Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và Bảo vệ Thương hiệu
- 191 -
MT S VN Đ PHÁP LÝ V BO H NHÃN HIU THEO
PHÁP LUT VIT NAM
ThS. Hồ Thị Thanh Trúc
10
Nguyễn Thị Thúy
11
Trường Đại học Tài chính - Marketing
Tóm tắt
Trong các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, một
trong những đối tượng mà các chủ thể kinh doanh quan tâm xây dựng và bảo vệ
hàng đầu chính nhãn hiệu. Hiện nay, đã Luật sở hữu trí tuệ 2005, gia
nhập Hiệp định TRIPS một hiệp định đa biên trong khuôn khổ WTO, việc bảo
vệ quản về nhãn hiệu nước ta vẫn còn rất nhiều vấn đề. Việc xác định
nhãn hiệu có tính phân biệt khả năng phân biệt một trong những điều kiện
quan trọng nhất để được bảo hộ, cũng như đánh giá các hành vi xâm phạm nhãn
hiệu đã được bảo hộ theo pháp luật vẫn chưa minh bạch, đồng bộ thiếu tính khả
thi. Dẫn đến thực tế đăng bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan đến xâm
phạm nhãn hiệu tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp. Bài viết nêu ra một số vấn
đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay.
1 Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại
lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Trong thực tế cuộc sống, khi mọi người bàn luận
với nhau về một hàng hóa, dịch vụ họ quan tâm, người tiêu dùng thường sử
dụng thuật ngữ nhãn hiệu hoặc thương hiệu. Về mặt pháp thì hai khái niệm y
có nội hàm khác nhau. Nhãn hiệu là một thuật ngữ pháp lý chỉ “dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, nhân khác nhau”
12
. Trong khi
thương hiệu không phải khái niệm pháp lý, thương hiệu là khái niệm thương mại
do các nhà kinh doanh, đặc biệt các nhà marketing xây dựng. Khái niệm y
trong từng trường hợp dùng để chỉ những đối tượng khác nhau của Quyền sở hữu
công nghiệp như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…. còn bao gồm
10
Ging viên Luật, Khoa Cơ bản, Đại hc Tài Chính Marketing
11
Giảng viên Khoa Marketing, Đi hc Tài Chính - Marketing
12
Khoản 16, Điều 4 Lut s hu trí tu 2005, sa đi, b sung 2009
Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và Bảo vệ Thương hiệu
- 192 -
tất cả các yếu tố không phải là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nhưng
các giá trị vô hình
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhãn hiệu ngày càng được sử
dụng rộng rãi, phổ biến dần trở thành một trong những tài sản vô hình quan
trọng của các tổ chức, nhân kinh doanh. Chính thế, tại nhiều quốc gia
vùng lãnh thổ, nhãn hiệu đã được định nghĩa và luật hóa.
Hoa Kỳ, không mt khái nim chung v Nhãn hiu, khái nim
nhãn hiệu được phân chia theo tng loi nhãn hiu theo h thng pháp lut Hoa
K mặc định, bao gm: nhãn hiu hàng hóa (trademark), nhãn hiu dch v (service
mark), nhãn hiu chng nhn (certification mark) và nhãn hiu tp th (collective
mark)
13
. Trong đó: (i) Nhãn hiu hàng hóa bao gm bt k t, tên, biu tượng, hoc
hình nh, hoc bt k s kết hp nào của chúng đang được một người s dng
hoặc ý định s dụng trong thương mại và tiến hành nộp đơn đăng ký nhằm xác
định phân bit hàng hóa ca mình t những hàng hóa được sn xut hoặc được
bán bởi người khác và nhằm để ch ra ngun gc ca hàng hóa, ngay c khi ngun
gc của chúng chưa đưc biết đến
14
;(ii)Nhãn hiu dch v nghĩa là bt k t,
tên, biểu tượng, hoc hình nh, hoc bt k s kết hp o ca chúng đưc mt
ngưi s dng hoc có ý đnh s dụng trong thương mại và tiến hành np đơn đăng
nhm xác đnh và phân bit c dch v do mình cung cp, tc dch v ca
ngưi khác để ch ra ngun gc ca dch v, ngay c khi ngun ca chúng
chưa đưc biết đến
15
; (iii) Nhãn hiu chng nhn các du hiu ch s hu
cho phép người khác s dng hoc có ý định cho phép người khác s dng nhm
xác nhn khu vc hoc ngun gc, cht liu, cách thc sn xut ca nhà sn xut,
chất lượng, độ chính xác, hoc đặc nh khác ca hàng hoá hoc dch v được
13
Mục §45 Đạo lut Lanham (15 U.S.C. § 1127)
14
Nguyên bn bng Tiếng Anh ca mục §45 Đạo luật Lanham (15 U.S.C. § 1127) qui định như sau:
The term “trademark” includes any word, name, symbol, or device, or any combination thereof: (1)
used by a person, or (2) which a person has a bona fide intention to use in commerce and applies to
register on the principal register established by this chapter, to identify and distinguish his or her
goods, including a unique product, from those manufactured or sold by others and to indicate the source
of the goods, even if that source is unknown”.
15
Nguyên bn bng Tiếng Anh ca mục §45 Đạo luật Lanham (15 U.S.C. § 1127) qui định như sau:
The term “service mark” means any word, name, symbol, or device, or any combination thereof: (1)
used by a person, or (2) which a person has a bona fide intention to use in commerce and applies to
register on the principal register established by this chapter, to identify and distinguish the services of
one person, including a unique service, from the services of others and to indicate the source of the
services, even if that source is unknown. Titles, character names, and other distinctive features of radio
or television programs may be registered as service marks notwithstanding that they, or the programs,
may advertise the goods of the sponsor
Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và Bảo vệ Thương hiệu
- 193 -
cung cp hoc công vic hoc ngun lao động đối vi ng hoá hoc dch
v được thc hin bi các thành viên ca mt công đoàn hoặc t chc
16
; (iv)
Nhãn hiu tp th nhãn hiu hàng hóa hoc nhãn hiu dch v được s dng
hoc có ý định s dng bi các thành viên ca mt tp th
17
.
Đặc điểm chung ca Nhãn hiu theo Pháp lut Hoa K: (i) Các du hiu;
(ii) Ch ra ngun gc ca hàng hóa, dch v và phân bit hàng hóa dch v ca
ch th y vi ch th khác; (iii) Dấu hiệu mang tính phân biệt và chỉ dẫn nguồn
gốc hàng hóa, dịch vụ đó phải “đang được sử dụng” hoặc “được người chủ của
ý định sử dụng trong thương mại tiến hành nộp đơn đăng ký”. Nếu không
đáp ứng điều kiện y, dấu hiệu đó sẽ không được bảo hộ theo hình thức nhãn
hiệu tại Hoa Kỳ.
Pháp luật của Khối liên minh Châu Âu, một nhãn hiệu cộng đồng thể
gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết (represented
graphically), đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ
viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao sản phẩm, với điều kiện
những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể
kinh doanh y với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác.
18
Điều
kiện để được xác định nhãn hiệu: (i) dấu hiệu; (ii) Được trình bày ràng
chi tiết; (iii) Có khả năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ của chủ thể này với hàng
hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Hiệp định TRIPS quy định về nhãn hiệu tại khoản 1 Điều 15: “Bất kỳ một
dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch
vụ của một chủ thể kinh doanh với hàng hoá hoặc dịch vụ của các chủ thể kinh
doanh khác, đều thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các
từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc
cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải khả năng được đăng
nhãn hiệu hàng hoá….
Việt Nam, nhãn hiệu được quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu
trí tuệ 2005 (bổ sung, sửa đổi năm 2009) “Nhãn hiệu dấu hiệu dùng để phân
16
Khái nim nhãn hiu theo lut Vit Nam và Hoa K, Ngun: http://keda.vn/khai-niem-nhan-hieu,
ngày truy cp 16/10/2017
17
Khái nim nhãn hiu theo lut Vit Nam và Hoa K, Ngun: http://keda.vn/khai-niem-nhan-hieu,
ngày truy cp 16/10/2017
18
Đào Thị Diễm Hạnh (2010), “Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong Luật SHTT”,Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp điện tử, Nguồn: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/xay-dung-khai-niem-nhan-hieu-
trong-luat-so-huu-tri-tue, ngày truy cập 16/10/2017
Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và Bảo vệ Thương hiệu
- 194 -
biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, nhân khác nhau”. Điều kiện để nhãn
hiệu được bảo hộ là: (i) Là dấu hiệu; (ii) Có khả năng phân biệt hàng hoá và dịch
vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác
19
.
Như vậy, thông qua các định nghĩa của nhãn hiệu, đặc điểm chung nhất
quan trọng nhất để công nhận dấu hiệu là nhãn hiệu thì dấu hiệu đó phải tính
phân biệt khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu của chủ th
này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
2 Một số vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam
2.1 Vấn đề nhận dạng xác định khả năng được bảo hộ của nhãn hiệu
Các dấu hiệu tạo thành nhãn hiệu pháp luật Việt Nam hiện đang công
nhận dấu hiệu nhìn thấy dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh kể cả hình
ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
Đồng thời các dấu hiệu y phải tiếp tục thỏa mãn các yếu tố tính phân biệt,
khả năng phân biệt
20
dễ nhận biết, dễ ghi nhớ mới thể được pháp luật công
nhận và bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu. Quy định y mang tính chất định
tính, việc dễ nhận biết, dễ ghi nhớ khó xác định vì vậy trong quá trình đăng ký là
nhãn hiệu, việc xác định dấu hiệu thỏa mãn các yếu tố để được công nhận
nhãn hiệu hay không, phụ thuộc rất nhiều o cách đánh giá của quan quản
21
.
Đơn cử, trường hợp đăng nhãn hiệu “DOUBLEMINT” tại Việt Nam:
Năm 1986 Công ty Wrigley JR. Company (Hoa Kỳ) muốn đăng nhãn hiệu
“DOUBLEMINT” tại Việt Nam cho sản phẩm kẹo, kẹo cao su. Khi xem xét
thẩm định nhãn hiệu, Cục Sáng chế (nay là Cục SHTT) nhận thấy nhãn hiệu chứa
các thành phần chữ “Chewing Gum” (kẹo cao su) và “Doublemint” (được hiểu
: gấp đôi bạc hà) nên đều mang tính tả sản phẩm không khả năng bảo hộ
theo quy định tại Điều 3.2(c) Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hóa (1982). Tuy vậy, với
việc kết hợp các phần chữ trên với tên Công ty và phần hình độc đáo nên tổng thể
nhãn hiệu thể tạo nên tính phân biệt, vậy Cục đã cấp GCN ĐKNH số 655
ngày 10/04/1987 cho đơn đăng nêu trên với hạn chế (disclaim) như sau: “Nhãn
19
Điu 72,73,74 Lut S hu trí tu 2005, sửa đổi, b sung 2009
20
Điu 73 và 74 Lut S hu trí tu 2005, sửa đổi, b sung 2009
21
Vũ Trọng Thùy Linh (2016), Tính phân bit và kh năng phân biệt ca nhãn hiu, Luận văn thạc s
Lut học, Trường Đại hc Kinh tế - Lut, tr59
Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và Bảo vệ Thương hiệu
- 195 -
hiệu được bảo hộ tổng thể. Không bảo hộ riêng: “DOUBLEMINT”; “Chewing
Gum””.
Tuy nhiên, hơn 13 năm từ khi đăng NH đầu tiên, ngày 12/11/2010 Công
ty đã tiếp tục nộp đơn số 4-2010-23974 đăng nhãn hiệu chữ tiêu
chuẩn “DOUBLEMINT” cho các sản phẩm nhóm 30. Trong các tài liệu bổ sung
cho hồ đăng ký, Công ty đã chứng minh được nhãn hiệu đã được sử dụng
thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam nhiều năm qua nên đã đạt được khả năng phân
biệt, xác định cho người tiêu dùng nên ny 17/11/2011 Cục SHTT đã cấp Giấy
chứng nhận số 175707 bảo hộ nhãn hiệu chữ nêu trên không bất kỳ một
loại trừ nào
22
.
Như vậy, việc đánh giá tính phân biệt khả năng phân biệt của nhãn hiệu,
cũng như các yếu tố để dấu hiệu được công nhận là nhãn hiệu rõ ràng không đơn
giản. đây những yếu tố mang tính định tính, phụ thuộc vào cách đánh giá
của người xét duyệt đơn. Ngoài ra, trong quá trình đánh giá nhãn hiệu, còn phải
xem xét đến ý nghĩa thứ 2 (đó là dấu hiệu đã được thừa nhận và sử dụng rộng rãi
với danh nghĩa là nhãn hiệu) của nhãn hiệu trong quá trình xử lý từng vụ việc, thì
mới có thể đưa ra các đánh giá chính xác về khả năng phân biệt của nhãn hiệu.
2.2 Vấn đề xung đột bảo hộ
Trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt quyền sở hữu
công nghiệp, trên thực tế phát sinh hiện tượng dấu hiệu trùng hoặc ơng tự, được
các chủ sở hữu khác nhau đăng bảo hộ sử dụng cho các đối tượng sở hữu
công nghiệp khác nhau. Đây hiện tượng xung đột bảo hộ. Trên thực tế có nhiều
vụ việc xung đột bảo hộ giữa nhãn hiệu và các tài sản trí tuệ khác, có thể tổng kết
một số dạng như sau:
2.2.1 Xung đt bo h gia nhãn hiu và tác phm m thut ng dng
Tác phẩm m thuật ứng dụng tác phẩm được thể hiện bởi đường nét,
màu sắc, hình khối, bcục với tính năng hữu ích thể gắn liền với một đồ vật
hữu ích, được sản xuất hàng loạt bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng, hàng
thủ công m nghệ, hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm
23
. So sánh
22
Bàn v kh năng đăng ký các nhãn hiệu cu to t yếu t mang tính mô t, Ngun:
http://dichvudoanhnghiep24h.com/tu-van-khac/ban-ve-kha-nang-dang-ky-cac-nhan-hieu-cau-tao-tu-
yeu-to-mang-tinh-mo-ta-216.html, ngày truy cp 16/10/2017
23
Khoản 2 Điều 15 Ngh định 100/2006/-CP ca Chính ph ngày 21/06/2006 Quy định chi tiết
ng dn thi hành mt s điu ca B lut Dân s, Lut s hu trí tu v quyn tác gi và quyn liên
quan