LUẬN VĂN:
Triết học Mác Lê Nin , thế giới quan ,
phương pháp luận khoa học của hoạt
động nhận thức và thực tiễn
A. Đặt vấn đề
a.Lí do chọn đề tài
Khi bắt đầu làm quen với môn Triết học các bạn sinh viên m th nhất
thường rt lúng túng cảm thấy môn Triết học thực sự rất khó hiểu . Với 1 s
lựơng kiến thức lớn với hơn 500 trang của giáo tnh thì đó là 1 thử thách nếu chúng
ta không hiểu ngay từ đầu ý nghĩa của việc học n Triết học nói chung và Triết hoc
Mác i riêng
Đề i này nội dung ơng đối tổng quát về c 1 hệ thống Triết hoc Mác,
bắt đầu từ s ra đời của triết học và quá trình xuất hiện những tư tưởng thời đại làm
sản sinh ra triết học chủ nghĩa Mac Le Nin . Sau đó duy biện chứng cộng với thế
giới quan duy vật làm cho triết học Mac trở thành một khoa học giải thích về thế giới
đặc biệt trong xã hội và duy logic . Điều đó giúp cho chúng ta thể nắm bắt
đưc hình thức nội dung muốn trình bày của giáo tnh ngay từ những bước đầu tiên
.
b.Mục đích và yêu cầu của đề tài
đi mang tính chất dẫn phương hướng học môn Triết học tôi nghĩ cần
nêu ràng các khái niệm tiêu biểu và tác dụng của từng phần được nói đến trong đ
tài .
Đề tài gồm 3 phần
- Triết học nói chung và Triết học Mác nói riêng
- Nguồn gốc và vai trò mang tính lịch scủa Triết học Mác
- Thế giới quan phương pháp luận khoa học của hoạt động nhận thức
thực tiễn .
B. Nội dung
I.Triết học nói chung và Triết học Mác nói riêng
Triết học là ? Triết học khoa học về các quy luật chung nhất cả tồn
tai (giới tự nhiên hội)lẫn tư duy của con người , quá trình nhận thức đều phải
phục tùng . Triết học một trong những hình thái ý thức hội , xét cho cùng b
quy định bởi các quan hệ kinh tế của hội . Thuật ng“triết học“ bắt gặp làn dầu
tiên ở Pi-Ta-Go Platon người đầu tiên đã tách nó ra thành một khoa học riêng .
Triết học đã ra đời trong hội chiếm hưu l với tính cách 1 khoa học hợp nhất
toàn thtri thức của con người về thế giới khách quan về bản thân mình. Trong
tiến trình phát triển của thực tiễn sản xuất hội của sự tích luỹ các tri thức khoa
học , đã diễn ra quá tnh tách ra của các khoa học riêng biệt khỏi triết học đồng
thời quá trình tách triết học thành 1 khoa học độc lp . Triết học với tính ch khoa
học nảy sinh do scần thiết phải xây dựng 1 quan điểm chung về thế giới , phải
nghiên cứu các nguyên chung và các quy luật của thế giới , do nhu cầu phải có
phương phápduy hợp lý và căn cứ đối với hiện thực , do nhu cầu phảilozic
lí luận nhận thức .
Vấn đề cơ bản của triết học với tính cách một khoa học đặc biệt – đó là vấn đ
quan hệ của duy đối với tồn ti , của ý thức đối với vật chất . Mọi hệ thống triết
học đềugiải quyết 1 cách cặn k , cụ thể vấn đề này ngay chovấn đềbản
đây không được nêu lên trực tiếp . Cả sự phân cực của triết tnh hai khuynh
ng đối lập nhau , thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy m,cũng gắn liền
với điều đó ; nhnguyên luận giữ vị trí trung gian giữa 2 khuynh hướng nói trên .
Cuộc đấu tranh giữa chủ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên qua toàn bộ
lịch striết học nsợi chchủ yếu , làm thành trong những động lực chính
của triết học . Cuộc đấu tranh y gắn chặt với sphát triển của hội , với các
quyền lợi kinh tế , chính trị tưởng của các giai cấp .Việc giải thích thêm các
vấn đề riêng biệt của khoa học triết học , sự tách ra trong bản thân nó những mặt
khác nhau với tính cách những bộ phận tương đối độc lập và đôi khi rất khác nhau .
Các bộ phận đó là : bản thể luận , nhận thức luận , logic học , đạo đức học , mỹ học ,
tâm lý học , xã hội học và lịch striết học. Đồng thời do còn nhiều những tri thức cụ
thể nên triết học tìm cách thay thế các mối ln hệ các nh quy luật còn chưa biết
hết của thế giới bằng những điều tưởng tượng ; do đó biến thành một khoa học
đặc biệt đứng trên tất cả các ngành khoa học khác , trở thành khoa học của c
khoa học” . Đối với giới tự nhiên , triết học y đóng vai triết học tự nhiên ; đối với
lịch sử đóng vai trò triết học của lịch sử . Triết học của HêGhen một hệ thống
cuối cùng thuộc loại này . Song , cùng với sphát triển sự phân hoá của các tri
thức , mọi cơ sở của sự tồn tại của triết học với tư cách khoa học của các khoa học đã
biến mất . S hiểu biết sáng rõ về cái nhu cầu khoa học đã làm nảy sinh triết học với
cách là một cách đặc bit , sự hiểu biết về địa v vai trò của triết học trong
thành phần của nền văn hoá tinh thần , và do đó , cả phạm vi các vấn đề của triết học
(đối tượng của triết học) đã đạt đưc lần đầu tiên trong chủ nghĩa Mác nin .
Không thể nhận thức luận về các hiện tượng của thế giới chung quanh nếu
không 1 tư duy phát triển vmặt logic . Nhưng các phạm trù và quy luật logic , do
kết quả của sự phân công lao động đã hình thành trong lịch sử giữa các khoa học , lại
đưc chính triết học nghiên cứu . Triết học mác xít lê nin nít đã phát triển và đã thực
hiện triệt để nguyênduy vật trong việc quan niệm thế giới khách quan duy ,
đã làm cho nó phong phú thêm bằng quan niệm biện chứng ,đã xây dựng logic biện
chứng. Khi xem xét các hình thức và các nh quy luật logic với tính cách những
hình thức tính quy luật phát triển của các quá tnh tự nhn lịch sử hội đã
đưc toàn bộ thực tiễn của loài người nhận thức khảo nghiệm , triết học c xít
đã thủ tiêu sự phân biệt giữa bản thể luận , logic họcluận nhận thức . Sự thống
nhất giữa phép biện chứng , logic học luận nhận thức nguyên cơ bản của
chủ nghĩa duy vật biện chứng. Do đó lý luận triết học của chủ nghĩa Mác là cách giải
quyết duy vật biên chứng cặn kẽ cụ thể của vấn đề cơ bản của triết học . Ở đây , c
hình thức các quy luật logic những hình thức các quy luật phổ biến được
phản ánh trong ý thức con người , của sự diễn biến bất quá trình tnhiên lịch
sử xã hội nào , là những trình độ tái hiện về mặt lý luận các đối tượng phù hợp với sự
phát triển hiện thực của chúng . Phát triển trên cơ smột quan niệm như vậy về vai
trò đi tượng những nhiệm v hiện thực trong sự phát triển của văn hoá loài
người , triết học đóng vai 1 công cụ ng mạnh của nhận thức hoạt động của con
người , đóng vai 1 nhân tố tích cực của của sự phát triển hơn nữa của nhận thức . Với
quan niệm nvậy về triết học ,c bộ phận của tâm học , luân lý học , mỹ
học- ngày càng biến thành các khoa học độc lập , chỉ được coi là triết học chẳng qua
truyền thống . Thực ra i truyền thốngy cũng căn c, bởi vì các khoa học
vừa được nói đến đếu gắn liền nhiều nhất với các vấn đề triết học đặc thù , c thể
với vấn đquan hệ qua li chủ thể khách thể . Triết học góp phần vào sphát
triển tự ý thức của con người , vào việc hiểu đa vị và vai trò của các phát minh khoa
học trong hệ thống phát triển chung của văn hoá nhân loại , do đó cung cấp 1 thước
tỷ l để đánh giá chúng cho mối liên hệ giữa các khâu riêng lẻ của tri thức trong
tính thống nhất của thế giới quan . Những xu hưng phản triết học cái vốn
trong c luận sản hiện đại. tuyên bố c vấn đề triết học là các vấn đề gi
hiệu , tìm cách thay thế sphân ch triết học đối với sự phát triển của tri thức hiện
đại của thực tiễn bằng sự phân ch ngôn ngcủa khoa học , tức bằng sự phân
tích ngôn ngữ học - ngữ nghĩa học các hình thức bên ngoài của duy ngôn ng
các hệ thống kí hiệu để biểu diễn tưởng v..v Do đó về thực chất triết học với
cách 1 khoa học đã bthủ tiêu . vậy cho nên con đường duy nhất để phát triển
triết học với tính cách 1 khoa học riêng bệt vẫn con đưng của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, con đường tiếp tục những truyền thống ưu tú của triết học thế giới .
II.Nguồn gốc và vai trò mang tính lch sử ca Triết học Mác
trên chúng ta cũng đã hiểu triết học trong lịch sử triết học , mỗi
giai đoạn lịch sử lại xuất hiện 1 dòng triết học mang tưởng của thời đại đó . Triết
học với khái nim 1 hình thái ý thức xã hội môn khoa học nghiên cứu về các
nguyên lý chung nhất của sự vận động trong tư duy , xã hội và t nhiên , như vậy thì
mỗi 1 giai đoạn , những phát hiện của con người cùng với là pphán cái cũ
những i ko phù hợp với trình độ nhận thức của con người đồng thời phát triển cái
mới đã dẫn đến s thay thế những quan niệm trong thế giới quan của các trường phái
triết học trong lịch sử .
Sở dĩ chúng ta ca ngợi và đề cập nhiu đến triết học Mác vì sự hoàn bị của
đem lại cho chúng ta 1 công cụ để giải thích thế giới , 1 phương pháp luận khoa học .
Còn với chúng ta , sinh viên của 1 trường đại học thuộc 1 quốc gia xa hội chủ nghĩa
vận dụng triết học Mác để vạch ra đường li phát triển đất nước lên CNXH , việc
học tập nghiên cứu Triết học là điều bt buộc hiển nhiên