình diễn, phương pháp làm thẻ bài và các kỹ năng chơi Bài Chòi.
Thông qua Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và chính quyền địa phương, Quốc
gia thành viên sẽ cung cấp nguồn tài chính, pháp lý và nhân lực để hỗ trợ thực
hiện các biện pháp này, với sự hợp tác của cộng đồng và các nghệ nhân.
Các doanh nghiệp và ngân hàng đã đóng góp cho các hội thảo khoa học về
Bài Chòi và hoạt động văn hóa liên quan như việc thực hành và truyền dạy di
sản, cũng như sưu tầm tài liệu, tư liệu hóa và hỗ trợ các biện pháp phục hồi di
sản, vì di sản vẫn có nguy cơ mai một, chủ yếu là do những khó khăn trong việc
truyền dạy. Chính sách đãi ngộ cho nghệ nhân đã được ban hành và chương
trình giáo dục chính quy cũng đã được thiết kế để thu hút các thế hệ trẻ. Các
phương tiện truyền thông địa phương và quốc gia cam kết nâng cao nhận thức
về giá trị của di sản với phần lớn các học viên tình nguyện tham gia vào quá
trình phổ biến, quảng bá di sản.
4. Cộng đồng tích cực đóng góp ý tưởng cho việc sưu tầm và tư liệu hóa di
sản, điền vào các mẫu kiểm kê và tham gia vào tất cả các công đoạn chuẩn bị hồ

3
sơ đề cử. Các cá nhân và đại diện của các nhóm và câu lạc bộ Bài Chòi đã ký
Cam kết tự nguyện, đồng thuận của họ đối với đề cử, đồng thời, sự hiểu biết về
việc xây dựng hồ sơ đề cử của họ cũng được thể hiện trong các đoạn ghi âm và
ghi hình các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại các địa phương có thực hành Bài
Chòi. Cục Di sản văn hoá và Viện Âm nhạc Việt Nam đã được ủy thác quá trình
tham vấn thông qua các cuộc họp và hội thảo quốc gia và quốc tế được tổ chức
trong năm 2014 và 2015. Các tác động thực tiễn thông thường không tham gia
điều chỉnh hoặc hạn chế quyền tiếp cận đối với di sản.
5. Di sản này được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Việt Nam đưa vào
Danh sách di sản văn hoá phi vật thể quốc gia trong giai đoạn 2014-2016. Bản
kiểm kê được lưu giữ tại Phần mềm Hệ thống thông tin quản lý di sản văn hoá
phi vật thể của Cục Di sản văn hoá Việt Nam. Các Sở Văn hoá, Thể thao và Du
lịch/Sở Văn hóa và Thể thao của 9 tỉnh có Bài Chòi chịu trách nhiệm phối hợp
với cộng đồng để báo cáo hàng năm về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch các
thông tin kiểm kê di sản Bài Chòi. Viện Âm nhạc Việt Nam quản lý cơ sở dữ
liệu về Nghệ thuật Bài Chòi và cập nhật hàng năm.
Việc UNESCO ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam tại Danh
sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định bản sắc văn
hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, sự gắn kết cộng đồng, đề cao tôn trọng đa
dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, các cộng đồng và các
dân tộc khác nhau vì sự khoan dung, tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và
mục tiêu của Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của
UNESCO./.
Tố Uyên
2. SỰ KIỆN –VẤN ĐỀ
* Trưng bày 1.000 ấn phẩm về Di sản văn hóa Hội An thông tin đăng trên
Báo Quảng Nam số ra ngày 01/12/2017
;
Nhân kỷ niệm ngày Di sản Văn hóa Hội An và 18 năm ngày Đô thị cổ Hội
An được công nhận là Di sản văn hóa thế giới (4/12), Phòng VH-TT TP.Hội An
tổ chức trưng bày tư liệu, ấn phẩm và chiếu phim tài liệu về di sản văn hóa Hội
An tại Thư viện Thanh Hóa, phục vụ đông đảo nhân dân, học sinh, du khách và
bạn đọc của thư viện.
Với hơn 1.000 tài liệu sách, báo tuyên truyền, thư viện đã sắp xếp các mô
hình sách về Chùa Cầu, Khu di tích Mỹ Sơn, đảo Cù Lao Chàm, kết hợp trưng
bày các ấn phẩm lịch sử về văn hóa, con người Hội An, Quảng Nam và các di
sản của Việt Nam. Không gian trưng bày còn giới thiệu những ấn phẩm về học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; sự hình thành Thư viện Thanh
Hóa và kết hợp chiếu phim tài liệu về Di sản văn hóa Hội An. Dịp này, học sinh
các trường tiểu học và THCS trên địa bàn tham gia các hoạt động “Chúng em
cùng nhau khám phá thư viện”, bốc thăm và trả lời các câu hỏi về lịch sử, di sản,
từng bước nâng cao kiến thức xã hội.
Lê Hiền

4
* Quy định homestay Hội An: Để giữ giá trị văn hóa bản địa mà không vi
hiến bài viết đăng trên Báo Người Đô Thị (Viện nghiên cứu đô thị và phát triển
hạ tầng) số ra ngày 01/12/2017
LTS: Có nhiều ý kiến cho rằng việc UBND Quảng Nam vừa qua có những
quy định làm homestay ở Hội An là vi hiến. Bài viết của Người Đô Thị dưới đây
nhằm chia sẻ một góc nhìn về vấn đề này, đồng thời là làm sao vẫn bảo hộ được
giá trị bản địa.
UBND tỉnh Quảng Nam vừa có Quyết định 3890/QĐ-UBND Ban hành
Quy chế quản lý hoạt động kinh doanh nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
(homestay). Trong số các điều kiện kinh doanh homestay của Quyết định, xin
bàn về điều kiện chủ kinh doanh phải có hộ khẩu hoặc đăng ký thường trú tại
căn nhà làm dịch vụ thì mới được kinh doanh.
Quy định nói trên nhằm bảo tồn, phát huy và giới thiệu truyền thống
văn hóa, lịch sử, đời sống sinh hoạt của người dân địa phương với du khách.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng đây là một cách bảo hộ dân địa phương không
đúng cách. Bên cạnh đó, có người đặt vấn đề, liệu quy định này có vi hiến, trái
luật không, cụ thể có làm ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của công dân?
Quả thật, nếu coi hộ khẩu hoặc đăng ký thường trú là một điều kiện cần
thiết mới được kinh doanh homestay thì sẽ vi hiến, vi phạm quyền tự do kinh
doanh của công dân. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ đang nỗ lực cắt
giảm mạnh các điều kiện kinh doanh vi hiến, trái luật; thay đổi cái nhìn về hộ
khẩu. Để vừa bảo hộ giá trị văn hóa bản địa, vừa tuân thủ Hiến pháp, pháp luật,
trước hết cần xuất phát từ bản chất của homestay.
Ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An, cho rằng: nếu không có
gia đình người dân bản địa ở đó, thì nó không phải là hình thức homestay.
Khách du lịch được sống trong căn nhà của người bản địa, sống chung và sinh
hoạt như một thành viên trong một gia đình. Người viết bài này thử tìm hiểu
homestay ở các nước thì thấy họ quan niệm tương tự như vậy.
Ví dụ, theo quy định của Hội đồng thành phố Asheville, Mỹ, homestay là
việc thuê phòng trong một ngôi nhà tư nhân; cư dân thường xuyên sống trong
ngôi nhà đó phải ở cùng trong thời gian khách lưu trú. Tương tự, ở bang Kerala
và nhiều bang khác của Ấn Độ, homestay chỉ những trường hợp chủ nhà cùng
với gia đình thực sự sống ở căn nhà làm dịch vụ cho khách du lịch thuê phòng;
chủ nhà hoặc thành viên gia đình phải ở cùng khách trong thời gian khách lưu
trú.
Ở Việt Nam, theo Thông tư 88/2008/TT-BVHTTDL, nhà ở có phòng cho
khách du lịch thuê (homestay) “là nơi sinh sống của người sở hữu hoặc sử dụng
hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú du lịch, có trang thiết bị, tiện nghi cho
khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của
chủ nhà”.

5
Như vậy, quan niệm này cũng có những điểm giống với ở các nước, tức là
người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp sinh sống tại ngay căn nhà. Tuy nhiên, nó
lại nằm trong điều khoản định nghĩa về homestay, chứ không phải quy định có
tính bắt buộc rõ ràng như ở các nước.
Quyết định 3890 của UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã yêu cầu “chủ kinh
doanh homestay hiện đang sinh sống tại ngôi nhà kinh doanh”, nhưng như vậy
vẫn chưa rõ ràng, cụ thể.
Căn cứ trên điều khoản nói trên của Thông tư 88, UBND tỉnh Quảng Nam
có thể sửa đổi Quyết định 3890/QĐ-UBND, bỏ yêu cầu về hộ khẩu. Đồng thời,
cần cụ thể hóa thành quy định rõ ràng hơn, cần thể hiện nội dung: chỉ những
người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp căn nhà đang sinh sống ở đó trong một
thời gian nhất định (ví dụ 6 tháng) mới được kinh doanh dịch vụ cho khách du
lịch thuê phòng ở cùng; họ phải ở cùng khách du lịch trong thời gian lưu trú.
Để xác minh việc “sinh sống”, có thể tìm hiểu qua cư dân ở khu vực đó,
qua tổ dân phố, thôn, chính quyền cơ sở, hoặc công an khu vực. Lúc đó, hộ khẩu
hoặc đăng k ý thường trú chỉ là một nguồn thông tin để xác minh việc sinh sống
của người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp tại căn nhà đó, chứ không phải là một
điều kiện để được kinh doanh như quy định mới ban hành.
Luật Du lịch quy định, “Uỷ ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ,
tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương”.
Quyết định 3890 của UBND tỉnh Quảng Nam cũng xuất phát từ cái tâm của
chính quyền muốn bảo vệ công dân của mình. Chỉ cần sửa đổi theo hướng tránh
được sự vi hiến, thể hiện bản chất, yêu cầu của homestay, chính quyền sẽ giúp
duy trì được nét văn hóa của người dân bản địa, giữ được sự quyến rũ khách ở
nét duyên dáng của người dân trong sinh hoạt hàng ngày. Đồng thời, giúp người
dân vừa duy trì được nghề chính, truyền thống của mình mà không phải bán đất,
không phải làm thuê trên đất của mình, mà vẫn được làm chủ trên đất của mình.
Nguyễn Đức Lam
* Đào tạo lao động cho dự án trọng điểm: Nhiều vướng mắc cần tháo gỡ
thông tin đăng trên Báo Quảng Nam số ra ngày 09/12/2017
Thiếu hụt lao động
Với TP.Hội An, nơi mọi người đổ xô vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du
lịch, thì công việc trong nhà máy càng không phải là lựa chọn của LĐ. Chỉ tiêu
giao về cho Hội An năm 2017 là 700 LĐ, nhưng đến nay mới tuyển được... 9
người đi học nghề may ở một công ty may thời trang. Ông Lê Viết Phúc -
Trưởng phòng LĐ-TB&XH Hội An cho rằng, việc giao chỉ tiêu không sát nhu
cầu thực tế, không đúng với tình hình của Hội An nên không thể nào thực hiện
được. Ông Phúc phân tích, LĐ ở Hội An ưu tiên tìm việc làm ở khu vực du lịch,
dịch vụ hơn, do thời gian làm việc thoải mái, thu nhập cao, lại được giao tiếp,
không phải ngồi làm việc ngày 8 tiếng. Người Hội An làm nghề may đã là nghề

