
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ XUÂN
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO KHẢ NĂNG CHỊU NGẬP
CHO ĐẬU TƯƠNG VỤ ĐÔNG TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 9620110
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2021

Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Trần Thị Trường
2. TS. Trần Danh Sửu
Phản biện 1: ……………………………………………….......
Phản biện 2: ……………………………………………….......
Phản biện 3: ………………………………………….....……..
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại:
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đậu tương hay còn gọi là đậu nành [Glycine max (L.) Merrill] thuộc loại cây
họ đậu (Fabaceae), bộ Fabales. Đậu tương là một trong những loại cây trồng quan
trọng có giá trị kinh tế cao, có giá trị sử dụng toàn diện, cung cấp thức ăn cho
người, là nguồn nguyên liệu cho chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm, dược liệu,
mỹ phẩm. Ở Việt Nam, đậu tương là cây trồng lâu đời, có vị trí quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp, được đánh giá là cây có hiệu quả kinh tế cao trong chiến
lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng giá trị hàng hóa nông sản. Với ưu thế ngắn
ngày, đậu tương có thể được gieo trồng nhiều vụ trong năm, là cây lý tưởng trong
nhiều công thức luân canh, xen canh, tăng vụ, gối vụ. Sản xuất đậu tương giúp
tăng hệ số sử dụng đất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.
Diện tích gieo trồng đậu tương vụ Đông Xuân năm 2019 của Hà Nội đạt 2,9
nghìn ha trên 3,4 nghìn ha gieo trồng cả năm (chiếm 85,3%); năng suất 1,69
tấn/ha, sản lượng đạt 4,9 nghìn tấn trong tổng số 5,92 nghìn tấn/năm (chiếm
83,05%). Cây đậu tương đã trở thành cây trồng chủ lực, chiếm vị thế quan trọng
trong cơ cấu vụ Đông của Hà Nội cũng như các tỉnh Đồng bằng sông Hồng.
Tuy nhiên, sản xuất đậu tương ở Hà Nội còn manh mún, phân tán, đầu tư
thâm canh thấp, ứng dụng các kỹ thuật mới còn hạn chế, diện tích sản xuất đậu
tương không ổn định và đang dần thu hẹp lại. Một trong những nguyên nhân cơ
bản dẫn đến năng suất đậu tương chưa cao là chưa chọn được bộ giống đậu
tương phù hợp với điều kiện sinh thái của Hà Nội, cũng như chưa có các biện
pháp kỹ thuật đồng bộ, thích hợp.
Đặc biệt, ở Hà Nội thường hay mưa vào khoảng cuối tháng 9, khi bắt đầu vụ
đậu tương Đông. Mưa kéo dài nên lúc gieo đậu tương rất hay gặp mưa lớn, đất
luôn ướt, đồng ruộng có thể bị ngập nước. Những giống đậu tương trước đây
chọn tạo được đa phần là các giống chịu hạn và chịu rét; nghiên cứu về các
giống chịu ngập chưa được chú trọng. Do vậy, việc tuyển chọn giống đậu tương
có thể chịu ngập trong thời kỳ đầu của quá trình sinh trưởng, thích nghi với điều
kiện tự nhiên của Hà Nội cũng như xác định được các biện pháp kỹ thuật canh
tác đậu tương Đông trên đất ướt sau lúa mùa nhằm nâng cao năng suất và hiệu
quả sản xuất đậu tương là cần thiết. Xuất phát t những vấn đề trên, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp kỹ thuật nâng
cao khả năng chịu ngập cho đậu tương vụ Đông tại Hà Nội”. Nghiên cứu xác
định được giống đậu tương chịu ngập với điều kiện canh tác ở Hà Nội cùng với
các biện pháp kỹ thuật khác sẽ góp phần nâng cao năng suất và sản lượng đậu
tương ở Hà Nội, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số dòng, giống đậu tương có khả năng chịu ngập
phục vụ phát triển đậu tương Đông trên đất ướt tại Hà Nội.
- Xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp nhằm nâng cao năng

2
suất cho đậu tương Đông trên đất ướt sau lúa mùa tại Hà Nội.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả của đề tài luận án cung cấp cơ sở khoa học có giá trị về tuyển chọn
các dòng, giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều
kiện ngập nước và các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp cho cây đậu tương
đạt năng suất cao trong điều kiện đất ướt sau lúa mùa.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho
công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, tập huấn và chỉ đạo sản xuất
về cây đậu tương.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Tuyển chọn các giống đậu tương có khả năng sinh trưởng phát triển tốt,
cho năng suất cao phù hợp với điều kiện vụ Đông trên đất ướt sau lúa mùa có ý
nghĩa thực tiễn cao trong việc mở rộng sản xuất đậu tương Đông, tăng thu nhập
cho nông dân ở Hà Nội.
- Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương góp phần hoàn thiện
quy trình thâm canh đậu tương Đông cho vùng đất ướt sau lúa mùa ở Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- 30 dòng, giống đậu tương do các cơ quan nghiên cứu trong nước chọn tạo
và nhập nội được sử dụng cho nghiên cứu khả năng chịu ngập trong nhà lưới.
- 06 giống đậu tương đã được đánh giá là có khả năng chịu ngập qua thí
nghiệm trong nhà lưới được sử dụng để nghiên cứu ở điều kiện ngập nhân tạo
trên đồng ruộng.
- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống đậu tương ĐT32
trên đất ướt sau lúa mùa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến sinh
trưởng và phát triển của 30 dòng, giống đậu tương trong vụ Đông 2016 và vụ
Đông 2017 tại Hà Nội. Trong vụ Đông 2018 và vụ Đông 2019, tiếp tục nghiên
cứu sinh trưởng và phát triển của 06 đậu tương ở điều kiện ngập nhân tạo ngoài
đồng ruộng và các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống đậu tương ĐT32. Các
biện pháp kỹ thuật (thời vụ, mật độ, phân bón) chỉ thực hiện với giống mà đề tài
tuyển chọn về khả năng chịu ngập.
4.3. Phạm vi giới hạn của đề tài
- Đề tài kế tha một số kết quả nghiên cứu đã được công bố của các tác giả
trong và ngoài nước.
- Đề tài chưa nghiên cứu được một số chỉ tiêu do thời gian hạn hẹp. Đó là
các chỉ tiêu liên quan đến tổn thương của lá mầm và rễ mầm trong giai đoạn gây
ngập ở thời kỳ nảy mầm; mức độ thối rễ; tỷ lệ cây héo; tỷ lệ cây chết; mật độ
còn lại sau gây ngập trong thời kỳ gây ngập nhân tạo V2, R1 và R4.

3
5. Những đóng góp mới của luận án
- Đã tuyển chọn được 3 giống đậu tương (ĐT32, ĐT35 và ĐT26) sinh
trưởng phát triển tốt, năng suất thực thu cao trong điều kiện ngập (ở Mỹ Đức là
2,07; 1,98 và 2,11 tấn/ha; ở Phúc Thọ là 2,24; 2,35 và 2,29 tấn/ha, tương ứng).
- Xác định được các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống đậu tương ĐT32
ở vụ Đông trên đất ướt sau lúa mùa ở Hà Nội: Thời vụ gieo trồng thích hợp t
15 - 29/9; mật độ gieo 40 - 45 cây/m2; lượng phân bón cho 1 ha là 30 - 40 kg N :
60 - 80 kg K2O : 60 - 80 kg P2O5.
- Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng chế phẩm G3 và bón phân qua lá dạng
nano làm tăng đáng kể năng suất và hiệu quả kinh tế của giống đậu tương ĐT32
(năng suất tăng 26,7 - 28,25%; lãi thuần tăng 49,81 - 55,33% so với đối chứng).
- Xử lý hạt giống bằng chế phẩm G3 và bón phân qua lá dạng nano, đồng
thời giảm mức phân đa lượng 10% và 30% thì năng suất và hiệu quả kinh tế của
giống đậu tương ĐT32 vẫn đạt cao (năng suất đạt 2,63 - 2,73 tấn/ha, lãi thuần
tăng 44,16 - 51,42% so với đối chứng).
6. Cấu trúc của luận án
Luận án chính có 151 trang đánh máy vi tính khổ A4, với 54 bảng và 6 hình
bao gồm: Mở đầu (7 trang); Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học
của đề tài (36 trang); Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
(13 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (76 trang); Kết luận và
đề nghị (2 trang); Tài liệu tham khảo (16 trang).
Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Luận án đã tham khảo và tổng quan 142 tài liệu, trong đó có 56 tài liệu tiếng
Việt, 79 tài liệu tiếng Anh và 7 tài liệu t mạng internet với các nội dung liên
quan, bao gồm: 1. Giới thiệu về cây đậu tương; 2. Tình hình sản xuất đậu tương;
3. Tình hình nghiên cứu về cây đậu tương; 4. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật
cho cây đậu tương.
1.1. Giới thiệu về cây đậu tương
Đậu tương trồng có tên khoa học là Glycine max (L.) Merrill, thuộc bộ
Fabales, họ Fabaceae, họ phụ Papiomoideae, chi Glycine, chi phụ soja. Đậu
tương là cây họ đậu, có nguồn gốc t Trung Quốc, được con người biết đến
cách đây khoảng 5000 năm. Khoảng 200 năm trước Công nguyên, đậu tương
được đưa tới Triều Tiên, sau đó là Nhật Bản. Đến giữa thế kỷ 17, đậu tương
mới trồng tại châu Âu, sau đó phát triển mạnh tại Hoa Kỳ, Braxin, Canada.
1.2. Tình hình sản xuất đậu tương
Đậu tương là một trong 8 cây lấy dầu quan trọng, được trồng đầu tiên ở

