
347
VAI TRÒ CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG: KINH NGHIỆM TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG TRỊ
Lê Đức Quảng1, Lê Anh Phi2
Email: quang_ld@qtttc.edu.vn
Tóm tắt: Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với công cuộc chuyển đổi số trong những
năm gần đây là một nhân tố mới góp phần định hình lại tổ chức giáo dục bậc đại học và cao
đẳng. Mục đích của bài viết nhằm phân tích những ảnh hưởng của chuyển đổi số trong giáo
dục đại học, cao đẳng có thể tạo ra đột phá trong việc thúc đẩy bình đẳng trong giáo dục ở
hai phương diện: tăng cường sự tiếp cận của người học và nâng cao chất luợng đào tạo nhờ
khai thác sức mạnh công nghệ. Bài viết cũng chia sẻ định hướng và một số kinh nghiệm bước
đầu về chuyển đổi số ở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị và đưa ra một số giải pháp
nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục của Việt Nam.
Từ khóa: Chuyển đổi số; Giáo dục; đại học; Cao đẳng; Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị.
I. Mở đầu
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, về khoa học - công nghệ và
xu thế toàn cầu hoá đang đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho đất nước, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã đưa ra định hướng phát triển giáo dục, đào tạo giai đoạn 2021 – 2030 với nhiều
vấn đề, một trong những vấn đề đó là: “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện
có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu,
nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại,
hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển
kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ
tư” 1.
Những năm gần đây, ngành giáo dục rất quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) vào hoạt động giảng dạy. Việc ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học đã
dần thay đổi phương pháp giảng dạy học tập từ truyền thống sang phương pháp giảng dạy
tích cực, giúp người dạy và người học phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, sự chủ động
và đạt hiệu quả. Từ mô hình lớp học tập trung đã dần chuyển sang các mô hình dạy học trực
tuyến, sử dụng CNTT và truyền thông đễ hỗ trợ các hoạt động giảng dạy, học tập. Qua đó,
người học có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, có thể chủ động trong việc học tập và
ứng dụng kiến thực vào thực tiễn. Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ tạo ra
1 Trường CĐSP Quảng Trị.
2 Trường CĐSP Quảng Trị.

348
những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo
dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người.
II. Nội dung
2.1. Một số vấn đề về chuyển đổi số và chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo
2.1.1. Khái niệm chuyển đổi số
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số (Digital transformation) nhưng có
thể nói chung đó là chuyển các hoạt động của chúng ta từ thế giới thực sang thế giới ảo ở
trên môi trường mạng. Theo đó, mọi người tiếp cận thông tin nhiều hơn, rút ngắn về khoảng
cách, thu hẹp về không gian, tiết kiệm về thời gian. Chuyển đổi số là xu thế tất yếu, diễn ra
rất nhanh đặc biệt trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) hiện
nay. [7]
Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về
cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. [2]
Trên thế giới nhiều quốc gia đã và đang triển khai các chiến lược quốc gia về chuyển đổi
số như tại Anh, Úc, Đan Mạch, Estonia… Nội dung chuyển đổi số rất rộng và đa dạng nhưng
có chung một số nội dung chính gồm chính phủ số (như dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu mở),
kinh tế số (như tài chính số, thương mại điện tử), xã hội số (như giáo dục, y tế, văn hóa) và
chuyển đổi số trong các ngành trọng điểm (như nông nghiệp, du lịch, điện lực, giao thông).
2.1.2. Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
a) Nhiệm vụ của ngành giáo dục và đào tạo (GDĐT) trong “Chương trình Chuyển
đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt tại Quyết định số
749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Phát triển nền tảng hỗ trợ
dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học
tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập
theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới
đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó
thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20%
nội dung chương trình. Ứng dụng công nghệ số để giao bài tập về nhà và kiểm tra sự chuẩn
bị của học sinh trước khi đến lớp học.”[3]
b) Đối với ngành GDĐT, nội dung cơ bản của chuyển đổi số phải được triển khai
theo hướng trong dạy học chuyển từ truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng phương pháp thuyết
trình, giảng giải sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập
mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời.
Sự bùng nổ của nền tảng công nghệ IoT, Big Data, AI, SMAC (mạng xã hội - di động - phân
tích dữ liệu lớn - điện toán đám mây) đang hình thành nên hạ tầng giáo dục số.
Hiện nay, đã có nhiều mô hình giáo dục thông minh đang được phát triển trên nền
tảng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT); hỗ trợ đắc lực việc cá nhân hóa học tập (mỗi

349
người học một giáo trình và một phương pháp học tập riêng không giống với người khác,
việc này do các hệ thống CNTT thực hiện tự động); giúp cho người học truy cập kho kiến
thức khổng lồ trên môi trường mạng được nhanh chóng, dễ dàng và tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tương tác giữa gia đình, nhà trường, giáo viên và người học.
Việc chuyển đổi số trong GDĐT tập trung vào các nội dung chính:
- Chuyển đổi số trong quản lý: số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở
dữ liệu (CSDL) lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công
nghệ 4.0 (AI, blockchain, phân tích dữ liệu, ..) để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ các cấp
lãnh đạo, quản lý ra quyết định trong lãnh đạo, điều hành.
- Chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá: Số hóa học liệu (sách giáo khoa
điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện
số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến…
2.2. Vai trò của chuyển đổi số trong giáo dục đại học và cao đẳng
2.2.1. Vì sao phải chuyển đổi số trong giáo dục đại học, cao đẳng
Công nghệ kết nối kỹ thuật số trong thế kỷ 21 đã và đang tác động sâu rộng đến mọi
lĩnh vực xã hội, kinh tế và chính trị. Nó tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách mọi người
tương tác với nội dung, giao tiếp với nhau và hoạt động trong xã hội. Ngoài việc gia tăng
cách thức giao tiếp, công nghệ mới này đã gây ra những thay đổi mạnh mẽ trong cách mọi
người tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự chuyển đổi thực sự không nằm ở việc gia tăng và đa
dạng hóa các cách tiếp cận thông tin, mà nằm ở việc tăng cơ hội cho các cá nhân đóng góp
vào sản xuất nội dung và xây dựng kiến thức. Ngày nay, mỗi cá nhân đều có tiềm năng không
chỉ tiêu thụ mà còn sản xuất thông tin.
Thời đại chúng ta đang sống cho thấy những khác biệt cơ bản về cách thức hoạt động
của toàn xã hội, trong đó thế giới được kết nối thông qua các phương tiện kỹ thuật số ở quy
mô chưa từng có. Trong thời gian ngắn, những công cụ kỹ thuật số đang kích thích những
thay đổi mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, có thể gọi là, “kỷ nguyên số”.
Điều tự nhiên mà các xã hội mong đợi là những thay đổi mang tính chuyển đổi trong lĩnh
vực giáo dục để phục vụ tốt hơn những nhu cầu và đòi hỏi của xã hội trong thời đại mới này.
Các trường đại học - cao đẳng, có vai trò riêng biệt trong việc sản xuất và phổ biến kiến thức,
đã và đang phải chịu áp lực thay đổi mạnh mẽ hơn nhiều. Do đó, sự cạnh tranh toàn cầu
trong nền kinh tế tri thức được thúc đẩy bởi vai trò chủ đạo của các công cụ kết nối kỹ thuật
số đang buộc các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng phải đánh giá cấu trúc hiện tại của họ và
đưa ra quyết định quyết liệt để cải thiện các cấu trúc này cho phù hợp hơn với nhu cầu và
yêu cầu của thế kỷ 21.
Trong số các động lực cải cách cơ cấu giáo dục đại học, vai trò tiếp cận và phổ biến
kiến thức đang chuyển dần khỏi giáo dục đại học; những nền tảng kỹ thuật số mang các
phương án tương tác mới, các cách thức mới để thể hiện văn hóa, các đồ tạo tác liên quan và
các giá trị của nó; hiệu ứng truyền thông xã hội; dữ liệu lớn và phân tích học tập; các khóa

350
học MOOC và tài nguyên giáo dục mở; trò chơi giáo dục và sự tiến bộ của các nền tảng kỹ
thuật số cho phép tăng cường tương tác và hợp tác giữa người hướng dẫn và người học.
Ngoài ra, các trường đại học, cao đẳng đang phải đối mặt với những thách thức đặc biệt
của thế kỷ 21 bao gồm hồ sơ người học thay đổi và đa dạng, tính di động của người học, học
suốt đời và cạnh tranh thị trường với các nhà cung cấp giáo dục đại học mới đang tăng lên.
Những thay đổi về hành chính và cơ cấu mà trường đại học, cao đẳng phải đối phó
là có ba loại chính; 1) Thay đổi trong cung cấp dịch vụ và tài chính; 2) Thay đổi về quy trình
hành chính; 3) Thay đổi trong mô hình Dạy và Học. Mặt khác, Erdem (2006) nhấn mạnh
những thay đổi trong trách nhiệm của ba cấu trúc riêng biệt: chính phủ, xã hội và trường đại
học.[5]
Erdem (2006) cho rằng các mối quan hệ năng động giữa trường đại học và Nhà nước
đã và đang trải qua những thay đổi do những tiến bộ trong thế kỷ 21 liên quan đến các yêu
cầu trách nhiệm giải trình ngày càng tăng đối với nhà trường, tác động của công nghệ kỹ
thuật số đối với việc cung cấp các dịch vụ giáo dục và thực hiện các hoạt động nghiên cứu,
quốc tế hóa giáo dục đại học và gia tăng cạnh tranh toàn cầu. [5]
Tuy nhiên, một thách thức khác mà các trường đang phải đối mặt hiện nay là nhà
trường được coi là những doanh nghiệp có độ phức tạp cao cung ứng nguồn lực cho xã hội
tri thức và kinh tế tri thức, tác động sâu sắc đến các quá trình nội bộ và quan hệ bên ngoài
mà các trường đại học, cao đẳng có với cộng đồng phi học thuật.
Các công cụ kỹ thuật số được coi là giải pháp cho những thách thức về cơ cấu và
quản trị của các trường đại học, cao đẳng. Đó là các công cụ đào tạo từ xa, hệ thống quản lý
học tập tinh vi, các công cụ mạng xã hội trực tuyến, thực tế ảo và tăng cường, OER và
MOOC được coi là những đổi mới góp phần tạo cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi
người, tiếp cận nội dung giáo dục chất lượng và hỗ trợ học tập suốt đời.
Mặt khác, chính những đổi mới đưa ra bởi các giải pháp này có thể trở thành thách
thức lớn hơn nữa. Những lý do cơ bản khiến những đổi mới này trở thành thách thức tiềm
ẩn hơn nữa chính là tình trạng thiếu chính sách và kế hoạch phù hợp, phân bổ nguồn lực
không đủ, thiếu nhân viên có trình độ để thiết kế hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật, yêu cầu cập
nhật nhanh chóng và liên tục.
Ngày càng có nhiều cá nhân có nhu cầu tiếp cận nền giáo dục đại học phù hợp với
sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số và những công nghệ này có tiềm năng giải quyết nhu
cầu và tính đa dạng hồ sơ người học. Do đó, các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng cần thiết
kế lại cấu trúc và hoạt động của mình để giữ được tiềm năng bên cạnh những thách thức do
công nghệ kết nối kỹ thuật số mang lại. Các trường cần xem xét lại sứ mệnh và tầm nhìn của
mình để phù hợp với sự phát triển công nghệ kỹ thuật số cũng như tác động sư phạm và cấu
trúc của những công nghệ này đối với không gian giáo dục.
Trong thế kỷ 21, các nhà trường cần cải thiện khả năng nghiên cứu và phát triển, khả
năng cạnh tranh và tương tác giữa các khoa, bộ môn riêng biệt, năng lực đổi mới và giải
quyết vấn đề. Họ cũng được yêu cầu chuyển đổi thành các tổ chức có thể áp dụng kỹ thuật

351
số, có năng suất khoa học và sáng tạo với tầm nhìn toàn cầu. Để thực hiện tất cả những điều
này, các nhà trường cần phải hòa nhập với xã hội đang hoạt động với tinh thần doanh nhân
khởi nghiệp khi quản lý nguồn nhân lực và nguồn nhân lực của mình. Các nhà hoạch định
chính sách về giáo dục cần phải suy nghĩ lại tác động của công nghệ kết nối kỹ thuật số,
những thách thức và cơ hội mà chúng mang lại cho bối cảnh giáo dục trong khi phát triển
các chính sách giá trị gia tăng của giáo dục đại học.
2.2.2. Vai trò của chuyển đổi số trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của bậc đại học và
cao đẳng
Những tiến bộ công nghệ vượt bậc mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại có
tác động mạnh mẽ đến sự phát triển cá nhân, xã hội và nghề nghiệp, tạo ra sự thay đổi trong
nhu cầu về kiến thức và kỹ năng của cả nguời học và người dạy, cũng như mở rộng khả năng
giảng dạy và học tập. Về công nghệ giảng dạy hiện đại, có thể nói nguồn lực lớn nhất cho
đến nay là Internet với việc chia sẻ một nền tảng trực tuyến có chi phí ngày càng thấp. Nếu
vài năm truớc đây, giảng dạy và học tập trực tuyến được cân nhắc như một lựa chọn, thì từ
khi đại dịch Covid-19 bùng phát, nó nhanh chóng trở thành xu thế tất yếu trên toàn cầu. Ở
các nuớc ASEAN, Covid-19 đã thúc đẩy chuyển đổi số đi nhanh hơn so với dự kiến ban đầu
trong nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục; Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo các nước
ASEAN gần đây cũng cam kết mạnh mẽ trong thúc đẩy chuyến đổi số. [8]
Việc chuyển đổi số trong đào tạo có thể tạo đột phá trong việc thúc đẩy bình đẳng
trong giáo dục ở hai khía cạnh: tăng cường sự tiếp cận và nâng cao chất lượng đào tạo với
chi phí mà ở mức đó trước đây người học khó có thể nhận được chất lượng như vậy.
Đối với xã hội, công nghệ số giúp thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo trong tiếp cận cơ hội học tập. Học sinh ở vùng sâu vùng xa và thu nhập thấp thường
gặp khó khăn trong tiếp cận đại học do thiếu thông tin, tài chính hay những điều kiện khác
[6]. Tiếp cận các khoá học trực tuyến có thể giúp khắc phục phần nào hạn chế này. Những
năm gần đây, rất nhiều nền tảng học trực tuyến cho phép người học ở khắp nơi trên thế giới
truy cập để học tập với chi phí thấp hoặc miễn phí. Theo xu hướng này, các trường đại học
sẽ nhanh chóng phát triển những chương trình đào tạo linh hoạt phù hợp theo nhu cầu của
người học trên nền tảng trực tuyến khi khuôn khổ pháp lý cho phép.
Đối với các trường đại học và cao đẳng, chuyển đổi số giúp nâng cao hiệu quả đào
tạo cho người dạy và người học, cải thiện chất lượng và hiệu quả vận hành của trường trên
các phương diện sau:
- Công nghệ giúp đẩy nhanh quá trình cập nhật và truyền tải thông tin giữa giảng
viên và học viên, và giữa học viên với nhau. Hãy hình dung giảng viên thấy một thông tin
hữu ích ở bản tin mà họ đọc trên điện thoại di động và họ muốn đặt vấn đề thảo luận với học
viên vào ngay ngày hôm sau, họ có thế chia sẻ ngay lập tức với cả lớp. Điều này cũng diễn
ra tương tự giữa người học với nhau.
- Nền tảng trực tuyến cho phép phá bỏ rào cản địa lý vốn là hạn chế của đại đa số

