Trận Như Nguyệt 1075 -1077
Trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn diễn ra một khúc sông Như Nguyệt (hayng
Cầu) vào năm 1077, là trận đánh tính quyết định của cuộc chiến tranh Tống Việt lần 2,
là trận đánh cuối cùng của triều Tng của Trung Quốc trên đất Đại Việt. Trận chiến
diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bng chiến thắng của quân Đại Việt và thit hại nhân
mạng lớn của quân Tống, đánh bi hoàn toàn ý chí xâm lược Đại Việt của họ, buộc họ
phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia.[7]
Tiền đề
Nhà Tng, Trung Quốc vào thế kỷ 11 ý định xâm ợc Đại Việt để mở rộng lãnh thổ,
nhằm giải quyết một s khó khăn về đối nội và đối ngoại, đồng thời trả thù lần thất bại
trong cuc chiến tranh Tống-Việt lần 1 trước đó[8]. Họ ra sức chuẩn bị cho việc tiến công
Đại Việt: xây dựng đường giao thông, cở sở chứa lương thực[9], huấn luyện binh sĩ, cho
quân đóng trại sát biên giới Tống-Việt.[10]
Nhà Lý sm nhận ra ý định này của nhà Tng nên tích cực chuẩn bị cho chiến
tranh[11][12], tăng cường mi quan hệ với các dân tc thiểu số tại vùng núi phía Bắc[12],
không để họ ngả theo phe nhà Tng.
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất, vua Lý Nhân Tông lên ngôi khi mi bảy tuổi, việc
quân scủa Đại Việt nằm trong tay Thái Úy Lý Thường Kiệt[12]. Ông chủ động m
cưộc tấn công qua bên kia biên giới vào năm 1075 nhằm phá hy các cơ sở mà nhà Tng
đã chuẩn bị cho chiến tranh. Cuộc tấn công là mt bất ngờ lớn với nhà Tng[13] kết thúc
với một thắng lợi, phủy nặng nề các cơ sở mà nhà Tng đã xây dng mà đặc biệt là
phá hủy thành Ung Châu[14], tòa thành chiến lược của nhà Tng. Nhà Tống vn quyết
tâm tiến hành chiến tranh, vua Tống Thần Tông cử Quách Qu chỉ huy, viên ngoại lang
bộ lại Triệu Tiết làm phó tướng cho cuộc tấnng thay đổi kế hoạch và chun bị kỹ hơn
cho cuc tiến quân. H điều động cả bộ binh lẫn thủy binh nhằm chuẩn bị đánh Đại
Vit.[2]
Trước binh lực mạnh của nhà Tng, Lý Thường Kiệt quyết định chọn chiến lược phòng
thủ[15]: ông dùng các đội quân của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc nhằm quy
rối hàng ngũ của quân Tng[16]. Các tướng Lưu Kỹ, phò mã Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ
An đem quân hãm bước tiến quân Tống ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, đồng thời chặn
một bô phận thủy quân của nhà Tng từ Quảng Đông xuống[16]...Bản thân Lý Thường
Kit lui về xây dựng một phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để biến nơi đây nơi diễn
ra trận đánh quyết định của cả cuộc chiến.[17]
Lực lượng
Quân Tng huy động khoảng 100.000 quân chiến đấu (45.000 vạn binh tbiên giới với
Liêu Hạ, số còn lại là binh trưng tập)[1], 10.000 ngựa, 200.000 dân phu,[2][3] đồng thời
sự hỗ trợ t lực lượng thủy binh. Quân đội kinh nghiệm chiến đấu dày dn trang bị
tốt với máy bắn đá, và ha tin.[15] Chỉ huy là Quách Qu và phó ch huy là Triệu Tiết
cùng với nhiều tướng khác được điều về tmin bắc Tống.[2]Trong số này 4,5 vạn là
quân rút t miền biên giới Liêu Hạ, do 9 tướng chỉ huy. Scòn lại là trưng tập ở các l,
đặc biệt là các lộ dọc đường từ kinh đô đến Ung Châu.[18]
quận quân chủ lực của nhà Lý gm thủy binh và bộ binh phòng thủ và chiến đấu tại
sông Như Nguyệt có 60.000 quân[19][4] và mt số lc lượng không tham gia trực tiếp
o trận đánhng để hãm cn và quấy rối tiếp vận phía sau có tầm trên 15.000.[16]
Chiến trường
Đoạn sông Như Nguyệt mà Lý Thường Kiệt chọn lựa xây dựng phòng tuyến có vị trí
mang tính chiến lược: có núi ở cả hai bên b[20], đoạn sông có chiều dài khá rng lên
hơn 100 mét[21], vắt ngang con đường dễ dàng nhất để vượt qua sông Cầu[22], con sông
chn mi đường trên bộ có thể dùng để tiến quân vào Thăng Long[22]. Trên khúc này có
khoảng 11 bến đò ngang: Như Nguyệt, Tiểu Lâm, Dũng Liệt, Phù Yên, Đẩu Hàn, Phù
Cầm, Lượng Sài, Đáp Cầu, Yên Ngô, Bằng Lâm, Phả Lại[22]. Hai bến có tuổi đời lâu và
quan trng nhất là Như Nguyệt và Thị Cầu (hay Đáp Cầu về sau) nm trên đường giao
thông quan trng tiến vào Thăng Long và là con đường thuận lợi nhất để quân Tống vượt
qua sông và tiến về Thăng Long. Vì địa thế quan trọng này, Lý Thường Kiệt quyết định
lập mt phòng tuyến tại đây nhằn đánh một trận chiến lược[23]
Khu vực phòng thmà Lý Thường Kiệt xây dựng chạy dài tchân núi Tam Đảo (khoảng
Đa Phúc) với nhiều chổ núi ăn sát bờ sông hoặc rừng cây có mật độ dày đặc. Đa hình
này thể được li dụng để ngăn việc vượtng dễ dàng, tạo điều kin cho quân nhà Lý
không cần phải xây dựng một chiến tuyến dài hết nam sông Như Nguyệt mà ch cần xây
ở các khu vực đường giao thông, quan trọng nhất là đoạn Như Nguyệt, Thị Cầu và Vn
Xuân.[24]
Chiến lũy của phòng tuyến được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày my tầng làm
dậu[25]. Dưới bãi sông được bố trí các hố chông ngầm tạo thành một phòng tuyến rất
vững chắc. Quân của nhà Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, mà quan trọng
nht là ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động[26]. Mỗi trại binh có thể có thêm thủy
binh phi hợp. Quân chủ lực do chính Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên
Đức,[27]. một vị t có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mi ngả đường
tiếng về Thăng Long. Quân Tống cũng đóng dọc theo hai bờ sông, tập trung ở các vị t
quan trng: phó tướng Triệu Tiết đóng tại khu vực ngày nay là thôn Mai Thượng, xã
Mai Đình, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang khoảng đối diện bến Như Nguyệt[28]; quân chủ lực
do Quách Qu chỉ huy đóng tại phía đông các Triu Tiết chng 30 km khoàng đối din
với Thị Cầu[28]. Một bộ phận khác đóng tại các vị t cần thiết, các ngọn núi quan trọng
như núi Phượng Hoàng và núi Tiên, phòng trường hợp bị quân nhà Lý tiến công hoặc có
th tổ chức vượtng nếu hoàn cnh cho phép.[28]
Trận đánh
Quân Tng tấn công lần thứ nhất
Quân Tng dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ tiến tới bờ bắc sông Như Nguyệt không đến
ni khó khăn lắm.[29] Quách Quỳ thấy vậyng muốn thực hiện chiến lược đánh nhanh
thng nhanh mà vua Tng đã đề ra.[29] Nhưng vì thủy binh chưa đến, Quách Quỳ quyết
định cho quân đóng trại tại b bắc sông Như Nguyệt đối diện với phòng tuyến của quân
nhà Lý[28] để chờ thủy binh hỗ trợ cho việc vượt sông.[30]
Sau mt khoảng thời gian chờ đợi, Quách Qu quyết định tổ chức vượtng, vì trước trại
của Quách Quỳ tại Thị Cầu có một trại quân mạnh cùa nhà Lý án ngữ khiến ông không
dám cho quân vượt sông ở Thị Cầu. Cùng lúc, hai tướng Miêu, đóng tại Như Nguyệt
o với Quách Quỳ rằng quân Nhà Lý đã trn đi và xin lệnh đem binh vượt sông. Quách
Quỳ chấp nhận và tướng Vương Tiến bắt cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý
khoảng 2.000 người vượtng.[30] Cuộc vượt sông đã thànhng, họ đã chọc thủng
được phòng tuyến của quân Lý[30], sẵn đà thắng đội tiên phong của Miêu, Lý định tiến
nhanh về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy i thì b phục kích, bao vây,
chn đánh dữ dội tại cầu Gạo, núi Thất Diệu[31]. Miêu, ng những binh sĩ còn sống
chy về phía Như Nguyệt nhưng đến nới thì cầu phao đã b hủy và gặp quân nhà Lý đón
đánh và bị diệt gần hết, dù quân Tng đóng bên bờ bên kia có cố gắng cho bè sang hỗ trợ.
Thất bại của Miêu và Lý đã làm cho Quách Quỳ hết sức tức giận và định xử tử viên
"tướng kiêu" này.[31]Mô tả trận đánh này, mt tác giả đời Tống viết: Binh thế dứt đoạn,
quân ít không địch nổi nhiều, bị giặc ngăn trở, rơi xuống bờ sông”.
Quân Tng tấn công lần thứ hai
Sau thất bại này, Quách Quỳ nhận ra quân nhà Lý không bỏ bất cứ đoạn nào trên phòng
tuyến, nên ông không dám vượt sông mà không có thủy binh nữa nên buộc phải chờ thủy
binh tới.[32] Vì thủy binh quân Tống khiy đã b chặn lại ngoài biển nên không vô được,
buộc Quách Quỳ phải tổ chức đợt tấn công lần hai mà không có sự hỗ trợ của thủy binh.
Lần này, quân Tng dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn
với sức chưa khoảng 500 quân để vượt sông.[33] Quân Tống t đổ sang bờ nam nhưng
họ phải vừa ra sức chặt lớp trại rào tre, vừa phải chống li các đợt phảing mãnh liệt
của quân nhà Lý mà sbinh tiếp viện li không qua kp nên quân bvỡ trận và thiệt hại
nặng. Đợt tấn công lần hai lại kết thuc với mt thất bại. Việc này đã kiến Quách Quỳ thấy
rằng, nếu không có thủy binh hỗ trợ sẽ không thể vượt sông được, ông buộc phải ra lệnh
đưa quân về thế phòng thủ và tuyên b rằng: "Ai bàn đánh sẽ chém!"[34], phá sản ý định
đánh nhanh thắng nhanh của nhà Tng. Họ chỉ dám lâu lâu dùng máy bắn đá bắn sang bờ
nam.[35]
Với tình thế này; cng với nhiều khó khăn vìc do về tình hình nhà Tng[34], sự
quấy rối của cư dân đa phương, và việc thiếu lương thực do các cơ sở tiếp vận đã b p
hủy trong cuộc tấn công năm 1075 của Lý Thường Kiệt, và khâu tiếp vận cho 100.000
lính và 10.000 ngựa vốn dĩ cần ít nhất 400.000 phu quá sức 200.000 phu mà quân Tng
đang có; đã khiến họ tr nên bị động và suy giảm sức chiến đấu.[34][36]
Quân nhà Lý phn công
Hai tháng sau đợt tấn công cuối cùng, quân Tng lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan:
họ ngày càng mệt mỏi, hoang mang vì tin tức vì chmãi thy binh không thấy thủy binh
đâu. Và thêm sự không hợp k hậu Đại Việt, dù đã có thầy thuốc đi theo nhưng bệnh tật
vẫn làm cho nhiều binh sĩ ốm và một s chết nhưng họ không thể rút lui vì đó là mt sự
nhục nhã và ti lớn với triều đình nhà Tng[37]. Dù vậy, thế của quân Tống vẫn còn
mạnh, họ vẫn cố thủ ở bờ bắc Như Nguyệt tìm cách dụ quân nhà Lý tấn công. Lý Thường
Kit nhận ra đây là thời cơ tốt để tổ chức tiến công, ông nghiên cứu cách bố phòng của
quân Tng và tchức các đợt tấn công theo kiểu tập kích chia cắt quân Tống[38].
Đầu tiên, ông mở một tấn công vào khối quân của Quách Quỳ đang đóng ở Thị Cầu
nhằm kéo sự chú ý của toàn b quân Tng về hướng nàybiết rằng Quách Quỳ có một
khi quân khá lớn và bố phòng rất cẩn thận. Ông lệnh cho hai Hoàng tử là Lý Hoằng
Chân và Lý Chiêu Văn dùng 400 chiếc thuyền chở khoảng 2 vạn quân từ Vạn Xuân tiến
lên Như Nguyệt.[39] Đoàn thuyền vừa đi vừa phô trương thanh thế nhằm kéo sự chú ý
của toàn b quân Tống về hướng họ. Quân Lý đổ quân lên bờ bắt tấn công thẳng vào
doanh trại quân Tống. Thời gian đầu họ chiếm ưu thế, đẩy quân Tống vào sâu, buộc quân
Tống phải huy động hết lực lượng đem cả đội thân quân ra đánh. Tất cả các thuộc
tướng cao cấp của Quách Qu như Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lý Tường,
Diên Chủng đều có mặt trong chiến địa. Thời gian sau, quân Tống lấy lại hàng ngũ tổng
chức phản công, đẩy quân Lý lên thuyền để rút đi. Đồng thời quân Tng còn cho máy
bắn đá bắn với theo, đánh chìm một số chiến thuyn. Trận này quân Lý mất hai vị hoàng
t Hoằng Chân và Chiêu Văn và khoảng mấy nghìn quân.[39] Cùng lúc vi trận đánh ở
trạnh của Quách Quỳ, khi mọi sự chú ý của quân Tống đều đổ dồn về phía đó, Lý
Thường Kiệt đích thân dẫn đại quân đánh vào doanh trại của Triệu Tiết[39].
Triu Tiết đóng tại bắc Như Nguyệt trên một khu vực tương đối rộng và quan đãng trên
một khu đất tên Dinh hai bên trái phải là khu đất Miễu và Tri, bố trí theo kiểu dã chiến
không lũy tường tchức phòng ngự tạm. Triệu Tiết có chừng 3-40.000 quân chiến đấu,
có thể đã điều mt s đi tiếp ứng cho Quách Quỳ đang bị tấn công[40]. Nhưng ngay sau
khi quân Lý ở phía Quách Quỳ bị đánh lui, quân của Triệu Tiết bị mt cánh quân của
Thường Kiệt tập ch và đánh bại, thương vong trên một nửa quân số[40] đến gần
hết[41]. Số quân Tống chết nằm la liệt cái gò nơi họ đóng quân, về sau cư dân địa
phương gọi đó là Xác haynh đồng Xác.[42]
Hai đợt tấn công này đã khiến quân Tống lâm vào cảnh ngặt nghèo, thế phòng ngự bị
rung chuyển và có khả năng sẽ bị đánh bại nếu vẫn tiếp tục cố thủ.[43]
Quân Tng rút về nước
Để có thể kết thúc chiến tranh mt cách mềm dẻo, ít đổ máu, Thường Kiệt chủ động
đưa ra lời đề nghị giảng hòa. Quách Qu tuy ngoài miệng vẫn lên ging nhân "hàng thư"
của nhà Lý nhưng lại mừng trong bụng, trước khi đi Quách Quỳ còn đòi giữ các vùng đất
mà quân Tng đã chiếm được.[43]
Tháng 3 năm 1077, vì sợ bị quân nhà Lý tập ch, Quách Quỳ mật ra lnh lui binh vào
ban đêm. Quân Tống lui binh trong một tình cảnh hỗn loạn của mt cuộc tháo chạy.[44]
Thường Kiệt cho quân đi theo hướng quân Tống rút đi thu hi các ng đất đã b
chiếm giữ trước đó là châu Môn, Quang Lang, Tô Mậu, Tư Lang. Riêng Cao Bằng thì ti
1079 mới lấy lại được.[44]
Kết quả
Các nhà nghiên cứu hiện đại đánh giá đây là chiến thắng lớn nhất và là trận chiến ác liệt
nht kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt trong việc chống phương Bắc
xâm lược. Chiến thắng này đã đánh dấu sự thành công nhiều chiến thuật chiến tranh
phòng thủ và chủ động tấn công của danh tướng Lý Thường Kiệt trước mt nước lớn hơn
nhiều lần.[45]
Quân Tng mất tổng cộng 8 vạn quân và 8 vn phu[46]. Toàn b chi p chiến tranh ngốn
mất 5.190.000 lạng vàng[46][6]. Thất bại này đã làm cho nhà Tng mất hẳn ý c xâm
lược Đại Việt hay "quận Giao Chỉ" theo cách gọi của họ khi đó và buộc phảing nhận
"Giao Ch Quận" là một quốc gia có tên "An Nam Quc".[46]
Năm Mậu Ngọ (1078) vua Nhân Tông mở cuộc giao hảo vi Bắc triều. Sứ thần Đại Việt
là Đào Tông Nguyên đưa 5 con voi đă thuần sang cống vua Tống và đi đòi lại những
châu, huyện ở miền Cao Bằng. Tống triều ưng thuận với điều kiện là quân Lý phải trlại
cho nhà Tng những thường dân Tống ở các châu Khâm, Liêm, Ung bị quân Lý bắt đem
v nước làm nô tì trong năm 1075 tt cả là 221 người. Trước khi cho họ về, nhà Lý cho
tch vào trán con trai từ 15 tuổi trở lên ba chữ "Thiên tbinh", đàn ông từ 20 tuổi trở lên
tch chữ "Đầu Nam Triều" và vào cánh tay trái đàn bà con gái hai chữ "Quan Khách" để
làm nhục nhà Tng.[47]
Chú thích
1. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh 1997, tr. 153.
2. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí 1998, tr.
30.
3. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh 1997, tr. 154.
4. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh 1997, tr. 156.
5."Trận Như Nguyệt (18.1 - 28.2.1077)". Bách khoa toàn thư Việt Nam. truy cập 2008-
06-27.
6. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh 1997, tr. 164.
7. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí 1998, tr.
69-71.
8. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí 1998, tr.
23
9. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí 1998, tr.
24.
10. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí 1998, tr.
25
11. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí 1998, tr.
26. 12. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí
1998, tr. 27. 13. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá
Chí 1998, tr. 29. 14. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần
Bá Chí 1998, tr. 28. 15. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị m,
Trần Bá Chí 1998, tr. 31. 16. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị
Tâm, Trần Bá Chí 1998, tr. 35. 17. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm
Th Tâm, Trần Bá C 1998, tr. 37-39.
18. "Kháng chiến chống Tống (1075 - 1077)". Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
(2005-11-11). truy cập 2008-06-27.
19. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí 1998, tr.
44. 20. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí
1998, tr. 42-48.
21. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí 1998, tr.
39. 22. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá Chí
1998, tr. 37. 23. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thịm, Trần Bá
Chí 1998, tr. 46. 24. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần
Bá Chí 1998, tr. 40-41.
25. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí 1998, tr.
39-40.